Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BẢY: HỎI ĐẾN SÁCH LÀ DẠI DỘT
I HÒN NGỌC DƯỚI ĐÁY VỰC SÂU

❊ ❊ ❊

Vài phút sau cuộc nói chuyện ngắn ngủi với Sieur Landoys, Gilliatt đã có mặt ở Saint-Sampson.

Gilliatt bồn chồn đến mức đâm ra lo sợ. Việc gì đã xảy ra thế?

Saint-Sampson ồn ào như ong vỡ tổ. Tất cả mọi người đều ra đứng ở cửa. Các bà thì rú lên. Nhiều người như đang kể cho nhau nghe chuyện gì đó và cứ khoa chân múa tay, người ta xúm quanh bên họ, kêu lên: tai họa khủng khiếp quá! Nhiều bộ mặt lại mỉm cười.

Gilliatt chẳng hỏi ai cả. Bản chất anh không thích hỏi. Vả lại anh xúc động quá không thể nói chuyện với những người thờ ơ. Anh cảnh giác với những câu chuyện kể lại, anh thích ngay một lúc biết hết tất cả mọi chuyện; anh đi thẳng đến ngôi nhà Bravées.

Anh áy náy đến mức không sợ cả việc bước vào ngôi nhà này.

Vả lại cánh cửa căn phòng thấp nhìn ra bến cảng đang mở rộng. Trên ngưỡng cửa, đàn ông đàn bà đông như kiến. Tất cả mọi người đều vào, anh cũng vào.

Vừa bước vào, anh gặp ngay Sieur Landoys đứng tựa ở khung cửa, ông ta khẽ nói với anh:

- Bây giờ thì hẳn anh đã biết sự việc?

- Không.

- Ban nãy ở ngoài đường tôi không muốn nói to câu chuyện với anh. Vì có vẻ như một con chim báo điềm dữ.

- Cái gì thế?

- Tàu Durande gặp tai họa.

Trong phòng quần chúng rất đông.

Các nhóm đều nói khe khẽ, như trong phòng một người bệnh.

Những người có mặt là hàng xóm, khách qua đường, kẻ tò mò, những người đến trước, ùn lại bên cửa ra vào với một vẻ sợ sệt, và chừa một quãng trống cuối phòng; ở đấy bên cạnh Déruchette ngồi, nước mắt đầm đìa, người ta thấy Mess Lethierry đang đứng.

Ông tựa lưng vào bức vách trong cùng. Chiếc mũ thủy thủ sụp xuống tận lông mày. Một món tóc hoa râm lòa xòa trên má. Ông chẳng nói chẳng rằng. Cánh tay không nhúc nhích, mồm như không còn hơi thở. Ông có vẻ như một đồ vật để tựa vào tường.

Nhìn ông, người ta cảm thấy đó là một con người mà cuộc đời vừa sụp đổ. Durande không còn, Lethierry chẳng còn lý do gì để sống. Ông có một linh hồn ngoài biển cả, linh hồn ấy vừa chìm đắm. Bây giờ rồi sẽ ra sao? Sáng sáng thức dậy, tối tối đi nằm. Không đợi chờ Durande nữa, không nhìn thấy nó ra đi nữa, không nhìn thấy nó trở về nữa. Chút đời tàn không mục đích thì còn nghĩa lý gì? Ăn, uống, rồi sao? Con người này đã hoàn thành tất cả mọi lao động của mình bằng một tuyệt tác và tất cả mọi tận tụy của mình bằng một tiến bộ. Tiến bộ bị thủ tiêu, tuyệt tác chết rồi! Sống thêm vài năm trống rỗng nữa để làm gì? Từ nay chẳng còn gì mà làm. Ở tuổi ấy người ta không bắt đầu lại, hơn thế, ông đã phá sản. Ôi thật đáng thương cho ông già hiền lành!

Déruchette, ngồi khóc bên ông, trên một chiếc ghế, hai bàn tay cô ấp chặt một bàn tay của Mess Lethierry. Hai bàn tay chắp lại, còn nắm tay thì co quắp. Khác biệt giữa hai niềm đau xót là ở đó. Trong hai bàn tay chắp lại còn có một chút gì hy vọng; trong nắm tay co quắp chẳng có gì cả.

Mess Lethierry buông cánh tay cho con gái và để mặc cô. Ông hoàn toàn thụ động. Ông chỉ còn chút sức sống mà người ta có thể có được sau khi bị sét đánh.

Ở đáy vực có những cái đích lôi kéo bạn ra khỏi cuộc sống con người. Những người đi tới đi lui trong phòng bạn đều nhốn nháo lờ mờ; họ đi cạnh bạn mà không đến được tận bạn. Họ không thể lại gần bạn, mà bạn cũng không thể đến bên họ. Hạnh phúc và thất vọng không phải là hai môi trường dễ thở giống nhau; thất vọng, người ta tham dự vào cuộc sống người khác từ rất xa, người ta hầu như không biết đến sự có mặt của họ; người ta mất cảm giác về sự tồn tại của chính mình, tuy là xương là thịt đấy, mà người ta không còn cảm thấy mình là thực nữa; đối với bản thân người ta chỉ còn là một giấc mộng.

Mess Lethierry đang có cái nhìn trong hoàn cảnh ấy.

Các nhóm thì thào với nhau. Họ trao đổi những gì họ biết được. Sau đây là những tin tức:

Hôm qua, tàu Durande đã đâm vào hòn Douvres, giữa lúc sương mù, trước lúc mặt trời lặn quãng một giờ. Trừ người thuyền trưởng không muốn rời khỏi tàu, các người khác đều thoát nạn bằng xuồng. Một cơn gió mạnh tây-nam ập đến sau lúc sương mù, suýt nữa đã làm họ đắm lần thứ hai, và đã đẩy họ ra khơi phía bên kia Guernesey. Trong đêm khuya họ đã may mắn gặp được thuyền Cashmere, thuyền này đã vớt họ và đã đưa họ về Saint-Pierre-Port. Đầu đuôi do khuyết điểm của anh lái tàu Tangrouille, hiện đang nằm trong tù. Clubin thật là cao thượng.

Các hoa tiêu, rất đông trong các nhóm, thốt lên một cách đặc biệt hai tiếng bãi Douvres. - Quán trọ chẳng ra gì - một người nói.

Người ta chú ý đến một chiếc la bàn và một bó sổ sách để trên bàn; chắc hẳn đây là chiếc la bàn của tàu Durande và sổ sách đi đường mà Clubin đã giao lại cho Imbrancam và Tangrouille lúc xuồng ra đi; hành vi quyên mình cực kỳ đẹp đẽ của con người kia, cứu thoát đến cả những giấy tờ vào lúc mình cam chịu chết; chi tiết nhỏ đầy cao thượng; một sự xả thân cao quý.

