Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN MỘT: BÃI NGẦM
I NƠI KHÓ ĐẾN NAN VỀ

❊ ❊ ❊

Chiếc thuyền, bắt gặp chiều hôm trước vào những giờ phút khác nhau, tại nhiều điểm trên bờ biển Guernesey, là chiếc thuyền bầu, điều đó người ta đã đoán được. Gilliatt đã chọn dọc bờ biển cái lạch len giữa các núi đá, đấy là con đường nguy hiểm nhưng lại là lối đi thẳng. Điều duy nhất anh quan tâm là đi theo con đường ngắn nhất. Tai nạn đắm tàu không bao giờ chờ đợi, biển cả lại thúc bách, một giờ chậm trễ không thể cứu vãn được. Anh muốn đến nhanh để cứu nguy cho cỗ máy.

Hình như một trong những điều bận tâm của Gilliatt lúc rời khỏi Guernesey là làm sao để không ai chú ý. Anh theo kiểu người vượt ngục. Anh có dáng bộ gần như lẩn lút. Anh tránh bờ biển như một người cho việc đi qua Saint-Sampson và Saint-Pierre-Port là không cần thiết; anh lẳng lặng lướt đi, gần như có thể nói là anh trườn bò, dọc theo bờ biển đối diện tương đối ít người ở. Những chỗ có đá ngầm anh phải chèo; nhưng Gilliatt sử dụng mái chèo theo định luật thủy lực: đón nước thật nhẹ và thả nước thật thong thả, bằng cách đó anh có thể bơi trong bóng tối với sức mạnh tối đa và ít gây tiếng động nhất. Tưởng chừng như anh sắp làm một việc ám muội.

Sự thật là, lao đầu vào một công việc mà ai cũng bảo không thể làm được, và liều tính mạng với tất cả những nguy cơ gần như chống lại mình, anh vẫn lo có người cạnh tranh.

Trong lúc ánh sáng ngày bắt đầu xuất hiện, những con mắt xa lạ, có lẽ vẫn mở trên không, có thể nhìn thấy giữa biển khơi, tại một trong những điểm vắng vẻ nhất và hiểm nghèo nhất, hai vật tiến lại gần nhau, quãng cách ở giữa cứ nhỏ dần. Một vật, hầu như không ai thấy rõ giữa trời biển bao la, là một chiếc thuyền buồm; trong thuyền có một người, đấy là chiếc thuyền bầu trên có Gilliatt. Vật kia, bất động, khổng lồ, đen sì, có một hình thù kỳ dị trên sóng nước. Hai trụ cao nâng bổng lên không, khỏi mặt nước, một thứ sà ngang nom giống một chiếc cầu giữa hai đỉnh núi. Cái sà ngang, nhìn xa kỳ dị đến mức không sao đoán được đấy là cái gì, dính liền với hai chân. Toàn bộ giống hệt một cái cổng. Để làm gì một cái cổng giữa cảnh bốn bề lộng gió là biển cả này? Có thể nói đây là một thạch mộ khổng lồ, dựng lên giữa đại dương, do một ý muốn ngông cuồng ghê gớm, và do những bàn tay quen xây dựng những công trình tương xứng với vực thẳm. Hình dáng hung dữ đó đứng sừng sững giữa cảnh trời trong.

Ánh mai đang rõ dần phía đông; màu trắng chân trời càng tô đậm sắc đen của biển cả. Trước mặt, phía bên kia, vầng trăng đang lặn.

Hai cột trụ trên đây là hai Hòn Douvres. Cái khối nặng gắn chặt ở giữa như một thanh ngang giữa hai mạ cửa, đấy là tàu Durande.

Giữ chặt miếng mồi của mình như thế và lại nhe ra cho ta thấy, bãi ngầm này nom thật khủng khiếp; sự vật đôi khi đối với con người có một lối khoe khoang mờ ám và thù địch. Trong thái độ của những hòn núi này có ý thách thức. Nó như đang chờ đợi.

Không gì hiên ngang và ngạo mạn bằng toàn bộ cái khối ấy: chiếc tàu bị đánh bại, vực thẳm làm chủ chiến trường. Hai ngọn núi còn ròng ròng bão táp đêm qua, giống hệt những đấu thủ mồ hôi nhễ nhại. Gió đã dịu bớt, biển cả thanh bình gợn sóng, người ta đoán được dăm ba tảng đá ngầm là là trên mặt nước, trên đó bọt nước rơi xuống đẹp như những chòm lông trên mũ; từ biển khơi vẳng đến một tiếng rì rào tựa hồ tiếng ong bay. Toàn bộ đều phẳng lì, ngoài hai Hòn Douvres, đứng thẳng như hai cột đen sì. Rong tảo bám đầy mình đến một chiều cao nào đấy. Quanh sườn lởm chởm của chúng, lấp lánh như áo giáp. Dường như chúng đang sẵn sàng để tiếp tục. Người ta hiểu là ở dưới nước, chúng cắm chắc vào núi. Một sức mạnh toàn năng bi đát từ chúng toát lên.

Thông thường biển cả che giấu những miếng đòn của mình. Nó vui lòng chịu cảnh tối tăm. Bóng đen vô tận giấu kín tất cả cho nó. Rất ít khi huyền bí để lộ bí mật. Tất nhiên trong thảm họa có cái phần quái dị, nhưng với khối lượng không rõ. Biển cả vừa rõ ràng vừa bí mật; nó lẩn tránh, không muốn tiết lộ hành vi. Nó gây nên một vụ đắm, rồi che đậy ngay lại; việc nhấn chìm là việc làm nó phải hổ thẹn. Sóng biển vốn giả dối; nó giết người, lấy cắp, giấu biến đi rồi mỉm cười, không biết. Nó gầm rống, rồi lại gợi sóng lăn tăn.

Ở đây chẳng có gì tương tự thế cả. Hai Hòn Douvres, nâng bổng chiếc Durande chết lên sóng nước, có một vẻ chiến thắng. Tưởng chừng như đây là hai cánh tay quái gở từ vực sâu thò ra và chìa cho bão táp xem cái xác tàu. Na ná như tên giết người hợm hĩnh.

Thêm vào đấy khung cảnh ghê rợn thiêng liêng của giờ phút bình minh có một sắc thái vĩ đại huyền bí bao gồm chút ít còn lại của mơ màng và giây phút khởi đầu của tư tưởng. Vào thời điểm u ám ấy, vẫn lơ lửng một chút ma quái. Cái chữ H hoa to tướng do hai Hòn Douvres tạo nên, lấy tàu Durande làm gạch nối, hiện ra ở chân trời trong không khí uy nghiêm của chạng vạng.

Gilliatt mặc quần áo đi biển, sơ-mi len, bít tất len, giày đinh, va-rơ dệt kim, quần vải thô có túi, và đầu đội một loại mũ len đỏ lúc ấy trong hải quân thường dùng, mà thế kỷ trước gọi là galériennes.

Anh nhận ra ngay khu vực đá ngầm và tiến thẳng đến.

Tàu Durande hoàn toàn trái hẳn với một chiếc tàu chìm: nó là một chiếc tàu treo lơ lửng trên không.

Không có trường hợp cứu vớt nào lạ lùng hơn.

Lúc Gilliatt đến vùng nước bãi ngầm thì trời sáng rõ.

Như chúng tôi vừa nói, ở đấy biển cạn. Nước chỉ xáo động trong phạm vi hạn chế giữa hai quả núi ép lại. Đã là đường ống thì dù nhỏ hay lớn, nước cũng chỉ vỗ róc rách đều đều. Bên trong eo biển luôn luôn nổi bọt.

Gilliatt đến gần hai Hòn Douvres, rất thận trọng.

Anh thả ống dò nhiều lần.

Anh bỏ lên bờ một ít đồ đạc.

Vốn hay đi vắng nên ở nhà anh vẫn có một bộ đồ dự phòng luôn luôn sẵn sàng. Đây là một túi bích quy, một bao bột lúa mạch, một làn cá khô và thịt bò hun, một bi-đông to nước ngọt, một cái hòm Na-Uy vẽ hoa đựng vài ba chiếc sơ-mi len thô, chiếc mũ mưa, đôi xà cạp tráng nhựa đường, và một tấm da cừu mà ban đêm anh vắt thêm lên chiếc va-rơ. Rời Bû de la Rue, anh bỏ với tất cả những thứ ấy lên thuyền bầu, thêm một ổ bánh mì nóng. Vội đi, nên về dụng cụ làm việc anh chỉ đem theo mỗi cái búa thợ rèn, cái rìu to, cái rìu con, một cái cưa và một sợi thừng nút có móc. Với một cái thang kiểu ấy và cách sử dụng thang, những dốc núi hiểm trở cũng thành dễ trèo, và gặp núi non cheo leo mấy một thủy thủ giỏi vẫn tìm được những lối đi. Trên đảo Serk, người ta có thể thấy các ngư dân cảng Gosselin lợi dụng một sợi thừng nút thế nào.

Lưới, cần câu, và tất cả đồ nghề đánh cá đều nằm cả trong thuyền. Anh để chúng vào đấy theo thói quen, một cách máy móc, vì nếu phải hoàn thành dự định của mình, anh sẽ ở lại một thời gian trong một quần đảo đá ngầm, mà ở đây thì dụng cụ đánh cá cũng chẳng dùng làm gì cả.

Lúc Gilliatt ghé thuyền vào bãi ngầm thì nước biển đang xuống, hoàn cảnh rất thuận lợi. Sóng nhỏ dần để lòi ra ở chân Hòn Douvres Nhỏ vài chỗ bằng phẳng hoặc hơi dốc, gần như những đầu rầm để đỡ mặt sàn. Những diện tích ấy, chỗ hẹp chỗ rộng, xếp thành bậc cách quãng không đều dọc theo khối độc thạch thẳng đứng, kéo dài theo kiểu gờ móc nước đến tận phía dưới tàu Durande; chiếc tàu như cái bụng giữa hai quả núi. Nó bị kẹp chặt ở đấy như giữa hai gọng kìm.

Những mặt bằng ấy tiện lợi cho việc bốc dỡ và nhìn quanh. Có thể bốc dỡ tạm thời xuống đấy số đồ dự phòng mà thuyền bầu đã chở đến. Nhưng phải làm gấp vì chúng chỉ nhô lên mặt nước trong có mấy giờ thôi. Lúc triều dâng, chúng sẽ lại thụt xuống dưới bọt nước.

Gilliatt đẩy và neo chiếc thuyền bầu ngay trước những mỏm đá ấy, có mỏm bằng, có mỏm thoai thoải.

Một lớp rong rêu dày, ướt và trơn phủ kín các mỏm đá, do dốc nghiêng đây đó càng dễ trượt.

Gilliatt bỏ giày ra, nhảy chân không lên lớp rong rêu, và buộc thuyền vào một chỏm núi.

Sau đó anh cố đi thật xa trên mép gờ móc nước hoa cương hẹp, đến được phía dưới tàu Durande, ngước mắt lên và ngắm nhìn nó.

Tàu Durande bị tóm chặt, treo lơ lửng và như lắp khít vào hai ngọn núi, cách mặt nước quãng hai mươi piê. Để bắn được nó vào đấy, biển cả đã phải trải qua một cơn giận dữ điên cuồng.

Những trường hợp điên khùng như thế chẳng có gì khiến dân miền biển ngạc nhiên. Chỉ kể một ví dụ, ngày 25 tháng giêng năm 1840, trong vịnh Stora, một cơn bão tan, bằng ngọn sóng cuối cùng, đã hất tung toàn bộ một chiếc thuyền hai buồm qua xác chiến hạm La Marne bị mắc cạn, và khảm chặt nó, cột buồm cái đi trước, vào giữa hai vách núi.

Vả lại chỉ có một nửa tàu Durande cắm chặt vào hai Hòn Douvres.

Chiếc tàu, giật ra khỏi sóng, như bị cuồng phong đánh bật rễ khỏi nước. Lốc gió vặn chiếc tàu, lốc biển giữ chặt chiếc tàu, và thế là chiếc tàu bị hai bàn tay của bão táp vặn ngược chiều, đã vỡ tung như một thanh mui lợp nhà. Phần sau, với bộ máy và hai bánh xe, bị cuồng phong giận dữ cướp khỏi bọt nước và tống vào cái ngách giữa hai Hòn Douvres đã cắm chặt đến tận sà boong chính và nằm lì ra đấy. Ngọn gió quật rất mạnh; để cắm được cái nêm ấy vào giữa hai hòn núi, gió dữ đã đóng vai một chiếc vồ. Phía trước, bị gió giật bốc lên và cuốn đi, đã vỡ tung trên các mỏm đá ngầm.

Khoang tàu thủng đáy đã trút hết xuống biển những con bò chết đuối.

Một mảng to của bức vách phía trước vẫn còn bám vào phía sau và lủng lẳng ở thanh gỗ ghép trống bên trái nhờ mấy cái nẹp hỏng, có thể chặt đứt bằng đầu rất dễ.

Đây đó trong các chỗ mấp mô xa xa của khu vực đá ngầm, còn thấy những thanh gỗ, những tấm ván, những mảng buồm tơi tả, những đoạn xích sắt, đủ các thứ vụn nát, bình thản trên các mỏm đá.

Gilliatt chăm chú nhìn tàu Durande. Sống tàu như một mảng trần ngay trên đầu anh.

Chân trời, nơi mặt nước mênh mông chỉ khẽ gợn, trong vắt một màu. Vừng dương rực rỡ nhô khỏi cái vành tròn bát ngát xanh lơ.

Thỉnh thoảng một giọt nước tách khỏi các xác tàu và rơi xuống biển sâu.

II CÁC MẶT HOÀN HẢO CỦA TAI BIẾN

Hai Hòn Douvres khác nhau về hình dáng cũng như về chiều cao.

Trên Hòn Douvres Nhỏ, nhọn và cong, người ta thấy chia ra thành nhiều nhánh, từ chân đến đỉnh, những đường vân dài của một loại đá màu gạch, tương đối mềm, ngăn chia lòng khối hoa cương bằng những lớp mỏng. Trên mặt những lớp đỏ quạch này có những chỗ nứt nẻ tiện cho việc leo trèo. Một trong những kẽ nứt ấy nằm ở phía trên xác tàu một tí, đã bị sóng đánh và xói rộng đến nỗi thành như một thứ hốc, giá có đặt vào đây một bức tượng cũng được. Khối hoa cương của Hòn Douvres Nhỏ bị bào tròn ở mặt ngoài và nhẵn thín như đá thử vàng, mịn màng mà vẫn không mất phần rắn chắc. Đỉnh Hòn Douvres Nhỏ nhọn vuốt như một cái sừng. Hòn Douvres Lớn nhẵn bóng, bằng phẳng, trơn tuột, thẳng đứng, và như tạc theo đồ dạng, nguyên một khối và như bằng ngà đen. Không một lỗ thủng, không một chỗ gồ ghề, vách đá, cheo leo, không có chút gì mến khách; một tên tù khổ sai chắc cũng không thể sử dụng nó để trốn tránh, mà một con chim cũng không dùng nơi đây để làm tổ. Trên đỉnh, cũng như trên ngọn Núi Thằng Người, có một khoảng bằng; có điều khoảng bằng này không ai leo tới được.

Người ta có thể leo lên Hòn Douvres Nhỏ nhưng không thể bám trụ ở đây, người ta có thể tạm trú trên Hòn Douvres Lớn nhưng lại không tài nào leo lên được.

