5.1 Dẫn luận: Từ "Liên Nga dung Cộng" đến "Liên Mỹ dung Quốc"
Dựa trên những đúc kết từ việc nghiên cứu lâu năm lịch sử cận đại Trung Quốc và trải nghiệm sinh sống lâu năm trong một xã hội đa văn hóa, người viết từng công bố một bài luận vào năm 1960, gọi là ①. Trong bài viết sơ lược đó, tôi cho rằng Trung Quốc cận đại từ một xã hội truyền thống lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ thể, dần bước sang xã hội hiện đại hóa lấy kinh tế công nghiệp làm chủ thể, tiến trình phát triển là "từng giai đoạn" nối tiếp "từng giai đoạn", tuần tự tiến lên theo hình lợn sóng. Trung Quốc muốn hiện đại hóa, phải vượt qua nhiều đợt sóng gió hiểm nghèo, sau đó mới sóng yên gió lặng, dần bước tới thái bình thịnh thế giàu mạnh, an vui.
Nhưng sự phát triển xã hội của Trung Quốc hiện đại, khi trải qua các "giai đoạn" khác nhau này, mỗi giai đoạn đều có chủ đề đặc thù của nó. Sự hình thành của những chủ đề này không phải do những nhà lý tưởng ngồi trên ghế bọc da tưởng tượng ra, mà chúng được đúc kết dần từ sự diễn tiến thực tế của phát triển xã hội, kinh tế, văn hóa và sự biến ảo của tình hình quốc tế. Nói cách khác, chúng là cơ vận khách quan kết hợp với trí tuệ chủ quan để dung hội quán thông dần dần, chứ không phải được xây dựng từng tầng theo bản vẽ của kỹ sư.
Hơn nữa, chủ đề của những giai đoạn khác nhau này thường đối lập trước sau, phong ba chuyển hướng mâu thuẫn lẫn nhau. Do đó, một chính đảng hoặc một nhà chính trị, khi thúc đẩy một phong trào hiện đại hóa nào đó (bất kể phong trào này là "cách mạng" cấp tiến hay "biến pháp" tiến chậm), họ đều phải nắm bắt chủ đề đặc hữu của từng giai đoạn để thúc đẩy nó; không thể tụt hậu, cũng không thể vượt cấp. Không nắm bắt được chủ đề mà bị tụt hậu, thì sẽ bị thời đại vứt bỏ, thậm chí trôi dạt vào "phản động", biến thành "đối tượng cách mạng". Ngược lại, nếu không nắm bắt được chủ đề mà làm càn những việc không gấp gáp, tiến vượt cấp, thì sẽ biến thành ảo tưởng hoặc quá khích. Ảo tưởng, quá khích đối với người và mình đều có hại mà không có lợi. Phong trào của họ tất yếu cũng sẽ chịu trắc trở. Nhưng ảo tưởng của giai đoạn trước, thường cũng có thể biến thành chủ đề của giai đoạn kế tiếp. Trong trình tự các "giai đoạn" kế thừa và thúc đẩy lẫn nhau như vậy, phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc không thể "hoàn thành công trạng trong một trận chiến" ②; nó lúc chậm lúc nhanh, dòng chảy tiến về phía trước không bao giờ ngừng.
Hai mươi năm đã trôi qua, quốc sự trải qua bao biến đổi thương hải tang điền; bản thân tác giả giờ đây cũng đã hai mai điểm sương. Nhưng đem những sự kiện xảy ra trong quốc sử từ sau năm 1960 làm chú thích bổ sung cho bài viết sơ lược năm xưa, thì càng tin chắc rằng "giả thuyết" được đưa ra từ cái nhìn hạn hẹp năm ấy có tính chân thực về mặt sử học. Cho nên không lượng sức mình, lại một lần nữa dùng cái nhìn phiến diện của mình, đứng từ góc độ vĩ mô để kiểm điểm quá trình phát triển tư tưởng của tiên sinh Tôn Văn, nhằm làm rõ sự phát triển tư tưởng của họ Tôn cũng có "tính giai đoạn" phù hợp với sự tiến lên của thời đại. Điểm may mắn và vĩ đại của Tôn Văn chính là việc ông lại có thể hai lần nắm bắt chủ đề, từ đó lãnh đạo hai giai đoạn cực kỳ quan trọng trong phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc — "Tân Hợi cách mạng" hướng về Anh, Mỹ và "Liên Nga dung Cộng" hướng về Liên Xô.
Tôn Trung Sơn nắm bắt giai đoạn và chủ đề "Liên Nga dung Cộng" này, quả thực sánh ngang với chính sách "Liên Mỹ dung Quốc" ngày nay của Đặng Tiểu Bình, trước sau ánh chiếu lẫn nhau, có hiệu quả kỳ diệu tương đương! Người đọc lịch sử, nếu đem hai sự kiện lịch sử này bày ra so sánh để xem, thực khiến người ta phải vỗ bàn thán phục. Việc trước không quên, là thầy việc sau! Cho nên ngày nay chúng ta có thể phân tích quá trình phát triển tư tưởng của Tôn Văn và "tính giai đoạn" của các chủ đề mà ông nắm bắt, thì ý nghĩa của nó không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lịch sử đơn thuần. Nó đối với sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa hiện nay của Trung Quốc, cũng nên có tác dụng ôn cố tri tân vậy!
5.2 Phấn đấu chính danh cho Tôn Văn
Trong số độc giả có lẽ có người đối với tên bài viết của bài luận sơ lược, đầu tiên sẽ đưa ra ý kiến phản đối — tại sao không dùng tên "Tôn Trung Sơn", mà lại dùng một cái tên không quá thông tục là "Tôn Văn"? Điểm này, tôi phải giải thích trước đã... Chúng ta là những người viết lịch sử, đối với những nhân vật lịch sử đủ để lưu danh muôn thuở trong lịch sử được thảo luận, nên dùng tên thật của họ khi hoạt động trong lịch sử, không nên dùng những cái tên thông tục được sử dụng về sau. Lênin vốn họ Ulyanovsk, nhưng cái tên tạo ra tác dụng cho ông trong lịch sử lại là biệt danh "Lênin" của ông. Trong sử sách, trong văn kiện chỉ thấy "Lênin" mà không thấy "Ulyanovsk", cho nên nhà sử học phải dùng "Lênin". Ái Tân Giác La Phổ Nghi, người đầu thời Dân quốc đều gọi ông là "Tuyên Thống", hoặc "Tuyên Thống hoàng đế", nhưng người viết lịch sử thì nên gọi là "Phổ Nghi". Tăng Quốc Phàn ở triều Thanh có thụy pháp là "Tăng Văn Chính công", người viết lịch sử thì nên gọi tên thật của ông. Chính phủ Quốc Dân ban thụy pháp cho Tôn Văn là "Quốc phụ", người viết lịch sử cũng không nên dùng xưng hô thụy pháp. Nhà sử học chép sách thẳng bút nếu dùng xưng hô thụy pháp thì chỉ có thể viết sách ca tụng công đức, chứ không thể viết sách sử vậy ③.
Cái tên "Tôn Trung Sơn" được thế tục ngày nay sử dụng chung. Nhưng vị tiên sinh được gọi là "Tôn tiên sinh" này bản thân ngài, cả đời chưa từng tự nhận mình là Tôn Trung Sơn. Tên của ông đại khái có khoảng chục cái, nhưng cái tên ông hoạt động trong lịch sử lại gọi là "Tôn Văn". Những cái tên ông tự dùng khi sinh tiền, cũng như tất cả các văn kiện công tư có liên quan đến ông, đều dùng "Tôn Văn" ④.
Nguồn gốc thực sự của cái tên "Tôn Trung Sơn", ngày nay đã không thể khảo cứu; có người nói ông từng dùng một hóa danh Nhật Bản là "Trung Sơn Tiều"; cũng có người nói đó là do người Nhật đặt cho ông, hàm chứa ý nghĩa chê bai, hạ thấp Trung Quốc ⑤. Lương Khải Siêu (1873~1929) vào đầu thế kỷ này, khi tranh đấu bảo hoàng và cách mạng với họ Tôn, lúc báo cáo với Khang Hữu Vi (1858~1927), cũng thỉnh thoảng dùng danh xưng "Trung Sơn", xem ra cũng có ý không kính trọng ⑥.
Sau cuộc Cách mạng lần thứ hai, cái tên Trung Sơn hoặc Tôn tiên sinh mới dần phổ biến. Người đầu tiên dùng xưng hô "Tôn tiên sinh" này mà hàm chứa sự kính ý, nghe nói là Chương Thái Viêm ⑦. Việc này hãy còn chờ khảo cứu tiếp. Nhưng có một điểm chúng ta có thể khẳng định chính là, họ Tôn ngoài việc thỉnh thoảng dùng "Trung Sơn" làm hóa danh để che mắt người đời ra, ngài vốn chưa từng tự xưng là Trung Sơn; trong các văn kiện công tư do ngài ký tên, cũng như các văn kiện công tư có quan hệ trực tiếp với ngài khi sinh tiền, vốn cũng không có tên Trung Sơn ⑧. Cho nên ngày nay chúng ta dùng cái tên Trung Sơn để tổ chức một buổi lễ kỷ niệm cho ông, vốn dĩ không có gì là không được, nhưng sử học gia chính thức cầm bút chép sự việc hoặc lập truyện cho ông, thì nên dùng tên thật "Tôn Văn" của ông, không nên dùng "Tôn Trung Sơn" nữa.
Khẩu hiệu "Truy thát lỗ" đã gọi đúng
Tôn Văn từng chia tri thức Trung Quốc thời kỳ khai sáng thành ba bậc, gọi là: Tiên tri tiên giác, hậu tri hậu giác, bất tri bất giác ⑨. Từ thời kỳ chiến tranh Nha phiến đến Tân Hợi cách mạng, những người làm "Dương vụ vận động" ở Trung Quốc, trong giới tư tưởng ít nhiều đều có thành phần tiên tri tiên giác. Bởi vì trong quá trình gần một trăm năm Trung Quốc bước tới hiện đại hóa, "Tây hóa" và "hiện đại hóa" thực ra chính là từ đồng nghĩa của thời đại đó — từ chiến tranh Nha phiến đến Tân Hợi cách mạng. Phái Dương vụ của đời Ngụy Nguyên (1794~1857) chủ trương "sư di chi trường kỹ dĩ chế di" ⑩, chú trọng là thuyền kiêm pháo mạnh. Phái của Trương Chi Động (1837~1909) thì chủ trương "Tây học vi dụng". Họ tiến hơn Ngụy Nguyên một bước, bởi vì "dụng" mà họ muốn không chỉ dừng lại ở thuyền kiêm pháo mạnh. Đến khi Khang Hữu Vi chủ trương dùng pháp luật phương Tây để biến đổi pháp luật Trung Quốc, làm quân chủ lập hiến kiểu Anh, thì mức độ Tây hóa của ông ta đã từ "pháp" mà vươn tới "thể". Mà nhóm tiểu Hoa kiều năm ấy của Tôn Văn (1866~1925), thì chủ trương "Truy thát lỗ, kiến lập Dân quốc". Điều đó ít nhất về mặt chính trị cũng có hơi hướng "Tây hóa toàn diện" rồi.
Tròn một thế kỷ sắp trôi qua. Ngày nay nhóm hậu chúng ta đọc lịch sử, lật lại sổ sách cũ cuối đời Mãn Thanh, cảm thấy phái Tôn Văn nắm bắt được thực sự là chủ đề của thời đại đó. Những tiểu Hoa kiều và lưu học sinh định cư, du học ở nước ngoài lúc bấy giờ như Tôn Nhật Tân (tên học của Trung Sơn), Dương Quê Vân,... đối với chủ đề này đều đã thấu suốt như lửa sáng, thế nhưng giới tri thức trong nước thì vẫn chưa nhìn thấy được điều này.
Từ cách mạng dân tộc mà kiến lập "quốc gia dân tộc" (nation state), thực ra là hiện tượng đặc biệt trong lịch sử văn minh hiện đại của nhân loại. Một bộ lịch sử thế giới hiện đại chính là một bộ lịch sử đấu tranh giữa các quốc gia dân tộc; nó cũng là điều kiện tất yếu cho sự phát triển kinh tế thời kỳ đầu cách mạng công nghiệp. Chữ "quốc" được bàn đến trong "Của cải của các quốc gia" do Adam Smith (1732~1790) soạn thảo, chính là nước Anh do người gốc Anglo-Saxon xây dựng trên hòn đảo nhỏ nước Anh lúc bấy giờ. Mười ba bang thời kỳ cách mạng Mỹ, trên thực tế cũng là một quốc gia dân tộc, về sau mở rộng thành một đế quốc chủ nghĩa lớn ở Bắc Mỹ, mới bao dung dung nạp đối với các dân tộc khác.
Quốc gia dân tộc này vào thời kỳ cuối thế kỷ 19, do sự thống nhất của nước Đức và nước Ý, lại sản sinh ra rất nhiều câu chuyện truyền kỳ về các anh hùng dân tộc, chủ nghĩa dân tộc bất ngờ trở thành tinh thần thời đại lúc bấy giờ. Người theo chủ nghĩa đế quốc da trắng còn như thế, thì các dân tộc bị áp bức lại càng không cần phải nói.
Triều đình Mãn Thanh nước ta đến cuối thế kỷ 19, thực ra là khí số đã tận, không thể tiếp tục duy trì được nữa; nhưng con rết trăm chân, chết vẫn chưa cứng đờ, không đánh trúng yếu huyệt, nó sẽ thoi thóp kéo dài vô thời hạn. Sai lầm của Thiên vương Hồng Tú Toàn chính là việc ông không nắm bắt chủ đề này, mà lại đi làm càn những việc không khẩn cấp như "Thiên phụ thiên huynh", cuối cùng đến mức thân chết nước mất, bị người đời cười chê. Hồi đó nếu ông chỉ làm "cách mạng dân tộc" đơn thuần, thì e rằng Tăng, Tả, Lý, Hồ cũng đã tan tác như bèo từ lâu rồi, làm gì còn danh hiệu "Trung hưng danh thần" nữa chứ!
Cho nên từ thực lực mà nói, Tôn Trung Sơn so với Hồng Tú Toàn, khoảng cách không biết bao nhiêu vạn dặm, mà đế quốc nhà Thanh lớn như vậy lại không vong vì Hồng, Dương, thế nhưng lại bị mấy khẩu hiệu của Tôn Văn gọi sụp đổ, tại sao vậy? Chủ đề khiến cho vậy! Tôn Trung Sơn nắm đúng chủ đề, mấy quả bom ném ra, đế quốc Mãn Thanh liền tan rã sụp đổ.
