Máu Đời

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai Mươi Tư

❊ ❊ ❊

Tôi đang nằm trên giường, trong một căn phòng mờ ảo bao phủ bởi làn sương màu pastel, ngắm nhìn một con bướm Melania to bằng người đang đập đôi cánh cam và đen khổng lồ phía trên tôi. Giọng nó du dương, đầy mê hoặc, và tôi cảm nhận được làn gió mềm mại từ đôi cánh thổi vào mặt mình, mát rượi, thơm ngát, bao bọc lấy tôi. Đó là sự dịu dàng của sự bình yên vĩnh cửu.

"Cơ thể em là một cõi trù phú," nó đang nói, giọng vang vọng trong lớp sương mờ ảo quanh tôi, trầm ấm và ân cần. "Em rất đặc biệt." Rồi, những ánh xanh lam và tím óng ánh lấp lánh trên đôi cánh, khuôn mặt nó chuyển hoá thành chiếc mặt nạ cam và đen của một con báo đốm. "Em là một trong số những kẻ đặc biệt. Chúng ta sẽ cùng nhau tạo nên sự sống."

Nó vừa nói "đặc biệt" phải không? Marcelina đã bảo tôi là... giống như Sarah...

Giờ thì đôi mắt nó xoáy sâu vào tôi và tôi đang nghĩ về người Trung Quốc... Mình là con người đang mơ thấy mình là bướm, hay mình là con bướm đang mơ thấy mình là con người?

Khi nó di chuyển đè lên tôi, phần thân bướm còn lại biến mất và nó đã trở thành một con báo đốm uyển chuyển với đôi môi đang chạm vào môi tôi. Tấm ga trải giường phủ trên người tôi tan chảy vào da thịt khi bộ lông đốm mềm mại ở phần bụng dưới của nó áp sát vào tôi. Và khuôn mặt nó càng trở nên giống loài mèo và gợi cảm hơn, với đôi mắt sẫm màu nhìn thấu qua người tôi. Tôi có thể cảm nhận những chiếc râu của nó cọ vào mình khi nó hít hà dọc cơ thể tôi, rồi khám phá vùng kín của tôi bằng chiếc lưỡi đang dò dẫm.

Trước khi tôi kịp nhận ra chuyện gì đang xảy ra, đùi nó ép chặt vào đùi tôi và nó tự nhiên luồn vào trong tôi. Mọi thứ diễn ra thật tự nhiên và nhẹ nhàng đến mức tôi hầu như... Tôi chỉ thấy một cái giật mình dữ dội của đôi tai thú vật, dựng đứng và hướng về phía tôi, khi nó bao bọc lấy tôi hoàn toàn, hơi thở nóng hổi đầy vẻ khẩn thiết của giống đực. Khi nó cọ xát đùi vào tôi, nó phát ra tiếng gầm gừ ở cuống họng, rồi khẽ cắn yêu vào má tôi, những chiếc nanh nhạt màu vô hại và ngọt ngào làm sao.

Tôi bám chặt lấy nó, đẫm mồ hôi, chìm đắm vào nó, khao khát nó, nhưng giờ đây...

Nó đang thay đổi... Chúa ơi. Không! Nó đang...

Khuôn mặt nó đang biến thành một chiếc mặt nạ ngọc bích với đôi mắt cháy rực sắc đỏ, hiện thân của một linh hồn ác quỷ. Nó đang đâm sâu một vật gì đó vào trong tôi, bằng kim loại, lạnh ngắt và sắc bén. Sâu thẳm bên trong, với tới, trong khi tâm trí tôi phải vật lộn qua những đợt sóng đau đớn chạy dọc phần thân dưới. Tôi giằng co lùi lại, nhưng đôi tay tôi chỉ với vào không khí trống rỗng. Dừng lại. Đôi mắt, mảnh kim loại lạnh ngắt... Thời gian hóa thành chất lỏng, vài phút tựa hàng giờ, lạc lối, và tôi chẳng biết...

Cuối cùng — có thể là nhiều năm sau — nó gầm lên một tiếng cuối cùng và căn phòng bắt đầu chìm vào bóng tối. Rồi một sự tê dại tựa ân huệ tràn ngập lấy tôi. Nó đã biến mất...

Và tôi mơ thấy mình đã chết.

Lúc nào đó, có lẽ là nhiều giờ sau, tôi cảm nhận ý thức của mình đang dần hồi phục. Xung quanh tôi, căn phòng vẫn chìm trong bóng tối và, sực nhớ đến "giấc mơ", tôi bừng tỉnh hẳn với một cú giật mình, tim đập thình thịch. Nó đã... làm gì tôi? Tôi đang run lẩy bẩy, với một cơn đau nhói, buốt buốt ở vùng kín. Tôi cần không khí.

Tôi lảo đảo ngồi dậy, với tay ra, và nhận ra mình đang nằm trên một chiếc giường bệnh có thanh chắn kim loại dọc một bên.

Cái gì thế! Sao mình lại ở trong cái này? Rồi tôi bắt đầu nhớ lại. Tôi đang ở Baalum, tại phòng khám Ninos del Mundo của Alex Goddard. Và tôi đã cố gắng tìm gặp Sarah để đưa con bé về nhà.

Thế mà, tôi đã ngất đi rồi... một cuộc tấn công, một thứ gì đó vô cùng tồi tệ...

Ra khỏi đây thôi. Ngay bây giờ.

Tôi đặt chân xuống sàn với một sự quyết tâm sục sôi, và chính lúc đó tôi cảm nhận được mình đang ở một nơi khác với nơi tôi đã... Ở đâu —!

Tôi đảo mắt nhìn quanh trong bóng tối, rồi với tay chạm vào thứ gì đó trên chiếc bàn cạnh giường. Đó là một chiếc bát đất sét đầy sáp. Cái gì thế... một cây nến. Và bên cạnh nó, tôi chạm tay vào một bao diêm thường. Tay tôi đang run vì cơn đau ở vùng kín, nhưng tôi vẫn cố châm nến, tạo ra một ánh sáng bập bùng.

