Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN MỘT: NHỮNG GÌ LÀM NÊN MỘT TIẾNG XẤU
I MỘT CHỮ VIẾT TRÊN TRANG GIẤY TRẮNG

❊ ❊ ❊

Lễ Giáng sinh năm 1820 ở Guernesey đáng được chú ý. Hôm ấy trời tuyết. Trên các đảo vùng biển Manche, mùa đông có băng là điều đáng được ghi nhớ, và nếu có tuyết thì lại thành sự kiện đặc biệt.

Sáng hôm lễ Giáng sinh ấy, con đường dọc theo bờ biển từ Saint-Pierre-Port đến Valle trắng xóa một màu. Tuyết rơi suốt từ nửa đêm đến tận bừng sáng. Quãng chín giờ, sau khi mặt trời mọc một tí, vì chưa phải lúc để các người theo giáo phái Anh quốc đi nhà thờ Saint-Sampson và để những người theo phái Wesley đến tiểu giáo đường Eldad, nên đường đi hầu như vắng vẻ. Suốt quãng đường giữa tháp thứ nhất và tháp thứ nhì, chỉ có ba người khách qua đường, một em bé, một người đàn ông và một người đàn bà. Ba khách qua đường này, đi cách nhau, rõ ràng không có quan hệ gì với nhau cả. Em bé, độ lên tám, dừng lại và tò mò nhìn tuyết. Người đàn ông đi cách sau người đàn bà, độ một trăm bước. Cũng như người đàn bà, anh từ Saint-Sampson đến; anh còn trẻ, có vẻ như một công nhân hay một thủy thủ. Anh mặc bộ quần áo tứ mùa, một chiếc áo varơ bằng da nâu xấu và một cái quần dính bết nhựa đường, hình như chứng tỏ là bất chấp ngày lễ anh chẳng đi đến giáo đường nào cả. Những chiếc giày cục mịch bằng da thô của anh, đế chi chít đinh to, để lại trên tuyết một dấu vết nom tương tự khóa nhà lao nhiều hơn là chân người. Còn người đàn bà qua đường thì tất nhiên là đóng bộ cánh đi lễ; cô khoác một chiếc áo choàng rộng lót lụa đen, trong diện áo dài popeline Ireland bó sát, sọc trắng, sọc hồng, và giá cô không mang bít tất đỏ thì ta đã tưởng cô là người Paris. Cô cất bước nhanh nhẹn, thoải mái, nhẹ nhàng và qua dáng đi chưa bợn dấu đời đó người ta đoán được cô còn con gái. Điệu bộ cô mang cái vẻ duyên dáng thoáng qua, đánh dấu thời kỳ chuyển tiếp tế nhị nhất, tuổi dậy thì, hai cảnh hoàng hôn lẫn lộn, bước đầu của một người đàn bà trong phút cuối cùng của một em bé. Điểm ấy người đàn ông kia không nhận thấy.

Thình lình, đến cạnh một lùm sồi xanh ở góc một khu vườn con, chỗ gọi là Dãy Nhà Thấp, cô gái bỗng quay lại, động tác ấy khiến người đàn ông phải nhìn cô. Cô gái dừng lại, có vẻ như ngắm nhìn anh chàng một lúc, đoạn cúi xuống; người đàn ông thấy hình như cô lấy ngón tay viết gì đó trên tuyết. Rồi cô ngẩng lên, đi tiếp, bước nhanh, rồi ngoảnh lại, lần này còn cười nữa, và đi khuất sang phía trái con đường, trong cái lối mòn hai bên có hàng rào dẫn đến lâu đài Trường Xuân. Lúc cô ngoảnh lại lần thứ hai, người đàn ông mới nhận ra đây là Déruchette, một cô gái xinh đẹp của địa phương.

Anh thấy cũng chẳng cần phải vội và lát sau anh đã đến bên lùm sồi ở góc khu vườn con. Anh không nghĩ gì đến cô gái qua đường đã đi khuất, và nếu giây phút ấy có một con cá heo văng mình ngoài biển hay một con chim đỏ cổ nhảy nhót trên cành, thì có thể người đàn ông ấy đã đi qua, mắt chăm chú vào con chim đỏ cổ hay con cá heo. Tình cờ lúc trông xuống, anh chợt nhìn đúng vào chỗ cô gái đứng lại. Hai bàn chân nhỏ bé vẫn rành rành ở đấy, và bên cạnh, anh đọc được mấy chữ cô viết trên tuyết: Gilliatt.

Mấy chữ ấy là tên của anh.

Anh là Gilliatt.

Anh đứng lặng hồi lâu, nhìn cái tên, nhìn mặt tuyết, nhìn đôi chân nhỏ bé, rồi lại trầm ngâm đi tiếp.

II BÛ DE LA RUE[1]

Gilliatt ở trong giáo khu Saint-Sampson. Ở đấy, anh không được ai yêu mến cả. Chuyện ấy cũng có nhiều lý do.

Trước tiên anh ở trong một ngôi nhà có ma. Đôi khi tại Jersey hay tại Guernesey, ở nông thôn hay ở thành phố cũng vậy, đi qua một nơi hẻo lánh hoặc trong một phố đông người, bạn gặp một ngôi nhà, lối vào bị ngăn bít, ô-tô lấp kín cửa, những mảnh ván xấu xí đóng đinh vít tạm các cửa sổ tầng dưới, cửa sổ tầng trên thì cái đóng cái mở, bao nhiêu khung cửa đều đóng chốt nhưng tất cả các ô kính đều vỡ toang. Nếu có hàng rào, có sân, thì cỏ cũng mọc đầy và lan can bao quanh cũng sụt lở; nếu có vườn thì cũng chỉ thấy tầm ma, gai góc, và độc cần, và ở đấy người ta có thể rình bắt những giống sâu bọ hiếm thấy; ống khói nứt nẻ, mái nhà sụt lở; bên trong các phòng thì tanh bành; gỗ ván mục nát, đá gạch mốc meo. Trên tường giấy dán bong hết. Các bạn có thể nghiên cứu ở đấy các kiểu giấy hoa thời xưa, các quái vật thời đế chế, các loại màn trướng lưỡi liềm thời chấp chính, các tường hoa và cột mộ thời Louis XVI. Những lớp mạng nhện chằng chịt đầy ruồi chỉ rõ cảnh yên tĩnh triền miên của các cô nhện. Đôi khi thấy một chiếc lọ vỡ trên sàn. Đấy là một ngôi nhà có ma. Ban đêm quỷ thường đến đấy.

Nhà cửa cũng như con người có thể trở thành xác chết. Chỉ cần một chuyện mê tín giết chết nó. Thế là nó trở nên khủng khiếp. Những ngôi nhà chết như thế không phải là hiếm thấy trên các đảo vùng biển Manche.

Nơi nào có ma quỷ thì nông dân và người miền biển đều không yên tâm trí. Nhân dân vùng biển Manche, quần đảo Anh và duyên hải Pháp, có những khái niệm rất cụ thể về nó. Quỷ sứ có sứ giả trên khắp trần gian. Chắc chắn Belphégor là đại sứ của địa ngục tại nước Pháp, Hutgin tại Italia, Bélial tại Thổ Nhĩ Kỳ, Thamuz tại Tây Ban Nha, Martinet tại Thụy Sĩ và Mammon tại nước Anh. Satan cũng là một vị hoàng đế như ai. Satan César. Triều đình của nó tổ chức rất đàng hoàng; có Dagon là thị vệ thượng thiện; cổ Succor Bénoth trưởng đoàn quan thị; có Asmodée hồ lỳ các sòng bạc; có Kobal giám đốc nhà hát, có Verdelet vụ trưởng vụ lễ nghi; có hề Nybbas. Wiérus, nhà thông thái, học giả nổi tiếng về ma cà rồng và ma quỉ học đại tài, gọi Nybbas là “nhà thơ cuồng phỏng vĩ đại”.

Mỗi lần đi biển, ngư dân Normand vùng biển Manche đều đề phòng rất cẩn thận, vì những ảo ảnh do quỉ sứ gây ra. Từ lâu người ta cho rằng thánh Maclou vẫn sống trên ngọn núi vuông to Ortach, nằm ở ngoài khơi giữa Aurigny và các hòn Casquets, và nhiều thủy thủ già ngày xưa khẳng định thường nhìn thấy từ xa thánh ngồi và đọc sách. Vì vậy các thủy thủ đi qua cứ gập gối chào trước ngọn núi Ortach, cho đến ngày câu chuyện hoang đường ấy tiêu tan và nhường chỗ cho sự thật. Người ta đã phát hiện ra và ngày nay người ta biết rằng không phải một vị thánh sống trên núi Ottach mà một con quỉ. Con quỉ ấy, tên là Jochmus, đã ranh mãnh làm cho mọi người trong nhiều thế kỷ lầm tưởng hắn là thánh Maclou. Vả lại chính Nhà thờ cũng lầm. Những con quỷ Raguhel, Oribel và Tobiel cũng đã từng làm thánh mãi đến năm 745, ngày mà Giáo Hoàng Zacharie, đánh hơi biết, tống cổ chúng đi. Để có thể trục xuất như vậy, việc làm này chắc chắn là rất hữu ích, phải hết sức thông thạo về quỉ sứ.

