Trên đường về nhà, rốt cuộc tôi tự nhủ phải cố bình tâm lại. Tôi quyết tâm giúp Sarah vượt qua cơn chấn động tâm lý, dẫu thú thật là lúc ấy tôi quá mệt mỏi để có thể suy nghĩ thấu đáo. Thế nên, thay vào đó, tôi quyết định gác mọi chuyện sang một bên trong vài tiếng và tìm chút khoảng lặng cho riêng mình. Thậm chí, tôi bắt đầu tưởng tượng bản thân đang ngâm mình trong bồn nước nóng, ngắm nhìn những bông hồng giờ đã héo rũ. Tổ ấm ngọt ngào.
Căn hộ của tôi là một căn một phòng ngủ tiêu chuẩn trong tòa nhà đã chuyển đổi thành nhà ở hợp tác xã từ năm năm trước, khi chủ tòa nhà rao bán các căn hộ riêng lẻ cho người thuê. Tuy nhiên, tôi vẫn ở lại dưới tư cách người thuê nhà, bỏ qua mức giá "hời" dành cho người nội bộ là 138.000 đô-la, bởi vì thực ra tôi chẳng có nổi số tiền ấy, và nếu mai sau có tiền đi chăng nữa, chắc chắn tôi sẽ muốn một chốn ở rộng rãi hơn. Tôi thầm ước mình có thêm không gian — một phòng ăn ra trò và một phòng tắm rộng rãi hơn sẽ là những thứ tôi muốn có đầu tiên, kèm theo chỗ để thêm mấy cái tủ sách. Và nhỡ đâu, một ngày nào đó, phép màu mang đến một đứa trẻ...
Tôi vẫn thường nghĩ rằng ta có thể thấu hiểu phần nào về một người thông qua nơi họ sống và cách họ sinh hoạt; điều đó bộc lộ bản chất chẳng khác gì bài trắc nghiệm tâm lý Rorschach. Tự thâm tâm, tôi hay tự hỏi, căn hộ của mình nói lên điều gì về tôi?
Một nhà thiết kế nội thất có lẽ sẽ kết luận rằng tôi từng chăm chút tổ ấm này bằng tất cả tình yêu thương, rồi sau đó lười biếng bỏ bẵng nó. Họ sẽ nhận định rằng tôi là người trân trọng những món đồ đẹp, nhưng một khi chúng đã yên vị ở đó, tôi lại thờ ơ với chúng. Điều đó hoàn toàn chính xác.
Tôi đã dán tường phòng khách bằng vải màu xanh nhạt, rồi treo lên đó rất nhiều bức tranh lồng khung cùng áp-phích phim cũ. Được rồi, tôi thích phim ảnh. Với tôi, ngay cả những tấm áp-phích ấy cũng là nghệ thuật. Ghế bành của tôi có màu trắng ngà, thực ra trông giống màu bùn đất hơn, và được chất đầy gối để tạo vẻ "nữ tính". Tôi từng hy vọng bạn sẽ phải nhìn đến lần thứ hai mới nhận ra đó thực ra là một chiếc tủ đựng đồ ngụy trang, với mấy ngăn kéo chạy dọc phía dưới phần mặt trước. Sàn nhà là gỗ cứng đánh bóng, rải rác đây đó dăm chiếc thảm từ Ấn Độ, đang thảm hại kêu cứu vì cần được hút bụi, thậm chí còn có cả vài con côn trùng đã chết khô nằmó ở đó hơn một tuần nay. Tôi ủ rũ nghĩ, cảnh tượng ấy đã nói lên tất cả. Tôi là một đứa ở bẩn nghiện công việc.