Đồng hồ đeo tay của tôi nằm ở đâu đó gần đấy trên bàn. Chắc ai đó đã tháo nó ra và đặt lên đó. Tôi cầm nó lên và đưa lại gần ánh sáng ngọn nến, và trong khoảnh khắc tôi thấy bối rối trước những giây đồng hồ đang nhịp nhàng trôi. Rồi tôi nhận ra thời gian là... Sao lại thế được! Đồng hồ chỉ 4 giờ 57 phút sáng. Chẳng lẽ tôi đã bất tỉnh suốt mấy tiếng đồng hồ sao?

Tôi há hốc miệng, rồi giơ ngọn nến lên và nhìn quanh. Những bức tường bằng đá nâu — hoặc có lẽ chúng chỉ trông giống như đá. Phải rồi, giờ thì tôi đã nhận ra. Tôi đang ở trong phòng phẫu thuật vách sợi thủy tinh mà tôi từng thấy trên màn hình camera giám sát kín của Alex Goddard.

Tôi đang làm gì ở cái xó này chứ?

Cánh tay tôi vô tình quẹt vào bàn và tôi cảm thấy một cảm giác kỳ lạ. Cúi xuống nhìn, tôi nhận ra có một miếng băng cá nhân dán ở mặt trong cổ tay trái. Cái quái gì thế này? Hồi nãy hắn lấy máu ở tay phải của tôi, nhưng sau đó hắn chỉ sát trùng, vậy tại sao lại có miếng băng này? Và quái quỷ gì đang xảy ra khi tôi lại nằm trong phòng phẫu thuật cơ chứ? Tôi có đồng ý thủ thuật nào đâu. Hắn đã quay lại để làm lần thứ hai —?

Hay là... đó là những gì hắn đã làm. Hắn đã tiêm cho tôi một mũi thuốc truyền tĩnh mạch. Ảo giác kỳ quái mà tôi vừa trải qua chỉ là lớp vỏ bọc cho hành vi xâm phạm cơ thể tôi một cách đồi bại. Chúa ơi, tôi đã bất tỉnh từ chiều hôm qua. Suốt khoảng thời gian đó, hắn có thể đã làm gì với tôi chứ?

Tôi giận tím mặt, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm. Nhìn quanh "phòng phẫu thuật", tôi chỉ muốn xé nát nơi này ra.

Khi tôi cố đứng dậy, tôi nhận ra vùng kín của mình đang ê ẩm và đau nhức kinh khủng, dọc theo đường viền đồ lót, chỉ là ở một nơi nào đó sâu thẳm bên trong, trong cơ quan sinh sản của tôi... Cảm giác giống như sau khi hắn tiêm cho tôi mấy mũi thuốc ở Quetzal Manor. Tôi kiểm tra thì không thấy vết kim tiêm màu đỏ nào lần này, nhưng cơn đau thì tệ hơn nhiều. Giấc mơ kinh tởm về con bướm kết hợp với báo đốm đó không hề là mơ. Tôi đã bị cưỡng hiếp bởi... Tên khốn kiếp.

Tôi nén cơn đau, lết đến gần cánh cửa và thử vặn nắm đấm. Không khóa. Tốt. Đi tìm ngay tên khốn đó thôi. Vặn cổ hắn.

Tôi kéo hé cửa, hít một hơi thật sâu và thò đầu ra nhìn hành lang.

Chà! Sao bọn chúng lại ở đây nhỉ? Trong ánh sáng mờ ảo, tôi nhận ra hai người lính lục quân mặc quân phục đang ở tít cuối hành lang gần những ô cửa sổ chớp, đang gà gật trên những chiếc ghế xếp bằng kim loại, khẩu súng AK-47 của họ dựa vào bức tường trát vữa.

Tại sao họ lại ở đây? Chỉ là một nơi thoáng mát, lộng gió để la cà thôi sao? Hay họ được bố trí để canh gác tôi?

Cơn gió lùa khiến ngọn nến hắt những cái bóng bập bùng dọc hành lang, thế là tôi vội vã khép cửa lại.

Giờ thì sao đây? Tôi run rẩy mang bát nến đặt lại lên bàn rồi ngồi phịch xuống giường. Lính mang súng đứng ngay ngoài phòng tôi lúc năm giờ sáng. Ở tận vùng sâu xám xịt của Guatemala. Tôi định làm gì đây?

Tôi ngước nhìn những bức tường "đá" và cố suy nghĩ. Tâm trí tôi vẫn cảm thấy mụ mị bởi thứ thuốc nào đó mà hắn đã tiêm cho tôi, nhưng nó đang dần...

Khoan đã. Tôi đã thấy Alex Goddard bước vào chính căn phòng này với những phôi thai lấy từ phòng thí nghiệm, nơi được nối liền bằng cánh cửa thép thông với văn phòng của hắn...

Nơi có một chiếc điện thoại.

Đến lúc gọi cho đại sứ quán, kiếm chút trợ giúp để chuồn khỏi cái chốn quái quỷ này thôi.

Tôi ngồi đó suy nghĩ. Được rồi. Tôi sẽ phải đợi chừng một tiếng nữa — giờ này thì chỉ vớ phải mấy tên tay sai quèn bị bắt trực ca đêm — nhưng có một việc khốn khiếp mà tôi nhất định phải làm ngay lập tức. Với phòng thí nghiệm nằm ngay sát vách, tôi có thể tìm hiểu lý do tại sao Goddard vừa thực hiện hành vi cưỡng hiếp y khoa đối với tôi. Chắc chắn phải có mối liên hệ nào đó. Theo lời hắn, phòng thí nghiệm là nơi "nghiên cứu thực vật". Nhưng nếu đó là tất cả những gì hắn làm, tại sao quân đội lại có mặt ở đây? Ngay ngoài cửa phòng tôi? Một luồng adrenaline trào dâng khiến tôi quên sạch cả cơn đau. Trước khi tôi cao chạy xa bay khỏi Baalum, tôi phải biết rốt cuộc hắn đang mưu tính cái trò gì ở đây.

