Tối hôm đó, tôi cảm thấy người hơi bất ổn, nhưng tôi tự nhủ chắc chỉ vì lao động trí óc quá độ, trời mưa và những lời đe dọa mơ hồ. Chẩn đoán đó đã phải sửa lại vào sáng hôm sau khi tôi tỉnh dậy với một cơn đau đầu như búa bổ, những đợt ớn lạnh xen lẫn sốt nhẹ, và lồng ngực thì có cảm giác như bị kẹp giữa một cỗ máy ép. Đó gọi là cảm cúm thông thường, nhưng sự khốn khổ của tôi thì chẳng có gì là thông thường cả, mà thực sự vô cùng tồi tệ.
Tôi pha một tách trà hoa cúc dại, uống liền hai nghìn mi-li-gam Vitamin C với số nước cam đã để lâu trong tủ lạnh, rồi nuốt thêm vài viên Tylenol, xỏ vào chiếc quần bò từ hôm qua và đi ngược lên phố để làm việc. Tôi còn tự thưởng cho mình một chuyến xe taxi.
Khi ngồi xuống căn phòng góc bộn bề vốn là văn phòng của mình, tôi tự nhủ rằng hôm nay không phải là ngày để đưa ra bất kỳ quyết định lớn nào. Hãy cứ bám lấy những việc chẳng đòi hỏi gì hơn là chế độ lái tự động.
Việc đầu tiên tôi làm là gọi cho Lou để hỏi thăm tình hình Sarah (vẫn không có gì thay đổi), rồi kể cho anh nghe về vị khách người Tây Ban Nha của mình. Anh phát ra những âm thanh đầy lo lắng và hứa sẽ đi cùng tôi trong bất kỳ buổi quay ngoại cảnh nào tiếp theo.
Tiếp theo, tôi lật cuốn sổ tay và bấm một dãy số điện thoại mà tôi đã hí hoáy viết nguệch ngoạc ở bìa sau. Tôi lấy được nó khi buổi phỏng vấn với Carly Grove sắp kết thúc.
"Đứa con Ánh Sáng," một giọng điệu xun xoe vang lên. "Tôi là Ramala."
Tôi chần chừ một thoáng trước khi xưng tên. Bọn họ vốn dĩ đã biết tôi là ai; Ramala hoặc một ai đó đã gọi cho Paula Marks để hỏi về tôi. Về tôi. Cô ta sẽ làm gì khi nghe thấy chính chủ đích thân gõ cửa?
Tôi cố hít một hơi thật sâu, vượt qua cảm giác lồng ngực như đang bốc cháy, rồi tự giới thiệu bản thân.
Ramala đón nhận thông tin đó như thể cô ta chưa từng nghe thấy tên tôi bao giờ. Có lẽ là chưa thật. Sau đó, tôi xin một cuộc hẹn với Alex Goddard. Sớm nhất có thể.
"Ông ấy để trống ngày thứ Bảy," cô ta nói, vẫn với cái giọng ngọt ngào nịnh nọt ấy, "nên tôi có thể xếp một lịch hẹn đặc biệt cho cô vào ngày mai. Mười giờ sáng có được không?"
Giọng điệu của cô ta mang thứ âm hưởng thuộc địa Delhi tầng lớp thống trị mà người ta thường liên tưởng đến những bộ sari bằng lụa đắt tiền và vòng tay gắn hồng ngọc, nhưng đồng thời, giọng nói ấy lại phảng phất thứ vẻ ngoài xun xoe vừa du dương vừa sướt mướt mà ta vẫn nghe thấy trong các cuộn băng hướng dẫn thư giãn. Suýt chút nữa thì tôi chờ cô ta nói tiếp câu: hãy hít sâu vào và cảm nhận tình yêu lan tỏa khắp vũ trụ. Dù sao đi nữa, cô ta không thể tỏ ra cởi mở và niềm nở hơn thế được.
Tôi phải tự nhắc nhở bản thân ngay lập tức rằng điều đó không có thật. Nhìn vào cuộc điện thoại dò hỏi đầy tò mò với Paula Marks, Đứa con Ánh Sáng là một tổ chức cực kỳ coi trọng sự riêng tư của họ. Có lẽ họ có lý do, và lý do đó không nhất thiết phải là điều gì mờ ám, nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn có đủ mọi lý do để nghĩ rằng họ đang khó chịu về tôi và điều đó khiến tôi đâm ra hoang tưởng. Và giờ thì Alex Goddard lại sẵn sàng có thời gian ngay lập tức cho một "cuộc hẹn đặc biệt".
"Mười giờ được đấy," tôi nói, những từ ngữ thều thào khó nhọc phát ra từ lồng ngực.
Cô ta chỉ đường cho tôi đến phòng khám ở Riverdale, gọi là Quetzal Manor, rồi cúp máy. Tôi cảm thấy tồi tệ đến mức lát sau chẳng thể nhớ nổi cô ta đã nói gì, nhưng may mắn là tôi có ghi chép lại.
Quetzal Manor. Một cái tên thật kỳ lạ, tôi đã nghĩ vậy.
Một loài chim linh thiêng nào đó của người da đỏ Maya ở Trung Mỹ. Nhưng rồi Paula đã từng nhắc đến việc ông ta rất quan tâm đến các loại thảo mộc và phương thuốc bản địa của Thế giới thứ ba. Thế nên có lẽ cái tên ấy cũng phù hợp.
Dù vậy, có một câu hỏi lớn vẫn cứ ám ảnh mãi trong đầu: Làm thế nào mà người ta lại sinh ra được những đứa em ruột khỏe mạnh hoàn hảo chỉ cách nhau có sáu tháng? (Tôi thực ra đã gọi lại cho Carly và Paula để xác minh độ tuổi). Càng nghĩ về Kevin và Rachel, tôi càng nhận ra họ có nét họ hàng không thể chối cãi.
Băn khoăn về điều đó, tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình có đang đứng trước bờ vực khai quật được một bộ phim tài liệu bom tấn hay không. Liệu chúng ta có đang bàn đến một thứ gì đó tiệm cận với khoa học viễn tưởng không? Làm phim tài liệu, bạn luôn phải săn lùng những điều bất ngờ, mới mẻ. Thế thì nghĩ sao về một tổ chức có thể kiếm được những đứa trẻ da trắng xinh đẹp dường như theo ý muốn, kể cả những cặp sinh đôi giống hệt nhau như đúc sinh cách nhau chỉ vài tháng? Tôi đã bắt đầu mường tượng ra lời chào hàng gửi David trong đầu rồi.
Dù sao đi nữa, suốt phần thời gian còn lại của ngày hôm đó, trong lúc tôi bận rộn chiến đấu với cơn cảm lạnh bằng thuốc kháng histamine và rất nhiều súp nóng, tôi đã tiến hành một cuộc điều tra qua điện thoại quy mô lớn chỉ để chắc chắn rằng mọi quy tắc nhận con nuôi không hề thay đổi theo cách nào đó khi tôi không để ý. Chúng không hề thay đổi. Trước hết, để nhận được một đứa trẻ trong vòng ba hoặc bốn tháng, hầu như chắc chắn bạn phải theo con đường nhận nuôi quốc tế. Trung Quốc đang là lựa chọn thịnh hành của tất cả mọi người, bởi vì họ ưu ái những bậc cha mẹ lớn tuổi và cũng bởi vì chính sách một con ở đó cuối cùng đã dẫn đến tình trạng bỏ rơi trẻ em gái diện rộng (tất cả những cậu con trai quý giá đó rồi sẽ kết hôn với ai? Tôi thường tự hỏi). Tuy nhiên, chính trị thay đổi ở đó khiến cho quá trình này trở nên vô cùng bấp bênh. Vài tháng ư? Đừng có mà nghĩ đến.
Cố gắng tiếp tục, tôi tự thuyết phục bản thân rằng các tổ chức chuyên biệt theo từng quốc gia tìm kiếm trẻ sơ sinh ở các khu vực đang phát triển trên thế giới đều hoạt động giống nhau. Cradle of Hope chuyên về trẻ mồ côi Nga. Children and Families, Inc., cung cấp dịch vụ nhận con nuôi cho trẻ em Ecuador. International Adoption Assistance, Inc., lo phần trẻ mồ côi Brazil. Nhưng tất cả bọn họ vẫn cứ rườm rà, và có thể mất đến cả thời gian dài đằng đẵng. Còn một đứa trẻ sơ sinh khỏe mạnh hoàn toàn chỉ trong vài tháng thì sao? Tôi sẽ hỏi. Liệu có thứ đường tắt nhanh chóng nào mới chăng? Câu hỏi đó luôn được coi như một trò đùa...
Tôi sẽ lái chiếc Toyota cũ của mình lên Quetzal Manor, và tôi thực sự ước gì Steve có thể đột ngột xuất hiện và đi cùng tôi. Tuy nhiên, trong lúc vắng anh ấy, tôi đã thuyết phục Lou đi cùng. Tôi nghĩ sự thay đổi không khí sẽ tốt cho anh ấy, và tôi cũng muốn có sự an toàn khi có anh đi cùng, sau cuộc điện thoại đe dọa Paula và tên côn đồ người Tây Ban Nha đã chặn đường tôi bên ngoài tòa nhà căn hộ của cô ấy. Hơn nữa, việc đó cũng chỉ mất vài tiếng đồng hồ.