Sau khi nhìn qua, Gilliatt quay lại thuyền bầu, dỡ hết hàng xuống chỗ rộng nhất của gờ móc là là trên mặt nước, gói toàn bộ số hàng ít ỏi thành một bị, buộc lại bằng một miếng vải dầu, quấn thêm một dây trục hàng với cả cái khóa để kéo, đẩy cái bị ấy vào một xó núi nơi mà sóng biển không thể đến được, đoạn dùng cả chân lẫn tay, hết chỗ nhô này đến chỗ nhô khác, ôm lấy Hòn Douvres Nhỏ, bấu vào những kẽ nhỏ nhất, anh trèo lên tận tàu Durande mắc cạn trên không.

Đến ngang tầm trống, anh nhảy lên sàn tàu.

Quang cảnh trong tàu thật bi đát.

Tàu Durande có đủ tất cả vết tích của một vụ bạo hành khủng khiếp. Đây là một cuộc cưỡng hiếp rùng rợn của phong ba. Bão táp hành động như một lũ cướp biển. Không gì giống một cuộc mưu sát như một vụ đắm tàu. Mây mù, sấm sét, gió mưa, sóng nước, núi non, cả bọn đồng lõa ấy thật là ghê rợn.

Đứng trên sàn tàu hỏng nát, người ta như mơ thấy một cái gì như cảnh giậm chân tức giận của những yêu quái ngoài biển. Khắp nơi đều mang dấu vết của giận dữ. Một số đồ sắt cong queo kỳ quặc tỏ rõ là gió đã điên cuồng bẻ vặn. Quãng giữa hai sân tàu cứ y như là một thằng điên, mọi thứ đều tan vỡ.

Không con vật nào như biển cả khi xé xác một con mồi. Trong nước rất nhiều móng vuốt. Gió cắn, triều nhai, sóng biển là một cái hàm. Vừa giằng xé, vừa nghiền nát. Đại dương cũng có cú tát như sư tử.

Cảnh tan hoang của tàu Durande đặc biệt ở chỗ nó chi tiết và tỉ mỉ. Một kiểu vứt bỏ khủng khiếp. Nhiều việc như cố tình làm nên. Có thể nói: sao mà độc ác thế! Những chỗ vỡ toác của mạn thuyền bị bóc ra một cách rất nghệ thuật. Chỉ riêng gió xoáy mới có lối tàn phá như vậy. Xé nát, bẻ vặn, đấy là thích thú nhất thời của tên phá hoại khổng lồ này. Gió xoáy cũng có những lối tìm tòi của đao phủ. Các tai họa nó gây ra có vẻ như những hình phạt. Có thể nói là nó hằn thù; nó tinh vi như một tên man rợ. Nó vừa hủy diệt vừa mổ xẻ. Nó hành hạ vật đắm, nó trả thù, nó đùa bỡn; nó đưa vào đấy cái tính chất hèn mọn.

Những vùng chúng ta ở rất ít khi có gió xoáy. Càng bất ngờ, chúng càng đáng sợ. Một ngọn núi gặp trên đường đi có thể làm cho một cơn bão xoay tròn. Có thể là ngọn gió mạnh đã xoáy trôn ốc xung quanh hai Hòn Douvres, và thình lình đã chuyển thành cây nước lúc vấp phải đá ngầm, có thế mới giải thích được việc chiếc tàu bị bắn cao đến mức ấy vào những tảng đá kia. Khi gió xoáy thổi, thì đối với gió một chiếc tàu cũng chẳng nặng gì hơn một hòn đá đối với cái súng cao su.

Tàu Durande mang vết thương của một người bị chặt đôi; đấy là một thân hình mở phanh để lòi ra một đống vụn nát tương tự ruột gan. Thừng chão lềnh bềnh run rẩy, xích sắt lập cập đu đưa; các thớ thịt và gân cốt của tàu bị bóc trần, đu đưa lõng thõng. Cái gì không vỡ nát thì tung bật; những lớp bóc tán đinh thì giống những bàn chải ngựa tua tủa, tất cả đều mang vẻ điêu tàn; một cái đòn bẩy chỉ còn là một mẩu sắt, một ống dò chỉ còn là một cục chì, một đầu cừu chỉ còn là một khúc gỗ; một sợi dây buồm chỉ còn là một đoạn đay, một khúc thừng chỉ còn là một con sợi rối, một mép buồm chỉ còn là một sợi chỉ viền; khắp nơi tính chất không cần thiết thảm hại của tàn phá, không thứ gì không bị giật tung, nhổ bật nứt nẻ, gặm nhấm, uốn cong; ngấm nước, phá hủy; trong cái đống gớm guốc ấy chẳng có gì dính kết, khắp nơi rách nát; tan ra, đổ vỡ, và một cái gì không bền chắc, thuộc thể lỏng, đặc điểm của mọi thứ hỗn độn, từ những cảnh hỗn đấu của con người gọi là chiến trận, cho đến những cảnh hỗn đấu của vật chất gọi là hỗn mang. Tất cả đổ sập, tất cả tan hoang, và một dòng suối nào ván, nào bảng, nào sắt, nào cáp, nào là gỗ dừng lại bên mép chỗ sống tàu vỡ to, chỉ khẽ động cũng có thể hất hết xuống biển. Phần còn lại của cái bụng tàu xưa kia dũng mãnh, vinh quang là thế, toàn bộ phần sau lơ lửng giữa hai Hòn Douvres và có lẽ sắp rơi xuống, đều nứt nẻ chỗ này chỗ nọ qua những lỗ rộng cho ta thấy phía trong tối mò của chiếc tàu.

Bọt sóng từ dưới khạc nhổ vào cái vật khốn khổ ấy.

III BÌNH YÊN, NHƯNG KHÔNG VÔ SỰ

Gilliatt không ngờ chỉ gặp có một nửa chiếc tàu. Trong những lời chỉ dẫn cũng đã rất tỉ mỉ của ông chủ thuyền Shealtiel chẳng có điểm nào cho ngờ đến cái vết cắt đôi này của chiếc tàu. Chắc hẳn lúc xảy ra vết cắt này, dưới lớp bọt sóng dày đặc trắng xóa, đã vang lên tiếng “răng rắc ma quái” mà ông chủ thuyền Shealtiel nghe được.

Người chủ thuyền này có lẽ đã đi xa vào lúc xảy ra cơn gió cuối cùng, và cái mà ông tưởng như một làn sóng lớn chính là một cây nước. Sau đó, lúc quay lại gần để quan sát chiếc tàu mắc cạn, ông chỉ nhìn thấy được phần trước xác tàu, phần còn lại, nghĩa là cái vết cắt to đã phân đôi phần trước với phần sau, bị che khuất bởi chỗ co của bãi ngầm.

Ngoài điểm đó ra, người chủ thuyền Shealtiel đều nói chính xác cả. Vỏ tàu hỏng hết, bộ máy không việc gì.

Những chuyện tình cờ như thế vẫn thường thấy trong những vụ đắm tàu cũng như trong những vụ hỏa hoạn. Điểm hợp lý của tai họa ta không nắm được.

Những cột buồm gãy đổ xuống, ống khói cũng không bị bẻ cong; tấm sắt to đỡ cỗ máy đã giữ được nó nguyên vẹn. Lớp ván bọc bộ trống toác ra gần như cửa lá sách; nhưng qua các kẽ hở có thể nhận thấy hai cái bánh còn tốt. Chỉ thiếu vài ba cánh.

Ngoài cỗ máy, máy trục buồm to phía sau vẫn đứng vững. Nó còn đầy đủ xích và nhờ đóng chắc vào một khung gỗ thông, nó vẫn dùng được, miễn là lúc quay không làm toác mặt sàn. Mặt boong hầu như chỗ nào cũng bị oằn. Toàn bộ lớp hoành cách mô này đều lung lay.

Bù lại, đoạn vỏ tàu chui vào giữa hai Hòn Douvres vẫn tốt, như chúng tôi đã nói, và tình hình như còn chắc chắn.

Tình trạng nguyên vẹn này của bộ máy có một vẻ gì nhạo báng và thêm vào thảm họa cái tính chất châm biếm. Vô định đôi khi bộc lộ tính độc ác đen tối trong những kiểu nhạo báng chua chát như thế. Bộ máy được cứu thoát, như vậy không có nghĩa là nó không thành của vứt đi. Đại dương giữ nó lại để thong thả phá hủy nó. Trò chơi của mèo.

Nó sắp hấp hối ở đấy và tan rã từng mảnh một. Nó sẽ làm đồ chơi những trò man rợ của bọt sóng. Nó sẽ mỗi ngày một nhỏ đi, và có thể nói là tan chảy. Làm thế nào được? Mong cho cái khối máy móc và bánh răng nặng nề ấy, vừa lo lớn vừa tinh vi, phải nằm lì bất động vì trọng lực của nó, bị nộp mình cho những sức mạnh hủy hoại trong cảnh hoang vắng này, bị bãi ngầm để mặc cho sóng gió hoành hành, có thể dưới áp lực của môi trường nghiệt ngã này, thoát khỏi cảnh hủy hoại từ từ, chỉ tưởng tượng như vậy thôi hình như cũng đã là chuyện điên rồ.

Tàu Durande là tù nhân của hai Hòn Douvres.

Làm thế nào giải thoát cho nó?

Làm thế nào kéo nó ra khỏi đó?

Việc trốn thoát của một con người đã là khó nhưng vấn đề này mới thật khó khăn: việc trốn thoát của một cỗ máy!

IV SƠ BỘ XEM XÉT TẠI CHỖ

Gilliatt bị toàn những chuyện gấp rút bao vây. Tuy thế việc cấp thiết nhất là trước hết phải tìm cho ra một chỗ buộc chiếc thuyền bầu, rồi một chỗ trú cho bản thân.

Tàu Durande bị dồn bên trái nhiều hơn bên phải, trống bên phải cao hơn trống bên trái.

Gilliatt trèo lên trống bên phải. Từ đấy anh đứng nhìn xuống chân các mỏm ngầm, và mặc dầu con đường ống len giữa các mỏm núi, xếp gãy góc sau hai Hòn Douvres, có nhiều khuỷu, Gilliatt vẫn nghiên cứu được bình diện của bãi ngầm.

Anh bắt đầu bằng cuộc thám hiểm bãi ngầm.

Như chúng tôi đã chỉ rõ, Hòn Douvres giống hai đầu hồi cao đánh dấu lối vào chật hẹp của một cái ngõ len giữa những vách núi nhỏ bằng đá hoa cương, với những mặt tiền thẳng đứng. Trong những cấu tạo nguyên thủy dưới biển, không hiếm những hành lang kỳ dị như thế, hình như được đẽo gọt bằng rìu.

Con đường hẻm này, rất quanh co, không bao giờ khô cạn, cả những lúc nước xuống. Một dòng nước rất xiết luôn luôn chảy từ bên nọ qua bên kia. Tùy theo góc gió ngự trị, nhưng chỗ quanh co có thể hay hoặc dở; có lúc chúng dựng ngược sóng biển lên làm cho nó phải đổ xuống; có lúc chúng làm cho nó nổi khùng. Trường hợp sau thường gặp nhất; chướng ngại vật làm cho nước nổi giận và đẩy nó đến chỗ thái quá; bọt nước là sự thái quá của sóng biển.

Gió bão, trong những quãng thắt ấy giữa hai quả núi, cũng bị dồn ép và cũng trở nên nguy hiểm như thế. Đấy là bão táp ở trạng thái đái rắt. Ngọn gió mênh mông vẫn mênh mông và trở thành sắc nhọn. Nó vừa là chùy vừa là giáo. Nó đâm thủng đồng thời đập bẹp. Ta hãy hình dung ngọn cuồng phong trở thành gió lò.

Hai dãy núi, để chừa ở giữa một thứ đường đi của biển cả xếp thành tầng thấp dần, thấp hơn hai Hòn Douvres, và cùng chui xuống nước cách đấy một quãng. Tại đây có một đường hẻm khác. Thấp hơn con đường hẻm giữa hai Hòn Douvres, nhưng còn hẹp hơn thế nữa, đây là lối cửa phía đông của con đường ngách. Người ta đoán biết là hai sống núi kéo dài mãi và tiếp tục con đường ở dưới mặt nước, đến tận núi Thằng Người, đứng ở cuối bãi ngầm như một thành trì hình vuông.

Vả lại lúc triều xuống, và chính là lúc Gilliatt quan sát, hai dãy biển này cũng lộ ra, có đôi chỗ khô cạn, trông thấy rất rõ và đăng đối với nhau, không bị đứt đoạn.

Núi Thằng Người là ranh giới phía mặt trời mọc, và chống đỡ cho toàn bộ khối bãi ngầm ù vào hai Hòn Douvres ở phía mặt trời lặn.

Tất cả bãi ngầm, nhìn từ trên xuống, như một giải tràng hạt ngoằn ngoèo gồm toàn mỏm đá, đầu này là hai Hòn Douvres, và đầu kia là Núi Thằng Người.

Nhìn toàn bộ bãi ngầm Douvres, chẳng gì khác hơn phần nổi của hai dải hoa cương khổng lồ gần chạm nhau và nhô lên thẳng đứng như một cái mào gà, khỏi những đỉnh núi nằm dưới đáy đại dương. Bên ngoài vực thẳm thường có những hiện tượng bóc vỏ rất lớn như thế. Gió trời và sóng biển đã xé nát cái mào gà ấy thành hình lưỡi cưa. Người ta chỉ nhìn thấy phía trên; đấy là bãi ngầm. Phần nước che khuất phải lớn lắm. Cái ngõ hẹp, nơi bão táp đã ném tàu Durande vào, là quãng cách giữa những phiến núi khổng lồ kia.

Ngõ này, hình chữ chi như tia chớp, hầu như rộng đều trên tất cả các điểm. Đại dương tạo nó ra như thế. Tiếng rì rào vĩnh cửu toát lên từ những dạng đều đặn kỳ quặc ấy. Một thứ hình học thoát ra từ sóng biển.

Từ đầu này đến đầu kia đường hẻm, hai bức thành núi đối diện nhau, song song, cách nhau gần đúng với quãng cách hai cái trống tàu Durande. Giữa hai Hòn Douvres, phần loe rộng của Hòn Douvres Nhỏ, uốn cong và úp sấp đã nhường chỗ cho hai cái trống. Gặp bất cứ chỗ nào khác, trống cũng đã bị nát nhừ.

Hai mặt trong của bãi ngầm thật là gớm ghiếc. Trong việc thám hiểm cái đồng nước gọi là đại dương, khi người ta gặp những vật xa lạ của biển cả, mọi thứ đều trở nên kỳ quái và dị dạng. Những gì của con đường hẻm mà Gilliatt đứng trên các tàu có thể nhìn thấy được thật hãi hùng. Trong những khe núi hoa cương của đại dương lúc nào cũng có một hình tượng kỳ lạ của chuyến tàu đắm. Con đường hẻm giữa hai Hòn Douvres cũng có hình tượng đắm tàu rùng rợn của nó. Ôxit của núi đá đã để lại, đây đó, trên bề mặt lởm chởm, những mảnh đỏ lòm y hệt những vũng máu đông đặc. Một cái gì giống cảnh máu me rịn rỉ từ một cái bể lò mổ. Trong bãi ngầm này có nơi ướp thịt. Đá biển gồ ghề, nhiều màu khác nhau, chỗ này do sự phân hóa của những kim loại hỗn hợp lẫn với đá, chỗ kia bởi rêu mốc, bày ra nơi thì màu đỏ ghê rợn, nơi thì màu xanh lục đáng ngờ, nơi thì những vệt bùn bắn màu son, gợi lên một ý nghĩ giết người và tiêu diệt. Người ta tưởng như trước mắt là bức tường không lau chùi của một căn phòng giết người. Có thể nói là những vụ quật nát người đã để vết tích lại đấy; quả núi thẳng đứng mang một dấu vết gì đó của những cơn hấp hối chồng chất. Ở một số chỗ, cảnh tàn sát dường như còn lai láng, bức thành vẫn ướt át, và hình như không thể nào đặt ngón tay lên đấy mà lúc rút ra không vấy máu. Một chất gỉ của việc tàn sát hiện ra khắp nơi. Ở chân hai dãy núi song song hiểm trở, rải rác là là mặt nước, hoặc dưới lớp sóng, hoặc nằm khô cạn trong những chỗ xói lở, có những tảng đá tròn quái gở, hòn đỏ, hòn đen, hòn tím, giống hệt như ruột gan; tưởng đâu đấy là phổi tươi hoặc gan thối. Có thể nói nhiều cái bụng khổng lồ đã bị moi rỗng tại đây. Những vệt đỏ dài, có thể xem là những đường rịn rỉ bi thảm, chạy suốt từ trên xuống dưới dãy hoa cương.

