Không gì đáng sợ bằng tiết cân phân muộn.
Trên biển cả có một hiện tượng rất dữ tợn mà người có thể gọi là gió lộng tràn về.
Bất cứ mùa nào, đặc biệt vào thời kỳ sóc vọng[1], vào lúc bất ngờ nhất, biển cả bỗng yên tĩnh lạ thường. Chuyển động bất diệt kì diệu này lắng dịu xuống; nó vật vờ, uể oải, như sắp nghỉ ngơi; có thể tưởng là nó mệt mỏi. Tất cả các loại giẻ rách trên biển, từ cờ hiệu đánh cá đến cờ chiến, đều thõng thượt dọc các cột buồm. Cờ đô đốc, cờ vua, cờ đế, đều ngủ.
Thình lình các mảnh giẻ đó bắt đầu cử động một cách kín đáo.
Nếu có mây thì đúng là lúc đón xem sự hình thành của mây quyển[2], nếu mặt trời lặn thì đúng là lúc ngắm nhìn ráng đỏ chiều hôm; nếu đang đêm và có trăng, thì đúng là lúc nghiên cứu các loại quầng tán.
Vào giây phút ấy, người thuyền trưởng hoặc vị chỉ huy hạm đội nào may mắn có được một cái kính-báo mà người sáng chế không được ai biết đến, khắc quan sát cái kính ấy bằng kính hiển vi và có biện pháp để phòng chống gió nam nếu thứ nước chế giống như đường tan, và chống gió bắc nếu thứ nước chế tách ra thành những tinh thể giống những bụi dương xỉ hoặc những rừng tùng. Vào giây phút ấy, sau khi tra cứu một hình nhật khuê bí mật nào đó, do người La Mã hoặc do ma quỷ khắc là cruach, anh ngư dân đáng thương người Ireland hay người Bretagne vội vã đưa thuyền về.
Trong khi ấy bầu trời và đại dương vẫn trong xanh. Trời mai bừng lên rực rỡ và bình minh chúm chím mỉm cười; cảnh tượng ấy gây nên nỗi hãi hùng kính cẩn của các nhà thơ già và các thầy bói già, kinh hoàng trước việc người ta có thể tin vào sự giả dối của mặt trời. Solem quis dicere falsum audeat?[3]
Nhờ tính chất mờ đục tai hại của mọi vật mà con người nhận được hình ảnh tối tăm của cái khả năng tiềm tàng. Dung mạo đáng sợ nhất và nham hiểm nhất là cái mặt nạ của vực thẳm.
Người ta thường nói: lươn nằm dưới đá; lẽ ra phải nói: bão táp nằm dưới biển lặng trời êm.
Vài giờ, có khi vài ngày, trôi qua như thế. Các hoa tiêu chĩa thiên lý kính nhìn đây nhìn đó. Gương mặt các thủy thủ già thường có một vẻ nghiêm nghị do ngấm ngầm phẫn nộ phải chờ đợi.
Thình lình có tiếng rì rào hỗn tạp. Một kiểu đối thoại bí mật trên không trung.
Không thấy gì cả.
Không trung vẫn thản nhiên.
Trong khi ấy tiếng động lớn dần, to dần, cao dần. Bản đối thoại càng rõ.
Có một kẻ nào đó phía sau chân trời.
Một kẻ nào đó rất khủng khiếp, gió.
Gió, tức cái giống khổng lồ mà chúng ta gọi là Phong Thần.
Tên đại đê tiện của bóng tối.
Ấn Độ gọi chúng là Marouts, xứ Judée gọi là Kéroubims, Hy Lạp gọi là Aquilons. Đấy là những con mãnh cầm vô hình của vô biên. Những Thần Bắc Phong ấy đang rầm rộ chạy đến.
II CÁC LOẠI GIÓ NGOÀI KHƠI
Chúng từ đâu tới? Từ cõi vô biên. Sải cánh chúng cần có đường kính của vực sâu. Đôi cánh khác thường của chúng cần có quãng lùi vô tận của những chốn hoang vu. Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, những lỗ hổng rộng lớn màu xanh ấy, mới thích hợp với chúng. Chúng làm cho những nơi ấy tối tăm. Chúng bay từng đàn. Tư lệnh Page có lần đã thấy trên biển khơi bảy cây nước một lúc. Chúng ở ngay trước mắt, hùng hổ. Chúng âm mưu những tai hại. Lao tâm khổ cực của chúng ta làm cho nước căng phồng lên chốc lát và vĩnh viễn. Điều chúng có thể làm không ai biết, điều chúng muốn làm không ai hay. Chúng là những con nhân sư của vực thẳm, và Gama[4] là Oedipus[5] của chúng. Trong cảnh tối tăm của không trung luôn luôn chuyển động, chúng xuất hiện dưới những bộ mặt mày dày. Kẻ nào trông thấy những đường nét tái nhợt của chúng trong cái cảnh mịt mù là chân trời của biển cả, đều cảm thấy mình đứng trước một sức mạnh bất diệt. Tưởng như trí tuệ con người khiến chúng lo ngại và chúng đang xù lông lên với nó. Trí tuệ là vô địch, những nguyên tố cơ bản là vật không thể chiếm được. Làm thế nào để chống lại sự có mặt ở khắp nơi nơi… không thể hiểu được? Gió biến thành chùy rồi lại vẫn là gió. Gió chiến đấu bằng cách tiêu diệt và tự vệ bằng cách tan biến. Ai gặp chúng cũng cần phải bó tay. Sự tấn công của chúng, nhiều hình nhiều vẻ và đầy ảnh hưởng vang dội làm cho hoang mang. Chúng tấn công cũng tài mà chạy trốn cũng giỏi. Chúng là những kẻ vô ảnh vô hình ngoan cố. Làm thế nào để thắng chúng? Mũi tàu Argo, đẽo trong một cây sồi của Dodone vừa là mũi tàu vừa là hoa tiêu, nói với chúng. Chúng hành hạ mũi tàu nữ thần ấy. Christophe Colomb, thấy chúng lao đến tàu La Pinta, liền chạy lên boong và đọc cho chúng nghe những khổ đầu tiên của Kinh Thánh theo Thánh Jean. Surcouf mắng chửi chúng. Ông nói: Đây là bọn vô lại. Napier nã đại bác vào chúng. Chúng có cái quyền độc đoán của hỗn mang.
Chúng có tính chất hỗn mang. Chúng làm gì với nó? Một gì đó rất nghiệt ngã. Hang gió còn quái đản hơn hầm sư tử. Biết bao nhiêu xác chết nằm dưới nếp nhăn khổng lồ ấy! Gió đẩy một cách không thương tiếc cái khối lớn tối tăm và sầu thảm. Người ta thấy tiếng chúng, còn chúng, chúng chẳng cần nghe gì hết. Chúng phạm phải những việc gần như tội ác. Người ta không biết chúng ném những mảnh bọt trắng xóa vào ai. Trong cảnh đắm tàu có biết bao độc ác vô luân! Thật xúc phạm thượng đế biết chừng nào! Có lúc chúng có vẻ như nhổ vào mặt Chúa. Chúng là những tên bạo chúa của những nơi… không ai biết đến. Các thủy thủ thành Venise thường lẩm bẩm: Luoghi spaventosi[6].
Không gian run rẩy đành mặc cho chúng bạo hành. Những gì xảy ra trong những chốn cô đơn to lớn ấy thật không tả nổi. Có lẽ nào có người ngựa lần vào bóng tối. Không khí rộn ràng như tiếng rừng cây. Không nhìn thấy gì cả, nhưng lại nghe tiếng dồn dập của những đoàn quân cưỡi ngựa. Đang giữa trưa, trời bỗng tối sầm; một cơn bão đi qua; đang đêm khuya, trời bỗng dưng bừng sáng; tần khí địa cực rực đỏ. Những cơn lốc thay nhau đổi chiều, một thứ vũ khúc ghê tởm, tiếng thiên tai giậm chân trên nguyên tố. Một đám mây nặng quá vỡ tung ở quãng giữa, và rơi từng mảng xuống biển sâu. Những đám mây khác, đầy màu đỏ, soi sáng và gầm reo, đoạn tối sầm lại thê thảm; đám mây không còn sét đen kịt lại, đây là một thứ than tắt ngấm. Những túi mưa vỡ tung thành mây mù. Chỗ này một lò lửa đang có mưa tuôn; chỗ kia một trận mưa rực ngời ánh lửa. Những màu trắng của biển cả dưới làn mưa xối xả soi sáng những cảnh xa xăm kì dị, người ta thấy những lớp dày biến dạng trong đó có những hình dáng tương tự lang thang. Những cái rốn quái gở đào sâu vào các đám mây. Hơi nước quay rút, sóng nước xoay tròn; những nữ thủy thần say rượu lăn lộn; biển cả mông mênh nặng nề và êm lặng cử động mà không chuyển dịch; tất cả đều tái nhợt; từ màu sắc nhợt nhạt ấy thoát ra những tiếng kêu tuyệt vọng.