Chúa ơi, tôi cảm thấy tồi tệ quá. Tôi đau đớn thật sự. Lại càng có lý do để...

Tôi cầm cây nến, đứng dậy và di chuyển sang bức tường đối diện để bắt đầu tìm kiếm một lối đi trên lớp "đá" sợi thủy tinh. Nó có vẻ được đúc từ những khuôn lấy từ căn phòng trên đỉnh kim tự, với những hàng ký hiệu mặt người hoạt hình nhỏ xíu, đan xen với các bức phù điêu, nhưng chắc chắn phải có một cánh cửa đâu đó ở đây. Tôi đã thấy hắn bước thẳng qua đó mà. Khi lướt tay dọc theo bề mặt, tôi bất ngờ vì độ cứng của chúng chẳng khác gì đá thật. Nhưng không thể nào.

Tôi đang tìm cái gì thế nhỉ? Chắc chắn chẳng có tay nắm cửa nào cả. Tôi chạm phải một vết nứt cứng, nằm ngay cạnh bức phù điêu hình một chiến binh đội mũ lông vũ, nhưng khi trượt tay xuống dưới, nó kết thúc và lại là một bề mặt "đá" gồ ghề khác. Đặc quánh.

Chết tiệt. Tôi lùi lại và săm soi bức tường bằng ngọn nến. Hắn đã bước vào từ phía bên trái, tính ra thì khoảng...

Tôi bước sang bên và bắt đầu lại. Lần này móng tay tôi vướng vào một kẽ hở chạy thẳng xuống sàn nhà. Rồi tôi phát hiện ra một khe hở nữa, cách đó chừng hai thước rưỡi về phía bên. Chắc chắn đây là cửa rồi.

Tôi rà tay dọc theo mép, tự hỏi làm thế nào để mở nó ra, cho đến khi nhận ra một trong những ký hiệu "đá" nhỏ xíu bị thụt vào khi tôi ấn mạnh lên. Khi tôi dùng sức tì cả bàn tay vào đó rồi xoay nó đi, tấm gỗ phát ra tiếng tách một cái rồi vung hẳn vào trong. Được rồi!

Và nó đây rồi: phòng thí nghiệm, những màn hình CRT đặt phía trên các lồng ấp, chiếc máy sắc ký khí ở trong góc. Theo lời hắn, đây là nơi hắn thử nghiệm các loài thực vật rừng nhiệt độ do các pháp sư và bà đỡ mang tới. Thế còn chuyện hắn vừa làm với tôi thì sao?

Tôi vẫn lo lắng về đám lính ở bên ngoài, nhưng tôi vẫn bước vào, cố gắng bước đi thật khẽ khàng. Việc đầu tiên tôi làm là tiến về phía dãy hộp màu đen đặt phía trên chiếc băng ghế. Tôi đoán chúng được dùng để duy trì môi trường vi khí hậu nhằm nuôi cấy các mẫu vật thực vật. Và quả nhiên, những ô cửa sổ sáng mờ hé lộ những hàng đĩa petri xếp lớp. Chúng trong suốt, với những chỗ lõm hình tròn ở chính giữa...

Nhưng khoan đã. Đó đâu phải chỉ là mấy cái đĩa thí nghiệm thông thường. Và trong đó cũng chẳng có chút chiết xuất thực vật nào cả, chỉ toàn chất lỏng trong suốt. Thật kỳ lạ, có gì đó rất mờ ám.

Tôi đứng đó bần thần suy nghĩ, rồi chợt nhớ ra mình từng nhìn thấy hình ảnh những chiếc đĩa thí nghiệm kiểu này được dùng cho các phôi thai thụ tinh nhân tạo. Ban đầu, những noãn người vừa được tách ra sẽ được đặt trong lồng ấp vài tiếng đồng hồ, lơ lửng trong một môi trường mô phỏng bên trong ống dẫn trứng của phụ nữ, để chúng trưởng thành nhằm chuẩn bị cho quá trình thụ tinh. Goddard từng nói điều gì đó về các xét nghiệm trên phôi nang, cấu trúc tế bào đầu tiên được hình thành sau khi thụ tinh. Vậy có phải hắn đang sử dụng những bào thai thật sự không? Chúa ơi. Tôi có cảm giác mình đang biết được, hoặc đoán được, nhiều thứ hơn rất nhiều so với những gì hắn muốn tôi biết.

Tâm trí tôi rối bời khi ngước lên quan sát các màn hình video phía trên những chiếc hộp. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra những chiếc đĩa petri cùng hóa chất của chúng đã được đặt vào lồng ấp trong khoảng thời gian từ 4 giờ chiều đến 7 giờ 30 tối hôm qua. Cái gì cơ —?

Tôi bắt đầu đếm. Chúng nằm trong các giá đỡ, được xếp chồng lên nhau, thành từng dãy bốn nhân bốn. Để xem nào. Năm cái trong lồng ấp này, năm cái ở lồng tiếp theo, năm cái ở... Có tổng cộng hơn hai trăm chiếc đĩa!

Không thể nào. Tôi cúi xuống nhìn chúng lần nữa, cảm thấy sống lưng lạnh toát. Hình như chưa có gì ở trong đó cả, ít nhất là theo những gì tôi có thể thấy, nhưng trứng người vốn có kích thước hiển vi mà. Vậy nếu các noãn đã...

Khi hắn làm cái trò thụ tinh trong ống nghiệm với người phụ nữ Maya đó, có phải hắn thực sự đang trích xuất trứng không?

Tỉnh táo lại đi chứ. Chúng không đời nào xuất hiện từ đó được.