Mọi người nhất trí ca ngợi Clubin và hơn nữa cũng nhất trí tin tưởng thế nào cuối cùng ông ta cũng được cứu thoát. Chiếc thuyền đáy bằng Shealtiel đã đến vài giờ sau thuyền Cashmere; chính nó đã đem về những tin tức cuối cùng. Nó vừa trải qua hai mươi bốn tiếng đồng hồ cũng trên những vùng tàu Durande đi qua. Nó đã kiên trì trong lúc sương mù và đã chạy vát gió trong cơn bão táp. Chủ thuyền Shealtiel có mặt trong những người ở đó.

Lúc Gilliatt bước vào, người chủ thuyền này vừa kể xong chuyện với Mess Lethierry. Câu chuyện là một bản báo cáo thật sự. Vào quãng sáng, lúc cơn cuồng phong vừa tan và gió trở nên hiền hòa, chủ thuyền Shealtiel nghe có tiếng bò rống giữa biển khơi. Tiếng đồng cỏ đó giữa sóng nước đã làm ông ta ngạc nhiên, ông vội chuyển hướng đi về phía ấy. Ông đã nhìn thấy tàu Durande trong các Hòn Douvres. Sóng vừa đủ lặng để ông có thể đến gần. Ông đã dùng loa gọi chiếc tàu đắm. Chỉ có tiếng bò rống đang chết đuối trong hầm tàu đáp lại. Chủ thuyền Shealtiel tin chắc không có ai trên tàu Durande cả. Xác tàu hoàn toàn đứng vững; và dù gió có mạnh mấy, Clubin cũng có thể sống hết đêm trên tàu. Ông ta đâu phải là người dễ dàng bỏ cuộc. Ông ta không có trên tàu, tức là ông ta đã thoát nạn. Nhiều duyên thuyền và nhiều thuyền nhỏ, từ Granville và từ Saint-Malo, thoát ra khỏi sương mù, đêm qua hẳn đã phải, điều này không còn phải nghi ngờ, đi men khá gần bãi Douvres. Một trong số đó tất nhiên đã đón thuyền trưởng Clubin. Cần nhớ lại rằng chiếc xuồng của tàu Durande đã đầy lúc rời khỏi chiếc tàu mắc cạn, rằng nó sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm, rằng thêm một người là quá tải và có thể làm nó chìm, và đây là lý do chính khiến cho Clubin quyết định ở lại trên tàu; nhưng một khi trách nhiệm hoàn thành, có một chiếc tàu cứu nguy đi đến, chắc chắn Clubin không từ chối việc lợi dụng nó. Người ta là anh hùng, nhưng người ta không phải là một thằng ngốc. Một vụ tự sát càng phi lý, vì Clubin là con người không thể chê trách được. Tội phạm là Tangrouille, chứ đâu phải là Clubin. Toàn bộ câu chuyện đều xác định; chủ thuyền Shealtiel rõ ràng có lý, và mọi người chờ xem Clubin sớm muộn trở về. Người ta dự định sẽ công kênh ông ta để hoan nghênh.

Có hai điểm chắc chắn nổi bật qua câu chuyện của người chủ thuyền: Clubin được cứu thoát và tàu Durande hỏng hẳn.

Về tàu Durande thì phải đồng ý với ông ta, tai họa không thể nào cứu vãn nổi. Chủ thuyền Shealtiel đã được chứng kiến đoạn cuối cùng của vụ đắm tàu. Quả núi nhọn hoắt, nơi mà tàu Durande bị cắm chặt vào, đã đứng vững suốt đêm và đã chống chọi với sóng gió như muốn giữ lại cái xác tàu cho mình, nhưng sáng ra lúc thuyền Shealtiel tới, nhận thấy không có người nào để cứu vớt, sắp rời khỏi tàu Durande thì một trong những làn sóng lớn giống như những cơn giận cuối cùng của bão táp nổi lên. Làn sóng này đã giận dữ nâng tàu Durande lên, giật nó ra khỏi quả núi ngầm và vừa nhanh vừa chính xác như một mũi tên, phóng nó vào giữa hai hòn Douvres. Người ta đã nghe một tiếng răng rắc “ma quái” - ông chủ thuyền nói thế. Tàu Durande, bị con sóng bốc khá cao, đã chui tọt vào giữa quãng cách hai quả núi đến tận hông. Một lần nữa nó lại bị cắm chặt, nhưng chắc hơn lúc cắm vào mỏm gần dưới biển. Nó sẽ nằm đấy, lơ lửng một cách đáng thương, mặc cho biển rộng và gió trời dồi dập.

Tàu Durande, theo lời thủy thủ thuyền Shealtiel, đã vỡ đến ba phần tư. Tất nhiên lẽ ra nó đã chìm lúc khuya nếu quả núi ngầm không giữ và nâng nó. Chủ thuyền Shealtiel đã nghiên cứu xác tàu bằng ống nhòm. Ông ta cho biết chi tiết về tai biến một cách chính xác theo kiểu thủy thủ; mạn tàu bên phải thủng toang, các cột buồm gãy gập, hệ thống buồm mất hết dây, bao nhiêu xích cột buồm hầu như đứt sạch, lớp mắt cáo nắp buồng bẹp rúm vì một trục buồm đỏ, trụ buộc thừng gãy sát mép mạn tàu từ sà ngang cột buồm cái đến tận ngấn trên, vòm kho lương thực sập, các ngăn xuồng lộn ngược, mui tàu bị bóc tung, trục cần lái gãy, dây thuyền bị nhổ bật, mạn đóng đinh ở cầu tàu bị phạt bằng, cọc buồm thuyền bị cuốn mất, sà ngang bị phá hủy, lan can bay biến, sà giữ bánh lái gãy nát. Cả một cảnh tượng phá phách điên cuồng của bão táp. Còn cái cần cẩu dỡ hàng bắt chặt vào cột buồm trước thì chẳng còn gì nữa, chẳng biết biến đâu, hoàn toàn bị quét sạch, bay biến, với cả đám dây thừng róc rách, puli và xích sắt. Tàu Durande vỡ tung; bây giờ nước bắt đầu xé nát nó. Trong vài ngày nữa, sẽ chẳng còn một tí gì.