Ở tận cùng chốn u minh huyền bí, có những đám đen run rẩy. Có lúc, lên đến cực điểm. Lao xao trở thành ồn ào, cũng như sóng nước trở thành sóng biển. Chân trời, nơi sóng nước chồng chất hỗn độn, nơi dao động không ngừng, rì rào liên tục những tiếng đổ vỡ nổ tung, lạ lùng; tưởng như tiếng hắt hơi của giao long. Những luồng gió lạnh chợt đến, rồi những luồng gió nóng. Tiếng biển cả rung chuyển báo hiệu một hiện tượng hãi hùng ghê gớm nhất. Áy náy. Lo âu. Hãi hùng sâu sắc của sóng nước. Đột nhiên phong ba như một con vật, đến uống nước đại dương; sức hút dị thường; nước cuốn lên cái mồm vô hình, một bầu giác hình thành, nốt tay phồng lên; đấy chính là nước, Prester của người xưa, thạch nhũ từ trên thõng xuống, thạch nhũ từ dưới mọc lên, hai hình nón ngược chiều xoay tít, đỉnh nọ đứng thăng bằng trên đỉnh kia, như hai quả núi hôn nhau, một quả núi bọt vươn lên, một quả núi mây cúi xuống; cảnh giao hoan hãi hùng của bóng đêm và sóng nước. Cây nước, như cái cột trong Kinh Thánh, ban ngày đen tối, ban đêm sáng rực. Đứng trước cây nước sấm trời phải im tiếng. Hình như nó sợ.
Cảnh hỗn loạn rộng lớn của những nơi hoang vắng có một âm giai cao dần dễ sợ: gió mạnh, gió cơn, cuồng phong, phong ba, bão nhỏ, bão táp, cây nước; bảy sợi dây đàn trên cây thất truyền của gió, bảy thanh âm của vực thẳm. Bầu trời là một chiều rộng, biển cả là một hình tròn; một hơi thở thổi qua, chẳng còn gì của tất cả những cái ấy nữa, mọi vật đều điên cuồng hỗn loạn.
Những nơi nghiệt ngã ấy là như vậy đấy.
Các ngọn gió chạy, bay, sà xuống, lắng dừng, rồi lại bắt đầu, bay lượn, vi vu, kêu rống, cười vang; điên cuồng, dâm dật, mặc sức hoành hành, hoan hỉ trên sóng nước cau có. Loài khỉ ấy có cả một hòa âm. Chúng làm cho cả đất trời vang rộn. Chúng thổi vào mây như thổi vào một thứ kèn đồng; chúng ngậm không gian để thổi; và trong cõi vô biên, với tất cả các loại âm thanh kết hợp của kèn nhà binh, ốc thổi, tù và, kèn bấm, và kèn săn, chúng nổi lên một hồi kèn Prométhée. Ai nghe chúng tức là lắng nghe Pan[7]. Điều đáng sợ là chúng đùa bỡn. Chúng có một nguồn vui to lớn gồm toàn bóng tối. Chúng săn lùng các thuyền bè ở những nơi xa vắng. Không nghỉ ngơi, ngày cũng như đêm, mùa nào cũng như mùa nấy, tại vùng nhiệt đới cũng như ở miền địa cực, thổi vang cái kèn điên loạn, chúng tiến hành cuộc săn lùng tối tăm to lớn các vụ đắm tàu qua cảnh chằng chịt của mây trời và sóng biển. Chúng là chủ của các đàn chó săn. Chúng vui đùa.
Chúng thúc chó sủa theo núi non, theo sóng biển. Chúng phối hợp rồi lại làm tan rã mây trời. Chúng nhào trộn, như với hàng triệu bàn tay, sự mềm mại của sóng nước bao la.
Nước mềm mại vì nước không thể dồn nén. Dưới sức mạnh, nó trôi trượt. Đè bên này, nó thoát ra bên kia. Chính nhờ vậy mà nước trở thành ba đào. Sóng biển là tự do của nước.
III BIỂN VÀ GIÓ
Chúng ta nhìn thấy các triều lưu của nước; chúng ta không nhìn thấy các triều lưu của không khí. Giống hệt đại dương, khí quyển cũng có triều lên và triều xuống, to lớn hơn, và nhô lên phía mặt trăng, như một cục bướu khổng lồ.
Tính chất đơn nhất gây nên tính chất phức tạp, đó là, như chúng ta vừa nói, quy luật của mọi quy luật.
Bộ máy của khí quyển rất đơn giản.
Một thế quân bình hình thành giữa các điện lực của khí quyển và từ lực của quả đất.
Các vùng nhiệt đới là những bộ máy đun sôi, các lục địa là những bộ máy ngưng tụ; sức co rút ngang bằng sức giãn nở; xích đạo từ trên rót xuống, các địa cực ở dưới bù đắp lên. Sự lui tới qua lại ấy là gió.
Toàn bộ thiên nhiên là một sự trao đổi.
Hai vòng gió, một vòng địa cực, một vòng ở xích đạo chuyển động vĩnh viễn xung quanh quả đất.
Dưới hai vòng quay đó, quả đất cứ lăn.
Thật là một cảnh tượng hùng vĩ.
Hai vòng gió đó gặp vuông góc, làm vỡ khí quyển, và tạo thành những chỗ gãy mà ta gọi là bão.
Từ các chỗ gẫy ấy thoát ra những cơn lốc. Chướng ngại vật đầu tiên mà các cơn lốc gặp phải chuyền cho chúng các động tác quay tròn. Một hòn đá dưới nước, như mũi Ténériffe, hay như bãi ngầm Douvres nữa, cũng đủ. Chúng chuyển động theo hình trôn ốc qua không gian và kéo biển cả theo các vòng tròn của chúng. Một cơn phong ba xoắn vặn một chiếc thuyền ba boong y hệt một bà thợ giặt vắt quần áo. Ta hãy hình dung một con rắn không khí khổng lồ, cao một dặm và dài ba bốn trăm dặm, quay tít với tốc độ khủng khiếp trên đại dương.
Gió hành hạ biển cả. Việc bạo hành còn làm đảo lộn cái nhịp điệu rộng lớn mà ta gọi là thủy triều. Sóng nước bị dày vò nổi loạn. Những đám mây dài, như những túi điện, phồng lên, và qua một vài hình dáng căng phồng kì dị, người ta đoán được trong chúng đang có sấm sét bị giam giữ như con vật chết trong bụng con trăn. Bọt nước ròng ròng trăm nghìn chỗ trên vách đá ngầm như chiếc áo dài đay trên mình thần Vệ - nữ Andyomène. Phong vũ biểu hạ xuống, dâng lên, rồi lại tụt xuống; trong bão táp cũng có hiện tượng đen tối như thế. Người ta nghe tiếng thổn thức của tạo hóa. Biển cả là một bà cả khóc. Nó có nhiệm vụ van xin; đại dương than thở thay cho tất cả cái gì đang đau khổ. Dưới nước, các khí lực qua lại, với một tốc độ bảy vạn dặm một giây, từ bắc cực nơi có một ngọn núi lửa là Hekla, đến nam cực nơi có hai núi lửa là Erebus và Terror. Chất nước và chất lỏng ganh đua nhau. Các vùng hoang vắng không có gì bảo vệ phải chịu đựng những đụng chạm của cuộc tranh đấu dã man đó. Nếu không có ai thì gọi là hồng thủy, nếu có người ở đó thì gọi là nạn đắm. Câu chuyện ly kì của bóng tối là như thế. Gió trời tuôn chảy và sụp đổ; chảy, chúng là cuộc sống, đổ, chúng là thiên tai.
Dưới vòng gió xích đạo, có sấm rền liên tục.
Trái đất xoay vần làm mòn bờ trái của các con sông ở nam bán cầu.
Chúng ta cần nói rõ vấn đề hình học vĩ đại này. Điện luôn luôn có hiện tượng phân cực trong các vòng của những trôn ốc gió; một nửa vòng bên này mang điện dương, nửa bên kia mang điện âm. Điều đó được máy điện nghiệm chứng minh. Đường chuyển vị chạy theo trung tâm bão tách đôi hai thứ điện. Ở chính giữa, trọng lực giảm xuống.
Tại trung tâm bão, hoàn toàn yên tĩnh. Ở đó là cân bằng. Bão hòa hoãn với chính nó.
Càng đi lên các vùng lạnh, mặt phẳng di chuyển của bão càng nghiêng. Tại các vùng nhiệt đới, bão là một tiếp tuyến tại các vùng địa cực, nó là một cát tuyến. Bạn hãy hình dung một cái đĩa, lúc đầu đặt nằm, dần dần đứng thẳng lên.
Cách xa chín trăm dặm, một cơn bão đang di chuyển đã ảnh hưởng đến phong vũ biểu.
Biến đổi trong bất biến, chúng ta cần nhấn mạnh điểm đó, pháp chế ấy là như vậy. Vô số hiện tượng phối hợp thêm vào đó, và cuối cùng làm cho bốn năm qui luật, bề ngoài rất đơn giản, trở thành rối rắm như rừng. Mỗi sự việc là một bảng số lôgarit, mỗi một số hạng thêm vào lại chia tách nó ra đến mức biến đổi hẳn nó. Mọi sự vật đều có một hình bóng chung, trên đó hiện rõ và tập hợp những đường nét lớn của công cuộc tạo hóa: bên dưới là cái không thể thăm dò nổi. Vật lý học bao hàm cả hóa học. Tất cả các quy luật của thiên nhiên đều có một nền tảng.
Từ chỗ thiên nhiên là một, người ta đã kết luận là thiên nhiên đơn giản. Sai lầm. Khắp nơi, trong cái mà khoa học cổ xưa gọi là nguyên tố, khoa học ngày nay đều công nhận có những thành phần cấu tạo. Nước biển chẳng hạn, đơn giản đối với Pythagore, năm qua bao gồm hai mươi lăm chất; năm nay (1864) qua phân tích, thêm vào đó hai chất nữa, bore và nhôm; thế là hai mươi bảy.
Các hiện tượng chằng chịt vào nhau. Chỉ thấy một hiện tượng tức là chẳng thấy gì cả. Thiên tai nhiều vô tận. Chúng cũng có quy luật phát triển như mọi thứ tài sản khác, là sự giao lưu. Cái này xen lẫn cái kia. Việc hiện tượng thâm nhập vào hiện tượng sinh ra điều kỳ diệu.