Đến lúc đó thì tôi đã trải qua gần hết các giai đoạn của mô hình Kubler-Ross, vượt qua sự phủ nhận để tiến thẳng đến sự tức giận, nhưng mà... sao lại nhiều thế chứ! Làm sao mà tất cả bọn chúng —

Tôi quay lại kiểm tra dãy bình bọc nhựa ở phía cuối phòng thí nghiệm, xếp thành một hàng sáu chiếc. Giờ thì tôi bắt buộc phải biết có gì bên trong chúng.

Dù chân tay vẫn còn bủn rủn, tôi tự trấn an bản thân, bước tới, kéo lớp nhựa ra và chạm vào một bình. Nó lạnh ngắt như băng, đọng những giọt mồ hôi trong bầu không khí ẩm ướt. Khi tôi bật mở phần nắp cỡ chiếc đĩa ném, tôi thấy một làn hơi mờ nhạt bốc lên giữa không gian mờ ảo của căn phòng...

Rồi tôi chợt hiểu ra. Dĩ nhiên rồi. Đó là các bình chứa trữ lạnh (cryo-storage). Hắn cần chúng để bảo quản trứng đã thụ tinh, các phôi thai.

Tôi nhấc lớp nắp bên trong ra và đặt cẩn thận lên mặt bàn, nơi nó lập tức chuyển sang màu trắng, bốc khói ngùn ngụt. Sau đó, tôi chú ý đến một thanh kim loại nhỏ được móc vào thành miệng bình. Khi kéo nó lên, hóa ra nó được gắn liền với một ống trụ kim loại xốp chứa các hàng ống thủy tinh bên trong.

Cái gì thế...?

Cảm giác như mình đang lọt sâu vào một chiều không gian y học thứ tư nào đó, tôi lấy ra một trong những ống đông lạnh. Nó có các khía và được đánh dấu bằng một mã số dọc theo thân: "BL-1la", "BL-1lb", "BL-1lc", cứ thế kéo dài cho đến chữ "g". Nhưng chẳng có gì trong đó cả.

Tôi bắt đầu kiểm tra các ống khác. Tất cả đều trống rỗng. Vậy tại sao hắn lại đi đông lạnh những chiếc ống không có gì thế này?

Nghĩ theo cách đơn giản nhất đi. Hắn đang chuẩn bị sẵn sàng cho những phôi thai mới.

Tôi trượt thanh kim loại trở lại bình trữ lạnh, rồi bước tới, tự nhấc người ngồi lên bàn thí nghiệm ngay cạnh bức tượng thần Shiva đang múa, vị thần của sự sáng tạo và hủy diệt. Và khi vừa ngồi xuống, tôi lại cảm nhận một cú nhói buốt ở vùng kín. Tên khốn. Tôi đang run rẩy, rơi vào giai đoạn đầu của trạng thái sốc. Hơn bất cứ điều gì lúc này, tôi chỉ muốn tìm thấy hắn và giết quách đi...

Tôi chợt nghe thấy tiếng động sột soạt đâu đó bên ngoài hành lang và khựng lại. Có phải hắn sắp vào kiểm tra mấy cái "thí nghiệm" của mình không? Rồi tôi nhận ra đó chỉ là tiếng tòa nhà, cái ngôi nhà kinh hoàng của hắn, đang cọt kẹt vì gió thổi.

Tôi liếc nhìn lồng ấp lần cuối cùng, và mọi đau đớn lại ùa về. Mọi chuyện quá sức chịu đựng đối với cơ thể tôi. Tôi ngồi đó, cố gắng tập hợp lại chút sức lực.

Đừng dừng lại lúc này. Tiếp tục đi.

Tôi đứng dậy lần nữa. Điện thoại. Dùng điện thoại. Tìm Steve, báo động cho đại sứ quán, rồi đi đón Sarah. Làm ngay đi, khi còn có thể.

Tôi nín thở bước tới, đẩy cửa bước vào văn phòng và nhìn vào trong. Nó trống không và tối thui. Tốt. Tôi tiến thẳng đến chiếc hộp đen của chiếc điện thoại vệ tinh Magellan.

Khi nhấc ống nghe lên và bật nguồn, các bóng đi-ốt nhấp nháy điệu nhảy công nghệ với màu xanh lá và vàng rồi ổn định lại, phát ra tiếng tẻo tẻo báo có tín hiệu. Cảm ơn Chúa từ bi.

Tôi quyết định gọi lại khách sạn ở Belize trước, với hy vọng mong manh rằng Steve đã kịp cao chạy xa bay khỏi Guatemala. Anh yêu, xin hãy ở đó. Đồng hồ chỉ năm giờ hai mươi phút sáng, nhưng anh từng bảo họ trực quầy suốt ngày đêm mà. Nối máy được ngay, dù đường truyền khá nhiều tiếng rè. Thế nhưng sau đó là tin dữ mà tôi vẫn luôn hãi hùng:

"Cậu ta vẫn chưa về đâu thưa cô."

Anh ấy đang ở đâu cơ chứ? Tôi muốn hét lên, nhưng tự nhủ phải giữ vững tinh thần.

Được rồi, thử gọi khách sạn Camino Real và cầu mong có ai đó tỉnh giấc biết nói tiếng Anh. Biết đâu anh ấy quay lại đó thì sao. Xin Chúa hãy phù hộ.

Tôi đã thuộc làu số điện thoại nên bấm máy luôn, và nhận ra giọng của cậu nhân viên nhấc máy, con trai của ông chủ, người đang cố hết sức học nói tiếng Anh.

— Chào, tôi là Morgan James đây. Cậu còn nhớ tôi chứ? Tôi gọi xem dạo này Steve Abrams có đang trọ ở đó không?

— Hey, que pasa, Senora James. Sớm thế nhỉ? Đợi chút nhé. Có khoảng lặng khi cậu ta kiểm tra. Nào Steve, hãy ở đó đi. Xin ơn trên hãy để anh ấy ở một nơi an toàn nào đó.

Rồi giọng nói ấy vọng lại: — Không, không có ai tên thế ở đây cả.