Các cụ ngày xưa trong địa phương kể lại, nhưng những việc ấy đều thuộc về quá khứ, rằng ngày trước người theo đạo Gia-tổ trên quần đảo Normand còn hay liên hệ với ma nhiều hơn người Huguenot[2], tuy rất miễn cưỡng thôi. Tại sao? Điểm ấy chúng tôi chịu. Điều chắc chắn là ngày trước lớp người thiểu số này bị quỉ sứ quấy nhiễu quá thể. Nó quí mến người theo đạo Gia-tô, và tìm cách lui tới với họ, khiến người ta tưởng rằng quỉ sứ theo đạo Gia-tô chứ không theo đạo Tin lành. Một trong những trò thân mật không thể chịu được của nó, là đêm đêm mò đến các giường cưới của người Gia-tô. Vào lúc anh chồng đã ngủ, và chị vợ mới chập chờn. Do đó có những ngộ nhận. Patouillet vẫn nghĩ rằng Voltaire đã nhờ thế mà được cất tiếng chào đời. Chuyện ấy không có vẻ gì là không thật. Vả lại trường hợp ấy hoàn toàn được biết và tả bằng những câu phù chú, trong mục: de erroribus nocturnis et de semine diabolorum[3]. Đặc biệt nó đã hoành hành ở Saint-Hélier quãng cuối thế kỷ trước, chắc là để trừng phạt những tội ác của cách mạng. Hậu quả những mặt quá khích của cách mạng không thể kể xiết. Dù sao khả năng ma quỉ xuất hiện ban đêm, khi người ta không nhìn rõ, khi người ta ngủ, cũng khiến cho nhiều phụ nữ theo chính giáo phải lúng túng. Đẻ ra một ông Voltaire quả là chẳng có gì hay ho cả. Một bà lo ngại, đến hỏi cha xưng tội cách làm sáng rõ kịp thời chuyện lầm lẫn ấy. Cha xưng tội đáp: - Để biết chắc chắn là con đang nằm với quỉ sứ hay với chồng, con cứ sờ vào trán; nếu con thấy có sừng thì đúng là… - Là gì cơ ạ? - bà ta hỏi.

Ngôi nhà Gilliatt ở trước kia có ma, nay đã hết rồi. Vì vậy nó càng bị nghi ngờ. Không ai lạ gì khi một ngôi nhà có ma mà được phù thủy đến ở thì quỉ sử cho rằng nhà đã được trông coi tử tế, và tỏ ra lễ độ với vị phù thủy bằng cách không đến đấy nữa, trừ phi được gọi đến như thầy thuốc.

Ngôi nhà đó gọi là Bû de la Rue. Nó ở đầu một doi đất hay nói đúng hơn một ngọn núi làm thành một bến nhỏ riêng lẻ trong vịnh Houmet Paradis. Nước ở đấy sâu. Ngôi nhà chơ vơ độc một mình trên cái mũi nhọn hầu như nhô ra ngoài đảo, với một khoảnh đất vừa đủ để thành một mảnh vườn con. Thủy triều cao đôi khi dìm ngập cả mảnh vườn. Giữa cảng Saint-Sampson và vịnh Houmet Paradis, có ngọn đồi to trên đó sừng sững cái khối những tháp và trường xuân gọi là lâu đài Valle hay Archange, thành thử từ Saint-Sampson không thể nhìn thấy Bû de la Rue.

Ở Guernesey không gì dễ tìm hơn một anh phù thủy. Họ hành nghề tại một số giáo khu, và thế kỷ mười chín không động đến họ. Họ có những hành vi thật sự là tội ác. Họ nấu vàng cho sôi lên. Đêm khuya họ đi hái lá. Họ dòm ngó gia súc mọi nhà. Người ta tìm hỏi, họ bảo mang “nước bệnh nhân” để trong chai đến cho họ, và người ta nghe họ lẩm bẩm: Nước có vẻ buồn lắm. Một hôm, vào tháng ba năm 1856, một anh trong số họ nhận thấy trong “nước” của một bệnh nhân có bảy con quỉ. Người ta sợ họ mà họ cũng đáng sợ thật. Một anh đã phù yểm một người thợ làm bánh mì “và cả cái lò của y nữa”. Một anh còn nham hiểm gắn si và niêm phong rất kỹ những chiếc phong bì “trong đó chẳng có gì cả”. Một anh còn cất giữ trong nhà, trên một tấm ván, ba cái chai dán nhãn đề chữ B. Những việc quái gở ấy đều được nhiều người biết. Một số phù thủy cũng tử tế và chỉ cần hai hay ba ghinê cũng chữa hộ bệnh. Lúc bấy giờ họ vừa lăn ra giường vừa gào thét. Trong khi họ quằn quại thì các bạn nói: Kìa, tôi không sao nữa cả. Có những anh chữa hết mọi bệnh cho bạn bằng cách buộc quanh người bạn một chiếc khăn tay. Phương pháp đơn giản đến nỗi người ta ngạc nhiên tại sao chẳng ai nghĩ đến nó. Thế kỷ trước, tòa án Guernesey vứt họ vào một đống củi và thiêu sống. Ngày nay, tòa án phạt họ lần lượt tám tuần ngồi tù, bốn tuần ăn bánh mì nước lã, và bốn tuần giam kín. Amant alterna catenœ[4].

Lần thiêu phù thủy cuối cùng ở Guernesey vào năm 1747. Để làm việc ấy, thành phố đã sử dụng một trong số các quảng trường, ngã tư Bordage. Ngã tư Bordage đã được thấy thiêu sống mười một phủ thủy, từ năm 1565 đến năm 1700. Thông thường bọn tội phạm này đều thú nhận. Người ta dùng tra tấn để giúp cho chúng thú nhận. Ngã tư Bordage còn giúp được nhiều việc khác nữa cho xã hội và tôn giáo. Người ta còn thiêu cả những người theo tà giáo. Dưới triều đại Marie Tudor, người ta thiêu ở đây, cùng với những người Huguenot, một bà mẹ cùng với hai cô con gái bà ta, bà mẹ ấy tên là Perrotine Massy. Một trong hai cô gái có chửa. Cô ta đẻ ngay trên giàn thiêu. Biên niên sử ghi: “Bụng cô ta nổ tung.” Từ cái bụng ấy văng ra một cháu bé còn sống; đứa trẻ sơ sinh lăn ra ngoài lò lửa; một người tên là House nhặt cháu bé lên. Tên pháp quan Hélier Gosselin, một tín đồ của đạo Gia-tô, bắt quăng trả cháu bé vào lửa.

III “DÀNH CHO VỢ CON, KHI NÀO CON CƯỚI VỢ”

Ta hãy quay lại với Gilliatt.

Trong địa phương, người ta kể chuyện rằng vào quảng cuối thời kỳ Cách Mạng có một bà, cùng với một đứa con nhỏ, đến ở tại Guernesey. Bà ta là người Anh, nếu không phải là người Pháp, Bà ta có một cái tên nào đó mà cách phát âm vùng Guernesey và chính tả ở thôn quê biến thành Gilliatt. Bà ta sống một mình với thằng bé mà có người cho là cháu gọi bằng cô, có người cho là con, có người cho là cháu nội hay cháu ngoại, có người lại cho chẳng là gì cả. Bà ta có được ít tiền, vừa đủ để sống một cách nghèo khổ. Bà ta mua một mảnh đồng cỏ nhỏ của bà Sergentée, và một vạt đất của bà Roque Crespel, ở cạnh Rocquaine. Ngôi nhà Bû de la Rue thời ấy đang có ma. Từ hơn ba mươi năm, người ta không còn ở đấy nữa. Nó đang sụp đổ. Mảnh vườn bị biển ra vào nhiều quá không sản xuất được gì cả. Ngoài những tiếng động ban đêm và những ánh sáng lập lòe, ngôi nhà có điểm đặc biệt hãi hùng là, nếu buổi tối người ta để trên lò sưởi một cuộn len, với kim đan và một đĩa súp, thì sáng hôm sau thấy súp hết nhẵn, đĩa không, và một đôi găng tay một ngón đã đan xong. Người ta yết bán ngôi nhà nát cùng với con ma trong ấy với giá vài ba livrơ xteclinh. Bà ta mua ngôi nhà, tất nhiên do bị quỉ sứ cám dỗ. Hoặc do giá hời.

Không những mua nó, bà ta còn đến đấy ở cùng với con trai, và từ đấy ngôi nhà trở nên yên tĩnh. Dân địa phương bảo: Ngôi nhà ấy đã có cái mà nó muốn. Việc ma ám chấm dứt. Người ta không nghe thấy tiếng gào thét ở đấy lúc trời rạng sáng nữa. Không có ánh sáng nào khác ngoài ngọn nến mỡ bò đêm đêm người đàn bà hiền lành kia thắp. Đèn phù thủy cũng như đuốc yêu tinh. Lời giải thích ấy làm vừa lòng công chúng.

Người đàn bà kia ngày đêm xoay sở với mấy sào đất của mình. Bà ta có một con bò cái tốt cho bơ vàng óng. Bà thu hoạch được đỗ trắng, cải bắp, và khoai tây loại Golden Drops. Cũng như những người khác, bà ta bán “củ cải đóng thùng, hành đếm trăm và đậu tằm bằng đấu”. Ba ta không đi chợ, mà nhờ Guilbert Falliot bán hoa màu cho cánh buôn Saint-Sampson. Sổ cái của Falliot nhận có lần bản hộ bà ta đến hai hộc khoai ba tháng, loại đúng thời hạn nhất.

Ngôi nhà đã được sửa chữa qua quýt, vừa đủ để ở được. Trong các buồng chỉ dột khi nào mưa to quá. Nhà gồm có một tầng dưới và một gác mái. Tầng dưới chia làm ba phòng, hai phòng ngủ và một phòng ăn. Lên gác mái bằng thang. Người đàn bà lo việc bếp núc và dạy con đọc. Bà ta không đi nhà thờ, vì vậy, cân nhắc đủ mọi nhẽ, người ta bảo bà ta là người Pháp. “Không đi nhà thờ nào cả” là chuyện hệ trọng.

Tóm lại, đấy là những con người không có gì bảo đảm.