Phòng ngủ còn tiết lộ nhiều điều về tôi hơn nữa. Chiếc giường là loại bốn trụ bằng đồng, cỡ lớn, phủ hờ một chiếc chăn patchwork gia bảo. Nó đã không được dọn dẹp gọn gàng từ cả tuần nay. (Ai mà có thời gian chứ?) Bản thân căn phòng dài và được chia thành các khu vực làm việc và nghỉ ngơi. Đối diện với chiếc giường là một chiếc bàn cổ kiểu Anh, nơi đặt chiếc máy tính Macintosh cũ kỹ của tôi, và bên cạnh là tủ đựng hồ sơ, phần không thể thiếu của cái gọi là "văn phòng tại gia" mà Sở Thuế vụ vô cùng căm ghét. Phía trên tủ là một chồng kịch bản đã qua chỉnh sửa, chi chít những ghi chú viết tay bằng sáu loại mực màu khác nhau. Bạn sẽ chẳng bao giờ nhận ra làm phim lại phức tạp đến thế cho đến khi nhìn thấy một bảng phân rã cảnh quay. Góc máy, lời thoại lồng tiếng và...
Bên cạnh giường là một chiếc hộp đựng vĩ cầm cùng ba cuốn sách về các điệu raga Ấn Độ. Ai đó có thể tự hỏi, chuyện này là sao nhỉ? Một kẻ cuồng âm nhạc Ấn Độ nào đó chăng? Đúng vậy, dẫu tôi chỉ là một kẻ cuồng với vốn tài năng vô cùng khiêm tốn.
Phòng bếp mang kiểu dáng căn hộ tối ưu không gian ở New York, được sơn màu nâu bóng, hệt như màu dầu ô-liễu đóng chai xịt. Các tủ đựng đồ hầu hết chỉ chứa mì ống, súp ăn liền và giấy lọc cà phê. Thậm chí chẳng có lấy một món thức ăn tử tế nào. Dạo này tôi toàn sống bằng đồ mua mang về từ cửa hàng thực phẩm. Kiểm kê lại tủ lạnh của tôi vào lúc này sẽ chỉ thấy hai hộp nước cam "vắt nguyên chất", nửa lít sữa sắp hỏng, một gói hạt cà phê, mấy hộp nhựa đựng rau củ đã héo úa lấy từ quầy salad ở góc phố, và ba chai nước khoáng seltzer New York. Chỉ có thế thôi.
Cầu Chúa phù hộ cho con, tôi thầm nghĩ, tâm trạng bỗng trở nên u ám hơn. Đây chính là cuộc đời tôi. Tôi đã biến thành một Người phụ nữ của Thập niên Chín mươi thời thượng ngược đời: làm việc chín mươi tiếng một tuần, kiếm chín mươi nghìn một năm, nặng chín mươi pa-ao, và nghĩ rằng (xin lỗi vì từ ngữ thô lỗ nhé) Nấu nướng và Quan hệ tình dục chỉ là hai tỉnh thành ở miền bắc Trung Quốc. Ờ mà, chi tiết nặng chín mươi pa-ao trong câu nói đùa tục tĩu ấy thì không đúng sự thật — và dù sao thì bây giờ cũng đã hết thập niên chín mươi rồi.
Dù thế nào đi nữa, liệu căn hộ của tôi có phải là nơi để nuôi dưỡng một đứa trẻ? Chắc chắn là không đời nào. Giống như Carly, tôi sẽ phải vung tiền thuê một không gian tử tế, tốt nhất là có cả máy giặt...
Một chỗ đỗ xe đang bỏ trống ngay trước cửa tòa nhà tôi, một phép màu nhỏ nhoi trong ngày đầy rẫy những sự kiện bấp bênh này. Khi đang đánh xe vào chỗ, tôi thoáng liếc sang và thấy một người đàn ông đang rảo bước đi qua, không nhìn rõ mặt nhưng lại cảm thấy dáng đi ấy có gì đó quen thuộc. Anh ta đang cởi từng chiếc khui trên bộ đồng phục Federal Express, lột lớp áo ngoài ra để lộ bộ com-lê tối màu bên trong. Trông anh ta có vẻ đang vội vã lắm, tay xách một chiếc túi mua sắm không nhãn mác. Tôi thầm nghĩ, biết đâu ca làm của anh ta đã kết thúc và anh ta đang trên đường đi gặp vợ, hoặc một người bạn.