— Ồ... gracias. Chết tiệt. Cảm giác như có một cái hố sâu hoắm vừa mở ra trong dạ dày tôi.

Tôi đặt ống nghe xuống, thầm thấy ơn Chúa vì ít ra điện thoại vẫn dùng được, đó là mối dây liên kết cuối cùng của tôi với sự tỉnh táo. Cuộc gọi tiếp theo của tôi sẽ là cho đại sứ quán, nhưng tôi không thể mạo hiểm dùng cơ hội duy nhất với ca trực đêm được. Có lẽ đến sáu giờ sáng sẽ có người có thẩm quyền đến làm việc. Chỉ đợi thêm vài phút nữa thôi.

Giờ thì sao? Tôi lại cảm thấy cơn đau nhức ở vùng kín cùng một trận buồn nôn trào lên. Tôi phải làm gì đó, bất cứ việc gì, chỉ để tiếp tục kiên trì, để đánh bật cơn hoảng loạn sắp sửa kéo đến.

Đó là lúc tôi quay người lại và trân trân nhìn vào mấy cỗ máy tính, những chú vịt con đang lướt qua màn hình.

Được rồi, mày biết hắn đang làm gì rồi; giờ là lúc tìm hiểu lý do tại sao. Lý do thực sự ấy. Phải có tài liệu lưu trữ về những việc hắn đang làm trong này chứ. Không thì hắn giữ chúng để làm gì?

"Keng, keng, keng." Một âm thanh vang lên từ đâu đó ngoài cửa sổ. Dù không muốn, tôi vẫn giật nảy mình.

Rồi tôi nhận ra đó chỉ là tiếng kêu kỳ lạ của loài chim rừng nào đó. Chúa ơi, tôi không sinh ra để chịu đựng mấy thứ này. Đầu tôi lại đau nhức, từng cơn nhói buốt, nhưng tôi xoa thái dương và ngồi xuống trước cỗ máy tính đầu tiên.

Tôi là fan của Mac, cực kỳ ghét Windows, nên đành phải bắt đầu bằng cách mày mò thử nghiệm. Trong phim ảnh mọi người lúc nào cũng biết cách làm mấy trò này, còn tôi thì chỉ biết thử và sai, sai lại chồng chất sai.

Sau vô số lần thử hụt chỉ hiện lên những màn hình tiện ích chẳng tài nào tắt nổi, cuối cùng tôi cũng mở được mục lục các tệp tin, trong đó có một danh sách dài các tên gọi.

ALKALOIDS (AN-KA-LÔI)

CARDIAC GLYCOSIDES (GLI-CÔ-SÍT TIM)

PHENOLICS (PHÊ-NÔN)

SAPONINS (SA-PÔ-NIN)

TERPENOIDS (TÉP-PÊ-NÔI)

Môn Sinh học 103 — thứ mà tôi vô cùng căm ghét — đang quay trở lại trong đầu. Các phân loại chiết xuất thực vật. Có vẻ như hắn thực sự đang nghiên cứu hệ thực vật ở đây. Nhưng... rốt cuộc hắn cần noãn của tôi để làm gì chứ?

Tôi cuộn chuột tiếp. Các thuật ngữ khoa học chẳng có nghĩa lý gì. Rồi, gần cuối danh sách chữ cái, tôi bắt gặp từ QUETZAL.

Đó là cái gì? Tôi bấm vào đó và — kì diệu thay — hiện ra một danh sách ngắn các cái tên. Sáu người tất cả, được sắp xếp theo ngày cách nhau khoảng một năm, và mỗi người đều là phụ nữ.

Chúa ơi. Ban đầu tôi cứ nghĩ họ là những bệnh nhân từ Quetzal Manor đến đây điều trị hiếm muộn, dù ở cuối mỗi tên đều ghi chữ "đã chấm dứt" (terminated), không hiểu điều đó có nghĩa là gì. Nhưng khi lướt nhìn xuống, tôi không dám tin vào mắt mình nữa. Cái tên đứng sát cuối là S. Crenshaw. Cô ấy cũng đã bị "chấm dứt".

Dưới cùng là M. James. Nhưng tôi thì chưa bị "chấm dứt". Chưa đâu.

Tôi ngả người ra sau ghế, cố gắng thở đều. Tôi còn phải chịu đựng thêm bao nhiêu sự kinh hoàng này nữa đây? Cuối cùng, tôi lại nhoài người về trước, run rẩy bấm chuột vào tên S. Crenshaw.

Rất nhiều dữ liệu hiện ra, bao gồm ba mốc thời gian quan trọng. Ngày đầu tiên là đúng ba tuần sau ngày ghi trên hộ chiếu của cô ấy, thị thực nhập cảnh Guatemala. Ngày thứ hai là mười tháng trước, ngày thứ ba là tám tháng trước. Theo sau mỗi mốc thời gian là một con số: 268, tiếp theo là 153, và cuối cùng là 31.

Số lượng trứng đã bị trích xuất của cô ấy. Giết hắn. Phải giết quạt hắn đi.

Rất nhiều thuật ngữ y khoa mà tôi không tài nào hiểu nổi xuất hiện sau mỗi con số, nhưng dòng ghi chú ở cuối thì chẳng cần bằng cấp cũng đọc ra được.

"Vật liệu phôi nang từ các phôi thai sau lần trích xuất thứ ba cho thấy khả năng sống sót của tế bào giảm 84%. Không thể sử dụng tiếp."

Chúa ơi, có phải hắn đã khiến cô ấy vô sinh vĩnh viễn không?

Trong lúc sự ghê tởm đó vẫn đang ngấm dần, tôi quay lại và bấm vào tên chính mình. Ngày thực hiện là hôm nay, con số là 233. Hắn vừa lấy đi 233 quả trứng của tôi. Tôi trân trân nhìn màn hình và cảm thấy xây xẩm mặt mày.