Những cảnh tượng như thế rất thường thấy trong các hang động ngoài biển cả.

V NÓI QUA VỀ NHỮNG SỰ CỘNG TÁC BÍ MẬT

Đối với những ai, do tình cờ của các cuộc viễn du, có thể tạm thời phải ở lại trên một bãi ngầm giữa biển khơi, thì hình dạng bãi ngầm không phải là chuyện không quan hệ. Có bãi ngầm hình tháp như một đỉnh nhọn duy nhất nhô lên trên mặt nước; có bãi ngầm hình tròn, như một tảng đá tròn to; lại có bãi ngầm hành lang. Bãi ngầm hành lang là loại đáng lo ngại nhất. Không phải chỉ vì cảnh nước dập dềnh lo âu giữa các vách núi của nó, và vì những tiếng ầm ào của sóng bị ép chặt, và còn vì những tính chất khí tượng tối tăm dường như toát lên do cái thế song hành của hai quả núi giữa trùng dương. Hai phiến đá thẳng đứng ấy là một thứ pin Volta thực sự.

Bãi ngầm hành lang thường được định hướng. Hướng này rất quan trọng. Do đó trước tiên có tác động vào không khí và vào nước. Bãi ngầm hành lang tác động vào sóng, vào gió, một cách máy móc, do hình dạng của nó, và theo quy luật điện lưu do từ độ khác nhau có thể có giữa các mặt đứng của nó là những khối ghép kề nhau và tương phản.

Loại bãi ngầm này thu hút tất cả những sức mạnh điên cuồng tản mạn trong phong ba, và có một sức tập trung đặc biệt vào gió lốc.

Vì vậy, quanh các vùng đá ngầm này, bão táp có phần mãnh liệt hơn cả.

Cần phải biết rằng gió là một hiện tượng hỗn hợp. Người ta vẫn tưởng gió đơn giản; nó chẳng đơn giản tí nào. Sức mạnh ấy không những có tính chất động, mà còn mang tính chất hóa học, nó không những có tính chất hóa học, mà còn mang tính chất từ học. Trong nó có những điều không thể giải thích được. Gió vừa thuộc về điện vừa thuộc về không khí. Một số ngọn gió trùng hợp với những bình minh bắc cực. Gió ở bãi cuốn những ngọn sóng cao đến một trăm piê khiến Dumont-d’Urville phải rụng rời. Ông nói: Phòng hạm không còn biết nghe theo ai. Dưới những cơn gió mạnh của nam cực, có những cái bướu bệnh thực sự làm đại dương sưng phù, và biển cả trở nên khủng khiếp đến nỗi những người cổ sơ phải chạy trốn vào hang hốc để khỏi trông thấy biển. Gió mạnh bắc cực lại khác; trong chúng lẫn cả nước đá, nhọn như đinh ghim, và những ngọn gió bấc khó thở ấy đẩy lùi lên mặt tuyết những chiếc xe trượt của người Eskimo. Lại có những ngọn gió cháy bỏng. Đấy là gió Simoun của châu Phi, đó là đại phong Trung Quốc và gió Samie Ấn Độ. Simoun, đại phong; Samie, tưởng như đấy là tên của ma quỷ. Chúng thổi tan các đỉnh núi; một cơn bão đã làm cho núi lửa Tolucca trong suốt như gương. Ngọn gió nóng ấy, loại gió lốc đen như mực lao thẳng vào những đám mây đỏ, đã khiến cho kinh Vệ Đà có câu: Đây thần đen đến ăn cắp bò đỏ. Trong tất cả những sự việc trên đây người ta cảm thấy áp lực của hiện tượng điện bí mật.

Trong gió tràn đầy hiện tượng bí mật ấy. Biển cả cũng thế. Nó cũng phức tạp; dưới lớp sóng nước nhìn thấy được của nó, còn có những làn sóng lực mà người ta không nhìn thấy. Biển bao gồm tất cả. Trong mọi thứ hỗn độn, đại dương là thứ khó phân chia nhất và sâu sắc nhất.

Bạn hãy tìm hiểu cái mớ hỗn mang ấy xem; nó rộng lớn quá thành ra ngang bằng. Nó là cái bình chứa tất cả mọi thứ, là bầu ươm, là lò luyện thiên biến vạn hóa. Nó cóp nhặt rồi lại vung vãi, nó tích trữ rồi lại tung gieo; nó tiêu hủy rồi lại sáng tạo. Nó tiếp nhận tất cả các cống rãnh trên trần và tích tụ chúng lại. Nó thuộc thể cứng khi là núi tuyết, thể nước khi là sóng biển, thể lỏng khi là mây trời, vô hình khi là gió núi, không sờ mó được khi là khí lực. Về mặt vật chất nó là khối lượng, về mặt sức mạnh nó lại trừu tượng. Nó san bằng và điều hòa các hiện tượng. Nó thành đơn giản vì khả năng phối hợp của nó vô cùng. Trộn lẫn mãi, vẩn đục mãi, nó trở thành trong suốt. Tính hòa tan được nhiều thứ dung hợp lại thành tính thống nhất của nó. Vì có nhiều thành phần quá nên nó lại mang tính chất đồng nhất. Một giọt của nó là tất cả của nó. Vì mang nặng bão táp nên nó hóa ra cân bằng. Platon nhìn thấy các hình cầu nhảy múa, nói ra thì kỳ lạ, nhưng thực tế, trong cuộc xoay vần vĩ đại của quả đất xung quanh mặt trời, đại dương, với triều lên triều xuống của nó, là con lắc của quả đất.

Trong một hiện tượng của biển cả, thường có đủ tất cả mọi hiện tượng. Biển cả bị gió xoáy hút lên như một cái ống siphon; một cơn bão là một ống bơm; sét bắt nguồn từ nước cũng như từ không khí, trong các con tàu người ta cảm thấy có những rung chuyển ngầm, rồi một mùi lưu huỳnh từ giếng xích sắt thoát ra. Đại dương sôi sục. Ruyte nói: Quỷ đã bỏ biển cả vào trong nồi hơi của nó. Trong một số cơn bão tiêu biểu cho sự chuyển mùa, và cho sự cân bằng các sức mạnh cơ bản, các thuyền bè bị bọt nước quăng quật dường như toát ra một thứ ánh sáng, là có những tàn lửa lân tinh chạy trên thùng tàu, luôn luôn gắn liền với việc vận động đến nỗi thủy thủ cứ giơ tay cố chộp những con chim lửa ấy. Sau cơn động đất ở Lisbonne, một hơi nóng thổi về phía thành phố một ngọn lửa cao sáu mươi piê. Dao động của đại dương dính liền với rung chuyển của mặt đất.

Những năng lượng không sao đo lường nổi ấy có thể gây ra tất cả mọi chấn động. Cuối năm 1864, cách bờ biển Malabar một trăm dặm, một trong những hòn đảo Maldives đã chìm nghỉm. Nó đã chìm như một chiếc tàu. Các ngư dân ra đi buổi sáng, chiều về chẳng còn trông thấy gì nữa, có chăng chỉ nhận thấy xóm làng mờ mờ dưới biển cả, và lần này chính thuyền bè đã trông thấy nhà cửa bị đắm.

Ở châu Âu, nơi mà dường như thiên nhiên phải khuất phục văn minh, những sự kiện như thế hiếm đến mức có thể xem như không thể có. Tuy nhiên Jersey và Guernesey trước kia vẫn dính liền với nước Gaule[1], và lúc chúng tôi viết những dòng này, một hiện tượng cân phân vừa làm sập trên biên giới Anh và Scotland vách biển Thứ Nhất trong Bốn, First of the Fourth[2].

Không đâu những sức mạnh hoảng loạn ấy lại kết hợp với nhau khủng khiếp bằng ở eo biển bắc cực kỳ lạ tên là Lyse-Fjord. Lyse-Fjord là bãi ngầm quanh co đáng sợ nhất của đại dương. Ở đấy việc chứng minh được đầy đủ. Đấy là vùng biển Na Uy, phụ cận của vịnh Stavanger hiểm trở, vĩ tuyến năm mươi chín, nước biển nặng và đen, với những cơn sốt bão cách nhật. Trong vùng nước ấy, giữa cảnh hoang vắng ấy, có một con đường to tối om. Đường chẳng dành cho ai cả. Không một ai qua đấy, không một thuyền bè nào dám liều lĩnh đến đấy. Một hành lang dài mười dặm giữa hai bức tường thành cao ba nghìn piê; đấy là lối vào mở sẵn. Eo biển ấy cũng khúc khuỷu, gãy góc như tất cả các con đường dưới biển, không bao giờ thẳng, vì bị sóng nước bẻ vặn. Trong Lyse-Fjord hầu như lúc nào sóng cũng lặng, trời cũng trong, địa điểm thật rùng rợn. Gió đâu? Không thấy ở trên cao. Sét đâu? Không thấy ở trên trời. Gió đang nằm dưới biển, sấm đang nằm trong núi. Thỉnh thoảng biển động mạnh. Có những lúc, trong không khí không gợn một bóng mây, ở quãng giữa chiều cao của vách biển thẳng đứng, trên mặt biển từ một nghìn đến một nghìn rưởi piê, về phía nam nhiều hơn phía bắc, thình lình núi chuyển ầm ầm, một tia chớp bắn ra, lao tới rồi biến mất, như những thứ đồ chơi duỗi dài và thu ngắn trong bàn tay trẻ em; có những chỗ nó co hẹp và những chỗ nó xòe ra, nó đâm vào vách biển đối diện, chui vào trong túi, rồi lại thoát ra, bắt đầu lại hóa thành nhiều đầu lưỡi, chia các mũi nhọn, gặp gì cũng đánh, rồi lại bắt đầu nữa, đoạn tắt ngấm rùng rợn. Các đàn chim bay tán loạn. Chẳng gì bí mật như các loại pháo ấy từ chốn vô hình bắn ra. Núi này tấn công núi kia. Các bãi ngầm giáng sấm sét vào nhau. Cuộc chiến tranh ấy không liên quan gì đến con người. Mối hằn thù của hai bức tường thành dưới vực thẳm.

Trong Lyse-Fjord gió chuyển thành tần quang, núi đá đóng vai mây và sấm sét có lúc phụt ra như núi lửa. Eo biển kỳ lạ này là một khối pin, mà hai vách biển là những phân tử.

VI MỘT CÁI CHUỒNG CHO NGỰA

Gilliatt khá am hiểu về bãi ngầm nên không dám xem thường các Hòn Douvres. Trước hết, chúng tôi vừa nói xong, cần để chiếc thuyền bầu vào nơi an toàn.

Hai sống núi, chạy dài thành một đường hầm ngoằn ngèo phía sau hai Hòn Douvres, đây đó lại hợp với các hòn khác. Người ta đoán được những ngõ cụt, những hầm sâu tuôn vào ngõ, và dính liền với con đường hẻm chính, như cành cây dính với thân cây.

Phần dưới các mỏm ngầm phủ rong còn phần trên thì phủ rêu. Vạch rong đồng đều trên tất cả các quả núi đánh dấu mực nước triều lên và mực biển đứng. Những chỏm nhọn mà nước không lên đến nơi, đều có một lớp mạ vàng mà rêu trắng, rêu vàng sặc sỡ tạo cho đá hoa cương ngoài biển.

Một giống sò chóp nón phủ lỗ chỗ lên núi. Bệnh sâu mục của hoa cương.

Ở một số điểm khác, trong các góc lõm đầy cát nhỏ trên mặt gợn sóng do gió chứ không phải do nước, có những túm gai màu xanh lơ.

Trong những hốc ít bị bọt biển đánh, thấy có những hang nhỏ do hải đởm đục thủng. Loại nhím biển này như một quả cầu sống, vừa đi vừa lăn tròn trên đầu chông, cái bàn chải len của nó gồm đến hơn một vạn chi tiết sắp xếp và gắn liền một cách nghệ thuật. Giống hải đởm này, mà cái mồm không hiểu tại sao lại gọi là ngọn đèn của Aristote, đào vào đá hoa cương bằng năm cái răng cắn chặt vào đá, và sống trong lỗ. Những người mò cua bắt được chúng ngay trong các lỗ ấy. Họ cắt chúng ra làm đôi và ăn sống như ăn sò. Một số người còn chấm bánh mì vào thịt mềm ấy nữa. Vì vậy nó có cái tên là trứng biển.

Các đỉnh xa xa của đáy biển, nhô khỏi mặt nước những lúc triều xuống, dẫn đến tận chỗ chân núi hiểm trở Thằng Người, đến một thứ hải loan, bốn bề gần như bị bãi ngầm bịt kín. Tất nhiên ở đây có chỗ neo thuyền được. Gilliatt ngắm nghía cái tiểu loan. Nó giống như hình móng ngựa, và chỉ mở ra một phía, phía gió đông, thứ gió ít dữ nhất trong vùng. Nước bị giam hãm ở đấy và hầu như là tù đọng. Cái vịnh này dùng được. Vả lại Gilliatt cũng không được lựa chọn nhiều.

Nếu muốn lợi dụng lúc triều xuống, thì Gilliatt cần phải hành động gấp.

Hơn nữa thời tiết tiếp tục êm đềm và đẹp đẽ. Biển cả ngạo mạn lúc này đang vui vẻ.

Gilliatt lại đi xuống, xỏ lại giày, tháo dây neo, bước xuống thuyền và thẳng ra biển. Anh dùng chèo men theo phía ngoài bãi ngầm.

Đến gần Núi Thằng Người, anh ngắm kỹ lối vào tiểu loan.

Một đường vân cố định trên dòng nước lung linh, một nếp nhăn khó nhận thấy đối với bất cứ ai không phải là thủy thủ, vạch rõ lối đi.

Gilliatt nghiên cứu một lúc đường vân ấy, một đường gần như không rõ trên sóng, đoạn anh ra khơi một tí để lại cho thoải mái và đi cho đúng lạch, rồi vung mạnh mái chèo anh tiến vào tiểu loan.

Anh thả ống dò.

Địa điểm neo thuyền quả là tuyệt diệu.

Những núi ngầm đáng sợ nhất vẫn thường có những góc kín yên tĩnh như vậy. Các bến cảng tìm thấy ở bãi ngầm y hệt lòng hiếu khách của anh chàng hung dữ, chúng thành thục và chắc chắn.

Gilliatt kéo thuyền thật sát vào Núi Thằng Người, tuy vậy cũng vẫn ngoài tầm va chạm và thả cả hai neo.

Xong việc, anh khoanh tay và nhẩm tính một mình.