Rất có thể bà ta là người Pháp. Hỏa diệm sơn phụt ra đất đá thì Cách Mạng phụt ra người. Nhiều gia đình vì vậy mà bắn đi rất xa, nhiều số phận vì thế mà lạc loài, nhiều nhóm người bị ly tán và xé nhỏ, nhiều người rơi từ trên mây xuống, có người bay sang Đức, có người tung sang Anh, có người bạt sang Mỹ. Họ khiến cho các thổ dân phải ngạc nhiên. Những con người xa lạ kia từ đâu tới? Chính ngọn Vésuve[5] nghi ngút khói ở kia đã khạc ra họ. Người ta đặt tên cho những thứ thiên thạch kia, cho những kẻ bị trục xuất và phiêu bạt kia; người ta gọi họ là cánh di cư, là dân lánh nạn, là khách giang hồ. Nếu họ ở lại, người ta làm ngơ; nếu họ ra đi, người ta hể hả. Đôi khi đấy là những con người hoàn toàn vô hại, xa lạ, ít ra là các phụ nữ, trước những sự kiện đã xua đuổi họ, không căm hờn giận dữ, những viên đạn bất đắc dĩ, rất ngạc nhiên. Họ lại cố sức bắt rễ. Họ chẳng hề làm gì hại ai và không hiểu gì việc đã xảy ra đến với họ. Tôi đã thấy một túm cỏ khốn khổ bị mìn nổ hất tung lên không trung. Một cuộc cách mạng của nước Pháp, hơn bất cứ vụ nổ nào khác, đã hất xa những con người như vậy.

Người đàn bà mà Guernesey người ta quen gọi là mụ Gilliatt có lẽ là cái túi cỏ đó.

Người đàn bà già đi, thằng bé lớn dần. Hai người sống cô độc, bị xa lánh. Họ tự mãn với nhau. Sói mẹ sói con liếm láp cho nhau. Đấy cũng lại là một trong những lời nói thông thường mà lòng hào hiệp xung quanh thường áp dụng cho họ. Thằng bé trở thành một chàng trai, chàng trai trở thành một gã đàn ông, và thế là vỏ già của đời bao giờ cũng phải bong rụng, bà mẹ chết. Bà để lại cho nó mảnh đồng của bà Sergentée, vạt đất của bà Roque-Crespel, ngôi nhà Bû de la Rue, và thêm bản kiểm kê chính thức ghi, “một trăm ghinê vàng trong một cẳng tất”, nghĩa là trong bàn chân một chiếc bít tất. Ngôi nhà cũng được trang hoàng đầy đủ với hai cái hòm bằng gỗ sồi, hai chiếc giường, sáu ghế tựa, một cái bàn và xoong nồi cần thiết. Trên một tấm ván có vài ba quyển sách và trong một góc, một cái hòm chẳng có gì là bí mật vì phải mở để kiểm kê. Hòm này bằng da màu nâu vàng, trang trí hoa văn bằng đinh đồng và ngôi sao bằng thiếc, và đựng đầy đủ một bộ tư trang đàn bà, còn mới tinh, bằng vải phin Dunkirk rất đẹp, sơ mi, váy, thêm một số lụa để may áo dài, với một mảnh giấy trên có mấy chữ sau đây do chính bàn tay người quá cố viết: Dành cho vợ con, khi nào con cưới vợ.

Cái chết này đối với người còn lại là một niềm đau xót nặng trĩu bên lòng. Xưa kia anh man rợ, giờ đây anh trở thành hung dữ. Cảnh vắng vẻ xung quanh anh càng thêm vắng vẻ. Trước đây là cảnh cô đơn, bây giờ là cảnh trống trải. Ngày nào còn có cả hai người, cuộc sống còn có thể chịu đựng được. Một mình, hình như không thể nào kéo lê thêm cuộc sống. Người ta không muốn kéo nữa. Đấy là hình thái đầu tiên của thất vọng. Sau đó người ta hiểu ra rằng bổn phận là một chuỗi dài chịu đựng. Người ta nhìn cái chết, người ta nhìn cuộc đời, và người ta chấp nhận. Nhưng đó là một sự chấp nhận rớm máu.

Gilliatt còn trẻ nên vết thương của anh thành sẹo. Ở tuổi anh, trái tim trở lại bình thường. Nỗi buồn của anh, dần dần phai nhạt, hòa lẫn vào thiên nhiên xung quanh, trở thành một niềm say mê, lôi cuốn anh vào mọi vật và xa con người, ngày càng hợp tâm hồn ấy với cảnh cô đơn.

IV THẤT NHÂN TÂM

Gilliatt không được yêu quí trong giáo khu, điều ấy chúng tôi đã nói rồi. Chẳng có gì tự nhiên hơn mối ác cảm đó. Nguyên nhân thì nhiều. Thoạt tiên, ta vừa giải thích xong, ngôi nhà anh ở. Tiếp đó, nguồn gốc anh. Người đàn bà kia là thế nào? Và tại sao lại thằng con ấy? Dân quê không thích có những điều bí ẩn về người thiên hạ. Tiếp đó, quần áo anh lại là quần áo công nhân, trong khi, mặc dù chẳng phải giàu có gì, anh vẫn đủ sống mà không làm gì. Tiếp đó, mảnh vườn mà anh khéo trồng trọt và thu hoạch khoai tây bất chấp những thay đổi của thời tiết. Tiếp đó, mấy quyển sách to anh để trên tấm ván và vẫn lấy đọc.

Còn nhiều lý do nữa.

Tại sao anh sống một mình? Ngôi nhà ven đường là một thứ trại hủi; người ta tẩy chay anh; vì vậy cũng đơn giản hơn việc người ta ngạc nhiên về cảnh hiu quạnh của anh, và người ta cho rằng anh phải chịu trách nhiệm về cảnh cô đơn mà người ta tạo ra xung quanh anh.

Không bao giờ anh đi nhà thờ. Anh thường ra khỏi nhà về đêm. Anh nói chuyện với phù thủy. Có lần người ta nhìn thấy anh ngồi trên cỏ, vẻ mặt ngơ ngác. Anh hay lui tới chỗ ngôi thạch mộ Ancresse và những hòn đá trên đồng ruộng. Người ta đoán chắc là đã thấy anh lễ phép chào ngọn Roque qui Chante. Anh mua tất cả số chim người ta đem đến cho anh và đem thả chúng ra. Anh lễ phép đối với những người tư sản trong các đường phố Saint-Sampson, nhưng chỉ thích đi vòng để khỏi phải qua đấy. Anh rất hay đi câu và lúc nào cũng có cá đưa về. Chủ nhật anh làm vườn. Anh có một cái kèn da mua của những người lính Scotland đi qua Guernesey, và vào lúc chiều tà, ngồi trên các mỏm núi ngoài biển, anh thường lấy kèn ra thổi. Anh thường làm những điệu bộ như người gieo hạt. Với một người như vậy thì địa phương sẽ ra sao đây?

Còn mấy quyển sách mà người đàn bà quá cố để lại và anh thường lấy xuống đọc thì thật đáng lo ngại. Cha Jaquemin Hérode tôn kính, mục sư tại Saint-Sampson, vào nhà hôm đám ma người đàn bà, đã đọc được ở gáy các quyển sách những nhan đề sau đây: Từ điển Rosier, Candide của Voltaire, Lời khuyên dân chúng về sức khỏe của Tissot. Một vị quý tộc người Pháp, di cư ẩn dật ở Saint-Sampson, đã nói: Hẳn là cái lão Tissot, người đã cầm cái đầu của công chúa Lamballe.

Bề trên tôn kính đã nhận thấy trên một quyển sách cái nhan đề thật lủng củng và dễ sợ. De Rhubarbaro.

Tuy nhiên cần phải nói, vì tác phẩm được viết bằng chữ La tinh, như nhan đề chỉ rõ, khó có thể tin rằng Gilliatt, vốn không biết chữ La tinh, lại đọc đến quyển sách ấy.

Nhưng chính những quyển sách mà người ta không đọc lại hay kết tội người ta nhiều nhất. Pháp đình tôn giáo Tây Ban Nha đã xét đến điểm này và cho là không phải nghi ngờ gì cả.

Vả lại đây chẳng qua là quyển sách của bác sĩ Tilingius viết về cây Rhubarbe xuất bản ở Đức năm 1679.

Người ta không chắc Gilliatt đã không làm bùa, làm ngải, và “nấu rượu”. Anh có khối những chai lọ.

Tại sao tối tối anh lại hay dạo chơi, đôi khi đến tận nửa đêm, ngoài vách biển, tất nhiên để chuyện trò với những kẻ xấu ban đêm vật vờ trong khói ở ngoài bờ biển.

Có lần anh đã giúp mụ phù thủy ở Torteval kéo được một chiếc xe ra khỏi quãng lầy. Một bà già, tên là Moutonne Gahy.

Trong cuộc điều tra dân số ở đảo, được hỏi về nghề nghiệp, anh đã trả lời: Đánh cá, khi có cá. Bạn thử đặt mình vào cương vị dân thường, người ta không ưa những câu trả lời như vậy.

Nghèo giàu là chuyện để so sánh, Gilliatt có ruộng, có nhà và so với những người chẳng có gì, thì anh chẳng phải nghèo. Một hôm, để thử anh, và có lẽ cũng để tấn công anh vì cũng có những người đàn bà lấy quỉ giàu, một cô gái hỏi Gilliatt: - Bao giờ thì anh lấy vợ? - Anh đáp: Bao giờ hòn Roque qui Chante lấy chồng thì tôi lấy vợ.

Hòn Roque qui Chante là một tảng đá to đứng sừng sững trong một mảnh vườn gần của Monsieur Lemézurier de Fry. Cần phải giám sát kỹ tảng đá này. Người ta không biết tại sao nó lại ở đấy. Người ta thường nghe có tiếng gáy ở đấy mà không thấy có gà, điều thật hết sức bực mình. Sau đó người ta lại xác nhận rằng nó được bọn sarregouset, bọn này cũng như bọn sin, đặt trong mảnh vườn ấy.