Chưa có phân tích y tế nào được nhập vào, nhưng điều đó chẳng quan trọng nữa. Tôi thừ người nhìn màn hình trong suốt một phút trước khi bấm quay lại trang của Sarah. Đúng vậy, tôi đã đoán đúng. Ngày cuối cùng chỉ cách sáu tuần trước khi cô ấy được tìm thấy trong tình trạng hôn mê, trôi dạt trên dòng sông phía dưới này...

Không còn điều gì bí ẩn nữa. Hắn đã sử dụng trứng của cô ấy để tạo ra các phôi thai, và cuối cùng chúng ngừng hoạt động. Không còn "đặc biệt" nữa. Thế là "chương trình" của cô ấy bị "chấm dứt". Dưới lòng sông.

Dạ dày tôi cuồn cuộn, dịch mật dâng lên cổ họng, và tôi tưởng mình sắp nôn thốc nôn tháo. Tôi hít một hơi thật sâu, thật chậm rãi, và kìm lại. Trước khi tôi đón Sarah và chuồn khỏi Baalum, tôi sẽ đập nát mọi thứ trong phòng thí nghiệm này.

Mọi thứ cuối cùng đã được kết nối lại với nhau. Những mũi tiêm "giãn cơ" mà hắn cho tôi ở Quetzal Manor, đó chắc chắn là một hỗn hợp thuốc kích trứng "độc quyền" của hắn. Sau đó, khi trứng của tôi rụng, hắn đã dụ tôi đến đây bằng cách dùng Sarah. Hắn biết tôi sẽ đến tìm con bé. Tiếp theo, hắn "sắp xếp" với Alan Dupre để chở tôi bay đến đây. Cuối cùng là thuốc an thần, và hắn đã thu hoạch 233 quả trứng của tôi, thứ mà hắn đang cất giấu ngoài kia trong những chiếc lồng ấp đó...

Nhưng còn bằng chứng thì sao? Để vạch trần trước thế giới. Những âm thanh của buổi sáng đang vang lên rôm rả bên ngoài, vì vậy tôi bớt lo lắng hơn về việc hai tên lính ở hành lang còn ngủ hay không. Thú thật là, thần kinh tôi đang căng như dây đàn nên tôi chẳng thèm bận tâm nữa. Tôi bấm vào máy in và bắt đầu in ào ạt các tập tin của từng người phụ nữ mà hắn đã hãm hại, cả sáu người.

Sự ghê tởm tuôn trào trong tôi như thác lũ. Trái tim đen tối. "Sự kinh hoàng, sự kinh hoàng." Alex Goddard đã lợi dụng Sarah theo cách vô nhân đạo nhất có thể, rồi mưu sát cô ấy. Có lẽ hắn vừa mới giao con bé cho Đại tá Ramos.

Điều tương tự chắc cũng đã xảy ra với những người phụ nữ kia. Tất cả đều "biến mất" đâu đó ở Guatemala. Nhưng ai mà biết được chứ?

Có một điều tôi biết chắc. Người tiếp theo chính là tôi...

Chiếc máy in đã cũ và kêu rất to, nhưng may là nó in khá nhanh. Bốn phút sau, tôi đã có trong tay những thứ cần thiết để tóm cổ tên tội phạm này. Khi tôi thoát khỏi đây, thể nào cũng có người tin tôi.

Trong lúc xếp lại các bản in, tôi quyết định sẽ gọi cho đại sứ quán ngay lập tức, bất kể giờ giấc quái quỷ gì nữa. Tôi đang đổ mồ hôi đầm đìa như một con linh dương khi sư tử đang áp sát. Alex Goddard vừa mới thực hiện hành vi cưỡng hiếp nguyên thủy, thô bạo lên cơ thể tôi, và giờ thì quân đội đang đứng lù lù ngay ngoài cửa. Tôi phải liên lạc được với đại sứ quán.

Và đó là lúc tôi nhận ra mình không có số điện thoại của họ. Nhưng chắc chắn nó phải được ghi trong danh bạ nào đó ở đây.

Một vòng quanh văn phòng không thấy cuốn sổ nào. Tôi tính gọi lại cho Camino Real, nhờ họ tra số hộ giúp, nhưng rồi tôi lóe lên một ý tưởng thiên tài. Steve từng nói số của Alan Dupre rất dễ nhớ vì nó quảng cáo cho việc kinh doanh của hắn. Số mấy nhỉ? Tôi không tài nào nhớ nổi.

Rồi nó cũng hiện về trong đầu: 4-MAYAN, con số sáu chữ số mà bọn chúng dùng ở Thành phố Guatemala. Gọi cho tên để tiện này và hỏi xem ai có thể giúp tôi trốn khỏi đây. Hắn ta vốn quen biết hết thảy mọi người cơ mà.

Ánh bình minh đang xuyên qua những khe cửa chớp, mang theo ngày càng nhiều âm thanh buổi sáng của rừng già. Tôi bước tới đẩy chúng mở ra, đưa ngón tay ra ngoài hứng lấy không khí. Cảm giác thật mát lạnh, chạm vào sự tự do, và có khoảnh khắc tôi đã nghĩ đến việc xông ra ngoài để trốn thoát. Cứ cứu Sarah ngay lúc này đã.

Thay vào đó, tôi bước ngược lại chiếc điện thoại, siết chặt tay, quay số của Alan Dupre, vừa cầu nguyện vừa hy vọng đó là nhà riêng của hắn. Steve đã gọi cho hắn vào tối muộn, nên chắc là vậy rồi. Tôi cứ nghĩ mình sẽ không bao giờ muốn nói chuyện với hắn ta nữa, nhưng giờ thì... Chúa ơi, xin hãy để hắn bắt máy.

Thế nhưng, chuông điện thoại cứ đổ liên hồi hết lần này đến lần khác.

Nhanh lên chứ. Chết tiệt.

Nó cứ reo hoài reo hoài. Rồi cuối cùng —

— Đứa quái nào gọi giờ này thế? Bọn tao chưa mở cửa trước chín giờ đâu.