Tôi tự hỏi không biết anh ta có để lại bưu phẩm nào cho mình không, và tự nhủ lát nữa phải hỏi lại người quản lý tòa nhà. Không phải anh chàng giao hàng quen thuộc — chẳng lẽ bây giờ họ làm việc cả vào Chủ Nhật sao? — và ngoài ra...
Chiếc xe tải đâu rồi? Lẽ ra họ phải đỗ ngay sát tòa nhà chứ.
Tôi vẫn còn quá bực bội vì chuyện của Sarah nên không thể ngay lập tức xâu chuỗi những điểm vô lý ấy, thế nên tôi chỉ với lấy bó hồng hồng đang nhỏ giọt nước từ phần đáy bọc giấy, rồi mở cửa xe bước ra. Quả thật thật tuyệt khi được về nhà. Tôi yêu khu phố Chelsea của mình, nơi bạn có thể quen thân với những người hàng xóm, tình cờ chạm mặt họ ở các tiệm tạp hóa, những nhà hàng nhỏ, tiệm giặt khô. Hệt như một thị trấn nhỏ vậy. Nếu bạn làm việc tại nhà, như cách tôi thỉnh thoảng vẫn làm, bạn thậm chí còn quen cả anh bưu tá lẫn mấy chàng giao hàng của UPS và FedEx...
Này! Gã đó. Cuối cùng tôi cũng nhận ra dáng đi ấy, một kiểu đi ngúng nguẩy ra vẻ. Hắn chính là tên cặn bã từng đứng ngoài tòa nhà của Paula Marks vào tuần trước, kẻ đã mang theo súng và đe dọa tôi. Hắn làm gì ở đây cơ chứ?
Nhịp tim tôi tăng vọt vượt mức bình thường. Rốt cuộc hắn có phải là một tên tay sai trong băng đảng của Nicky Russo không? Hắn quay lại đây, mang theo khẩu súng lục, để "ghé thăm" tôi lần nữa sao?
Chúa ơi.
Bình tĩnh lại nào, tôi tự nhủ, hít một hơi thật sâu. Hắn đang rời đi kìa. Hãy cố tìm xem hắn là ai.
Một tay cầm bó hoa khua khua một cách vụng về sát mặt, tôi chậm rãi rảo bước đuổi theo hắn dọc con phố. Tôi chẳng phải đi xa quá lâu. Chỉ trong vòng khoảng một trăm bước chân, hắn mở khóa chiếc xe Lincoln Towncar màu đen dài, trút bỏ lớp ngụy trang của FedEx, quẳng nó lên ghế cùng chiếc túi đang xách theo, giật phăng chiếc mũ lưỡi trai khỏi cái đầu trọc lóc rồi chui vào xe và phóng đi mất tăm.
Biển số xe trông có vẻ khác với bình thường, nhưng tôi đã kịp ghi lại những gì mình cần: chữ cái DL cùng một dãy số.
Ôi chao, tôi thầm nghĩ. Hắn định để lại một quả bom thư cho tôi đấy à?
Tôi quay lại, đẩy cửa bước vào sảnh ngoài, liếc mắt quan sát xung quanh. Chẳng có kiện hàng nào ở đây cả, chỉ có những tấm gạch ốp nâu phẳng lì.
Căn hộ của tôi mang số 3A. Tên trên chuông cửa là M. James. Khi tôi bước qua sảnh trong — vẫn chẳng có bưu phẩm nào — một gương mặt nhăn nhúm xuất hiện ở ô cửa ngay bên trái tôi. Tấm biển treo trên đó đã bong tróc, đề chữ SUPER [QUẢN LÝ TÒA NHÀ].