Sáng hôm sau, khi chúng tôi ngược lên Đại lộ Riverside, rồi rẽ vào Công viên Henry Hudson, bầu trời xanh ngắt không một gợn mây và dòng sông Hudson rộng lớn trông như một con đường cao tốc nhiệt thành dẫn vào trái tim nước Mỹ. Vẫn đang phấn chấn vì khoảnh khắc Sarah vừa chớm tỉnh táo, Lou tỉnh rượu hơn hẳn so với hầu hết mọi buổi sáng thường ngày. Có lẽ anh ấy đang mong chờ một chút nghỉ ngơi và hồi phục tinh thần. Về phần mình, tôi cảm thấy sự tò mò của bản thân đang lớn dần. Tôi đã tham gia rất nhiều cuộc gặp gỡ trong nhiều năm qua, nhưng hiếm khi nào tôi lại ngờ rằng người mình sắp gặp lại đã biết về tôi nhiều hơn là tôi biết về họ.
Sau khi qua Cầu Henry Hudson, chúng tôi rời đường cao tốc và rẽ vào một con đường dịch vụ dẫn về phía bờ sông. Rồi xuất hiện một chiếc cổng uy nghi, đang mở, cùng một lối đi rợp bóng cây. Cuối cùng, nơi đó cũng sừng sững hiện ra trước mắt chúng tôi.
Vẻ bề ngoài của Quetzal Manor là một công trình nghiên cứu về sự vĩ đại theo phong cách châu Âu, được diễn giải thêm bằng một vài chi tiết rườm rà từ Tân Thế giới. Carly đã kể với tôi rằng nơi đây từng là một tu viện dòng Carmel, có từ khoảng giữa thế kỷ trước, và nó là một đài tưởng niệm cho quyền lực của Giáo hội, với vô số vòm đá đẽo, tháp pháo, tượng quái vật nước. Khi chúng tôi đang lái xe đến cuối con đường rải sỏi dài dằng dặc, tôi có cảm giác như mình đang đến gần một trường quay phim Gothic nào đó. Với cảm giác uy quyền vương giả bao trùm, nơi đây hoàn toàn có thể là một lâu đài, nhưng trông nó giống một sự tri ân u ám dành thời trung cổ cho những hình thức tra tấn hơn. Cứ phải nói rằng nó thực sự rất oai nghiêm, nhưng đồng thời cũng hơi rợn ngợp.
Khi chúng tôi đỗ xe dưới một tán cây sồi lớn ở phía trước, tôi quan sát mặt tiền, cố gắng tập hợp lại chút sức lực. Cơn cảm lạnh vẫn còn vương lại phần nào khiến tôi có cảm giác não bộ của mình không hoạt động hết công suất, và trong một thoáng, tôi chỉ ngồi nhìn, cố gắng thở.
"Cô có muốn tôi vào cùng không?" Lou cuối cùng cũng cất tiếng hỏi. Anh đang săm soi tòa nhà với vẻ hoài nghi, giống như một thám tử đang khảo sát hiện trường vụ án.
Tôi muốn anh ấy ở bên mình nhưng mặt khác lại không muốn. Tôi khao khát có bầu có bạn, có người bảo vệ, nhưng tôi lại không muốn những rắc rối, thêm nhiều thứ phải giải thích ở bên trong. Cuối cùng tôi đưa ra quyết định chớp nhoáng.
"Hay là anh đi dạo quanh khuôn viên đi?" tôi gợi ý. "Hòa mình với thiên nhiên đi. Hít thở không khí trong lành sẽ tốt cho anh đấy. Chuyện này chắc không lâu đâu. Chủ yếu là tôi chỉ muốn lấy một ít tài liệu và cố gắng cảm nhận về nơi này thôi."
Điều đó không hoàn toàn, hoặc thậm chí chẳng phải một phần, sự thật. Những gì tôi thực sự muốn tìm hiểu có ba điều: Làm thế nào mà họ có thể kiếm được những đứa trẻ da trắng khỏe mạnh xinh xắn cho hai người phụ nữ độc thân chỉ trong vài tháng; làm sao những đứa trẻ đó lại chỉ cách nhau sáu tháng tuổi mà vẫn rõ ràng là anh chị em ruột; và (đây là lúc cảm xúc của tôi trở nên phức tạp) liệu họ có thể kiếm cho tôi một đứa trẻ theo cách tương tự hay không, không cần biết họ làm cách nào. Chính điều thứ ba mới thực sự là điều làm tôi bận tâm nhất, vì tôi hoàn toàn không chắc mình có muốn nhúng chàm vào bất cứ chuyện gì đang diễn ra ở đây hay không.
Lou chỉ nhún vai và ngả người ra sau ghế. "Cứ làm điều cô muốn đi. Tôi sẽ đợi ở đây trong xe. Tôi không phải tuýp người thích thiên nhiên."
Quả thực là vậy.
Tôi bước qua những viên đá cuội để đến một lối vào hình vòm không có cửa. Tôi thấy lạ lùng vì điều này — hầu hết các tu viện đều giống như pháo đài — và rồi tôi nhận ra cánh cửa trước đã được tháo bỏ, chỉ để lại những chiếc bản lề cổ kính của nó vẫn còn được bắt vít chặt vào các bức đá. Có lẽ nó được dùng làm biểu tượng cho sự cởi mở, mời gọi bạn bước vào.
Không có một bóng người nào — Ramala với giọng điệu ngọt ngào đến phát ọe không có mặt ở đó để chào đón tôi — thế nên tôi cứ thế bước thẳng xuống một hành lang rộng, đi ngang qua một chiếc bàn đặt các tờ gấp quảng cáo. Nơi này được trang trí theo gu thẩm mỹ đắt tiền và tinh tế: những tấm thảm treo tường phủ kín các bức tường đá, những tấm thảm Ba Tư hoàn hảo, những bức tượng nhà thờ cổ điển — tất cả đều gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ từ sâu thẳm tâm thức.
Rồi tôi bước vào một khoảng sân trong rộng lớn, nơi có một đài phun nước ở chính giữa tung bọt róc rách vui tai dưới ánh nắng ban trưa. Khoảng sân trong được bao quanh bởi một dãy phòng trưng bày đẹp như tranh vẽ, tất cả đều có những cánh cửa gỗ lớn, rất có thể là những căn phòng từng được các nữ tuết hạnh cư ngụ.
Nơi này trông có vẻ giống một phòng khám kiêm công xã rồi, đúng như những gì Paula đã nói. Lần này không phải là các nữ tu, mà là những tín đồ thời đại mới có gu thưởng thức âm nhạc thế tục nhiều hơn là các bài thánh ca tôn giáo, minh chứng là thứ âm thanh hỗn độn vẳng ra từ một số căn phòng. Chỉ có điều đó không phải là bất kỳ loại âm nhạc thông nào; nó có vẻ là sự pha trộn giữa sáo Nhật Bản, các giai điệu raga Bắc Ấn, tiếng trống châu Phi. Tôi thích các bản raga, thậm chí còn nhận ra bản yêu thích của mình, "Bhairavi".
Rồi tôi phát hiện ra một thứ khiến tôi chú ý tuyệt đối. Ở phía cuối sân trong, ngay sau cánh cửa gỗ cuối cùng, là một bức tượng đồng Nam Ấn khổng lồ, cao khoảng năm thước, hình vị thần Shiva Đang Nhảy Múa. Trông như thể ngài đang cai quản cái cổng vòm dẫn ra khu vườn tự nhiên rậm rạp phía sau tòa nhà.
Tôi bước qua những viên đá cuội để quan sát và chiêm ngưỡng nó. Quả là một vật thể kỳ lạ khi tìm thấy ở đây, trong sân của một tu viện từng khép kín. Tôi mải mê đến mức không nghe thấy cánh cửa phía sau mở ra.
“Cô thấy bức tượng Shiva của tôi thú vị chứ, cô James?” một giọng nói dịu dàng cất lên, suýt bị lấn át bởi tiếng chim hót. Tôi nghĩ mình đã nén lại một hơi thở trong lồng ngực đầy đờm dãi, rồi quay lại và nhìn thấy một chiếc đàn ông cao ráo mặc áo thun dài tay casual và chiếc áo len tối màu. Ông ta gọn gàng, trông có vẻ ở độ tuổi đầu sáu mươi, với mái tóc điểm bạc và những nét gầy gò góc cạnh hơn là đẹp trai. Nhưng đôi mắt ông ta mới là tất cả, nói lên rằng ông ta làm chủ không gian xung quanh mình, thực ra là làm chủ cả bầu không khí mà ông ta đang hít thở. Chắc chắn đây là Alex Goddard rồi.
"Vâng," tôi đáp lời gần như trước khi kịp suy nghĩ. "Chỉ có điều trông nó có vẻ hơi lạc lõng ở đây."
Tôi tự hỏi liệu ông ta có định tự giới thiệu không. Rồi tôi nhận ra rằng khi bạn đã quen làm chủ một lãnh địa riêng tư, có lẽ bạn chẳng bao giờ thèm bận tâm đến những thủ tục xã giao vụn vặt đó. Ai mà chẳng biết bạn là ai.
"Chà," ông ta nói, giọng điệu lành tính đến mức làm người ta mất cảnh giác, "tôi đoán là tôi buộc phải có ý kiến khác. Tôi có thể đề nghị cô ngắm bức tượng Shiva này một chút và thử tưởng tượng ngài là một vị thần bằng xương bằng thịt được không?"