Ban đêm, khi nào có sấm, nếu thấy có người bay trong mây đỏ và trong không khí chuyển động, đấy là bọn sarregouset. Một người đàn bà, ở Grand Mielles, biết rõ chúng nó. Một tối nọ có bọn sarregouset ở một ngã tư, người đàn bà ấy nói to với một anh đánh xe bò, người này đang không biết đi về đàng nào: Cứ hỏi họ đường mà đi, đây là những con người rất tốt, rất lịch sự để trò chuyện ở đời. Cuộc gì thì cuộc, người đàn bà ấy là phù thủy.

Vị vua anh minh và thông thái Jacques Đệ Nhất thường sai luộc sống những loại đàn bà như thế, nếm thử nước luộc và qua chất vị của nước luộc, phán: Đúng là một mụ phù thủy, hoặc mụ này không phải phù thủy.

Đáng tiếc là vua chúa ngày nay không có cái tài như thế nữa, để cho ta hiểu lợi ích của thể chế.

Gilliatt không phải là không có những nguyên nhân chính đáng, sống sặc mùi phù thủy. Trong cơn bão vào lúc nửa đêm, Gilliatt đang ở một mình ngoài biển, trên một chiếc thuyền con phía La Sommeilleuse, người ta nghe anh hỏi:

- Có thể đi qua được không?

Có tiếng nói to từ trên đỉnh núi:

- Có! Dũng cảm lên!

Anh nói với ai, nếu không phải với người trả lời anh? Đối với chúng ta, điều ấy hình như là một bằng chứng.

Một đêm khác trời cũng giông bão, tối như bưng, ngay cạnh hòn Catiau Roque, một dãy núi đồi, nơi phù thủy, dê và quỷ sứ cứ thứ sáu lại đến nhảy múa, người ta nhận rõ tiếng của Gilliatt lẫn trong đoạn đối thoại sau đây:

- Vésin Brovard thế nào rồi? (Đấy là một người thợ xây bị ngã từ mái nhà xuống)

- Đỡ rồi.

- Trời đất! Hắn ngã từ chỗ cao hơn cái cột này. May mà hắn không bị gãy xương.

- Tuần trước đi lấy rong biển trời đẹp lắm.

- Hơn bữa nay.

- Rồi coi! Ở chợ sẽ chẳng còn con cá nào đâu.

- Trời gió dẽ quá.

- Không làm sao mà thả được lưới.

- Con Catherine ra sao?

- Mê lắm.

“Con Catherine” dĩ nhiên là một con sarregouset.

Xét theo bề ngoài thì Gilliatt thường làm việc về đêm. Ít ra không ai nghi ngờ về chuyện ấy.

Đôi khi người ta thấy anh đổ nước ra đất với cái vò của anh. Mà nước đổ xuống đất bao giờ cũng có hình quỉ sứ.

Trên con đường Saint-Sampson, đối diện với xưởng rèn số 1, có ba tảng đá xếp thành bậc thang. Trên mặt bằng của chúng, hiện nay chẳng có gì, ngày trước có một cây thánh giá, nếu không phải là một cái giá treo cổ. Những tảng đá này ác độc lắm.

Nhiều người rất dè dặt và nhiều người tuyệt đối có thể tin được khẳng định đã trông thấy Gilliatt nói chuyện với một con cóc, cạnh mấy tảng đá nói trên. Thế mà ở Guernesey lại không có cóc, Guernesey có đủ loại rắn nước và Jersey có đủ loại cóc. Con cóc này hẳn đã bơi từ Jersey sang để nói chuyện với Gilliatt. Cuộc nói chuyện rất thân mật.

Những sự việc trên được xác nhận, chứng cớ là ba tảng đá vẫn còn đấy. Người nào ngờ vực có thể đi mà xem, và cách đấy không xa, còn một ngôi nhà ở góc có treo tấm bảng: Mua bán gia súc sống hoặc chết, dây thừng cũ, sắt, xương và kén, giao dịch và thanh toán nhanh chóng.

Phải có ác ý mới phủ nhận sự hiện hữu của mấy tảng đá kia và sự tồn tại của ngôi nhà nọ. Tất cả những chuyện ấy đều có hại cho Gilliatt.

Chỉ những người ngu dốt mới không biết hiểm họa lớn nhất trên biển Manche là Vua Auxcriniers[6]. Không có nhân vật nào ngoài biển đáng sợ hơn. Ai mà trông thấy lão là thế nào cũng bị đắm giữa các hòn Saint-Michel. Lão nhỏ người, lùn tịt, điếc đặc và là Vua. Lão biết tên tất cả những người chết ngoài biển và chỗ họ nằm. Lão biết tường tận nghĩa địa đại dương. Một cái đầu dưới to trên hẹp, một thân mình vạm vỡ, một cái bụng nhầy nhụa dị hình, sọ tinh mụn cóc, ống chân ngắn ngủn, cánh tay dài nghêu, bàn chân hình vây cá, bàn tay như vuốt nhọn, mặt phèn phẹt xanh lè, hình dạng lão vua ấy như thế đấy. Vuốt của lão có màng kiểu chân vịt, vây lão đều có móng. Ta cứ tưởng tượng một con cá mà có mặt người. Để thanh toán lão, phải trù yểm lão hay câu được lão. Trong khi chờ đợi lão rất hung ác. Không gì đáng sợ bằng lão. Trên sóng nước sau lớp sương mù dày đặc thấp thoáng hình dáng một con người; trán thấp, mũi tẹt, hai tai bẹp dí, cái mồm rộng hoác không răng, nhăn nhở màu xanh lục, hàng lông mày xếch ngược và cặp mắt vui vẻ thô lố. Lúc chớp xanh lè thì lão đỏ rực, lúc chớp đỏ thẫm thì lão lại nhợt nhạt tái mét. Lão có bộ râu xòa rộng vừa óng ánh vừa cứng, cắt tỉa vuông vắn, trên một cái màng mỏng hình áo choàng, trang trí thêm mười cái vỏ sò, bảy cái phía trước, bảy cái phía sau. Mấy cái vỏ sò này khá kỳ lạ đối với những ai hiểu biết về sò hến. Chỉ khi nào biển động mạnh mới thấy Vua Auxcrinier. Lão là tên hề rùng rợn của bão táp. Hình dáng lão thấp thoáng trong sương mù, trong gió giật và trong mưa tuôn. Cái rốn của lão nom thật gớm chết. Một lớp vỏ hàu phủ kín mạn sườn lão như một chiếc áo nịt. Lão đứng sừng sững trên những lớp sóng cuộn tung tóc dưới áp lực của gió và xoắn vặn như phoi bào thoát ra khỏi chiếc bào thợ mộc. Lão đứng phơi cả mình ra ngoài bọt nước, và nếu ở chân trời có thuyền bè lâm nạn là, đang xanh mét trong bóng tối, mặt bỗng rạng lên nhờ ánh sáng một nụ cười mơ hồ, lão nhảy múa với vẻ điên loạn và khủng khiếp. Đấy là một cuộc gặp gỡ nguy hiểm. Vào thời kỳ Gilliatt còn là một trong những chuyện bận tâm của Saint-Sampson, những người cuối cùng được thấy vua Auxcrinier đều tuyên bố rằng trên tấm áo choàng của lão chỉ còn mười ba chiếc vỏ sò, như vậy lão càng thêm nguy hiểm. Nhưng cái thứ mười bốn đâu rồi? Lão có cho ai không? Và lão đã cho ai? Chuyện đó chẳng ai biết, người ta đành đoán phỏng. Điều chắc chắn là Monsieur Lupin Mabier ở Godaines, người có uy tín, nghiệp chủ đóng thuế ở tám mươi phường khóm, sẵn sàng thề rằng có lần ông đã thấy trong tay Gilliatt một chiếc vỏ sò rất đặc biệt.

Những câu chuyện sau đây giữa hai nông dân không phải là hiếm:

- Này ông bạn hàng xóm, có phải con bò nhà tôi đẹp không?

- Béo múp ông bạn hàng xóm ạ.

- Ờ đúng thế thật.

- Nó nhiều mỡ hơn thịt.

- Trời ơi!

- Anh có chắc là Gilliatt chưa nhìn nó lần nào không?

Gilliatt thường dừng lại ở các rìa bờ ruộng, cạnh mấy người thợ cày và bên những mảnh vườn gần mấy người làm vườn, và anh thường nói với họ những lời bí mật:

- Khi nào hàm thiếc quỉ ra hoa thì gặt lúa mạch đông.

(Hàm thiếc quỉ tức là cây scabieuse).

- Tần bì ra lá, băng giá không còn.

- Hạ chí mà đến là gai ra hoa.

- Tháng sáu không mưa, lúa mì bạc trắng. Nên sợ lúa đen.

- Anh đào kết quả, cảnh giác trăng tròn.

- Mồng sáu âm lịch, nếu thời tiết giống như mồng bốn, mồng năm thì suốt tuần trăng sẽ vẫn như thế, chín lần trên mười hai trong trường hợp thứ nhất và mười một trên mười hai trong trường hợp thứ hai.

- Phải để mắt đến hàng xóm đang kiện tụng với anh. Nên đề phòng những chuyện ác ý. Lợn uống sữa nóng thì lợn đi đời. Xát răng bò cái bằng hương mộc là bò chê cỏ.

- Cá hương đẻ trứng, coi chừng bệnh sốt.

- Nhái ra khỏi hang, dưa gang trồng gấp.

- Địa liên ra hoa, gieo ngay đại mạch.

- Điền ma ra hoa, phát ngay đồng cỏ.

- Bạch dương ra hoa, mở toang khuông kính.

- Thuốc lá ra hoa, đóng kỹ nhà kính.

Và, điều khủng khiếp, nếu nghe theo lời anh khuyên, người ta sẽ khá.

Một đêm tháng sáu anh thổi kèn da trên động cát, phía Demie de Fontenelle, thế là đợt đánh cá song mất trắng.

Một tối, lúc thủy triều xuống, trên bãi cát trước nhà anh ở Bû de la Rue, một chiếc xe bò chở rong biển bị đổ. Chắc anh sợ bị gọi ra pháp luật, vì anh cố sức giúp người ta dựng chiếc xe và đích thân chất lại chỗ rong lên xe.