Tuy nhiên bộ máy đó chỉ hơi bị hư hại trong cuộc tàn phá này, đó là điều phi thường chứng minh ưu điểm của nó. Người chủ thuyền Shealtiel cho là có thể khẳng định rằng “manivelle” không hỏng nặng. Các cột buồm gãy gục nhưng ống khói vẫn trụ được. Lan can sắt cầu chỉ huy bị bẻ cong, hệ thống trống có bị hại, lồng trống có bị vặn, nhưng bánh xe có vẻ như không mất một cánh nào. Máy hoàn toàn nguyên vẹn. Đấy là tin tưởng vững chắc của người chủ thuyền Shealtiel. Anh đốt lò Imbrancam, đứng lẫn trong các nhóm, cũng cùng niềm tin ấy. Anh da đen này, thông minh hơn nhiều người da trắng, là người vẫn ca ngợi bộ máy. Anh đưa thẳng hai cánh tay lên trời, xòe cả mười ngón tay đen thui ra và nói với Lethierry vẫn câm lặng.

- Chủ ơi, bộ máy vẫn còn sống.

Khi việc Clubin thoát nạn được xem như chắc chắn, vỏ tàu Durande xem như bỏ đi, bộ máy trở thành vấn đề chính trong câu chuyện của các nhóm. Người ta quan tâm đến nó như đối với một con người. Người ta kinh ngạc về sự vững chắc của nó. - Đúng là một con mẹ chắc chắn thật - một thủy thủ Pháp nói. - Tốt thật! - một người đánh cá Guernesey thốt lên. Nó phải ranh ma lắm - chủ thuyền Shealtiel lại nói tiếp - mới thoát khỏi nơi đó với hai ba chỗ xước.

Dần dần cỗ máy ấy trở thành mối bận tâm duy nhất. Nó làm sôi nổi các ý kiến ủng hộ và chống đối. Nó có cả bạn lẫn thù. Nhiều người, có một chiếc thuyền buồm cũ đáy bằng còn tốt, hy vọng nắm lại được số khách hàng của tàu Durande, tỏ ra bằng lòng khi thấy Hòn Douvres trừng phạt sáng chế mới. Tiếng thì thầm trở thành tiếng ồn ào. Người ta tranh luận gần như ầm ĩ. Tuy nhiên vẫn chỉ là một tiếng nhộn nhạo kín đáo, và chốc chốc các giọng nói lại chợt lắng xuống, trước thái độ im lặng nặng nề như tha ma của Lethierry.

Từ câu chuyện trao đổi về tất cả mọi mặt, kết quả như sau:

Cỗ máy là chủ yếu. Chiếc tàu có thể đóng lại, nhưng không thể làm lại cỗ máy. Cỗ máy ấy là duy nhất. Để chế tạo một cỗ máy tương tự, tiền sẽ không có, mà công nhân cũng không. Người ta nhắc lại điểm người chế tạo ra cỗ máy đã chết rồi. Cỗ máy trước đây trị giá bốn vạn frăng. Từ nay chẳng ai dám bỏ ra một số vốn như thế cho một chuyện bấp bênh như thế; hơn nữa như vậy là đã rõ ràng, tàu hơi nước cũng đắm như mọi thuyền bè khác; tai nạn hiện nay của tàu Durande dìm sâu tất cả thành tích đã qua của nó. Tuy vậy thật đau khổ khi nghĩ rằng giờ phút này cỗ máy vẫn nguyên vẹn, vẫn còn tốt, và không đầy năm sáu hôm nữa nó cũng có thể bị xé toang ra từng mảnh như chiếc tàu. Máy còn là có thể nói như không có chuyện tàu đắm. Chỉ có máy hỏng mới không cứu vãn nổi. Cứu được máy, sẽ là hàn gắn tai họa.

Nói cứu máy thì dễ. Nhưng ai đứng ra đảm nhiệm cho việc đó? Và có thể làm được việc đó hay không? Nói và thực hiện là hai việc, và chứng minh có một giấc mơ không thực hiện nổi và điên rồ, thì đúng là giấc mơ này: cứu cái cỗ máy dạt lên Hòn Douvres. Gửi đến làm việc chỗ các quả núi ấy một chiếc tàu và một đoàn thủy thủ là chuyện phi lý; không nên nghĩ đến chuyện ấy. Lúc này đang mùa biển động mạnh; chớm có gió dữ là xích neo sẽ bị các mỏm đá ngầm cưa đứt và tàu bè sẽ vỡ tan với bãi ngầm. Như vậy là gây nên một nạn đắm thứ hai để cứu nạn đắm thứ nhất. Trong cái hốc trên đồi cao, nơi mà người đắm thuyền truyền thuyết chết đói đã trú ngụ, không đủ chỗ cho một người. Vậy muốn cứu cỗ máy, phải có một người đến Hòn Douvres, và chỉ đi một mình, một mình giữa biển cả ấy, một mình giữa chốn hoang vu ấy, một mình cách bờ năm hải lý, một mình trong cảnh hãi hùng ấy, một mình suốt mấy tuần liền, một mình trước điều dự kiến và điều bất ngờ, không được tiếp tế trong nỗi lo sợ thiếu thốn, không ai cứu giúp trong những tình huống nguy nan không một dấu người nào khác ngoài vết tích của kẻ bị đắm năm xưa vì đói khát mà thở hơi cuối cùng ở đấy, không có bạn đường nào khác cái xác chết ấy. Vả lại người kia sẽ xoay xở thế nào để cứu được cỗ máy về? Anh ta không phải là thủy thủ, mà còn phải là thợ rèn. Và phải chịu đựng những thử thách như thế nào? Người mạo hiểm làm việc ấy hơn hẳn một vị anh hùng. Anh ta sẽ là một thằng điên. Vì trong một số việc làm không cân xứng mà tính chất siêu phàm dường như cần thiết, lòng dũng cảm thường có thêm bệnh mất trí. Và thực thế, suy cho cùng, hi sinh cho một mớ sắt vụn chẳng phải điên cuồng thì là cái gì? Không, chẳng người nào đi Hòn Douvres cả. Đành phải từ bỏ cỗ máy như mọi thứ còn lại. Vị cứu tinh cần thiết sẽ không xuất hiện. Tìm đâu ra một người như thế kia chứ?

Nói khác một tí, đấy là nội dung của mọi chuyện thì thầm trong đám đông ấy.

Chủ thuyền Shealtiel, vốn là một hoa tiêu cũ tóm tắt tư tưởng của tất cả mọi người bằng câu cảm thán sau đây, nói thật to:

- Không! Thế là hết. Người sẽ đi đến đấy và đem cỗ máy về, không có.

- Tôi mà đã không đi đến đấy - Imbrancam thêm vào - tức là người ta không thể làm được - và nói tiếp:

- Nếu có…

Déruchette ngoảnh đầu lại nói luôn:

- Tôi sẽ lấy anh ta.

Im lặng một lúc lâu.