"Ngài là một vị thần bằng xương bằng thịt mà," tôi nói, ngay lập tức cảm thấy như mình đang bị coi thường. Chẳng có gì làm tôi nổi giận nhanh hơn thế. "Ở Ấn Độ, ngài ấy là—"
"Đúng vậy," ông ta nói, "tôi biết cô đã làm một bộ phim về Ấn Độ — nhân tiện thì tôi thấy nó khá phi thường đấy — nhưng tại sao bức tượng Shiva lại không thể hòa nhập ngay vào đây chứ? Cô thấy đấy, ngài là một nhân vật mang tính toàn cầu, vô cùng hiện đại. Ngài bao hàm mọi thứ tồn tại trong thế giới đương đại. Không gian, thời gian, vật chất và năng lượng. Cũng như toàn bộ tâm lý học và sự khôn ngoan của con người."
"Tôi biết điều đó chứ," tôi nói, cảm thấy sự bực bội của mình đang dâng cao. Chúng ta không có một khởi đầu suôn sẻ cho lắm.
"Vâng, ừm." Ông ta có vẻ như không nghe thấy tôi nói. Thay vào đó, ông bắt đầu mặc chiếc áo khoác da mà ông vừa vắt trên vai. "Hãy chú ý xem Shiva có bốn tay, và ngài đang nhảy múa với một chân giơ lên. Ngài cũng đang đứng bên trong vòng tròn ngọn lửa lớn đó, một thứ hào quang bao trùm toàn bộ cơ thể ngài. Vòng tròn đó tượng trưng cho vũ trụ vật chất vĩ đại, bao trùm vạn vật, toàn bộ nó. Bóng tối và ánh sáng, thiện và ác. Ngài biết và kiểm soát mọi thứ."
Này, tôi nhận ra, gã này có chút vấn đề về sự đồng nhất bản thân với vị thần cổ đại Ấn Độ này rồi.
Ông ta tiếp tục vừa kéo khóa áo khoác. "Shiva có bốn tay bởi vì—"
“Để tôi nói cho ông nghe,” tôi nói, ngắt lời ông. Ông ta tỏ vẻ ngạc nhiên, rõ ràng không quen với việc một người phụ nữ đối đầu với ông ta trên sân nhà của chính mình. “Ngài có bốn tay bởi vì ngài có rất nhiều việc phải làm. Chiếc trống nhỏ ở tay phải phía trên của ngài triệu hồi vạn vật vào cõi đời. Và ở tay trái phía trên, ngài cầm ngọn lửa hủy diệt.”
Goddard đang săm soi tôi với vẻ tò mò, nhưng tôi chỉ trừng mắt nhìn lại và nói tiếp.
“Bàn tay phải phía dưới của ngài giơ lên như một sự ban phước, như muốn nói rằng, ‘Hãy tìm sự bình yên bên trong chính mình,’ và bàn tay trái phía dưới chỉ xuống đôi chân của ngài, nơi một bàn chân đang dẫm lên lưng của tên lùn ghê tởm kia, chính là bản ngã con người. Hãy nghiền nát bản ngã và được tự do. Bàn chân kia giơ lên để biểu thị sự tự do về tâm linh.”
“Cô có vẻ rất am hiểu về thần Shiva đấy.” Ông ta nở một nụ cười miễn cưỡng, như thể chúng tôi vừa mới gặp nhau. Coi như hiệp một hòa đi. “Tôi rất vui vì cô đã đến, cô James. Tôi là một người rất ngưỡng mộ các tác phẩm của cô và tôi đặc biệt muốn tự mình định hướng cho cô. Thật sự rất vinh hạnh khi cuối cùng cũng được gặp cô.”
Cuối cùng sao? Tôi nắm lấy bàn tay đang chìa ra của ông ta và ngẩn người. Tất cả những câu hỏi mà tôi đã ngẫm nghĩ suốt tuần qua bỗng chốc biến mất vào một tệp ký ức nào đó ở đâuu. Thay vào đó, tất cả những gì tôi có thể làm là tập trung vào ông ta.
Việc được gặp tận mắt người làm phép lạ của Carly và Paula khiến tôi nhớ lại điều mà Aldous Huxley từng quan sát thấy. Ông tuyên bố rằng loại đàn ông — và hầu như luôn là đàn ông — có thể điều khiển người khác bằng tâm trí của mình cần phải có những phẩm chất nhất định mà phần còn lại của chúng ta chỉ có thể ghen tị. Tất nhiên ông ta phải thông minh và có một lượng kiến thức phong phú có thể dùng để gây ấn tượng với mọi người, nhưng hơn hết, ông ta phải có một ý chí sắt đá, sự kiên trì theo đuổi mục tiêu không nao núng, và sự tự tin không khoan nhượng về bản thân mình là ai, mình muốn gì. Điều này có nghĩa là một phong thái hơi xa cách, một ánh nhìn lấp lánh, và một ánh mắt đồng cảm xoáy sâu vào bạn một phút, rồi lại có vẻ như ở một cõi khác, tập trung vào cõi vô cực ở phút tiếp theo. Có lẽ quan trọng nhất là giọng điệu của ông ta phải là tiếng kèn của kẻ dẫn dụ Pied Piper, một công cụ vừa mềm mại vừa sắc bén tác động trực tiếp đến tiềm thức của người nghe.
Mặc dù ông ta đang tỏ ra vô cùng bình thường với tôi, ấn tượng đầu tiên của tôi về Alex Goddard là ông ta thể hiện một cách hoàn hảo tất cả những phẩm chất đó. Tôi cũng cảm thấy có một nốt trầm giả tạo. Nó là gì nhỉ? Có lẽ ông ta đang tỏ ra quá bình thường chăng.
"Nếu cô đến đây để làm phim," ông ta bắt đầu, "xin hãy lưu ý rằng chúng tôi không khuyến khích việc quảng bá công khai. Nếu cô đến vì chứng vô sinh của mình, như Ramala nói cô đã nhắc đến trong cuộc điện thoại, thì tôi chào đón cô bằng cả tấm lòng."
Chà, ông ta biết cách đi thẳng vào vấn đề chính. Và sau cuộc điện thoại cố gắng đe dọa Paula Marks của ông ta, tôi thừa biết ông ta không "khuyến khích quảng bá công khai". Nhưng giờ tôi cũng nhận ra ông ta sẽ không mấy mặn mà với ý tưởng mới của tôi về việc someday làm một bộ phim tài liệu về nơi này. Nhưng rồi rất nhiều người từ chối ở lần đầu tiên và sau đó lại thay đổi ý định.
"Thực ra tôi không quan tâm đến cả hai điều đó," tôi nói, cảm thấy xoang mũi của mình sắp đóng lại vĩnh viễn. "Thực ra tôi hy vọng tìm hiểu về dịch vụ nhận con nuôi của ông, cách thức nó hoạt động."
"À," ông ta nói, đôi mắt chuyển từ sự săm soi mãnh liệt sang một nơi nào đó lạc trôi vào tầng ô-zôn, "đó không phải là thứ tôi trực tiếp giải quyết. Dù sao đi nữa, trước tiên cô phải đến và tham gia chương trình của chúng tôi. Sau đó, nếu chúng tôi không đạt được mục tiêu của cô, chúng tôi mới có thể xem xét vấn đề nhận con nuôi."
"Tôi nghĩ tôi vẫn muốn nghe về nó." Tôi hít một hơi thật sâu, lại tìm kiếm không khí. "Ví dụ như, các vị lấy những đứa trẻ được đem cho ở đâu và bằng cách nào."
"Tôi hiểu rồi," ông ta điềm tĩnh đáp, như thể câu hỏi của tôi chỉ là về thời tiết. Rồi ông kéo áo khoác lại cho kín hơn. "Tôi đang nghĩ, cô có muốn đi dạo một chút không? Ra bờ sông. Chúng ta có thể tìm hiểu nhau nhiều hơn."
Tôi chỉ gật đầu, chẳng mấy mong chờ cơn gió khắc nghiệt sẽ tấn công vùng xoang đang bị viêm của mình. Nhưng có lẽ tôi đang tiến triển được phần nào.
Khi chúng tôi bắt đầu bước qua cổng vòm bằng đá và đi vào khu vườn phía sau, nơi có vẻ rộng đến vài mẫu đất, ông ta tiếp tục.
“Cô có vẻ có rất nhiều câu hỏi về những gì tôi đang làm ở đây. Vì vậy, hãy để tôi cố gắng đặt những nỗ lực của mình vào đúng góc nhìn. Như tôi vẫn hay chỉ cho phụ nữ thấy khi họ lần đầu tiên đến đây, chúng ta ở phương Tây đang phải xoay xở chỉ với một nửa kiến thức y học của thế giới. Chúng ta phớt lờ toàn bộ phương Đông. Cũng có sự khôn ngoan của người dân bản địa ở Tây Bán Cầu này, người Mỹ bản địa. Chúng ta là ai mà dám nói rằng họ không có nhiều điều để dạy chúng ta chứ?” Ông mỉm cười, như thể ngượng ngùng khi phải truyền đạt một điều hiển nhiên như vậy. “Ví dụ, y học phương Tây, hầu như cho đến tận thế kỷ này, chủ yếu bao gồm việc dùng đỉa để rút bớt ‘dịch thể’ ra khỏi máu. Cùng lúc đó, người dân bản địa của lục địa này lại biết nhiều về sức mạnh chữa bệnh của thực vật, thậm chí cả dược liệu, hơn những gì châu Âu từng mơ tới. Thế mà họ vẫn bị coi là những kẻ dã man.”