Thuyền đã được che chở; vậy là giải quyết xong một vấn đề; nhưng vấn đề thứ hai lại đến. Ẩn náu vào đâu bây giờ?

Có hai chỗ trú trước mắt: ngay trên thuyền bầu với cái góc ca-bin tạm ở được của nó, và ngọn núi Thằng Người, cũng dễ để trèo.

Từ cả hai chỗ trú đó, lúc nước thấp có thể nhảy từ tảng núi này sang tảng núi nọ, đến được quãng giữa hai Hòn Douvres, nơi tàu Durande mắc kẹt mà chân vẫn gần như khô.

Nhưng nước chỉ xuống một lúc thôi, và toàn bộ thời gian còn lại ta sẽ bị ngăn cách hoặc với chỗ trú, hoặc với các tàu, đến hơn hai trăm sải. Bơi giữa bãi ngầm rất khó; chỉ hơi có sóng là không thể được.

Đành phải bỏ thuyền bầu và Núi Thằng Người. Không thể có một chỗ đứng nào trong các hòn núi xung quanh.

Các mỏm núi bên dưới mỗi ngày hai lần đều chìm ngập dưới mặt nước triều cao.

Các mỏm núi phía trên luôn luôn bị bắn bọt nước. Một kiểu quét dọn đuổi khách.

Chỉ còn lại bản thân cái xác tàu.

Có thể ăn ở trên ấy không?

Gilliatt hy vọng như thế.

VII MỘT PHÒNG RIÊNG CHO KHÁCH

Nửa giờ sau, quay về xác tàu, Gilliatt hết lên lại xuống, từ boong đến cầu boong, rồi từ cầu boong xuống hầm tàu, đi sâu thêm vào cuộc nghiên cứu sơ bộ của lần quan sát thứ nhất.

Nhờ cái máy trục buồm, anh đã kéo lên boong tàu Durande cái ba lô mà anh đã đưa đến bằng thuyền bầu. Máy trục vẫn còn tốt. Các đòn lái vẫn đủ cả. Trong cái đống đổ nát ấy Gilliatt chỉ cần lựa chọn.

Trong mớ đồ còn vương lại, anh thấy có một cái đục sắt, chắc ở thùng thợ mộc rơi ra, anh liền bỏ thêm vào thùng dụng cụ nhỏ bé của anh.

Ngoài ra, anh còn con dao con trong cái túi, vì trong cảnh thiếu thốn mọi vật đều có giá trị.

Gilliatt làm việc suốt ngày trên xác tàu, thu dọn, củng cố, bỏ bớt.

Tối đến, anh nhận ra một điều:

Toàn bộ xác tàu đều rung chuyển khi có gió. Mỗi bước Gilliatt bước đi, giàn tàu lại run rẩy. Đứng vững và còn chắc chắn chỉ có phần vỏ tàu, chẹt vào giữa hai Hòn Douvres, vẫn chứa đựng cỗ máy. Ở đấy các rường tàu chống chắc vào vách đá hoa cương.

Dọn vào trong tàu Durande là dại dột. Vì như vậy lại thêm một quá tải, và không những không đè nặng lên tàu mà cần phải giảm nhẹ cho nó.

Dựa vào xác tàu là trái ngược với điều cần phải làm.

Cái đống đổ nát này muốn người ta hết sức gượng nhẹ. Y như một bệnh nhân đang thở ra. Đã có khá nhiều gió máy hành hạ nó rồi.

Buộc phải làm việc ở đấy là bực mình rồi. Khối lượng công việc mà xác tàu cần chịu đựng chắc chắn sẽ làm nó mệt mỏi, có lẽ quá sức của nó.

Ngoài ra, nếu có một tai nạn nào xảy đến, giữa lúc Gilliatt ngủ, ở trong xác tàu tức là chết chìm với với tàu. Không có ai giúp đỡ cả; tất thảy đều vô vọng. Muốn cứu cái xác tàu, phải ở bên ngoài.

Ở bên ngoài và ở gần xác tàu, vấn đề là ở chỗ ấy.

Khó khăn càng thêm phức tạp.

Tìm đâu ra một chỗ trú trong hoàn cảnh thế này?

Gilliatt ngẫm nghĩ.

Chỉ còn có hai Hòn Douvres. Hình như ít có khả năng ở được ấy.

Từ dưới người ta nhận thấy trên ngọn đồi cao của Hòn Douvres Lớn hình như có một loại bướu.

Những quả núi đứng đỉnh bằng, như Hòn Douvres Lớn và Núi Thằng Người, là những ngọn núi nhọn bị phạt đầu. Chúng rất nhiều trong các dãy núi và ngoài đại dương. Một số quả núi, nhất là những quả gặp ở ngoài khơi, có những vết chém giống như cây bị phạt. Chúng có vẻ như bị một nhát rìu. Đúng là chúng phải chịu đựng sự tung hoành của cuồng phong, gã tiều phu của biển cả.

Lại có những nguyên nhân chấn động khác, sâu sắc hơn nữa. Vì vậy mà thấy biết bao vết thương trên tất cả những hòn hoa cương già cỗi ấy. Một vài anh khổng lồ ấy bị chặt mất đầu.

Đôi khi cái đầu ấy, không thể giải thích được tại sao, vẫn không rơi xuống, và vẫn lủng lẳng trên cái đỉnh bị phạt ngang. Điểm kỳ quặc ấy không phải là hiếm. Hòn Roque-au-Diable ở Guernesey, và Hòn Cái Bàn trong vịnh Anweiler, cho ta thấy điều bí ẩn kỳ dị này của địa chất trong những hoàn cảnh phi thường nhất.

Đối với Hòn Douvres Lớn có thể cũng đã xảy ra một sự việc tương tự.

Nếu chỗ phình trông thấy ở trên ngọn đồi không phải là một bướu đá tự nhiên, thì nhất thiết đó là một đoạn còn lại của cái đỉnh đổ nát.

Có lẽ trong tảng đá ấy có một lỗ hổng.

Một cái lỗ để chui rúc; Gilliatt không yêu cầu gì hơn.

Nhưng làm thế nào lên được mặt đồi? Làm sao trèo được lên trên cái vách thẳng đứng kia, khít, nhẵn như một hòn cuội, gần phủ kín bằng một lớp ti tảo nhầy nhụa, và có vẻ trơn chuội của một mặt phẳng xoa xà phòng?

Từ boong tàu Durande lên đến mép đồi ít ra cũng phải ba mươi piê.

Gilliatt rút ở thùng dụng cụ ra sợi thừng nút, ngoắc vào thắt lưng bằng cái móc, và bắt đầu leo lên ngọn Douvres Nhỏ. Càng lên cao, càng khó trèo. Anh đã lười cởi giày thành thử càng khó leo. Lên đến đỉnh không phải là không vất vả. Đến đỉnh, anh đứng thẳng người lên. Ở đấy chỉ đủ chỗ đặt hai bàn chân. Thật khó lấy đấy làm chỗ trú. Dù một ẩn sĩ đầu trụ[3] có bằng lòng như thế thì Gilliatt, khó tính hơn, cũng muốn được hơn thế.

Hòn Douvres Nhỏ cong về phía Hòn Lớn, thành thử đứng xa tưởng như nó cúi chào Hòn Lớn; quãng cách giữa hai Hòn Douvres, ở dưới rộng quãng hai mươi piê, ở trên chỉ còn độ tám hay mười piê.

Từ đỉnh núi, chỗ anh vừa trèo lên, Gilliatts nhìn thấy rõ hơn cái bướu núi, nó phủ hết một phần mặt bằng của Hòn Douvres Lớn.

Mặt bằng này nhô cao hơn đầu anh ít nhất quãng sáu mét. Một vực thẳm ngăn cách anh với nó.

Phần cheo leo nhô xiên ra ngoài của Hòn Douvres Nhỏ khuất kín dưới chân anh.

Gilliatt tháo sợi thừng nút ở cái thắt lưng ra, lấy mắt ước lượng nhanh chiều dài, và ném cái móc lên mặt bằng.

Móc cào vào núi đá, rồi trượt xuống. Sợi thừng nút, có cái móc ở cuối, rơi xuống chân Gilliatt dọc theo Hòn Douvres Nhỏ.

Gilliatt bắt đầu lại, ném sợi dây xa hơn, nhằm vào cái bướu hoa cương, nơi anh nhìn thấy có những lỗ hổng và những đường rãnh.

Lần ném này tài tình, gọn gàng đến nỗi cái móc bám chặt. Gilliatt kéo mạnh.

Gilliatt ném cái móc một lần thứ ba.

Tảng đá vỡ, sợi thừng nút trở về đập vào vách núi cheo leo dưới chân Gilliatt.

Gilliatt ném cái móc một lần thứ ba.

Móc không rơi xuống nữa. Gilliatt cố sức kéo mạnh sợi thừng. Thừng giằng lại. Móc đã neo chặt.

Nó móc vào một chỗ mấp mô nào đó của mặt đồi mà Gilliatt không thể nhìn thấy.

Đành phó mặc cuộc sống cho điểm tựa chưa từng biết này vậy.

Gilliatt không chút do dự.

Mọi việc đều thúc bách. Phải đi cách nào ngắn nhất.

Và trở xuống boong tàu Durande để tính đến một phương kế nào khác hầu như không thể được. Có thể trượt chân, và gần như chắc chắn sẽ ngã. Người ta trèo lên, chứ không ai lần xuống.

Cũng như tất cả các thủy thủ giỏi, Gilliatt có những động tác rất chính xác. Anh không bao giờ phí phạm sức lực. Anh chỉ bỏ sức ra một cách vừa phải. Nhờ vậy mà với những cơ bắp bình thường, anh vẫn đạt được những kỳ tích về sức mạnh; bắp thịt anh cũng chỉ như bắp thịt mọi người, nhưng anh có một trái tim khác hẳn. Anh đem nghị lực tinh thần thêm vào sức mạnh vật chất.

Việc phải làm thật khủng khiếp.

Lủng lẳng ở đầu dây kia, vượt qua quãng cách giữa hai Hòn Douvres, vấn đề là như vậy.

Trong những hành động trung thành hoặc vì nghĩa vụ con người thường gặp những dấu hỏi như thế dường như do thần chết đặt ra.

- Mày có làm không? - Bóng tối nói.

Gilliatt thử kéo mạnh cái móc một lần thứ hai, móc vẫn bám chắc.

Gilliatt liền lấy khăn tay bọc bàn tay trái lại, nắm chắc sợi thừng nút bằng nắm tay phải, rồi lại nắm ra ngoài bằng nắm tay trái, đoạn đưa một chân ra trước, đạp mạnh chân kia vào núi đá để sức đẩy không cho sợi dây xoay tròn, anh lao từ trên đỉnh Hòn Douvres Nhỏ sang vách núi hiểm trở của Hòn Douvres Lớn.

Cú va rất mạnh.

Mặc dầu Gilliatt đã cẩn thận đề phòng, sợi dây thừng vẫn xoay, và vai anh đập vào núi đá.

Lại dội trở lại.

Đến lượt hai nắm tay anh vấp vào núi đá. Khăn tay xộc xệch. Nắm tay sầy da, may mà không gãy.

Gilliatt choáng váng và lủng lẳng mất một lúc.

Tuy choáng váng nhưng anh vẫn khá tỉnh táo, không buông sợi thừng.

Một thời gian trôi qua vừa đu đưa vừa lồng lộn trước khi anh tóm được sợi dây bằng hai chân; tuy nhiên anh cũng tóm được.

Hoàn hồn, và giữ chặt sợi dây thừng giữa hai chân như bằng hai tay, anh nhìn xuống dưới.

Anh không ngại về chiều dài sợi dây vì anh đã nhiều lần dùng nó để leo cao hơn thế. Quả thật, sợi thừng đang lê trên boong tàu Durande.

Gilliatt, chắc chắn có thể tụt lại, liền bắt đầu leo.

Chỉ lát sau anh lên đến mặt đồi.

Từ xưa đến nay, chỉ có chim chóc mới đặt chân lên đấy. Đồi đầy phân chim. Nó là một hình thang lệch, mặt vỡ của cái khối hoa cương khổng lồ tên là Hòn Douvres Lớn. Hình thang này bị khoét sâu ở giữa như cái chậu một công trình của mưa.

Vả lại Gilliatt đã phỏng đoán đúng. Ở góc phía Nam hình thang, thấy có những tảng đá chồng xếp lên nhau, có thể đấy là những di tích của đỉnh núi lở. Những tảng đá này như một đống đá lát đường rất to, để cho một dã thú có chỗ chui rúc nếu lỡ lầm đường lên đỉnh này. Chúng nằm chông chênh hỗn độn, với những kẽ hở của một đống vôi gạch vụn. Ở đấy chẳng có động, chẳng có hang, nhưng có những lỗ như bọt biển. Một trong những hang ở ấy có thể chứa chấp Gilliatt.

Trong cùng hang có cỏ và rêu.

Tại đấy Gilliatt sẽ như ở trong một cái bao.

Lối vào cao độ hơn sáu tấc. Càng vào sâu càng hẹp. Có những quan tài đá hình dáng như thế. Đống đá tựa lưng vào phía tây-nam nên hang ổ đảm bảo không bị mưa rào, nhưng lại hứng gió bắc.

Gilliatt thấy vậy là tốt.

Hai bài tính thế là đã giải xong; thuyền có bến và anh có chỗ trú.

Điểm tuyệt diệu của chỗ trú này là gần bên xác tàu.

Cái móc sắt của sợi thừng nút, rơi vào giữa hai tảng đá, đá móc chặt vào đấy. Gilliatt chèn cứng nó lại bằng cách đặt một tảng đá to lên trên.

Đoạn anh lập tức tuột xuống tàu Durande.

Từ nay thế là anh ở trong nhà anh. Hòn Douvres là nhà anh, tàu Durande là xưởng thợ của anh.

Đi đi lại lại, trèo lên tụt xuống, còn gì đơn giản hơn.

Anh nhảy mạnh từ sợi thừng nút xuống boong tàu.

Ngày hôm ấy đẹp trời, bắt đầu thế là tốt, anh bằng lòng và cảm thấy đói bụng.

Anh cởi dây ở cái giỏ thức ăn, mở con dao ra, cắt một khoanh thịt bò hun, cắn ổ bánh mì đen, uống một ngụm nước, và ăn một cách ngon lành.

Làm tốt, ăn tốt, đây là hai niềm vui. Dạ dày no nê cũng giống như một lương tâm thanh thản.

Ăn xong, trời hãy còn sáng. Anh lợi dụng cơ hội để bắt đầu công việc rất cấp bách là làm nhẹ xác tàu.

Anh đã mất một phần ngày để lựa lọc những thứ vụn nát. Trong khoang tàu vững chắc, có cỗ máy, anh để sang một bên tất cả những thứ gì có thể dùng được, gỗ, sắt, thừng, vải. Cái gì vô ích anh vứt hết xuống biển.

Những thứ thuyền bầu chở đến, dùng máy trục kéo lên boong tàu, dù đơn sơ, ít ỏi, cũng là một khoản cồng kềnh. Gilliatt trông thấy một thứ khám đục sẵn, vừa tầm tay với, trong vách Hòn Douvres Nhỏ. Trong núi thường thấy có những loại tủ tự nhiên như thế, đúng là không đóng. Anh nghĩ ngay là có thể phó thác cho cái khám ấy một ít đồ đạc. Anh liền để vào trong cùng hai cái hòm của anh, hòm dụng cụ và hòm quần áo, hai cái bị, bị lúa mạch và bị bích quy, và ở phía trước, có lẽ hơi gần mép quá, nhưng anh không còn chỗ nào khác, cái giỏ thức ăn.