Bỗng một người tái nhợt từ đám đông bước ra và nói:

- Cô Déruchette, cô sẽ lấy anh ta ư?

Đấy là Gilliatt.

Trong lúc ấy tất cả mọi con mắt đều ngước lên. Mess Lethierry vừa thẳng người lên. Dưới cặp lông mày của ông thoáng có một ánh sáng kỳ lạ.

Ông ta nắm tay giật phắt chiếc mũ thủy thủ của mình ném mạnh xuống đất, đoạn ông trịnh trọng nhìn trước mặt nhưng không trông thấy một ai trong số những người có mặt, và nói:

- Déruchette sẽ lấy anh ta. Tôi lấy lời nói danh dự hứa với Chúa lòng lành như vậy.

II NHIỀU CHUYỆN NGẠC NHIÊN TRÊN BỜ BIỂN PHÍA TÂY

Đêm tiếp theo ngày hôm ấy, từ mười giờ đêm trở đêm trở đi, phải là một đêm trăng. Thế mà, mặc dầu vẻ ngoài êm đẹp của trời đêm, của gió trời và của biển cả, không một ngư dân nào có ý định ra khỏi Hougue la Perre, khỏi Bourdeaux, khỏi Houmet-Benèt, khỏi Platon, khỏi Port-Grat, khỏi vịnh Vason, khỏi Perrelle-Bay, khỏi Pezeris, khỏi Tielles, khỏi vịnh các Thánh, khỏi Petit-Bô, hoặc khỏi bất cứ một cảng lớn cảng nhỏ nào của Guernesey. Lý do rất đơn giản, gà đã gáy lúc giữa trưa. Khi nào gà gáy vào một giờ bất thường, thì mất mùa cá.

Thế mà đêm hôm ấy, vào lúc sập tối, một ngư dân trên đường về Omptolle lại gặp một chuyện bất ngờ. Ngang Houmet-Paradis, quá hai Brayes và hai Grunes, bên trái có phao Plattes-Fougères hình phễu úp, bên phải có phao Saint-Sampson hình mặt người, anh ta tưởng như nhận thấy có một cái phao thứ ba. Chiếc phao ấy là thế nào? Người ta đã cắm nó ở điểm ấy từ bao giờ? Nó đánh dấu bãi cạn nào? Chiếc phao trả lời ngay những câu hỏi ấy; nó động đậy, thế là một cột buồm. Anh ngư dân vẫn không bớt ngạc nhiên. Một chiếc phao đặt câu hỏi. Không thể nào có chuyện đánh cá được. Khi mà mọi người đều trở về, lại có một người ra đi. Ai thế? Tại sao?

Mười phút sau, cột buồm, từ từ đi tới, đến cách anh ngư dân Omptolle một quãng. Anh không thể nhận ra chiếc thuyền. Anh nghe chèo. Chỉ có hai mái chèo. Vậy là có vẻ như chỉ có một người Gió bắc, người kia tất nhiên đang chèo để đi đón gió quá mũi Fontenelle. Ở đấy, hẳn y sẽ dương buồm. Như vậy là y định đi quá Ancresse và núi Crevel. Thế nghĩa là thế nào?

Cột buồm đi qua, anh ngư dân quay về.

Cũng đêm hôm ấy, trên bờ biển phía tây Guernesey, những người quan sát ngẫu nhiên, rải rác và lẻ loi, đều có nhận xét vào những giờ khác nhau và ở nhiều điểm khác nhau.

Anh Omptolle vừa buộc thuyền xong thì một người đánh xe rong biển, quá đấy nửa dặm, ra roi đánh ngựa trên con đường hẻo lánh Clôtures, gần đài cổ tích, quanh vùng các lò luyện kim số sáu và số bảy, trông thấy ngoài biển, khá xa trên chân trời, ở một nơi ít người đi đến vì phải thông thạo nơi ấy lắm, về phía Roque-Nord và bãi Sablonneuse, có một cánh buồm được kéo lên. Anh ta cũng không để tâm đến lắm, vì nghề của anh là xe cộ chứ không phải tàu bè.

Có lẽ người đánh xe gặp cánh buồm ấy được nửa tiếng, thì một anh đắp đồ thạch cao vừa đi làm ở thành phố về và đang đi vòng ao Pelée, chợt thấy gần như trước mặt, một chiếc thuyền hăm hở lao vào giữa những quả núi Quenon, Rousse de Mer, và Gripe de Rousse. Đêm khuya trời tối như mực, nhưng biển lại sáng rõ, một cảnh tượng thường xảy ra, và có thể nhìn thấy cảnh đi lại ngoài khơi. Ngoài biển lúc ấy chỉ có mỗi một chiếc thuyền kia.

Dưới đấy một tí, và muộn hơn tí nữa, một người đánh bắt tôm càng, đang bày hàng trên dải cát bồi ngăn cách Port-Soif với Port-Enfer, không hiểu một chiếc thuyền lướt giữa Boue-Corneille và Moulette đang làm gì. Phải là hoa tiêu giỏi và phải rất vội đi đâu mới dám liều mạng vào đấy.

Tám giờ vừa điểm ở Catel, người chủ tiệm Cobo-Bay bỗng hơi sửng sốt theo dõi một cánh buồm ở bên kia Boue du Jardin và Grunettes, rất gần Suzanne và Grunes phía tây.

Cách Cobo-Bay không xa, trên mũi Houmet chơ vơ của vịnh Vason, một đôi tình nhân đang bịn rịn chia tay, vào lúc cô gái bảo với anh con trai: - Em ra đi đây không phải vì em muốn khỏi ở bên anh, mà vì em có việc phải đi - họ quên hôn nhau từ giã vì có một chiếc thuyền khá to đi qua rất gần họ, và hướng về phía Messellettes.

Ông Le Peyre des Norgiots, nhà ở trên đồi Pipet, lúc chín giờ tối đang bận xem xét một cái lỗ do bọn ăn cắp vặt khoét. Ở hàng rào Jennerotte, và ở “khu vực trồng cây” của ông; trong lúc nhận xét thiệt hại, ông không thể không để ý đến một chiếc thuyền liều lĩnh đi quá Crocq-Point vào lúc khuya khoắt như thế.

Sau bão một hôm, với những dao động còn lại ngoài biển cả, hành trình ấy không bảo đảm lắm. Chọn hành trình ấy là dại dột, nếu không thuộc lòng đường đi lối lại.

Đến chín giờ rưỡi, tại Équerrier một người đánh cá đang kéo lưới phải dừng tay một lúc để ngắm xem giữa Colombelle và Soufferesse có cái gì giống một chiếc tàu. Chiếc tàu ấy đang mạo hiểm lắm. Ở đấy có những luồng gió giật rất nguy hiểm. Ngọn núi Souffleresse được gọi như thế vì nó thường thổi bất thần vào thuyền bè.