"Ồ, chào cô." Giọng nói ấy là của Patrick Mooney, người quản lý tòa nhà của chúng tôi, kẻ bình thường chẳng mấy khi chịu ló mặt ra chào hỏi những ai vừa về đến nơi. Nhưng dạo gần đây ban quản lý tòa nhà đã phàn nàn rằng chẳng bao giờ tìm thấy hắn trong những lúc khẩn cấp, thế nên có lẽ hắn muốn tỏ ra mình luôn túc trực, ngay cả vào những ngày Chủ Nhật. Giọng hắn lè nhè vì hơi men của thứ rượu whisky thuốc nam uống từ giữa trưa. "Cứ tưởng cô ở nhà rồi chứ. Nhân viên FedEx lúc nãy ghé qua tìm cô đấy."
Ôi trời. "Anh ta có để lại bưu phẩm nào không?"
Nó có mang theo thứ gì đó, nếu ý cô là vậy. Kiểu như một chiếc túi chẳng hạn.
"Và anh lại để hắn lên trên đó á?" Tôi không thể tin nổi vào tai mình. Một cảm giác thất vọng dâng trào trong tôi.
"Nó bảo bắt buộc phải lên. Cần có chữ ký mà." Patrick Mooney liền nhún vai rồi vịn tay vào khung cửa cho vững, hơi thở nồng nặc mùi rượu whisky phả phất dọc hành lang. An ninh tốt thật đấy.
Tôi bước vào thang máy khi cánh cửa đang khép lại lách cách, dõi theo gã quản lý đang dụi mắt rồi khép hờ cửa phòng hắn lại.
Lúc này tôi thực sự thấy khó hiểu. Nếu gã nhân viên FedEx đến "lúc nãy", tại sao bây giờ hắn mới rời đi? Hàng tá giả thuyết đáng sợ xẹt qua tâm trí khi tôi bấm nút lên tầng ba.
Tôi hít một hơi thật sâu khi cửa thang máy mở ra, nhưng một lần nữa, chẳng có bưu phẩm nào ở đây cả. Mọi chuyện tạm ổn. Bước ra ngoài, tôi đặt bó hồng xuống tấm thảm hành lang rồi lúi húi tìm chìa khóa. Khi cắm chìa vào, ổ khóa có vẻ hơi cứng, khiến tôi thoáng nghĩ rằng mình đã cầm nhầm chìa, nhưng rồi nó cũng xoay được.
Điều gì đã khiến nó bị kẹt nhỉ? Tôi tự thắc mắc. Có phải gã đó đã hí hoáy với cửa nhà tôi, cài bom vào đó không? Dùng một tay, tôi đẩy cửa mở ra, lại nín thở đứng nép sang một bên, nhưng cánh cửa vẫn mở ra bình thường. Tôi thở phào nhẹ nhõm, rồi với tay kéo bó hoa vào trong.
Nhưng nếu hắn không để lại bưu phẩm, hắn đến đây làm gì? Dò la xem tôi sống ở đâu à? Lắp máy nghe lén trong thang máy ư? Và tại sao hắn lại ở lại đó lâu thế?
Căn phòng tối om khi tôi bước vào, rèm cửa đều đang kéo kín. Tôi khóa cửa lại, rồi đưa mắt quan sát không gian mờ mịt. Không có vụ nổ nào cả, vậy chắc là hắn chưa định giết tôi. Tạm thời là thế. Tôi đã về đến nhà, an toàn và nguyên vẹn. Tôi đứng lặng người đi một lúc, lòng vẫn đầy thấp thỏm.
Rồi tôi sực nhớ đến những bông hoa, bó hoa đang nhỏ giọt nước của mình, liền rẽ hướng đi thẳng vào bếp. Xử lý chúng xong xuôi, rồi có lẽ tôi sẽ lấy một chai vang trắng trong tủ lạnh ra nhâm nhi trong bồn tắm.