Tôi không chắc ông ta đang dẫn dắt đi đâu, nhưng sự tự tin tột độ trong giọng nói của ông ta có tác dụng cuốn tôi đi theo. Ánh mắt cuốn hút, giọng nói, chiếc áo khoác hàng hiệu được mặc rất vừa vặn, tất cả đều phát huy tác dụng. Ông ta rất giỏi, cực kỳ giỏi.
“Thế nên cô thấy đấy,” ông ta nói tiếp, “những gì tôi đã cố gắng đạt được ở Quetzal Manor này là tích hợp kiến thức của Đông và Tây, cổ xưa và hiện đại.”
“Vậy chính xác thì ông—?”
“Chà, trước hết hãy để tôi giải thích rằng tôi đã học tập ở Viễn Đông hơn một thập kỷ, cho đến khi tôi hiểu cách kiểm soát các dòng năng lượng trong cơ thể, tức là khí của cô. Sau đó, tôi chuyển đến Trung Mỹ, nơi tôi học hỏi mọi thứ hiện được biết đến về các phương pháp thực hành và y dược của người Mỹ bản địa. Tôi vẫn có một nơi đặc biệt ở đó, nơi tôi tiến hành nghiên cứu dược lý về các loài thực vật quý hiếm của vùng đó, nghiên cứu tác động của chúng đối với khả năng sinh sản của con người, đối với nguồn gốc của sự sống. Tôi không có thời gian để lãng phí cho bệnh tật và sự suy thoái.”
Lúc này chúng tôi đã tiến sâu vào khu vườn phía sau giống như vườn địa đàng của ông ta, nơi có rất nhiều loại thảo mộc và cũng là một phần vườn cây ăn trái. Có những cây táo và các loại cây ăn quả khác mà tôi không thể nhận ra ngay, tất cả đều vừa mới nhú những chồi non đầu tiên. Khi chúng tôi đi đến cuối đường, có một con đường lát sỏi dẫn về phía tây. Chỉ trong khoảnh khắc tưởng chừng rất ngắn, chúng tôi đã đến một dãy vách đá nhìn xuống sông Hudson. Gió đầu xuân đang rít vào mặt tôi, khiến lỗ mũi tôi có cảm giác như đang bốc cháy.
Khi chúng tôi đứng nhìn xuống làn nước gợn sóng của dòng sông Hudson phía dưới, nơi một chiếc thuyền buồm đơn độc đang vướng vào làn gió, khoảnh khắc ấy mang một vẻ vượt thời gian, có cảm giác như thể nó có thể diễn ra ở bất cứ đâu, bất kỳ thế kỷ nào.
“Nhân tiện,” ông ta tiếp tục, hơi quay người về phía tôi, “cô có quen thuộc với cái tên Asklepios không?”
Tôi đành lắc đầu bảo không. Nghe có vẻ quen quen, nhưng...
“Ông ấy là vị thần y học Hy Lạp cổ đại. Các thầy thuốc sùng bái ông cho rằng bệnh tật có thể được chữa khỏi bằng các loại thuốc và dược phẩm đến từ bên ngoài cơ thể, vì họ tin rằng đó là nơi dịch bệnh bắt nguồn. Bây giờ, tất nhiên, các ngành công nghiệp tỷ đô đang phát triển mạnh mẽ bằng cách nâng cao kho vũ khí kháng sinh của chúng ta.”
Tôi lắng nghe điều này, tự hỏi không biết ông ta đang định đi đến đâu. Rồi ông ta nói cho tôi biết.
“Tuy nhiên, vào thời điểm đó lại có một trường phái chữa bệnh khác, những người tôn vinh con gái của Asklepios. Đó là Hygeia, nữ thần sức khỏe của họ. Những người theo trường phái Hygeia tin rằng sự khỏe mạnh bắt nguồn từ việc quản lý đúng cách cơ thể của chính bạn. Đối với họ, dịch vụ vĩ đại nhất của người thầy thuốc là học cách chúng ta có thể làm việc với cơ thể mình. Lý tưởng của họ là chữa bệnh từ bên sự can thiệp từ bên ngoài.”
Lại một lần nữa ông ta đang quan sát tôi, như thể đang cố gắng xác định xem tôi có đồng tình với những gì ông đang nói hay không.
“Thật không may,” ông tiếp tục, “trường phái Hygeia ít nhiều đã lụi tàn ở phương Tây. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại ở những nơi khác. Ví dụ, các dân tộc nguyên thủy không có các loại thuốc tổng hợp, nhân tạo, vì vậy họ sử dụng các loại thảo mộc tự nhiên để tăng cường hệ miễn dịch của chính mình và duy trì sức khỏe.”
Ông quay sang ngắm dòng sông, chìm vào im lặng.
“Có lẽ tôi đang bỏ sót điều gì đó,” cuối cùng tôi lên tiếng. Giọng nói thôi miên của ông ta đã cuốn hút tôi, bất chấp ý chí của chính mình. “Điều này liên quan gì đến chứng vô sinh?”
Ông quay lại và bắt gặp tôi bằng đôi mắt sáng ngời của mình. Chúng dường như đang tỏa ra hơi ấm của riêng mình. “Cũng giống như cơ thể được thiết kế để tự chữa lành, tử cung của người phụ nữ cũng có nghĩa là tạo ra sự sống. Nếu cô ấy không có con, lý do thường là vì cơ thể cô ấy không hòa hợp với chính nó. Những gì tôi làm ở đây là tìm kiếm dòng năng lượng độc đáo của từng người phụ nữ và cố gắng khôi phục chúng, sử dụng các phương pháp thực hành phương Đông và liệu pháp thảo dược Hygeia.”
“Nó có luôn thành công không?” Tôi bất chợt tự hỏi liệu các kỹ thuật của ông ta có thể hiệu quả với mình không. Thừa nhận đi, y học phương Tây đã hoàn toàn thất bại. Vấn đề là, gã này có vẻ quá trơn tru.
“Không phải lúc nào cũng vậy. Cơ thể của một số phụ nữ vốn dĩ không đáp ứng, cũng giống như tất cả các sinh vật đều phải chịu những bất thường ngẫu nhiên. Trong những trường hợp đó, tôi cố gắng cung cấp cho cô ấy một đứa trẻ bằng các phương pháp khác.”
“Ý ông là nhận con nuôi,” tôi gợi ý.
“Bằng bất kỳ phương pháp nào có vẻ phù hợp,” ông ta đáp lại một cách bí hiểm.
“Chà, có một điều tôi muốn hiểu. Tuần trước tôi đã gặp một người phụ nữ nhận nuôi một bé trai thông qua Đứa con Ánh Sáng. Cô ấy đón thằng bé về chỉ trong ba tháng. Một điều như vậy, theo những gì tôi có thể tìm hiểu, là hoàn toàn chưa từng có. Vậy các ông đã làm điều đó bằng cách nào?”
Ông ta nhìn chằm chằm xuống dòng sông. “Tôi tưởng tôi đã giải thích rằng việc nhận con nuôi không phải là công việc chính của chúng tôi ở đây. Chúng được cung cấp như một phươngro cứu cánh cuối cùng, trong một số ít trường hợp mà chế độ trị liệu Hygeia của tôi thất bại.”
“Nhưng trong những trường hợp đó, các vị tìm đâu ra—”
“Như tôi đã nói trước khi chúng ta bàn về việc nhận con nuôi, trước tiên chúng ta cần phải tự thuyết phục bản thân rằng không có lựa chọn nào khác là khả thi.” Sau đó, đôi mắt ông ta dán chặt vào tôi. “Nếu cô có thể quay lại vào thứ Bảy tới để bắt đầu các xét nghiệm và nhận định hướng, tôi có thể đưa ra ý kiến về cơ hội sinh con của cô. Nó sẽ đòi hỏi một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng, nhưng tôi thường có thể nói với mức độ chắc chắn cao rằng chương trình của tôi có thể giúp được ai đó hay không. Điều thực sự quan trọng là, cô phải ở lại ít nhất...” Ông ta đang nhìn chằm chằm vào tôi. “Cô có phiền không nếu tôi làm điều gì đó có thể làm giảm bớt một số triệu chứng của trận cảm cúm đó?”
Ông vươn tay chạm vào thái dương tôi bằng những ngón tay dài và gầy. Sau đó, ông đặt ngón tay cái ngay trên lông mày của tôi và ấn thật mạnh. Sau một thoáng lâu, ông từ từ di chuyển lực ấn xuống sống mũi tôi, rồi lướt ngang bên dưới mắt mình. Cuối cùng, ông đặt gan bàn tay ngay trên tai tôi và ấn lại lần nữa. Sau vài giây, ông bước lùi lại và tiếp tục nói chuyện như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.
"Sau khi tôi khám cho cô một cách toàn diện, chúng ta có thể thảo luận về bước tiếp theo." Với câu nói đó, ông quay người, sẵn sàng đi ngược trở lại. "Bây giờ nếu cô thứ lỗi cho tôi, tôi có rất nhiều dữ liệu nghiên cứu cần phải sắp xếp."