Vào lúc trăng lên, triều mãn và biển đã lặng trong eo biển Li-Hou, người gác cô đơn trên đảo Li-Hou sợ quá, anh ta thấy giữa mặt trăng và anh ta có một bóng đen dài lướt qua. Bóng đen ấy, cao và gầy, giống hệt một tấm vải liệm chăng đứng đang bước đi. Nó trượt từ từ trên những bức tường do vách núi tạo nên. Anh gác đảo Li-Hou cho đấy là Đức Bà Đen.

Đức Bà Trắng ở Tau de Pez d’Amont, Đức Bà Xám ở Tau de Pez d’Aval, Đức Bà Đỏ ở Silleuse phía bắc Banc-Marquis, và Đức Bà Đen ở Grand-Étacré, phía tây Li-Houmet. Ban đêm, trăng sáng, các Đức Bà thường ra đi, và đôi khi gặp nhau.

Cứ cho rằng bóng đen ấy có thể là một ngọn buồm. Đúng là những dãy núi dài nằm ngang, trên đó hình như bóng đen đang lướt đi, có thể che mất vỏ một chiếc thuyền bồng bềnh phía sau núi, và chỉ để thấy ngọn buồm. Nhưng người gác đảo tự hỏi, thuyền nào mà lại dám mạo hiểm vào giờ này nữa Li-Hou, Pécheresse, Angullières và Lérée-Point? Và nhằm mục đích gì? Anh ta thấy có thể là Đức Bà Đen nhiều hơn.

Trăng vừa lên khỏi tháp chuông Saint-Pierre du Bois, viên đội trưởng lâu đài Rocquaine, đang nhấc nửa cầu rút lên thì nhận thấy ở cửa vịnh, xa hơn Haute-Canée, gần hơn Sambule, một chiếc thuyền buồm đi từ bắc xuống nam.

Trên bờ biển phía nam Guernesey, sau lưng Plainmont, ở cuối một cái vịnh toàn vực và vách núi, cắt thẳng xuống sông, có một bến cảng lạ lùng và một người Pháp, cư trú trên đảo từ năm 1855, có lẽ chính là người viết những dòng chữ này, đã đặt tên là Cảng tầng bốn, tên mà ngày nay thường được chấp nhận. Bến cảng ấy lúc bấy giờ mang tên La Moie, là một đồi đá, nửa thiên nhiên, nửa được đục đẽo, cao quãng bốn mươi piê trên mặt biển, và ăn ra sóng biển nhờ hai phiến gỗ thông song song dông dốc. Thuyền bè, kéo tay bằng xích sắt và puli, từ biển lên và lại đi xuống biển dọc theo những phiến gỗ thông như hai đường ray ấy. Phục vụ cho người có một cầu thang. Thời ấy bến cảng này được bọn buôn lậu lui tới rất đông. Vì khó ra vào, nên nó lại thuận tiện cho chúng.

Vào quãng mười một giờ, một bọn gian lậu, có lẽ chính bọn mà Clubin đã chờ đợi, cõng ba lô đứng, trên đỉnh mặt bằng La Moie kia. Kẻ nào gian lậu kẻ ấy rình mò; chúng đang theo dõi. Chúng ngạc nhiên vì một cánh buồm thình lình nhô ra bên kia bóng đen mũi Plainmont. Lúc ấy trăng sáng vằng vặc. Bọn buôn lậu theo dõi cánh buồm, sợ có tay gác biển nào đó đi rình nấp sau Hòn Hanois Lớn. Nhưng cánh buồm vượt quá Hanois, bỏ Boue-Blondel lại sau lưng, phía tây nam, và tiến thẳng ra khơi lẩn vào sương mờ nhạt của chân trời.

- Chiếc thuyền kia đi đâu thế nhỉ? - cánh buôn lậu nói với nhau.

Cũng đêm hôm ấy, sau lúc mặt trời lặn một tí, có tiếng người đập vào cửa ngôi nhà nát ở Bû de la Rue. Đấy là một em bé mặc quần áo nâu, đi bít tất vàng, chứng tỏ đây là một chú bé phụ lễ của giáo khu. Ngôi nhà Bû de la Rue đã đóng cả cửa trong lẫn cửa ván. Một bà lão mò cua, đang lần mò trên bãi, tay cầm chiếc đèn kính, đã với gọi thằng bé, và sau đây là những lời trao đổi trước ngôi nhà Bû de la Rue giữa bà già mò cua với chú bé trợ lễ:

- Chú cần gì thế, chú bé?

- Người ở đây.

- Anh ta không có nhà.

- Anh ấy đi đâu cơ?

- Tôi không biết.

- Mai anh ấy có nhà không?

- Tôi không biết.

- Hay là anh ấy đi rồi?

- Tôi không biết.

- Là vì, bà biết không, ông mục sư mới của giáo khu là cha tôn kính Ebenezer Caudray, muốn đến thăm anh ấy.

- Tôi không biết.

- Cha tôn kính sai tôi đến hỏi xem người ở Bû de la Rue sáng mai có nhà không?

- Tôi không biết.

III KHÔNG NÊN BÓI KINH THÁNH

Trong hai mươi bốn giờ tiếp theo đó, Mess Lethierry không ngủ, không ăn, không uống, hôn trán Déruchette, hỏi thăm về Clubin mà người ta vẫn chưa có tin tức, ký một tờ khai trong đó ông không khiếu nại gì hết, và đề nghị tha Tangrouille.

Suốt cả ngày hôm sau, nửa tì vào bàn giấy tàu Durande, không đứng mà cũng chẳng ngồi, ông dịu dàng trả lời, khi có người nói chuyện. Vả lại, khi tò mò đã được thỏa mãn thì ở Bravées lại vắng ngắt. Trong sự vồn vã thương hại thường có nhiều ưa thích nghe ngóng. Cửa ra vào đã đóng, người ta để Lethierry ngồi với Déruchette. Tia chớp thoáng qua trong mắt Lethierry đã tắt; lại trở về vẻ nhìn thảm đạm lúc đầu tai họa.

Theo lời khuyên của Douce và Grace, Déruchette lo lắng đã lẳng lặng đặt cạnh ông, trên mặt bàn, đôi bít tất mà ông đang đan dở lúc có tin chẳng lành đến.

Ông mỉm cười chua chát:

- Ngươi cho ta là ông chú ngu ngốc.

Sau mười lăm phút im lặng, ông nói thêm:

- Khi nào người ta sung sướng thì những cái trò ấy cũng hay.