Kỳ diệu là hiện tượng ở trạng thái kiệt tác. Đôi khi kiệt tác là một tai biến. Nhưng trong bộ máy của tạo hóa, một sự phân tích kỳ diệu tức thì được tổng hợp, không cái gì không có mục đích.
Bước đầu là giao hoan, bước hai là sinh con đẻ cái. Trật tự của vũ trụ là một cuộc hôn nhân huyền diệu. Không bao giờ có chuyện sinh nở hỗn loạn. Hỗn mang là một cảnh độc thân. Chúng ta không ngừng chứng kiến sự kết hôn của tổ tiên chúng ta. Adam và Eve vốn vĩnh cửu. Adam là quả đất, Eve là biển cả.
Khi biển cả muốn, thì biển cả vui tươi. Không một niềm vui nào có vẻ ngoài hớn hở như biển cả. Đại dương là hình ảnh của một sự nảy nở hoàn toàn. Ngoài mây trời ra không một cái gì che khuất được nó, và cái bóng che đó, chỉ một hơi gió là tan biến ngay. Chỉ nhìn trên mặt thì đại dương là tự do, và cũng là bình đẳng. Trên cái mực thăng bằng đó tất cả mọi phát tỏa đều được thoải mái tự do. Trời trong mặc sức phơi bày trên đấy vẻ vui tươi vĩ đại. Biển cả thanh bình là một cảnh hội hè. Không một tiếng gọi nào của còi tầm êm đềm hơn, đáng yêu hơn. Không một thủy thủ nào không muốn ra đi. Không gì so sánh nổi cảnh thanh bình đó, và toàn cảnh bao la chỉ là một bàn tay âu yếm vuốt ve, sóng nước thở dài, ghềnh đá hát ca, rong rêu hôn hít, và hải âu cùng các loài chim biển bay lượn, đồng biển mềm mại dập dờn từ con sóng nọ sang con sóng kia, và dưới những tổ bói cá, nước như một vú em, sóng biển như một nôi trẻ, trong khi mặt trời phủ một lớp ánh sáng rực rỡ lên tất cả những bộ mặt giả dối khủng khiếp của vực sâu.
Những vẻ ngoài của biển cả thay đổi rất nhanh, đến mức đối với nhà quan sát, quang cảnh biển cả trở thành hoàn toàn huyền hoặc khó hiểu; tính chất thô bạo đó chuyển thành tính chất trừu tượng. Đấy là một đại lượng tự phân chia rồi lại tự hợp lại. Đại lượng ấy có thể giãn nở, trong đó có tính chất vô tận. Cũng như biển cả, tính toán luôn luôn gợn sóng. Sóng nước cũng huyền ảo như con số. Nó cũng cần một hệ số bất động. Nó có giá trị nhờ đá ngầm, cũng như con số nhờ số không. Cũng như các con số, sóng nước có một mặt trong suốt cho ta nhìn thấy dưới nó là những vực sâu. Chúng lẩn tránh, tự xóa nhòa, tự tái tạo, không tự tồn tại, chờ được người ta sử dụng, sinh sôi nảy nở mênh mông trong bóng tối, luôn luôn có mặt ở đó. Không gì có thể cho ta thấy được hình ảnh các con số như lúc ta nhìn cảnh trời nước bao la.
Trên cảnh mơ màng ấy cuồng phong đang bay lượn.
Người ta thoát ra khỏi chỗ trừu tượng nhờ có bão táp.
Mare portentosum[8].
Làn nước mênh mông cô độc đó, cái giải quyết chuyển động phân tán, cái lớp phong ba xiết bao bình thản ở bên dưới đó, ăn thông bằng những mạch ngầm với những hỏa sơn bùn vẫn phụt ra ngoài chất mùn bên trong, tiết lộ cho ta biết đâu là địa cầu, cũng như con người, cũng có lớp da là mặt đất và niêm mạc là bùn. Địa cầu hiển nhiên là sinh vật. Nó có sống không? Đấy là câu hỏi. Giữa vấn đề có sinh khí và sống, có một khác biệt, là cá tính. Ở đây có một cái tôi rất to lớn. Điều đó ai dám khẳng định? Điều đó ai dám phủ nhận?
Dù sao nước cũng phụ thuộc vào gió. Sóng biển luôn luôn phải chịu đựng gió. Vì vậy mà sinh ra vô vàn sự việc hiển nhiên, bề ngoài trái ngược, tựu trung thống nhất, rất khó theo dõi các chuyển biến không ngừng cho Hippocrate, Aristote, Avicenne, Albert le Grand, Galilée, Porta, Huyghens, Mariotte, Volta, Vallisneri, Spallanzani, Beccaria, Wheatstone, Lyell, Coulvier-Gravier, Maury, Peltier, Maxadorf, Schoenbein, Humboldt, cho cả Mathieu de la Drôme tài giỏi, và cả những nhà văn minh mẫn thông thái như Margollé và Zurcher, hai nhà sử học về gió.
Gió, cái giống bất thường đó, cái ý chí đó, flat ubi vult[9], hình như ngày nay nó chế giễu các sợi dây thép của Snow - Harris, cũng như trước kia nó đã chế giễu hai thanh kiếm của Artaxerce và của Hoàng hậu Paryzatis.
Những thanh kiếm đó là mầm mống của cột thu lôi.
Lớp khí quyển, dày mười lăm dặm, có thể giãn nở đến ba mươi dặm, đã được Galilée cân, Toricelli người sáng chế ra phong vũ biểu làm thăng bằng với thủy ngân, Pascal đo từ trên tháp Saint - Jacques, Lavoisier phân tích. Người ta mới đạt được đến chỗ đó.
Ai biết khoa học sẽ dừng lại đâu? Ai biết con người có rèn được chiếc chìa khóa của gió hay không?
Để vây bắt cuồng phong, khoa học làm một cái lưới nhiều mắt; đài quan sát Luân Đôn có hai mươi sáu tấm bản đồ của thủy sư đô đốc Fitz-Roy, đài quan sát Paris xây dựng tập bản đồ Bão táp. Khoa học đạt đến chỗ dự đoán được thời tiết, gần như tiên đoán, bằng cách kéo dài thật xa trên đại dương, nhờ đối chiếu các sự kiện và nhờ tính toán, tất cả các đường cong cùng một áp lực phong vũ biểu. Những điểm uốn của các đường cong ấy cho biết những thay đổi của khí quyển.
Một phần của câu đố đã được đoán ra. Các số cho biết khác của bài toán cong đang được nghiên cứu.
Gió trời, quân bại chúa ấy, chỉ biết vâng lời; đoàn quân phân tán và tai quái ấy bị chỉ huy; tính điên rồ ấy có những quy luật của nó. Quy luật lớn đến nỗi phát biểu chúng lên cũng đã khủng khiếp rồi.
Chu kì mười chín năm của mặt trăng được Grand-Jean de Fouchy quan sát, chu kì bốn mươi mốt năm của mặt trời cho thấy lại số chấm đen tối đa, hiện tượng mưa sao trong những đêm xung hạn mồng 10 tháng tám và ngày 12 tháng mười một, toàn bộ pháp chế bí mật đó chi phối cái hoa gió tối tăm. Bình minh bắc cực là một dấu hiệu khơi dậy cuồng phong. Một thiên thể rơi vào mặt trời, một cơn bão nổ ra trên quả đất; trùng hợp kỳ lạ, mà cũng có thể là quy luật.
Những áp lực kỳ diệu. Có nhiều guồng máy không thông ước khác đã được cảm đoán. Từ mồng 10 tháng mười 1781 đến ngày 25 tháng ba 1782, trong khi ngôi sao Hercule thứ năm mười lăm tắt, đại dương bị rối loạn vì bão táp. Schwabe khẳng định sự kiện mặt trời, Slough khẳng định sự kiện tinh tú. Tại sao không? Con kiến đè nặng địa cầu; một ngôi sao rất có thể đè nặng lên trái đất. Ai biết được cái khối lượng chúng ta phụ thuộc vào những biến đổi của sao gama Antinous, của sao delta Cephée và sao anpha Dragon? Ai biết được kích thước của ảnh hưởng vũ trụ? Ai biết được chiều dài của các khí lực? Chúng ta chẳng cảm thấy hay sao, trong một chừng mực nào đó, qua những ảnh hưởng ngay trong hệ thống hành tinh của chúng ta, tất cả những tồn tại xa xôi nhưng to lớn của sao Sirius, Mira Ceti, Argo thỉnh thoảng gần đạt đến cường độ sao Canopus, và những giao động của chòm sao Giao long Hévelius? Humboldt bơ thờ vơ vẩn vì thế. Có chắc rằng một vạn sáu nghìn sao sa trong một đêm không ảnh hưởng gì, chẳng hạn, tới một cơn gió như cơn gió đẩy biển vào đất liền, phía Elliott Key, đến mức làm cho thuyền bè phải vứt neo vào rừng không? Lúc tỉnh dậy, thủy thủ tàu Ledbury - Snow nhận thấy neo của họ móc ở dưới nước, trên các ngọn cây.
Không có gián đoạn trong công cuộc tạo hóa; không có nhịp cầu nào gẫy, không có sự lầm lẫn nào, một sự việc và những gì phụ thuộc vào nó luôn luôn bao trùm toàn bộ thiên nhiên; sợi xích có thể dài ngắn chút ít, nhưng không bao giờ đứt. Bạn cứ leo theo sợi thừng nút to lớn ấy, lấn hết sự việc này đến sự việc khác, bạn sẽ đi được từ con vi trùng đến chòm sao. Tính huyền bí nội tại gắn liền vào chính nó. Không có thứ gì tiêu tan. Không cố gắng nào bị hoài phí. Không cái gì vô ích cả. Vũ trụ có và chỉ có cái gì cần thiết.