Anh đã có ý lấy ở hòm quần áo ra tấm da cừu, chiếc áo ngoài có mũ và đôi xà cạp quét nhựa đường.

Để gió khỏi cuốn mất sợi thừng nút, anh buộc đầu thừng phía dưới vào một thanh gỗ ghép lòng tàu Durande.

Vì hông tàu Durande phình to, nên thanh gỗ ghép này rất cong và giữ chắc đầu thừng như một bàn tay nắm chặt.

Còn lại đoạn trên sợi thừng. Buộc chắc phía dưới là tốt, nhưng ở đỉnh núi, chỗ sợi thừng nút chạm vào mặt bằng, cũng sợ nó dần dần bị góc núi sắc cứa đứt.

Gilliatt liền lục trong đống đồ vụn dự trữ, lấy vài miếng vải buồm và rút ở trong một đoạn dây cáp cũ mấy sợi dài nhét cả vào túi.

Một thủy thủ hẳn đoán được anh sắp lót mấy miếng vải và các mẩu giấy kia vào chỗ thừng bị gập vào cạnh núi đá, để bảo vệ chỗ gập cho khỏi đứt; công việc ấy gọi là quấn bọc.

Chuẩn bị xong số vải vụn, anh mang xà cạp vào chân, khoác áo mưa lên trên varơ, kéo sụp mũ bồ đài lên trên chiếc mũ galérienne, và buộc hai cái dải tấm da cừu vào cổ. Sau khi đóng đầy đủ bộ áo giáp kỵ sĩ ấy, anh liền nắm sợi dây thừng, từ nay được giữ chắc vào sườn Hòn Douvres Lớn, và trèo lên tấn công vào cái tháp đen tối của biển cả.

Mặc dầu hai bàn tay bị sầy da, Gilliatt cũng nhẹ nhàng lên đến mặt đồi.

Những tia sáng nhợt nhạt cuối cùng của chiều tà tắt dần. Biển cả tối đen như mực. Trên đỉnh Hòn Douvres vẫn giữ được chút ít ánh sáng.

Gilliatt lợi dụng chút ít ánh tàn còn lại để quấn bọc sợi thừng nút. Anh đắp vào chỗ thừng gập vào núi nhiều lớp vải dày, mỗi lớp lại buộc dây thật chặt. Tương tự các nữ diễn viên quấn vải vào đầu gối để đóng những cảnh hấp hối và cảnh van xin ở màn năm.

Quì quấn vải xong, Gilliatt thẳng người lên.

Từ nãy, trong lúc mải mê quấn giẻ vào sợi thừng nút, anh mơ hồ cảm thấy trong không khí có một rung động đặc biệt.

Trong cảnh vắng lặng của chiều hôm nghe như tiếng động của một con dơi khổng lồ đập cánh.

Gilliatt liền ngước mắt nhìn lên.

Một vòng tròn đen to đang xoay trên đầu anh, giữa bầu trời trắng và thăm thẳm của hoàng hôn.

Trong các bức tranh cổ, người ta thường thấy những vòng tròn như thế trên đầu các thánh. Có điều là chúng toàn màu vàng trên một nền tối, còn cái này lại đen tối trên một nền sáng. Không gì kì quái hơn. Tưởng như đấy là vầng hào quang ban đêm của Hòn Douvres Lớn.

Vòng tròn ấy đến gần Gilliatt, sau đó lảng xa, thu hẹp, rồi lại nới rộng.

Đấy là những con chim hải âu, hải yến, chim quân hạm, chim cốc, sơn ca, cả một bầy chim biển, ngạc nhiên.

Rất có thể Hòn Douvres Lớn là quán trọ của chúng và chúng đến để ngủ, Gilliatt đã chiếm mất một phòng bất ngờ này khiến chúng lo ngại.

Một con người ở đấy, là điều mà chúng chưa bao giờ thấy.

Bầy chim hoảng hốt bay như thế một lúc lâu.

Dường như chúng chờ cho Gilliatt đi.

Gilliatt, nghĩ ngợi mông lung, đưa mắt theo dõi chúng.

Cuối cùng cơn lốc bay ấy quyết định, vòng tròn thình lình mở ra thành hình trôn ốc, và đám mây chim ốc ấy đến sà xuống Núi Thằng Người, ở đầu kia bãi ngầm.

Tại đây, hình như chúng đang hỏi nhau và tranh cãi. Vừa nằm dài trong cái vỏ hoa cương, vừa để xuống dưới má một hòn đá để làm gối, Gilliatt nghe bầy chim thay nhau con trước con sau quang quác rất lâu.

Đoạn chúng im tiếng, và tất cả đều ngủ yên, bầy chim trên núi của chúng, Gilliatt trên núi của anh.

VIII IMPORTUNÆQUE VOLUCRES[4]

Gilliatt ngủ rất ngon. Tuy vậy, anh cũng thấy lạnh nên thỉnh thoảng lại tỉnh giấc. Tự nhiên anh đã cho chân vào trong và đặt đầu lên ngưỡng cửa. Anh đã không nghĩ đến việc vứt bỏ ra khỏi chỗ nằm một số lớn đá khá sắc cạnh, thành thử ngủ cũng kém ngon.

Thỉnh thoảng anh lại hé mở mắt ra.

Có lúc anh nghe văng vẳng có tiếng nổ. Đấy là tiếng triều dâng tống vào các hầm sâu của bãi ngầm nghe như tiếng đại bác.

Toàn bộ địa điểm anh đang nằm tạo nên cảm giác kỳ lạ của ảo ảnh. Bao quanh Gilliatt là một không khí hão huyền. Vì cảnh kinh ngạc nửa vời của đêm khuya thêm vào đấy, nên anh cảm thấy mình chìm đắm trong cảnh vô lý. Anh nghĩ bụng: Mình đang mơ.

Đoạn anh lại ngủ tiếp, và trong mơ anh lại thấy anh ở Bû de la Rue, ở Bravées, ở Saint-Sampson; anh nghe Déruchette hát; anh đang ở trong thực tại. Chừng nào còn ngủ, anh tưởng như mình đang thức và sống, khi nào tỉnh, anh lại tưởng mình đang ngủ.

Thực tế, từ nay anh sống trong một giấc mộng.

Quãng nửa đêm, có tiếng ồn ào rộng khắp cả bầu trời. Gilliatt mơ hồ ý thức như thế trong giấc ngủ. Chắc là gió bấc đang nổi lên.

Có lần, một cơn lạnh làm anh rùng mình tỉnh giấc, anh mở mí mắt ra hơi to hơn mấy lần trước, trên đỉnh trời có những đám mây rất rộng; mặt trăng đang lẩn trốn và một ngôi sao to chạy theo trăng.

Đầu óc Gilliatt đầy những mộng mị hỗn độn, và sự khuếch đại trong mơ này càng làm cho phong cảnh dữ dội của trời đêm thêm phức tạp.

Tảng sáng anh lạnh buốt và ngủ mê man.

Cảnh đột ngột của bình minh kéo anh ra khỏi giấc ngủ có lẽ là nguy hiểm đó. Cái hốc của anh hướng thẳng về phía mặt trời mọc.

Gilliatt ngáp, vươn vai, và nhảy ra khỏi hốc.

Anh ngủ ngon đến nỗi thoạt tiên anh chẳng hiểu gì hết. Dần dần cảm giác thực tế trở lại với anh, đến mức anh thốt lên: Nào ăn trưa!

Thời tiết yên tĩnh, bầu trời giá lạnh và trong sáng, không gợn bóng mây, ban đêm đã quét sạch chân trời, vùng ô rực rỡ. Lại bắt đầu một ngày đẹp trời thứ hai. Gilliatt cảm thấy vui vẻ.

Anh cởi bỏ áo ngoài và xà cạp ra, quấn tất cả vào tấm da cừu mặt lông vào trong, buộc cả cuộn bằng một mẩu thừng và đẩy nó vào trong cùng một hang, để tránh mưa bất thường.

Đoạn anh dọn giường, nghĩa là bỏ chỗ đá ra.

Dọn xong giường, anh tuột dây xuống boong tàu Durande và chạy đến chỗ cái khám nơi anh đã giấu giỏ thức ăn.

Cái giỏ không còn đấy nữa. Vì nó nằm gần mép quá nên gió đêm đã cuốn mất và quăng nó xuống biển.

Điều ấy báo trước ý định tự vệ.

Gió phải có một quyết tâm và một ác ý nào đó mới đến đấy cướp mất cái giỏ.

Đây là bước đầu của những hành vi cừu địch. Gilliatt hiểu thế.

Khi người ta sống trong cảnh thân mật cau có của biển cả, thì rất khó có thể không xem gió như một con người và núi non như những nhân vật.

Cũng với chỗ bích quy và bột lúa mạch, Gilliatt chỉ còn mỗi món trai sò, mà người đắm tàu chết đuối trên Núi Thằng Người đã dựa vào để sống.

Còn chuyện câu cá thì không nên nghĩ đến làm gì. Cá vốn ghét va chạm, luôn luôn lẩn tránh đá ngầm; các loại nơm và lưới kéo chỉ uổng công ở những nơi có đá ngầm, và các chỏm nhọn ấy, chỉ có được mỗi việc là xé rách lưới.

Gilliatt điểm tâm với mấy con hàu, mà khó khăn lắm anh mới cạy được ở núi ra. Suýt nữa anh làm gãy mất con dao vào đấy.

Trong lúc đang ăn bữa trưa đạm bạc này, anh bỗng nghe một tiếng ầm ầm kỳ lạ ngoài biển cả. Anh liền nhìn ra.

Đấy là bầy hải âu vừa mới sà xuống một trong các quả núi thấp vừa đập cánh, vừa xô vào nhau, vừa kêu, vừa gọi. Tất cả ầm ĩ lúc nhúc trên cùng một điểm. Bây quân ô hợp đó có mỏ và có móng kia đang xâu xé cùng một vật gì đó.

Vật ấy là cái giỏ của Gilliatt.

Bị gió vứt lên một chỏm núi, cái giỏ đã vỡ tung ra đấy. Bầy chim đã kéo nhau đến. Chúng dùng mỏ cắp đi đủ các thứ tơi bời rách nát. Từ xa Gilliatt nhận thấy khoản thịt bò hun và cá khô của mình,

Đến lượt bầy chim xông vào vòng chiến. Chúng cũng có chuyện phải báo thù. Gilliatt đã cướp mất chỗ ở của chúng, chúng phải cướp bữa ăn của anh.

IX BÃI NGẦM, VÀ CÁCH SỬ DỤNG NÓ

Một tuần lễ trôi qua.

Mặc dầu đang giữa mùa mưa, trời vẫn không mưa, điều ấy làm cho Gilliatt rất vui mừng.

Vả lại, việc anh định làm vượt quá sức người, hay ít ra đó cũng là bề ngoài. Thành công khó tin đến nỗi mưu toan có vẻ như rồ dại.

Những công việc dồn dập cho thấy những trắc trở và hiểm nghèo của chúng. Không gì tai hại bằng bắt đầu xét đến sự hoàn thành sẽ khó khăn đến mức nào. Vạn sự khởi đầu nan. Bước đầu tiên là điều phát hiện khắc nghiệt. Khó khăn vấp phải chích đau như gai nhọn.

Gilliatt lập tức phải tính đến trở ngại.

Để kéo cỗ máy tàu Durande ra khỏi chỗ đắm, nơi nó cắm sâu vào đến ba phần tư, để mưu toan, với đôi chút hy vọng thành công, một việc cứu vớt như vậy, ở một địa điểm như vậy, vào một mùa như thế, hình như phải cả một đoàn người, vậy mà Gilliatt chỉ có một mình; phải cả một bộ đồ nghề thợ mộc và cơ khí, vậy mà Gilliatt chỉ có mỗi cái cưa, cái rìu, một cái đục và cái búa; phải có một xưởng thợ đàng hoàng và một cái lều trại tử tế, vậy mà Gilliatt không có mái che; phải dự trữ và thực phẩm, vậy mà đến bánh ăn Gilliatt cũng không có.

Trong suốt một tuần lễ đầu tiên này, giá có ai trông thấy Gilliatt làm việc trên bãi ngầm, hẳn họ không hiểu anh định làm gì. Hình như anh chẳng nghĩ đến tàu Durande và đến hai Hòn Douvres nữa. Anh chỉ bận bịu vào những thứ nằm trong đám đá ngầm, anh có vẻ chăm chú vào việc với nhặt những vật trôi dạt nhỏ nhặt. Anh lợi dụng những lúc triều xuống để tước đoạt của đá ngầm những gì mà vụ đắm đã chia phần chia chúng. Anh lần mò từ mỏm đá này đến mỏm đá khác nhặt nhạnh những thứ mà biển cả đã ném lên đấy, những miếng buồm rách, nhưng mẩu thừng, những cục sắt, những mảnh ván, những mảng cạp vỡ tung, những trục buồm gãy, đây một cái xà, kia một sợi dây xích, một cái puli.

Đồng thời anh nghiên cứu tất cả các ngóc ngách của bãi ngầm. Không một nơi nào ở được, điều đó làm cho Gilliatt hết sức chán nản; ban đêm anh vẫn rét run giữa các phiến đá trên nóc Hòn Douvres Lớn, và chỉ ước ao tìm được một chút gác mái tốt hơn.

Có hai cái hốc khá rộng; mặc dầu mặt nền đá tự nhiên chỗ nào cũng nghiêng nghiêng và gập ghềnh, cũng vẫn có thể đứng và đi lại trong ấy.

Mưa gió mặc sức lộng hành, nhưng nước triều cao nhất cũng không lên đến đấy. Chúng ở cạnh Hòn Douvres Nhỏ, và giờ nào cũng có thể lần tới đấy được. Gilliatt quyết định sử dụng một hốc làm kho, một hốc làm lò rèn.

Với tất cả các thứ dây thừng có thể nhặt nhạnh được, anh tống các vật trôi dạt linh tinh vào những ba lô, buộc các thứ vụn vỡ thành bó và các mảnh vải thành gói. Anh buộc kỹ tất cả lại. Triều lên càng đẩy ba lô đi, anh càng kéo chúng lách qua đá ngầm đến tận cái kho của anh. Trong một hốc đá, anh đã tìm thấy một sợi dây thừng to có thể dùng để kéo cả những thanh xà thật lớn. Cũng bằng cách ấy anh còn lôi được từ dưới biển lên nhiều đoạn xích, rải rác trong đá ngầm.

Trong công việc nặng nhọc này, Gilliatt thật kiên trì và lạ lùng. Anh làm tất cả theo ý của anh. Không gì cưỡng lại nổi sự kiên trì của kiến.