Sau chuỗi sự kiện làm tôi kiệt quệ tinh thần với Sarah, ý định đến văn phòng làm việc chẳng còn chút sức hút nào nữa. Đã đến lúc xả hơi, xả thật nhiệt tình.
Đang mải suy nghĩ, chẳng thèm nhìn ngó xung quanh, tôi nhét vội bó hồng vào chiếc bình đặt cạnh bồn rửa bát, rồi lại nghĩ đến chai vang trắng và mở tủ lạnh. Tôi vẫn chưa buồn bật đèn lên, nhưng căn bếp cùng chiếc tủ lạnh cổ lỗ sĩ của nó được thắp sáng lờ mờ bởi ô cửa sổ nhỏ ngay đối diện. Tôi không chắc mình đã cất chai rượu ở đâu, vì lúc nãy tôi đã phải sắp xếp lại mọi thứ để chừa chỗ cho cuộn băng phỏng vấn của Carly. (Tôi cũng đang tính mang về nhà một cuộn băng dự phòng cho cuộc phỏng vấn của Paula vào lúc nào đó trong tuần này).
Tại sao mình lại làm thế nhỉ? Mang các bản sao về nhà á? Đó là dấu hiệu của một chứng ám ảnh nặng. Bạn thực sự không thể tạo ra một bản âm bản thứ hai đạt chuẩn chất lượng chuyên nghiệp từ bản dương bản gốc — tính đến lúc đó thì nó đã là thế hệ thứ ba rồi — nhưng tôi vẫn cứ mang về. Thỉnh thoảng tôi chỉ có một bản năng thô mộc mách bảo rằng việc giữ lại một bản sao lưu trữ quanh nhà là một ý hay. Thế nhưng cuộn băng đó cuối cùng lại nuốt trọn toàn bộ ngăn dưới cùng của tủ lạnh.
Tôi mở cánh cửa trắng ra và nheo mắt nhìn vào trong. Đèn tắt ngúm, và trong khoảnh khắc, tôi đờ đẫn nhìn vào những ngăn tủ tối thui, bán trống trải. Điều duy nhất gây chú ý cho tôi là tôi có thể nhìn thấy màu trắng tinh của cái ngăn dưới cùng đang trống không.
Trong một giây, tôi chỉ biết đứng chôn chân nhìn chằm chằm, nhưng rồi tôi lùi lại, cố tìm xem điều gì đang không ổn, và vấp phải thứ gì đó. Tôi lấy lại thăng bằng và bật công tắc đèn trần.
"Cái quái gì thế này!"
Sàn nhà quanh tôi ngổn ngang những chai lọ, chiếc lò nướng bánh mì cũ kỹ, và cả lò vi sóng mini của tôi nữa. Mọi thứ hỗn độn như một bãi chiến trường.
Tôi giật lùi lại, lại vấp ngã lần nữa, lần này là vào những lon nước vương vãi khắp mặt sàn nhựa linoleum. Căn bếp của tôi, tôi dần nhận ra điều đó, đã bị lục tung hoàn toàn.
Tôi cảm thấy một cơn buồn nôn cuộn lên tận cổ. Chẳng có gì đáng sợ hơn trên đời bằng việc không gian riêng tư của bạn bị xâm phạm hệt như một hình thức cưỡng bức tâm lý. Tôi ngả người dựa vào chiếc tủ lạnh khi đưa mắt ngắm nhìn xung quanh. Các tủ đựng đồ đã bị vét sạch, dấu hiệu của một cuộc tìm kiếm vội vã và bừa bãi. Nhanh chóng và vô cùng bẩn thỉu, vì các hộp thủy tinh đựng gia vị, bao gồm cả một lọ dưa chuột muối chua cũ kỹ, đã vỡ nát và phần bên trong bị trét bét nhè khắp sàn nhà.