Ảnh hưởng của tinh tú phối hợp với ảnh hưởng của quả đất. Chẳng lẽ những hiện tượng liên quan mật thiết với sự thu hẹp vòng quay của quả đất lại không liên quan, chẳng hạn, đến tốc độ hung hãn của một số gió bắc cực sao? Và đặc biệt là với lại hình gió mạng Na Uy, có lần đã làm tụt phong vũ biểu trong một ngày đến hai mươi mốt ly tại Skudernoes và đến ba mươi mốt ly tại Christiansund?
Tạo hóa khôn dò có máy móc của nó. Laplace nói: máy trời. Chúng ta không thể thấy nổi hệ thống bánh xe của nó vì chúng to lớn vô cùng. Cánh tay đòn của nó đi từ chỗ chúng ta gọi là thực tế đến chỗ chúng ta gọi là trừu tượng. Ngay trong điểm hình học cũng có những điểm lực. Không một thước đo nào, không một mơ mộng nào, có thể cho ta ý niệm về sự truyền lan sinh khí do những sự gần gũi càng ngày càng nhiều hơn hay ngày càng ít đi, một lực đẩy ngợp người của cái bất định trong cõi vô biên. Cái vô cùng lớn đến cái vô cùng nhỏ và cái vô cùng nhỏ đến với cái vô cùng lớn. Bạn hãy cầm một dúm đá nhánh, một ít thôi; trong một ít bột nhỏ biến ấy có bốn mươi mốt tỷ bộ xương. Bạn thấy khác biệt như thế nào giữa số tro đó với thứ bụi khác mà người ta gọi là dải Ngân Hà: Trong hai thứ, thứ nào huyền diệu hơn?
Đây là khuê tảo, kia là tinh sao. Ở trên cũng như ở dưới, đều là những vật nhỏ mọn; ở dưới cũng như ở trên, đều là những thứ to lớn vô cùng.
Mối liên quan là cái thước duy nhất, thế giới cực nhỏ cũng có những vật khổng lồ. Bên cạnh con monade lúc hoàng hôn mới ra, thì con kolpode có mũ là con cá voi bên cạnh con cá bống. Giữa vũ trụ cực bé và vũ trụ phải nhìn bằng kính viễn vọng, có điểm giống nhau. Tất cả vấn đề là xem cái gì cũng nhỏ bé hết.
Bản thân con người, tên khổng lồ về trí tuệ và ý chí, là cực nhỏ. Một tỉ người, tất cả dân số của quả đất, có thể nằm gọn trong một chiếc quan tài cao một nghìn bộ, rộng một nghìn bộ và dài sáu nghìn bộ. Ngọn núi nhỏ nhất của dãy núi Alpes, khoét rỗng và đào sâu xuống, cũng đủ cho cỗ thạch mộ của loài người.
Cuộc sống là sự truyền giao dần dần: bàn tuốt, dây truyền, sợi xích. Chết là một sự thay đổi mắt xích. Vì không thể có một giải pháp liên tục nào cả, nên sự vĩnh cửu của cái tôi là hợp lực của sự việc nội tại. Việc quên đi mất quá khứ sẽ là sự đứt đoạn của sợi dây xích. Chúng tôi muốn nói quên hẳn - vì có thể có trạng thái quên chốc lát và không làm mất mát gì cả cho sự tồn tại của cái tôi, điều đó đã được giấc ngủ chứng minh. Cuộc sống trần gian của chúng ta có thể là một thứ giấc ngủ. Tính bất tử của linh hồn chỉ là sự gắn liền phổ biến của tạo hóa chi phối cá nhân như nó vẫn chi phối tất cả.
Sự gắn liền đó là gì, tính nội tại đó là cái gì, không thể nào hình dung nổi nó. Nó vừa là hợp chất sinh ra sự thống nhất vừa là cái tôi sáng tạo ra mọi phương hướng. Tất cả tự giải thích bằng từ ngữ Phong tỏa. Vạn vật phối hợp khí lực của chúng, đấy là vấn đề tạo hóa. Chúng ta vừa là đích tới, vừa là điểm xuất phát. Mỗi một sinh vật là một trung tâm thế giới.
Có một công việc làm chung, bao gồm tất cả những công việc riêng lẻ bị lôi cuốn theo, mà chính những người lao động cũng không hay biết, tới một đích chung, bởi linh hồn vĩ đại trung tâm duy nhất.
Không hơn gì tính nội tại của công cuộc tạo hóa, tính nội tại của công việc đó cũng không thể nào tưởng tượng nổi. Những khả năng của sức mạnh đều không thể nào tưởng tượng nổi. Những khả năng của sức mạnh đều không được biết đến. Bản thân con người cũng không biết sức mạnh của mình. Lao động của con người đã là một sức mạnh muôn hình muôn vẻ khiến người ta không thể nào nghĩ tới công việc của tạo hóa mà không hoa mắt. Một người phụ nữ khóc, nhà hóa học Smithson có mặt ở đấy, ông hứng một giọt nước đó, và giọt lệ phụ nữ kia trở thành một công thức hóa học, từ đó sẽ thoát ra một ngành của khoa học. Quentin Metzis hay Benvenuto Cellini xoay trở một mẩu sắt trong vài giờ đồng hồ, họ để dấu ấn của họ trên mẩu sắt, thế là mẩu sắt đó quí hơn vàng. Byron đến hiệu giấy quen mua một senlinh mực, rồi bán lại cho nhà sản xuất mười vạn frăng. Đấy là chúng ta chỉ mới nói đến kết quả vật chất; kết quả tinh thần còn đáng ngạc nhiên nhiều hơn nữa. Có loại lao động, xuyên qua một khối kim loại hoặc thạch loại, qua một tấm vải, một tờ giấy, làm cho nó thăng hoa đến mức trước kia là vật chất, nó biến thành tư tưởng. Từ lao động thoát ra một thứ động-lực-học siêu hình, không phục tùng bất cứ một công thức nào, sản sinh ra sức mạnh và giá trị. Việc sử dụng là một công cuộc sáng tạo thứ hai. Cuộc sáng tạo thứ nhất mới chỉ là khởi động. Sau nhựa sống, đến trí tuệ. Bạn hãy hình dung cây chỉ thảo[10] biến thành bản trường ca Iliat. Nếu những Prométhée ở dưới trần, bắt gặp và đánh cắp được bí mật của Tạo hóa, có thể làm những việc như thế, nếu họ thực hiện chúng, thì còn có việc gì mà các thần thánh trên trời không làm! Có việc gì mà bản thân Tạo hóa không làm? Quid domini facient, audent cum, talia fures[11].
Các dữ kiện về hoạt động của vạn vật không thể xếp thành danh mục. Không có cách nào định nghĩa chúng, không có cách nào giới hạn chúng. Những cái trái ngược lại kết hợp với nhau, những gì xa cách lại tiếp xúc nhau. Cái ta tưởng ly dị lại là chuyện phối hợp. Hằn thù kết thúc thành tình yêu. Dưới cuộc phân tranh có cái hôn. Tất cả đều là hệ số. Bạn tưởng đang đứng ở địa cực này hóa ra lại đứng ở địa cực kia. Không bao giờ sự kết hợp lại khăng khít hơn khi quãng cách hình như khó vượt qua nhất. Núi non không hề biết đến cử động, con thảo mao trùng không hề biết đến giấc ngủ. Vậy mà chính con thảo mao trùng lại là quả núi. Toàn bộ châu Úc là một loại san hô do một con sâu xây dựng.
Khắp nơi đều là chuyện bất ngờ. Những cái đồng dạng không kém phần lạ lùng hơn những cái tương phản. Thật phi thường khi cái này lại tương phản cái kia. Hiện tượng này bắt chước hiện tượng kia. Chúa tự lặp lại. Đấng toàn năng ăn cắp của Tạo hóa; khi mà bạn cảm thấy ngây ngất nhất vì tuyệt vời, lại là lúc đứng trước trò ăn cắp đó. Chúng tôi có nhấn mạnh chỗ khác[12] tính đồng nhất về hình dáng giữa mặt trời và con nhện. Những sự lặp lại như thế là kỳ tích của phát minh. Nhìn thì khiếp sợ, nghe thì hoang mang. Ở những tầm sâu chưa từng biết, tiếng nói của vô biên có vang vọng.
Có những chỗ giống nhau về cấu tạo, đứng rất xa cũng nhận thấy, thật không gì hãi hùng hơn! Còn có chứng minh nào hơn về tính đồng nhất! Sao chổi cũng bay như con chuồn chuồn. Một tinh vân có lẽ là một vũ trụ còn nằm trong kén. Bầu trời và giọt nước cũng cùng một hình dạng; cả hai đều chứa đựng những thế giới. Tính bò sát của con sâu giống hệt như những cảnh nghèo và tật xấu của chúng ta; bên trong có cánh. Cuồng phong và phẫn nộ đều cùng một khuôn mà ra.
Những so sánh như thế có thể nhân mãi lên vô cùng tận.
Nhấn mạnh về sự đồng nhất của quy luật thì không bao giờ nên chán, nó cho thấy sự đồng nhất về bản chất.
