Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN SÁU: NGƯỜI LÁI TÀU SAY VÀ NGƯỜI THUYỀN TRƯỞNG TIẾT ĐỘ
I HÒN DOUVRES

❊ ❊ ❊

Cách độ năm dặm, ngay giữa biển khơi, về phía nam Guernesey đối diện với mũi Plainmont, giữa những hòn đảo vùng biển Manche và Saint-Malo, có một nhóm đá ngầm gọi là Hòn Douvres. Đây là một địa điểm buồm thảm.

Cái tên đó, Douvre, Dover, dùng để gọi nhiều hòn ngầm và vách biển. Đáng chú ý nhất, cạnh bờ biển Bắc có một Núi Douvres trên đấy ngày nay người ta xây dựng một ngọn hải đăng, đấy là một mỏm ngầm nguy hiểm, nhưng không được lầm với hòn này.

Điểm ở nước Pháp gần Hòn Douvres nhất là mũi Bréhant. Hòn Douvres hơi cách xa bờ biển nước Pháp hơn cách hòn đảo đầu tiên của quần đảo Normand. Quãng cách từ mỏm nầm này đến Jersey gần bằng cạnh thuyền lớn của Jersey. Nếu đảo Jersey quay trên Corbière như trên bản lề, thì mũi Sainte-Catherine sẽ gần chạm vào Hòn Douvres. Quãng cách ở đây còn hơn bốn dặm.

Trên các vùng biển văn minh ấy, những hòn núi hoang dã nhất cũng ít khi vắng bóng người. Người ta gặp bọn buôn lậu ở Hagot, cánh hải quan ở Binic, người Celt ở Bréhat, dân mò trai ở Cancale, dân săn thỏ ở Césambre, hòn đảo của César, dân bắt cua ở Brecq-Hou, dân đi te ở Minquiers, dân đánh cá vược ở Écré-Hou. Tại Hòn Douvres chẳng có ai cả.

Chim biển xem đây là nhà của chúng.

Không một nơi gặp gỡ nào ghê sợ hơn. Hòn Casquets, nơi mà người ta bảo là tàu Blanche Nef đã mất tích, bãi Calvados, những mũi nhọn của đảo Wight, hòn Ronesse làm cho bờ biển Beaulieu nguy hiểm là thế, vực Préel chọn ngang lối vào Merquel và buộc phải đặt cách ba mươi sải các hải tiêu đó, những tiệm cận phản trắc Etables và Plouha, hai tế sư bằng đá hoa cương ở phía nam Guernesey, hòn Anderio lớn và hòn Anderlo con, hòn Corbière, các hòn Hanois, đảo Ras nổi tiếng hãi hùng với câu tục ngữ: Vô phúc đi tới đảo Ras, không chết mà ra, cũng run như cầy sấy, những hòn Mortes-Femmes, lối qua bãi Boue và bãi Frouquie, hòn Déroute giữa Guernesey và Jersey, hòn Hardent giữa Minquiers và Chausey, hòn Mauvais Cheval giữa Boulay-Bay và Barneville, tất cả đều không tai hại bằng. Thà lần lượt đương đầu với tất cả những bãi ngầm ấy còn hơn một lần đứng trước Hòn Douvres.

Trên toàn bộ vùng biển Manche nguy hiểm này, biển Égée của phương Tây, thì về mặt khủng khiếp chỉ có hòn ngầm Pater-Noster giữa Guernesey và Serk mới có thể sánh kịp Hòn Douvres.

Hơn nữa, từ Pater-Noster người ta có thể làm dấu hiệu; gặp tai nạn đây còn hy vọng được cứu thoát. Phía bắc nhìn thấy mũi Dicard hay d’Icare, và phía nam thấy Gros-Nez, từ Hòn Douvres chẳng nhìn thấy gì cả.

Bồn bề gió, nước, trời, mây, vô biên, không một bóng người. Đã đến Hòn Douvres thì chỉ có lạc mất đường về. Những mỏm hoa cương hình thù hung bạo gớm guốc. Khắp nơi vách núi cheo leo. Vực sâu rùng rợn không mến khách.

Ngay giữa biển khơi. Nước ở đây rất sâu. Một hòn ngầm toàn cách biệt như Hòn Douvres thường thu hút và che chở những muông thú cần xa lánh con người. Nó là một thứ thạch tâm rộng ở dưới biển, một mê cung bị chìm ngập. Ở đấy, dưới một tầm sâu mà thợ lặn cũng khó đến, có những hang, hầm, sào huyệt, những chỗ giao nhau của nhiều con đường tối mịt. Ở đấy đầy rẫy những giống vật kỳ quái. Chúng cắn xé lẫn nhau. Cua ăn cá rồi chúng lại bị ăn. Những hình thù khủng khiếp, sinh ra để mắt người không nhìn thấy sống lang thang trong chốn mịt mù ấy. Ở đấy những hình dáng mơ hồ như mõm, râu, như vòi, vây, như hàm há rộng, như vảy, móng như càng bềnh bồng, run rẩy, to lên, nhũn ra, và nhòa tan vào chất trong suốt ác hại. Từng bầy sinh vật khủng khiếp bơi lội mò mẫm, muốn làm gì thì làm. Đúng là một ổ giao long.

Ở đấy là cảnh rùng rợn lý tưởng.

Nếu có thể, bạn cứ hình dung một đám hải sâm lúc nhúc.

Nhìn vào lòng biển cả, là nhìn cảnh tượng của cõi xa lạ. Tức là nhìn vào nó từ khía cạnh khủng khiếp… Vực sâu cũng tương tự như đêm tối. Ở đây cũng có cảnh yên ngủ, ít ra là ngủ bề ngoài của lương tâm của sáng tạo. Tại đây diễn ra hoàn toàn yên ổn những tội ác vô trách nhiệm. Tại đây, trong một cảnh thanh bình ghê rợn, những phôi thai của sự sống, gần như ma quỉ, hoàn toàn như yêu quái, làm những công việc hung ác của bóng tối.

Cách đây bốn mươi năm, có hai hòn núi hình dáng kỳ dị báo hiệu từ xa cho những người qua lại trên đại dương biết sắp đến bãi ngầm Douvres. Đây là hai mõm núi thẳng đứng, nhọn và cong, đỉnh gần chạm vào nhau. Nhìn cứ tưởng như hai chiếc ngà một con voi bị chìm ngập từ dưới biển nhô lên. Có điều đấy là những chiếc ngà, cao như ngọn tháp, của một con voi to bằng một quả núi. Hai ngọn tháp thiên nhiên ấy của thành phố quái vật đen tối chỉ chừa có một lối đi ở giữa cho sóng nước tống vào. Lối đi này, ngoằn ngoèo và trên chiều dài của nó có những chỗ gấp khúc như một đoạn đường hai bức vách. Người ta gọi mấy quả núi sinh đôi này là Hòn Douvres lớn và Hòn Douvres con; một hòn cao sáu mươi piê, một hòn bốn mươi piê. Sóng nước qua lại cuối cùng đã cưa một mạch vào chân hai ngọn tháp, và tiết phân khủng khiếp ngày 26 tháng mười năm 1858 đã hất nhào một ngọn. Ngọn còn lại, ngọn bé, bị cắt cụt và mòn dần.

Một trong những hòn núi kỳ lạ trong nhóm Hòn Douvres tên là núi Thằng Người. Hiện nay hòn này vẫn còn. Thế kỷ trước một số dân chài, lạc đến bãi ngầm, đã tìm thấy trên đỉnh núi này một xác chết. Cạnh xác chết có vô khối trai sò rỗng ruột. Một người bị đắm tàu chỗ ngọn núi này, đã trú ẩn ở đấy, đã sống ở đây một thời gian bằng trai, sò và đã chết ở đây. Vì vậy mà có cái tên núi Thằng Người.

II ÍT RƯỢU CÔ-NHẮC BẤT NGỜ

Sáng thứ sáu, hôm sau ngày khởi hành của thuyền Tamaulipas tàu Durande di Guernesey.

Nó rời Saint-Malo vào lúc chín giờ.

Trời trong xanh, không có sương mù; thuyền trưởng già Gertrais Gaboureau có vẻ như đã nói lẩn thẩn.

Những việc bận rộn của Sieur Clubin chắc chắn đã làm cho ông ta gần lỡ hết việc chở hàng. Ông ta chỉ chở có mấy kiện hàng xa xỉ phẩm Paris cho các cửa hàng.

Ở Saint-Pierre-Port, ba hòm cho bệnh viện Guernesey, một hòm xà phòng vàng, một hòm nến cây, và hòm thứ ba là da đế Pháp và da cừu loại tốt. Ông ta còn chở trả lại một két đường và ba két chè thuộc thuyền hàng trước, mà hải quan Pháp đã không cho nhập. Sieur Clubin có chở một ít gia súc; chỉ mấy con bò. Số bò này buộc sơ sài ở dưới khoang.

Trên tàu có sáu hành khách, một người Guernesey, hai người Saint-Malo buôn bò, một “nhà du lịch” như thời ấy người ta gọi, một người Paris bán tư sản, có lẽ là khách du lịch buôn bán, và một người Mỹ đi chơi để phân phát sách Kinh Thánh.

Tàu Durande, không kể thuyền trưởng Clubin, có bảy trai tráng, một lái tàu, một xúc than, một thợ mộc, một nấu bếp, khi cần cũng là phụ máy, hai đốt lò và một thủy thủ nhóc con. Một trong hai người đốt lò đồng thời là thợ máy, người đốt lò - thợ máy này là một anh da đen Hà Lan rất hiền lành và rất thông minh, trốn từ nhà máy đường Surinam ra, tên là Imbrancam. Anh da đen Imbrancam hiểu biết nhiều về máy và phụ máy rất tốt. Thời gian đầu, xuất hiện đen thui thủi trong hầm lò, anh ta không ít làm cho tàu Durande có một vẻ ma quái.

Người lái tàu, sinh trưởng ở Jersey và quán tại Cotentin, tên là Tangrouille. Tangrouille thuộc gia đình quí tộc.

Điểm này đúng theo nghĩa đen của nó. Các đảo trên biển Manche cũng như nước Anh, là một đất quan giai. Ở đấy vẫn còn đẳng cấp. Các đẳng cấp bao giờ cũng có tư tưởng của mình, đấy là sức mạnh che chở của chúng. Những tư tưởng đẳng cấp ấy ở đâu cũng giống nhau, ở Ấn Độ cũng như ở Đức. Giai cấp quí tộc chiếm được địa vị nhờ cung kiếm và suy tàn vì lao động. Nó tồn tại nhờ ăn không ngồi rồi. Không làm gì cả là sống kiểu quí tộc; kẻ nào không lao động đều được quí trọng. Nghề nghiệp làm mất uy thế. Ở nước Pháp ngày xưa, chỉ những người làm nghề thủy tinh mới thuộc ngoại lệ. Vì nốc cạn chai cũng phần nào là vinh quang của cánh quý phái, nên họ xem việc làm chai không phải là mất danh giá. Trên quần đảo Manche cũng như ở Đại Anh quốc, kẻ nào muốn giữ địa vị quí tộc đều phải giàu có. Một người lao động không thể là một người quí phái. Dù trước họ có là quí phái, thì nay họ không còn như thế nữa. Một thủy thủ dòng dõi hiệp sĩ sứ quân chỉ là một thủy thủ cách đây ba mươi năm, ở Aurigny, có một anh chàng Gorges chính cống, lẽ ra anh có có quyền hưởng lãnh địa của Gorges đã bị Philippe-Auguste tịch thu, đi chân không vớt rong tảo ngoài biển. Một anh Carteret làm nghề đánh xe bò ở Serk. Một tiểu thư De Veulle, chắt của Pháp quan De Veulle lúc sinh thời làm chánh án Jersey, đã đi ở cho người viết những dòng chữ này. Ở Jersey có một người làm dạ, và ở Guernesey cũng có một người thợ giày tên là Gruchy, họ tự nhận là Grouchy và anh em thúc bá với thống chế Waterloo. Mục lục tài sản của giám mục giáo khu Coutances có ghi lại một thái ấp của Tangroville, chắc chắn có họ hàng với Talcarville, miền hạ sông Seine, là Montmorency. Vào thế kỷ thứ mười lăm, Johan de Héroudeville, cung thủ và giữ tài liệu của ngài Tangroville, vẫn cầm “áo giáp và các mã cụ khác” theo sau ngài. Tháng năm năm 1371, ở Pontorson, theo nhận xét của Bertrand Du Guesclin, “ông de Tangroville đã thi hành nhiệm vụ theo tư cách hiệp sĩ tập sự”. Ở các đảo Normandie, nếu chẳng may mà nghèo khổ là tức khắc bị loại trừ ra khỏi hàng ngũ quí tộc. Chỉ cần thay đổi trong cách phát âm là đủ. Tangroville trở thành Tangrouille, và thế là xong.