Tôi đoán ông ta cho rằng cỗ xe tăng lý thuyết y học huyền bí của mình đã nghiền nát tôi đủ để ông ta có thể chuyển sang các vấn đề khác. Tôi cảm nhận được rằng ông thực sự muốn tôi quay lại, nhưng ông vẫn cẩn thận khép lại cuộc phỏng vấn chung của chúng tôi với thái độ muốn nhận hay không tùy ý. Dù sao đi nữa, tôi vẫn cảm thấy tò mò khi chúng tôi di chuyển ngược qua các khu vườn rồi bước vào sân trong. Một đứa bé. Có lẽ ông ta có thể biến điều đó thành hiện thực cho Steve và tôi. Bất chấp ý chí của chính mình, tôi cảm thấy một tia hy vọng lóe lên.
"Cảm ơn vì đã đến," ông nói thay lời từ biệt, chỉ lướt nhẹ qua bàn tay tôi, rồi quay người biến mất qua một trong những cánh cửa gỗ cổ kính dọc theo hiên nhà, để lại tôi bơ vơ một mình.
Chà, tôi nghĩ, giọng điệu điềm tĩnh và trang phục giản dị có lẽ chỉ là một phần phong thái ân cần với bệnh nhân của ông ta, nhưng bạn không thể ở gần Alex Goddard mà lại không cảm thấy một thứ quyền lực được kiểm soát cẩn thận một cách rõ ràng. Nhưng liệu quyền lực của ông ta có đang được sử dụng cho mục đích tốt không?
Đây là kẻ mà nhân viên đang cố gắng từ chối không cho tôi phỏng vấn những người mẹ đã nhận con nuôi thông qua Đứa con Ánh Sáng. Còn tên côn đồ người Tây Ban Nha có súng thì sao? Có phải Alex Goddard đã sai hắn ta đến không? Nếu không, sự xuất hiện của hắn ta tại tòa nhà của Paula đúng là một sự trùng hợp quái quỷ. Vậy tại sao tôi phải tin...
Đó là lúc tôi nhận ra điều này. Cơn cảm lạnh đeo bám tôi từ lâu đã biến mất một cách kỳ diệu, cả vùng xoang bị viêm cũng thế. Tôi đang thở bình thường, và thậm chí lồng ngực tôi cũng thấy thông thoáng.
Chúa ơi, tôi nghĩ, ông ta đã làm gì vậy? Thôi miên tôi sao? Cứ như thể một tuần chữa lành vừa trôi qua cơ thể tôi vậy.
Tôi có một sự bừng ngộ, một khoảnh khắc củng cố quyết tâm của mình. Tôi phải làm một bộ phim tài liệu về người đàn ông này, để tìm hiểu xem thực sự ông ta đang mưu tính điều gì. Ông ta đã đề cập rằng mình có một cơ sở ở Trung Mỹ. Đó có phải là nguồn gốc của các kỹ thuật đặc biệt của ông ta, một số loại phương pháp y học Trung Mỹ cổ đại mà ông ta đã phát hiện ra không?
Ông ta tuyên bố mình không muốn bất kỳ sự quảng bá nào, nhưng đó luôn chỉ là động thái mở đầu. Khi ai đó nói thế, ý thực sự của họ là họ không muốn bất kỳ tiếng xấu nào; họ chỉ muốn có quyền quyết định cuối cùng về những gì bạn sản xuất ra. Có những cách để giải quyết vấn đề đó.
Tôi tiện tay lấy một cuốn tài liệu quảng cáo từ chiếc bàn ở hành lang trên đường ra ngoài, thầm nghĩ sẽ sớm nghiên cứu nó. Thật kỹ lưỡng. Tôi có một chiếc mũi thính đối với những câu chuyện hay, và câu chuyện này mang lại cảm giác rất đúng.
Khi tôi quay trở lại xe, chẳng thấy bóng dáng Lou đâu. Anh ấy đã tạo cho tôi ấn tượng rằng mình chỉ định ngồi đó và chợp mắt trong lúc tôi đi vào bên trong, nhưng giờ thì anh ấy đã đi mất.
Rồi anh xuất hiện, bước ra từ khu rừng cây. Thực ra, có một tòa nhà khác đối diện với con đường rải sỏi mà lúc đầu tôi không để ý tới. Hừm, tôi tự hỏi, không biết tòa nhà đó dùng để làm gì nhỉ. Vì lý do nào đó, Alex Goddard đã không dẫn tôi đi tham quan; ông ta đã đưa tôi đi dạo theo hướng ngược lại...
"Nhanh thật đấy," Lou nói khi ổn định chỗ ngồi trong xe. "Cô lấy được những gì mình muốn chưa?"
Câu trả lời cho điều đó vừa là có vừa là không. Theo một nghĩa nào đó, tôi đã thu được nhiều hơn đáng kể so với những gì mình mặc cả.
"Ông ấy muốn tôi quay lại," tôi nói. "Và tôi nghĩ mình có thể sẽ làm thế. Có rất nhiều điều đang diễn ra với Alex Goddard hơn là những gì anh có thể biết chỉ bằng cách nhìn vào nơi này. Bí quyết là phải giữ được quyền kiểm soát khi ở gần ông ta."
Tôi ném cuốn tài liệu quảng cáo lên đùi Lou khi tôi khởi động động cơ. Anh cầm lấy nó và lập tức bắt đầu lật xem.
Tôi biết Lou là một người luôn hứng thú với các sự kiện và số liệu. Khi chúng tôi tiến về phía Công viên Parkway, anh đang ngấu nghiến đọc cuốn tài liệu quảng cáo với sự hứng thú mãnh liệt, ngay cả khi tôi đang cố gắng kể lại ngắn gọn cho anh nghe về triết lý y học của Alex Goddard.
"Nó ghi ở đây là bệnh nhân của ông ta đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và châu Âu," anh lưu ý, cuối cùng cũng ngắt lời tôi.
Tôi không thấy điều đó có gì kỳ lạ cả, và tiếp tục luyên thuyên về Quetzal Manor. Phải công nhận nơi này rất yên bình, tĩnh lặng và phảng phất thứ tâm linh lành tính mà Goddard tuyên bố đặt rất nhiều niềm tin vào đó. Mặc dù vậy, tôi vẫn thấy nó đáng ngại.
Tuy nhiên, Lou, như thường lệ, chọn nhìn nhận mọi việc theo cách riêng của mình. Anh đã nghiên cứu phần chữ in nhỏ ở mặt sau của tài liệu quảng cáo, lẩm bẩm một mình, và sau đó anh phát ra một tiếng lầm bầm đầy khám phá.
"À, đây là thứ tôi đang tìm kiếm," anh tuyên bố. "Cô biết đấy, với tư cách là một cơ quan nhận con nuôi được tiểu bang New York cấp phép, tổ chức này buộc phải tiết lộ số lượng trẻ sơ sinh mà họ đã cho nhận nuôi trong kỳ báo cáo hàng năm gần nhất của họ."
"Theo lời ông ta, ông ta chỉ dùng đến biện pháp nhận con nuôi nếu không thể chữa khỏi chứng vô sinh của cô bằng chế độ tâm trí-cơ thể đặc biệt của mình," tôi nhắc nhở anh. "Các dòng năng lượng của cô—"
Lou thốt lên một câu tục tĩu, rồi nói tiếp. "Chà, thế thì tôi đoán cái trò tâm trí-cơ thể, dòng năng lượng gì đó, nhảm nhí của hắn chắc phải thất bại nhiều lắm. Bởi vì năm ngoái con số đó chỉ dưới hai trăm. Thế nên với giá sáu mươi ngàn cho mỗi đứa, như nó ghi ở đây, chúng ta đang nói đến mười hai triệu đô la doanh thu gộp trong một năm. Thất bại kiểu đó cũng không tệ đâu nhỉ?"
Tôi tự kiềm chế để không phát ra một tiếng huýt gió khẽ khi anh đọc lên con số đó. Chắc chắn là có rất nhiều điều đang diễn ra đằng sau Alex Goddard hơn những gì mắt thường nhìn thấy.
"Vậy hắn làm gì với đống tiền đó nhỉ?" Lou trầm ngâm. "Câu hỏi hay hơn nữa là, quái vật nào mà hắn tìm đâu ra tới hai trăm đứa trẻ sơ sinh khỏe mạnh, mồ côi, tất cả đều được liệt kê ở đây là người da trắng? Và hãy nghe cái này: Độ tuổi được báo cáo khi hoàn tất thủ tục xử lý đều chỉ khoảng vài tháng, dao động chút đỉnh."
Những câu hỏi hay đấy chứ, tôi nghĩ. Có lẽ đó là lý do tại sao ông ta không muốn quảng cáo rầm rộ; nghe có vẻ quá thương mại đối với một bậc thầy tâm trí-cơ thể.
Suy nghĩ khác của tôi là, với rất nhiều đứa trẻ sẵn có theo cách nào đó, tại sao Alex Goddard lại tỏ ra miễn cưỡng đến mức thậm chí không muốn thảo luận về việc nhận con nuôi với tôi?
Câu trả lời, tôi chắc chắn, nằm ở chỗ ông ta đã biết về tôi nhiều hơn là tôi biết về ông. Ông ta biết tôi đang làm một bộ phim về việc nhận con nuôi (làm thế nào mà ông ta có được thông tin đó chứ? Tôi cứ tự hỏi mãi) và ông ta lo lắng rằng mình có thể được nhắc đến trong đó. Tôi cứ tự hỏi bản thân, tại sao lại thế?