Đến cuối tuần, Gilliatt có trong cái kho hoa cương ấy toàn bộ mớ tập tàng dị hình của bão táp, sắp đặt rất gọn gàng. Có góc để thừng đuôi rắn, có góc để dây leo, lèo giữ không để lẫn với dây kéo buồm; cột buồm đều xếp theo số lỗ; các vòng dây, tháo gỡ cẩn thận từ các khoản neo gãy, đều được quấn thành con, các khung gỗ tròn không còn bánh xe quay, được tháo khỏi ròng rọc; cọc quấn dây khoen gỗ, róc rách, gabarons, joutereaux, calebas, puli ngang, dây kéo hàng, cọc buộc dây, vòng quanh cột buồm, dây một đầu, cần mắc buồm phụ, chiếm những ô khác nhau miễn là chúng không hoàn toàn bị hư hại làm biến dạng; toàn bộ khung, ván ngang, cột trụ, cột chống boong, gỗ chắp cột buồm, ván chắn, gỗ ghép, gỗ ốp sườn, đều được xếp riêng; nếu có thể các mảnh ván phủ từ mạn tàu đến lòng tàu đều được lồng vào nhau; không thể nào lẫn lộn thừng mép buồm với thừng kéo neo, cũng không thể nào nhầm móc kéo thùng với neo buộc cáp kéo, cũng không thể nhầm puli galobang với puli thừng mộc, cũng không thể nhầm những miếng ốp phần chìm với những miếng ốp sàn thượng; có một góc dành riêng cho một phần những thừng cột buồm của tàu Durande, nó bảo vệ cho những thừng cột buồm và dây leo cố định của nguy bằng. Mỗi vật có riêng một chỗ. Toàn bộ các thứ bị chìm đắm đều được nằm trước mắt, được sắp xếp và đánh dấu hiệu. Cứ y như hỗn mang được xếp vào kho.

Một lá buồm chận chặt bằng những tảng đá to, có nhiều lỗ thủng thật đấy, phủ lên những thứ mà mưa gió có thể làm hỏng.

Mặc dầu phía trước tàu Durande vỡ nặng, Gilliatt cũng cứu được hai cung sắt treo xuồng với cả ba cái puli.

Anh tìm thấy cột buồm cái, và vất vả lắm anh mới gỡ được những thừng chằng ra. Thừng chằng dính kết vào nhau vì thường lệ chúng được quấn bằng máy trục lúc trời nắng ráo. Tuy vậy Gilliatt cũng gỡ chúng ra, vì loại thừng to này có thể rất có ích cho anh.

Anh cũng đã thu nhặt được cái neo nhỏ kẹt vào một cái hốc dưới đáy biển, nhờ nước triều xuống để lộ ra.

Anh lại tìm thấy trong chỗ trước kia là ca-bin của Tangrouille một cục phấn, và cất nó rất cẩn thận. Có thể phải đánh dấu luôn.

Một cái xô bằng da dùng để chữa cháy và nhiều thùng gỗ loe miệng còn khá tốt thêm vào chỗ vật liệu lao động dự trữ ấy.

Bao nhiêu than còn lại trên tàu Durande đều được đưa vào kho.

Sau tám ngày, việc thu hồi các thứ vương vãi đã hoàn thành, bãi ngầm được dọn sạch, và tàu Durande nhẹ bớt. Trên xác tàu chỉ còn mỗi cỗ máy.

Cái mảng vách phía trước vẫn còn dính vào phía sau không làm cho vỏ tàu nặng thêm. Nó lủng lẳng ở đấy, không giằng kéo gì cả, vì được một chỗ núi nhô đỡ ở phía dưới. Vả lại nó cũng to rộng và nặng, có cho vào kho cũng rất cồng kềnh. Tấm vách này giống như một cái bè, Gilliatt cứ để mặc nó đấy.

Gilliatt cố công tìm kiếm “con búp bê” mà không được, công việc khó nhọc này khiến anh lúc nào cũng trầm ngâm. Đấy là một trong những con vật mà sóng nước đã vĩnh viễn cuốn mất. Để tìm được con búp bê đó, Gilliatt sẵn sàng hiến cả hai cánh tay, nếu anh không cần đến chúng nó nhiều như thế.

Ở lối vào kho và ở bên ngoài, thấy có hai đống phế liệu, một đống sắt để rèn rất tốt, và một đống gỗ để đốt cũng rất tốt.

Gilliatt làm việc từ sáng tinh mơ. Ngoài những giờ ngủ, anh không nghỉ ngơi một lúc nào hết.

Bầy chim cốc, lượn lờ nhìn anh làm việc.

X LÒ RÈN

Thu xếp xong kho, Gilliatt đến cái lò rèn.

Cái hốc thứ hai được Gilliatt chọn có một góc nhỏ, một đường ống khá sâu. Mới đầu anh định dọn vào đấy ở; nhưng gió bắc cứ dồn dập thổi đều đều và dai dẳng trong hành lang này nên anh phải bỏ ý định đó. Cái bễ này khiến anh nảy ra ý kiến lò rèn. Cái hang đã không thể làm buồng thì nó sẽ xưởng thợ của anh vậy. Bắt chướng vật phục vụ mình là một bước, Gilliatt tiến đến thắng lợi. Gió là kẻ thù của Gilliatt quyết bắt nó phải làm đầy tớ cho anh.

Điều mà ta thường nói về một số người; - việc gì cũng hay nhưng chẳng việc gì giỏi - cũng có thể nói về những hốc núi. Cái chúng chìa ra, chúng lại không cho. Hốc núi này là một cái bồn tắm, nhưng lại rỉ nước một kẽ nứt; hốc núi kia là một cái buồng, nhưng lại không có trần; hốc núi này là một chiếc giường rêu, nhưng lạnh ướt át; hốc núi kia là một chiếc ghế bành, nhưng lại bằng đá.

Cái lò rèn mà Gilliatt định xây dựng đã được thiên nhiên phác sẵn; nhưng bắt cái bản phác ấy phải phục tùng đến mức sử dụng được nó và chuyển cái hang đó thành phòng thí nghiệm thì không còn gì gay go hơn, vất vả hơn. Với ba hoặc bốn phiến đá rộng khoét theo hình phễu và dẫn vào một kẽ nứt, chật hẹp, tình cờ đã biến chỗ ấy thành một loại ống thổi rộng dị dạng, mạnh hơn rất nhiều các bễ lò rèn to dài mười piê, mỗi lần thổi, phụt ra chín mươi tám nghìn put không khí. Ở đây khác hẳn. Những quy mô của cuồng phong không thể nào tính được.

Sự dư thừa sức mạnh này là một trở ngại; rất khó điều chỉnh luồng gió này. Cái hang có hai điểm bất lợi; không khí xuyên từ đầu nọ sang đầu kia, nước cũng vậy.

Đây không phải là nước biển, mà là một kiểu lai láng thường xuyên, giống như một thứ rịn rỉ hơn một dòng nước.

Bọt biển, không ngớt bị sóng hồi hất vào bãi ngầm, đôi khi cao đến hơn ba mươi mét trên không, cuối cùng đã dồn đẩy nước biển vào một cái chậu thiên nhiên nằm trong các tảng đá cao phía trên lỗ hổng. Chậu chứa ấy đầy quá, tạo ra ở phía sau một tí, trong vách đá cheo leo một dòng thác nhỏ độ ba phân, rơi từ gần mười mét xuống. Mưa lại tình cờ đóng góp thêm vào đấy. Thỉnh thoảng một đám mây đi qua đổ một trận mưa rào xuống cái chậu vô tận và lúc nào cũng tràn đầy ấy. Nước vì thế mà mằn mặn, không uống được, nhưng trong vắt mặc dầu mặn. Dòng thác ấy giỏ từng giọt một, nom rất đẹp, ở đầu các ti tảo giống như ở cuối một mái tóc.

Gilliatt liền nghĩ ngay đến việc dòng nước ấy để chế ngự ngọn gió. Với một cái phễu, hai ba cái ống bằng ván bào mỏng và ghép vội, trong đó một ống có vòi chảy, và với một cái thùng gỗ loe miệng rất rộng để làm chậu chứa ở dưới, không có ván đỡ hai bên và đối trọng, chỉ bổ khuyết dụng cụ bằng một quãng thắt phía trên và những lỗ hút phía dưới, Gilliatt, như chúng tôi đã nói, vốn biết chút ít nghề rèn và nghề cơ khí, để thay thế chiếc bễ lò rèn mà anh không có, đã làm được một thứ máy kém hoàn thiện hơn cái mà ngày nay người ta gọi là cagniardelle, nhưng kém thô sơ hơn cái mà ngày xưa trên núi Pyrénées người ta gọi là vòi nước.

Sẵn có bột lúa mạch, anh quấy làm hồ; sẵn có thùng mộc, anh dùng làm bùi nhùi. Với thứ bùi nhùi ấy, thứ hồ ấy và mấy cái nêm gỗ, anh bịt hết tất cả các kẽ núi lại, chỉ để chừa một cái vòi không khí làm bằng một mẩu đạn lửa tìm được trên tàu Durande và trước đã dùng để châm lửa cho súng bắn pháo hiệu. Vòi không khí này nằm ngang, hướng lên một phiến đá rộng, nơi Gilliatt đặt bếp lò rèn. Một cái nút, làm bằng một mẩu thừng xoắn, lúc cần thì bịt nó lại.

Sau đó Gilliatt xếp than và củi vào trong bếp lò, đánh lửa ngay vào đá, cho lửa xòe lên một nắm bùi nhùi, và với nắm bùi nhùi cháy anh đã nhóm đỏ chỗ củi và than.

Anh thử cái bễ. Bễ hoạt động rất tuyệt.

Gilliatt cảm thấy tự hào như con quỷ một mắt, làm chủ được cả không khí, nước và lửa.

Là chủ không khí, anh đã cho gió một buồng phổi, đã tạo ra trong đá hoa cương một bộ máy hô hấp, và đã đổi luồng gió thành một cái bễ. Là chủ của nước, từ ngọn thác nhỏ anh đã làm nên một vòi nước. Là chủ của lửa, từ ngọn núi ngập nước kia, anh đã làm bật ra lửa.

Hốc đá hầu như chỗ nào cũng lộ thiên, nên khói tha hồ tỏa rộng, ám đen vào vách núi chênh vênh. Những quả núi này, dường như được vĩnh viễn tạo ra cho bọt sóng, nay mới được biết mùi bồ hóng.

Gilliatt dùng một tảng đá to lăn xuống để làm đe, mặt cát rất mịn có hình dạng và kích tấc gần như ý muốn. Đấy là một cái bệ để nện rất nguy hiểm và có thể vỡ tung. Một đầu tảng đá, tròn và vuốt nhọn, có thể tạm dùng làm đầu sừng hình chóp, nhưng đầu sừng kia, đầu hình tháp, không có. Đấy là thứ đe cổ xưa bằng đá của người ở hang. Mặt đá, bị nước nhẵn gần đạt được độ cứng của thép.

Gilliatt tiếc là đã không đem theo cái đe. Vì không biết tàu Durande bị bão cắt đôi, nên anh đã hy vọng tìm thấy cái thùng thợ mộc và toàn bộ dụng cụ thường để trong hầm tàu phía trước lại bị cuốn mất.

Hai cái hốc, do Gilliatt chiếm được trên bãi ngầm, nằm gần nhau. Kho và lò rèn ăn thông với nhau.

Chiều nào cũng vậy, hết ngày, Gilliatt ăn được một miếng bích quy chấm nước cho mềm, một con hải đởm hoặc một con nắm tay, hoặc vài hạt dẻ biển, những thứ duy nhất tìm kiếm được trong những núi đá này, ra run rẩy như sợi thừng nứt, anh lại đeo lên nằm trong cái lỗ của anh trên Hòn Douvres Lớn…

Chính tính chất cụ thể của công việc càng làm cho Gilliatt thêm trầm mặc. Thực tế cao độ thường khiến người ta sợ sệt. Sự vất vả thể xác với trăm nghìn chuyện vụn vặt của nó không giảm bớt được chút nào nỗi sững sờ phải sống ở đây và phải làm những việc anh làm. Thông thường mệt mỏi vật chất là một sợi dây kéo xuống đất; nhưng tính chất đặc biệt của công việc mà Gilliatt mưu toan đang giữ anh trong một khung cảnh lý tưởng và tranh tối tranh sáng. Nhiều khi anh tưởng như mình đang quai búa vào mây. Có lúc, anh lại tưởng như dụng cụ của mình là vũ khí. Anh có cảm cảm giác lạ lùng của một cuộc tấn công thầm lặng mà anh đang trấn áp và phòng ngừa. Tết một sợi thừng mộc, rút ở một mảnh buồm ra chỉ to, chống hai phiến gỗ, đấy là chế tạo ra chiến cụ. Hàng nghìn công việc tủn mủn trong chuyện cứu vớt này cuối cùng cũng giống như việc đề phòng chống những cuộc xâm lược thông minh, ít che đậy và rất rõ ràng. Gilliatt không biết dùng từ ngữ để diễn đạt ý nghĩ, nhưng anh cảm thụ được ý nghĩ. Anh tự cảm thấy mình ngày càng khác xa công nhân và càng giống người đánh nhau với thú dữ.

Anh sống ở đây như một người dạy thú. Gần như anh hiểu ra điều ấy. Một sự mở mang kỳ lạ cho trí óc anh.

Ngoài ra, xung quanh anh, mênh mông bát ngát, là cảnh hư ảo bao la của công việc hoài phí. Không gì rối lòng bằng đứng nhìn cảnh tung tán của sức lực trong chỗ khôn dò và chốn vô biên. Người ta tìm kiếm mục đích. Không gian luôn luôn chuyển động, sóng nước không bao giờ mệt mỏi, mây trời tưởng như bận rộn, cố gắng khó hiểu rộng khắp toàn bộ cảnh quằn quại ấy là một bài tính. Rung chuyển không ngừng kia là làm cái gì? Những cơn gió mạnh kia xây dựng cái gì? Những chấn động kia kiến thiết cái gì? Những đụng độ kia, những tiếng thổn thức kia, những tiếng gào thét kia, chúng sáng tạo cái gì? Vì đâu có cảnh náo nhiệt kia? Sự dằn vặt của những vấn đề ấy cũng vĩnh cửu như sóng triều lên xuống. Gilliatt hiểu được việc anh làm; nhưng chuyển động của không gian vẫn mơ hồ, ám ảnh anh bằng khía cạnh bí ẩn của nó. Vẫn không hề hay biết, chỉ làm việc một cách máy móc, khẩn trương do thúc bách và thấu triệt, không đạt được kết quả nào khác một niềm say sưa vô ý thức và hầu như tàn nhẫn, Gilliatt mơ mộng đã phối hợp vào công việc của chính anh, cái công việc vô ích diệu kỳ của biển cả. Thực tế, khi đã ở đấy, thì làm sao khỏi chịu ảnh hưởng và không tìm hiểu sự huyền vi của sóng nước cần cù khủng khiếp? Phàm đã biết suy nghĩ thì làm sao không ngẫm nghĩ đến sự dao động của sóng triều, đến tính miệt mài của bọt nước, đến cảnh bào mòn thầm lặng của núi non, đến sự hết hơi kiệt sức của gió ngàn phương? Đối với tư tưởng, còn kinh hoàng nào hơn cảnh mãi mãi, lại bắt đầu, cảnh đại dương thăm thẳm, cảnh mây trời vô tận, toàn bộ sự vất vả gian lao, không ích gì kia!

Không ích gì ư, không. Nhưng, Vô định ơi, chỉ có mi mới biết được vì sao.

XI KHÁM PHÁ

Một bãi ngầm ở gần bờ đôi khi còn có người đến thưởng ngoạn, chứ một bãi ngầm giữa biển khơi thì không bao giờ. Đến đây tìm cái gì? Nó đâu phải là một hòn đảo. Không có tiếp tế để hy vọng, không cây ăn quả, không đồng cỏ xanh, cũng không gia súc, không nước ngọt. Thật là một cảnh trơ trụi giữa chốn hoang vu. Đấy là một quả núi, với sườn vách hiểm trở nhô ra ngoài mặt nước và những đỉnh núi nhọn nằm dưới nước. Ở đấy chẳng tìm thấy gì khác ngoài chuyện chìm đắm.