Giọng nói quen thuộc vang lên mang theo một cảm giác nhẹ nhõm, nhưng thái độ ngông cuồng của hắn lại khiến tôi nổi điên trở lại.

— Là Morgan James đây, đồ khốn. Sao anh lại bỏ rơi tôi bơ vơ ở đây hả? Anh không biết là —

— Ồ, là cô à... — Hắn khục khặc ho vì hút thuốc. — Cô bắt tôi lết cái thân già xuống tận dưới lầu chỉ để cằn nhằn thôi sao. Gì nữa đây —?

— Nói chuyện cho đàng hoàng vào, đồ khốn nạn. — Tôi vẫn có ý định bóp cổ hắn. — Tôi cần anh giúp. Anh nợ tôi đấy. Anh không biết là —

— Này cô nàng, chắc cô không đời nào nghĩ việc chuồn mất trong cái cơn bão quỷ quái đó là ý của tôi... Cứ cho là tôi hành động dưới sức ép đi. Tôi suýt nữa thì không quay về nổi ấy chứ.

— Vậy thì anh có thể bắt đầu chuộc lỗi ngay bây giờ bằng cách đưa tôi cao chạy xa bay khỏi đây đi. Hóa ra có kẻ đã nhúng tay giật dây hắn, đúng như tôi vẫn nghĩ từ đầu đến giờ. Nhưng là ai? — Tôi muốn anh tra cứu số điện thoại của đại sứ quán Mỹ. Và cho tôi biết tên một người ở trỏng có thể...

— Chúa ơi, cô thực sự không hiểu tình hình chút nào sao? — Hắn lại ngắt lời để ho khù khụ vì cần sa buổi sớm.

— Tôi "hiểu" rằng anh —

— Này cô bé, chính một vị quan chức cấp cao ở cái xứ sở đó đã "gợi ý" tôi chở cô lên trên đó đấy. Lý do quái quỷ gì khác khiến tôi phải làm thế cơ chứ, lạy Chúa tôi? Cô biết tôi không phải công dân của cái nhà điên này rồi mà. Nhân vật đó lưu ý rằng nếu tôi không làm theo, ông ta có thể thực hiện vài cú điện thoại về tình trạng cư trú của tôi, về bằng lái phi công của tôi... Cứ gọi đó là một lời đề nghị mà tôi thấy không thể từ chối.

— Ôi Chúa ơi. — Tôi có cảm giác như vừa có một con dao đâm thẳng vào lưng mình. — Tên ông ta có phải là Barry Morton không? Xin hãy nói cho tôi biết.

— Tôi xin quyền im lặng về vụ đó, — hắn nói rồi lại ho khan. — Nhưng cô có bản năng sinh tồn nhạy bén đấy chứ.

Tôi nghe thấy tiếng động bên ngoài và khom người thấp xuống ghế. Giờ tôi phải làm gì đây?

— Này, anh có biết Steve đang ở đâu không? Bọn chúng đang lùng —

— Không đời nào biết được đâu, thưa bà thám tử Sherlock ạ. Tôi vừa có một buổi thẩm vấn dài lê thê và đầy chán ngán bởi mấy tay hách dịch đi bằng xe Jeep của quân đội xuất hiện ở đây. Bọn chúng muốn biết thằng đó đang ở xó nào, lần cuối tôi ăn tối với nó là khi nào. Cho tôi nói cho cô nghe nhé, cưng ạ, cô đã đẩy người bạn già chí cốt của tôi vào một rắc rối to tướng rồi đấy.

— Tôi thấy đủ tội lỗi về chuyện đó lắm rồi, thế nên câm miệng đi. — Bất chấp tất cả những gì Alex Goddard đã làm, tôi vẫn cảm thấy tồi tệ về Steve, cứ như mình là một ả phù thủy ích kỷ vậy. — Nhưng anh có biết bây giờ anh ấy ở đâu không?

— Đách có một chút manh mối nào sất, chưa từng nghe đến cái thằng hâm đó. Chết tiệt, đợi tí. Đường dây im bặt, và tôi có thể cảm nhận nhịp tim mình đang đập thình thịch.

Ngoài cửa văn phòng, tôi nghe thấy tiếng bước chân đang tiến lại gần dọc theo hành lang. Xin Chúa, xin ngài hãy phù. Nhưng rồi chúng bước qua, dừng lại ở chỗ hai tên lính vừa mới gà gật. Tiếp theo, tôi nghe thấy giọng mắng mỏ gay gắt bằng tiếng Tây Ban Nha tục tĩu.

— Tu heres un pedaso de mierda! (Mày chỉ là một nhúm phân!)

Rồi giọng nói quen thuộc vang lên từ ống nghe. Tôi không thể tin nổi.

— Morgy, sao đời nào em lại để cho thằng Alan chở em lên đó một mình chứ? — Giọng anh mang theo sự buồn bã và cả một chút hờn giận chính đáng cứa tận tâm can tôi.

Hình như tôi đã ngừng thở.

— Ôi anh yêu, tạ ơn Chúa là anh... — Tôi cứ ngỡ cửa sẽ bị phá tung ra bất cứ lúc nào. Những gã đàn ông cầm súng AK-47. — Anh có biết quân đội đang lùng bắt...

— Em hoàn toàn điên rồ rồi đấy. Anh đi được nửa đường đến Belize thì gọi về motel xem tình hình em thế nào, và họ bảo em đã chuồn cùng cái tên khốn đó rồi. Thế là anh quay đầu lái xe ngược lại đây. Lúc đó là sau nửa đêm và bọn tay sai quân đội vừa mới rời đi. Morgy, anh đang đến đón em đây. Ngay khi các cây xăng mở cửa. Anh biết một con đường mòn phía sau dẫn về Mexico. Chúng ta phải chuốn khỏi cái đất nước chết tiệt này ngay lập tức.