Trong những điều diệu kì mang tính chất con số ấy của sự dồi dào sáng tạo, luôn luôn tìm thấy cái mới vẫn trong cái bình ấy, ở cội nguồn ấy, một số nền triết học què quặt đã cho là khô khan nghèo nàn. Chỉ thiếu chút nữa chúng buộc tội cho Chúa là già cỗi. Jupiter, người nói dai lắm. Nhà tư tưởng đúng đắn bồng bột và có lẽ còn bối rối hơn nữa vì những tính - hành - luận lớn lao, hơn là vì những đụng chạm nảy lửa của bất ngờ. Hài hòa là một đường dài tít tắp. Tính chất thẳng băng của nó khiến phải hoa mắt. Có những lúc, người ta đoán thấy, cảm thấy quy luật sẽ được phát hiện dưới một hình thức mới; người ta thấy Chúa đang xuất hiện. Cảm xúc tuyệt vời. Người ta hầu như chộp được phương pháp của Chúa. Chỉ chút nữa là hình như bản thân người ta cũng sẽ sáng tạo. Chính Chúa làm như thế. Người ta thấy chóng mặt khi đặt tay lên dụng cụ của Chúa.
Chỗ này Chúa là theo kiểu trái ngược, chỗ kia theo kiểu đồng nhất. Không gì tuyệt vời hơn. Chỉ có một người chủ. Quy luật của linh hồn cũng có những sức hấp dẫn như qui luật của vũ trụ; vật chất phản ánh tinh thần; thăng bằng dẫn chứng cho công bằng; con người là hành tinh của chân lý. Chúa làm tất cả theo cách ấy. Vũ trụ đồng nghĩa với Chúa. Cái bất di bất dịch cũng giống cái phù du. Chúa thay đổi lâu đài của mình, chứ không thay đổi kiến trúc; thay đổi tác dụng chứ không thay đổi nguyên tắc. Vòng xoay của giống khuyên tảo được Chúa dùng trong sự vận động của quả đất; Chúa không cần sáng chế ra một hình thức khác; vì côn trùng vẫn dùng nó thì đối với ngươi, vũ trụ, cũng khá tốt rồi; và thái độ bình tĩnh của đấng toàn-năng tự sao chép có một cái gì thật hãi hùng. Công cuộc tạo hóa tự tách ra từ chỗ đơn nhất. Hoa lá có khác, gốc rễ vẫn vậy. Việc dẫn đến mối khủng khiếp thiêng liêng rất đơn giản, trước những hiện tượng đối xứng ấy của bí mật. Đối trọng của cái vô cùng lớn là sự quằn quại; bất động chẳng qua chỉ là một thứ lốc đứng yên một chỗ; dải Ngân hà y hệt một đám mây; một dải hơi nước giống như dãy núi; một con sông chảy trong cây; một phân nhánh xoắn vặn, chia nhỏ ra và nhân dòng nước lên; nhựa cây là một thứ máu; ánh sáng là sóng nước; động tác là một kiểu đốt cháy; sống tức là cháy; tiêu thụ cũng y hệt như tiêu hủy; hoạt động là đồng dạng; toàn bộ vật chất được nhào nặn theo một cách; nguyên tố tan chảy trong nguyên tử; trong chỗ đơn nhất có những sự chồng xếp lên nhau, đó là vũ trụ; không có chút khác biệt nào giữa một nắm tro và một nắm địa cầu; cùng điều kiện sinh sống, gần như cùng hình dạng, có xê xích nhau về thời gian; cùng nhào nặn lại liên tục; cũng cùng trên đe dưới búa; lao động, ở đây vất vả, ở kia bình thản như không, cùng biểu lộ theo một lối, trong chốc lát cũng như trong vĩnh cửu, và người mơ mộng, câm lặng tin chắc, ngạc nhiên, nhìn ngọn lửa lò rèn tung tóe thành tia sáng và ngọn lửa vực thẳm thành tinh sao.
Sự lệ thuộc vào vũ trụ của chúng ta, ngày nay đã được công nhận nhưng khoa học thiển cận tìm cách giới hạn, sẽ ngày càng biểu lộ rõ. Một hiện tượng nào đó của quả đất, giờ đây hãy còn mù mịt, là một chuyển hóa của hoàng đới.
Vận động của vũ trụ ảnh hưởng nhiều đến sự chuyển mùa của chúng ta. Phải hai trăm sáu mươi năm kim nam châm mới thực hiện xong dao động hoàn toàn từ tây sang đông kinh tuyến. Như dao động hiện nay, bắt đầu từ 1660, mãi đến 2280 mới kết thúc. Quy luật bão dính liền với dao động này. Trong cuộc tuần hoàn sáu trăm hai mươi năm ấy, lúc thì địa cực châu Âu lạnh nhất, lúc thì địa cực châu Mỹ lạnh nhất. Sự đồng nhất và sự gắn liền xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nữa. Franklin[13] đã chứng minh rằng những cơn gió Đông Bắc đều bắt đầu từ hướng Tây Nam. Ở phía nam đường xích đạo, các trận cuồng phong đều xoáy theo kim đồng hồ, còn ở phía bắc đường xích đạo, theo chiều ngược lại. Những vụ nổ của lửa khí lò than trong đất liền trùng hợp với những dịp cân phân trên biển. Đất là những điều bí mật đáng sợ mà ngành hàng hải cần nghiên cứu.
Người ta có thể nghi ngờ hiện tượng về đủ mặt. Người ta có khả năng làm như thế. Giả thuyết tố cáo vô biên; chính vì thế mà giả thuyết lớn lao. Đằng sau sự kiện giả, nó tìm kiếm sự kiện thật. Nó muốn biết tư tưởng, và ẩn ý của Tạo hóa. Những nhà phát minh khoa học lớn là những người xem thiên nhiên là đáng ngờ. Đáng ngờ về phương diện lớn lên, về mặt kéo dài, chia tách tối tăm, về những mầm non sâu kín trong tất cả mọi phương hướng, về sự sinh trưởng không cùng; đáng ngờ về những việc kéo dài trong cõi vô hình. Sự mò mẫm tuyệt vời. Của giả thuyết hướng thẳng về những chỗ kéo dài đó. Kẻ cảm đoán được những sự vươn dài đó trong cõi vô hình của tạo hóa là nhà đạo sĩ. Kẻ cảm đoán được những sự vươn dài đó trong cõi vô hình của số phận là nhà tiên tri.
Về mặt nào thiên nhiên cũng đáng ngờ cả. Tính chất bao la của nó cho phép ta nghi ngờ. Điều nó làm không phải là điều hình như nó làm; điều nó muốn không phải điều hình như nó muốn. Thiên nhiên đặt lên vô-hình cái mặt nạ của hữu-hình khiến cho chúng ta thiếu mất cái mà chúng ta không nhìn thấy, còn cái mà chúng ta nhìn thấy lại lừa dối chúng ta. Do đó mà sinh ra những lý luận mà thiên nhiên, trạng thái hoàn chỉnh của Chúa, cung cấp cho chủ nghĩa vô thần. Thiên nhiên không lúc nào thật. Nó xuất hiện trước con người dưới hình dạng lơ đãng nhìn nghiêng. Nó chỉ là cái bên ngoài; may sao nó cũng trong suốt. Điều kỳ lạ, có lẽ phỏng đoán nó còn ít lầm lạc hơn khi tính toán nó. Aristote nhìn xa hơn Ptolémée. Nhà mơ mộng ở Stagyre, lúc khẳng định rằng sự nối tiếp của gió trời tuân theo sự vận động giả tạo của mặt trời, đã gần đặt trước ngón tay lên phát minh của Galilée. Một nhà toán học chỉ xứng là nhà bác học khi nào ông ta kiêm cả triết gia. Thiên nhiên và vô lượng. Một tư tưởng còn làm được nhiều việc hơn một bài tính cộng.
Tại sao? Vì tư tưởng cho thấy toàn diện, còn bài tính cộng chỉ cho tổng số. Vô biên, huy hoàng và duy nhất, làm cho phong phú cho trí tuệ; những con số, cái giống sâu chiếu đó, mổ xẻ và nuốt chửng vô biên. Nhà toán học nhảy vào cái hố con số thì cũng y hệt người Bàlamôn[14] nhảy xuống cái hố sâu bọ. Tính toán tất nhiên đạt được những kết quả tuyệt vời, với điều kiện là không mâu thuẫn với giả định. Tính vi phân xem thường phỏng đoán; tính đại số lại cần đến nó. Tính toán chỉ có thể nhân lên; giả thuyết đôi khi sáng tạo. Giới hạn của tính toán là cái chính xác, giới hạn của giả thuyết là cái tuyệt đối; phạm vi sâu hơn hẳn.
Con số vấp phải cái vô nghiệm; nó gặp con 8 nằm ngang, vô cực; giả thuyết chỉ vấp cái bí mật. Tìm phép cầu phương của hình tròn là điều phi lý; tìm đá điểm kim không thể.
Thiên nhiên tôn kính, xem như là thiêng liêng, nhưng luôn luôn ở trong tình thế bị nghi ngờ, đó là quy luật tiên - thuật cổ xưa và của khoa học hiện đại, đó là điểm xuất phát của tài văn minh. Các nhà thiên văn và hóa học là những người lột mặt nạ. Một hôm, tại Trụ lang, người ta hỏi: ngài muốn được nhìn nữ thần nào trần truồng! Platon[15] đáp: Vệ nữ. Socrate đáp Isis. Isis tức là Chân lý. Isis tức là Thực tế. Trong tuyệt đối, thực tế đồng nhất với lý tưởng. Nó là Jehovah, Satan, Isis, Vệ nữ; nó là Pan. Nó là thiên nhiên.
Thiên nhiên hoàn toàn hai đáy. Nó là một mê cung làm rối loạn hết tất cả các hệ thống đường đi. Đối với tầm mắt ngắn ngủi của ta, các phương hướng bề ngoài của nó trái ngược với những khuynh hướng thực tế của nó. Các sự việc có một luồng chảy bên trong khác với luồng chảy trên mặt. Chỉ có một kẻ duy nhất biết được huyền bí của thiên nhiên; chính kẻ ấy là điều huyền bí. Từ khi trên trái đất có những sinh vật biết suy tư, thiên nhiên đã bị rình mò bởi những cặp mắt lo âu, đôi khi bởi những cặp mắt lườm nguýt nữa.