Đấy là điều đã xảy đến với người lái tàu Durande.

Tại Saint-Pierre-Port, ở Bordage, có một người bán sắt cũ tên là Ingrouille, có thể anh ta thuộc dòng họ Ingroville. Dưới triều đại Louis Le Gros, dòng họ Ingroville có ba giáo khu trong khu vực bầu cử Valognes. Một tu viện trưởng Trigan này vốn là linh mục của lãnh địa Digoville. Ngài quí tộc Digoville, nếu chẳng may sa sút, sẽ mang tên Digouille.

Tangrouille, anh chàng có lẽ là Tancarville và rất có thể là Montmorency này, có cái đức tốt xưa kia của con nhà quí tộc, nhưng lại là khuyết điểm trầm trọng đối với một người lái tàu, anh ta nghiện rượu.

Sieur Clubin vẫn nhất định giữ anh ta, và đứng ra bảo lãnh cho anh ta với Mess Lethierry.

Tangrouille không bao giờ rời khỏi tàu và ngủ ngay trên tàu.

Đêm hôm trước ngày khởi hành, lúc Sieur Clubin đến, khá khuya, tuần tra tàu vào giờ Tangrouille đang nằm trên võng của anh và đang ngủ.

Đêm khuya Tangrouille tỉnh dậy. Đấy là thói quen ban đêm của anh. Bất cứ tay nghiện rượu nào không làm chủ được mình đều có chỗ cất giấu riêng. Tangrouille cũng có chỗ giấu riêng, và anh gọi là kho lương của anh. Kho bí mật của Tangrouille ở trong khoang nước. Anh đặt nó ở đấy để không ai ngờ đến. Anh tin chắc chỗ ấy chỉ có mình anh biết. Thuyền trưởng Clubin, vốn là người tiết độ, rất nghiêm khắc. Chút ít rượu rum và rượu gin mà tay lái tàu có thể giấu thoát sự canh giữ nghiêm ngặt của thuyền trưởng, anh đều để dành trong cái xó bí mật dưới khoang nước, ở đáy một cái chậu thăm dò, và hầu như đêm nào anh cũng phải một lần gặp gỡ ái ân với cái kho lương ấy. Canh giữ thì nghiêm ngặt, chè chén thì nghèo nàn, và thường lệ những phóng túng ban đêm của Tangrouille cũng chỉ hạn chế trong vài ba ngụm lén lút tạp vội. Đôi khi kho lương còn rỗng không nữa là khác. Khuya hôm ấy Tangrouille đã tìm thấy ở đấy một chai rượu trắng bất ngờ. Niềm vui lớn, kinh ngạc lại càng lớn hơn. Cái chai này từ đâu rơi xuống cho anh? Anh không sao nhớ được mình đã đem nó xuống tàu vào lúc nào và bằng cách nào. Anh đã uống ngay lập tức. Phần nào vì phòng xa; sợ chỗ rượu ấy bị phát hiện và tịch thu. Anh đã vứt chai xuống biển. Hôm sau, lúc cầm tay lái, Tangrouille có hơi lảo đảo.

Tuy vậy anh vẫn điều khiển gần như thường lệ.

Còn Clubin thì, như ta đã biết, đã trở về ngủ ở Quán Ông Jean.

Ông ta luôn luôn thắt bên trong sơ mi một chiếc thắt lưng đi đường bằng da, trong đó ông ta để phòng độ hai mươi ghinê, và chỉ ban đêm ông ta mới bỏ nó ra. Mặt trong chiếc thắt lưng ấy, có tên ông ta, Sieur Clubin, tự tay viết trên mặt da sần sùi bằng mực dầu in, không phai.

Sáng dậy, trước khi đi, ông ta đã nhét vào trong thắt lưng cái hộp sắt đựng bảy vạn năm nghìn frăng tiền giấy, đoạn như thói quen ông ta thắt thắt lưng vào người.

III NHỮNG CÂU CHUYỆN NHÁT GỪNG

Việc khởi hành rất nhanh gọn. Một vali và túi du lịch đã đặt lên ghế hoặc đút xuống gầm, du khách đều đi xem tàu, việc mà người ta không bao giờ bỏ qua, và dường như bắt buộc vì nó quá thông thường. Hai người trong số hành khách, nhà du lịch và tay người Paris, chưa bao giờ nhìn thấy tàu hơi nước, nên khi bánh xe vừa bắt đầu quay là họ đã trầm trồ bọt sóng. Đoạn trầm trồ làn khói. Họ xem xét từng thứ một, và hầu như từng li từng tí trên boong và trong cầu boong, tất cả những dụng cụ hàng hải như vòng sắt, mấu sắt, móc sắt, bù-loong; vì chính xác và sít sao quá chúng trở thành những thứ trang sức đồ sộ bằng sắt được bão táp mạ cho một lớp gỉ ngoài. Họ đi vòng quanh khẩu đại bác báo động nhỏ buộc trên boong, “bằng xích sắt như một con chó giữ nhà”, nhà du lịch nhận xét, và “phủ áo bơlu bằng vải dầu cho khỏi lạnh”, anh người Pháp tiếp thêm. Vừa rời khỏi đất liền người ta vừa trao đổi những nhận xét thông thường về phong cảnh Saint-Malo; một hành khách đưa ra một định lý rằng những vùng tiệm cận ngoài biển thường đánh lừa con mắt, và khi cách bờ biển một dặm, không gì giống Ostende bằng Dunkerque. Thêm vào những điều nói về Dunkerque người ta nhận xét rằng hai chiếc thuyền canh sơn đỏ của nó một chiếc tên là Ruyingen và chiếc kia tên là Mardyck.

Xa xa Saint-Malo mỏng dần, rồi biến mất.

Vẻ ngoài của biển cả là một cảnh yên tĩnh bao la. Làn nước rẽ trên đại dương phía sau tàu vạch thành một con đường dài viền tua bọt sóng, kéo mãi tít tắp gần như không có chỗ nào cong.

Guernesey nằm giữa một đường thẳng kéo suốt từ Saint-Malo ở Pháp đến Exeter ở Anh. Đường thẳng ngoài biển không phải lúc nào cũng là đường hợp lý. Tuy vậy trong một chừng mực nào đó, tàu hơi nước vẫn có khả năng đi theo đường thẳng mà tàu buồm không theo được.

Biển cả, bị gió làm thêm phức tạp, là tổng hợp của nhiều sức mạnh. Một chiếc tàu là tổng hợp nhiều máy móc. Sức mạnh là những máy móc vô biên, máy móc là những sức mạnh có giới hạn. Chính giữa hai tổ chức ấy một bên vô tận, một bên thông minh đã diễn ra cuộc chiến đấu gọi là ngành hàng hải.

Trong một bộ máy, ý chí giữ vai trò đối trọng của vô biên. Vô biên cũng thế, cũng có một bộ máy. Các nguyên tố cơ bản biết việc chúng làm và đường chúng đi. Không một sức mạnh nào mù quáng cả. Con người phải rình mò các sức mạnh, và cố gắng phát hiện ra đường đi của chúng.

Trong lúc chờ đợi tìm được quy luật, cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, và trong cuộc chiến đấu ấy, ngành hàng hải bằng hơi nước là một loại chiến thắng vĩnh viễn mà thiên tài con người hằng ngày hằng giờ giành được trên các điểm của biển cả. Ngành hàng hải hơi nước có mặt đáng ca ngợi là nó buộc được tàu bè phải tuân theo kỷ luật. Nó giảm bớt sự vâng theo sóng gió và tăng thêm sự nghe theo con người.

Chưa bao giờ tàu Durande hoạt động trên biển tốt hơn ngày hôm ấy. Máy chạy thật tuyệt.

Quãng mười một giờ, gặp lúc gió mát bắc-tây bắc, tàu Durande đang ở ngoài khơi các hòn Minquiers, xả hơi rất ít, chạy bên phía tây dương buồm bên phải và bám thật sát gió. Trời luôn luôn trong xanh, êm ả. Tuy nhiên các tàu đánh cá lại lục tục quay về.

Dần dần, hình như ai cũng nghĩ đến việc quay về cảng, biển cả vắng hẳn bóng tàu bè.

Không thể nói là tàu Durande vẫn hoàn toàn đi theo đúng con đường quen thuộc của nó. Trai tráng không chút bận tâm, tin tưởng tuyệt đối vào thuyền trưởng; tuy vậy, có lẽ vì lỗi của người lái tàu, cũng có chệch hướng đôi chút. Tàu Durande hình như đi Jersey chứ không phải đi Guernesey. Sau mười một giờ một tí, thuyền trưởng điều chỉnh lại hướng, và tàu quay mũi đúng về Guernesey. Chỉ mất chút ít thì giờ. Gặp tiết ngày ngắn, việc mất thì giờ có những bất tiện của nó. Hôm ấy là một ngày nắng đẹp tháng hai.

Tangrouille, trong tình trạng anh ta, chân đứng không vững lắm mà tay cũng không lấy gì làm chắc. Kết quả dẫn đến là người lái tàu hiền lành thường chệch hướng, thành thử làm chậm tiến trình.

Gió gần như đã lặng.

Ông khách Guernesey tay cầm một cái kính viễn vọng, thỉnh thoảng lại hướng ống kính lên một đám sương mù nhỏ xam xám, bị gió kéo thong thả về cuối chân trời tây, và giống như một lớp bông nõn quấn bụi.

Thuyền trưởng Clubin vẫn mang bộ mặt khắc khổ của tín đồ thanh giáo. Ông ta dường như đang chăm chú gấp bội.

Trên tàu Durande mọi việc đều yên ổn và hầu như vui vẻ. Hành khách chuyện trò. Trên một chuyến đi biển, nhắm mắt lại người ta có thể nhận định được tình hình trời biển qua rung động của các câu chuyện. Trí óc hoàn toàn tự do của hành khách thích hợp với cảnh sóng nước thanh bình tuyệt đối.

Chẳng hạn một cuộc đối thoại như sau không thể có được nếu gặp một cảnh trời biển thật yên lặng.

- Này ông, ông nhìn xem con ruồi xanh đỏ kia xinh chưa.

- Nó bị lạc ra biển và nghỉ cánh trên tàu ấy.