Thời kỳ Chiến Quốc nước ta quân phiệt đánh nội chiến, có một người tên là Trí Bá dùng nước sông để ngập thành trì người ta, ngập đến mức đối phương chịu không thấu, Trí Bá đại hỉ nói: Không ngờ dẫn nước cũng có thể làm vong quốc của người ta! Kỳ thực vong quốc của người ta không nhất thiết phải dẫn nước. Chỉ cần tìm đúng chủ đề, hô lên mấy khẩu hiệu lọt tai là đủ rồi! Đánh nội chiến, khẩu hiệu lợi hại hơn hồng thủy nhiều chứ!
Khẩu hiệu "Truy thát lỗ" này của Tôn Văn đã gọi đúng, bởi vì chủ đề của nó rất tiên minh (rõ ràng). Dưới chủ đề này, đem tất cả tội ác trong đế quốc đại Thanh đổ lên đầu người Thát lỗ, phạm vi đả kích thu hẹp lại, lực lượng kháng cự cũng giảm bớt. Trong tâm trí người dân bình thường, một khi Thát lỗ bị đuổi, Trung Hoa khôi phục, thì tất cả những vấn đề vụn vặt khác dường như đều có thể được giải quyết êm thấm. Khẩu hiệu vang dội này, vào lúc đó quả thật vừa có thể phục được miệng người, vừa có thể phục được lòng người. Lòng người hướng về đâu, liền quyết định vận mệnh sụp đổ của đế quốc đại Thanh. Cho nên một tiếng đại bác trong thành Vũ Xương, cả nước hưởng ứng theo, "Tân Hợi cách mạng" liền trở thành một cột mốc vĩ đại trong lịch sử.
5.3 Sự khốn đốn của mô hình Mỹ
"Cách mạng" theo mô hình "Truy thát lỗ" với Tôn Văn làm lãnh tụ tinh thần, trong lịch sử có tiền lệ. Ngay từ năm 1368, Chu Nguyên Chương người Phượng Dương cũng đã từng đuổi Thát lỗ, lập ra nhà Minh tương tự như vậy. Vấn đề của Chu Nguyên Chương không lớn, ông đuổi Thát lỗ đi, chiếu theo mô hình truyền thống, làm một vị "khai quốc chi quân", thì mọi vấn đề đều được giải quyết êm thấm. Thế nhưng cuộc cách mạng dân tộc mang hình thái giống hệt này, xảy ra vào năm 1911, vấn đề liền trở nên phức tạp, bởi vì nó phát sinh vấn đề quốc thể sau khi Thát lỗ bị đuổi đi. "Đế chế sao? Cộng hòa sao?" Dù những người bàn về đế chế có tài ăn nói giỏi giang đến đâu, trào lưu thế giới thế kỷ 20 cũng không cho phép bất kỳ ai quay lại làm hoàng đế nữa.
Đã thế thời đại không cho phép xuất hiện thêm một vị hoàng đế nào nữa, thì "kiến lập Dân quốc" tất nhiên trở thành một chủ đề khác của thời đại. Vấn đề là kiến lập mô hình Dân quốc nào? Những đảng viên cách mạng lấy Tôn Văn làm xương sống lý luận, không chút do dự lựa chọn "mô hình Mỹ" lúc bấy giờ. Nước Mỹ lúc đó vì làm chủ nghĩa tư bản mà sinh bệnh; một số nhà cải cách xã hội lấy lý luận của Henry George (1839~1897) làm nền tảng đang làm ầm ĩ một cuộc cải cách xã hội gọi là "Vận động quốc dân".
Tư tưởng của Henry George cũng ảnh hưởng đến Tôn Văn, cho nên họ Tôn sau khi cân nhắc áp dụng mô hình Mỹ, lại cộng thêm một khẩu hiệu cách mạng mới gọi là "Bình quân địa quyền". Nhưng những người đi theo Trung Sơn lúc đó, lại cho rằng khẩu hiệu này là nhu cầu không khẩn cấp. Mà những người phản đối Trung Sơn thì cho rằng đó là nguồn gốc gây loạn kích động bạo động nông dân. Tóm lại, khẩu hiệu này không phải là chủ đề lúc bấy giờ. Đoàn thể cách mạng Cộng Tiến Hội lãnh đạo và thúc đẩy cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, đã dứt khoát đổi khẩu hiệu "Bình quân địa quyền" thành "Bình quân nhân quyền".
Cho nên Dân quốc sau Tân Hợi cách mạng, chính là một Dân quốc theo mô hình Mỹ. Vị tiên sinh Hồ Thích sùng bái nước Mỹ cả đời ấy vô cùng tôn sùng chế độ dân chủ "thời kỳ đầu Dân quốc" này; cho đến khi nó cuối cùng sụp đổ, họ Hồ vẫn tiếc nuối khôn nguôi.
Đáng tiếc là "mô hình Mỹ" được rập khuôn máy móc này khi thi hành ở Trung Quốc lại hoàn toàn biến dạng. Tại sao vậy? Sử gia luận bàn về việc này rất nhiều. Nhưng quy cho cùng một câu, chính là Trung Quốc không phải nước Mỹ. Nó không có những điều kiện tất yếu trong truyền thống Anh, Mỹ. Đông thi hiệu tần, tất nhiên sẽ biến dạng. Lấy quốc hội mà nói, tám trăm vị La Hán tòng long chi sĩ mà tiên sinh Hồ Thích vô cùng tin phục ấy, có ai là người thực sự do dân bầu ra không? Trong tám trăm vị La Hán, trước cách mạng rất nhiều người là chí sĩ cách mạng xả thân vì nước. Thế nhưng cách mạng thành công, làm đại quan "nghị viên kinh thành", lại không hiểu ý nghĩa thực sự của nghị sĩ trong chính phủ do dân bầu, cho nên không tránh khỏi việc từng cá nhân biến thành quan lại tham lam hiếu sắc, làm cho quốc hội trở nên chướng khí mù mịt. Muốn dùng một nhóm quan lại chính khách như vậy để chế ngự và tổ chức "nội trách nhiệm", bầu tổng thống Đại Viên xuống, điểm này không chỉ bản thân họ Viên lúc đó trong lòng không cam chịu, mà ngay cả người có thức kiến lúc bấy giờ và sử gia công chính hậu thế cũng nên bất bình thay cho họ Viên.
Người viết đọc sử không có tâm ý lật lại án oan cho "Hồng Hiến hoàng đế"; chỉ cảm thấy đối thủ của họ Viên cũng không đáng kính và đáng yêu đến thế. Nói đi cũng phải nói lại, sự phá sản của mô hình Mỹ thời đầu Dân quốc không thể đơn thuần trách Viên Thế Khải muốn làm hoàng đế, cả hai bên đều có trách nhiệm; sở dĩ như vậy, thực ra là vì Trung Quốc lúc bấy giờ không có bất kỳ điều kiện nào để thi hành mô hình Mỹ. Hồ Thích ngây thơ chính vì không nhìn thấy điều này, mới ôm ấp xa xỉ vọng tưởng đối với đám chính khách lúc bấy giờ.
5.4 Sự thử nghiệm và cấu tưởng của Viên, Tôn đối với chính trị quả đầu
Hồ Thích là một học giả, viết bài nhìn việc chính trị, khó tránh khỏi ngây thơ, cho nên mới có sự tiếc nuối. Nào ngờ văn chương không giống việc chính trị, phái đương quyền cuốn vào xoáy nước chính trị lúc bấy giờ là Viên Thế Khải và Tôn Văn không suy nghĩ như thế. Cả hai ông đều trải nghiệm sâu sắc rằng, con đường giải quyết vấn đề Trung Quốc, ngoài việc vứt bỏ súng ống sinh ra chính quyền, giải quyết bằng vũ lực, đánh ra một thể chế chính trị chuyên chế trung ương tập quyền mang "chính trị quả đầu" ra, thì không còn con đường nào khác để theo đuổi. Cái gọi là chính trị nghị viện ở Trung Quốc lúc bấy giờ là điều không thể thực hiện được.
Về phương diện này có sự cấu tưởng, nói thật lòng, Tôn Văn nhanh chân hơn Viên Thế Khải một bước. Sau khi "Cách mạng lần thứ hai" thất bại năm 1913, Trung Sơn lại trốn sang Nhật Bản. Ngày 27 tháng 9 năm đó, họ Tôn bèn dùng biện pháp cưỡng chế, cải tổ Quốc Dân Đảng vốn là tam quyền phân lập thành một "Đảng Cách Mạng Trung Hoa" do cá nhân ông độc tài chuyên chế. Đây là một sự chuyển biến về mặt tính chất của một chính đảng cách mạng — thực tế cũng có thể coi là "cuộc thanh trừng đảng lần thứ nhất" sau khi Quốc Dân Đảng được thành lập (cuộc "thanh trừng đảng" năm 1927 thực ra là lần thứ hai). Những người bị khai trừ khỏi đảng (hoặc không muốn gia nhập) đều là những nguyên huân cách mạng danh tiếng lẫy lừng trong thời kỳ Đồng Minh Hội, Quốc Dân Đảng như Hoàng Hưng, Hồ Hán Dân, Uông Tinh Vệ, Vu Hữu Nhậm, Lý Liệt Quân, Bách Văn Úy,... "Quốc Dân Đảng" từ đó về sau (sau năm 1920 đổi tên thành "Trung Quốc Quốc Dân Đảng") đã biến thành một chính đảng cách mạng do lãnh tụ cá nhân độc tài chuyên chế. Mặc dù trong chính sách của nó quy định rõ ràng rằng, sau khi cách mạng thành công giành được chính quyền, dân thường dưới sự huấn chính của nó sẽ chịu huấn luyện, huấn luyện đạt yêu cầu, được cho là có thể thực hiện "chính quyền", thì nó sẽ chủ động trả lại chính quyền cho nhân dân, thực hiện hiến chính.
Kỳ thực đúng như Jean Jacques Rousseau (1712~1778) đã nói, một người nếu sử dụng quyền lực không có tiết chế, quyền lực này không có cái nào là không bị lạm dụng. Cho nên dù là triết gia hiện đại có trí tuệ dân chủ như Tôn Trung Sơn cũng không thể tránh khỏi. Trước thời Tân Hợi, họ Tôn chỉ là một "Tổng lý" của một chính đảng cách mạng được cấu thành bởi tinh thần và hình thức "đồng minh", ông không thể lạm dụng quyền lực của mình. Tháng 3 năm 1907, Trung Sơn bị trục xuất khỏi Nhật Bản, ông chỉ vì lén nhận năm nghìn đồng tệ ít ỏi do chính phủ Nhật Bản ban tặng, đã bị các đồng chí trong đảng công kích tơi tả, Đồng Minh Hội suýt vì thế mà tan rã. Đợi đến sau năm 1913, Quốc Dân Đảng bị cải tổ, một số nguyên huân có tư tưởng dân chủ tự do bị khai trừ khỏi đảng, Trung Sơn trở thành đảng thủ của "Đảng Cách Mạng Trung Hoa" rồi, tình hình liền không giống trước nữa. Trung Sơn vì tương lai của "đảng", thậm chí vì quyền lực cá nhân, hành vi chính trị của ông dần dần chệch đường ray.
Lấy một, hai ví dụ nhỏ về việc Tôn Văn độc đoán chuyên quyền, thì có thể thấy những việc còn lại:
Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, người Nhật lợi dụng trạng thái trống vác các liệt cường châu Âu không rảnh ngó ngàng phương Đông, đưa ra yêu điều "Hai mươi mốt điều" nổi tiếng đối với Trung Quốc. Viên Thế Khải lúc bấy giờ là người chủ chính tối cao của đất nước, ông vừa không thể tiếp nhận, lại không dám tùy tiện từ chối, chỉ đành một mặt kéo dài thời gian đàm phán, một mặt do Cố Duy Quân lúc bấy giờ đang mang thân phận thư ký kép của phủ Đại tổng thống và Quốc vụ viện, ngầm làm rò rỉ cơ mật, để thu hút sự chú ý và cứu viện, thậm chí can thiệp giữa các quốc gia.
Vào thời điểm quốc tộc nguy cấp sinh tử còn còn này, lòng dân cả nước sôi sục, thậm chí lưu học sinh du học Mỹ ở tận ngoài đại dương xa xôi cũng làm ầm ĩ tâm tình ái quốc, hội họp huyên náo, chủ trương chiến tranh với Nhật Bản, khiến cho Hồ Thích lúc bấy giờ không có tính khí nóng nảy từng vì thế mà viết thư bằng tiếng Anh, khuyên mọi người an tâm học hành. Lúc này những lãnh tụ Quốc Dân Đảng hào sảng và có tiết tháo vì chống Viên mà bị ép lưu vong hải ngoại, như Hoàng Hưng v.v., đại đa số vì đại cục làm trọng, chủ trương tạm dừng hoạt động chống Viên, và làm chỗ dựa cho Viên Thế Khải, để toàn dân tộc đồng lòng đối ngoại, vừa hay đối phó với kẻ xâm lược Nhật Bản, vừa đàm phán, vừa tranh thủ viện trợ giữa các quốc gia — những điều này đều biểu hiện ra tấm lòng và khí độ vĩ đại của những lãnh tụ chính trị ái quốc. Nào ngờ trong hoàn cảnh như vậy, Tôn Văn từng làm lãnh tụ tối cao của đảng cách mạng và Đại tổng thống lâm thời nhiệm kỳ đầu tiên của Trung Dân Quốc, lại bất chấp lợi ích dân tộc, ngầm qua lại với thế lực xâm lược Nhật Bản, cam tâm dùng yêu điều "Hơn hai mươi mốt điều" mà Viên Thế Khải cũng không muốn tiếp nhận để chủ động nhượng lại cho Nhật Bản, nhằm đổi lấy sự viện trợ của Nhật đối với cá nhân ông và chính đảng của ông.