Transversa tuentibus[16]. Thiên nhiên bị nghi ngờ, đối với con mắt nhà tu khổ hạnh, là ưa tửu sắc; trước mắt nhà bác học, là ảo tưởng; trước mắt triết gia; là dĩ thiện vi ác. Đối với người này thiên nhiên là phóng đãng, đối với người kia thiên nhiên là dối trá, đối với người khác nữa, là hung bạo. Tất cả các điểm ấy, đều không đúng với thiên thiên. Có điều, thiên nhiên lại có cái mà chúng ta thiếu, là thời gian và không gian. Đường đi của thiên nhiên không phải là đường thẳng và ta không bao giờ thấy nó. Để đi tới đích, thiên nhiên đi theo đường vòng của vô biên.
Thiên nhiên đi vòng vèo trong chỗ có thể đi được, không phải của ta. Do không có giới hạn của ta, thiên nhiên không có đạo đức của ta. Nếu thiên nhiên không phải là hiện tượng kì lạ thì thiên nhiên sẽ là quái vật. Đối với thiên nhiên, chúng tôi đã nói ở chỗ khác, mục đích biện minh cho phương tiện. Chỉ tuyệt đối mới có cái quyền ấy. Có lẽ cái gì không có thước đo thì có thể không ngần ngại. Vì vậy mà sinh ra những cuộc đại biến động, những cuộc đảo chính vô trách nhiệm.
Cũng vì vậy mà sinh ra những giống vật thiên tai. Con Rắn thần cổ xưa không phải là chuyện hoang đường. Vị thần khổng lồ có năm mươi đầu và một trăm tay tồn tại dưới hình dáng cực nhỏ. Tại sao nó lại không tồn lại dưới hình dáng cực đại: Bonnet de Genève, nhà vạn vật học ham say nghiên cứu, tin là có con Nghìn - tay tương xứng với đại dương. Về vấn đề đấy, ông ta đã thu nhập được một trăm ba mươi chín lần quan sát mà ông ta cho là xác đáng.
Những nơi hẻo lánh của nước không được thăm dò. Chúng cũng có những chỗ tận cùng. Chỉ ở mỗi đầu của hai địa cực, có một diện tích không được biết đến, rộng tám mươi dặm vuông. Ở đấy có gì?
Sức sống của từ lực tập trung ở hai địa cực.
Con mực khổng lồ mà Buffon[17] tin có thật là một con Rắn thần ở địa cực.
Những cái ổ lúc nhúc sự sống ấy thỉnh thoảng lại vung đến tận chúng ta những hình mẫu đáng sợ. Cuvier[18] đã tìm thấy lại con rồng.
Giống cáo mỏ vịt là một loại griffon[19], épiornis là con chim Bock trong Nghìn Lẻ Một Đêm. Một trong những cung-lều của các vua Madagascar có một cái mái làm bằng ba chiếc lông vũ của con chim épiornis. Những chiếc lông vũ rộng như thế chứng minh có một sải cánh chim ưng khổng lồ, và khoa học hiện đại, rất thích cái nhỏ bé và giả thuyết giảm thiểu, đã sai khi tuyên bố rằng épiornis là loài cánh ngắn.
Một con chim khổng lồ khác, con moa, cũng được chứng minh bằng các vật hóa thạch. Một cái chân thú dài hơn chiều cao của người (xương đùi: một piê sáu puxơ Anh; xương ống quyển ba piê ba puxơ; xương giữa bàn chân: một piê tám puxơ; ngón: mười puxơ).
Khoa động vật học cũng vô biên như khoa vũ trụ học.
Con giao long đã được chứng thực khá nhiều bởi cá mập ngoài biển và cá sấu trên đất liền.
Một số chuyện khủng khiếp khác về súc vật, còn lạ lùng hơn nữa, cũng nằm trong vấn đề tạo hóa. Có lẽ chúng ta sẽ gặp những trường hợp như thế trong quá trình cuốn sách này.
Trong công cuộc tạo hóa có một đấng Vô - danh. Đấng Vô - danh ấy có những lý lẽ riêng, mà chúng ta không hiểu nổi. Nó cố gắng trong khủng khiếp cũng như trong trường hợp tráng lệ. Những thành công của nó trong mặt kinh hãi khiến người ta phải run sợ. Ước mơ của con người là một thử thách luôn luôn bị vượt qua bởi công cuộc tạo hóa; có một cái gì đó còn tối tăm hơn giấc mộng, đó là sự việc. Thực tế vượt xa ác mộng. Những hồn ma của chúng ta là những ca đẻ non.
Sau chúng ta hay trước chúng ta, thiên nhiên tạo ra chúng, hoàn chỉnh hơn. Ở Cayenne, trên những giường ngủ thường có dơi - ly bay với những cánh dơi. Đấng Vô - danh, Đấng Vô - hình, Đấng Khả - hữu, bạn hãy thăm dò ba vực thẳm đó. Chúng ta hay đừng cãi lý với vô biên. Cái lý không phải là khoanh vùng, chối không phải là giới định. Mặc dầu chúng ta lạc quan, vẫn có những sinh vật khiến ta phải sợ hãi. Có kinh hoàng thật, bằng xương bằng thịt. Nó ở bên dưới ta và bên trên ta, nó vẫn giữ cái vẻ không thật và, vì khiếp sợ, nó hình như ở ngoài vật thể. Bất ngờ thường rình mò chúng ta. Nó hiện ra với chúng ta, nó nắm chặt chúng ta, nó nuốt chửng chúng ta, và nếu nó có vẻ thật với chúng ta thì cũng chỉ gọi là thôi. Công cuộc tạo hóa đầy rẫy những hình thành choáng ngợp bao bọc chúng ta, mà chúng ta vẫn ngờ vực. Vì lộng lẫy quá hay vì dị dạng quá. Đây quá phong phú về hài hòa, kia quá nhiều hỗn loạn. Chúa hay quá đáng. Ở dưới đất hay ở trên trời, Chúa thường đi quá xa. Những dập dình của sinh khí cũng vô biên vô tận như những nếp sóng gợn của nước. Chúng đan, thắt vào nhau, hết cởi ra rồi thắt lại. Những vùng của thực tế vũ trụ xoắn xít vào nhau ở trên và ở dưới chân trời của chúng ta thành hình trôn ốc bất tận. Cuộc sống là con rắn diệu kì của vô biên. Không có đầu cũng không có đuôi, không sơ khởi cũng không hoàn thành, rất nhiều mắt xích. Có những tràng thiên thể, lại có những xâu con ghẻ. Mọi cái giữ chặt lấy nhau. Tất cả bám chắc vào nhau. Như chúng tôi đã nói ở chỗ khác, hai tháp Babel ngược chiều, một cái lao xuống một cái vút lên, đó là trần gian. Điều đáng kinh ngạc là nếu chúng ta hiểu nổi nó. Cùng lắm chúng ta chỉ có thể phỏng đoán được nó. Chúng ta cũng có thể áp dụng phương pháp đo lường nào cho cái cảnh quay cuồng đó là vũ trụ? Đứng trước những vực thẳm, mơ màng là sức mạnh duy nhất của chúng ta. Nhận thức của chúng ta, rất ngắn ngủi, không thể nào chạy theo công cuộc tạo hóa, cái hơi thở vô cùng dài rộng đó. Những giả thuyết của chúng ta chỉ là những hình thái kinh hãi, sững sờ xem xét những cành nhánh không tả hết của Đấng Khả - hữu, và những giãn nở thực tế trong tất cả các hướng. Chúa đạt đến chỗ không thể hiểu nổi trong loài nhuyễn thể cũng như trong tinh tú trên trời. Chính sự thái quá của Chúa dẫn ta đến chỗ phủ nhận Chúa. Con số vô cùng tận về các công trình tổ hợp của Chúa làm chúng ta hoa mắt hay phẫn uất, nhưng, phẫn uất hay hoa mắt, nó cũng hành hạ chúng ta. Sự có mặt khắp mọi nơi của Chúa trong từng việc nhỏ nhặt khiến chúng ta ngỡ ngàng. Nó nổi bật nhất trong những hiện tượng cùng cực, trong những kỳ công ghê tởm hay sáng lạng mà người ta có thể gọi là sự việc ranh giới. Thực tế, đây là những chỗ bắt đầu của các khu vực. Điểm đó đạt được rồi, công nhận, ghi nhận và chịu đựng rồi, chúng ta không hiểu gì nữa. Óc tưởng tượng không chịu lặn xuống và không chịu bay lượn, khoa học không muốn biết gì hơn. Tốt, thế là đủ, chúng ta đã chán chê, chúng ta đã chờ đủ rồi. Óc não, về mặt khoa học chỉ là một vật chứa có hạn. Một kiến thức quá sâu rộng về thực tế trong một con người sẽ bị người khác xem như là điên rồ, khoa học trọn vẹn sẽ có vẻ như mất trí, và kẻ bất hạnh nào hân hạnh được giáp mặt với Đấng Vô - danh trên đỉnh cao của sự việc sẽ chỉ xuống núi Sinai[20] để đi vào Bedlam.