Những loại bãi ngầm như thế, mà ngôn ngữ cổ xưa của hàng hải gọi là những chốn Điêu hiu, như chúng tôi đã nói, là những nơi kỳ quặc. Biển cả ở đấy một mình. Nó muốn làm gì thì làm. Không một ma quỷ hiện hình nào trên thế gian khiến nó phải lo ngại. Con người, làm cho biển cả kinh hoàng; biển cả lại thách thức con người; nó không cho con người biết nó là gì và làm gì. Trong bãi ngầm nó rất yên tâm; con người sẽ không đến đấy. Bản độc thoại của sóng ngàn sẽ không bị phá rối. Biển ra sức trau chuốt cho bãi ngầm tu bổ những chỗ hư hỏng, mài dũa những đỉnh nhọn, dựng đứng nó lên tua tủa, đổi mới cho nó, sửa sang cho nó. Biển đào xuyên qua núi, đánh tan lớp đá mềm, phơi trần lớp đá cứng, bóc hết lớp thịt ngoài, chừa lại bộ xương, đào bới, mổ xẻ, khoan sâu, chọc thủng, khơi kênh, làm cho các ngõ cụt thông nhau, làm cho bãi ngầm đầy hang hốc, bắt chước bọt biển kiểu đại qui mô đào khoét phía trong, tạc đẽo bên ngoài. Trong quả núi bí mật thuộc quyền nó đó, biển tạo ra cho mình những hang động, những thánh đường, những cung điện: nó có một thứ cỏ cây ghê tởm và xum xuê gồm những loại cỏ lềnh bềnh biết cắn và những quái vật cắm rễ; nó chôn dấu trong bóng tối của nước cái cảnh huy hoàng đáng sợ ấy. Trên bãi ngầm cô tịch, chẳng có gì giám sát nó, cũng chẳng có gì theo dõi và quấy rầy nó; ở đấy nó tha hồ phát triển khía cạnh bí mật của nó, mà con người không thể nào hiểu nổi. Nó ký thác ở đấy những phân tiết sống động và rùng rợn của nó. Tất cả những gì không được biết đến của biển cả đều ở đấy.

Những hải giác, mũi đất, những địa đầu, chỏm đá, những đá ngầm tiềm thạch đều là, chúng ta cần nhấn mạnh điểm đó, những công trình kiến trúc thật sự. Cấu tạo địa chất không đáng kể so với cấu tạo của đại dương. Các bãi ngầm, loại nhà ở của sóng trong nước, loại kim tự tháp và lăng vua của bọt biển, thuộc về một ngành nghệ thuật bí mật mà tác giả cuốn sách này đã gọi ở đâu đó là Nghệ thuật của Thiên nhiên, và mang một phong cách cực đại. Ở đây yếu tố ngẫu nhiên như có ý. Những công trình kiến trúc này thật muôn hình muôn vẻ. Chúng có lối chằng chịt của quần san, có nét trang nghiêm của nhà thờ, có vẻ nhố nhăng của chùa miếu, có dáng hùng vĩ của núi non, có mặt tinh tế của hàng trang sức, có chất hãi hùng của mộ địa. Chúng có những lỗ nhỏ như một tổ ong, những hang hốc như một chuồng thú, những ngóc ngách như một hang chuột, những hầm tối như một nhà tù, những chỗ mai phục như một đồn lũy. Chúng có cửa nhưng đều bị ngăn chặn, có cột nhưng bị cắt ngang, có tháp nhưng xiêu vẹo, có cầu nhưng gãy gục. Các buồng phòng của chúng thật tồi tệ; chỗ này chỉ dành cho chim chóc, chỗ kia chỉ để riêng cho cua cá. Không cho người qua. Bộ mặt kiến trúc của chúng biến hóa, rối rắm, xác nhận rồi lại bác bỏ tĩnh học, gãy gập rồi lại đứng sững, bắt đầu bằng đường hồi văn, kết thúc bằng đầu cột, khối nọ chồng chất khối kia; Encélade[5] là anh thợ nề. Một động lực học kỳ lạ bày ra đấy những bài tính của nó, nó đã được giải đáp xong. Có những vòng cung rất dễ sợ nhưng lại không đổ. Người ta không hiểu nhờ đâu mà những công trình ngất nghểu ấy vẫn đứng vững. Chỗ nào cũng có những chi tiết xiên ngả, nhô ra, hổng lỗ, lửng lơ rất vô lý; quy luật của tình trạng hỗn loạn này thật khó hiểu. Tạo hóa, nhà kiến trúc vĩ đại, chẳng tính toán gì cả mà chỗ nào cũng thành công; các núi đá, xây dựng lung tung, tạo thành một công trình kỳ dị phi thường, không có chút logic nào cả, một thế cân bằng rộng lớn. Hơn cả vững chắc, đây là vĩnh cửu. Đồng thời lại là hỗn loạn. Tiếng rì rào của sóng nước dường như chuyền vào trong đá núi. Bãi ngầm là bão táp đã hóa thạch. Không gì xúc động tinh thần bằng cái công trình kiến trúc dữ tợn, luôn luôn sụp đổ, luôn luôn đứng thẳng ấy. Ở đây mọi thứ hỗ trợ cho nhau và đối lập nhau. Đây là một cuộc giao tranh về đường nét dẫn đến một lâu đài. Người ta nhận thấy ở đây sự cộng tác của hai cuộc tranh chấp: đại dương và bão tố.

Nền kiến trúc này có những kiệt tác khủng khiếp của nó. Bãi ngầm Douvres là một trong số đó.

Kiệt tác này, biển cả đã xây dựng nó và hoàn thiện nó với một tình thương yêu vô hạn. Sóng nước cáu gắt đã liếm láp cho nó. Nó xấu xí, phản trắc, tối tăm đầy hầm hố.

Nó có cả một hệ thống kiểu tĩnh mạch về hang lỗ dưới biển, chìa ra nhiều nhánh trong những tầng sâu không thể nào dò nổi. Trong cái đường hầm chằng chịt ấy có nhiều lỗ cạn khô khi nước triều xuống. Người ta có thể chui vào đấy. Bất chấp nguy hiểm.

Vì nhu cầu của việc trục vớt, Gilliatt buộc phải thăm dò tất cả những hang động ấy. Không một cái nào không rùng rợn. Trong các hầm sâu ấy, chỗ nào cũng lại thấy, với những kích tấc phóng đại của đại dương, cái cảnh tượng lò mổ và hàng thịt đã in dấu vết dị thường giữa quãng cách hai Hòn Douvres. Ai chưa từng thấy, trong những hang hầm loại ấy, trên bức thành hoa cương vĩnh cửu, những bức họa ghê rợn như thế của thiên nhiên, thì không thể có được ý niệm về chúng.

Những hang động dữ tợn ấy rất nham hiểm; không nên lần lữa ở những nơi ấy. Nước triều thường dâng ngập đến tận trần.

Ngao sò, cua cáy ở đấy rất nhiều.

Hang động ngổn ngang đá cuội, dồn thành đống trong đáy vòm. Nhiều hòn nặng đến hơn một tấn. Chúng thuộc đủ mọi kích tấc và màu sắc; phần lớn có vẻ như nhuốm màu; một số phủ đầy ti tảo lún nhún và nhầy nhụa, giống hệt những con chuột chũi to xanh sục sạo trong núi.

Nhiều hầm sâu kết thúc đột ngột kiểu trên lò. Một số khác, mạch máu của một hệ thống giao thông bí mật, kéo dài trong núi thành những ngách đá ngoằn ngoèo, tối om. Đây là những con đường của vực thẳm. Những ngách đá ấy cứ thu dần lại mãi, người không thể chui lọt. Đốt bùi nhùi lên sẽ thấy trong ấy có những mảng tối mò luôn luôn rỉ nước.

Có lần Gilliatt, sục sạo đánh liều chui vào một ngách núi như thế. Giờ thủy triều cũng thuận tiện. Hôm ấy là một ngày lặng gió và nắng ấm. Không phải lo ngại đến một chuyện bất ngờ của biển cả, có thể gây khó khăn cho việc mạo hiểm.

Như chúng tôi vừa nói, có hai điều cần thúc đẩy Gilliatt vào những việc thăm dò như vậy; kiếm những vật vương vãi có ích cho việc trục vớt xác tàu, và tìm tôm cua làm cái ăn cho bản thân. Trai sò đã bắt đầu thiếu trong các Hòn Douvres.

Ngách núi đã thu hẹp và hầu như không thể chui lọt. Gilliatt trông thấy phía bên kia có chút ánh sáng. Anh cố gắng, len lách, thu người lại thật nhỏ, và chui vào thật sâu.

Anh không ngờ đã chui vào đúng phía trong quả núi mà Clubin đã thúc tàu Durande vào mỏm. Gilliatt đang đứng và không thể đến gần, lại rỗng bên trong. Nó có những hành lang, những giếng sâu và những phòng ngăn ra như lăng mộ một quốc vương Ai Cập. Kiểu đục xói ấy là một loại phức tạp nhất của các thứ mê cung như vậy, nó là công trình của sóng nước, là sự phá phách ngấm ngầm của trùng dương không mệt mỏi. Các ngõ ngách của con đường ngầm dưới biển này có lẽ ăn thông với làn nước bao la bên ngoài bằng nhiều khe hở, một số rộng hoác ở ngang mực nước, một số giống hình phễu sâu. Chính Clubin đã nhảy xuống biển ngay cạnh chỗ ấy, nhưng Gilliatt không biết.

Trong cái kẽ hang cá sấu này, nơi mà cá sấu đúng là không đáng sợ, Gilliatt cứ trườn bò, quanh co, vấp trán, cúi xuống, ngóc lên, hụt chân, rồi lại chạm đất, tiến lên hết sức vất vả. Dần dần con đường ống rộng ra, một ánh sáng lù mù xuất hiện, và thình lình Gilliatt bước vào một cái hang rất lạ lùng.

XII PHÍA TRONG CỦA MỘT TÒA LÂU ĐÀI DƯỚI BIỂN

Ánh sáng lù mù ấy đến vừa đúng lúc.

Chỉ một bước nữa là Gilliatt ngã xuống một cái hồ có lẽ không đáy. Loại hầm này lạnh và tê cóng đột ngột đến mức nhiều khi những tay bơi lội giỏi nhất cũng nằm đấy luôn.

Vả lại, cũng không có cách nào ngoi lên và bám vào vách đá cheo leo bao quanh.

Gilliatt đứng sững lại. Cái kê đá anh vừa chui ra dẫn đến một chỗ nhô chật hẹp và nhầy nhụa. Một thứ bao lơn trên bức thành dựng đứng. Gilliatt tựa lưng vào bức thành và đưa mắt nhìn quanh.

Anh đang ở trong một cái hầm lớn. Trên đầu anh, nom như phía dưới một chiếc sọ người khổng lồ. Chiếc sọ có vẻ vừa mới được giải phẫu. Những đường gân lấp lánh của các vỉa núi trên mặt vòm phỏng theo những thớ thịt và những khớp răng cưa của một hộp sọ. Trần là đá, sàn là nước, sóng triều lăn tăn, thu hẹp giữa bốn vách hang giống như những phiến đá rộng rung rinh. Hang kín tứ bề. Không cửa mái, không cửa hầm, không một lỗ hổng nào quanh vách. Không một kẽ nứt nào trên vòm. Toàn bộ khung cảnh ấy được chiếu rọi từ phía dưới qua làn nước. Một thứ ánh sáng rực rỡ khó hiểu nào đó.

Suốt chặng đường tối tăm của hành lang, con ngươi Gilliatt đã mở to, nên anh nhận thấy hết tất cả mọi thứ nằm trong cảnh tranh tối tranh sáng này.

Nhờ đã đến nhiều lần, anh biết rõ hầm Plémont ở Jersey, hầm Creux-Maillé ở Guernesey, hầm Cửa hàng ở Serk, gọi như thế vì bọn buôn lậu cất giấu hàng ở đấy, không một hầm nào có thể so sánh với cái phòng ngầm dưới đáy biển mà anh vừa đặt chân vào.

Trước mắt, dưới làn sóng, Gilliatt trông thấy một thứ vòm cầu dìm sâu trong đáy nước. Vòm cầu này, một hình cung nhọn thiên nhiên do sóng nước bào mài, sáng chói giữa hai chân trụ sâu và đen chính qua cái cổng tò vò chìm ngập này mà ánh sáng của triều dâng lọt vào trong hang. Ánh sáng kỳ lạ do một vật chìm ngập phát ra.

Ánh sáng này tỏa rộng dưới làn nước lăn tăn như một cái quạt và phản chiếu lên vách núi. Các tia sáng thẳng của nó bị cắt thành những dải dài trên đáy hang mờ đục, tùy chỗ lồi lõm mà sáng ra hoặc tối lại, giống như những lớp kính chồng lên nhau. Hầm tuy có ánh sáng, nhưng một thứ ánh sáng khác lạ. Trong cái ánh này, không còn gì của thứ ánh sáng thông thường. Có thể tưởng như vừa bước vào một hành tinh xa lạ. Ánh sáng là một điều bí ẩn; hình như là ánh lam lục trong con ngươi một nhân sư. Hầm này tượng trưng phía trong một cái đầu người chết rất to và lộng lẫy; vòm là sọ, cổng là mồm, thiếu các hố mắt. Cái mồm ấy, nuốt nước triều lên và nhả nước triều xuống, há hốc trước cảnh trời chính ngọ bên ngoài, uống ánh sáng vào rồi lại mửa ra cay đắng. Có những con người, thông minh và ác độc, cũng giống hệt như thế. Tia nắng mặt trời, xuyên qua cái cổng tò vò và bị một lớp nước biển dày đục bịt lại này, chuyển sang màu xanh như một tia sáng của sao Tất[6]. Nước, chứa đựng thứ ánh sáng ướt át đó, giống như ngọc bích tan chảy. Toàn bộ hang động phơn phớt một sắc ngọc thạch vô chừng thanh nhã. Vòm hầm với những mảng thùy gần như thùy não và những đường nhánh ngoằn ngoèo giống như những đường gân tỏa rộng, có một ánh ngọc trắng xanh dịu mát. Các vân sóng, phản chiếu lên trần, tỏa ra rồi hợp lại không cùng, hết nới rộng lại thắt hẹp các mắt lưới vàng với một động tác tung tăng huyền bí. Một cảm giác ma quái từ đấy toát lên; tâm trí có thể tự hỏi con mồi nào, hay chờ đợi nào đã khiến cho tấm lưới lửa sống động huy hoàng kia vui mừng đến thế. Từ những chỗ lồi lõm của mái vòm, từ những chỗ nhấp nhô của núi đá, thõng xuống những loại cỏ dài, nhỏ, có lẽ chúng tắm rễ qua lớp hoa cương vào một vũng nước nào đó ở phía trên, và giọt trước giọt sau, giỏ xuống, ở cuối, một giọt nước, một hạt ngọc. Những hạt ngọc này rơi xuống vực sâu nghe nhè nhẹ, êm êm. Cảm xúc đột ngột trước toàn cảnh này thật là khó tả. Không thể tưởng tượng nổi một cảnh nào đẹp đẽ hơn, cũng không thể nhìn thấy một cảnh nào bi thảm hơn.

Đây là một thứ cung điện của Thần Chết, mãn nguyện.

XIII NHỮNG GÌ THẤY RÕ VÀ NHỮNG GÌ THẤP THOÁNG Ở ĐẤY

Một thứ bóng tối chói lòa; đấy là cảm giác giữa chốn lạ lùng ấy. Người ta cảm thấy có tiếng thở hồi hộp của biển cả. Dao động bên ngoài làm phồng lên, rồi ẩn xuống lớp nước trong hầm, đều đặn như một hơi thở. Tưởng như có một linh hồn bí mật dưới lớp hoành cách mô lớn màu xanh đang im lặng nâng lên hạ xuống.