Sự việc bắt nguồn từ việc chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, chính khách già phía Nhật Bản Đại Ôn Trọng Tín ra mặt tổ chức nội các tham chiến; Đại Ôn có giao du cũ với chính khách Nhật Bản Khuyển Dưỡng Nghị, mà Khuyển Dưỡng Nghị lại là bạn cũ của Trung Sơn. Trung Sơn bèn thông qua sự môi giới của Khuyển để tiếp xúc với Đại Ôn, và vào ngày 11 tháng 5 năm đó có mật thư gửi cho Đại Ôn, ca tụng Đại Ôn là người phi thường, có thể thành việc phi thường, khuyên ông ta giúp mình lật đổ họ Viên. Một khi lật đổ họ Viên thành công, họ Tôn về Trung Quốc nắm quyền, sẽ nhượng lại cho người Nhật những đặc quyền về chính trị, quân sự và kinh tế nói trên chưa từng có trước đây.
Lúc này họ Tôn ở phe đối lập, người Quốc Dân Đảng tản mác khắp nơi, những điều Trung Sơn hứa tuy trọng trọng, suy cho cùng vẫn là tấm séc khống, hiển nhiên không được Đại Ôn coi trọng. Tuy nhiên người phát ngôn có cho rằng việc Tôn Văn chủ động đưa ra việc nhượng lại chủ quyền Trung Quốc, thực ra là căn bản để nội các Đại Ôn đưa ra yêu điều "Hai mươi mốt điều" đối với họ Viên vào năm sau. Mật thư của họ Tôn không được Đại Ôn coi trọng, Trung Sơn bèn vào năm sau (1915) ngày 14 tháng 3, khi "Hai mươi mốt điều" đang được đưa ra, lại một lần nữa gửi mật thư cho Cục trưởng Cục Chính vụ Bộ Ngoại giao nội các Đại Ôn là Tiểu Trì Trương Tạo, lặp lại kiến nghị trong bức thư trước, và gia tăng nội dung cụ thể nhượng lại quyền lợi Trung Quốc. Những điều Tôn hứa, so với nội dung của "Hai mươi mốt điều", thực sự vượt xa hơn chứ không kém.
Những điều vừa kể trên về việc Trung Sơn ngầm qua lại với tập đoàn xâm lược Nhật Bản, là những tài liệu được tìm thấy trong hồ sơ cũ của chính phủ Nhật Bản ngày nay, còn như những văn kiện đã mất, hoặc những mối qua lại không xuất hiện trên văn bản, e rằng còn không chỉ có thế. Tôn Văn trong lịch sử cận đại Trung Quốc, có thể nói là vị lãnh tụ chính trị được các chính đảng, các tầng lớp xã hội, và các sử gia đương thời tôn kính nhất, hành vi cơ mật chính trị của ông như vậy, nguyên nhân đại khái có ba điểm:
1, Tôn, Viên cả hai ông đều tuyệt vọng với chính trị nghị viện, cho rằng nếu không có độc tài cá nhân thì không thể cứu dân khỏi nước lửa;
2, Chuyên chế chính trị, cả hai đều có tâm lý "không có ta thì không được", vì nước vì dân mà không từ thủ đoạn. "Tiểu đức xuất nhập khả dĩ";
3, Viên ở toàn quốc, Tôn ở một đảng, đã hình thành lãnh tụ "sở hữu quyền lực vô hạn". Quyền lực vô hạn mà lại lạm dụng nó. Viên, Tôn hai ông suy cho cùng cũng quy tụ về một mối mà thôi.
5.5 Sự thật và phải trái của phong trào "Hộ quốc" và "Hộ pháp"
Sau khi cuộc giao thiệp "Hai mươi mốt điều" kết thúc, họ Viên đột ngột phản bội Dân quốc nổi dậy làm "đế chế", do đó khơi cuộn cao trào "Hộ quốc" phản đế của các giới toàn quốc. Trong phong trào hộ quốc này, Trung Sơn lại một lần nữa ngầm qua lại với quân bộ Nhật Bản lấy Điền Trung Nghĩa Nhất làm xương sống, thông qua thương nhân Nhật Bản Cửu Nguyên Phòng Chi Mặc làm trung gian, lần lượt tiếp nhận trợ cấp của Nhật Bản lên tới hơn một triệu bốn trăm vạn đồng (quy đổi ra đô la Mỹ lúc bấy giờ khoảng bảy mươi vạn đô la). Phản đối họ Viên cướp nước xưng đế vốn dĩ là việc lớn chính nghĩa lẫm liệt, nhưng tiếp nhận sự trợ cấp ngầm có dụng ý riêng của cốt lõi chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản — quân bộ Nhật Bản, thì khó tránh khỏi là việc không từ thủ đoạn.
Sau khi Viên Thế Khải thất bại đế chế đột ngột qua đời, Tôn Văn lại cuốn vào một "Phong trào Hộ pháp" gây ra đại chia rẽ Nam Bắc — từ đó về sau, Trung Quốc liền duy trì hai chính phủ Nam Bắc cho đến tận ngày nay, không thể thống nhất.
Nguyên nhân của "Phong trào Hộ pháp" là như thế này. Họ Viên bãi bỏ đế chế tiếp nối bằng việc đột ngột qua đời, Bắc Kinh khôi phục lại quốc hội cũ năm Dân quốc đầu tiên, do cựu Phó tổng thống Lê Nguyên Hồng chiếu theo hiến pháp kế nhiệm Đại tổng thống. Lúc này vừa đúng lúc chiến tranh thế giới thứ nhất đang ác liệt, nước Mỹ vì chính sách tàu ngầm không hạn chế của Đức mà cuốn vào chiến tranh thế giới thứ nhất, và mời Trung Quốc gia nhập phe hiệp ước chiến đấu chống Đức.
Trung Quốc có nên cùng nước Mỹ tham gia phe hiệp ước chiến đấu chống Đức hay không? Giới học thuật, giới dư luận, nghị viên quốc hội, các chính đoàn Trung Quốc, thậm chí cả Đại tổng thống Lê Nguyên Hồng và Quốc vụ tổng lý Đoàn Kỳ Thụy, đều phát sinh ý kiến phân liệt. Tiêu điểm phân liệt, có người xuất phát từ ý thức hệ, có người là do lợi ích chính trị, cũng có ít người lấy lợi ích quốc gia làm điểm xuất phát, hoặc lấy đó làm cái cớ. Tranh luận kiểu này ở dân gian vấn đề không lớn, trong quốc hội cũng không quá nghiêm trọng, nhưng làm thành "tranh chấp Phủ Viện" giữa Đại tổng thống và Quốc vụ tổng lý, thì vấn đề không dễ giải quyết.
Lê Nguyên Hồng là Phó tổng thống đắc cử theo hiến pháp, thay thế làm Đại tổng thống. Trong thời đại đao binh nhiễu nhương, pháp chế tiêu vong đó, ông không có quá nhiều quyền lực thực tế làm hậu thuẫn, mà Đoàn Kỳ Thụy lại là thủ lĩnh phái thực lực quân phiệt Bắc Kinh. Phải trái đúng sai của "tranh chấp Phủ Viện" nổi tiếng trong lịch sử này, nhà sử học rất khó đưa ra kết luận ngay. Theo lý thì Lê Nguyên Hồng đã là cấp trên, ông vốn có thể theo pháp luật cách chức Quốc vụ tổng lý là cấp dưới này. Nhưng ông phớt lờ việc Trung Quốc không phải là một quốc gia pháp trị. Khi Quốc vụ tổng lý Đoàn Kỳ Thụy bị "bãi chức" đi Thiên Tân vào ngày 23 tháng 5, các tỉnh đốc quân phò Đoàn không phục, bèn gây thành "Đốc quân đoàn" do các tỉnh đốc quân tổ chức tiến hành tẩy chay Đại tổng thống Lê. Ông Lê trong phái thực lực vốn dĩ là một kẻ cô gia quả nhân, gặp phải đả kích này, hoảng hốt tay chân, bèn vào đầu tháng 6 mời An Huy đốc quân Trương Huân lúc bấy giờ đang đảm nhiệm chức Trưởng đốc quân đoàn mười ba tỉnh vào kinh "điều đình". Trương Huân vâng mệnh vào kinh dẫn theo "binh lính bím tóc" vào ngày 14 tháng 6 năm 1917. Trương Huân là một nhân vật phái đế chế để tóc đuôi sam, có sở thích "dập đầu lạy". Ý của ông ta không nằm ở việc điều đình "tranh chấp Phủ Viện", mà là vào cuối tháng 6 làm ra một màn kịch hề "Tuyên Thống phục tích". Nào ngờ nền chuyên chế đế vương có lịch sử hơn hai ngàn năm này, trong tâm trí người dân Trung Quốc lúc bấy giờ đã hoàn toàn không còn chút vương vấn lưu luyến nào nữa — "Trương Huân phục tích" đã khơi dậy sự phản đối của các phái thực lực có quyền phát ngôn toàn quốc. Trên cơn hồng thủy "phản đối phục tích" này, Quốc vụ tổng lý đã thất thế, từng có công xướng xuất cộng hòa trong võ nhân Bắc Kinh là Đoàn Kỳ Thụy bèn một lần nữa trở thành kẻ lướt sóng. Ông ta vào đầu tháng 7 dẫn quân đi lên phía tây, tạo ra một "Lời thề Mã Xưởng" dẹp tan Trương Huân, phế đế lần hai, tái tạo cộng hòa.
Đoàn thị đã cho rằng có công tái tạo cộng hòa, thì Trung Hoa Dân Quốc cùng với pháp thống của nó đáng lẽ đều đã đứt đoạn, quốc hội cũng sớm bị Trương Huân giải tán. Đoàn thị muốn bầu lại pháp thống, bèn tuyên bố quốc hội cũ không còn tồn tại nữa, nên ban hành bãi bỏ, đồng thời hợp tác với Khang Hữu Vi v.v. tổ chức "Tham nghị viện lâm thời", thành lập chính phủ mới.
Việc bãi bỏ quốc hội cũ đồng nghĩa với việc "tám trăm vị La Hán" có công kiến lập Dân quốc bị thất nghiệp. Số ít nghị sĩ cố nhiên có thể thông qua các mối quan hệ khác nhau để quay lại chính phủ, mà đa số các nghị sĩ có đảng tịch Quốc Dân Đảng hoặc có ý định chống Đoàn thì khó tránh khỏi vì mất vị trí mất việc làm mà muốn nương náu vào phái thực lực chống Đoàn miền Nam để tiến hành phong động chống Đoàn. Phái thực lực Bắc Kinh của Đoàn thị — dần dần được hình thành từ đám tàn dư của họ Viên gọi là "phái Hoàn Khải" — cũng lấy việc quân phiệt miền Nam phản đối trung ương, làm hoạt động phân liệt để chỉnh đốn. Thế là liền tạo ra một cuộc "Phong trào Hộ pháp" mà các phái thực lực đều mưu cầu lợi ích cho riêng mình, nhưng lại lấy pháp thống làm cờ hiệu.
Cuộc chiến tranh nội chiến Nam Bắc trong phong trào hộ pháp này, miền Nam tương đối ở vào thế hạ phong. Thứ nhất, họ (như Lục Vinh Đình, Đường Kế Nghiêu v.v.) trong chính đàn Trung Quốc vốn dĩ là những quân phiệt địa phương cát cứ xưng hùng, vốn không có tiếng tăm lừng lẫy; thứ hai, họ lẫn nhau cũng không nhường nhịn nhau, rắn mất đầu, không thu hút được sự kính trọng của người dân. Cơ hội này, bèn tạo ra cơ hội lợi dụng cho cựu Đại tổng thống Tôn Văn vốn ở ẩn Thượng Hải viết sách mà yên tĩnh chán nản muốn động đậy.
Họ Tôn vốn bày tỏ sự căm ghét đối với cả quân phiệt Nam lẫn Bắc. Nhưng họ Tôn là người miền Nam, hơn nữa quân phiệt miền Nam như Đường Kế Nghiêu, Lý Căn Nguyên v.v. lại phần lớn từng gia nhập Quốc Dân Đảng, vốn có tình nghĩa đảng phái với họ Tôn. Do họ Tôn đứng ra lãnh đạo phái thực lực miền Nam, tự nhiên là việc thuận giọt nước chảy. Không may chính trị là hiện thực, thành phần danh tiếng lịch sử không lớn, làm chính trị Trung Quốc muốn Đông sơn tái khởi, phải có địa bàn, có tiền, có quân. Ngay vào lúc không quân không quyền này, ai ngờ thiên ngoại phi lai tài nguyên; Trung Sơn bỗng nhiên không có gì mà phát một khoản tài hoành phi hai triệu đồng.
Sự việc bắt nguồn từ việc khi phủ, viện vì vấn đề tuyên chiến với Đức mà tranh chấp không dứt, Tôn Văn lại đứng về phía "phản tham chiến" mà chống Đoàn. Động cơ của ông có lẽ xuất phát từ thiện ý ái quốc — sợ phái thực lực lấy cớ tham chiến, vay tiền của các liệt cường để béo bở cho mình — nào ngờ các bên trong chiến tranh thế giới thứ nhất lại đều nỗ lực đằng sau lưng, mỗi người vì tư lợi để viện trợ cho cả hai phái "tham" và "phản". Họ Tôn đã phản đối tham chiến, thì Đức và Áo thuộc phe hiệp ước đối địch liền không tiếc dùng trọng tài (cũng có thể gọi là "hối lộ" đi) để viện trợ cho họ Tôn, làm phong trào phản tham chiến. Chính phủ Đức bèn vận dụng phần tử Quốc Dân Đảng, lưu học sinh du học Đức là tâm phúc của họ Tôn là Tào Bá Á, lén lút hối lộ họ Tôn hai triệu đồng bạc trắng. Hai triệu đồng bạc trắng vào đầu thời Dân quốc nhưng là một khoản tiền lớn đấy!
Họ Tôn nhận được tiền hối lộ cơ mật này, liền như cá gặp nước, tái nhập chính đàn. Trước đó, Tôn ẩn cư ở Thượng Hải, không có một tấc đất, không có một tấc binh; đồng chí cách mạng cũ hoặc tản mác khắp nơi, hoặc buôn bán cổ phiếu đầu cơ, làm sinh kế cá nhân. Chính khách võ nhân từng phò Tôn, đối với vị nguyên huân thất thế này từ lâu đã mất đi hứng thú. Nhưng họ Tôn bỗng trở thành đại phú gia, thì tất cả đều vì thế mà thay đổi.