- Ruồi ít mỏi cánh lắm.

- Thì nhẹ thế mà lại. Gió cứ đưa nó đi.

- Ông ạ, người ta đã cân thử một lạng ruồi, con người ta đếm và thấy là được sáu nghìn hai trăm sáu mươi tám con.

Anh chàng Guernesey cầm ống nhòm đã đến cạnh anh Saint-Malo buôn bò và câu chuyện của họ đại khái như sau:

- Giống bò Aubrac ức tròn và lực lưỡng, chân ngắn, lông vàng. Làm việc thì chậm vì chân ngắn quá.

- Về phương diện ấy, thì bò Salers ăn đứt bò Aubrac.

- Ông ạ, trong đời, tôi đã được nhìn thấy hai con bò đẹp tuyệt. Con thứ nhất, chân thấp, ức đầy, đùi chắc, háng rộng, từ gáy đến mông rất dài, bướu vai rất cao, mỡ rất nhiều, da dễ lột. Con thứ nhì, có tất cả các dấu hiệu được vỗ béo rất cẩn thận, ức to gọn, cổ khỏe, chân nhẹ, lông trắng và đỏ, đùi xệ.

- Thế thì giống Cotentin rồi.

- Đích thị, nhưng có lẽ lai bò Angus hoặc bò Suffolk.

- Ông ạ, ông tin tôi hay không tùy ý, chứ ở miền nam có những cuộc thi lừa kia đấy.

- Thi lừa?

- Thi lừa. Đúng như tôi được hân hạnh xem. Và chính những con xấu lại là những con đẹp.

- Thế thì y hệt giống la cái rồi. Chính những con xấu lại là những con tốt.

- Đúng thế. Ngựa cái Poitevine. Bụng to, chân to.

- Con la cái nổi tiếng nhất là một cái thùng tô-nô đặt trên bốn cái cột.

- Cái đẹp của súc vật không giống cái đẹp con người.

- Nhất là phụ nữ.

- Đúng đúng.

- Tôi thì tôi thấy đàn bà cần phải đẹp.

- Còn tôi thì tôi cho là đàn bà cần phải ăn mặc cho nó tử tế.

- Phải gọn gàng, sạch sẽ, chỉnh tề, chải chuốt.

- Vẻ mới toanh. Một cô con gái, là luôn luôn phải từ tiệm nữ trang bước ra.

- Tôi xin quay lại những con bò của tôi. Tôi đã thấy bán mấy con bò ấy ở chợ Thouars.

- Chợ Thouars thì tôi còn lạ gì. Cánh Bonneau ở La Rochelle và cánh Bahu, dân buôn lúa mì ở Marans, không biết ông có được nghe nói không, thường phải đến chợ ấy đấy.

Nhà du lịch và ông khách Paris nói chuyện với tay người Mỹ Kinh Thánh. Ở đây, câu chuyện cũng rôm rả như thế.

- Ông ạ - nhà du lịch nói - đây là trọng tải bất thường của thế giới văn minh, Pháp, bảy trăm mười sáu nghìn tô-nô; Đức, một triệu; Mỹ, năm triệu; Anh, năm triệu năm mươi vạn. Thêm vào đấy mươi bốn nghìn tô-nô chia cho mười bốn vạn năm nghìn chiếc tàu rải rác trên mặt nước của địa cầu.

Tay người Mỹ cắt ngang:

- Ông ạ, chính nước Mỹ có năm triệu năm mươi vạn.

- Tôi đồng ý điểm ấy - nhà du lịch nói - Ông là người Mỹ?

- Thưa ông, vâng.

- Tôi cũng đồng ý điểm ấy.

Im lặng một lúc, tay truyền giáo người Mỹ phân vân không biết có phải trường hợp nên tặng một cuốn Kinh Thánh không.

- Thưa ông - nhà du lịch nói tiếp - có thật ở Mỹ các ngài dùng biệt danh đến nỗi khoác chúng lên tất cả những bậc danh tiếng của các ngài, và các ngài gọi ông chủ ngân hàng tài ba Thomas Benton, người Missouri, là thỏi vàng cũ có phải không.

- Cũng như chúng tôi gọi Zacharie Taylor là ông già Zach.

- Và ông già Harrison là lão già Tip phải không? Và tướng Jackson là ông lão Hickory phải không?

- Vì Jackson cũng như gỗ hickory, và vì Harisson đã đánh bại người da đỏ ở Tippecanœ.

- Đây là một người Byzantine đấy.

- Đấy là mốt của chúng tôi. Chúng tôi gọi Van Buren là tay phù thủy con, Seward, người đã cho cắt xén giấy bạc là Billy con, và Douglas, thượng nghị viện bang Illinois, cao bốn piê và có tài hùng biện, là tên Khổng Lồ Nhỏ. Ông có thể đi từ Texas đến Maine mà vẫn không gặp ai nói đến tên Cass, người ta gọi là tay Misigang Lớn; cũng chẳng ai nói Clay, người ta gọi là thằng nhỏ Cối xay có sẹo, Clay là con trai một người chủ máy xay.

- Tôi lại thích nói Clay hay Cass hơn - tay người Paris nhận xét - nó ngắn gọn hơn.

- Thế thì ông không biết xử thế trong xã hội. Chúng tôi gọi Corwin, thư ký ngân hàng, là thằng nhỏ xe bò. Daniel Webster là Đăngten. Còn Vinfield Scott, đúng như tư tưởng đầu tiên của ông ta, sau khi đánh bại quân Anh ở Chippeway, đã ngồi vào bàn chúng tôi gọi ông ta; là Nhanh nhanh - một đĩa súp.

Đám mù trông thấy đàng xa đã lớn dần. Bây giờ nó chiếm một quãng chừng mười lăm độ trên chân trời. Tưởng như một dải mây là là trên mặt nước vì không có gió. Gần như không còn một tí gió nhẹ nào. Mặt biển phẳng lì. Mặc dầu không phải giữa trưa, mặt trời cũng nhợt nhạt. Nó chiếu sáng nhưng không còn sức sống.

- Tôi cho là - nhà du lịch nói - trời sắp sửa giở mặt đấy.

- Có lẽ sắp mưa - anh người Paris nói.

- Hoặc sương mù - tên người Mỹ tiếp lời.

- Ông ạ - nhà du lịch đáp - bên Italia, Molfetta là nơi ít mưa nhất, và Tolmezzo là nơi mưa nhiều nhất.

Đến giữa trưa, theo lệ thường trên quần đảo, người ta kéo chuông ăn trưa. Ai muốn ăn trưa thì ăn. Vài ba hành khách, đem theo món ăn, vui vẻ ăn trên boong. Clubin không ăn.

Vừa ăn họ vừa tiếp tục chuyện trò.

Anh chàng Guernesey, đánh hơi thấy mùi Kinh Thánh, xán đến bên tay người Mỹ. Tay người Mỹ nói:

- Ông am hiểu vùng biển này chứ?

- Tất nhiên, tôi người ở đây.

- Tôi cũng vậy - một trong hai anh Saint-Malo nói.

Anh chàng Guernssey gật đầu chào tán đồng, và lại nói.

- Lúc này chúng ta đang ở giữa biển khơi, nhưng tôi không thích gặp sương mù khi chúng ta đang đi về hướng Minquiers.

Tay người Mỹ nói với anh Saint-Malo:

- Người vùng đảo ra biển hơn người duyên hải.

- Có thế thật, dân duyên hải chúng tôi chỉ tắm có nửa người.

- Minquiers là cái gì nhỉ? - Tay người Mỹ nói tiếp.

Anh chàng Saint-Malo đáp:

- Đấy là những hòn đá rất tai ác.

- Còn những hòn Grelet nữa - anh chàng Guernesey thêm.

- Đồngý - anh Saint-Malo đáp.

- Và những hòn Choua - anh chàng Guernesey thêm.

Anh Saint-Malo phá lên cười, rồi nói:

- Nếu thế thì lại còn những hòn Sauvages nữa.

- Và những hòn Moine - anh chàng Guernesey nhận xét.

- Và hòn Canard - Anh Saint-Malo nói to.

- Thưa ông - anh chàng Guernesey lễ phép đáp lại - ông có tài đối đáp lắm.

- Thì dân Malouin vốn ma-lanh[1] mà lị.

Đáp xong, anh Saint-Malo nháy mắt.

Nhà du lịch xen vào một câu hỏi.

- Thế chúng ta có phải đi qua tất cả cái xâu đảo ấy không?

- Không, chúng ta đã bỏ chúng ở phía nam - đông nam rồi. Hiện chúng ở sau lưng chúng ta.

Anh chàng Guernesey lại nói tiếp:

- Vừa to vừa nhỏ, nhóm Grelet có năm mươi bảy ngọn.

- Còn nhóm Minquiers bốn tám - anh Saint-Malo nói.

Đến đây cuộc đối thoại tập trung giữa anh Saint-Malo và anh Guernesey.

- Thưa ngài Saint-Malo, hình như có ba hòn ngài quên không đếm.

- Tôi đếm tất.

- Từ hòn Dérée đến hòn Maître-île chứ?

- Vâng.

- Thế nhóm Maison?

- Có bảy hòn là ngài tường tận, đất đá lắm.

- Nếu không tường tận đất đá, thì đã chẳng gọi là dân Saint-Malo.

- Thật thú vị khi được nghe người Pháp lý luận.

Lại đến lượt anh Saint-Malo cúi chào và nói:

- Dãy Sauvage có ba hòn.

- Và dãy Moine có hai.

- Còn Le Canard có một.

- Le Canard lại chả là một.

- Không, vì La Suarde[2] có những bốn hòn.

- Ông gọi cái gì là La Suarde? - anh chàng Guernesey hỏi.

- Chúng tôi gọi La Suarde cái mà ông gọi là Le Choua.

- Chẳng hay ho gì mà len vào giữa Le Choua và Le Canard.

- Chỉ có chim mới len qua được.

- Và cá nữa.

- Không nhiều lắm đâu. Những lúc trời xấu, chúng đâm cả vào vách.

- Có cát trong dãy Minquiers.

- Quanh dãy Maison.

- Đó là tám hòn mà từ Jersey cũng nhìn thấy.

- Từ bãi Azette, đúng. Không phải tám, mà bảy.

- Lúc nào nước rút, người ta có thể đi dạo trong dãy Minquiers.

- Tất nhiên, có cái để mà sưu tầm.

- Thế dãy Dirouilles?

- Dãy Dirouilles chẳng có gì liên quan đến dãy Minquiers cả.

- Tôi muốn nói là nguy hiểm.

- Đấy là ở phía nam Granville.

- Người ta thấy rõ là, cũng như chúng tôi, các ông người Saint- Malo, các ông rất thích đi trên vùng biển này.

- Vâng - anh Saint-Malo đáp - với điểm khác biệt là chúng tôi nói: chúng tôi có thói quen, còn các ông thì nói: chúng tôi thích.

- Tôi là lái bò ạ.

- Ai trước đã ở Saint-Malo nhỉ?

- Surcouf.

- Một người khác kia?

- Duguay-Trouin.

Đến đây ông khách buôn người Paris xen vào.

-Duguay-Trouin à? Hắn bị người Anh bắt rồi. Hắn vừa dễ thương, vừa dũng cảm. Hắn biết cách làm đẹp lòng một cô gái Anh. Chính cô ta phá xích hộ hắn.

Đúng lúc ấy, một giọng nói oang oang hét lên:

- Mày say rượu!