Chúng ta không nên thăm dò xa hơn nữa. Về mặt vũ trụ, chúng ta chỉ nên nhận những gì hiện có và thêm vào đó những gì có thể có. Thực tế là đường tiệm cận của khả hữu giao điểm ở tít cuối vô cực. Trong vấn đề tạo hóa, vốn là cái vỏ ngoài của chúng ta, và là sự thấu triệt của chúng ta, không một cái gì không thể bị phủ nhận ngay từ đầu, trừ cái phi lý, trừ cái gì tự hủy diệt. Điều không thể lĩnh hội chiếm chỗ nhiều quá, không còn chỗ cho cái không chắc. Vì có sao chổi nên cũng rất có thể có con rắn thần. Không thể tìm thấy chỗ ngồi cuối cùng của bóng tối cũng như ánh sáng. Đấng Vô - danh là ở cả hai nơi. Uế khí cũng có mặt hợp lý của nó như tia sáng, và hợp lý tức là sự sống.
Nguyên do của các thiên tai ở trên tầm hiểu biết của chúng ta. Cần gì phải có thảm họa này? Ích lợi của trận hỏa hoạn này, trận lụt này, trận động đất này, của cuộc đắm tàu này, trận dịch hạch này, trận hỏa phun này là thế nào? Công dụng của các thiên tai như thế nào?
Ngoài con người ra, vì lý do gì mà Người - ta lại làm những việc Người - ta làm? Dưới góc độ nào Đấng thượng đế bí mật nhìn các nguyên nhân và kết quả? Các nguyên tố cơ bản, trung gian giữa thượng đế với chúng ta, có sáng suốt không? Thông thường ta thấy chúng nó có vẻ như mất trí, đôi khi ngu độn. Lavoisier[21] nói: sự điên cuồng của không khí. Trong tăm tối có những sức mạnh mà cách hành động làm ta sửng sốt. Hình như chúng ta, là những sinh linh, chúng ta phải tính, nếu không đến những điều hợp tác vô hình, ít ra cũng đến những sức mạnh mù quáng, vô danh nào đó chịu một phần trách nhiệm về cách sắp đặt các sự vật. Những sức mạnh tối tăm ấy mò mẫm điều khiển loài người.
Tuy vậy chúng ta cần nói rõ, phải phân biệt giữa mù quáng và tối tăm. Không thể hiểu nổi không phải là mù quáng. Những sức mạnh ấy tối tăm, điều đó không có nghĩa là chúng vô ý thức. Chúng khá tích cực nên không thể nào đơn thuần thụ động được. Chúng ta gọi chúng là sức mạnh, có lẽ chúng là những Uy lực. Chữ Ubi volt[22] chỉ rõ trong hơi gió có một ý định.
Gió nói gì? Nó nói với ai? Ai nghe nó? Nó thì thầm với cái tai nào? Gần mặt đất đôi khi nó im lặng, ở những chỗ cao, không bao giờ. Nó là tiếng nói. Tất cả tiếng động khác ngưng hẳn hay tạm ngừng, chỉ riêng tiếng nó vẫn còn. Tiếng ba hoa của gió tràn ngập không khí. Đó là tiếng thì thầm ngoan cố vĩ đại. Đó có phải là bài độc thoại không? Có phải là câu đáp lại không? Không gì đơn điệu hơn và cao siêu hơn. Cái tiếng lảm nhảm đó của vực sâu trước kia đã bị nhiều nhà triết học cho là xấu. Những nhà theo thuyết xích-thể tiên-vận-thần, quen chất vấn thiên nhiên, phẫn uất vì nó. Tại sao lại cái tiếng rít như sáo kia, lúc nào cũng như lúc nào? Tại sao lại cái tiếng nghiến răng kia, lúc nào cũng như lúc nào? Ích gì mà nó cứ gân cổ lên trong mây để nhắc đi nhắc lại mãi những điệu cũ rích? Hãy thay đổi tiếng kêu xem sao. Một triết gia theo phái khuyển nho, thường chống một cái gậy - gậy này sau khi ông ta chết bán được một ta - lăng[23] bằng năm nghìn trăng bấy giờ - là Pérégrinus Protée, những lúc gió to vẫn nhún vai dạo chơi ngoài bờ biển. Ông ta lắng nghe tiếng gió rì rầm y như tham dự một bài cãi của thầy kiện. Ông ta có vẻ như trách móc gió trời sao cứ lặp đi lặp lại mãi những tiếng gầm muôn thủa của chúng, sao cứ bình luận bão táp bằng những lời lẽ cũ kỹ, sao cứ làm bực mình thính giả, và sao cứ làm điếc tai mọi người, trước khi dìm chết họ bằng những trò nhạt nhẽo độc ác ấy? Ông ta chỉ thích nói: trận đắm không lời.
Bản thân gió không phải là một sức mạnh: nó chỉ là một sức nhanh, tức là cường lực. Một sức mạnh mà, cuối cùng, khi tốc độ dừng lại đột ngột thì hóa thành hiện tượng đốt cháy tức thì. Đà chuyển thành lửa. Đà sinh ra đụng chạm.
Bằng sức nhanh, ngọn gió mát trở thành viên đạn. Tốc độ nghiền nát. Cái nhảy của con hổ cũng làm nên cuồng phong. Năm 1836, một cơn gió đi từ Luân Đôn lúc mười giờ sáng, tới mười giờ tối thì đến Stettin. Một cơn gió khác, ngày 27 tháng hai 1860, trong nửa giờ đã cuốn tới Paris hai mươi triệu tấn không khí. Một cơn gió khác, cũng đổ xuống Paris, ngày 23 tháng năm 1865, một triệu sáu mươi vạn thước khối nước trong ba mươi phút. Và bên cạnh những cơn gió châu Phi và châu Á thì những cơn gió của châu Âu chẳng có nghĩa lý gì.
Một vài nhà khí tượng học khẳng định rằng đôi khi gió lốc cũng đi đến sáu trăm dặm một giờ như một viên đạn đại bác. Chúng tôi nghĩ rằng nói thế có quá đáng.
Những đòn sức mạnh của cái tốc độ đó thật phi thường. Một ngọn gió đi qua, cuốn phăng một khẩu đại bác mươi ly khỏi boong chiến hạm Sané; một ngọn khác, ở Jersey, năm 1854, gần Saint-Luc, quật đổ liền tức khắc một bức tường dài bốn mươi thước, như một tờ giấy đặt trên mặt đất; một ngọn khác, năm 1863, ở Guernesey, gần Saint - Martin, xé toang một cái cối xay bột to, bẻ phăng cây thánh giá, và cắm hai cái sàn gỗ của nó cùng với những bậc thang, thẳng xuống đất như hai cái lồng chim, cách đấy năm mươi bước; một ngọn khác, ngày 7 tháng sáu năm 1859, phạt ngang một đường phố của Granville, một ngọn khác quật đổ hai mươi bốn tháp chuông nhà thờ ở các vùng lân cận Saint-Pol-de-Léon. Một ngọn khác, tháng sáu 1865, trong Corrèze, trong mười lăm phút, làm tan hoang xã Meilhard, bóp nát hai trăm nóc nhà và thổi tan biến trong không khí cả một thôn xóm Sauviate, không còn lại một cái nhà nào. Một ngọn gió khác làm khô cả một cánh rừng; một ngọn gió khác luồn dưới sóng và làm gẫy những thạch - tâm và cuốn những mảng khổng lồ vào trong thung lũng đảo Bourbon; một ngọn gió khác biến Kingstown từ sáu trăm nóc nhà còn mười bốn cái lều nát. Các hạm đội cũng không tài giỏi gì hơn. Chỉ một hơi, gió bốc mất hai tàu ở Orellana, ba ở Duquesne, bốn ở Anson, bốn ở Rodney, tất cả ở Medina Sidonia.
Nói tới các kì tích về sức mạnh ấy của gió, truyền thuyết cũng thống nhất với khoa học, tất nhiên có đi xa hơn một tý. Những người ở Islande một hôm than phiền về khí hậu khắc nghiệt của họ, vì Hékla không phải là một lò sưởi đủ sức sưởi ấm cho họ. - Buộc vào hòn đảo của các ngài một cái tàu kéo - gió địa cực gào to với họ - rồi muốn kéo Islande đến đâu tôi sẽ kéo hộ.
Những sức mạnh ấy chiếm riết lấy các khoảng không gian. Gió giữ chặt biển cả như một chủ nhân tham lam. Nó chống lại sự xâm chiếm của con người để bảo vệ cả những địa ngục mà nó giấu kín cũng như những thiên đường mà nó che chở, bảo vệ những hỏa sơn của nam cực, Erebus và Terror, chống lại Dumont d’Urville, cũng như bảo vệ Otaiti chống lại Cook. Vị tiên phong châu Âu tuy vậy vẫn ngoan cố: y ngoan cố vì nhiều lý do, Marco Polo để cập bến Grand Cathay; Rubruquis để cải hóa vị Đại Hãn; Diaz để tìm cha Jean; Pigolano để được phong tước trong dòng dõi quý tộc Seville, Quirino Buscon để tìm cho được tu viện Plusimanos có con quỷ kéo chuông tên là Malabestia. Một số khác có cái bản năng thần thánh và chắc chắn của văn minh, và chính vì tiến bộ mà họ đương đầu với phong ba bão táp. Hãy gạt hết bỏ vinh quang giả dối đi; và tìm lấy một cái cân: trước văn minh, tất cả các đạo quân của Cyrus và của Sésostris, và các đội quân cầm kích của Alexandre, và các binh đoàn của César, cũng không nặng bằng một trăm sáu mươi người đi theo Gama và một trăm mười tám người đi theo Cook.