Thứ nhất, đám "nghị sĩ quốc hội cũ" thất nghiệp mất việc làm đó, vốn là một nhóm lực lượng chính trị đủ sức hiệu triệu, giờ đây họ Tôn có thể sai phái họ xuôi Nam, "khôi phục quốc hội" để chống Đoàn.
Thứ hai, quân phiệt Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn kỳ thị hải quân, vì hải quân trong cục diện chiến tranh nội chiến tác dụng không lớn. Đồng thời hải quân phần lớn là người miền Nam và Quốc Dân Đảng, vốn nước lửa bất dung với quân phiệt Bắc Kinh, thường xuyên bị cắn xén lương phí, oán hận tích tụ từ lâu. Họ Tôn ngày nay vung ra hàng triệu, đôi bên lại có tình nghĩa cũ, hạm đội hải quân thứ nhất do Trình Bích Quang dẫn dắt sau khi được họ Tôn cấp cho khoản tiền lớn, đã nguyện theo Tôn công xuôi Nam "hộ pháp".
Có tiền bạc, có "pháp thống", có vũ lực, họ Tôn liền hiên ngang xuôi Nam tới Quảng Châu, cát cứ tự lập. Thế nhưng số lượng quốc hội làm pháp thống không đủ, đành phải tổ chức một "quốc hội phi thường" và "chính phủ quân sự Trung Hoa Dân Quốc", suy tôn họ Tôn làm đại nguyên soái, mở phủ tại Quảng Châu, để tranh chấp "quan dư" mà đế quốc thặng dư với chính phủ Bắc Kinh, đồng thời cũng tranh chấp pháp thống với chính phủ Bắc Kinh — tự xưng với các liệt cường là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, yêu cầu các liệt cường thừa nhận. Sự đối lập giữa hai chính phủ phái thực lực Nam Bắc này, họ Tôn thực sự là kẻ khởi xướng. Cục diện chia rẽ đất nước này, cho đến nay vẫn chưa dứt, người đọc sử sao có thể không cảm thán! Đúng sai thế nào, sử gia công chính thực rất khó đặt bút, nay chỉ nói sự thật của nó mà thôi.
5.6 Có chủ đề, không phương pháp
Nhưng chúng ta là những người viết lịch sử bảy mươi năm sau nhìn lại sự thật lịch sử thời đầu Dân quốc này, có mấy hiện tượng có thể khẳng định:
Thứ nhất, Trung Quốc thời đầu Dân quốc tuyệt đối không có khả năng làm chính trị nghị viện. Cả hai ông Tôn, Viên đều chủ trương chính trị quả đầu. Chủ trương "quân chính" của Tôn, về mặt lý luận là tạm thời. Tương lai đảng của ông sẽ "huấn chính" nhân dân, sau đó chủ động trả lại chính quyền cho nhân dân", thực hiện "hiến chính". Vì để thực hiện "quân chính", họ Tôn là kẻ độc tài chuyên chế bất chấp thủ đoạn, thậm chí bán nước cầu vinh cũng không tiếc. Cái gọi là "quân chính" của họ Tôn, trên thực tế và chính sách "thống nhất bằng vũ lực" của Đoàn Kỳ Thụy là hai mặt của một đồng tiền; và với chính sách "súng ống sinh ra chính quyền" của Mao Trạch Đông sau này cũng không có gì khác biệt. Chỉ là họ đều không nắm bắt được "thủ đoạn hiện đại hóa" chính đáng để giải quyết chủ đề này mà thôi. Họ Tôn bất chấp thủ đoạn xong xuôi, cũng chỉ là hạ thấp địa vị chính trị của bản thân thành một đầu sỏ quân phiệt địa phương không khác gì mọi người.
Thứ hai, Viên Thế Khải muốn làm hoàng đế, thực tế cũng giống như họ Tôn muốn làm một chính trị gia quả đầu. "Tòng long chi sĩ" của ông ta như Dương Độ v.v. sáu vị quân tử, cũng đều là những đảng viên cách mạng cũ có học thức kiêm ưu. Cách nhìn của họ và Tôn công là giống nhau, cho rằng chính trị nghị viện lúc bấy giờ không thiết thực cho lắm. Họ chủ trương đế chế, nào há không muốn làm ra một nền quân chủ lập hiến "mô hình Anh". Thế nhưng họ quên mất bài học xe đổ của Khang, Lương, làm sai phương pháp, đến nỗi trở thành trò cười trong lịch sử; mà xui xẻo nhất phải tính đến tên mọt sách Goodnow của Mỹ, một tấm lòng thiện ý, hai bản điều trần của ông ta không những bị bóp méo hoàn toàn, tiền đồ chính trị ở Mỹ của cá nhân ông ta cũng tiêu tan thành mây khói, trong giới học thuật cũng gần như thân bại danh liệt, khiến người đọc sử phải thở dài.
Đã nói từ trước, Tôn Văn vào năm 1913 làm một cuộc vận động thanh trừng đảng xong, đã biến thành một chính khách quả đầu trên chính đàn Trung Quốc lúc bấy giờ, điểm khác biệt với mọi người là:
1, Ông có lịch sử cách mạng hơn mười năm và danh vọng trong ngoài nước đạt tới chức tổng thống;
2, Ông là một lãnh tụ chính trị có tư tưởng và tri thức hiện đại;
3, Ông có một bộ "chủ nghĩa" hợp lý luận, nói có lý lẽ, khá có thể phục miệng người, thậm chí phục lòng người.
4, Ông có một chính đảng lỏng lẻo, nhưng dù sao vẫn tồn tại.
Nhưng từ chính trị thực tế mà nói, Trung Sơn lại có vô vàn nhược điểm. Ông không có quân, không có địa bàn, càng không có tiền. Tôn Trung Sơn cách mạng cả một đời, thế nhưng những việc quan trọng mà ông bận rộn chỉ có hai việc. Thứ nhất là quyên tiền; đối tượng quyên tiền là Hoa kiều. Nhưng đá vang mưa nhỏ, ông không quyên được bao nhiêu tiền. Ông từng gia nhập hội kín "Chí Công Đường", nhưng lại vô cùng thất vọng đối với hội kín đầy rẫy sự "già cỗi hôn ám" này. Thứ hai là ngoài việc trừ bỏ một số ít đồng chí kiểu liệt sĩ ra, ông mua chuộc lính đánh thuê (nhất là trận chiến hộ pháp) để đánh giặc giúp ông. Mà chất lượng của những lính đánh thuê như lực lượng địa phương Điền, Quế, Xuyên, Tương, Việt này, thua xa các hệ Trực, Hoàn, Phụng lấy "Bân dương tân quân" của Viên Thế Khải làm nền tảng.
Trung Sơn tuy không tiền không binh, lại cứ đinh ninh muốn học Đoàn Kỳ Thụy dùng vũ lực thống nhất Trung Quốc, tham gia nội chiến, mà không tự lượng sức mình rầm rộ tiến hành Bắc phạt. Kết quả cho đến đời Trung Sơn, ông ngay cả tỉnh nhà Quảng Đông cũng không thể thống nhất; những khách quân do tiếng gọi của ông mà tới Quảng Đông "kiếm ăn" lại làm cho quê hương tỉnh nhà của ông trở nên chướng khí mù mịt, dân chúng lầm than. Thế nhưng sự hứng thú đánh giặc của Trung Sơn lớn đến thế, bất chấp tính mạng người dân, quả thực đã đạt đến mức độ không thể tưởng tượng nổi. Khi đốc quân Quảng Đông Mạc Vinh Tân cãi cọ với ông vào năm 1918, họ Tôn thậm chí lên chiến hạm muốn pháo kích dinh đốc. Viên hạm trưởng vì sợ tổn hại đến dân thường, không muốn nổ súng, Tôn công nổi giận lôi đình, thế mà tự mình thao túng pháo oanh kích — đâye rằng là ví dụ duy nhất trong lịch sử nội chiến Dân quốc mà chủ soái tự mình khai pháo đấy nhỉ! Còn như tổn hại bao nhiêu dân thường vô tội, thì trong sử sách không ghi chép rõ ràng.
Tóm lại, Trung Sơn trong những năm đầu Dân quốc là một võ nhân địa phương dũng mãnh trong nội chiến. Mục tiêu chính của ông cũng không khác gì "thống nhất bằng vũ lực" mà các quân phiệt chủ chốt khác như Đoàn Kỳ Thụy, Ngô Bội Trù, Trương Tác Lâm hằng mong mỏi.
Mục tiêu của mọi người đều giống nhau. Nhưng kể từ sau khi Viên Thế Khải chết, các phái hệ đánh nội chiến mười mấy năm, không ai có thể thống nhất được ai. Quả đầu nhỏ ở đâu cũng có, mà quả đầu lớn thì rốt cuộc vẫn không thể xuất hiện. Tình hình đó nhìn từ lịch sử cận cổ, rất giống "Ngũ đại Thập quốc" (907~906); nhìn từ lịch sử viễn cổ, thì rất giống sự tranh giành của Chiến Quốc thất hùng. Thất hùng tại sao cuối cùng lại bị nước Tần hổ lang thống nhất, chính là vì Doanh Tần thị đã tìm ra một phương pháp làm giàu nước mạnh binh mới. Trung Sơn đánh nội chiến mười mấy năm không có kết quả chút nào, cuối cùng từ sự bỗng ngộ ra phát hiện ra một phương pháp mới, phương pháp mới này gọi là "lấy Nga làm thầy".
5.7 Sự phát hiện và mô phỏng mô hình Liên Xô
Khẩu hiệu "lấy Nga làm thầy" này là do Tôn Trung Sơn hô lên. Ông nắm bắt chủ đề "thống nhất bằng vũ lực", cuối cùng cũng nắm bắt được phương pháp làm thế nào để thống nhất bằng vũ lực. Ông tìm ra quy tắc này, tuy không có duyên thân cận nhìn thấy thành công của nó, nhưng người kế thừa của ông là Tưởng Giới Thạch đã tiếp tục làm nó. Đảng Cộng sản Trung Quốc thời kỳ "chính quyền Xô viết Giang Tây", quy tắc "súng ống sinh ra chính quyền" của Mao Trạch Đông, trong các tác phẩm của ông cũng nói rõ "Tưởng Giới Thạch là thầy của chúng ta".
Sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là kết quả thất bại của việc Tưởng Giới Thạch phản bội bài học "lấy Nga làm thầy" của thầy Tôn Văn. Sau ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng không còn lấy Nga làm thầy nữa; cuối cùng tạo ra kết quả thất bại "độc tài vô độ, dân chủ vô lượng". Đại nghiệp ngàn thu, thân đến thì thất bại, trong lịch sử Trung Quốc cũng là điều hiếm thấy.
Các sử gia trong và ngoài nước ba mươi năm trở lại đây, bao gồm cả bản thân tôi, đều vẫn luôn tìm kiếm căn nguyên của "lấy Nga làm thầy" và "ba chính sách lớn" của Trung Sơn. Từ sử liệu công khai đến văn kiện cơ mật Trung - Nga, quả thực lật tung trời đất suối vàng, nhất định phải làm cho mọi việc ra ngô ra khoai. Kỳ thực những khảo cứu vặt vãnh lông gà vỏ tỏi này, đều không liên quan đến đại cục.
Chúng ta nếu đọc kỹ "Quốc phụ toàn thư" của Trung Quốc và "Tuyển tập Lênin" của Nga, thì sẽ biết từ khi họ Tôn cải tổ Quốc Dân Đảng vào năm 1913, ông về tư tưởng và phương pháp đã đại thể nhất trí với Lênin rồi. Sau năm 1917, Lênin một cử lật đổ đế quốc lớn nhất thế giới, và đuổi các thế lực đế quốc xâm lược xung quanh đi, Tôn công không khỏi cảm thấy rạng rỡ hẳn lên. Việc ông làm "cẩn thận thi hành mệnh lệnh" chính là tinh hoa của các giáo lý như "lãnh tụ độc tài", "nhà cách mạng chuyên nghiệp" do Lênin thực hiện. Tư tưởng của Tôn cũng là hình ảnh thu nhỏ cụ thể của Lênin. Tư tưởng của hai người đã là một thể, hành vi của hai người vốn dĩ có thể ăn nhịp với nhau. Sau khi Lênin thành công, Trung Sơn diện bích chín năm, mới đại triết đại ngộ, bèn vứt bỏ toàn bộ những gì đã học để học theo — nói một câu trúng đích: lấy Nga làm thầy. Ông chưa thành công toàn vẹn thì đã chết, Tưởng Giới Thạch bỏ dở giữa chừng, còn Mao Trạch Đông thì thanh xuất ư lam.
5.8 "Lấy Nga làm thầy" chỉ là một giai đoạn
Một số sử gia trong Quốc Dân Đảng bới lông tìm vết trong trứng, nói rằng "lấy Nga làm thầy" của Trung Sơn chỉ là học cái "dụng" chứ không phải học cái "thể". Sau "quân chính" của Trung Sơn, vẫn còn "huấn chính" và "hiến chính" vĩ đại hơn cơ mà!
Nhưng sự thật lịch sử sáu mươi năm qua nói cho chúng ta biết, mục đích lớn nhất của việc Tôn Trung Sơn "lấy Nga làm thầy" là đem phương pháp hiệu quả nhất trong mô hình nước Nga học lấy, dùng cho việc thống nhất bằng vũ lực tranh giành thiên hạ. Trung Quốc sau khi thống nhất là mô hình gì, Tôn Trung Sơn cũng chỉ nói một đống lý luận trống rỗng — thực tế thì Quốc Dân Đảng sáu mươi năm qua rốt cuộc vào lúc nào, ở nơi nào, đã "huấn" qua "chính" chưa? Cho đến hiện tại, bản thân Quốc Dân Đảng chẳng phải vẫn đang tiếp tục "chịu huấn luyện" đó sao?
Còn như bộ của Lênin, hiệu quả nhất cũng chỉ là "thống nhất bằng vũ lực". Liên Xô sau khi thống nhất, ngoài một chủ nghĩa quân sự vĩ đại ra, còn làm ra những trò trống gì nữa? Những gì Lênin làm là dùng bạo lực phá hủy chế độ chuyên chế phong kiến của đế quốc Nga. Đập nát chế độ này rồi, làm thế nào để xây dựng ra một đại quốc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh an vui, tự do bình đẳng, Lênin không để lại bản vẽ. Thầy của ông là Karl Marx cũng không giảng giải rõ ràng. Chính trị gia cổ đại nước ta là Trần Bình nói với chủ tử của ông ta là Lưu Bang rằng: "Bệ hạ lấy nó trên lưng ngựa, không thể trị nó trên lưng ngựa được." Lấy nó trên lưng ngựa là kết quả của sự phá hủy: xuống ngựa mà trị nó, thì phải dựa vào sự tích lũy từng chút một kinh nghiệm. Trí tuệ và cơ vận dùng chung, không thể tùy tiện bị đặt ra ngoài hư không, nói những lời hoa mỹ xa hoa về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ.