IV NƠI LỘ RÕ TẤT CẢ MỌI ĐỨC TỐT CỦA THUYỀN TRƯỞNG CLUBIN

Tất cả hành khách đều ngoảnh lại.

Đấy là thuyền trường đang mắng anh lái tàu.

Sieur Clubin không hay mày tao với ai cả. Buộc lòng quát người lái tàu một câu như thế, hẳn ông phải nổi giận lắm, hay là rất muốn làm ra bộ như vậy.

Một cơn giận đúng lúc gạt bỏ hết trách nhiệm, và đôi khi chuyển đổi trách nhiệm.

Người thuyền trưởng, đứng trên boong chỉ huy, giữa hai cái trống, nhìn chằm chằm anh lái tàu. Ông ta lại rít qua kẽ răng:

- Đồ say rượu!

Anh chàng Tangrouille thật thà cúi ngay đầu xuống.

Sương mù đã tỏa rộng. Bây giờ nó chiếm gần hết nửa chân trời. Cùng một lúc nó tiến ra khắp các phía; trong sương mù có cái gì như vết dầu loang. Lớp sương mù tỏa rộng từ từ rất khó nhận thấy. Gió đẩy nó đi không vội vàng, không tiếng động. Nó dần dần chiếm đại dương. Nó từ hướng tây bắc đến và đang ở phía trước mũi tàu. Y hệt một vách biển rộng, mờ mờ và di động. Nó sừng sững trên mặt biển như một bức tường thành. Có một điểm chính xác để làn nước mênh mông chui tọt vào sương mù và biến mất.

Điểm chui vào sương mù ấy hãy còn cách xa độ nửa dặm. Nếu gió đổi chiều thì người ta có thể không bị chìm ngập trong đám mù, nhưng nó phải đổi chiều ngay tức khắc. Quãng cách nửa dặm cứ đầy dần, ngắn dần trông thấy; tàu Durande chạy, sương mù cũng chạy. Nó đến với con tàu, con tàu cũng đến với nó.

Clubin hạ lệnh tăng hơi và lái chếch sang phía đông.

Người ta sát cánh một thời gian như thế với sương mù, nhưng sương mù vẫn tiến tới. Tuy nhiên tàu vẫn đứng giữa nắng.

Vận hành như thế chỉ mất thời gian, khó lòng có kết quả. Đêm tháng hai sẽ đến rất chóng.

Anh chàng Guernesey cân nhắc lớp mù và nói với hai người Saint-Malo:

- Sương mù dày thật.

- Đúng là một thứ rác rưởi trên biển cả - một anh Saint-Malo nhận xét.

Anh Saint-Malo kia thêm:

- Thế là hỏng một chuyến đi biển.

Anh chàng Guernesey đến đứng bên cạnh Clubin.

- Thuyền trưởng Clubin ạ, tôi sợ chúng ta bị sương mù bao vây mất.

Clubin đáp:

- Tôi cũng muốn ở lại Saint-Malo, nhưng người ta cứ khuyên tôi đi.

- Ai thế?

- Một số người kỳ cựu.

- Xét cho cùng - anh chàng Guernesey lại nói - ông đi là phải. Biết đâu ngày mai chả bão? Mùa này có thể gặp những chuyện xấu hơn.

Mấy phút sau tàu Durande đi vào sương mù.

Đây là một giây lát kỳ lạ. Thình lình người phía sau không nhìn thấy người trước nữa. Một bức vách nền màu xám cắt đôi chiếc tàu.

Rồi toàn bộ chiếc tàu chúi xuống dưới lớp mù. Mặt trời còn như một vầng trăng to. Đột nhiên tất cả mọi người run cầm cập. Hành khách vội khoác ba-đờ-xuy và thủy thủ đội mũ mưa vào. Biển cả, gần như không chút gợn, mang cái vẻ đe dọa lạnh lùng của cảnh bình yên. Hình như có ngụ một ý gì đó trong cái yên tĩnh thái quá này. Tất cả mọi vật đều nhợt nhạt, tái mét, ống khói đen và làn khói đen phản lại sắc tái nhợt bao bọc chiếc tàu.

Từ phút này việc lái chếch sang hướng đông không còn mục đích nữa. Thuyền trưởng lại hướng mũi về phía Guernesey và tăng thêm hơi.

Người khách Guernesey, lò mò quanh hầm lò, bỗng nghe anh da đen Imbrabcam nói với anh bạn đốt lò. Người khách lắng tai nghe. Anh da đen nói:

- Sáng nay, giữa nắng thì chúng ta chạy chậm, bây giờ trong sương mù chúng ta lại chạy nhanh.

Người khách Guernesey quay ngay lại phía Sieur Clubin.

- Thuyền trưởng Clubin ạ, không phải là quá dè dặt đâu, nhưng ta có cho nhiều hơi quá không?

- Ông muốn thế nào kia, thưa ông? Nhất thiết phải gỡ lại thời gian bị mất do lỗi của tên lái tàu say rượu chứ.

- Đúng thế thuyền trưởng Clubin ạ.

Clubin lại tiếp thêm:

- Tôi phải đến nơi gấp. Sương mù khá nhiều, trời sẽ tối quá.

Người khách Guernesey lại tìm thấy anh Saint-Malo và nói với họ:

- Chúng ta gặp được một thuyền trưởng tuyệt vời.

Chốc chốc từng đợt mù lớn, tưởng như bị cào xơ, nặng nề đổ tới và che khuất mặt trời. Tiếp đó, mặt trời lại ló ra nhợt nhạt hơn, như bệnh hoạn. Chút ít khoảng thời gian thoáng thấy được giống như những dải không khí bẩn thỉu và vấy dầu trên một bức phông cũ của sân khấu.

Tàu Durande chạy sát vào một chiếc thuyền đáy bằng đã thận trọng thả neo. Đây là thuyền Sintai của Guernesey. Người chủ chiếc thuyền đáy bằng để ý ngay đến tốc độ tàu Durande. Ông ta thấy hình như tàu Durande cũng không đi đúng đường. Nó có vẻ chếch quá sang phía tây. Chiếc tàu mở hết tốc độ trong sương mù này khiến ông ta ngạc nhiên.

Vào quãng hai giờ chiều, sương mù dày đến nỗi người thuyền trưởng phải rời khỏi cầu nhỏ và đến cạnh anh lái tàu. Mặt trời đã tan biến, tứ phía đều là sương mù. Trên tàu Durande có một thứ bóng tối màu trắng. Người ta lướt trôi trong cảnh nhợt nhạt mờ mờ. Không nhìn thấy trời nữa, không nhìn thấy biển nữa.

Gió cũng không còn.

Cái bình nhựa thông treo ở khoanh sắt dưới cầu trống cũng không đu đưa tí nào.

Hành khách trở nên trầm lặng.

Tuy vậy, anh người Pháp vẫn lí nhí ngân nga bài hát của Béranger: Một hôm Chúa từ bi tỉnh dậy.

Một trong hai anh Saint-Malo hỏi anh ta:

- Ông từ Paris đến?

- Vâng, thưa ông. Người thò đầu ra cửa sổ.

- Người ta đang làm gì ở Paris?

- Sao chiếu mệnh của họ có lẽ đã lu mờ. - Thưa ông, ở Paris mọi chuyện đều đi quàng đi xiên hết.

- Thế thì đất cũng như trên biển.

- Quả thật chúng ta đang gặp phải một thứ sương mù chẳng ra làm sao.

- Và nó có thể gây nên tai họa.

Anh người Paris thốt lên:

- Sao lại tai họa? Vì đâu mà tai họa? Để làm gì mà tai họa! Cũng như vụ cháy Ódeon[3] thôi. Bao nhiêu gia đình phá sản khốn đốn. Có đúng thế không nào? Đây thưa ông, tôi không biết ông theo tôn giáo nào, nhưng tôi, tôi không bằng lòng.

- Tôi cũng không - anh Saint-Malo nói.

- Tất cả những gì xảy ra dưới trần này - anh chàng Paris nói tiếp - đều dẫn đến kết quả một chuyện hư hỏng. Tôi có ý nghĩ rằng không có Chúa ở đấy.

Anh Saint-Malo gãi gãi đỉnh đầu như người đang tìm hiểu. Anh chàng Paris lại tiếp tục:

- Chúa vắng mặt. Người ta cần ra một quyết định buộc Chúa phải có mặt ở nhiệm sở. Người cứ nằm ở biệt thự của Người và có quan tâm gì đến chúng ta đâu. Vì vậy mà mọi việc đi quàng đi xiên. Thưa ông bạn quí mến, rõ ràng là Chúa lòng lạnh không có mặt trong chính phủ nữa, Người đang đi nghỉ mát, và chính cha bề trên, một học sinh chủng viện nào đấy, một anh ngu dốt có đôi cánh chim sẻ nào đấy đang điều khiển mọi công việc.

Chữ chim sẻ phát âm thanh chim thẻ, một lỗi phát âm của trẻ em ngoại thanh.

Thuyền trưởng Clubin, đã đến cạnh hai người đang nói chuyện, đặt bàn tay lên vai anh chàng Paris và nói:

- Suỵt! Ông ơi, ông nên giữ mồm giữ miệng. Chúng ta đang đứng giữa biển khơi.

Không ai nói lời nào nữa.

Năm phút sau, anh chàng Guernesey, được nghe từ đầu câu chuyện, thì thầm vào tai anh Saint-Malo.

- Một thuyền trưởng mộ đạo!

Trời không mưa, vậy mà người ta cảm thấy thấm ướt. Biết được quãng đường đi chỉ là vì mỗi lúc một thêm khó chịu. Hình như người ta đang đi vào nơi sầu thảm. Sương mù tạo nên không khí im lặng trên đại dương; nó làm cho sóng nước lắng dịu và gió máy nghẹn lời. Trong cảnh im lặng ấy, tàu Durande có một vẻ gì lo âu và rầu rĩ.

Không gặp tàu bè nữa. Nếu xa xa, phía Guernesey hoặc phía Saint-Malo, có dăm ba chiếc tàu trên biển ngoài cùng sương mù, thì chúng không thể trông thấy tàu Durande chìm ngập trong sương mù, và làn khói dài của tàu, chẳng dính vào đâu cả, đối với chúng cũng như một ngôi sao chổi đen trên một nền trời trắng.

Thình lình Clubin hét lên.

- Đồ chó chết! Mày lại vừa lái bậy rồi. Mày sẽ gây hư hại cho chúng tao mất thôi. Mày đáng phải xích lại. Cút đi, đồ say rượu!

Ông ta nắm lấy cần lái.

Người lái tàu xấu hổ nấp vào đống thừng ở mũi tàu.

Anh chàng Guernesey nói:

- Thế là chúng ta được cứu thoát.

Tàu lại tiếp tục đi nhanh.

Quãng ba giờ, chân mù bắt đầu nâng lên và người ta lại trông thấy một góc biển.

- Tôi không thích cái kiểu này - anh chàng Guernesey nói.

Quả thế, mù chỉ có thể được nâng lên nhờ gió hoặc mặt trời. Nhờ mặt trời thì tốt, nhờ gió thì không tốt bằng. Vậy mà lúc này đã quá muộn, khó có mặt trời. Tháng hai, ba giờ, mặt trời đã yếu rồi. Vào giờ phút nguy biến trong ngày, mà gió lại nổi lên là điềm không đáng mong lắm. Thường thường nó là một tiền triệu của phong ba.

Vả lại nếu có gió nhẹ thì cũng khó lòng cảm thấy nó.