Một con bé hàng xóm có rận, anh đã đi Saint-Pierre-Port mua thuốc cao về, và xát cho con bé. Gilliatt đã chữa hết rận cho nó, như thể chứng tỏ Gilliatt đã làm cho con bé có rận.

Mọi người đều biết có một thứ bùa làm cho người ta có rận.

Gilliatt có tiếng hay nhìn xuống giếng, như thế rất nguy hiểm nếu con mắt độc ác; sự thật là một hôm ở Arculons, gần Saint-Pierre-Port, nước giếng bỗng dưng trở mùi. Bà chủ giếng hiền lành liền nói với Gilliatt: Anh xem chỗ nước này coi. Và bà đưa cho anh một cốc nước đầy. Gilliatt công nhận: Nước có nặng mùi thật. Bà cụ sinh nghi nói: Thế thì anh chữa nó hộ tôi đi. Gilliatt hỏi bà: - Bà có chuồng bò không? - Chuồng bò có cống không? - Nước cống có chảy qua gần giếng không? Bà cụ trả lời có, Gilliatt liền đi vào chuồng bò, quét dọn cống, cho dòng nước chảy qua chỗ khác, thế là nước trở lại trong lành. Trong vùng ai muốn nghĩ gì thì nghĩ. Một cái giếng không phải xấu, sau đó lại tốt, không có nguyên do; người ta không thể cho rằng bệnh của cái giếng này là tự nhiên, và khó lòng không tin rằng đúng Gilliatt đã bỏ bùa xuống giếng nước.

Một hôm anh đi Jersey, người ta nhận thấy anh đến ở tại Saint-Clément, phố Alleurs. Alleurs tức là ma quỉ.

Ở làng, người ta hay cóp nhặt những dấu hiệu về một con người, người ta ráp những dấu hiệu ấy lại; tổng số tạo thành tiếng tăm.

Có hôm người ta bắt gặp Gilliatt đổ máu cam. Chuyện này xem ra trầm trọng. Một người chủ đò, từng đi nhiều, đã đi gần hết quả đất, khẳng định rằng ở Tungouses, tất cả bọn phù thủy đều chảy máu cam. Hễ thấy ai đổ máu cam là người ta biết ngay phải làm gì. Tuy nhiên những người biết điều đều nhận xét rằng đặc điểm của bọn phù thủy Tungouses có thể không hoàn toàn giống như đặc điểm của bọn phù thủy ở Jersey.

Một lần gần ngày lễ Saint-Michel, người ta thấy anh dừng chân trên một đồng cỏ trong các khu vườn con của nhà Huriaux, bao quanh con đường lớn đi Videclins. Anh huýt sáo trên đồng cỏ, và rồi lát sau nữa một con ác là bay đến. Sự việc được xác nhận bởi một người tai mắt, từ đó là ủy viên trong đoàn Mười Hai người được phép làm một cuốn sách mới nói về vấn đề chim đậu trên thái ấp nhà vua.

Tại Hamel, trong hai mươi ngày lễ l’Épine, có những bà già cam đoan một buổi sáng đã nghe thấy, qua tiếng sáo mồi quen thuộc, chim én gọi Gilliatt.

Thêm vào đó, anh ta không tốt.

Một hôm có người đàn ông khốn khổ đánh một con lừa. Con lừa không chịu đi. Người kia đá cho nó mấy cái vào bụng, thế là con lừa lăn quay ra. Gilliatt chạy đến để nâng con lừa dậy, thì con lừa đã chết, Gilliatt liền tát anh chàng khốn khổ kia.

Một hôm khác, thấy có một thằng bé từ trên cây tuột xuống, với một tổ chim táo mới nở, gần như không có lông và trần trụi. Gilliatt giằng lấy ổ chim của thằng bé, và còn độc ác đến mức đem ổ chim đặt lại trên cây.

Một số người qua đường trách anh, anh lẳng lặng chỉ vào con chim bố và con chim mẹ đang chiêm chiếp phía trên cây và bay về với lũ chim non. Anh vốn rất quí chim.

Đây là một dấu hiệu thông thường để nhận ra những bọn phù thủy.

Trẻ con sung sướng khi tìm được những ổ hải âu và sơn ca trong các vách biển. Chúng đưa về vô số trứng màu xanh, màu vàng, màu lục mà người ta vẫn dùng để làm thành những hình hoa thị trên mặt tiền lò sưởi. Vì vách biển dựng đứng, đôi khi chúng trượt chân ngã chết. Còn gì đẹp bằng những bức bình phong trang trí bằng trứng chim biển. Gilliatt không bao giờ làm hại ai. Anh dám liều cả tính mạng, trèo lên các vách núi cheo leo ngoài biển, và treo lên đấy những tấm rơm với những chiếc mũ cũ và đủ loại hình nhân, để không cho chim làm tổ ở đấy, và lẽ tất nhiên để ngăn chặn trẻ con đến đấy.

Bởi vậy mà Gilliatt hầu như bị địa phương oán ghét. Lẽ ra thì không đến nỗi thế.

V NHỮNG MẶT ĐÁNG NGỜ KHÁC CỦA GILLIATT

Dư luận không được xác định rõ về Gilliatt.

Thông thường người ta tưởng anh là marcou, nhiều người còn tưởng anh là cambion. Cambion là con trai một người đàn bà ngủ với quỉ.

Khi nào một người đàn bà có liền với một người đàn ông bảy đứa con trai, thì đứa thứ bảy là marcou. Nhưng không được cô con gái xen vào giữa loạt con trai kia.

Marcou có một cái hoa huệ tự nhiên ở một bộ phận nào đấy trên người, nhờ thế mà nó chữa được bệnh tràng nhạc cũng giỏi như các vị vua nước Pháp. Khắp nước Pháp nơi nào cũng có một ít marcou, nhất là ở Orléanais. Ở Gâtinais làng nào cũng có marcou. Để chữa chạy cho người bệnh, marcou chỉ cần thổi lên những vết thương của họ hoặc bảo họ sờ vào cái hoa huệ của nó. Việc này có kết quả nhất vào đêm thứ sáu thánh[7]. Cách đây mười năm, marcou vùng Ormes đến xin thuốc, là một người đóng thùng tô-nô tên gọi là Foulon, có ngựa có xe. Để ngăn chặn những phép màu của anh, người ta phải nhờ sen đầm can thiệp. Anh ta có hoa huệ ở dưới vú trái. Các marcon khác có hoa huệ ở chỗ khác.

Ở Jersey, ở Aurigny, và ở Guernesey đều có marcou. Điểm ấy có lẽ do nước Pháp có quyền hành trên công quốc Normandie. Nếu không thì ích gì cái hoa huệ?

Trên các đảo vùng biển Manche cũng có người mắc bệnh tràng nhạc, vì thế cần phải có marcou.

Một hôm, mấy người có mặt lúc Gilliatt tắm biển cho là đã trông thấy hoa huệ của anh. Được hỏi về điểm ấy, anh chỉ cười khì. Vì đôi khi anh cũng cười như mọi người khác. Từ đấy, người ta không thấy anh đi tắm nữa, anh chỉ tắm ở những chỗ nguy hiểm và vắng vẻ. Có lẽ vào ban đêm, lúc trăng sáng; một điều mà người ta sẽ thừa nhận là đáng nghi ngờ.

Những người cứ nhất định cho anh là cambion. Nghĩa là con của quỉ sứ, tất nhiên đã lầm. Lẽ ra họ phải biết rằng chỉ ở Đức mới có cambion. Nhưng cách đây năm mươi năm, Valle và Saint-Sampson đều là những địa phương ngu dốt.

Ở Guernesey mà tin người nọ người kia là con của quỉ sứ thì rõ ràng có quá đáng.

Chính vì Gilliatt gây lo ngại mà anh thường được nhờ chữa bệnh. Bà con nông dân, sợ hãi đến kể bệnh với anh. Nỗi sợ hãi ấy bao hàm niềm tin tưởng; và ở nông thôn thầy thuốc càng bị ngờ vực thì thuốc của thầy càng đảm bảo. Gilliatt có những phương thuốc gia truyền do bà mẹ qua đời để lại; ai hỏi anh cũng cho và không chịu lấy tiền. Anh chữa càng cua chín mé bằng cách đắp lá; chữa sốt bằng thứ nước ở trong một cái lọ của anh; nhà hóa học ở Saint-Sampson, mà ở Pháp chúng ta gọi là dược sĩ, nghĩ có lẽ đây là rượu thuốc quinquina. Những người ít cảm tình nhất sẵn sàng thừa nhận Gilliatt là loại quỉ tương đối hiền lành đối với bệnh nhân khi dùng đến những phương thuốc thông thường của anh; nhưng bảo anh là marcou thì anh không chịu; nếu một người đau tràng nhạc xin được chạm vào cái hoa huệ của anh, anh chỉ trả lời bằng cách đóng sập cửa lại; làm phép lạ là điều anh dứt khoát từ chối, kể cũng buồn cười đối với một tay phù thủy. Đừng có làm phù thủy; nhưng đã là phù thủy thì nên hành nghề.