Kinh nghiệm bảy mươi năm nói cho chúng ta biết, việc "lấy Nga làm thầy" của Tôn Trung Sơn cũng chỉ là một giai đoạn; một giai đoạn "lấy nó trên lưng ngựa". Tác dụng của giai đoạn này là "thống nhất bằng vũ lực" và "súng ống sinh ra chính quyền". Giai đoạn này một khi rút lui khỏi lịch sử, trên lưng ngựa đã không thể trị quốc, thì xuống ngựa mà trị quốc, phải tìm ra một chủ đề mới, phương pháp mới mới là con đường chính xác.
5.9 Giai đoạn hiện tại cũng nên có một chủ đề
Nói tóm lại trong một câu, trong quá trình phát triển hiện đại hóa của Trung Quốc, sự vĩ đại của Tôn Trung Sơn chính là ông đã nắm bắt hai chủ đề, lãnh đạo hai giai đoạn. Mạnh Tử nói: "Các vị tầm thường, đều là những kẻ nương nhờ người khác để thành công." Trung Quốc phát triển cho đến nay, giai đoạn nương nhờ người khác để thành công đã dần qua đi, trong giai đoạn hiện tại của lịch sử, chúng ta phải tìm ra chế độ của riêng mình, xuống ngựa mà trị quốc thì mới tốt.
Trong sử sách nước ta, những sự kiện lợi dụng mê tín để kích động bạo động nông dân rất thường thấy. Khăn Vàng, Bạch Liên Giáo đều là những ví dụ điển hình, nhưng chiến tranh tôn giáo trong sử học phương Tây thì hoàn toàn không có trong lịch sử Trung Quốc, nếu có, "Hội Bái Thượng Đế" do Hồng, Dương lãnh đạo chính là trường hợp duy nhất. Hồng, Dương vào thời điểm thế kỷ XIX khi "chủ nghĩa dân tộc" mới chớm nở, lại đi làm cuộc bạo động chống chủ nghĩa dân tộc, không biết thời thế, không hiểu tình hình đất nước, cuối cùng đã bị dập tắt. Giáo sư Tiền Mục, người tận tụy bảo vệ đạo thống nhất mực cho đến tận ngày nay, đã nhiều lần chỉ ra: Việc Tăng, Tả, Liễu, Hồ đối phó với Hồng, Dương, không phải là trung thành với ngoại tộc, mà là bảo vệ "đạo thống" của Hoa Hạ. Xem Tiền Mục, "Quốc sử đại cương" (Thương Vụ, bản năm 1948), trang 634.
Tham khảo "Tư trị thông giám" bản Bá Dương, tập 2, hoặc Tư Mã Quang nguyên trượng quyển 1.
Nhớ hồi đầu thập niên 30, người viết khi còn học trung học, từng nghe một giáo viên văn khoa kể câu chuyện về Bắc phạt. Thầy nói quân Bắc phạt có bộ phận chính trị dán khẩu hiệu trên đường phố, quân phiệt Tôn Truyền Phương ở Nam Kinh đã bắt chước theo. Lúc đó ông là sinh viên đại học, nhớ lại và nói: "Nhìn khẩu hiệu của Tôn Truyền Phương là biết người họ Tôn thế nào cũng sụp đổ." Hơn mười năm sau, người viết không ngờ cũng trở thành giáo viên văn sử trung học, lại không ngờ lại có chung cảm xúc đó. Sức mạnh của khẩu hiệu mới lớn lao làm sao!
Khẩu hiệu "Khuyển trừ Thát lỗ" trước cách mạng Tân Hại, tuy rất có lực lượng, nhưng lại cực kỳ bất công. Na Lạp thị, trên thực tế là nữ chủ trong văn hóa Hán, có liên quan gì đến Thát lỗ đâu, Tải Điển (Quang Tự), Phổ Nghi (Tuyên Tông), là những vị hoàng đế cuối cùng của triều đại văn hóa Hán, cũng không thể coi là dị tộc. Cho nên khẩu hiệu này, vừa qua thời Tân Hại liền tan thành mây khói. Dân tộc Hán hoàn toàn không có ác cảm kỳ thị người Mãn tộc. Tuy nhiên khẩu hiệu này có công huân cách mạng, cũng chính là sự khác biệt giữa "kích động" và "tuyên truyền" mà Lênin đã nói.
Trước Tân Hại, vốn có cuộc tranh luận về "Cộng hòa" và "Quân hiến". Sau Tân Hại, dẫu là người phò hoàng nguyên thủy như Khang, Lương cũng không còn nói đến quân hiến nữa. Chế độ cộng hòa cuối cùng đã trở thành định chế được quốc dân công nhận. "Lục quân tử Hồng Hiến" chỉ là những thư sinh không biết thời thế.
Xem Trương Bằng Viên, "Lương Khải Siêu dữ thanh quý cách mạng", chương 4. Lương vốn là chủ tướng phò hoàng, nhưng sau biến pháp Mậu Tuất, cũng chủ trương cộng hòa. Việc ông cuối cùng ly khai với Tôn Văn, nhân tố cá nhân lớn hơn nhiều so với tín ngưỡng chính trị.
Tôn Nhật Tân, Dương Cầu Vân hợp tác vào năm 1895, tức là đã áp dụng "mô hình Mỹ". Chức vụ Tổng thống mà hai người tranh chấp, chính là danh từ tiếng Mỹ, xem chú thích. Khi Đồng Minh hội thành lập tại Tokyo vào năm 1904, hình thức và tinh thần tam quyền phân lập của Mỹ đều vô cùng hiển minh. Tôn giữ chức hành pháp gọi là "Tổng lý", chính là Tổng thống hoặc Tổng giám đốc. Đặng Gia Ngạn giữ chức tư pháp gọi là "Phán sự trưởng", Uông Triệu Lục Thụ Mệnh giữ chức lập pháp gọi là "Nghị trưởng", chính là phỏng theo mô hình Mỹ. Xem "Cách mạng văn liệu" (Đài Bắc, Đảng sử hội biên soạn, 1958), tập 2, trang 2 - 10. Giáo sư Ngô Tương Tương cũng cho rằng khi Hưng Trung hội thành lập tại Honolulu, trong giấy gia nhập hội có câu gọi là "sáng lập chính phủ hợp chúng", chính là lấy Hợp chúng quốc Hoa Kỳ làm điển phạm. Xem "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" thượng sách, trang 116.
"Phong trào quốc dân" hoặc dịch là "Phong trào nhân dân" (Populist Movement) là phong trào tự vệ của đại chúng nông công chịu tổn thương nặng nề trong thời kỳ phát triển cuồng dã của chủ nghĩa tư bản Mỹ cuối thế kỷ XIX. Tư tưởng chỉ đạo của nó bắt nguồn từ Henry George. George xuất thân từ giai cấp công nông, không được giáo dục chính quy nhiều lắm, dựa vào quan sát và kinh nghiệm của bản thân, viết cuốn sách "Tiến bộ và nghèo đói" (1879), đưa ra các cấu tưởng gần với chủ nghĩa xã hội như pháp luật về đất đai, pháp luật thuế đơn, nhất thời làm mưa làm gió. Đến năm 1892 mới xuất hiện "Đảng Nhân dân" (People's Party) do công nông tổ chức, ra điều là đảng lớn thứ ba của nước Mỹ lúc bấy giờ. Ảnh hưởng đối với cải cách chính trị nước Mỹ sau này rất lớn. Đến cuối thế kỷ XIX, do hai đảng lớn kia cũng đồng thời áp dụng chính sách công nông, cộng thêm kinh tế phát triển, nghèo đói giảm bớt, Đảng Nhân dân bấy giờ dần dần bị hai đảng lớn hấp thụ mà suy vi, cuối cùng đi đến tiêu diệt. Người bàn luận vì thế cho rằng chủ nghĩa xã hội của nước Mỹ thịnh hành từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, sau khi chủ nghĩa tư bản cải lương, chủ nghĩa xã hội đã thành món hàng lỗi thời rồi.
Tư tưởng "bình quân địa quyền" của Tôn Trung Sơn tiên sinh, thoạt đầu rõ ràng là chịu ảnh hưởng của Henry George. Mục đích là để đối phó với thương nhân "đầu cơ đất đai" khi kinh tế đô thị phát triển nhanh chóng. Tôn Trung Sơn chứng kiến sau năm cảng thông thương, giá đất Thượng Hải tăng vọt vạn lần (xem "Quốc phụ toàn thư", Đài Bắc, Đảng sử hội biên soạn, 1965, tập 1, trang 140), mà Luân Đôn lại còn vượt hơn thế. Người viết chú thích: Ngày nay các phú thương gốc Hoa ở Đài Bắc, Hồng Kông, Singapore và các đô thị lớn Bắc Mỹ phần lớn là thương nhân bất động sản, theo thống kê của giới truyền thông Mỹ, ngày nay phú thương người Hoa sở hữu tài sản trên một nghìn vạn đô la Mỹ, riêng Hồng Kông đã đạt tới con số hai nghìn năm trăm người, cũng phần lớn là thương nhân bất động sản. Tôn Dật Tiên — thanh niên Hoa kiều, đi khắp hải ngoại, để quyên góp cứu nước, thường là nghèo đến mức không có chỗ cắm giũa, khi mang thân là Tổng lý Đồng Minh hội, vẫn không thể không làm thuê trong quán ăn của Hoa kiều, để mong được một bữa no, thế mà tiếp xúc với các cự phú đại gia thì tiền Tây cuồn cuộn, hiện tượng chấn động tâm can này, khiến Tôn thị vô cùng thán phục lời của Henry George, mà có các ngôn luận như nộp thuế theo giá thị trường, tăng giá thuộc về công, quốc hữu hóa đất đai, "nước ngoài có loại thuế đơn, là đáng lấy nhất" v.v. (Xem bài diễn giảng tại Quảng Đông tháng 6 năm Dân Quốc thứ nhất, "Quốc phụ toàn thư", trang 491 - 492); tinh nghĩa của "Chủ nghĩa dân sinh" cũng thấy ở đây. Về già làm "chính sách công nông", "chính sách đất đai", bèn tập trung vào việc "người cày có ruộng" của nông dân, trở thành tiền đề cho cải cách ruộng đất của ĐCSTQ sau này. Lược thuyết thuở trẻ của Tôn Trung Sơn, với những gì thực hiện lúc về già, trọng điểm rõ ràng có sự khác biệt, ông không phải là nhà kinh tế học, càng không phải là nhà sử học kinh tế, chính sách cải cách ruộng đất do ông xướng đạo, có tính kích động cách mạng cao độ, chứ không phải là biện pháp triệt để giải quyết vấn đề kinh tế.
Xem "Hồ Hán Dân tự truyện", đăng trong "Cách mạng văn liệu" tập 2, trang 14; Hà Hương Ngưng, "Hồi ức của tôi", đăng trong "Hồi ức dữ hoài niệm" (Bắc Kinh, Bắc Kinh xuất bản xã, 1982), trang 8.
Lương Khải Siêu cho rằng, chính sách quốc hữu hóa đất đai sẽ khiến "những kẻ vô lại lang thang lợi dụng cơ hội binh đao, cướp đoạt hết tài sản của người giàu", mà khiến thiên hạ đại loạn. Xem sách đã dẫn của Trương Bằng Viên, trang 244, dẫn "Tân dân nghiệp báo" số 75.
Cuộc "Khởi nghĩa Vũ Xương" ngày 10 tháng 10 năm 1911 trên thực tế là do "Cộng tiến hội" phát động. Mà Cộng tiến hội lại do các hội viên Đồng Minh hội nguyên thủy lỏng lẻo (phần lớn là người các tỉnh miền Trung Trung Quốc) phân liệt ra. Các phần tử hoạt động phần lớn là thành viên và cốt cán của phong trào cách mạng vùng Hoa Trung lúc bấy giờ. Họ đều không có dị nghị gì đối với việc "khuyển trừ Thát lỗ", "thành lập dân quốc". Duy chỉ đối với điều "bình quân địa quyền" này thì không có nhận thức, cũng không có niềm tin. Cho nên khi Cộng tiến hội thành lập tại Tokyo năm 1907, đã đem câu vần trong lời thề của Đồng Minh hội là "bình quân địa quyền" đổi thành "bình quân nhân quyền". Nhưng bình quân nhân quyền rốt cuộc có ý nghĩa gì, thì mọi người tùy theo sở thích của mình. Về tranh chấp trong Cộng tiến hội, các nhà đưa tin rất nhiều, tham khảo "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" thượng sách, trang 668 - 681.
Về khuynh hướng nước Mỹ thời kỳ Đồng Minh hội, xem chú thích. Còn như chế độ chính trị Trung Quốc đầu thời Dân quốc, trừ bầu cử trực tiếp ra, hầu như toàn bộ sao chép chế độ tam quyền phân lập của Mỹ, tham khảo Tiền Đoan Thăng, "Dân quốc chính chế sử" (Thượng Hải, Thương Vụ, 1939), chương 1. Ở đây người viết lập luận từ phương diện học lý.
Hồ Thích tiên sinh lúc sinh thời từng nhiều lần nói với tôi, chính phủ đầu thời Dân quốc là mô hình tốt nhất để thực hiện chính trị dân chủ, các nghị viên hai viện thượng, hạ nghị viện lúc bấy giờ đều là "nhân tài lỗi lạc", Trung Quốc đánh mất cơ hội này, thật vô cùng đáng tiếc v.v.
Chính trị đảng phái hỗn loạn đầu thời Dân quốc, người bàn luận rất nhiều, tham khảo Lý Kiếm Nông, "Trung Quốc cận đại chính trị sử" (Thượng Hải, Thương Vụ, 1947), chương 10.