— Đừng cố lái xe lên đây. Nguy hiểm lắm. Anh có thể nhờ Alan lái máy bay được không? Sarah đang ở đây và con bé đã bị biến thành một kẻ lơ ngơ rồi. Em không biết làm thế nào để kéo con bé đi nữa. — Tôi dừng lại để cố xâu chuỗi suy nghĩ. — Hắn cắt lính canh gác em đây này. Em phải tìm cách lậu con bé ra ngoài thôi.

Tôi không sao mở lời để kể cho anh nghe chuyện thực sự đang diễn ra.

— Để anh nói chuyện với thằng Alan một giây. Cái đồ khốn. Không thể tin nổi nó lại đối xử với em như vậy. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ nghĩ ra cách gì đó. Không thì, anh có thể bóp cổ nó bằng đôi tay này mất.

Tôi nghe thấy tiếng ho, điều đó cho biết Alan đang nghe ké trên máy nhánh. Nó làm tôi phát bực, nhưng rồi — hắn ta buộc phải nhúng tay vào chuyện này mà. Chết tiệt. Ý nghĩ phải dựa dẫm vào Alan Dupre trong bất kỳ việc gì...

— Ừ, làm nhanh lên đấy. Em đột nhập vào phòng làm việc của Alex Goddard để dùng điện thoại này và... mau lên.

— Rõ rồi.

Lúc này, tiếng bước chân kiên quyết, ra dáng sĩ quan đang rầm rập đi ngang qua cửa, hướng ra ngoài, sau đó hai tên lính trẻ bắt đầu chửi thề om sòm bằng tiếng Tây Ban Nha với chất giọng thé lên.

— Hace falta tener cojones! (Đúng là đồ gan cóc tía!)

— Hijo de tu chingada madre! (Đồ chó đẻ!)

Ánh sáng ngày càng lọt qua những khe cửa chớp. Nhìn lồng đồng hồ, tôi thấy đã đúng sáu giờ, nhưng đại sứ quán không còn là một lựa chọn nữa rồi.

— Nghe này, — Steve nói khi quay lại máy, — đêm nay trời có thể sẽ mưa, nhưng hắn bảo chúng ta có thể thử xem sao. Hắn quả quyết có một bãi trống cách con đường rải sỏi đi về phía nam chừng một phần tư dặm. Lấy cơn mưa làm vỏ bọc, có lẽ chúng ta có thể đáp xuống ngay sau khi trời tối. Em nghĩ mình có thể tìm cách đón Sarah và đến đó chứ?

— Em thậm chí không chắc con bé có đi nổi không, ít ra là đi xa, nhưng chúng ta sẽ có mặt. — Tôi liên tưởng đến hình ảnh con bé ở quảng trường lúc trước, liên tục tuyên bố hạnh phúc của mình. Chẳng lẽ tôi phải lôi con bé đi, cõng nó trên lưng sao? Chà, nếu cần tôi sẽ làm. — Sẽ có một kiểu "lễ lạt" gì đó vào sáng mai. Quân đội sẽ kéo đến đông gấp đôi vì chuyện đó, nhưng có lẽ nó sẽ tạo ra chút hỗn loạn giúp ích cho chúng ta. Dù sao thì, con bé cũng...

— Mẹ kiếp, chuyến này liều lĩnh lớn rồi đây.

— Anh yêu, để em kể cho anh nghe nhiều nhất có thể về cấu trúc nơi này nhé. Phòng hờ thôi.

Và tôi đã làm thế. Vấn đề chính là, tôi không biết chính xác Sarah đang ở đâu.

— Có ai ở đó có thể giúp em không? — anh hỏi khi tôi nói xong.

— Em không dám hy vọng đâu. — Tôi khựng lại. — Này, anh có kiếm được khẩu súng nào không?

— Em đang... Đừng có mà nghĩ đến chuyện đó! Đó là cách chắc ăn nhất để đưa tất cả chúng ta lên thiên đường đấy. Anh không đấu lại lực lượng vũ trang Guatemala đâu. Và em cũng thế. Chúng ta phải dùng cách thô sơ thôi. Bóng tối và những cơn mưa, đó là những gì chúng ta tận dụng. Bọn chúng không bắn trả được đâu.

Vào khoảnh khắc đó, tôi chẳng mong gì hơn là được bắn chết Alex Goddard. Tôi sẽ làm điều đó ngay nếu có cơ hội. Rất hân hạnh là đằng khác. Nhưng tôi biết Steve đã đúng.

— Được rồi, nghe này, mấy giờ vậy?

— Bọn anh sẽ cố hạ cánh vào khoảng... —

Có tiếng rè rè khi các đi-ốt màu vàng trên điện thoại phát ra tiếng hú chói tai, cắt đứt đường dây.

Không! Chúa ơi, có ai đó đã nghe lén phải không?

Vậy chính xác là khi nào anh ấy đến? Khoảng chừng tối mịt ư? Chắc là tầm tám giờ. Hoặc có thể là chín giờ...

Tôi đang khép hộp điện thoại lại thì nghe thấy tiếng động từ bên ngoài, giống như có ai đó vừa đi qua cửa, rồi quay lại để nghe ngóng.

Được rồi. Đi thôi.

Tôi thu gom các bản in, rồi quay trở lại phòng thí nghiệm, nơi tôi dành cho những chiếc đĩa petri đang được nuôi cấy một cái nhìn thật lâu, thật dai dẳng. Có nên vứt quách chúng đi lúc này không? Nhưng rồi hắn sẽ chắc chắn biết được rằng tôi đã nắm thóp.

Thời điểm đó sẽ đến, và rất nhanh thôi.

Khi tôi nhẹ nhàng lùi trở lại phòng phẫu thuật giả đá và khép cửa lại, khung cảnh bình minh bên ngoài đang ngập chìm trong những âm thanh của rừng già, tiếng lách cách, tiếng hú và tiếng hót líu lo. Điều đó thật tốt, bởi vì tôi cần chút tiếng động hỗn tạp để che lấp những gì tôi chuẩn bị làm tiếp theo. Giành lại quyền kiểm soát.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Hoover

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.