Déruchette đã cất biến đôi bít tất, và cũng đã lợi dụng cơ hội để giấu cái la bàn và những giấy tờ chạy tàu, mà Mess Lethierry cứ nhìn mãi.

Xế trưa, trước giờ uống trà một tí, cửa mở; có hai người vào, mặc đồ đen, một già một trẻ.

Người trai trẻ, có lẽ ta đã gặp trong quá trình câu chuyện này.

Cả hai người đều có vẻ trịnh trọng, nhưng một thứ trịnh trọng khác nhau; người già có cái vẻ có thể gọi là trịnh trọng của trạng thái; người trẻ mang cái vẻ trịnh trọng của bản chất. Bộ áo tạo ra vẻ này, tư tưởng tạo nên vẻ kia.

Qua bộ đồ đen, đấy là hai người trong giáo hội, cả hai đều thuộc tôn giáo đã được chế định.

Điều thoạt đầu, trong người trai trẻ, có thể đập vào mắt quan sát, là vẻ trịnh trọng ấy, vốn sâu sắc trong đôi mắt, và tất nhiên do kết quả của tinh thần, lại không do kết quả của con người ông ta. Vẻ trịnh trọng ấy chấp nhận đam mê, vừa kích thích nó vừa làm cho nó thêm trong sáng, nhưng trước hết phải nói người trẻ tuổi ấy đẹp trai. Là mục sư, ít ra ông phải hai mươi lăm tuổi, nhưng ông có vẻ mới mười tám. Ông mang cái nét hài hòa, và cả cái nét tương phản, là trong ông dường như có linh hồn được tạo cho tình dục và xác thịt cho tình yêu. Ông có nước da nâu, hồng hào, tươi mát; ông rất mảnh dẻ, rất mềm mại trong bộ quần áo nghiêm nghị, với đôi má con gái và hai bàn tay thanh tú; ông có dáng đi nhanh nhẹn tự nhiên, mặc dầu ý tứ dè dặt. Ở ông tất cả đều là quyến rũ, lịch sự và hầu như khoái lạc. Vẻ đẹp trong đôi mắt ông bổ khuyết cho cái duyên dáng quá đáng. Nụ cười thành thật, để lộ hàm răng trẻ con, có vẻ trầm tư và kính cẩn. Đấy là nét đáng yêu của một kiếm đồng và vẻ đường hoàng của một giám mục.

Dưới mái tóc nâu dày, hoe vàng đến mức có vẻ như đỏm dáng, là vầng trán cao, ngây thơ và tròn đều. Một nếp nhăn cạn, với hai chỗ gãy giữa đôi lông mày, mơ hồ gợi cho ta nghĩ đến con chim tư tưởng đang dang cánh bay giữa vầng trán ấy.

Nhìn ông, ta cảm thấy như đứng trước một con người hào hiệp, ngây thơ, trong trắng, tiến bước ngược chiều với nhân loại tầm thường, mà ảo mộng làm cho hiền lành, lịch lãm làm cho bồng bột.

Vẻ trẻ trung trong suốt của ông cho thấy nét già dặn tinh thần của ông. So sánh với người giáo sĩ hoa râm đi theo, thoạt nhìn, ông có vẻ như con trai, nhưng nhìn kỹ ông có vẻ là bố.

Ông này chẳng phải ai khác, chính là tiến sĩ Jaquemin Hérode. Tiến sĩ Jaquemin Hérode thuộc tầng lớp trên của giáo hội, nó gần giống như thứ giáo hội La Mã không có Giáo Hoàng. Giáo hội Anh quốc từ thời ấy đã bị sửa đổi dần dần bởi các xu hướng đã được khẳng định và cô đúc lại của phái Pusey[1]. Tiến sĩ Jaquemin Hérode thuộc thứ giáo phái Anh quốc gần giống như một dị phái La Mã. Ông ta người cao cao, chững chạc, hẹp hòi và là cấp trên. Ánh mắt nội tâm ít lộ ra ngoài. Trí tuệ của ông ta là chữ nghĩa. Ngoài ra tự cao tự đại. Nhân vật ông ta choán mất nhiều chỗ. Ông ta có cái vẻ của một cha bề trên thì ít, mà của một đức ông thì nhiều. Chiếc áo rơđanhgôt của ông ta cắt gần giống một chiếc áo thâm tu sĩ. Lẽ ra môi trường thật sự của ông ta phải ở La Mã. Ông ta bẩm sinh là giám mục nội thần. Dường như ông ta được cố ý tạo ra để trang trí cho một Giáo Hoàng, in abitto paonazzo. Tình cờ sinh ra làm người Anh, và một nền giáo dục thần học thiên về Cựu ước nhiều hơn Tân ước, khiến ông ta lỡ mất cái vận hạnh lớn lao ấy. Tất cả huy hoàng của ông ta tóm tắt lại trong chỗ này, mục sư tại Saint-Pierre-Port, trưởng lão trên đảo Guernesey và quyền giám mục Winchester. Không phải nghi ngờ gì nữa, đấy là vinh quang.

Vinh quang ấy không ngăn cản ông Jaquemin Hérode dù sao cũng là một con người khá tốt.

Với tư cách nhà thần học, ông ta được những người am hiểu yêu mến, và hầu như có uy thế tại pháp viện Arches, một thứ Sorbonne[2] của nước Anh.

Ông ta có vẻ mặt thông thái, một lối nháy mắt ra bộ tài năng và quá đáng, hai lỗ mũi rậm rì, hàm răng hô, môi trên mỏng, môi dưới dày, nhiều bằng cấp, một khoản trợ cấp giáo sĩ cao, nhiều bạn bè tòng nam tước, lòng tin của giám mục, và luôn luôn một quyển kinh thánh trong túi.

Mess Lethierry trầm ngâm đến nỗi việc hai mục sư bước vào chỉ có thể gây nên một nét cau mày rất khẽ.

Ông Jaquemin Hérode tiến đến, chào ông, bằng mấy lời kiêu căng vừa phải nhắc đến việc đề bạt mới của mình, và nói rằng, theo tục lệ, ông đến để “giới thiệu” với các nhân sĩ, và đặc biệt với Mess Lethierry, người kế tục ông trong giáo khu, vị mục sư mới tại Saint-Sampson, cha tôn kính Ebenezer Caudray, từ nay là mục sư của Mess Lethierry.

Déruchette đứng ngay dậy.

Vị mục sư trẻ, là cha tôn kính Ebenezer, khẽ nghiêng mình.

Mess Lethierry nhìn ông Ebenezer Caudray và lầm bầm trong miệng: thủy thủ tồi.

Grâce bê mấy cái ghế tới. Hai cha tôn kính ngồi xuống cạnh bàn.