Trong mối ác cảm chung trên đây, có một hay hai biệt lệ. Sieur Landoys, ở Clos-Landès, là lục sự giáo khu Saint-Pierre-Port, phụ trách ghi chép và giữ sổ sinh tử giá thú. Ông lục sự Landoys này tự hào mình là con cháu của Pierre Landais, thủ quỹ xứ Bretagne, bị treo cổ năm 1485. Một hôm Sieur Landoys tắm xa bờ biển quá và suýt chết đuối, Gilliatt liền nhảy xuống nước, suýt nữa cũng chết đuối theo, và cứu được Landoys. Từ hôm ấy Landoys không nói xấu Giliatt nữa. Đối với những người tỏ ra ngạc nhiên vì thế, ông đáp: Tại sao ông lại muốn tôi ghét một người không làm gì tôi và đã cứu sống tôi? Ông lục sự lại còn phần nào tỏ ra thân thiện với Gilliatt nữa. Ông là một người không có thành kiến. Ông không tin phù thủy. Ông cười những ai sợ ma. Còn ông, ông có một chiếc tàu, ông đi câu những khi rỗi rãi cho vui, và chẳng bao giờ ông gặp chuyện gì kì lạ, ngoài chuyện một hôm sáng trăng có một người đàn bà trắng trẻo nhảy xuống nước, và ông không chắc là có thật không nữa, Moutonne Gahy, mụ phù thủy ở Torteval, có cho ông một cái túi con để đeo dưới cà vạt và để yểm trừ ma quỷ; ông chế giễu cái túi và không biết nó đựng gì; tuy vậy ông cũng cứ đeo nó, cảm thấy mình an toàn hơn khi có cái của ấy ở cổ.

Một vài người táo tợn đánh liều đi theo Sieur Landoys để tìm ở Gilliatt một vài trường hợp giảm khinh, một vài dấu hiệu đạo đức, tính thanh đạm, chẳng rượu chè, chẳng thuốc lá, và đôi khi người ta đi đến chỗ khen ngợi anh như sau: Nó chẳng rượu chè, chẳng hút xách, chẳng nhai mà cũng chẳng hút thuốc lá.

Nhưng sống thanh đạm chỉ là nết tốt khi nào người ta có những nết tốt khác.

Hiềm khích của công chúng đều đổ lên đầu Gilliatt.

Dù sao, là marcou, Gilliatt cũng có thể giúp ích. Một hôm, vào ngày thứ sáu thánh, nửa đêm, ngày và giờ thường dùng cho những việc chữa chạy như thế, tất cả những người bị tràng nhạc trên đảo do cảm hứng hay do hẹn hò với nhau, lũ lượt kéo đến Bû de la Rue, với những vết thương rất tội nghiệp, chắp tay van xin Gilliatt chữa giúp. Anh từ chối. Người ta nhận định đấy là nết ác độc của anh.

VI CHIẾC THUYỀN BẦU

Gilliatt như thế đấy!

Cánh con gái đều chê anh xấu.

Anh không xấu. Có lẽ anh còn đẹp nữa. Nhìn nghiêng anh có một cái gì đó của con người man rợ cổ xưa. Ngồi yên, anh giống như một người Dace trong đội quân Trajane. Tai anh nhỏ, thanh tú không rách, với những đường vành rất đẹp. Giữa hai mắt, anh có cái nếp nhăn thẳng đứng hiên ngang của con người dũng cảm và kiên nghị. Hai khóe môi trễ xuống, vẻ chua chát; vầng trán cong cong cao quý và trong sáng; con người anh ngay thật, nhìn thẳng, mặc dù hay nhấp nháy kiểu dân chài vì chói ánh sóng biển. Tiếng cười của anh ngây thơ và rất dễ thương.

Không một thứ ngà nào sánh kịp hàng răng trắng bóng của anh. Những ánh nắng mặt trời đã làm anh gần giống như một người da đen. Không thể nào lăn lộn với đại dương, với bão táp, với trời đêm mà lại không bị ảnh hưởng; mới ba mươi tuổi mà nom anh như bốn nhăm. Anh đeo bộ mặt âm thầm của gió trời và biển cả.

Người ta đặt cho anh cái tên là Gilliatt Tinh khôn.

Ấn Độ có một truyện ngụ ngôn: một hôm Brahma hỏi thần Sức mạnh: Ai mạnh hơn Thần? Thần Sức mạnh đáp: Thần Khôn Khéo. Một câu tục ngữ Trung Quốc nói: Nếu sư tử là khỉ, thì có cái gì khỉ không làm được! Gilliatt không phải sư tử, mà cũng không phải khỉ; nhưng những việc anh làm đều dựa vào câu tục ngữ Trung Quốc và câu truyện ngụ ngôn Ấn Độ. Với tầm vóc bình thường, với sức mạnh bình thường, nhưng nhờ tài khôn khéo của mình vừa nhiều sáng kiến vừa có hiệu quả, anh tìm được cách nâng những khối nặng khổng lồ và làm nên những việc phi thường của một lực sĩ.

Trong anh có nhà thể thao; anh sử dụng tay trái chẳng khác gì tay phải.

Anh không săn bắn, nhưng anh thích đi câu. Anh tha cho chim chứ không tha cho cá. Vô phúc cho những giống câm! Anh là tay bơi lội xuất sắc.

Cô đơn tạo nên những con người tài năng hoặc những anh hùng ngu ngốc. Gilliatt có cả hai mặt ấy. Lắm lúc người ta thấy anh có “cái vẻ ngơ ngác” đã nói trên đây, và người ta cứ cho anh là một con người cục súc. Lúc khác anh lại có một vẻ nhìn sâu thẳm. Nước Chaldée cổ xưa đã có những con người như vậy, có những giờ phút mà tính chất mờ đục của mục đồng trở thành trong suốt và cho thấy nhà đạo sĩ.

Tóm lại đó là một con người đáng thương biết đọc và biết viết. Rất có thể anh đứng ở chỗ ranh giới ngăn cách người trầm tư với nhà tư tưởng. Nhà tư tưởng đòi hỏi, người trầm tư chịu đựng. Cảnh cô đơn thêm vào cho những con người bình thường, và khiến cho họ phần nào thêm phức tạp. Họ mang nặng tính chất rùng rợn thiêng liêng mà không biết. Cái bóng đen bao trùm trí óc Gilliatt gồm hai thành phần gần như bằng nhau, cả hai đều tối tăm, nhưng khác hẳn nhau: bên trong, sự ngu đốt, tàn tật; bên ngoài, vẻ bí mật, vô biên.

Nhờ thích trèo núi, nhờ hay treo những chỗ cheo leo, nhờ đi lại mãi trong bán đảo vào mọi thời tiết, nhờ gặp thuyền bè nào cũng chèo lái, nhờ ngày đêm len lỏi trong các con lạch khó đi nhất, anh trở thành một người miền biển kỳ tài mà chẳng được gì, hoàn toàn chỉ để thỏa mãn sở thích và cái thú tiêu khiển của mình.

Anh là hoa tiêu bẩm sinh. Người hoa tiêu thật sự là người thủy thủ điều khiển theo đáy biển nhiều hơn theo mặt nước. Sóng chỉ là một vấn đề bên ngoài, bị hình thế đáy biển của những nơi thuyền bè đi tới làm cho thêm phức tạp. Nhìn Gilliatt lặn trên các chỗ nước cạn ngoài biển và giữa những mỏm ngầm của quần đảo Normand, cứ tưởng như anh có trong óc một bản đồ đáy biển. Anh biết hết và bất chấp tất cả.

Anh biết rõ những hải tiêu giỏi hơn cả những con cốc đậu bên trên. Những điểm khác nhau không nhận thấy để phân biệt bốn cột hải tiêu Creux, Alligande, Trémies, và Sardrette, đối với anh hoàn toàn rõ ràng rành mạch kể cả trong sương mù. Anh không hề do dự trước cái cọc có núm bầu dục ở Anfré, cũng như trước ba ngọn giáo ở Rousse, cũng như trước quả cầu trắng ở Corbette, cũng như trước quả cầu đen Longue Pierre, và anh không nhầm cây thánh giá Goubeau với thanh kiếm Platte cắm xuống đất, cũng không sợ lẫn hải tiêu hình búa Barbées với hải tiêu mộng đuôi cá Moulinet.

Tài thủy thủ hiếm có của anh đặc biệt nổi bật vào một hôm Guernesey có cuộc thi tài đi biển gọi là đua thuyền. Vấn đề đặt ra như sau: một mình ngồi trên một chiếc thuyền bốn buồm, lái từ Saint-Sampson đến đảo Herm cách đấy một dặm; rồi từ Herm đưa thuyền về Saint-Sampson. Điều khiển một mình con thuyền bốn buồm, việc đó không người dân chài nào không làm được, và khó khăn đường như không ghê gớm, nhưng đây mới là điểm quan trọng. Thứ nhất, bản thân chiếc thuyền là một loại xà lúp rộng, chắc, bụng phình ngày xưa, theo kiểu Rotterdam, mà dân biển thế kỷ trước hay gọi là thuyền bầu Hà Lan. Ngoài biển đôi khi người ta còn gặp thứ thuyền mẫu cổ xưa này của Hà Lan phình phình, bèn bẹt, mạn thuyền có hai cánh, lúc vỗ bên này, lúc vỗ bên kia, tùy theo chiều gió, và thay cho sống thuyền. Thứ hai, lượt về từ Herm; lượt về phức tạp vì phải chở thêm đá. Đi không nhưng về lại chở nặng. Giải thưởng cuộc thi là chiếc xà lúp. Nó được tặng trước cho người thắng cuộc. Chiếc thuyền bầu này trước đã dùng làm tàu dẫn; người hoa tiêu đã đi và lái nó suốt hai mươi năm là người thủy thủ lực lưỡng nhất biển Manche; khi ông ta chết, không tìm được ai để điều khiển chiếc thuyền bầu, người ta đã quyết định dùng nó làm giải thưởng cho một cuộc đua thuyền. Chiếc thuyền bầu tuy không có sàn, vẫn có nhiều ưu điểm, và có thể cám dỗ một tay điều khiển tàu có tài. Buồm đựng phía trước nên sức kéo càng tăng. Ưu điểm khác, cột buồm không gây trở ngại cho việc chất xếp hàng. Đây là một loại vỏ thuyền chắc chắn, nặng nề, nhưng rộng rãi, và vững vàng lúc ra khơi, đúng là một chiếc thuyền anh chị. Người ta náo nức ra tranh giải; cuộc đua tài có gay go, nhưng giải thưởng cũng đích đáng. Bảy tám dân chài, những tay khỏe mạnh nhất đảo, ra ứng thí. Họ lần lượt thử sức, chẳng anh nào đến được Herm cả. Người đấu thủ cuối cùng nổi tiếng nhờ một hôm trời giông bão đã dùng chèo vượt qua cái eo biển mà ai cũng sợ giữa Herm và Brecq-Hou. Mồ hôi nhễ nhại, anh ta đưa chiếc thuyền bầu về và nói: Chịu. Bấy giờ Gilliatt mới nhảy xuống thuyền, thoạt tiên nắm lấy mái chèo, sau đó nắm lấy dây lèo và phóng thẳng ra khơi. Rồi, không cuốn dây lèo, vì cuốn lại là dại dột, và cũng không buông ra, nhờ vậy mà làm chủ được lá buồm đại, mặc cho lèo cuốn vào dây quai theo chiều gió, không cho chệch hướng, anh nắm lấy cần lái trong bàn tay trái. Sau bốn mươi lăm phút, anh đến Herm. Ba giờ sau, mặc dù gió nam nổi lên và thổi ngang lạch, chiếc thuyền bầu, trên có Gilliatt, trở về Saint-Sampson với đá đầy khoang. Anh còn huênh hoang phách lối chở thêm cỗ súng thần công nhỏ bằng đồng ở Herm mà hàng năm, ngày mồng năm tháng mười một, dân đảo vẫn bắn mừng kỷ niệm ngày chết của Guy Fawkes.