Clubin, mắt dán lên la bàn, tay cầm cần lái và điều khiển, nhấm nhẳng qua kẽ răng những lời sau đây, chúng vẳng đến tận tai hành khách:

- Không được để mất thì giờ. Cái thằng nát rượu này đã làm trễ chúng ta.

Hơn nữa gương mặt ông ta hoàn toàn không có chút cảm xúc nào hết.

Dưới lớp sương mù, biển cả có kém phần tù lặng. Thấp thoáng thấy dăm ba con sóng nhỏ. Một ít ánh sáng giá lạnh là là lướt trên mặt nước. Những mảnh sáng tù mù trên sóng ấy khiến cho thủy thủ phải bận tâm. Chúng cho biết cả những lỗ thủng do gió trên cao tạo ra trong lớp trần sương. Mù dâng lên, rồi lại sà xuống dày hơn. Đôi khi hoàn toàn dày đặc. Tàu bị quây chặt trong một dải núi mây mù thật sự. Thỉnh thoảng cái vòng tròn đáng sợ ấy lại hé mở như mổ gọng kìm, cho thấy một chút chân trời, rồi lại khép chặt.

Anh chàng Guernesey, tay cầm ống nhòm, đứng như lính canh ở mũi tàu.

Một khoảng trời mở ra biến mất.

Anh chàng Guernesey bỗng hốt hoảng ngoảnh lại.

- Thuyền trưởng Clubin!

- Có việc gì thế?

- Chúng ta đang hướng thẳng vào hòn Hanois.

- Ông nhầm đấy - Clubin lạnh lùng nói.

Anh chàng Guernesey nhấn mạnh.

- Tôi chắc chắn là như thế.

- Vô lý.

- Tôi vừa thấy núi ấy ở chân trời mà.

- Ở đâu?

- Kia.

- Đấy là biển khơi. Vô lý.

Và Clubin vẫn hướng tàu vào cái điểm người hành khách chỉ.

Anh chàng Guernesey lại chụp lấy ống nhòm.

Một lúc sau anh ta chạy đến phía sau lái.

- Thuyền trưởng!

- Gì thế?

- Trở buồm đi.

- Tại sao?

- Tôi cam đoan đã nhìn thấy núi rất cao và ngay kề. Đúng là Hòn Hanois Lớn.

- Ông sẽ thấy mây mù dày hơn.

- Đúng là Hòn Hanois Lớn. Trở buồm đi, trời đất ơi!

Clubin bẻ ngoặt tay lái.

V CLUBIN ĐƯỢC CA NGỢI HẾT LỜI

Một tiếng vỡ rắc rắc. Tiếng sườn tàu bị xé toang trên một bãi ngầm giữa biển khơi là một trong những tiếng động bi thảm nhất có thể nghĩ ra. Tàu Durande đứng sững lại.

Do sự đụng độ ấy, nhiều hành khách ngã lăn lông lốc trên boong tàu.

Anh Guernesey đưa tay lên trời.

- Đâm vào Hòn Hanois! Tôi đã bảo mà!

Một tiếng hét dài vang lên trên tàu.

- Chết hết thôi.

Giọng Clubin, đanh gọn, át hẳn tiếng hét.

- Không ai chết cả! Im lặng!

Bộ ngực của Imbrancam đen trùi trũi đến tận thắt lưng nhô ra khỏi cái ô vuông của buồng lò.

Anh da đen bình tĩnh nói:

- Báo cáo thuyền trưởng, nước vào. Máy sắp tắt.

Giây phút thật hãi hùng.

Việc đụng độ giống như một vụ tự sát. Giá cố tình gây nên nó cũng không khủng khiếp bằng. Tàu Durande đã lao thẳng như tấn công vào núi. Một mũi nhọn của quả núi đã đâm xộc vào tàu như một cái đinh. Hơn hai thước vuông vắn lót mặt trong tàu vỡ toác, khung mũi gãy, sườn tàu vỡ, phía trước sập. Vỏ tàu, toang hoác, uống nước biển ùng ục nghe rợn cả người. Đấy là một vết thương quyết định nạn đắm. Sức dội mạnh đến nỗi ở phía sau, lan can, khoang lái gãy gục, bung ra lủng lẳng. Đá ngầm đâm thủng đáy, và xung quanh tàu chẳng trông thấy gì ngoài lớp sương dày đặc, giờ đây gần như đen kịt. Đêm tối đang đến dần.

Tàu Durande đâm chúc đầu xuống nước. Đây là con ngựa bị con bò mộng thúc sừng vào ruột.

Nó chết rồi.

Giờ phút thủy triều lên đang bắt đầu nhận thấy trên biển cả.

Tangrouille đã giã rượu, chẳng ai say trong lúc đắm tàu cả; anh đi xuống dưới cầu boong rồi trở lên và nói:

- Báo cáo thuyền trưởng, nước tràn vào hầm tàu. Mười phút nữa nước sẽ mấp mé các cửa tròn.

Hành khách chạy trên boong, cuống cuồng, vặn tay, nhô người ra ngoài mạn tàu, nhìn vào buồng máy, làm đủ mọi động tác hãi hùng vô ích. Nhà du lịch đã ngất, Clubin đưa bàn tay ra hiệu, mọi người im lặng. Ông ta hỏi Imbrancam:

- Máy còn hoạt động được bao lâu nữa?

- Năm hoặc sau phút.

Đoạn ông ta hỏi người hành khách Guernesey:

- Lúc ấy tôi đứng lái. Ông đã quan sát núi. Chúng ta đang ở bãi nào của Hòn Hanois?

- Trên bãi Mauve. Ban nãy lúc trời lóe sáng, tôi nhận thấy rất rõ bãi Mauve.

- Nếu ở bãi Mauve - Clubin nói tiếp - thì chúng ta có Hòn Hanois Lớn bên trái, Hòn Hanois Con bên phải! Vậy là cách đất liền một hải lý.

Đám trai tráng và hành khách lắng nghe, run rẩy, lo lắng, chăm chú, mắt xoáy chặt vào người thuyền trưởng.

Làm nhẹ tàu lúc này chẳng nhằm mục đích gì cả, vả lại cũng không thể được. Muốn đổ hết hàng xuống biển, cũng phải mở cửa hông tàu và tăng thêm khả năng cho nước tống vào. Thả neo cũng vô ích; đành bó tay. Vả lại vứt neo xuống đáy biển này, xích sắt có thể mắc cứng. Vì máy không hỏng và vẫn sử dụng được chừng nào lửa vẫn chưa tắt, nghĩa là trong dăm phút nữa, người ta có thể tận dụng sức bánh xe và sức hơi nước, lùi ra và rút khỏi bãi ngầm. Trường hợp ấy, tàu sẽ đắm tức khắc. Quả núi, trong một chừng mực nào đó, đang bịt kín lỗ thủng và làm cho nước khó lọt vào. Chính nó là vật cản. Lỗ thủng một khi mở ra, sẽ không tài nào bịt được lối nước vào và có bơm cũng vô ích. Rút con dao găm ra khỏi một vết thương vào tim, là giết chết tức khắc người bị thương. Rút ra khỏi quả núi tức là chìm nghỉm.

Bò, bị ngập nước trong hầm, bắt đầu rống.

Clubin ra lệnh:

- Thả xuồng xuống biển.

Imbrancam và Tangrouille lao tới tháo dây. Số trai bạn còn lại đứng nhìn, đực ra như phỗng.

- Tất cả bắt tay vào - Clubin hét lên.

Lần này, tất cả mọi người đều răm rắp vâng lời.

Clubin thản nhiên hét tiếp bằng thứ ngôn ngữ chỉ huy cổ xưa mà thủy thủ ngày nay không sao hiểu nổi:

- Bắt tay vào. - Nếu máy trục hóc thì làm marguerite. Quay thế đủ rồi. - Hạ xuống. Đừng để poulies chập vào nhau. - Kéo xuống - Hạ mạnh hai đầu xuống. - Nhịp nhàng. - Giữ không cho mũi chúc xuống. - Cọ xát quá, - Cầm lấy dây ròng rọc. - Cẩn thận.

Xuồng đã nằm trên biển.

Cũng vào lúc ấy, các bánh xe tàu Durande dừng lại, khói hết, lò ngập.

Hành khách, tuột theo cầu thang hoặc bám vào những thùng di động, buông mình rơi vào trong xuồng hơn là trèo xuống. Imbrancam bế thốc nhà du lịch bị xỉu, đưa ông ta xuống xuồng, đoạn quay lên tàu.

Thủy thủ ùa theo hành khách. Thằng nhóc thủy thủ ngã lăn ra; người ta xéo lên cả thằng bé.

Imbrancam vội cản dòng người lại.

- Không ai được đi qua trước thằng bé.

Bằng hai cánh tay đen, anh gạt các thủy thủ ra, bế thằng nhóc lên, trao nó cho người khách Guernesey. Anh này đứng dưới xuồng, đón lấy em bé.

Cứu xong thằng nhóc, Imbrancam đứng tránh sang một bên, và nói với những người khác:

- Qua đi.

Trong khi ấy, Clubin đi vào buồng riêng và gói thành một gói sổ sách của tàu và đồ dùng. Ông ta nhấc la bàn ra khỏi hộp, giao giấy tờ, đồ dùng cho Imbrancam, la bàn cho Tangrouille, và nói với họ:

- Các anh xuống xuồng đi.

Hai người xuống. Trai tráng đã xuống trước. Xuồng đã đầy. Nước ngậm mé mạn xuồng.

- Bây giờ - Clubin nói to - các người đi đi.

- Thế thuyền trưởng?

- Tôi ở lại.

Người đắm tàu rất ít thì giờ bàn cãi và càng ít thì giờ để bịn rịn. Tuy nhiên những người đã ở trên xuồng và đã tương đối an toàn đều có một tình cảm không phải vì bản thân họ. Tất cả đều đồng thanh khẩn khoản:

- Thuyền trưởng cùng đi với chúng tôi đi.

- Tôi ở lại.

Anh chàng Guernesey vốn thông thạo biển cả, đáp:

- Thuyền trường nên nghe tôi. Ông bị mắc cạn tại Hòn Hanois. Chỉ bơi một dặm là đến được Plainnont. Nhưng thuyền chỉ có thể cập bến Rocquaine, và phải đến hai dặm. Có đá ngầm và sương mù. Xuồng này sẽ không đến được Rocquaine trước hai tiếng. Trời sẽ tối mịt. Thủy triều đang lên. Gió lạnh rồi. Sắp bão đến nơi. Chúng tôi không mong gì hơn sẽ quay lại tìm ông; nhưng nếu trời xấu thì đành chịu. Nếu ông ở lại thì chết. Ông nên đi cùng với chúng tôi.

Anh chàng Paris xen vào:

- Quả thật xuồng đã đầy và quá đầy rồi, thêm một người là thừa một người. Nhưng chúng tôi có mười ba người, đây là điềm gở cho xuồng, vậy thì bắt nó chở thêm một người vẫn hơn là mang nặng một con số. Thuyền trưởng hãy đi cùng với chúng tôi.

Tangrouille nói thêm:

- Mọi việc đều do lỗi của tôi, chứ không phải lỗi ở thuyền trưởng. Thuyền trưởng ở lại là không đúng.

- Tôi ở lại. - Clubin nói - Đêm nay tàu sẽ bị bão xé tan từng mảnh. Tôi sẽ không rời khỏi nó. Khi tàu chìm thì thuyền trưởng chết. Người ta sẽ nói về tôi: Ông ta làm tròn trách nhiệm đến hơi thở cuối cùng. Tangrouille, tôi tha thứ cho anh.