Trên đường lái xe trở xuống Công viên Henry Hudson, tôi quyết định rằng mình chắc chắn đang nhắm tới một bộ phim tài liệu đang thành hình. Tôi chỉ phải quyết định xem nên thực hiện nó có hay không có sự hợp tác của ông ta.
Sau khi tôi thả Lou xuống căn hộ của anh ở Soho, nơi anh đang trông nhà hộ một điền trang hiện đang nằm trong vòng tố tụng tòa án, tôi quyết định lái xe thẳng về nhà. Càng nghĩ về Alex Goddard, tôi càng cảm thấy bực bội và thậm chí có chút tức giận vì bản thân đã hoàn toàn thất bại trong việc tìm ra bất kỳ điều gì mình muốn biết về ông ta. Tôi phát lại cuộc phỏng vấn của chúng tôi trong đầu, chẳng đi đến đâu cả, rồi quyết định gạt phăng những suy nghĩ về Quetzal Manor đi một lúc và suy nghĩ về điều gì đó khác: Sarah, bộ phim của tôi, bất cứ thứ gì.
Đó là thứ Bảy, và thật không may là tôi không có kế hoạch gì cho buổi tối. Dịch nghĩa: không có Steve. Quay lại vạch xuất phát. Có bao nhiêu triệu câu chuyện ở thành phố trần trụi này, và tôi cũng chỉ là một trong số hàng triệu cộng thêm một. Ngoài kia không phải là rừng rậm, mà là sa mạc.
Sự thật là, sau khi Steve bỏ đi, tôi đã không thực sự cố gắng hết sức để vực dậy bản thân và nhìn ngó xung quanh. Hơn nữa, tôi không muốn một anh chàng nào khác, tôi muốn anh ấy. Thêm vào đó, tôi có cảm giác rằng khi bạn đang ở trong đợt đếm ngược ngắn ngủi đến tuổi bốn mươi, bạn không nên phải đi xem mắt mù, tự hỏi liệu cái gã mặc áo sơ mi cài kín cúc đang ngồi đối diện bạn trong một nhà hàng Ý hợp thời trang có nghĩ bạn là một chiếc khinh khí cầu (mặc dù bạn đã bỏ bữa trưa), tự nhủ rằng hắn ta trông có vẻ coi được, không giống một kẻ giết người hàng loạt, có việc làm, chỉ nhắc đến mẹ có một lần, và có thể đủ điều kiện làm một người bạn đời chấp nhận được. Chẳng có chút tia lửa nào cả, nhưng có lẽ hắn ta khá tốt bụng. Bạn ngậm ngùi nhớ lại đoạn quảng cáo cũ của Barney, "Hãy lựa chọn, đừng thỏa hiệp," nhưng ở giai đoạn này của cuộc đời, bạn đã sẵn sàng thừa nhận rằng mình đã trượt môn Tình yêu 101 và nên bằng lòng với Sự thích thú.
Đó là một trong những lý do khiến tôi nhớ Steve đến tận xương tủy. Anh ấy là một người tình, nhưng anh ấy cũng là người bạn thân nhất. Và tôi thì đang cạn kiệt những người bạn như thế.
Người phụ nữ nào cũng cần một người bạn thân nhất. Sau khi người bạn thân cũ của tôi, Betsy, kết hôn với Joel Aimes, đóng góp mới nhất của Off-Broadway cho Dreamworks, và chuyển đến Bờ Tây cùng anh ta, tôi bắt đầu nhận thấy rất nhiều buổi tối trống vắng. Ngày trước, chúng tôi có thể nói chuyện hàng giờ liền. Thật buồn cười, vì thực ra chúng tôi rất khác nhau. Betsy, người đã quên nhiều điều về quần áo và trang điểm hơn hầu hết phụ nữ từng biết, thường la cà quanh các phòng trưng bày ở trung tâm may mặc và luôn mang về những mẫu trang phục của mùa tới, thường là với giá rẻ như cho. Tôi ghen tị với cô ấy vì điều đó, trong khi tôi thường chỉ giả vờ không quan tâm và xỏ vào một chiếc quần bò khác mỗi sáng. Nhưng cô ấy có chung tình yêu với âm nhạc châu Á với tôi.
Dù sao đi nữa, giờ cô ấy đã đi rồi và tôi có thể nhận ra chúng tôi đã không cố gắng đủ nhiều để giữ liên lạc. Cô ấy và Joel vừa chuyển đến một căn hộ mới và tôi thậm chí còn không có số điện thoại mới của cô ấy...
Điều đó đưa tôi quay lại với Steve. Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao chúng tôi lại giống nhau đến thế, và cuối cùng tôi quyết định đó là vì cả hai chúng tôi đều xuất phát từ cùng một nơi về mặt tâm linh. Trong trường hợp của anh ấy, nơi đó là một tuổi thơ tồi tệ ở New Haven — điều mà anh không muốn nhắc đến nhiều lắm vì, tôi đoán, nó cô đơn và thiếu thốn chẳng kém gì tôi, hoặc ít nhất là ảm đạm như vậy. Cha anh sở hữu một tiệm kẹo nhỏ và muốn tất cả bốn đứa con của ông đều trở thành "dân chuyên nghiệp". Người anh cả đã trở thành luật sư, người tiếp theo làm giáo viên. Đến lượt Steve, anh được bảo rằng mình nên trở thành bác sĩ, hoặc ít nhất là nha sĩ.
Chuyện đó đã không xảy ra. Anh đã cố gắng hoàn thành bốn năm tiền y khoa tại Yale, nhưng rồi anh nổi loạn, đổi học bổng trường y lấy tiền mặt và đến Paris để học nhiếp ảnh. Kết quả là anh đã làm những gì mình muốn, đạt được thành công hợp lý với nó, và cha anh chưa bao giờ tha thứ cho anh. Tôi nghĩ anh ấy vẫn đang phấn đấu để được sự chấp thuận của ông già, ngay cả sau bao nhiêu năm, nhưng tôi nghi ngờ liệu anh ấy có bao giờ đạt được điều đó không. Steve là một người vẫn đang vật lộn với những thứ không thể thay đổi, nhưng trong lúc đó, anh sống trong những thế giới khác biệt với quá khứ của chính mình nhất có thể. Anh cố tình tránh xa những tiện nghi trung lưu, và chưa bao giờ hạnh phúc hơn khi ở một cái chấm khốn khổ nào đó trên bản đồ nơi bạn thậm chí không thể uống được nước. Dù đó là gì đi nữa, thì nó cũng không phải là New Haven...
Nghĩ về anh ấy vào lúc đó, tôi có một khao khát gần như không thể cưỡng lại là với lấy chiếc điện thoại di động và gọi cho anh. Chúa ơi, tôi nhớ anh ấy biết bao. Liệu anh ấy có nhớ tôi theo cách tương tự không? Tôi rất muốn nghe anh ấy nói điều đó.
Tôi có một số liên lạc của anh ấy ở Thành phố Belize, một khách sạn kiểu Anh cũ tên là Bellevue, nơi họ vẫn phục vụ trà chiều, nhưng dường như tôi toàn gọi vào lúc anh ấy đang đi đâu đó trong rừng nhiệt đới để chụp ảnh.
Làm đi. Đừng có hèn nhát thế.
Nhưng rồi tôi lại chùng bước. Tôi có muốn anh ấy nghĩ rằng tôi đang bám theo anh không? Tôi không muốn tỏ ra bi lụy... mặc dù đó chính xác là cảm giác của tôi vào lúc này.
Cuối cùng tôi quyết định sẽ tự bịa ra một cuộc trò chuyện điện thoại, tái tạo lại một cuộc trò chuyện từ những thời điểm trước đây, thời điểm mà cả hai chúng tôi đều cảm thấy đủ an toàn để buông những câu châm chọc. Đó là điều tôi làm thường xuyên hơn mức tôi muốn thừa nhận. Thường thì sẽ có tám hồi chuông đổ ở căn gác xép Park Slope của anh và sau đó là một giọng nói vội vã. Vâng. Steve, nói chuyện với tôi đi...
"Này. Đây không phải là bản ghi âm. Tôi chỉ đang ở một bình diện siêu việt thôi. Và nếu đó là cô, Murray, tôi sẽ gửi các bản in liên lạc đến đó trước sáu giờ. Kiên nhẫn là một đức tính."
"Anh yêu, là em đây. Ra khỏi phòng tối đi. Kiếm lấy một cuộc sống đi."
"Ồ, chào em, cưng." Cuối cùng cũng tập trung. "Anh đang làm việc. Trong một hành trình tìm kiếm sự thật hình ảnh không ngừng nghỉ. Nhưng chủ yếu là anh đang nghĩ đến em."
“Em đang in ấn đúng không? Cưng à, giờ nghỉ trưa rồi đấy. Anh không thấy tội lỗi khi cứ làm việc suốt ngày thế sao?”
Sự thật là, đó là một trong những lý do khiến tôi tôn trọng anh ấy đến vậy. Anh ấy thậm chí còn tự tráng rửa các tấm ảnh liên lạc của mình. Sự nhiệt thành của anh ấy tương xứng với sự thôi thúc của tôi. Đó là điều khiến chúng tôi trở thành những người bạn đời hoàn hảo.
"Anh mang đầy tội lỗi đây. Nhưng anh đang cố vượt qua nó. Trở thành một con người trọn vẹn. Quay trở lại thời bình minh của nhân loại. Sơn mặt lên và nhảy múa trong một trận giông bão." Anh ấy sẽ tạm dừng, như thể bắt đầu định hướng lại. "Này, nhìn thời gian kìa. Chúa ơi. Anh có một buổi chụp hình thời trang trên Đường Ba Mươi Tám lúc ba giờ."