Nhân thể chúng tôi xin nói, Guy Fawkes chết cách đây hai trăm sáu mươi năm, đây là một niềm vui lâu dài.

Chở nặng và kiệt sức như thế, mặc dầu lại thêm khẩu đại bác của Guy Fawkes trên thuyền và buồm lộng gió nam, Gilliatt vẫn đưa được, có thể nói gần như mang được, chiếc thuyền bầu về Saint-Sampson.

Thấy thế, Mess Lethierry reo lên:

- Đấy mới thật là một thủy thủ dũng cảm!

Và ông chìa bàn tay ra cho Gilliatt.

Chúng tôi sẽ nói đến Mess Lethierry sau.

Chiếc thuyền bầu được quyết định thuộc về Gilliatt.

Một số người tuyên bố sự việc chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, vì Gilliatt đã giấu trong thuyền một cành sim rừng. Nhưng điểm này không thể chứng minh được.

Từ hôm ấy, Gilliatt không có thuyền bè nào khác chiếc thuyền bầu. Anh đi câu bằng chính chiếc thuyền nặng nề ấy. Anh buộc nó tại cái bến con rất tốt của riêng anh, ngay đưới bức tường ngôi nhà Bû de la Rue của anh. Trời vừa sập tối là anh vắt lưới lên vai, băng qua vườn nhà, trèo qua cái lan can đá khô, nhảy từ tảng nọ xuống tảng kia, và tót lên chiếc thuyền bầu. Từ đấy ra khơi.

Anh thường câu được rất nhiều cá, nhưng người ta khẳng định là cái cành sim vẫn luôn luôn buộc ở chiếc thuyền của anh. Cây sim là cây sơn tra tử. Chẳng ai trông thấy cái cành ấy cả, nhưng mọi người đều tin là có.

Cá ăn không hết, anh không bán, toàn đem cho.

Người nghèo nhận cá của anh, nhưng vẫn không bằng lòng anh vì cái cành sim kia. Như thế là không nên. Con người không được đánh lừa biển cả.

Anh làm nghề đánh cá, nhưng không phải chỉ làm có thế. Do bản năng và để tiêu khiển, anh đã học được ba bốn nghề. Anh làm được thợ mộc, thợ sắt, thợ đóng xe, thợ xảm thuyền và phần nào cả thợ cơ khí nữa. Không ai chữa bánh xe giỏi bằng anh. Anh làm lấy tất cả những đồ nghề đánh cá theo một kiểu riêng của anh. Trong một góc Bû de la Rue có một cái lò rèn nhỏ và một cái đe, và vì chiếc thuyền bầu chỉ có một cái neo, nên anh tự tay và một mình làm thêm cho nó một cái thứ hai. Chiếc neo này thật là tuyệt diệu, mắt neo chắc khỏe như ý muốn và Gilliatt, chẳng cần phải ai dạy, đã tìm được ra kích thước chính xác mà sà neo phải có để mỏ neo khỏi lật ngược.

Anh đã kiên trì thay thế tất cả loạt đinh ở mạn thuyền bằng những chốt gỗ, nhờ thế không thể có lỗ gỉ.

Với cách đó anh đã tăng được nhiều ưu điểm đi biển của chiếc thuyền bầu. Anh còn lợi dụng nó để thỉnh thoảng đi một vài tháng đến một hòn đảo hiu quạnh, như Chousey hay Casquets. Người ta bảo: Kìa, Gilliatt không có ở nhà nữa. Điều ấy không làm cho ai buồn phiền cả.

VII NHÀ CÓ MA DÀNH CHO NGƯỜI MỘNG TƯỞNG Ở

Gilliatt là con người trong mộng. Vì vậy mà anh táo bạo, và cũng vì vậy mà anh rụt rè. Anh có những ý nghĩ của riêng anh.

Có lẽ ở Gilliatt có con người sống trong ảo giác và con người được thần cảm. Ảo giác ám ảnh một nông dân như Martin không kém gì ám ảnh một vị vua như Henry Đệ Tứ. Vô định đôi khi làm cho tinh thần con người gặp nhiều điều ngạc nhiên. Bóng tối thình lình bị xé toang và đột ngột cho thấy cái vô hình, rồi lại khép lại. Những ảo ảnh ấy đôi khi chuyển hình đổi dạng: từ một anh chăn giữ lạc đà chúng làm thành Mahomet[8] và từ một cô chăn dê thành Jeanne d’Arc[9]. Cảnh cô đơn phát ra đôi chút thác loạn cao cả. Đó là làn khói của bụi cây rực lửa[10]. Vì vậy mà có sự rung động thần bí của ý nghĩ, khiến nhà bác học trở thành người thần thị và thi sĩ thành đấng tiên tri; vì vậy mà có Horeb, Cédron, Ombos, những hứng vị của cây nguyệt quế Castalie nhá nhỏ, những phát giác của tháng Busion; do đó mà có Péleïa ở Dodone, có Phémonoë ở Delphes, có Trophonius ở Lébadée, Có Ezéchiel ở Kébar, có Jérôme ở Thébaïde. Thông thường nhất, trạng thái ảo giác đè nặng con người, và làm cho nó ngơ ngác. Trạng thái đần độn thiêng liêng là điều vẫn có. Nhà đạo sĩ mang gánh nặng ảo ảnh của mình cũng như thằng ngu mang cục bướu của nó. Luther nói với quỉ trên cái gác xép Wittemberg, Pascal che địa ngục bằng tấm bình phong ở phòng làm việc của ông, lão thầy mo da den nói chuyện với thần Bossum mặt trắng, đó vẫn là một hiện tượng nằm trong những đầu óc khác nhau, tùy theo sức mạnh và kích tấc của từng đầu óc. Luther và Pascal vĩ đại luôn luôn vĩ đại; còn lão thầy mo thì ngu si.

Gilliatt không cao đến thế và cũng không thấp đến thế. Anh là một con người trầm tư. Không có gì hơn.

Do được nhiều lần thấy trong nước biển thật trong những con vật bất ngờ khá to, hình dạng khác nhau, thuộc loài sứa mà khi ở trên cạn thì giống như pha lê mềm, khi vứt xuống nước thì lẫn với môi trường, do giống hệt nhau về độ trong và màu sắc đến mức biến mất trong nước, anh kết luận rằng: nếu có những sinh vật trong suốt ở trong nước thì những sinh vật trong suốt khác cũng có thể ở trong không khí. Chim chóc không phải là giống sống cố định trong không khí; chúng là những vật lưỡng thể của không khí, Gilliatt không tin rằng không khí hoang vu. Anh nói: Nếu biển cả có sinh vật, thì có gì không trung lại trống rỗng? Phải có những sinh vật màu giống như không khí, nhòa lẫn trong ánh sáng và thoát khỏi mắt chúng ta; ai chứng minh rằng không có chúng nó? Tính chất giống nhau chỉ rõ không khí phải có cá của nó cũng như biển cả có cá của nó; những con cá này của không khí phải mờ mờ, đấy là ân phúc mà tạo hóa lo xa dành cho ta cũng như cho chúng; để cho ánh sáng xuyên qua hình bóng chúng và không tạo ra bóng tối, và do chúng không có bóng dáng, nên ta không hay biết gì về chúng, không thể chiếm đoạt được gì của chúng. Gilliatt tưởng tượng rằng nếu có thể làm cho mặt đất cạn hết lớp không khí, và nếu người ta câu trong không khí như câu trong một cái ao, thì người ta sẽ thấy ở đấy có vô vàn những con vật kỳ lạ. Và, trong giấc mơ anh còn thêm, vô khối điều sẽ được giải thích.