"Mình không thể tin nổi chuyện này." Tôi sải bước quay lại phòng khách và với tay bật công tắc đèn. Căn phòng này cũng đã bị xới tung lên. Tivi, dàn âm thanh, đầu VCR, tất cả đều bị hất tung xuống tấm thảm. Nhưng chúng vẫn còn ở đó. Gã đó, con thú hoang đó, kẻ đã làm chuyện này không phải là một tên trộm. Hắn đang tìm kiếm thứ gì đó.
Hơi thở dồn dập từng nhịp, tôi bước dè dặt vào phòng ngủ và bật đèn lên. Chiếc giường vẫn y nguyên như lúc tôi rời đi, chăn gối văng tung tóe và gối chất thành đống. Chiếc đồng hồ báo thức vẫn ở đó, và cả chiếc máy tính Mac cũ kỹ cũng vậy, vẫn nằm trên chiếc bàn ở góc khuất, cái "trạm làm việc" của tôi. Lại một lần nữa, hình như chẳng có thứ gì bị mất cả.
Tôi quay trở lại phòng bếp, nơi cánh cửa tủ lạnh vẫn đang mở. Tôi nhìn chăm chú vào bên trong một lát, vẫn thấy khó hiểu, cố tìm xem thứ gì đang không ổn...
Chết tiệt! Chết tiệt! Chết tiệt! Đó chính là điều bất ổn. Phần không gian trắng xóa ở ngăn dưới cùng đã trống trơn. Trống rỗng hoàn toàn. Cuộn băng ghi hình cuộc phỏng vấn của Paula đã biến mất.
Trong một khoảnh khắc, tôi chỉ biết dựa người vào bàn bếp, chật vật kìm nén cơn muốn nôn thốc nôn tháo vào bồn rửa. Suy nghĩ đi, tôi tự nhủ, hãy lấy lại bình tĩnh và suy nghĩ...
Thứ hắn muốn chính là cuộn băng. Và hắn khao khát nó đến mức sẵn sàng bẻ khóa, rồi xé toạc căn nhà tôi ra để tìm cho bằng được.
Tôi vò rối tung mái tóc, cảm thấy tâm trí mình đang chìm trong hỗn loạn, và cố gắng dùng lý trí để phân tích tình hình. Tại sao? Tại sao hắn lại đi đánh cắp một cuộn băng dương bản vốn chẳng thể dùng vào việc gì cơ chứ?
Cuối cùng, sự thật trần trụi về những gì đã xảy ra giáng thẳng vào tôi như một cú đấm vào ngực. Tổ ấm ngọt ngào của tôi đã bị xâm phạm.
Nổi giận đùng đùng, tôi bước ra phòng khách và với lấy chiếc điện thoại — thứ duy nhất không bị ném xuống sàn.
Bản năng đầu tiên của tôi là gọi cho David, nhưng rồi tôi quyết định hắn ta sẽ chỉ làm ầm lên trong cơn cuồng loạn và chẳng thể giúp ích được gì. Thế nên, thay vào đó, tôi gọi cho Lou, thầm cầu nguyện mình không đánh thức Sarah. Với giọng nói run rẩy, tôi cố kể cho anh nghe chuyện gì đã xảy ra.
Anh có vẻ bối rối khi nghe tôi gọi lại quá sớm, nhưng rồi anh nhanh chóng chuyển sang chế độ đặc vụ FBI, lo lắng cho sự an toàn của tôi.
Gã này nghe chừng là một tay chuyên nghiệp đấy, anh khẳng định. Chắc là đột nhập bằng dụng cụ mở khóa điện, kiểu như máy Edge ấy. Mấy tên ngốc nào chẳng mua nổi một cái với giá một trăm ba mươi đô. Nó có thể quẹt qua các chốt khóa một trăm lần một giây. Tay chuyên nghiệp cỡ đó thì chắc chắn là sẽ chẳng để lại dấu vân tay đâu.