Tác phẩm của các nhà sử học, người làm báo, tiểu thuyết gia thời kỳ đầu, như Lý Kiếm Nông đã dẫn và Cốc Chung Tú ("Trung Hoa Dân quốc khai quốc sử", Thượng Hải, 1914) v.v. rất nhiều. Ngoài các nhà văn nổi tiếng ra, người viết cũng từng phân tích phái "Chính học hệ" hình thành bởi các nghị viên phản đối Tôn trong "Quốc dân đảng". Đăng trong "Hải ngoại luận đàn" đã dẫn, tập 2, số 7, 8, 9, tháng 8, tháng 9 năm 1961.
Sau Cách mạng Mỹ (1776 - 1784) và Cách mạng Tân Hại Trung Quốc (1911), các nhà lý luận hai bên đều đang mò mẫm một chế độ mới. Sự khác biệt giữa hai bên là phe trước hoàn toàn xuất phát từ bản thân chế độ, phe sau thì xen lẫn việc dùng con người để thay đổi chế độ, đối nhân chứ không đối sự. Như đổi "chế độ tổng thống" thành "chế độ nội các", chính là một ví dụ. Tiền Đoan Thăng bàn luận rất tỉ mỉ, xem chương 1 sách của Tiền đã dẫn, và bài 3, 4 sách của Cốc. Mấu chốt của nó nằm ở chỗ cái gọi là nghị viên, chỉ là một đám chính khách quan liêu, trong xã hội vốn không có cái gọi là "cử tri" nào cả. Tập đoàn chính khách kiểu này là sản phẩm của truyền thống Trung Quốc. Cũng chẳng dính líu gì đến "giai cấp tư sản" hiện đại.
Xem chú thích.
"Lâm thời ước pháp" đầu thời Dân quốc là được soạn thảo nhằm chế ngự Viên. Trong nhiệm kỳ Thủ tướng Nội các của Tang Thiệu Nghi, Viên vẫn chưa có dấu hiệu phá hoại ước pháp. Đến khi nội các lần lượt thay đổi, Tống Giáo Nhân bèn công khai yêu cầu tổ chức "chính phủ đảng phái thuần túy" để chế ngự Viên, thế nhưng lại không nói rõ "đảng phái" có cơ sở cử tri nào. Như thế, cái gọi là "nội các trách nhiệm" chỉ là liên minh của một đám chính khách quả đầu nhỏ, nhằm kìm kẹp quả đầu lớn, việc chuốc lấy sự phản công của quả đầu lớn là điều tất nhiên. Những sự kiện tương tự như vậy, trong lịch sử chính trị sau Tôn, Viên, xuất hiện vô số kể. Về ngôn hành chế ngự Viên của Tống Giáo Nhân, tham khảo chương 10 sách của Lý Kiếm Nông và tin tức báo chí đương thời.
Viên Thế Khải sau đó dứt khoát phản bội dân quốc, làm trò đế chế, thì khỏi phải bàn; Tôn thị tổ chức "Chính địa cách mạng đảng". Điều lệ đảng của ông ghi rõ thời kỳ "quân chính" phải dùng một đảng, thậm chí một thủ lĩnh, chuyên chế độc tài. Đây đều là phản ứng của hai người Viên, Tôn đối với sự phá sản của chính trị nghị viện đầu thời Dân quốc. Mặc dù Tôn công sau quân chính, còn cộng thêm huấn chính và hiến chính, nhưng trong lịch sử, loại học lý chuyên chế nào (bao gồm cả "chuyên chế vô sản") mà đằng sau lại không có một viễn cảnh "tự do bình đẳng" đồng lòng nhất trí của toàn dân chứ? Dưới ngòi bút của bất kỳ nhà lý luận chuyên chế nào, "chuyên chế" đều là giai đoạn ngắn ngủi bất đắc dĩ.
Một phần tư liệu của "Chính địa cách mạng đảng" rải rác trong "Cách mạng văn liệu" tập 5. Sử thực và giai thoại xin xem "Quốc phụ niên phổ" (Đài Bắc, Đảng sử hội biên soạn, bản bổ sung năm 1965) và các trước tác như "Quốc phụ toàn thư" đã dẫn.
Hoàng, Uông, Vu, Lý, Bách v.v., vì quan điểm đảng phái khác nhau, đều không đi theo Tôn Trung Sơn sang Nhật mà mạnh ai nấy đi. Tình trạng phân tán các bậc nguyên lão này, không những khiến Quốc dân đảng biến chất, mà trong tầng lớp chóp bu đương quyền, cũng dần thấy sự quật khởi của tầng lớp lãnh đạo hệ Giang Chiết, sự phát triển của Quốc dân đảng bèn bước vào một giai đoạn khác, tham khảo Thẩm Diệc Vân (vợ Hoàng Bân) viết "Diệc Vân hồi ức" (Đài Bắc, Truyện ký văn học xã, 1968), trang 85 - 90; Tiết Quân Độ viết, Dương Thận Chi dịch "Hoàng Hưng dữ Trung Quốc cách mạng" (Hồng Kông, Tam Liên, 1980), trang 150 - 152. Vợ Hoàng Bân cất giữ hàng trăm bản thảo gốc, người viết dựa vào đó, từng đem hồi ức của bà gia giảm biên dịch thành bản thảo tiếng Anh hơn tám trăm trang, cất giữ tại Đại học Columbia.
Xem "Khế ước xã hội" của Rousseau. Tư tưởng thời kỳ đầu của Tôn Văn rất có khuynh hướng đối với các bậc triết gia dân chủ phương Tây như John Locke (1632 - 1704), Rousseau, Thomas Jefferson (1743 - 1826), Abraham Lincoln (1809 - 1865) v.v. Sau năm 1913, tư tưởng chuyển biến. Thậm chí trong bài diễn giảng "Tam dân chủ nghĩa" còn lớn tiếng chỉ trích "thuyết nhân quyền thiên định" của Rousseau; luận điệu vô hình trung đã dần dần tiệm cận với Lênin rồi. Rải rác trong bài diễn giảng "Dân quyền chủ nghĩa" và "Tôn văn học thuyết".
Ngô Tương Tương viết "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" thượng sách, chương 17. Khá là biện hộ cho Tôn công, nhưng việc thuật lại chân tướng thì rất tỉ mỉ. Rất đáng để tham khảo.
Từ khi "Chính địa cách mạng đảng" thành lập, cho đến mười năm Tôn công qua đời, đảng quyền nằm trong tay một mình Tôn thị, sổ sách tài khoản của ông, dẫu là cán bộ cao cấp trong đảng cũng không hề hay biết, khác hẳn với thời kỳ Đồng Minh hội.
Tham khảo Lý Dục Thụ viết "Trung Nhật nhị thập nhất điều giao dịch (thượng)" (Đài Bắc, Viện nghiên cứu Trung ương, Cận đại sử nghiên cứu sở chuyên san 18, 1966).
Đoạn này là do Cố Duy Quân tiên sinh tận miệng kể cho tôi, ông còn nói tôi là thính giả "lịch sử gia đầu tiên" của câu chuyện này. Người viết là một trong số năm học giả cộng tác với Cố thị viết "Hồi ký" của ông vào khoảng thập niên 50, 60, một mình làm hơn tám mươi phần trăm công việc, cũng là người chịu khổ cực nhiều nhất. Câu chuyện này, tôi vốn viết bằng tiếng Anh, sau đó qua Viện nghiên cứu lịch sử cận đại thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc dịch, do Nhà xuất bản Trung Hoa Bắc Kinh phát hành. Xem tập 1 quyển 2 của bộ hồi ký đó.
Xem "Hồ Thích lưu học nhật ký" và "Hồ Thích khẩu thuật tự truyện" (Đài Bắc, Truyện ký văn học xã, 1980), trang 71.
Xem chú thích và "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" hạ sách mục 1248 - 1251.
Khi "Hội nghị thảo luận học thuật kỷ niệm 120 năm ngày sinh Tôn Trung Sơn tiên sinh" được tổ chức tại Thú Hưởng Thôn vào mùa thu năm 1986, trong luận văn của giáo sư người Nhật Matsumoto Eiki đã chỉ ra rằng Tôn Trung Sơn lúc đó không tiếc hy sinh quyền lợi Trung Quốc có thể sánh ngang với Hai mươi mốt điều, muốn "liên Nhật", "thảo Viên", và "đánh nhanh thắng nhanh" với Viên. Matsumoto còn tự mình chụp ảnh lại từ tài liệu lưu trữ của Nhật trước chiến tranh bản gốc bức thư riêng Tôn Văn gửi quan chức Nhật Tiểu Trì Trương Tạo.
Xem bản chụp bức thư Tôn Văn gửi Tiểu Trì Trương Tạo. Giáo sư Đại học Columbia C. Martin Wilbur (tên tiếng Trung Vi Bộ Đình) trong tác phẩm gần đây của ông "Tôn Dật Tiên, nhà ái quốc thất vọng" (SUN YAT-SEN: Frustrated Patriot. New York: Columbia University Press, 1976), chương 4 trang 76 - 111 và trang 314 - 324 (cuốn sách này trong nước có bản dịch tiếng Trung), dẫn khắp các tư liệu lịch sử tiếng Anh, tiếng Nhật để làm rõ sự cố gắng bí mật đổi quyền lợi quốc gia lấy viện trợ của Nhật Bản của Tôn Trung Sơn trước và sau vụ giao dịch "Hai mươi mốt điều". Giáo sư Ngô Tương Tương cũng dẫn khắp các tư liệu lịch sử tương tự để biện hộ cho Tôn thị, đồng thời dẫn bài viết của Bành Trạch Chu (đăng trong "Đại lục tạp chí" quyển 60 số 6, tháng 6 năm 1980), chỉ ra bức thư này "khả năng làm giả là cực kỳ lớn". Xem "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" hạ sách trang 1242. Giáo sư Ngô lại chỉ ra bức thư Tôn gửi Tiểu Trì nhường quyền lợi nhiều hơn, thư gửi Đại Ôm ở sau, mà nhường quyền lợi lại ít hơn. Cho nên "rất có điều đáng nghi ngờ". (Sách đã dẫn, trang 1244). Trên thực tế, ở đây giáo sư Ngô có lỗi nhầm lẫn về mặt chữ nghĩa. Thư Tôn gửi Tiểu Trì muộn hơn thư gửi Đại Ôm mười tháng (thư gửi Đại Ôm là ngày 11 tháng 5 năm 1914, còn thư gửi Tiểu Trì là ngày 14 tháng 3 năm 1915 — tức năm Đại Chính thứ tư), sách của Ngô ghi nhầm thư gửi Tiểu Trì là năm 1914.
Người viết còn có một bản thảo tiếng Anh khác, bàn về đầu đuôi hình thành tư tưởng "chuyên chế tạm thời" của Tôn công và "chính trị quả đầu tính kế thừa" của Viên thị, đã được giáo sư Lý Hựu Ninh in ra vào năm 1988, xem lời tựa Đức Cương của cuốn sách này.
Lúc bấy giờ Nhật Bản đang lấn chiếm Trung Quốc, từng không tiếc chi khoản tiền lớn thông qua nhiều kênh khác nhau, khắp nơi viện trợ các phái thực lực phản Viên trong lãnh thổ Trung Quốc, Tôn công chỉ là một trong số đó mà thôi. Những năm gần đây các nhà sử học Nhật Bản và Mỹ khai thác được vô số tư liệu lịch sử loại này, sơ lược xem bản gốc tiếng Anh sách của Vi Bộ Đình đã dẫn trang 84, 317.
Kể từ khi Tôn Trung Sơn thành lập "Chính phủ quân sự" tại Quảng Đông vào ngày 1 tháng 9 năm 1917, được bầu làm "Đại nguyên soái", Trung Quốc liền không còn thống nhất nữa, trước sau duy trì hai pháp thống. Cho đến tận ngày nay. Hợp tác Quốc - Cộng lần thứ hai (1937 - 1945) những năm đầu kháng chiến. Mặc dù có phần điều hòa, nhưng cũng chỉ là ngoài mặt mà thôi, trên thực tế, vẫn là hai chính phủ cùng tồn tại.
Tư liệu lịch sử về "Cuộc tranh chấp Phủ - Viện" có vô số kể. Tác phẩm gần đây tương đối chi tiết, xem Thẩm Vân Long viết "Lê Nguyên Hồng truyện" (Đài Bắc, Viện nghiên cứu Trung ương Cận đại sử sở xuất bản, 1963), chương 11, 12.
Cuộc tranh chấp giữa Lê và Đoạn, thành phần chính trị, nhân tố tâm lý đều rất phức tạp, đúng sai khó nói. Tuy nhiên gạt bỏ tư tâm của quân phiệt quan liêu đương thời, xét về lợi ích quốc gia mà nói, thì việc tham chiến là đúng đắn. Thực lợi mà Trung Quốc giành được tại Hội nghị Paris (1919) và Hội nghị Washington (1922) đủ để chứng minh điều đó.
Theo "Ước pháp" năm Dân quốc thứ nhất, lệnh do Tổng thống ban hành cho cấp dưới, bắt buộc phải có chữ ký của Thủ tướng Quốc vụ thì mới có hiệu lực. Nay đoạn thị từ chối ký tên vào lệnh cách chức chính mình của Lê, thì lệnh cách chức này tự nhiên không có hiệu lực. Đây là hậu quả của việc "Ước pháp" năm Dân quốc thứ nhất đối nhân (Viên Thế Khải) chứ không đối sự. Nhà pháp học Tiền Đoan Thăng bàn luận rất tỉ mỉ, xem chú thích trước.
Về những chuyện mưa gió trong cuộc tranh chấp Phủ - Viện, ghi chép chi tiết nhất là tác phẩm của Đào Cúc Ẩn "Bắc dương quân phiệt thống trị thời kỳ sử thoại" (Bắc Kinh, Tam Liên, 1957) tập 2.
Sách đã dẫn. Chương 27 - 30.
Sách đã dẫn, tập 3, trang 195 - 200.
Các chính khách làm nghị viên quốc hội ở Bắc Kinh năm đó, vốn không phải do nhân dân bầu ra, họ cũng không có cử tri nào để phải chịu trách nhiệm trước họ, lại không có bất kỳ tập đoàn chuyên chế quả đầu nào có thể dùng sinh tử vinh nhục để khống chế họ; cho nên hoạt động chính trị của họ, việc tách rời hay hợp lại hoàn toàn dựa vào lương tâm và lợi ích của bản thân để quyết định lựa chọn. Thế là các phái trong quốc hội nhiều như lông bò, vì lợi ích riêng mà chèn ép lẫn nhau. Giáo sư Lý Kiếm Nông từng làm bảng biểu để thể hiện khái quát, xem "Trung Quốc cận bách niên chính trị sử" của ông (Đài Bắc, Thương Vụ, 1959; bản in đầu tại Thượng Hải, 1948) hạ sách trang 367 "Biểu biến hóa chính đảng đầu thời Dân quốc". Những nghị viên này thích nhất là quốc hội muôn năm, sợ nhất là giải tán quốc hội.