Tiến sĩ Hérode mở đầu một bài nói. Ông được biết có một sự kiện vừa mới xảy ra. Tàu Durande đã bị đắm. Lấy tư cách mục sư, ông đến an ủi và khuyên bảo. Vụ đắm tàu này không may nhưng cũng là may. Chúng ta hãy tự vấn mình xem, ta có vênh vang tự đắc vì sự thịnh đạt không? Biển phúc tràn đầy nguy hiểm. Không nên cho tai họa là xấu. Đường đi của Chúa không ai biết nổi. Mess Lethierry phá sản. Thì đã sao? Giàu sang tức là đang lâm nguy. Người ta thường có những bạn bè mạo danh. Nghèo hèn đẩy họ ra xa. Ta còn lại một mình. Solus eris. Nghe bảo tàu Durande sinh lợi mỗi năm một nghìn livrơ xteclinh. Thế là quá nhiều đối với bậc hiền nhân đấy. Chúng ta hãy xa lánh mọi chước cám dỗ, hãy khinh rẻ bạc vàng. Chúng ta hãy biết ơn nhận lấy việc phá sản và sự ruồng bỏ. Cảnh quạnh hiu nhiều hoa lắm quả. Ở đấy người ta nhận được ân phúc của Chúa. Chính trong cảnh cô đơn mà Aia tìm thấy những nguồn nước nóng, lúc dắt lừa của bố là Sébéon. Chúng ta không nên chống đối lại những quyết định huyền bí của thượng đế. Vị thánh nhân Job, sau khi nghèo khổ, đã tăng tiến trong giàu sang. Biết đâu việc tàu Durande đắm sẽ chẳng có những đền bù, dù là vật chất? Vì vậy mà ông tiến sĩ Jaquemin Hérode, ông đã bỏ vốn vào một công việc rất hay đang tiến hành tại Sheffield; nếu Mess Lethierry, với số vốn ông có thể còn, muốn tham gia vào việc làm ăn này, ông sẽ nhờ đó gây dựng lại được cơ nghiệp; đây là một chuyện cung cấp lớn về vũ khí cho Sa hoàng đang đàn áp Ba Lan. Trong đó có thể lãi ba trăm phần trăm.

Danh từ Sa hoàng dường như thức tỉnh Lethierry. Ông vội vã cắt lời tiến sĩ Hérode:

- Tôi không ưa Sa hoàng.

Cha tôn kính Hérode đáp:

- Mess Lethierry, vua chúa là do ý muốn của Chúa. Sách đã dạy: “Hãy trả lại cho César cái gì thuộc về César”. Sa hoàng, tức là César.

Lethierry, lại nửa chìm đắm trong mơ màng. Thì thào:

- César là ai? Tôi có biết đâu.

Cha tôn kính Jaquemin Hérode tiếp tục bài khuyến dụ. Ông ta không nhấn mạnh đến Sheffield. Không ưa César, tức là theo Cộng hòa. Cha tôn kính biết là người ta theo chế độ Cộng hòa. Trường hợp ấy, cứ cho Mess Lethierry quay về một nước Cộng hòa. Mess Lethierry có thể gây dựng lại cơ nghiệp ở Hoa Kỳ còn hơn ở Anh. Nếu muốn tăng gấp mười số tiền còn lại, ông chỉ cần mua cổ phần trong công ty lớn khai thác đồn điền của Texas, dùng đến hơn hai vạn người da đen.

- Tôi không ưa chế độ nô lệ - Lethierry nói.

- Chế độ nô lệ - cha tôn kính Ebenezer đáp - thuộc về thể chế thiêng liêng. Sách đã dạy: “Nếu chủ đánh đập nô lệ, chủ sẽ không việc gì, vì đấy là tiền bạc của chủ.”

Grâce và Douce, đứng ở ngưỡng cửa, như ngây ngất đón nhận những lời phán dạy của vị mục sư tôn kính.

Bậc tôn kính tiếp tục. Tóm lại, chúng tôi vừa nói xong, đấy là một con người tốt, và mặc dầu những bất đồng ý kiến của ông ta với Mess Lethierry về đẳng cấp hoặc về con người, ông ta rất thành thật đem đến cho Lethierry tất cả sự giúp đỡ tinh thần và vật chất nữa, mà ông ta, tiến sĩ Jaquemin Hérode, có trong tay.

Nếu Mess Lethierry bị phá sản đến mức không thể hợp tác có lợi vào một việc đầu tư nào đó, của Nga hoặc của Mỹ, thì lẽ nào ông lại không vào chính quyền và vào những chức vụ có lương? Đấy là những vị trí cao quý, và cha tôn kính sẵn sàng giới thiệu Mess Lethierry vào. Chức vị đại biểu tử tước ở Jersey hiện đang khuyết. Mess Lethierry được yêu mến và quý trọng, và cha tôn kính Hérode, cha xứ Guernesey và quyền giám mục, cam đoan được cho Mess Lethierry chức vụ đại biểu tử tước Jersey. Đại biểu tử tước là một quan chức quan trọng; ông ta tham dự, với tư cách đại diện của nhà vua, các phiên họp lớn, các cuộc tranh luận của quần chúng và các vụ thi hành án lệnh.

Lethierry nhìn chòng chọc vào tiến sĩ Hérode, và nói:

- Tôi không ưa chuyện treo cổ.

Tiến sĩ Hérode, từ nãy lời nào cũng nói bằng một giọng đều đều, bỗng trở nên nghiêm nghị và uốn giọng khác hẳn:

- Mess Lethierry, án tử hình là do Chúa truyền phán. Chúa đã giao lưỡi gươm cho con người. Sách nói: “Mắt đền mắt, răng đền răng.”

Cha tôn kính Ebenezer khẽ dịch ghế cạnh cha tôn kính Jaquemin, và nói chỉ để mình ông ta nghe:

- Những điều người kia nói là những điều được mách bảo.

- Bởi ai? Bởi cái gì? - cha tôn kính Jaquemin Hérode hỏi lại, cũng bằng giọng nhỏ nhẹ.

Ebenezer đáp rất khẽ: - Bởi lương tâm ông ta.

Cha tôn kính Hérode vội lục túi, rút ra một quyển sách to, khổ gấp mười tám, có chìa khóa, đặt nó lên bàn, và nói to:

- Lương tâm là đây.

Quyển sách đó là một quyển Kinh Thánh.

Đoạn tiến sĩ dịu giọng. Mong muốn của ông ta là giúp ích cho Mess Lethierry, người mà ông ta rất vì nể. Là mục sư, ông ta có quyền và có nhiệm vụ khuyên bảo, tuy nhiên Mess Lethierry vẫn được tự do.