"Nhưng sao hắn lại..." Giọng tôi vẫn đặc lại như vịt kêu. "Ý tôi là, Chúa ơi, tất cả chỉ vì một cuộn phim chết tiệt ấy sao?"
Thằng khốn đó muốn cô biết là hắn đang có mặt ở thành phố này. Thế nên cách hắn ra tay cũng quan trọng ngang ngửa những gì hắn làm. Đó là một chiến thuật khủng bố đã được kiểm chứng qua thời gian. Anh khựng lại một nhịp. Morgan, tôi không thích chuyện này chút nào đâu. Mọi chuyện có thể sẽ còn tồi tệ hơn trước khi kết thúc đấy.
"Anh nghĩ tôi nên gọi cảnh sát chứ?"
Cô nên gọi ngay và luôn chứ lị, anh nói, giọng chậm rãi và đầy ngao ngán, nhưng nói thật với cô nhé, bọn chúng sẽ chẳng làm được mấy đâu. Có kẻ nào đó làm loạn căn hộ của cô và cuỗm đi một bản sao đời thứ ba của một buổi phỏng vấn. Bọn chúng sẽ cho rằng đây giống trò quấy phá ác ý hơn là một vụ án hình sự. Rồi chúng sẽ lập biên bản và đó cũng là lần cuối cùng cô được nghe tin từ chúng.
"Ừm," tôi nói, cơn giận trào dâng, "có lẽ tôi không thấy mọi chuyện xuôi xẻo theo kiểu buông xuôi thế được. Nói tôi nghe xem, anh có quen ai có thể tra cứu biển số xe giúp anh vào ngày Chủ Nhật không?"
Cô có biển số xe của thằng khốn đó á? anh hét lên. Sao nãy giờ cô không nói hả trời?
"Thành thật mà nói, tôi quên bén mất. Lúc này tôi đang gặp chút khó khăn trong việc suy nghĩ rành mạch."
May mắn thay, trí nhớ ngắn hạn của tôi khá tốt, ngay cả khi đang căng thẳng, thế nên tôi bèn đọc tuột ra một mạch.
Đừng đi đâu cả, anh tuyên bố. Năm phút nữa tôi gọi lại cho cô.
Tôi cúp máy rồi nằm vật ra tấm thảm, thử tập vài bài tập hít thở để bình tĩnh lại. Vấn đề là, nó chẳng có tác dụng gì sảng cả. Từng có kinh nghiệm bị trộm đột nhập — tôi từng bị vét sạch bách khi còn ở căn hộ tầng trệt dưới khu Village — tôi thừa biết bạn sẽ phải trải qua những giai đoạn tâm lý kiểu Kubler-Ross gồm giận dữ, phủ nhận, trầm cảm, chấp nhận. Bạn cũng sẽ phải trải qua một chuỗi những sự dằn vặt quen thuộc: Lẽ ra mình phải lắp song sắt và cổng bảo vệ ở cửa sổ; lẽ ra mình phải dùng ổ khóa khác; lẽ ra mình phải dùng hai ổ khóa khác nhau. Trong cái vụ việc vừa nhớ lại đó, tôi gần như chắc chắn rằng một gã thợ sơn căn hộ đã sao chép bộ chìa khóa của tôi trong giờ nghỉ trưa rồi chuyền tay nó cho một tên trộm chuyên đột nhập từ ban công. Chẳng có cách nào chứng minh điều đó cả, nhưng chắc chắn sự việc đã diễn ra đúng như thế. Tôi cũng nghi ngờ rằng hắn đã kiểm tra cuốn lịch hẹn của tôi để xem khi nào tôi vắng nhà.