Và khoanh tay lại, ông ta hét to:

- Chú ý mệnh lệnh. Thả hết dây. Lên đường.

Xuồng chuyển động. Imbrancam đã nắm tay lái. Tất cả những bàn tay không phải chèo đều giơ thẳng về phía thuyền trưởng. Bấy nhiêu cái mồm đều hô vang:

- Hoan hổ thuyền trưởng Clubin!

- Đấy mới là một con người đáng ca ngợi - tay người Mỹ nói.

- Thưa ông - anh chàng Guernesey đáp - đấy là con người lương thiện nhất trên toàn biển cả.

Tangrouille khóc:

- Tôi mà có gan thì tôi đã ở lại với ông ấy.

Xuồng chui vào sương mù và biến mất.

Không còn nhìn thấy gì nữa.

Tiếng mái chèo vỗ nước nhỏ dần rồi tắt hẳn.

Clubin ở lại một mình.

VI MỘT NƠI SÁNG SỦA TRONG LÒNG VỰC THẲM

Khi con người kia thấy mình đứng trên quả núi ấy, dưới làn mây ấy, giữa cảnh trời nước ấy, xa mọi tiếp xúc của phồn hoa, xa mọi tiếng động của con người, bị bỏ mặc cho chết một mình giữa biển cả đang lên và đêm đen đang tới, hắn[4] bỗng cảm thấy một niềm vui sâu sắc.

Hắn đã thành công.

Hắn đang nắm chắc giấc mơ trong tay. Tấm hối phiếu dài hạn mà hắn nhận của số phận đã được thanh toán.

Đối với hắn, bị bỏ rơi là được giải thoát. Hắn đang ở trên Hòn Hanois, cách đất liền một dặm; hắn nắm trong tay bảy vạn năm nghìn frăng. Chưa bao giờ một vụ đắm tàu lại được sắp đặt tài tình hơn. Không một chút sai sót nào; quả là mọi việc đều được tiên liệu. Ngay từ ngày còn trẻ, Clubin đã có một ý nghĩ; đem lương thiện đặt lên sòng bạc cuộc đời, tạo cho mình cái tiếng liêm khiết và từ đó đứng chờ người đẹp, mặc cho cô ả vênh vang tìm cho ra bí quyết, đoán cho được thời cơ; không mò mẫm nắm cho chắc; làm một cú và chỉ một cú thôi, kết thúc bằng một mẻ, bỏ lại sau lưng một lũ ngu ngốc. Hắn quyết chỉ một lần đạt được cái mà bọn bịp bợm ngốc nghếch thất bại hai mươi lần liền, và trong khi chúng đi đến giá treo cổ thì hắn đã đạt đến chỗ giàu sang. Việc gặp gỡ Rantaine là tia sáng cho hắn. Lập tức hắn xây dựng kế hoạch. Bắt Rantaine phải mửa ra; còn những phát giác có thể có của hắn ta, thì cứ biến mất là làm cho chúng mất hiệu lực; làm sao để xem như chết rồi là cách biến mất hay nhất; muốn thế cứ đánh chìm tàu Durande. Vụ đắm tàu này rất cần thiết. Trước hết, ra đi và để lại một tiếng tốt, thế là cả cuộc đời của hắn trở thành một kiệt tác. Ai mà trông thấy Clubin trong vụ đắm tàu này cũng tưởng như được nhìn thấy một con yêu tinh, sung sướng.

Hắn đã sống suốt cả cuộc đời để có được giây phút ấy.

Toàn bộ con người hắn nói lên hai chữ: Thế chứ! Một vẻ bình thản khủng khiếp tái nhợt trên cái trán đen tối kia. Con mắt mờ đục và tưởng như có một tấm vách bên trong của hắn, trở thành sâu hoắm, dễ sợ. Sự rạo rực trong tâm hồn kia phản chiếu vào đấy.

Lòng dạ con người cũng như thiên nhiên bên ngoài, đều có điện áp của nó. Một ý nghĩ là một khí tượng; đúng vào lúc thành công, bao nhiêu suy tính chồng chất để chuẩn bị cho nó liền hé mở và phát ra một tia sáng; mang trong mình móng vuốt của điều ác và cảm thấy bên trong có một con mồi, là một hạnh phúc sáng chói; một tư tưởng xấu chiến thắng bao giờ cũng rạng rỡ lên mặt; có một số âm mưu đạt kết quả, một số mục đích thành công, một số diễm phúc hung ác, làm ẩn hiện trong mắt con người những tia sáng bi đát. Đấy là giông tố tươi vui, là bình minh đáng ngại. Nó thoát ra từ lương tâm và đã trở thành bóng tối và mây mù.

Nó soi sáng trong con người ấy.

Tia chớp ấy không giống bất cứ một thứ gì ta có thể thấy lóe sáng trên trời cao cũng như dưới trần thế.

Tên lưu manh bị dồn nén trong người Clubin bỗng bùng lên.

Clubin nhìn bóng tối mênh mông và không ghìm nổi một tiếng cười khẽ, nham hiểm.

Thế là hắn được tự do! Thế là hắn được giàu có!

Ẩn số cuối cùng hiện ra. Hắn đang giải tiếp bài toán của hắn.

Trước mắt, Clubin có đủ thì giờ. Thủy triều đang dâng, và như vậy là nó đỡ tàu Durande và cuối cùng sẽ nâng bổng nó lên. Chiếc tàu hiện đang gắn chặt vào đá ngầm; không có một nguy cơ chìm đắm nào cả. Hơn nữa phải để cho chiếc xuồng có thì giờ đi xa, có lẽ đắm nữa. Clubin hy vọng như thế.

Đứng trên tàu Durande mắc nạn, hắn khoanh tay khoan khoái hưởng việc bỏ rơi trong bóng tối mịt mù này.

Giả dối đa ba mươi năm đè nặng lên con người này. Hắn đã bất lương và đã giao cấu với chính trực. Hắn căm thù đạo đức với một mối căm hờn của bất lương được vợ. Lúc nào hắn cũng có một âm mưu gian hiểm; từ ngày đến tuổi thành nhân, hắn vẫn mang cái khung cứng nhắc gọi là vẻ ngoài. Bên trong, hắn là quái vật; hắn sống trong một bộ da lương thiện với một trái tim kẻ cướp. Hắn là tên hải tặc ngọt ngào thớ lợ. Hắn là tù nhân của lương thiện, hắn bị giam trong cái hộp xác ướp là vẻ ngây thơ, hắn mang trên lưng đôi cánh thiên thần, nặng trĩu đối với một tên vô lại. Hắn bị lòng mến chuộng của quần chúng chồng chất lên người. Được cái tiếng lương thiện thật là vất vả. Còn lao khổ nào hơn luôn luôn giữ cho nó thăng bằng, nghĩ điều ác nhưng nói điều thiện. Hắn đã là yêu quái của ngay thẳng vì hắn là bóng ma của tội ác. Điều trái ngược ấy vốn là số kiếp của hắn. Hắn đã phải khéo nhịn nhục, sống thật đoàng hoàng, ngấm ngầm sùi bọt mép, nghiến răng lại và mỉm cười. Đạo đức đối với hắn là bàn tay bóp nghẹn. Suốt đời, hắn chỉ muốn cắn cái bàn tay trên miệng hắn.

Và vì muốn cắn, hắn đã phải hôn hít bàn tay ấy.

Đã nói dối tức là đã đau khổ. Đạo đức giả là kẻ kiên trì chịu đựng hình phạt; nó vừa tính toán một chiến thắng vừa chịu đựng một cực hình. Việc mưu toan ngày đêm một điều ác kèm thêm và lượng định thêm khắc khổ, tâm địa bỉ ổi được thanh danh tuyệt vời làm gia vị, lúc nào cũng lừa gạt, không bao giờ là mình gây ảo giác, là cả một sự mệt nhọc. Với tất cả cái đen tối nghiền ngẫm trong đầu óc ấy, tạo thành vẻ ngây thơ, muốn ăn tươi nuốt sống những người tôn thờ mình, làm ra vẻ ngọt ngào, tự kiềm chế, tự khắc phục, luôn luôn giữ thế, lúc nào cũng tự theo dõi, tạo cho tội ác ngấm ngầm của mình một bộ mặt hiền lành, làm cho những đường nét dị hình của mình trở thành vẻ đẹp, với tâm địa gian ác của mình tạo thành một gương hoàn thiện, dùng dao nhọn mân mê, cho đường vào thuốc độc, giữ gìn cho động tác lịch sự, cho giọng nói dịu dàng, không nhìn bằng con mắt thật của mình, thật không gì khó khăn hơn, không gì đau khổ hơn. Cái bỉ ổi của đạo đức giả bắt đầu một cách tối tăm trong con người giả dối. Suốt cuộc đời phải uống sự gian dối của mình là một cảm giác tởm lợm. Vị ngọt ngào mà mánh khóe tạo cho tính gian ác khiến tên gian ác ghê tởm, vì nó luôn luôn buộc phải có cái vị hỗn hợp ấy trong mồm, và có những lúc tởm lợm mà tên đạo đức giả suýt mửa ra tư tưởng của hắn. Thật ghê tởm khi phải nuốt thứ dãi dớt ấy. Hãy thêm vào đấy lòng tự phụ sâu sắc. Có những giây phút kỳ quặc mà kẻ đạo đức giả lại tự đề cao mình. Trong tên giảo quyệt có một cái tôi quá mức. Sâu bọ cũng trườn bò và cũng ngóc cao đầu như rồng thiêng. Tên phản bội chẳng khác gì một bạo chúa lúng túng, chỉ có thể thực hiện ý muốn của mình bằng cách cam chịu đóng vai phụ. Đấy là nhỏ mọn có thể trở thành to lớn lạ lùng. Tên đạo đức giả là một tên khổng lồ, lùn tụt.

Clubin thành thực nghĩ rằng mình bị áp bức. Vì lý do gì hắn lại không sinh ra giàu có? Hắn cũng chẳng đòi gì hơn được cha mẹ cho mười vạn livrơ lợi tức. Tại sao hắn không được như thế? Đâu phải lỗi của hắn. Đã không cho hắn hưởng tất cả những lạc thú trên đời, tại sao lại buộc hắn phải lao động, nghĩa là phải lừa lọc, phải phản trắc, phải phá hoại? Tại sao bằng cách ấy, người ta lại đày đọa hắn chịu cái hình phạt phải xu nịnh, phải luồn cúi, chiều chuộng làm cho người khác yêu quý và kính trọng hắn, và ngày đêm mang một bộ mặt khác bộ mặt hắn? Che đậy là một sự cưỡng bách phải chịu đựng. Người ta căm thù trước kẻ mà người ta phải nói dối. Cuối cùng giờ phút đã điểm, Clubin đang trả thù.

Trả thù ai? Tất cả mọi người và tất cả mọi thứ.

Lethierry chỉ làm điều tốt cho hắn, vậy là thêm một chuyện bất bình nữa; hắn phải trả thù Lethierry.

Hắn trả thù tất cả những người mà trước mặt họ hắn phải tự ức chế. Hắn phải rửa hận mới được. Bất cứ ai nghĩ điều tốt đối với hắn đều là kẻ thù của hắn. Hắn là tù nhân của người ấy. Clubin đang được tự do. Đường ra của hắn đã mở. Người đời không thể với tới hắn. Điều mà người ta tưởng là cái chết của hắn lại là sự sống còn của hắn; nó sắp bắt đầu. Tên Clubin thật lột trần tên Clubin giả. Trong phút chốc hắn đã làm tiêu tan hết. Hắn đã dùng chân đạp Rantaine vào khoảng không, Lethierry vào chỗ phá sản, công lý con người vào đêm tối, dư luận vào sai lầm, toàn thể nhân loại ra ngoài hắn, Clubin. Hắn vừa gạt bỏ cả thiên hạ.