Mơ mộng, vốn là tư tưởng ở trạng thái mây mù, tiếp giáp với giấc ngủ, và xem nó như biên giới của mình. Không khí xa lạ với những sinh vật trong suốt, đấy là chỗ bắt đầu của thế giới xa lạ, nhưng phía bên kia là cảnh bao la của thế giới có thể có. Ở đây có những sinh vật khác, những sự việc khác. Không có gì siêu nhiên cả, mà là sự tiếp tục huyền bí của thiên nhiên vô tận, Gilliatt, trong cuộc sống vô công rồi nghề vất vả của mình, là một nhà quan sát kỳ quặc. Anh quan sát cả giấc ngủ. Giấc ngủ gần gũi với cái có-thể, mà chúng ta cũng gọi là cái vô-lý. Vạn vật ban đêm là một thế giới. Ban đêm, xét về phương diện ban đêm, là một vũ trụ. Cơ thể vật chất của con người, trên đó đè nặng một cột không khí cao mười lăm dặm, tối đến mệt mỏi, rã rời, nằm xuống và nghỉ ngơi, đôi mắt trần nhắm lại, thế là trong cái đầu chập chờn ấy, không bất động như người ta tưởng, có những con mắt khác mở ra; thế giới Xa-lạ xuất hiện. Những vật tối tăm của cái thế giới không được ai biết đến trở thành gần gũi với con người, do có mối quan hệ thật sự, hoặc do những viễn cảnh của vực thẳm được phóng đại lên trong mộng tưởng; hình như những sinh vật không rõ rệt của không gian đến nhìn chúng ta và tò mò muốn biết chúng ta, những sinh vật trên quả đất; một tạo vật mà lên hoặc xuống với ta, sát cánh với ta trong một cảnh hoàng hôn; trước sự chiêm ngưỡng ma quái của ta, một cuộc sống khác cuộc sống chúng ta nhập vào và tan rã, gồm có chúng ta và thứ khác; và con người nằm ngủ kia, không hoàn toàn thấy rõ, không hoàn toàn vô ý thức, thoáng thấy những giống vật kỳ lạ kia, những cây cỏ khác thường kia, những màu sắc tái mét khủng khiếp hay tươi cười kia, những con sâu bọ kia, những chiếc mặt nạ kia, những bộ mặt thật kia, những con giao long kia, những mớ hỗn độn kia, cái đêm sáng trắng suông kia, những sự phân giải đen tối kì diệu kia, những sự tăng giảm trong một lớp dày đục kia, những hình dáng bềnh bồng trong u minh kia, tất cả cái điều bí mật mà chúng ta gọi là giấc mộng và chỉ là sự nhích gần đến một thực tế không trông thấy. Mơ màng là cái bể nuôi cá cảnh của ban đêm.

Gilliatt nằm mơ như thế đấy.

VIII CHIẾC GHẾ GILD-HOLM-‘UR

Nếu ngày nay người ta đi tìm trong vịnh Les Houmets ngôi nhà của Gilliatt, với mảnh vườn, và cái vũng nơi anh neo cất chiếc thuyền bầu thì chỉ mất công. Bû de la Rue nay không còn nữa. Cái bán đảo con trên có ngôi nhà ấy đã đổ nhào trước lưỡi cuốc chim của những người phá vách biển, và đã được chất từng xe, từng xe, lên những tàu thuyền của cánh bán đá và cánh buôn hoa cương. Nó đã trở thành bến tàu, nhà thờ và cung điện ở thủ đô. Toàn bộ cái đỉnh bãi ngầm ấy từ lâu đã về Luân Đôn.

Những mỏm đá nhô ra biển ấy, với những chỗ lồi lõm, lởm chởm, thật sự là những dãy núi dài; nhìn chúng người ta có cái cảm giác của một anh khổng lồ ngắm dãy trường sơn. Thổ ngữ địa phương gọi chúng là Banques. Những dãy núi ấy mang những bộ mặt khác nhau. Chỗ này giống một cột xương sống, mỗi mô núi là một đốt xương sống, chỗ kia giống một đốt xương cá; chỗ kia lại giống một con cá sấu đang uống nước.

Ở chỗ tận cùng dãy núi của Bû de la Rue, có một hòn núi to mà dân chài Houmet gọi là Sừng Thú. Hòn núi này là một thứ kim tự tháp, giống như cái nóc thánh đường của đảo Jersey, mặc dầu có thấp hơn. Lúc triều lên, nước ngăn cách nó với dãy núi, hòn Sừng Thủ lại đứng chơ vơ. Lúc triều xuống, người ta đến đấy nhờ một eo núi có thể đi qua được. Vật kỳ quan của mỏm núi này, ở phía trông ra biển, là một thứ ghế tựa tự nhiên do sóng nước đục đẽo và mưa gió bào mòn. Chiếc ghế này có tính phản trắc. Người ta thường bị cảnh trời lôi cuốn đến đây lúc nào không biết; người ta dừng lại đấy “vì yêu quý kẻ lưu đày” như ở Jersey vẫn nói; có một cái gì đó giữ chân bạn lại; những chân trời vĩ đại vẫn có sức mê hoặc. Chiếc ghế kia chào mời; nó như một kiểu khám thờ ở mặt tiền thẳng đứng của núi đá; trèo lên khám thờ ấy dễ thôi; nước biển đã đẽo gọt nó trong đá, cũng đã xếp thành tầng ở phía dưới và sắp đặt một thứ cầu thang bằng đá phẳng lì rất tiện; vực thẳm thường ân cần chu đáo như thế, bạn hãy cảnh giác trước những cử chỉ lịch sự của nó; chiếc ghế cám dỗ, người ta bước lên, người ta ngồi xuống, người ta thấy thoải mái; ghế là tảng đá hoa cương được bọt sóng mài nhẵn bào tròn, tay vịn là hai chỗ lồi lõm như được dụng tâm tạo gọt, lưng tựa là toàn bộ bức thành cao thẳng đứng của ngọn núi ở trên đầu mà người ta thường chiêm ngưỡng, không nghĩ đến việc không thể nào leo lên được đấy. Còn gì đơn giản hơn thả mặc tâm hồn trong chiếc ghế bành kia; người ta khám phá ra toàn bộ biển cả, xa xa người ta nhìn thấy thuyền đến tàu đi, người ta có thể dõi theo một cánh buồm cho đến lúc nó chìm mất bên kia những hòn Casquets dưới cái vành tròn của đại dương, người ta kinh ngạc, người ta ngắm nhìn, người ta thích thú, người ta cảm thấy gió trời và sóng biển mơn trớn vuốt ve. Ở Cayenne có một giống dơi biển biết rõ việc nó làm, nó ru ngủ bạn trong bóng tối bằng tiếng vỗ cánh êm đềm khó hiểu; giống dơi không nhìn thấy đó là gió trời; khi không phá hoại thì nó ru ngủ. Người ta chiêm ngưỡng biển khơi, người ta lắng nghe gió trời, dần dần người ta cảm thấy đê mê ngây ngất. Khi đôi mắt đã tràn đầy cảnh đẹp và ánh sáng, thì nhắm mắt lại là cả một niềm khoái cảm. Thình lình người ta tỉnh giấc. Muộn mất rồi. Thủy triều đã dần dần dâng cao. Nước đang bao quanh ngọn núi.

Tai họa rồi.

Biển dâng là một cuộc phong tỏa đáng sợ.

Thủy triều lên, thoạt tiên còn không nhận thấy, rồi dần dần mãnh liệt. Lên đến núi đá, nó nổi giận, ngầu bọt. Ở những chỗ đá ngầm không phải lúc nào người ta cũng bơi được. Nhiều tay bơi giỏi đã chết đuối ở chỗ Hòn Sừng của Bû de la Rue.

Ở một số nơi, có những giờ phút ngắm nhìn biển khơi là một thứ thuốc độc. Cũng như đôi khi nhìn ngắm một người đàn bà.

Những người dân rất cổ xưa của Guernesey ngày trước vẫn gọi là cái khám thờ do sóng biển tạc nên trong núi đá đó là chiếc ghế Gild-Holm-‘Ur, hoặc Kidormur. Người ta bảo đấy là một từ ngữ Celtic, mà ai biết tiếng Celtic thì không hiểu, còn ai biết tiếng Pháp thì lại hiểu. Ai ngủ thì chết. Đấy là lối dịch của nông dân.

Ta có thể tự do lựa chọn giữa cách dịch này, Ai ngủ thì chết, với lối dịch, năm 1819 thì phải, trong cuốn Armorican của Athenas. Theo nhà khảo cứu ngôn ngữ Celtic đáng kính này thi Gild-Holm-‘Ur nghĩa có nghĩa là Nơi dừng chân của những bầy chim.

Ở Aurigny có một chiếc ghế khác cũng thuộc loại này, mà người ta gọi là Ghế Tu Sĩ, được sóng biển tạc rất khéo, và có một chỗ đá nhô ra vừa khít đến nỗi có thể nói là biển đã chiều lòng kê một chiếc ghế con ngay dưới chân bạn.

Lúc biển đầy, khi thủy triều dâng cao, người ta không nhìn thấy chiếc ghế Gild-Holm-‘Ur nữa. Nước hoàn toàn phủ kín nó.

Chiếc ghế Gild-Holm-‘Ur cũng gần với ngôi nhà Bû de la Rue. Gilliatt biết rõ nó và thường ngồi ở đấy. Anh rất hay đến đấy. Anh trầm tư chăng? Không. Chúng tôi vừa nói, anh mơ mộng. Anh không để nước triều bất thình lình bắt gặp đâu.

❀ ❀ ❀

[1] Ngôi nhà bên đường.

[2] Huguenot: tên gọi những người theo giáo phải Tin lành.

[3] Những lẫn lộn ban đêm và mầm mống ma quỉ.

[4] Xiềng xích (tù tội) rất thích những chế độ luân phiên.

[5] Vésuve: Hay chính là Vesuvius, một ngọn núi lửa nổi tiếng ở nước Italia với lần phun trào vào năm 79 sau Công nguyên đã vùi lấp, phá hủy các thành phố La Mã cổ đại là Pompeii và Herculaneum.

[6] Nguyên văn Roi des Auxcriniers: nhân vật truyền thuyết như Hà Bá.

[7] Thứ sáu thánh: ngày thứ sáu kỷ niệm Chúa Jesus sống lại.

[8] Mahomet (573-632): Giáo chủ Hồi giáo.

[9] Jeanne d’Arc (142-1431): nữ anh hùng Pháp đã đánh đuổi quân Anh, giải phóng cho nước Pháp.

[10] Bụi cây rực lửa: theo Kinh Thánh, Chúa đã hiện ra trong một bụi cây rực lửa cho Moïse thấy (xuất Ediptô ký - Chương 3).

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.