Nhưng trong trường hợp này, ổ khóa rõ ràng đã bị cạy. Chẳng ai giữ bộ chìa khóa của tôi ngoài gã quản lý và Steve. Thế nên gã đàn ông nói giọng Tây Ban Nha kia biết cách lẻn qua những cánh cửa và hắn chẳng có chút mintérêt tài chính nào với chiếc đầu VCR cũ kỹ của tôi cả. Hắn chỉ chăm chăm nhắm vào cuộn phim của tôi thôi. Hắn đã nói gì ngoài vỉa hè bên ngoài căn hộ của Paula Marks nhỉ? Đại loại như việc thực hiện cuốn phim này là một sai lầm lớn á?
Tôi giật nảy mình khi chiếc điện thoại reo vang sát tai.
"Cái tên Đại tá Jose Alvino Ramos Grijalva có gợi cho cô nhớ đến ai không?" Lou hỏi.
"Làm sao mà có được chứ? Tôi còn không chắc mình có phát âm nổi cái tên đó không nữa."
À thì, Đại tá Ramos tự nhận mình là tùy viên quân sự tại Lãnh sứ quán Guatemala ở đây đấy. Cô đang có một gã tai to mặt lớn trong quân đội Guatemala lục tung cả căn hộ lên đấy. Chuyện này còn tồi tệ hơn tôi tưởng. Mấy gã đó toàn là sát thủ máu lạnh không đấy.
"Chúa ơi." Tôi vẫn đang phải vật lộn để tiếp thu sự thật kinh hoàng rằng hắn đã từng bước chân vào căn hộ của mình, nơi trú ẩn duy nhất của tôi. "Anh nghĩ tôi có thể đệ đơn kiện hắn không?"
Thì, chúng ta hãy cân nhắc chuyện này một phút xem nào. Chắc chắn là không có dấu vân tay, chẳng có nhân chứng đáng tin cậy nào cả. Cô sẽ cực kỳ vất vả mới chứng minh được điều gì đấy. Anh thở dài. Sự thật là, tôi nghi ngờ cô thậm chí còn chẳng xin nổi một lệnh cấm tiếp cận, với mấy thứ dữ liệu ít ỏi mà cô đang có trong tay.
"Tên khốn kiếp." Tôi ngồi thừ người ra một lát, cảm thấy phần lý trí bên não trái của mình vừa sập nguồn hoàn toàn. Tâm trí tôi tụt về cấp độ nguyên thủy nhất, chỉ còn vận hành bằng adrenaline. "Này, tôi cần kiểm tra vài chuyện. Sáng mai tôi sẽ gọi cho anh."
Thế thì hãy cẩn thận đấy, anh cẩn trọng dặn dò. Và vì ơn trên xin đừng có chạy đi đâu một mình nhé. Tôi nói thật là cô đang không được an toàn đâu. Hãy luôn xuất hiện ở nơi đông người.
"Tôi sẽ ghi nhớ điều đó." Nói đoạn, tôi nhẹ nhàng cúp máy và thở hắt ra.
Suy nghĩ nào. Một gã đại tá nào đó từ Guatemala vừa đột nhập vào căn hộ của tôi để tìm kiếm những gì tôi biết về Children of Light, nơi tôi từng đến để tìm hiểu về việc sinh con. Vậy tại sao hắn lại quan tâm đến việc tôi đang làm đến thế?
Tôi sực nhớ ra Alex Goddard từng muốn tôi đến một "phòng khám" mà ông ta có ở đâu đó tại Trung Mỹ. Mười ăn một là phòng khám đó nằm ở Guatemala. Đó chính là mấu chốt của toàn bộ chuyện này. Và giờ thì hắn vừa mới quay trở lại đó; ít nhất đó là những gì hắn đã nói.
Guatemala ở tít đằng xa, nhưng cơ sở hoạt động khác của hắn thì nằm ngay ngược dòng sông. Sáng nay tôi chưa kịp nhìn thấy hết mọi thứ ở đó, nhưng cục diện đó chuẩn bị thay đổi rồi. Rất nhiều thứ sắp sửa thay đổi. Đã đến lúc đưa ván cờ trở lại thế cân bằng rồi.