Mess Lethierry, lại chìm đắm vào trầm tư và phiền muộn, không nghe nữa. Déruchette, ngồi cạnh bố, cũng trầm ngâm, không ngước mắt lên, và đóng góp vào câu chuyện ít sôi nổi ấy cái phần khó chịu của một sự có mặt im lặng. Một nhân chứng không nói gì là một vật nặng nề khó tả. Tuy nhiên, tiến sĩ Hérode dường như không cảm thấy điều ấy.

Lethierry không trả lời nữa, tiến sĩ Hérode tự cho mình được tự do. Lời khuyên từ người, linh cảm tự Chúa. Trong lời khuyên của vị mục sư có sự linh cảm. Đón nhận lời khuyên là tốt, gạt bỏ lời khuyên là nguy hiểm. Sochoth bị mười một con quỷ tóm vì đã khinh thường lời khuyên của Nathanaël. Tiburien mắc bệnh hủi vì đã đuổi ra khỏi nhà mình vị tông đồ André Barjésus, mặc dầu là phù thủy, bị mù mắt vì đã chế giễu lời nói của thánh Paul. Elxaï, cùng hai cô em Marthe và Marthène, hiện đang ở dưới địa ngục vì đã xem thường những lời cảnh báo của Valencianus, người chứng minh cho họ rõ như ban ngày rằng đấng Christ của họ cao ba mươi tám dặm là một con yêu tinh. Oolibama, còn gọi là Judith, nghe theo lời khuyên. Ruben và Pheniel nghe theo ý kiến bề trên; riêng tên của họ cũng đủ nói lên điều đó, Ruben nghĩa là con của ảo ảnh, và Pheniel nghĩa là bộ mặt của Chúa.

Mess Lethierry đấm nắm tay lên bàn, hét to:

- Đúng rồi! Lỗi tại tôi.

- Ông muốn nói gì? Cha Jaquemin Hérode hỏi.

- Tôi nói là lỗi tại tôi.

- Lỗi tại ông là thế nào?

- Vì tôi để tàu Durande về vào ngày thứ sáu.

Ông Jaquemin Hérode thì thầm vào tai ông Ebenezer Caudray:

- Con người này mê tín.

Ông ta lại lớn tiếng nói tiếp, và bằng giọng giáo huấn:

- Mess Lethierry ạ, tin vào thứ sáu là trẻ con lắm. Không nên tin vào những chuyện hoang đường. Thứ sáu cũng là một ngày như bao ngày khác thôi. Rất nhiều khi lại là một ngày may mắn. Melendez đã sáng lập thành phố Saint-Augustin vào một ngày thứ sáu; Henri VII đã phong chức cho John Cabot vào một ngày thứ sáu; những người hành hương tháng Mayflower[3] đã đến Province-Town[4] vào một ngày thứ sáu. Washington sinh ngày thứ sáu 22 tháng hai năm 1732; Christophe Colomb đã tìm ra châu Mỹ ngày thứ sáu 12 tháng mười năm 1492.

Nói xong, ông ta đứng lên. Ebenezer, mà ông ta dẫn theo, cũng đứng lên.

Grâce và Douce, đoán biết các cha tôn kính sắp về, mở hai cánh cửa ra.

Mess Lethierry không nhìn thấy gì và cũng không nghe thấy gì cả.

Ông Jaquemin Hérode nói riêng với Ebenezer Caudray:

- Ông ấy không chào cả chúng ta. Không phải buồn phiền, mà là đần độn. Phải tin là ông ta điên.

Trong khi ấy, ông ta cầm quyển Kinh Thánh nhỏ trên bàn và ấp nó vào giữa hai bàn tay dài, như người ôm giữ một con chim, mà cứ sợ nó bay mất. Cử chỉ ấy tạo cho những người có mặt một chờ đợi nào đó. Grâce và Douce nhô đầu tới.

Ông ta cố hết sức lấy giọng, để có vẻ trang nghiêm:

- Mess Lethierry, chúng ta không nên chia tay nhau mà không đọc một trang Kinh Thánh. Mọi hoàn cảnh trong đời người đều được soi sáng bởi sách vở, người phàm tục bói sách của Virgiliens, người ngoan đạo có những lời răn của Kinh Thánh. Vô luận quyển sách nào, mở ra một cách may rủi, tiết lộ một điều gì đó. Trước hết, bao giờ nó cũng tốt đối với những kẻ buồn phiền. Điều nhất định phải toát ra từ Kinh Thánh, là sự xoa dịu cho nỗi buồn của họ. Trước mặt những kẻ buồn phiền, phải mở Kinh Thánh ra, không được chọn trang, và chân thật đọc lên đoạn văn trước mắt. Điều con người không chọn thì Chúa chọn. Chúa biết điều gì cần thiết cho ta. Ngón tay vô hình của Người chỉ vào đoạn văn bất ngờ mà ta đọc. Dù trang ấy là trang nào, bao giờ cũng có ánh sáng tỏa ra. Ta không nên tìm kiếm trang khác, và chỉ nên tin vào đấy. Đấy là ý Chúa. Vận mệnh của chúng ta được bí mật nói lên trong đoạn văn được tin tưởng và thành kính gợi ra. Chúng ta hãy lắng nghe, và vâng lời. Mess Lethierry, ông đang đau khổ, đây là quyển sách đem lại niềm an ủi. Ông đang đau ốm, đây là quyển sách đem lại sức khỏe.

Cha tôn kính Jaquemin Hérode bấm khóa lò xo, lùa móng tay vào giữa hai trang, đặt bàn tay một lúc lâu lên quyển sách mở, và đứng mặc niệm, đoạn nhìn xuống một cách quyền uy, ông bắt đầu đọc to:

Điều ông ta đọc như sau:

“Isaac dạo chơi trên con đường dẫn đến cái giếng gọi là Giếng Người sống và nhìn thấy.”

“Rebecca, trông thấy Isaac, liền nói: Người đàn ông đi đến trước mặt tôi là ai thế?”

“Isaac liền đưa nàng vào lều của mình, lấy nàng làm vợ, và mối tình Isaac yêu Rebecca thật cao cả”.[5]

Ebenezer và Déruchette nhìn nhau.

❀ ❀ ❀

[1] Pusey: nhà thần học người Anh, một trong những người sáng lập phong trào nghi thức.

[2] Sorbonne: viện thần học Paris ngày xưa.

[3] May flower: hoa tháng năm, tức tháng Đức Bà.

[4] Providence-Town: thành phố Thượng đế.

[5] Dựa vào tích Isaac lấy Rebecca trong Kinh Thánh (Sáng thế ký chương 24, câu 62-67).

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.