Còn Chúa, cái từ bốn chữ ấy, không làm hắn bận tâm mấy.

Hắn đã được tiếng ngoan đạo. Thế rồi sao nữa?

Trong tên đạo đức giả có nhiều hang hốc, hay nói đúng hơn toàn thân tên đạo đức giả là một cái hang.

Lúc Clubin vừa đứng một mình, sào huyệt của hắn liền mở ra. Hắn được một lúc khoan khoái; hắn liền thông thoáng cho tâm hồn.

Hắn mặc sức hít thở tội ác của hắn.

Bản chất gian ác hiện rõ trên bộ mặt hắn. Clubin rạng rỡ hẳn lên. Lúc này, giá đặt bên cạnh cái nhìn của hắn, thì cái nhìn của Rantaine có vẻ của một trẻ sơ sinh.

Lột bỏ mặt nạ, còn giải thoát nào dễ chịu hơn! Lương tâm hắn sung sướng được thấy mình trần truồng một cách ghê tởm, và được tự do tắm mình trong điều ác. Sự gò bó do lúc nào cũng phải kính nể mọi người, cuối cùng khiến người ta điên cuồng ham muốn chuyện vô liêm sỉ. Do đấy mà người ta đi đến một thứ khao khát những chuyện xảo trá. Trong những vực thẳm rùng rợn ít được thăm dò ấy của tâm hồn, có cuộc trưng bày tàn nhẫn và đẹp mắt nào đó, về hình ảnh tục tĩu của tội ác. Mùi vị nhạt nhẽo của thanh danh giả dối khiến người ta thèm thuồng chuyện hổ thẹn. Người ta coi thường con người quá nên cứ muốn được con người khinh bỉ. Có cái tâm trạng chán nản khi được quý trọng. Người ta thán phục sự tự do hành động khi sa đọa. Người ta thèm muốn được nhìn thấy cảnh ô trọc xiết bao thoải mái trong nhuốc nhơ. Đôi mắt buộc lòng nhìn xuống, thường phải nghiêng nghiêng liếc trộm. Không ai gần Messaline bằng Marie Alacoque[5]. Các bạn hãy xem Cadière và người nữ tu sĩ của Louviers. Clubin cũng vậy, hắn cũng đã sống, mặt che mạng. Tham vọng của hắn luôn luôn là sự vô liêm sỉ. Hắn ghen tị với cô gái giang hồ, với vầng trán đồng đen của ô nhục được chấp nhận; hắn tự cảm thấy hắn còn đĩ thõa hơn cả cô gái giang hồ, và chán chường với cái tiếng trinh bạch. Hẳn đã là Tantale[6] của vô liêm sỉ. Cuối cùng, trên hòn núi này, trong cảnh vắng vẻ này, hắn có thể sống thẳng thắn; hắn đang sống thẳng thắn. Thành thật cảm thấy mình đê tiện, ôi còn khoái cảm nào hơn! Tất cả những niềm ngây ngất có thể có được dưới địa ngục, Clubin đang hưởng thụ trong phút này, những khoản còn thiếu của việc giả dối đều được thanh toán cho hắn; đạo đức giả là một khoản ứng trước; Satan đang hoàn lại cho hắn. Clubin tự ban cho mình niềm say sưa đã không kể gì liêm sỉ, vì mọi người đã biến mất và chỉ còn có trời cao. Hắn tự nhủ: Ta là một thằng đểu giả! Và hắn thấy thỏa mãn.

Chưa bao giờ trong lương tâm của con người lại diễn ra một việc tương tự.

Khi có một tên đạo đức giả mà phụt ra thì không một núi lửa nào sánh kịp.

Hắn khoái chí là không có ai ở đấy, nhưng giá có một người nào ở đấy chắc hẳn cũng không nổi giận. Chắc hắn còn thích thú tỏ ra mình ghê tởm trước một nhân chứng nữa.

Chắc hắn vui thích được nói vào mặt nhân loại: Mày là đồ ngốc!

Việc vắng mặt con người bảo đảm cho chiến công của hắn, nhưng lại hạ bớt giá trị hắn.

Hắn chỉ có bản thân làm khán giả trước vinh quang của hắn.

Đeo cái xích trên cổ cũng có cái khoái trá của nó. Mọi người đều nhìn thấy rõ là anh đê tiện.

Buộc quần chúng phải quan sát anh tức là tỏ ra có quyền uy. Một tên tù khổ sai đứng trên bục gỗ ở ngã tư với cái vòng sắt quanh cổ là tên bạo chúa buộc mọi người phải nhìn vào hắn. Trong cái đầu đài kia có cái bệ tượng. Làm một tâm điểm hội tụ cho sự chú ý của tất cả mọi người, ôi còn chiến công nào đẹp đẽ hơn? Bắt con mắt công chúng phải nhìn là một trong những hình thức của quyền được ưu thế. Đối với những kẻ lấy điều ác làm lý tưởng, thì ô nhục là một vầng hào quang. Nhờ đó, mà người ta được cao hơn. Người ta đứng trên một cái gì đấy. Người ta chễm chệ trên ấy như một đế vương. Một cái cột mà toàn thể nhìn vào không phải không có chỗ tương tự với ngai vàng.

Bị bêu phơi, tức là được chiêm ngưỡng.

Một triều đại không ra gì tất nhiên phải có những niềm vui của cái đài bêu tù. Néron đốt cháy kinh thành La Mã, Louis XIV phản bội xứ Palatinat, vị nhiếp chính George giết dần mòn Napoléon, Nicolas mưu sát Ba Lan trước mặt văn minh, đều phải cảm thấy một chút gì trong niềm khoái lạc mà Clubin mơ tưởng. Tính chất rộng lớn của khinh bỉ tạo một vẻ vĩ đại cho kẻ bị khinh bỉ.

Bị lột mặt nạ là một thất bại, nhưng tự lột mặt nạ lại là một chiến công. Đó là niềm say sưa, là sự trơ trẽn ngạo mạn và thỏa mãn, là một sự trần truồng điên loạn miệt thị tất cả những gì trước mặt nó. Hạnh phúc tột cùng.

Những ý nghĩ ấy trong một tên đạo đức giả dường như là một mâu thuẫn, và không phải là mâu thuẫn duy nhất. Toàn bộ nhục nhã đều tùy thuộc ở đó. Mật ong mà đắng. Escobar cũng gần với hầu tước De Sade. Chứng minh: Léotade. Vì đạo đức giả là kẻ độc ác hoàn chỉnh, nên nó mang trong mình hai thái cực của tà tâm. Phía này nó là cha cố, phía kia lại là gái giang hồ. Giới tính yêu tinh của nó có hai mặt. Đạo đức giả là tên hung thần lưỡng tính khủng khiếp. Nó tự thụ thai lấy một mình. Nó tự mình sinh đẻ và tự mình biến hóa. Anh muốn nó duyên dáng ư? Cứ nhìn nó, anh muốn nó gớm ghiếc ư? Cứ xoay nó lại.

Clubin có trong người toàn bộ cái bóng tối ấy của những ý nghĩ mơ hồ. Hắn hiểu biết chúng thì ít, mà hưởng thụ chúng thì nhiều.

Những tàn lửa của địa ngục mà người ta nhìn thấy bay qua trong đêm tối, là những tư tưởng nối tiếp trong tâm hồn ấy.

Clubin đứng mơ màng một lúc như vậy, hắn nhìn cái vỏ lương thiện của hắn, với cái vẻ con rắn nhìn lớp da vừa lột của mình.

Thiên hạ đã tin vào lòng lương thiện ấy, cả hắn cũng có phần nào tin nữa.

Lần thứ hai hắn lại phá lên cười. Người ta sắp tin rằng hắn đã chết, vậy mà hắn lại giàu sang.

Người ta sắp tin là hắn không còn đường sống, vậy mà hắn lại thoát khỏi. Thần tình thay cái vố đánh vào sự ngu ngốc của thiên hạ.

Và trong sự ngu ngốc chung này lại có Rantaine. Clubin nghĩ đến Rantaine với một thái độ khinh miệt vô bờ bến. Kiểu con chồn hôi khinh miệt con hổ. Trò tạm trốn tránh ấy, đối với Rantaine thất bại, nhưng đối với hắn, Clubin lại thành công. Rantaine trơ trẽn ra đi, còn Clubin lại vênh vang biến mất. Hắn đã thay thế Rantaine nằm trên chiếc giường bất chính, và chính hắn, Clubin đang nắm được vận may.

Còn tương lai, hắn chưa có kế hoạch gì thật rõ ràng. Trong cái hộp sắt cất kín ở thắt lưng, hắn có ba tờ giấy bạc ngân hàng; điểm chắc chắn ấy đủ cho hắn lắm rồi. Hắn sẽ thay đổi họ tên. Có những nước mà sáu vạn frăng giá trị bằng sáu mươi vạn. Đi đến một trong những nơi xa xăm ấy, sống lương thiện với số tiền giật lại của tên kẻ cắp Rantaine kia, sẽ không phải là một cách giải quyết tồi. Đầu cơ, buôn bán lớn, phát triển vốn lên, thật sự trở thành triệu phú, việc ấy nữa cũng không phải là dở.

Chẳng hạn ở Costa-Rica, đang lúc bắt đầu có việc buôn cà phê đại quy mô, có thể lãi hàng tấn vàng. Để rồi xem.

Vả lại cũng không cần lắm. Việc ấy hắn còn khối thì giờ để suy nghĩ. Trước mắt, khó khăn đã làm xong. Tước đoạt Rantaine, biến mất với tàu Durande, đây là việc quan trọng. Nó đã được thực hiện xong. Khâu còn lại đơn giản thôi. Từ nay không thể có trở ngại nào nữa. Chẳng có gì phải lo sợ. Chẳng có gì có thể xảy ra. Hắn sẽ bơi vào bờ, đêm nay hắn sẽ ghé bến Plainmont, hắn sẽ leo lên vách biển, hắn sẽ đến thẳng ngôi nhà ma ám, hắn sẽ vào nhà chẳng chút gì khó nhọc nhờ cái dây nút đã giấu sẵn trong một hốc núi, hắn sẽ tìm thấy trong ngôi nhà ma ám chiếc túi du lịch đựng quần áo khô và thức ăn, ở đấy hắn có thể chờ đợi, hắn đã được biết, không đầy tám hôm chắc chắn bọn buôn lậu Tây Ban Nha, có thể là Blasquito, sẽ đến Plainmont, với một ít tiền hắn có thể nhờ đưa đến, không phải Tor-Bay như hắn đã nói với Blasco để đánh lạc hướng những phỏng đoán và đánh lừa, mà đến Pasages hay Bilbao. Từ đấy hắn sẽ đến Vera-Cruz hoặc Nouvelle-Orléans. Vả lại cũng đã đến lúc nhảy xuống biển, chiếc xuồng đã đi xa, một giờ bơi đối với Clubin chẳng nghĩa lý gì, chỉ có một dặm ngăn cách hắn với đất liền, vì hắn đang đứng trên Hòn Hanois.

Clubin đang mơ màng đến chỗ ấy thì sương mù bỗng xé toang. Ngọn núi Douvres khủng khiếp hiện ra.

VII ĐIỀU BẤT NGỜ XẢY ĐẾN

Clubin ngơ ngác, nhìn kỹ.