Anh ấy đang theo đuổi một chút công việc thời trang để bổ sung cho các hợp đồng chụp tạp chí lúc có lúc không của mình.
"Anh yêu," tôi nói trong mơ màng, "tối nay anh qua đây được không? Em hứa sẽ làm nó đáng giá với anh. Nó bao gồm một bồn tắm sủi bọt, sâm-panh, hoa hồng ngập tràn, những bản raga gợi cảm trên đĩa CD. Và có lẽ một ít hàu giòn hay thứ gì đó, được gửi đến sau đó, chỉ để giữ chúng ta tiếp tục."
Rồi tôi sẽ lắng nghe giọng điệu của anh ấy, biết rằng anh ấy sẽ nói đồng ý nhưng đặt nhiều niềm tin hơn vào cách anh ấy nói điều đó. Mặc dù vậy, anh ấy luôn diễn tả các câu thoại của mình rất đạt.
"Thế thì tại sao chúng ta không nhắm khoảng chín giờ nhỉ?" tôi tiếp tục, đầy hạnh phúc. "Chừng đó thời gian chắc đủ để em sắp xếp mọi thứ. Và đừng mang theo gì ngoài bản thân vô cùng ngọt ngào của anh." Hình ảnh tưởng tượng đang thành hình trong đầu tôi. Nhớ lại, tôi nhận ra mình nhớ anh ấy biết bao, lại từ đầu...
Đó là lúc chiếc điện thoại trên tay vịn bên cạnh tôi đổ chuông thực sự. Trong một thoáng, tôi giật mình đến mức suýt đạp phanh. Sau đó tôi bấm nghe, tâm trí vẫn đang rộn ràng về Steve, và cũng thế, bất chấp quyết tâm của mình, về màn chạy vòng vo tam quốc kỳ quái mà tôi vừa nhận được từ Alex Goddard.
"Này, có một tin nhắn trong máy của anh khi anh vừa bước vào. Anh phải đến bệnh viện đây. Ngay bây giờ." Giọng Lou tràn ngập hy vọng và sự phấn khởi. "Họ nói Sarah đang cựa quậy. Con bé đã mở mắt và bắt đầu nói chuyện. Họ nói con bé nói không rõ nghĩa lắm, nhưng... ôi, Chúa ơi."
“Thật tuyệt vời.” Tôi cảm thấy trái tim mình đang bừng nở sự sống. Vì lý do nào đó, tôi chợt lóe lên ký ức về việc cô bé trèo lên ngôi nhà trên cây nhỏ ọp ẹp — ừm, giống một cái bệ hơn — mà tôi đã giúp cô bé dựng lên vào mùa hè năm tôi mười ba tuổi, không cho phép con trai tham gia phụ giúp. Một năm sau, phần đó có vẻ ngu ngốc cùng cực. “Em sẽ gặp anh ở đó.”
Tôi suýt về đến nhà, nhưng tôi đã rít bánh xe quay đầu xe và phóng về phía hướng đông. Tuy nhiên, khi lao đến đó, tôi cố gắng không hy vọng quá nhiều. Tôi cứ nhớ mãi tất cả các giai đoạn để hồi phục hoàn toàn và tự nhủ rằng bất kể điều gì đã xảy ra, đó chỉ là bước đầu tiên trong một hành trình rất dài và rất đáng sợ...
Tôi đã không nhận ra nó đáng sợ thế nào cho đến khi bước vào phòng. Lou, người đã đến đó chỉ vài phút trước tôi, đang ngồi cạnh cô bé, nắm lấy tay cô, ánh mắt đờ đẫn nhìn chằm chằm vào cô. Cô bé được đỡ ngồi ngửa một cách lỏng lẻo trên giường, hai chiếc gối được phồng lên phía sau đầu, thẫn thờ nhìn lên trần nhà. Ba y tá trung niên chu đáo đang đứng xung quanh hai bên giường của cô, mắt mở to, như thể Sarah là một bóng ma. Tôi nhanh chóng nhận ra lý do tại sao. Cô bé đang thêu dệt một câu chuyện hoang đường chỉ có thể xuất phát từ một tâm trí mất trí. Phải chăng cô bé đã tỉnh lại chỉ để nói những điều điên rồ?
"Lou, con bé có nhận ra anh không?" tôi hỏi.
Anh chỉ buồn bã lắc đầu, mắt không rời khỏi khuôn mặt cô bé. Cô đang đan xen giữa thực tế và ảo tưởng, tạm dừng, lắp bắp, không chắc chắn về bộ não không mạch lạc của mình. Có một lần, khi cô bé ngã khỏi xích đu và ngất đi trong chốc lát, cô tỉnh dậy và nói nhảm nhí. Bây giờ cô bé cũng có biểu hiện y hệt như vậy.
"Ánh sáng... sáng quá," cô lẩm bẩm, bắt đầu kể lại thứ có vẻ như là một ảo tưởng xa vời, "...giống như bây giờ. Tại sao... tại sao lại có ánh sáng ở đây?" Môi cô động đậy nhưng mắt vẫn trân trân nhìn chằm chằm. Rồi, với câu hỏi kỳ lạ cuối cùng đó, ánh mắt cô bắt đầu láo liên quanh phòng, tìm kiếm một ai đó không có mặt. Cô dừng lại ở tôi một thoáng, và tôi cảm thấy lạnh sống lưng trước vẻ tổn thương đầy bi ai của cô. Khi tôi cố gắng nhìn lại một cách từ ái và trìu mến nhất có thể, tôi không khỏi nhận ra má cô hõm sâu đến thế nào, chắc chắn là do việc truyền dịch tĩnh mạch liên tục, và một lần nữa trái tim tôi thắt lại. "Em sợ lắm, nhưng—"
"Anh đây rồi, cưng ơi," Lou lên tiếng, cúi người xuống cô, ánh mắt đau đớn. "Em có biết anh là ai không?"
"Khuôn mặt bằng ngọc... một chiếc mặt nạ," cô lảm bảm, vẫn phớt lờ anh. "Tất cả các màu sắc. Nó thật là... thật là đẹp."
Ảo giác của cô chẳng liên quan gì đến bất cứ điều gì tôi có thể hiểu được. Rõ ràng cô bé đang trôi dạt ở một thế giới khác, giống như hồi còn bé, lồng ghép ánh sáng trong phòng lúc này vào một thứ giấc mơ nào đó. Tôi chạm vào vai Lou và xin phép tắt đèn huỳnh quang phía trên, nhưng anh chỉ gạt tôi ra, sự chú ý dồn hoàn toàn vào cô bé.
Đôi mắt anh trở nên khó hiểu, như thể anh muốn tin rằng cô bé đang trở lại lý trí nhưng lẽ thường của anh lại đang bảo anh rằng điều đó không có thật.
Tôi lại có một phản ứng khác. Những gì cô bé đang nói chỉ là những lời lảm bắp ngẫu nhiên, đúng vậy, nhưng tôi bắt đầu nghĩ rằng cô bé đang hồi tưởng lại một thứ gì đó mà cô thực sự đã nhìn thấy.
Tuy nhiên, cô bé vẫn chưa nói xong.
"Em muốn cầu nguyện, nhưng... đường hầm màu trắng... đang đến gần." Cô rùng mình, rồi gần như cố gắng mỉm cười. "Đưa em đi..."
Cô bé lịm đi, mi mắt chớp không kiểm soát được.
"Cưng ơi, nói chuyện với anh đi," Lou nài nỉ. Anh đang khóc, điều mà tôi chưa từng thấy anh làm bao giờ, điều mà tôi thậm chí không biết là anh có khả năng làm. Những gì anh thực sự đang cố gắng nói là, "Hãy quay lại đi."
Điều đó đã không xảy ra. Cô bé thẫn thờ nhìn lên trần nhà một lúc, rồi từ từ nhắm mắt lại, một lớp màn sập xuống che đi tâm hồn cô.
"Con bé sẽ ổn thôi," tôi thì thầm với anh, gần như tin vào điều đó. Não của cô bé đã trải qua một chấn thương thể xác, đủ để gây ra hôn mê, nhưng một loại chấn thương tinh thần nào đó hẳn phải xảy ra trước đó. Phải chăng bây giờ cô bé đang cố gắng trừ tà thứ đó như một phần trên con đường phục hồi của mình?
Các y tá trong phòng xao động, có lẽ không chắc phải làm gì. Ánh sáng đèn trên trần nhà vẫn chói lóa, và tôi bước đến tắt nó đi, chỉ để lại chiếc đèn ngủ phía sau giường. Có lẽ ánh sáng đã làm cô bé tỉnh giấc, nhưng tôi tin chắc rằng những gì cô vừa trải qua đã khiến cô kiệt sức đến mức cô sẽ không tỉnh lại vào ngày hôm đó nữa.
Rồi một trong những y tá người Caribe bước đến đặt tay lên vai Lou. Cô có một khuôn mặt từng trải, tràn đầy sự tự tin. Điều gì đó ở cô gợi lên sự tin tưởng.