Về chi tiết cuộc nội chiến "Hộ pháp", tham khảo sách đã dẫn của Đào Cúc Ẩn tập 3, 4.
Tham khảo "Biographical Dictionary of Republican China" (Columbia University Press 1967 - 1971) truyện ký các nhân vật bản tiếng Anh. Cuốn sách này trong nước có bản dịch tiếng Trung.
Có lời đồn Công sứ Đức tại Trung Quốc Von Hintze từng tìm cách hối lộ Đoạn Kỳ Thụy, hy vọng ông đình chỉ hoạt động "tham chiến", Đoạn từng châm biếm số tiền hối lộ của ông ta kém xa các nước hiệp ước. Xem sách của Ngô Tương Tương đã dẫn, hạ sách trang 1286.
Sách đã dẫn. Sách của Ngô đã dẫn, hạ sách trang 1289 - 1292. Sách của Vi Bộ Đình đã dẫn, trang 93, 320, 322. Phát hiện có tính uy tín nhất, chính là báo cáo bí mật của nhà ngoại giao Đức đương thời do giáo sư Lý Quốc Kỳ thuộc Viện nghiên cứu lịch sử cận đại thuộc Viện nghiên cứu Trung ương Đài Bắc khai quật từ trong tài liệu lưu trữ của Đức sau chiến tranh. Xem bài viết của ông (Biên bản hội nghị thảo luận học thuật lần thứ 36 của Trung tâm nghiên cứu tư liệu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc), đăng trong "Báo cáo nghiên cứu chuyên đề lịch sử cận đại Trung Quốc" tập 4 (Đài Bắc, Trung tâm nghiên cứu tư liệu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc, 1974). "Kỷ niệm 80 năm thành lập Trung Quốc Quốc dân đảng" trang 317 - 343. Báo cáo sớm nhất và mang tính truyền kỳ nhất về tình hình Tôn Trung Sơn nhận khoản tiền bí mật này (tiền mặt), được ghi lại trong Phùng Tự Âm viết "Cách mạng dật sử" (Trùng Khánh, 1944) tập 2, trang 59 - 60.
Theo nguyên lão Quốc dân đảng, đồng thời là bậc túc nho báo giới Thượng Hải, cuối cùng giữ chức Chủ tịch Hội đồng nghị sự thành phố Thượng Hải Phan Công Triển tiên sinh kể lại chi tiết cho tôi nghe vào những năm 50, trong thời gian Thế chiến thứ nhất, các lãnh đạo Quốc dân đảng như Đới Cử Tào, Tưởng Giới Thạch, Trần Quả Pdũng phu v.v. đều hoạt động giao dịch cổ phiếu tại Thượng Hải. Người viết từng thay mặt Phan thị viết hồi ức đoạn khúc của ông, cũng có nhắc đến. Xem Phan Công Triển, đăng trong "Sinh hoạt" bán nguyệt san (New York, 1956) ngày 1 tháng 9 kỳ 122. Người viết bên cạnh còn có một cuốn tàn quyển "Tưởng ủy viên trưởng truyện" (Văn hóa Lệ tiến xã biên soạn, Thượng Hải Tác tân thư điẹu xuất bản, 1939) trang 48, ghi chép chuyện năm Dân quốc thứ 10 Tưởng yết kiến Tôn "lại tìm cách quyên góp hàng triệu đại kim... Tổng lý lập tức lệnh bộ thuộc khẩn trương lo liệu quân nhu tiếp tế..." v.v. Cuốn sách này dài 490 trang, là một tác phẩm vĩ đại thân Tưởng, xuất bản vào thời kỳ Tưởng thị cực thịnh. Câu chuyện quyên góp "hàng triệu đại kim" từ đâu mà có? Tương truyền Tưởng công cũng từng làm môi giới chứng khoán tại Thượng Hải trong thời gian Thế chiến thứ nhất, thu lợi rất phong phú v.v.
Sách của Vi Bộ Đình đã dẫn căn cứ vào báo cáo USDS 893.00/2707 gửi Bộ Ngoại giao của đại sứ quán Mỹ ở nước ngoài lưu giữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ, Tổng lãnh sự Mỹ tại Quảng Đông P.S. Heintzlman ngày 6 tháng 8 năm 1917 báo cáo với Bộ Ngoại giao: Theo lời Đốc quân Quảng Đông Trần Bính Côn kể với ông ta, Tôn Trung Sơn bí mật nhận một triệu rưỡi bạc nguyên tệ tiền mặt của Đức tại Thượng Hải. Tôn lấy năm mươi vạn đưa cho Tổng tư lệnh hải quân Trình Bích Quang, khiến hạm đội hải quân số một nam hạ. Lại ba mươi vạn đưa cho các nghị viên Quốc hội bất thường nam hạ, số tiền còn lại dùng Ngân hàng Hà Lan và Ngân hàng Đài Loan thương nhân Nhật Bản hối đoái về Quảng Đông dự trữ. Cùng sách cũng dẫn "Quốc phụ niên phổ" (Đài Bắc, Đảng sử hội biên soạn, bản bổ sung năm 1965) hạ sách trang 625 (sách của Vi ghi nhầm thành trang 677). Ngày 23 tháng 6 năm 1917, Tôn Trung Sơn cùng Tang Thiệu Nghi, Sầm Xuân Huyên yến tiệc tiếp đón Trình Bích Quang tại Cáp Đồng hoa viên Thượng Hải. Ngày 27 tháng 6 Tôn bèn sai người đưa cho Trình ba mươi vạn tiền quân phí, làm nhu cầu tiến hành hộ pháp. Việc tặng thưởng này, tư liệu lịch sử Quốc dân đảng không tra cứu được. Người biên soạn "Niên phổ" bèn lấy từ Mạc Nhữ Phi viết "Trình Bích Quang tuân quốc ký" chương 3, đem đối chiếu với "Cách mạng dật sử", thì khoản tiền đó là do người Đức tặng là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Theo tài liệu của Đức, Sầm Xuân Huyên lúc bấy giờ cũng nhận một triệu tiền Đức, mà "Chính phủ quân sự" do Tôn, Sầm v.v. sau đó tổ chức vẫn tuyên chiến với Đức (ngày 26 tháng 9). Đức có thể nói là mất vợ lại thiệt quân. Các nghị viên Quốc hội bất thường tại Quảng Đông tổng cộng có 91 người, Tôn Trung Sơn đắc cử Đại nguyên soái với 84 phiếu.
Hải quan Trung Quốc lúc bấy giờ bị người ngoài kiểm soát, tiền thuế quan thu được toàn bộ dùng cho việc bồi thường cho các liệt cường. Nếu vẫn còn dư, gọi là "quan dư", thì là đối tượng tranh giành của những kẻ đương quyền chính phủ Trung Quốc. Tôn Trung Sơn đã thành lập "Chính phủ quân sự" tại Quảng Đông vào tháng 9 năm 1917, đối ngoại tự xưng là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, bèn cử "Bộ trưởng Ngoại giao" tới Hải quan tranh giành quan dư, nhưng phần lớn đều bị người Anh cự tuyệt. Xem sách của Vi đã dẫn trang 185 - 186.
Xem chú thích.
Tôn Trung Sơn tiên sinh không nghi ngờ gì là lãnh đạo chính trị khiến người ta kính ngưỡng nhất trong lịch sử cận đại Trung Quốc. Vì nước vì dân, phấn đấu suốt đời, cho đến chết mới thôi. Những gì người viết bàn luận trong bài này, chỉ lấy hành vi và hậu quả làm điểm xuất phát, động cơ cá nhân vốn không nằm trong phạm vi thảo luận. Tôn Trung Sơn tự nói rất hay: Chính trị là "quản lý việc của mọi người". Cho đến lúc mọi người đều tranh nhau tới "quản", mà người tranh chấp lại toàn là những võ nhân và chính khách tâm cơ quỷ quyệt, ích kỷ vụ lợi. Trong những con sóng gió chính trị quỷ quyệt khôn lường đó, những ông tiên tốt bụng "chính tâm thành ý" tuyệt đối không có phần. Đã là vì cứu nước cứu dân, đành phải không từ thủ đoạn. Cái gọi là "tiểu đức xuất nhập khả dĩ vậy". Sau khi Tôn công qua đời, lời đánh giá của người bạn cũ Lương Khải Siêu về ông rất đáng để các nhà sử học suy ngẫm. Lương nói: "Tôn quân là một nhân vật lớn trong lịch sử, đây là sự nghiệp (thực) mà bất kỳ ai cũng không thể không công nhận. Điều tôi khâm phục nhất ở ông ấy: Thứ nhất, là ý chí kiên cường, trải qua bao nhiêu phong ba, từ trước đến nay chưa từng nhụt chí. Thứ hai, là lâm sự cơ trí, giỏi ứng biến. Nhất là đối với tâm lý quần chúng, rất giỏi quan sát, rất giỏi lợi dụng. Thứ ba, là tiết tháo liêm khiết, ít nhất là bản thân ông ấy nhất quyết không chịu kiếm tiền bừa bãi, dọn tiền cũng tuyệt đối không vì mục đích cá nhân. Giá trị nhân vật của Tôn quân, chính ở ba điểm này. Điều tôi bất mãn nhất đối với Tôn quân là, "vì mục đích mà không từ thủ đoạn". Trong xã hội như thế này ngày nay, người không biết dùng thủ đoạn, thì trái với nguyên tắc "kẻ mạnh sống sót"; Tôn quân bất đắc dĩ mới làm vậy, chúng ta cũng có sự tha thứ tương ứng. Nhưng tôi cho rằng Tôn quân sở dĩ thành công là ở đây; sở dĩ thất bại, cũng chưa chắc không phải ở đây. Điều chúng ta vô cùng đáng tiếc là mục đích vốn dĩ của Tôn quân chưa có cơ hội thực hiện, thì ông ấy đã qua đời rồi." Xem "Tôn Trung Sơn bình luận tập" trang 93. Đáng tiếc là Lương thị cũng qua đời bốn năm sau khi Tôn công mất. Nếu ông ấy sống đến ngày nay, so sánh người với người, e rằng lại phải thách thức với "ta của ngày hôm qua" rồi.
Nhân vật lãnh đạo trong lịch sử Trung Quốc sau khi chết mang tiếng xấu, trừ Tần Thủy Hoàng, Ngụy Vũ Đế (Tào Tháo), Tùy Dạng Đế v.v. ra một số ít người, e rằng chính là Viên Thế Khải. Sau khi Viên thị chết bất đắc kỳ tử vào ngày 6 tháng 6 năm 1916, người viết không tài giỏi, vẫn chưa đọc được một bài viết hay thậm chí một câu nào của nhà sử học biện oan cho Viên thị. Chỉ có Cố Duy Quân tiên sinh trong hồi ký của ông nói rằng, Viên thị thoạt đầu không phải đại ác, chỉ là kiến thức không đủ, bị mê tín và người nhà dẫn dắt sai lầm mà phản bội dân quốc. Người trị sử làm luận điểm trừng phạt tâm tư, gọi cái gọi là "Lục quân tử Hồng Hiến" là tòng phạm, thực ra họ cũng có thể có cảm giác chính trị nghị viện không thể thực hiện tại Trung Quốc mà sinh ra phản ứng bất cập, động cơ chưa chắc đã hoàn toàn vì mưu tính lợi lộc cá nhân.
Bạn tôi giáo sư Trí Ngọc Nhữ từng thảo luận cực kỳ sâu sắc về vụ án cái gọi là "khuyên Viên xưng đế" của Goodnow, đối với Goodnow cũng rất không tha thứ. Xem bài giảng của Trí Ngọc Nhữ. Đăng trong "Báo cáo nghiên cứu chuyên đề lịch sử cận đại Trung Quốc" tập 7 (Đài Bắc, Trung tâm nghiên cứu tư liệu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc, 1977), trang 123 - 166. Người viết cũng từng tìm ra bản gốc văn bản bảo trần của Goodnow gửi Viên thị từ trong tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao Mỹ. Đọc xong sâu sắc cảm thấy Goodnow bị "phái đế chế" đổ oan. Ý nguyên thủy của Goodnow là: Thứ nhất, Trung Quốc lúc bấy giờ thực hiện chính trị quả đầu kiểu Nam Mỹ; Thứ hai, chính trị quả đầu mang tính kế thừa ít nhất vẫn tốt hơn chính trị quả đầu không mang tính kế thừa (chưa đến mức đế chế); Thứ ba, Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn chưa thể bầu cử đại biểu đại diện, đại diện ý nguyện dân chúng tốt nhất là do chính phủ tuyển chọn, tức là phương thức hiệp thương chính trị cũ của Quốc dân đảng năm xưa và hiệp thương chính trị đại lục ngày nay vậy. Sẽ bàn luận ở chỗ khác.
Chính vì chủ đề của phong trào chính trị thời kỳ Đồng Minh hội là "khuyển trừ Thát lỗ", "thành lập dân quốc", Viên Thế Khải đã bức ép nhà Thanh thoái vị, lại biểu thị ủng hộ dân quốc, cho nên chủ đề đã hoàn thành, cách mạng không còn cần thiết nữa, khí thế bỗng chốc tiêu tan, bèn tạo nên tình thế "không có Viên thì không được". Cũng là tình thế được cả trong lẫn ngoài Quốc dân đảng đương thời công nhận đồng loạt, bao gồm cả bản thân Tôn Trung Sơn, chứ không phải ý của một số ít người như Trương Tài, Nghiêm Phục v.v.. Trên thực tế, dọn dẹp cục diện rối ren lúc bấy giờ, cũng chỉ có Viên mới có sức mạnh ổn định này. Tôn Trung Sơn đến sự hỗn loạn trong nội bộ đảng của ông còn không thể thống ngự, tài chính lại lâm vào cảnh khốn đốn, chưa nói tới toàn quốc. Thậm chí Hồ Hán Dân còn khuyên ông nhường ngôi cho Viên. Nhưng Tôn Trung Sơn rốt cuộc vẫn có một "đảng cách mạng" lúc hợp lúc tan, cũ đổi mới sinh. Chính sách của đảng cách mạng này tuy luôn thay đổi, nhưng Tôn Trung Sơn nhờ có tính cách kiên bách bất khuất, cho nên từ đầu đến chí cuối vẫn duy trì được địa vị nhà cách mạng đầu tiên của Trung Quốc. Thế là, địa vị trong đảng của ông ngày càng tăng, quyền lực ngày càng lớn. Cho đến khi "Trung Quốc Quốc dân đảng" được cải tổ dưới sự hỗ trợ của những người Bolshevik Nga, ông đột nhiên được hưởng "quyền quyết định cuối cùng" trong đảng. Quốc dân đảng bèn từ một chính đảng thông thường chuyển thành một chính đảng cách mạng độc tài. Tức là sự khác biệt giữa "chính đảng loại Giáp" và "chính đảng loại Ất" mà Hồ Thích đã nói. Xem Dương Thừa Bân viết "Hồ Thích đích chính trị tư tưởng" (Đài Bắc, Thương Vụ, 1967), trang 152. Tôn Trung Sơn nhờ có tinh thần bất khuất, kiên định tin tưởng chủ trương của mình là chân lý tuyệt đối cứu nước cứu dân, cho nên cơ duyên vừa đến, ông liền Đông sơn tái khởi.