Làn nước trong suốt một cách huyền diệu; ở tầng sâu khác nhau, Gilliatt nhận thấy có những chỗ đứng ngập nước, những mặt đá nhô lên màu xanh lục thẫm dần. Một số chỗ trũng tối om chắc hẳn không sao dò đến được.

Hai bên cái cổng tò vò nằm dưới nước, có những tác phẩm hình vòng cung rất thấp, tối mò, chứng tỏ đấy là những hàm ếch nhỏ, nằm ở hai bên hầm chính, có lẽ chui vào được triều thật thấp.

Những chỗ lồi lõm ấy, đều có trần nghiêng nhiều hay ít. Một số bãi con con, rộng độ dưới một mét, nằm trơ ra do nước biển đào xói, ăn sâu xuống và biến mất dưới chiều nghiêng ấy.

Đây đó những tấm cỏ dài độ hai mét, dập dờn dưới nước như một mái tóc phất phơ trước gió. Thấp thoáng có những rừng rong biển.

Dưới nước và trên mặt nước, toàn bộ bức thành hầm, từ trên xuống dưới, từ vòm trần đến tận chỗ bị xóa nhòa trong chốn vô hình, đều phủ kín bởi những thứ cỏ hoa kỳ diệu ấy của đại dương, mắt người rất ít khi nhìn thấy, mà các nhà hàng hải già Tây Ban Nha gọi là prederias del mar. Một loại rêu khỏe, mang tất cả những sắc thái của cây ôliu, che kín và khoét rộng những mụn nhọt của lớp hoa cương. Từ các chỗ nhô nghiêng tuôn ra những dải rong mỏng uốn hình hoa mà ngư dân xem như một thứ phong vũ kế. Ngọn gió tối tăm trong hang không ngừng đu đưa những sợi dây lấp lánh ấy.

Dưới lớp cây cỏ đó, ẩn hiện các thứ trang sức hiếm có nhất trong kho nữ trang của đại dương, những ốc ngà, ốc phượng hoàng, ốc mũ giám mục, sứa biển nóng, ốc đỏ tía, ốc tù và, ốc đà điểu, ốc tiền mang, ốc nhà lầu. Những cái chuông của ốc trong, tựa như những cái chòi con tí, bạ chỗ nào của núi đá cũng bám chặt và tập hợp lại thành làng trong các con đường có những loại oscabrions, bọ hung của sóng nước, lần mò. Đá cuội khó khăn lắm mới vào được trong động này, vì sò ốc ẩn náu ở đấy. Sò ốc là cánh đại quý tộc, toàn quần gấm áo thêu, không ưa đụng chạm với lũ tiện dân cuội đá, thô kệch và khiếm nhã. Cảnh sò ốc chồng đống lấp lánh, khiến cho sóng nước đôi chỗ có những phát quang không thể tả hết, qua đó thấp thoáng một mớ hỗn độn màu thiên thanh, màu xà cừ, và những màu vàng đủ mọi sắc độ của nước.

Ở vách hầm, trên mực nước triều một tí, một loại cây rất đẹp và hiếm có bám vào bức thảm rong như một đường viền, nối dài và kết thúc cho bức thảm. Loại cây này, có sợi, rậm rạp, gấp khúc chằng chịt và gần như màu đen, tạo thành những lớp bòng bong rộng và tối om, chỗ nào cũng điểm rất nhiều bông hoa nhỏ màu bích ngọc. Trong nước các bông hoa này như bừng sáng, và nom như những hòn than xanh. Ngoài nước là hoa, dưới nước là lam ngọc; thành thử sóng nước, trong khi dâng cao và tràn ngập móng hầm có những loại cây ấy che, lại phủ hồng ngọc lên núi đá.

Mỗi lần sóng căng phồng lên như một lá phổi, những bông hoa chìm ngập ấy lại rực sáng; mỗi lần sóng hạ xuống chúng lại tắt đi; một điểm tương tự buồn bã với số phận con người. Hít vào là cuộc sống, thở ra là cảnh chết.

Một trong những kỳ quan của cái hang này là vách núi. Ở đây, vách núi, lúc là tường thành, lúc là vòng cung, lúc là mũi tàu hoặc trụ tường, có những chỗ thô sơ trần trụi, nhưng ngay cạnh đó lại được gọt dũa với những nét chạm trổ tự nhiên hết sức tinh vi. Có một cái gì đó rất tài trí xen vào dáng vẻ đần độn cục mịch của hoa cương. Vực thẳm thật là một nghệ sĩ tài hoa! Bức tường kia, bị cắt ngang và đầy những bướu tròn có dáng điệu, tượng trưng mơ hồ một bức tượng nổi; đứng trước bức tường có mây này người ta có thể mơ màng nghĩ đến Prométhée phác họa cho Michel-Ange. Hình như với vài nhát búa là thiên tài có thể hoàn thành cái mà tên khổng lồ đã bắt đầu. Ở những chỗ khác vách đá lại là sắt thép khảm kim tuyến như một cái khiên Hồi giáo hoặc khảm men huyền như một thủy bàn Florentine. Nó có những tấm đố có vẻ như bằng đồng Corinthe, những bức hội văn như cổng đền Hồi giáo, rồi, như một tảng đá viết chữ cổ Nhật Nhĩ Man, những vết móng tay khó hiểu và không chắc. Nhiều loại cây có nhánh cong queo rất nhỏ và có tay cuốn, giao nhau trên những lớp rêu vàng, phủ lên khối đá những hình chìm. Hang động này phức tạp vì có thêm một ngôi đền Alhambra[7]. Đấy là sự gặp gỡ giữa man rợ và nghề kim hoàn trong nền kiến trúc tôn nghiêm và dị hình của ngẫu nhiên.

Những lớp rêu huy hoàng của biển cả phủ nhung lên các góc đá hoa cương. Các chỗ hiểm trở đều được trang hoàng bởi những loại cây leo hoa to, khéo léo không để rơi xuống, và dường như thông minh vì chúng trang trí rất đẹp. Những cây cỏ có bông leo kết thành bó lạ phô mình rất đúng chỗ và rất nhã. Tất cả vẻ duyên dáng có thể có được một hang động đều ở đây. Cái ánh sáng địa đàng kỳ lạ từ dưới nước hắt lên, vừa là ánh sáng chập chờn của biển cả vừa là tia sáng thiên đường, làm dịu bớt tất cả mọi đường nét trong một cảnh phân tán hư hư thực thực. Mỗi ngọn sóng là một lăng kính. Đường viền của mọi vật, dưới những gợn sóng ngũ sắc ấy, tạo màu như những thấu kính quang học lồi quá; những quang phổ mặt trời dập dờn dưới nước. Trước mắt, qua cảnh mờ đục bình minh, như có những đoạn cầu vồng chìm ngập dưới nước. Ở chỗ khác, ở những góc khác, trong nước, như có cảnh trời trăng. Tất cả mọi nét huy hoàng dường như kết hợp lại ở đây với nhau để làm nên một cái gì mờ mịt và có màu sắc ban đêm. Không gì mê hồn và bí hiểm bằng vẻ tráng lệ đó trong cái hầm này. Điểm ngự trị ở đây là không khí mê hoặc. Cây cỏ kỳ quái và cách sắp xếp không ra hình nhất định, ăn ý với nhau và toát lên một nét hài hòa. Sự phân phối này của những vật hoang dại thật là khéo léo. Bao nhiêu cành nhánh bám chắc mà vẫn có vẻ như mơn man. Sự vuốt ve của vách đá man rợ và của hoa lạ thật là sâu sắc. Những trụ đá đồ sộ với đầu cột và dây buộc là những tràng hoa mảnh dẻ lúc nào cũng run rẩy, khiến người ta nghĩ đến những ngón tay tiên mơn trớn bàn chân Béhémoth[8], núi đá đỡ cây, cây ôm níu với vẻ yêu kiều quái gở.

Những thứ dị dạng ấy huyền bí gắn bó với nhau tạo thành một cảnh đẹp tuyệt vời. Công trình của thiên nhiên, không kém phần ưu việt so với những công trình của thiên tài, chứa đựng tính tuyệt đối, và buộc ta phải thán phục. Mặt bất ngờ của chúng đòi hỏi trí óc phải nghe theo; người ta cảm thấy trong đó có một sự dụng tâm bên ngoài con người, và những công trình thiên nhiên chỉ kích thích nhất khi nào chúng làm cho cái tuyệt diệu đột nhiên toát ra từ khía cạnh khủng khiếp.

Có thể nói là cái hang động không ai biết đến đó mang tính chất vũ trụ, nếu từ ngữ này có thể chấp nhận được. Ở đấy người ta gặp những mặt bất ngờ nhất của kinh ngạc. Tràn ngập trong cái mộ thánh này là một thứ ánh sáng huyền bí. Điều đó người ta không dám khẳng định. Trước mắt là một thực tế nhuốm màu phi lý. Nhìn thấy nó, sờ được nó, đứng ngay giữa lòng nó, thế mà lại rất khó tin vào đấy.

Có đúng là ánh trời đang lọt qua cái cửa sổ dưới biển cả kia không? Có đúng là nước đang lung linh trong cái chậu tối đen kia không? Phải chăng những vòm cung và những cổng tò vò kia là những lớp mây trời mô phỏng một dạng hang động? Dưới chân là thứ đá gì đây? Liệu cái cột chống này có sắp tan rã và trở thành mây khói không?

Lớp châu báu sò hến thấp thoáng kia là cái gì? Người ta đang ở cách xa cuộc sống, cách xa quả đất, cách xa con người bao nhiêu? Cảm xúc chưa từng có gần như thiêng liêng, cộng thêm nỗi lo âu dịu dàng của cỏ cây dưới đáy nước.

Ở cuối căn hầm hình bầu dục, dưới một đường hồi văn khổng lồ đặc biệt đúng qui cách, trong một chỗ trũng gần như không rõ, một thứ hốc trong hang, một thứ tủ đựng mình thánh trong chính diện, phía sau một lớp ánh sáng xanh ngăn cách như một bức màn thờ, người ta nhận thấy nhô ra ngoài mặt nước một tảng đá vuông vắn như bàn thờ. Nước bao quanh bốn bề tảng đá. Hình như có một nàng tiên vừa từ đó bước xuống. Dưới cái mộ thánh này, trên cái bàn thờ này, người ta không thể nào không mơ màng đến hình ảnh một nàng tiên không xiêm áo, vĩnh viễn trầm tư, mà việc xuất hiện của một người đàn ông làm biến mất. Thật khó quan niệm căn phòng nhỏ hẹp uy nghiêm này lại không chứa đựng một ảo ảnh gì hết; bóng tiên, do mơ màng khơi gợi, tự phục hồi lại; một suối trăng trinh bạch trên đôi vai thấp thoáng, một vầng trán tắm ánh lê minh, một khuôn mặt trái xoan của thần thánh, đôi vú tròn trĩnh huyền bí, những cánh tay thẹn thùng, một làn tóc xõa trong cảnh bình minh, đôi hông rất khó tả mờ tạc trong lớp mù thiêng, những dáng hình thần tiên, một vẻ nhìn trinh nữ, một Vệ nữ từ biển cả bước ra, một Eve từ hỗn mang xuất hiện, đấy là giấc mơ không thể không có được. Thật vô lý nếu ở đây không có một hồn ma. Rất có thể vừa mới đây, một người đàn bà trần truồng, mang trong mình một vì sao, đã đứng trên bàn thờ kia. Trên cái bệ tỏa lên một cảm giác ngây ngất khó tả ấy, người ta tưởng tượng ra một bóng dáng trắng ngần, sinh động và đứng thẳng. Trong niềm thán phục thầm lặng trước hang động này, trí óc hình dung ra một Amphitrite, một Téthys, một Diane[9] nào đó cũng có thể yêu đương, bức tượng của lý tưởng tạo bằng một tia sáng và dịu dàng đứng nhìn bóng tối. Chính bức tượng ấy, lúc ra đi, đã để lại trong hang chút ánh sáng mờ ảo này, thứ hương thơm ánh sáng tỏa ra từ cái thân hình tinh tú kia. Ánh chói lòa của bóng ma không còn đấy nữa; gương mặt ấy chỉ tạo ra cho vô hình nhìn ngắm, người ta không trông thấy, nhưng người ta cảm thấy nó; người ta có cái cảm giác run run như một khoái cảm. Nàng tiên vắng bóng, nhưng không khí thần tiên vẫn còn phảng phất đâu đây.

Cảnh đẹp hang động dường như được tạo ra cho sự có mặt ấy. Chính vì thần thánh ấy, vì nàng tiên xà cừ ấy, vị nữ hoàng của gió muôn phương ấy, vì vẻ đẹp phát sinh từ sóng nước ấy, chính vì nó, hay ít ra đấy là điều người ta hình dung nên, mà hầm ngầm được xây bịt một cách thành kính, để cho xung quanh con ma thần thánh này, không bao giờ có một cái gì có thể làm xáo động bóng tối, biểu hiện của tôn kính, và im lặng, biểu hiện của uy nghiêm.

Gilliatt, vốn là loại người tiên minh của thiên nhiên, trầm ngâm, cảm động một cách mơ hồ.

Thình lình, dưới chân anh độ sáu mươi phân, trong làn nước trong suốt yêu kiều, như ngọc quý hòa tan, anh trông thấy một vật gì rất khó tả. Một thứ giẻ rách dài, đung đưa trong sóng nước lăn tăn xao động. Mảnh giẻ ấy không lềnh bềnh, nó đang lướt trôi; nó có một mục đích, nó đang định đi đâu đấy, rất nhanh. Cái vật tả tơi ấy giống đầu một thằng hề với những mũi nhọn; những mũi nhọn này, mềm nhũn, đang uốn lượn, dường như nó được phủ bằng một lớp bụi không ướt. Không phải nó chỉ rùng rợn, nó còn bẩn thỉu. Cái của ấy mang nặng tính chất quái vật; đấy là một sinh vật, nếu không phải là vẻ bề ngoài của sinh vật. Dường như nó đang đi về phía góc tối của căn hầm, và chui tọt vào đấy. Trên mình nó, những lớp nước dày sẫm lại. Bóng dáng ấy trườn đi, biến mất, nham hiểm.

❀ ❀ ❀

[1] Ngày xưa nước Pháp gọi là Gaule.

[2] First of the Fourth: Thứ Nhất trong bốn - tên riêng của một vùng biển.

[3] Tức ẩn sĩ ẩn tu trên đầu cột trụ.

[4] Tiếng La-tinh: bầy chim quấy rầy.

[5] Encélade: tên khổng lồ chống đối thần linh nổi tiếng nhất. Nó chạy trốn sang đến tận Sicily thì bị bắt, bị sét đánh và chôn dưới núi lửa Etna. Hơi thở hừng hực của nó hất ra những nham thạch và khi nó định trở mình thì toàn bộ núi rừng và đảo Sicily đều rung chuyển.

[6] Sao Tất (Aldébaran): Ngôi sao lớn nhất trong chòm sao Kim Ngưu (Taureau), có đường kính to hơn 60 lần đường kính mặt trời.

[7] Alhambra: một ngôi đền kiến trúc rất đẹp của các vị vua Maure ngày xưa.

[8] Béhémoth: Con vật to lớn huyền bí tượng trưng cho ma quỷ.

[9] Amphitrite: nữ hải thần; Téthys: nữ thần biển; Diane: nữ thần săn bắn.

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.