"Tôi sẽ không để điều này làm anh buồn lòng quá đâu," cô nói, giọng điệu du dương đáng yêu. "Những gì vừa xảy ra có thể có ý nghĩa hoặc không. Khi bệnh nhân mới tỉnh lại sau hôn mê, đôi khi họ có thể nói chuyện rất trôi chảy, nhưng lại chẳng có chút logic nào cả. Họ luyên thuyên về những thứ họ mơ thấy cứ như thể chúng là thật." Rồi cô mỉm cười. "Nhưng đó là bước đầu tiên tốt đẹp. Con bé có thể thức dậy hoàn toàn bình thường vào ngày mai. Chỉ là đừng chú ý đến những gì con bé nói trong một thời gian nhé. Bây giờ con bé đang mơ đấy."
Lou lẩm bẩm như thể anh tin lời cô ấy. Tôi gật đầu thông cảm, mặc dù chẳng ai chú ý đến.
Tôi cũng nghĩ rằng mặc dù những gì Sarah vừa nói có phần kỳ quái, nhưng nó nghe giống một thứ gì đó hơn là một giấc mơ. Hoặc là cô bé đã quay trở lại trạng thái thời thơ ấu của mình, nơi những thế giới tưởng tượng là có thật đối với cô?
Rồi trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn đầu giường, Lou lấy ra một cuốn sổ nhỏ màu xanh lam nhàu nát từ chiếc túi bên trong và nhìn chằm chằm vào nó. Tôi phải nhìn trân trân một lúc mới nhận ra đó là một cuốn hộ chiếu.
"Cái gì—?"
"Lãnh sứ quán Mỹ ở Merida, Mexico, đã gửi nó đến 26 Federal Plaza ngày hôm qua, bởi vì tên và địa chỉ văn phòng của tôi được viết bằng bút chì ở bìa trong như một liên hệ khẩn cấp. Cảnh sát dưới đó nói rằng có ai đó, một khách du lịch người gringo đi câu cá bằng ruồi nhân tạo tận dưới sông Usumacinta, gần đoạn sông Rio Tigre đổ vào từ Guatemala, đã vớt được cái này trôi nổi trong một túi nhựa. Anh ta đã nộp nó cho nhà chức trách Mexico ở đó, và cuối cùng nó thuộc về người của chúng ta." Anh mở hộ chiếu ra và nhìn chằm chằm vào nó. "Trang ảnh và ID bị xé rách rồi, nhưng chắc chắn là của Sarah." Anh đưa nó cho tôi. "Gã tôi quen ở trung tâm đã mang nó qua tối qua. Tôi không chắc nó có điều gì muốn nói với chúng ta không, nhưng lúc này, tôi hy vọng nó có thể giúp khơi lại ký ức của con bé."
Tôi cầm lấy nó, phần bìa ngấm nước đến mức màu sắc hầu như đã bay sạch. Tuy nhiên, nó hẳn phải được giữ khô ráo trong chiếc túi nhựa trong ít nhất một chặng đường nào đó từ bất cứ nơi đâu, vì phần lớn hư hỏng có vẻ là mới gần đây.
Lou lắc đầu nhìn tôi đầy đấm đuối. "Tôi vẫn không hiểu làm thế nào con bé lại xuống được dưới đó. Con bé đang ở California mà. Còn nhớ tấm bưu thiếp đó không? Nếu con bé đã quay lại miền Đông, nó đã liên lạc rồi. Đúng không?" Đôi mắt anh van nài sự đồng tình của tôi.
Tôi không biết phải nói gì, đành nhún vai. Tôi muốn tỏ ra thông cảm, nhưng tôi từ chối nói dối thẳng thừng. Anh coi sự mập mờ của tôi là sự đồng tình khi anh lấy chiếc huy hiệu chứa bức ảnh của cô bé ra, tấm bùa hộ mệnh của anh. Anh mân mê nó một thoáng, nhìn thẫn thờ vào khoảng không, rồi cúi xuống mở nó ra, như thể nhìn thấy bức ảnh thời trung học của cô bé, từ thời điểm cô bé còn khỏe mạnh, sẽ phần nào xoa dịu tâm trí anh.
"Toàn bộ chuyện này không giống con bé tí nào," anh nói tiếp. "Biết tôi nghĩ gì không? Con bé đã bị giam giữ dưới đó trái với ý muốn."
Trái tim tôi thắt lại vì anh, và tôi với lấy chiếc huy hiệu trong giây lát, cảm nhận được chữ "SRC" được khắc mạnh trên bề mặt hình trái tim của nó. "Lou, con bé sẽ vượt qua thôi. Và khi con bé tỉnh lại, mọi chuyện sẽ được giải thích ổn thỏa. Con bé sẽ ổn vào một ngày nào đó thôi, em có linh cảm vậy. Linh cảm từ gan ruột."
Tôi thực sự có linh cảm, nhưng không phải là cô bé sẽ ổn đâu. Nỗi sợ hãi thực sự của tôi là cô bé sẽ tỉnh dậy và lại trở thành một đứa trẻ bị trói buộc trong thế giới ảo tưởng.
Rồi tôi đưa lại chiếc huy hiệu. Anh có vẻ trở nên lo lắng khi không có nó trong tay. Anh cầm lấy trái tim bằng bạc và cúi xuống nhìn chằm chằm vào nó. Trong sự im lặng bao trùm lấy chúng tôi, tôi quyết định nhìn kỹ hơn vào cuốn hộ chiếu. Tôi đoán Lou đã xem qua nó rồi, nhưng có lẽ anh đã bỏ sót điều gì đó.
Khi tôi lật qua những trang sách ngấm nước, tôi bắt gặp một dấu m ấn lem luốc, bị đóng một lớp mỏng đất sét khô từ lòng sông, mờ đến mức suýt chút nữa thì bị bỏ qua.
"Lou, anh có thấy cái này không?" Tôi giơ nó dưới ánh đèn và ra hiệu cho anh lại gần. "Anh có đọc được không?"
"Chắc là không nếu không có kính." Anh cầm lấy nó và nheo mắt đầy bất lực. "Mắt tôi ngày càng kém đi rồi."
Tôi cầm lại nó và chà xát lên trang giấy, làm sạch nó. Thật khó để nhận ra, nhưng nó trông giống như "Delegacion de Migracion, Aeropuerto Internacional, Guatemala, C.A."
"Em nghĩ đây là thị thực nhập cảnh du lịch Guatemala." Tôi giơ cuốn hộ chiếu lên để ánh sáng chiếu xuyên qua trang giấy. "Và anh thấy đoạn mờ mờ ở giữa đó không? Đó có lẽ là ngày nhập cảnh của cô bé. Được viết tay."
Anh cầm lấy nó và nheo mắt lại lần nữa. "Tôi không đọc nổi cái quái quỷ đó, nhưng cô nói đúng. Có một vài con số, hay thứ gì đó, được viết nguệch ngoạc."
Tôi cầm lấy và chà xát trang giấy cho đến khi có thể đọc rõ ràng. "Đó là ngày mười một tháng Ba. Và là năm ngoái."
"Mẹ kiếp, đưa tôi xem nào." Anh giật lại và nheo mắt một lúc lâu, nhấc trang giấy lên gần ánh sáng hơn nữa. "Cô nói đúng." Anh giữ nó thêm một giây, rồi quay sang tôi. "Cuối cùng đây cũng là thứ tôi cần. Bây giờ tôi sẽ tìm ra cho bằng được con bé đã làm gì dưới đó."
"Anh nghĩ mình có thể làm cách nào?" Tôi chỉ nhìn anh, tâm trí chưa hoàn toàn tiếp thu những gì anh vừa nói.
"Các hãng hàng không." Anh gần như cười toe toét. "Nếu họ có thể theo dõi dặm bay thường xuyên của mọi người trong suốt bao nhiêu năm, chắc chắn họ cũng có các bản kê khai chuyến bay được lưu trữ ở đâu đó. Vì vậy, bước đầu tiên của tôi là tìm xem con bé bay đi từ đâu."
"Nhưng chúng ta không biết chuyến nào—"
"Không thành vấn đề." Anh lại nheo mắt nhìn cuốn hộ chiếu. "Bây giờ chúng ta biết chắc chắn con bé đã xuất hiện tại sân bay Thành phố Guatemala vào ngày đó. Tôi quen một gã ở trung tâm, một anh chàng da đen trơn tru tên là John Williams, chuyên gia máy tính giỏi nhất của FBI, người có thể bẻ một quy tắc vì tôi và làm một chút đột nhập không gian mạng. Hắn nợ tôi vài ân huệ. Thế nên, nếu con bé có tên trong danh sách của một chuyến bay theo lịch trình đến Thành phố Guatemala ngày hôm đó, hắn sẽ tìm ra. Khi đó chúng ta sẽ biết con bé rời đi từ đâu, ai khác ở trên máy bay." Anh dùng ngón trỏ gõ nhẹ vào cuốn hộ chiếu đầy tự tin. "Biết đâu con bé đi cùng với một tên cặn bã nào đó mà tôi nên tìm gặp và làm quen kỹ hơn."
"Chà, chúc anh may mắn."
Một mặt, tôi tự hỏi liệu bây giờ cả hai chúng tôi có đang bấu víu vào một phép màu hay không: tôi thì một nửa hy vọng có một đứa con thông qua quá trình "định tâm" thời đại mới nào đó, còn Lou thì cố gắng giành giật Sarah khỏi vực thẳm tâm thần bằng tình yêu thô ráp của mình. Nhưng mặt khác, phép màu vẫn thỉnh thoảng xảy ra đấy thôi.