Theo ước tính của giáo sư Tưởng Vĩnh Kính, mười lần khởi nghĩa trước Tân Hại, tổng số tiền quyên góp từ các bên không vượt quá sáu mươi hai vạn đô la Hồng Kông (khoảng ba mươi mốt vạn đô la Mỹ). Mà ước tính của giáo sư Trịnh Hiến còn thấp hơn con số này. Giáo sư Ngô Tương Tương lại nói: "Thời kỳ Hưng Trung hội, Tôn tiên sinh không hề nhận được sự hỗ trợ từ các hội viên Hồng Môn ở Honolulu hoặc khu vực châu Mỹ.". Lại nói: "Đảng cách mạng có cơ sở phổ biến sâu sắc trong giai cấp trung hạ tầng xã hội Hoa kiều. Sự hỗ trợ đối với cách mạng của tầng lớp thượng lưu Hoa kiều, thì diễn ra vào thời điểm cách mạng Tân Hại thành công. Còn sự hỗ trợ đối với cách mạng từ người ngoài, thì không mang tính quan trọng." (Sách đã dẫn, trang 647. Lời của Ngô căn cứ vào báo cáo nghiên cứu của giáo sư Trương Ngọc Pháp v.v., Trương hiện giữ chức Viện trưởng Viện nghiên cứu lịch sử cận đại thuộc Viện nghiên cứu Trung ương Đài Bắc. Báo cáo tổng hợp của Ngô, xem phần hai chương 17 tiểu sử Tôn đã dẫn trên).
Tôn Trung Sơn thỉnh thoảng có lời chê bai các hội bang, nhưng chỉ đích danh phê bình Kim Sơn Trí Công tổng đường là bức thư gửi Đặng Trạch Như ngày 18 tháng 7 (năm 1911). Trong thư có một đoạn nói rằng: "Kim Sơn Trí Công tổng đường tuy là Hồng Môn, lấy tôn chỉ phản Thanh phục Minh, nhưng xưa nay phần lớn là những kẻ già cả bảo thủ, từ trước đến nay không có khí phách tiến thủ. Cho nên thường bất hòa với những kẻ thanh niên dũng mãnh tiến thủ của đảng ta, mấy tháng trước vẫn còn đại phản đối việc quyên góp của Đồng Minh hội" v.v., xem bản chụp ảnh nguyên tác "Tôn Trung Sơn tiên sinh nhị thập niên thủ trát" do Đặng Trạch Như trân quý (Bản chụp của Công ty Thuật Chí Quảng Đông tháng 1 năm 1927). Tổng cộng bốn cuốn, bức thư chụp này xem ở cuốn đầu.
Tham khảo tác phẩm đã dẫn của Đào Cúc Ẩn và hai biên thứ ba, thứ tư "Lý Tông Nhân hồi ức lục" của người viết.
Mâu thuẫn giữa Tôn Trung Sơn và Trần Quýnh Minh, là hệ quả việc Tôn chủ trương tham gia cuộc hỗn chiến của quân phiệt Bắc Dương mà thống soái đại quân "Bắc phạt". Trần lại chủ trương tạm thời "bảo cảnh tức dân" ở Lưỡng Quảng rồi mới tính tiếp đại sự. Xem sách đã dẫn của Lý Kiếm Nông hạ sách trang 565 - 574, đồng thời tham khảo Khang Bạch Thạch viết "Trần Quýnh Minh truyện" (Cửu Long, Văn nghệ thư ốc, 1978), chương Tự trị liên tỉnh. Khang Bạch Thạch là bút danh của một người bạn cũ của người viết. Hồ Thích do đồng tình với chủ trương tỉnh hình mẫu của Trần thị, đã viết bài hưởng ứng ở miền Bắc, gọi việc Trần phản Tôn là "cách mạng" khiến phe ủng hộ Tôn vô cùng bất mãn. Rải rác trong "Nỗ lực thông báo"; cũng tận tai nghe Hồ Thích tự thuật.
Suốt cuộc đời Tôn Trung Sơn, Quảng Đông hay thậm chí Quảng Châu vẫn do đám "khách quân" mà chính Tôn Trung Sơn chiêu mộ về chiếm cứ. Các tướng lĩnh khách quân vơ vét của cải, chưa từng chịu sự ràng buộc của Tôn, Tôn đối với họ cũng đành chịu, đồng thời xem chú thích.
Theo lời Đào Cúc Ẩn, Tôn công cho rằng tiếng pháo phản Quế vừa vang lên, quân Quảng Đông trong tỉnh sẽ ào ạt nổi dậy đuổi quân phiệt hệ Quế. Nào ngờ quân Quảng Đông và dân đoàn lại không có ai hưởng ứng. Xem sách của Đào đã dẫn tập 4, trang 67 - 70. Lại xem "Tôn Dật Tiên tiên sinh truyện" hạ sách trang 1320 dẫn lại bài viết của Thiệu Nguyên Xung.
Đoạn này những gì người viết bàn luận chỉ là "hành vi" mà chưa chạm tới "động cơ". Làm "luận điểm trừng phạt tâm tư", các nhà sử học hiện đại nếu dựa vào tâm tư để thuật lại sự việc, thì tự nhiên phải có cách nhìn nhận khác.
Trong chính trị truyền thống Trung Quốc, "Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi", thường là hàng chục chư hầu, sau đó kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, số đông hiếp số ít, chư hầu dần dần giảm bớt, cuối cùng định về một mối, đây là trình tự "lâu tan ắt hợp" truyền thống. Trình tự này trong lịch sử hiện đại càng trở nên phức tạp hơn, các nhân tố gia tăng, nhưng đại khái vẫn không thoát khỏi khuôn sáo cũ.
Câu nói nổi tiếng "lấy Nga làm thầy" của Tôn công, lần đầu xuất hiện trong bức thư gửi Tưởng Trung Chính ngày 9 tháng 10 năm 1924, bản chụp thủ tích xem Lưu Đại Năm chủ biên "Tôn Trung Sơn thư tín thủ tích tuyển" (Bắc Kinh, Văn vật xuất bản xã, tháng 10 năm 1986), trang 193 - 194. Trên thực tế, Tôn công vào đầu thời Dân quốc vẫn công khai nói "Ta vốn là đảng viên xã hội cực đoan, rất muốn đem chủ nghĩa của Henry George (hoặc dịch là Hanh Lý Tả Trị) áp dụng tại Trung Quốc..." (Xem "Quốc phụ toàn thư" tập 3; sách của Ngô Tôn truyện trang 1057). Henry George là nhà cải cách xã hội dưới chế độ nghị viện. Tôn công từ bỏ George mà quy phục Lênin, thực chất là sau "Cách mạng lần thứ hai", tư tưởng của ông bước vào giai đoạn khác, đã ngầm ăn khớp với "chủ nghĩa Lênin" từ lâu rồi. Một khi phát hiện ra Lênin, bèn vứt bỏ hoàn toàn George để học theo Lênin. Ngô Trĩ Huy bàn về Tôn Văn có câu nói rằng: "Tôn Văn chưa từng nhớ lỗi của người... có thể nói những lời khoác lác biển rộng trời cao; ông ấy có ba đức tính chăm chỉ, ít oán hận, nghe lời phải. Ông ấy chỉ có ba đức tính này, chính ba đức tính này, đã tô điểm ông ấy thành một thủ lĩnh. Tự vượt trội hơn thủ lĩnh gỗ điêu khắc bằng gỗ trầm hương..." Xem thư Ngô gửi Trần Quýnh Minh, dẫn trong "Trần Quýnh Minh truyện" trang 70 - 74. Trên thực tế, Lênin cũng có ba đức tính đó, đặc biệt là sự chăm chỉ. Tôi đọc "Lênin truyện", liền cảm thấy hai người có điểm cực kỳ tương đồng. Cả hai khi đi học, đều là những đứa trẻ thông minh, đứng đầu một lớp. Trong thời kỳ lưu vong, cùng vào "Bảo tàng Anh" tự học. Chỉ là Lênin ngộ đạo về "đảng chuyên chế", "cá nhân độc tài" sớm hơn. Tôn thị bị Lincoln và George mê hoặc, dẫn đến việc bị Viên Thế Khải độc tài cá nhân phát lệnh truy nã, lúc đó mới đại triệt đại ngộ, bất chấp sự phản đối của tất cả các đồng chí cũ mà làm cái "Chính địa cách mạng đảng" độc tài cá nhân của mình. Lênin năm xưa cũng từng chẳng màng đến sự phản đối của các đồng chí cũ mà độc hành độc đoán theo ý mình. Có người hỏi kẻ địch chính trị trong đảng của Lênin, tại sao toàn đảng không đấu lại một người? Người đó đáp: "Bởi vì trong toàn đảng không còn người thứ hai, một ngày hai mươi bốn tiếng, chẳng làm gì khác ngoài chuyện chuyên tâm làm cách mạng cả!" Tôn Trung Sơn cũng chính là người như vậy, một ngày hai mươi bốn tiếng, mấy chục năm như một ngày, kiên trì không bỏ, ngọc đá cũng thủng, chuyên tâm làm cách mạng, chết mới thôi, cuối cùng đánh bại tất cả kẻ địch chính trị, trở thành "Quốc phụ". Về câu chuyện Lênin kể trên, tham khảo "Lênin truyện" tiếng Anh (David Shub LENIN, London, New York & Toronto r The New English Library, 1948, p66).
Khi Hồng quân ĐCSTQ vẫn còn đang chiến đấu với quân trắng ở "Khu Xô Viết", Mao Trạch Đông từng vô cùng ngưỡng mộ "quân đội trung ương hùng mạnh" do một tay Tưởng Giới Thạch gây dựng nên, bản thân ông ta cũng muốn tổ chức một đội hồng quân hùng mạnh, cho nên mới có câu nói đùa này; sau này trong "Tuyển tập" giai đoạn sau, câu nói này đã bị xóa bỏ, nhưng những nhà sử học ĐCSTQ có chiều sâu, hẳn có thể nhớ lại, thậm chí tìm ra được ngay.
Lời đánh giá về Tưởng ở đây, tôi nghe được từ một Ủy viên Thường vụ Quốc dân đảng, có lẽ đây cũng là ý kiến chung của các cao cấp Quốc dân đảng. Lênin nếu dùng triết học truyền thống Trung Quốc để quy phạm, có lẽ có thể gọi là "Pháp gia"; Tưởng sau năm 1927 có lẽ có thể khái quát bằng câu "ngoài Nho trong Pháp", từ đó biến thành vị lãnh đạo chính trị mà ủy viên thường vụ đó miêu tả.
Người viết từng tham khảo tài liệu lưu trữ sử liệu Trung - Tây, viết một "luận văn thạc sĩ" tiếng Anh về vụ án này tại Đại học Columbia vào năm 1952 (gồm 18 chương, tổng cộng 270 trang) để biện tích chi tiết.
Xem các bản chụp "Lời thề" của Tổng lý Chính địa cách mạng đảng.
Xem chú thích.
"Tư tưởng Mao Trạch Đông" bất kể là về tư tưởng, hay về phương pháp thì đều là sự kéo dài của "chủ nghĩa Lênin". Học giả phương Tây thường coi việc đưa chủ nghĩa Mác, Lênin vào nông thôn là cống hiến của Mao thị, thực ra công nông bình đẳng, Lênin mới là người khởi xướng đầu tiên.
Trong số độc giả, có lẽ có người cho rằng lời này của người viết có vẻ hơi mang ý "châm biếm" "Quốc phụ". Thực ra "Tôn văn học thuyết" cũng giống như bất kỳ học thuyết nào khác, trừ đi một phần chân lý có giá trị thực tiễn ra, thì đều là những giả định sáo rỗng. Những lời khoác lác vĩ đại từ Khổng Tử, Socrates đến nay có thiếu đâu! Đâu chỉ riêng Tôn Trung Sơn. Ngô Trĩ Huy chẳng phải cũng nói: "Tôn Văn có thể nói những lời khoác lác biển rộng trời cao." Lời của bạn thân Tôn Trung Sơn, tự nhiên là đánh giá đáng tin cậy.
"Lấy Nga làm thầy" trong lịch sử hiện đại Trung Quốc là một chủ đề cực kỳ quan trọng. Chủ đề này đến thập niên 80 đã hoàn toàn mất đi ý nghĩa. Chính sách mở cửa của Trung Quốc ngày nay đã thúc đẩy Liên Xô và tất cả các quốc gia tập đoàn xã hội chủ nghĩa "lấy Hoa làm thầy", sau đó đồng loạt mở cửa cải cách biến pháp, chính là chứng cứ rõ ràng nhất.
*Bản thảo đầu tiên ngày 26 tháng 10 năm 1986
Bổ sung chỉnh lý tháng 12 năm 1986 tại Bắc Mỹ
Nguyên đăng trong "Tôn Trung Sơn dữ tha đích thời đại —— Tôn Trung Sơn nghiên cứu quốc tế học thuật thảo luận hội văn tập" (Hiệp hội nghiên cứu Tôn Trung Sơn Trung Quốc biên soạn, Bắc Kinh, Nhà xuất bản Trung Hoa xuất bản, 1989), trung sách, trang 1348 - 1375.