Đúng là hòn ngầm chơ vơ khủng khiếp.

Không thể lầm lẫn về hình dáng dị kỳ kia. Hai Hòn Douvres sinh đôi sừng sững, gớm guốc, chừa ra ở giữa như một cái bẫy, con đường hẻm của chúng. Y như cái máy chém của đại dương.

Chúng đứng ngay trước mặt. Sương mù như một tên đồng lõa, đã che phủ cho chúng.

Trong sương mù, Clubin đã đi làm đường. Mặc dầu đã tập trung toàn bộ chú ý, hắn lại gặp phải cái điều đã xảy đến với hai nhà thám hiểm lớn, với Gonzalez người tìm ra Cap Blanc, và với Fernandez người tìm ra Cap Vert. Mây mù đã làm hắn lạc đường. Hắn tưởng mây mù giúp hắn thực hiện dự định, nhưng mây mù lại có những tai họa của nó. Clubin đã đi chệch sang hướng tây và đã nhầm. Người hành khách Guernesey, tưởng nhận ra Hòn Hanois, đã quyết định đường lái cuối cùng. Clubin đã tưởng mình lao vào Hòn Hanois.

Tàu Durande, bị một tảng đá ngầm của bãi cạn chọc thủng, chỉ cách hòn Douvres có vài tầm[7].

Cách đây hai trăm sải[8], thấy có một khối hoa cương đồ sộ. Trên mặt vách lởm chởm của quả núi, người ta nhận ra mấy đường rạch và mấy chỗ mấp mô để trèo lên. Những góc thẳng của các bức tường cheo leo có góc vuông ấy khiến ta dự cảm tới một ngọn đồi trên đỉnh.

Đây là Núi Thằng Người.

Núi Thằng Người nhô cao hơn các Hòn Douvres. Mặt bằng của nó cao hơn hai chỏm nhọn không sao lên được của chúng. Mặt bằng ấy, quanh mép sụt lở, có một đầu gờ nhô ra, và một đường nét đều đặn nào đó của điêu khắc. Không thể nghĩ đến một cái gì thê lương buồn thảm hơn. Sóng từ ngoài khơi đến làm nhăn những tấm khăn bình thản của mình bên những mặt vuông của cái khúc đen ngòm đồ sộ kia, một thứ bệ dành cho những bóng ma to lớn của đêm khuya và của biển cả.

Toàn bộ cảnh vật ấy đều tù đọng. Chỉ thoang thoảng một ngọn gió trên không, chỉ hơi gợn một nếp nhăn trên sóng. Dưới bề mặt câm lặng của sóng nước người ta đoán ra cuộc sống rộng lớn chìm ngập của đáy biển.

Clubin đã từng nhìn thấy bãi ngầm Douvres từ xa.

Hắn đành phải chịu rằng hắn đang ở đấy.

Hắn không thể nào nghi ngờ.

Một thay đổi đột ngột và dễ sợ. Hòn Douvres chứ không phải Hòn Hanois. Đáng lẽ một dặm lại hóa ra năm hải lý[9]. Năm hải lý! Điều nan giải. Hòn Douvres đối với kẻ bị đắm cô đơn là giờ tận số nhãn tiền, trông thấy được, sờ thấy được. Cấm vào đất liền.

Clubin rùng mình. Hắn đã tự đặt mình vào mõm của bóng tối. Không còn chỗ trú nào khác Núi Thằng Người. Đêm nay bão có thể sẽ ập đến, và chiếc xuồng của tàu Durande, chở nặng, sẽ chìm mất thôi. Không một tin tức gì về vụ đắm tàu đến được đất liền. Người ta sẽ không biết đến cả việc Clubin bị bỏ lại trên bãi Douvres. Không còn viễn cảnh nào khác cái chết vì rét và đói. Bảy vạn năm nghìn trăng của hắn sẽ không cho hắn nổi một miếng bánh mì. Tất cả những gì hắn dàn dựng dẫn đến cái cạm bẫy này đây. Hắn chính là nhà kiến trúc cần cù của thảm họa cho hắn. Không có phương kế nào cả. Không thể có lối nào cứu thoát. Chiến thắng trở thành vực thẳm. Đáng lẽ giải thoát lại hóa ra giam giữ. Đáng lẽ tương lai thịnh đạt dài lâu, lại là cảnh lâm chung hấp hối. Trong nháy mắt, thời gian một tia chớp loáng, toàn bộ công trình của hắn đã đổ sụp. Thiên đường mơ ước của con yêu tinh ấy đã lấy lại bộ mặt thật của nó, là hầm mộ.

Trong khi ấy, gió đã nổi lên. Sương mù, bị rung chuyển, bị chọc thủng, bị giằng giật tứ phía, xô nhau từng mảnh lớn dị hình ùa về phía chân trời. Toàn bộ biển khơi lại hiện ra.

Bầy bò, mỗi lúc một bị ngập nước thêm, tiếp tục rống to trong gầm tàu.

Đêm tối đến gần, có thể là bão táp nữa.

Tàu Durande, bị triều dâng trục lên dần dần, lắc lư từ phải sang trái, rồi từ trái sang phải, và bắt đầu xoay trên hòn ngầm như trên một cái trục.

Người ta có thể cảm thấy trước giây phút một con sóng sẽ giật phăng nó ra và cuốn nó theo dòng nước.

Trời đã bớt tối hơn lúc tàu đắm. Mặc dầu giờ khắc có muộn hơn, nhưng người ta lại thấy sáng hơn. Sương mù kéo đi, đã đem theo một phần bóng tối. Phía tây quang hẳn mây. Bầu trời hoàng hôn trắng rộng. Cái ánh sáng bao la ấy chiếu sáng mặt biển.

Tàu Durande bị cạn theo chiều nghiêng từ lái đến mũi. Clubin đi lên phía sau tàu, vẫn hầu như nằm ngoài mặt nước. Hắn đăm đăm dán mắt vào chân trời.

Đặc điểm của đạo đức giả là rất ham hố ước vọng. Đạo đức giả là tên lúc nào cũng đứng chờ đợi. Đạo đức giả không phải gì khác hơn một ước vọng xấu xa ghê tởm; và thực chất của sự dối trá ấy là quyện với cái đức tốt trở thành tật xấu ấy.

Điều kỳ lạ cần phải nói là trong đạo đức giả lại có lòng tin. Tên đạo đức giả tin cậy vào một cái gì thờ ơ lạnh lùng trong vô định, cái ấy cho phép nó được làm điều ác.

Clubin nhìn lên không trung.

Hoàn cảnh thật là thất vọng, nhưng linh hồn nham hiểm ấy vẫn không thất vọng.

Hắn tự nhủ sau đợt sương mù dày này, những tàu bè nằm dưới mù giữ buồm đứng lại hoặc buông neo sẽ lại tiếp tục ra đi, và có lẽ sẽ có một chiếc nào đó đi qua ở chân trời.

Và, quả thật, một cánh buồm bỗng xuất hiện.

Nó từ phía đông đến và đi về phía tây.

Càng đến gần chiếc thuyền càng lộ rõ các chi tiết. Nó chỉ có một cột buồm và một xuồng. Buồm cái gần như nằm ngang. Đấy là một chiếc thuyền đáy bằng.

Không đầy nửa giờ nữa, nó sẽ đến khá gần Hòn ngầm Douvres.

Clubin nghĩ bụng: ta được cứu thoát rồi.

Trong một giây phút như giây phút hắn đang sống, người ta chỉ nghĩ đến chuyện sống.

Chiếc thuyền đáy bằng kia có lẽ là của nước ngoài. Biết đâu chẳng phải là một trong những thuyền buôn lậu đi đến Plainmont? Biết đâu chẳng phải chính Blasquito? Trong trường hợp ấy, không những cuộc sống được bảo toàn mà cả tài sản nữa; và việc gặp hòn ngầm Douvres, vừa thúc đẩy đoạn kết, vừa bỏ được việc chờ đợi trong ngôi nhà ma ám, vừa giải quyết được việc ly kỳ giữa biển khơi, sẽ là một tình huống may mắn.

Đầu óc đen tối kia lại hoàn toàn tin tưởng cuồng nhiệt vào kết quả.

Thật là một điều kỳ quặc, hiện tượng bọn vô lại dễ dàng nghĩ rằng thành công bao giờ cũng phải dành cho chúng.

Chỉ có một việc phải làm.

Tàu Durande, cắm vào núi, hòa bóng mình vào bóng núi, trùng với đường núi lởm chởm và chỉ như thêm vào đó một nét nhỏ, nom rất lờ mờ và lẫn mất, và trong chút ánh ngày còn rơi rớt sẽ không đủ để thu hút sự chú ý của chiếc thuyền sắp đi qua.

Nhưng một hình người đen sẫm nổi lên trên nền trắng hoàng hôn, đứng trên mặt bằng Núi Thằng Người và làm dấu hiệu tai nạn, chắc chắn sẽ được nhận thấy. Người ta sẽ cho một chiếc thuyền con tới để cứu kẻ bị đắm.

Núi Thằng Người chỉ cách có hai trăm sải. Bơi đến đây là chuyện đơn giản, trèo lên đó là chuyện dễ như chơi.

Không được bỏ phí một phút.

Đầu tàu Durande nằm trong núi, muốn nhảy xuống nước để bơi phải nhảy từ trên đuôi tàu từ điểm Clubin đang đứng.

Hắn bắt đầu thả một ống dò và biết rằng dưới đít tàu nước rất sâu. Những vỏ sò vỏ ốc li ti do mỡ bò dẫn đến vẫn y nguyên, chứng tỏ chỗ ấy có rất nhiều hang rỗng, trong đó nước luôn luôn đứng yên dù trên mặt có xao động mấy cũng vậy.

Hắn liền cởi bỏ quần áo, để lại trên boong. Quần áo thì trên chiếc thuyền đáy bằng sẽ có đủ.

Lúc đã trần truồng, hắn mới để bàn tay lên thắt lưng, thít lại, nắn nắn cái hộp sắt, đưa mắt nghiên cứu nhanh hướng phải bơi qua bãi ngầm và sóng nước để đến được Núi Thằng Người, đoạn lao đầu xuống nước, hắn lặn một hơi.

Vì rời từ cao nên hắn lặn rất sâu.

Hắn xuống rất sâu, chạm đến đáy, sờ được đáy, men theo những hòn núi dưới biển một lúc, đoạn văng mình nổi lên mặt nước.

Đúng lúc ấy, hắn bỗng cảm thấy bị nắm vào chân.

❀ ❀ ❀

[1] Ma lanh (malin): ranh mãnh, tinh khôn.

[2] Le Canard: con vịt. Trong tiếng Pháp hai quán từ le và la đều chỉ số ít.

[3] Odéon: một nhà hát danh tiếng ở Paris.

[4] Clubin đã hiện rõ nguyên hình là một tên bất lương, nên từ đây chỉ đáng gọi bằng hắn (ND).

[5] Messaline (15- 48): Nữ hoàng La Mã, vợ hoàng đế Claude nổi tiếng dâm dật và hung ác, có thể sánh như Võ Hậu ở Trung Quốc. Marie Alacoque (1647- 1699): nữ tu sĩ.

[6] Tantale: người bị hình phạt ham muốn mãi một thứ mà không bao giờ được toại nguyện.

[7] tầm (encâblure): trên 500 mét

[8] sải (brasse): độ 1,64 mét

[9] dặm (mille): có nhiều loại, dài quãng 1850 mét; hải lý (lieue).

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.