Hàng hải là giáo dục. Biển cả là một mái trường hoành tráng. Việc chung sống với các hiện tượng khó sai khiến đó sản sinh ra một giống người can trường đáng được yêu quý, các thủy thủ. Không có người chinh phục nào khác ngoài họ ra. Nhà du hành Ulysse làm được nhiều việc hơn Achille hiếu chiến. Biển cả tôi luyện con người; người lính chỉ là sắt, thủy thủ mới là thép. Các bạn hãy nhìn họ trên biển cả, những thủy thủ ấy, những con người tuẫn nghiệp bình tĩnh, những kẻ chiến thắng thầm lặng, những khuôn mặt nam nhi mang trong ánh mắt cái tôn giáo xuất phát từ vực thẳm. Chúng ta hãy thêm điều này: hàng hải trái ngược với chiến tranh. Hàng hải làm cho dã man trở thành văn minh, còn chiến tranh làm cho văn minh trở thành dã man. Những gì các thủy thủ làm đều có thể dám thú nhận. Điều quái gở là con người thường ca ngợi những chuyện chém giết nhiều hơn những việc khám phá. Nó thiết tha có được hai mặt của con vật, hung dữ cộng với ngu si. Do đó mà sinh ra vô vàn chuyện tàn sát lẫn nhau. Do đó mà phải có những đạo quân cho chiến tranh và chiến tranh cho các đạo quân. Ngày nào Van Diémen được nhân dân ngưỡng mộ hơn César, ngày nào địa bàn được ưa chuộng hơn thanh kiếm, ngày nào lòng yêu quý thủy thủ thay thế lòng yêu quý binh lính, ngày ấy sẽ có hòa bình.
Nhân loại sẽ làm chủ được hai tài sản, toàn bộ quả đất và toàn bộ cuộc sống.
Trong khi chờ đợi, văn minh vẫn hành hạ người thủy thủ, thật là một điều nhục nhã. Năm 1863, để chỉ kể năm ấy thôi, hải quân đã nhận hai vạn năm nghìn năm trăm mười ba roi.
Do ai đánh? Do sĩ quan đánh thủy thủ. Trong hai người đó, kẻ nào bị mất phẩm giá?
Chính nhờ biển cả mà đất liền tự chinh phục. Một công việc vất vả rộng lớn, không ngừng được bàn đến. Toàn bộ biển cả bao phủ một hàm ý nguy hại.
Tuy nhiên con người vẫn thắng được biển cả. Dần dà, bước một, thong thả, một cách khoa học. Chỉ từ hai mươi năm thôi, bằng công cuộc nghiên cứu biển cả, nhờ những công việc tốt đẹp của nhà thăm dò tài giỏi Maury, người ta đã rút ngắn được mười ngày hành trình đến đường xích đạo, mười lăm ngày hành trình đến Trung Quốc, năm mươi ngày hành trình đến châu Úc.
Con người quen xâm lấn, không gian có vẻ như thỏa thuận. Đại dương hình như hàng phục. Bão táp rút lui, không phải là không lồng lộn. Sức gió ào ào là một thứ rào chắn. Trạm đầu tiên của các gió bắc là hàng cột Hercule; người ta xâm phạm Calpé và Abyla; trong đó phía trên kia châu Phi, trước chiếc tàu đang đi của con người, thì mũi Cap Non nổi lên, sừng sững đứng chắn đại dương, dưới một vẻ nhìn hằm hằm dưới đôi lông mày mây. Cấm đi qua. Con người cứ đi qua. Gió trời nhượng bộ; chướng ngại vật lỏng tự để cho đẩy lùi bởi Gilianez người ta vượt qua mũi Bojador, bởi Cadamosto người phát hiện ra Canaries, bởi Fernandez người phát hiện ra Mũi Xanh, bởi Alvarez Cabral người phát hiện ra Acores, bởi Jacques Lemaire người vượt khỏi Mũi Horn nơi mà dãy núi Andes kết thúc bằng những hỏa sơn, bởi Sébastien del Cano người tiếp tục Magellan, bởi Clarke người tiếp tục Cook, và bởi hàng trăm người khác. Gió trời chống lại Dumont d’Urville, cố chọc thủng “những ông già áo xanh bình tĩnh”. Chúng làm mất danh giá Lapeyrousse và Franklin. Chúng có dễ dàng hơn với Anson, vị anh hùng kiêm tướng cướp; chúng đưa đến tận các đảo Ladrones, và chính có phép của chúng y mới được trở về Luân Đôn giữa tiếng trống kèn với ba mươi hai chiếc xe chất đầy tiền bạc Tây Ban Nha. Chúng đã có những cử chỉ ân cần như thế đối với nước Anh, nhất là vào thời kì mà Cartis-Mandua, nữ hoàng Brigantes, cử những hạm đội thuyền độc mộc chống lại Rouen. Thỉnh thoảng người ta tưởng như cảm thấy sự khinh miệt của chúng. Chúng vâng theo con người và văn minh hay để chống lại văn minh. Cũng vô tư như nhau, chúng đưa Attila sang Italia và Colomb sang châu Mỹ. Dường như ngọn gió trời là nhân vật vĩ đại lãnh đạm nham hiểm. Tóm lại, các ngọn cuồng phong oằn xuống, uốn cong, gẫy gập, hẫng chân, khuất phục, để mặc cho con người làm, có lúc hình như là một cuộc tan rã, chúng chịu chinh phục, Drake tìm thấy California, Tasman châu Úc, gió trời lùi lại thật xa vào các vùng hoang vắng, trốn tránh vào chốn không ai tới gần được, ẩn thân vào chỗ không ai biết đến, người ta hầu như quên mất chúng, chúng đang ở đâu? Rồi đột nhiên chúng đây rồi, chẳng sao cả, đập cánh một cái là chúng thu lại tất cả.
Chúng ta ở trong nhà chúng, chúng ở trong nhà chúng ta.
Chúng nó muốn phục thù. Chúng nó đến tìm con người, chúng nó giận giữ. Chúng tuyên chiến với con người trên hai mươi điểm cùng một lúc, tại châu Á đồng thời tại cả châu Âu. Trong một tháng, hầu như trong một ngày, tại Luân Đôn, chúng nó nghiền nát những ngôi nhà năm tầng dưới những ống khói nhà máy, những tháp chuông bằng gạch bị phạt đổ chỉ bằng một hơi gió, trong đó có mấy phút chúng dìm xuống sông Tamise, trước Bugsby Hole, sáu mươi thuyền vận tải chở đầy than, ở Changdernagor chúng triệt hạ xóm Ấn Độ, ở Calcutta chúng tiêu diệt luôn một lúc và làm lẫn lộn hải quân Anh, Pháp, Mỹ.
Chúng làm một cuộc xuất quân. Chúng rời khỏi những nơi hẻo lánh sâu thẳm của chúng. Chúng ào ạt đổ vào đất liền.
Để làm gì?
Để làm điều ác sao?
Vừa đúng vừa không.
Nguyên tố mặt này là thiên tai, mặt kia là thiện cử.
Mà thiện cử là mặt vĩ đại của nó.
Có một số thiên tai khiến ta nghi ngờ thượng đế. Hình như thiên nhiên khủng khiếp nói: A! Ngươi không tin vào Chúa. Vậy thì ngươi có lí đấy. Một trận đại hồng thủy, một trận dịch hạch, một trận động đất, đấy là thuyết vô thần theo nghĩa đen.
May sao điều ác chỉ là một mặt trái, điều thiện mới là bộ mặt phải của công cuộc tạo hóa.
Một cơn bão là một hành động độc đoán của bóng tối thiết lập lại thế thăng bằng.
Chúng ta hãy nói qua, khi một con người, trong lĩnh vực sự việc xã hội, có ý tự phụ cũng muốn làm như thế, thì cái trò cuồng phong ấy chỉ có một khuyết điểm là nó thiếu tính chất vô-biên. Một trận động đất do con người gây ra là một tội ác. Con người, học đòi quyền uy của Chúa, vẫn bé nhỏ và trở thành ghê tởm. Con khỉ là chỗ khởi đầu của yêu tinh.
Chế độ độc tài bao hàm tính vô biên và tính vĩnh cửu.
Cuồng phong là những đầu tàu kì diệu kéo mưa gió từ biển khơi vào đất liền. Chúng đem đến cho cây cối chất axit cacbonic, chất nitơ, chất amôniac. Chúng mang đến cho sự lên men của vạn vật chất ôzôn, thứ thuốc tẩy uế do vô-biên lượng định.
Thiếu chúng, mặt đất sẽ không có sông, rừng, không có đồng xanh, hoa quả, không có hoa thơm. Chúng làm cho không khí dễ thở, cho trái đất sống được, giúp cho con người có thể tồn tại được. Chúng có nhiệm vụ quét sạch mọi uế khí. Chúng có trách nhiệm dự trữ nước. Đó là công trình chống úng huyền diệu của khí quyển. Đó là ích lợi của những vật tàn phá. Các bạn hãy cất bỏ nước đi và tưởng tượng xem còn lại những gì. Bọn côn đồ đó là những tên nấu rượu. Mỗi khi nhìn thấy một đám mây, các bạn lại thấy cái bình cong và cái nôi cất của chúng. Thùng chứa nước có muối, nếu không nó sẽ thối rữa. Từ giọt nước đại dương, gió trời sẽ làm thành giọt nước mưa. Bỏ bớt chúng ra, vũ trụ của trái đất sẽ gồm có hai bãi hoang địa, hoang địa lỏng và hoang địa cứng. Tất cả những gì ngoài nước sẽ khô cằn. Mặt đất sẽ hóa thành đá. Địa cầu sẽ là cái sọ nhẵn thín của một cái đầu người chết, rất to, lăn tròn trong bầu trời xanh.
IV GIẢI THÍCH TIẾNG ĐỘNG MÀ GILLIATT ĐÃ NGHE THẤY
Vào các tiết cân phân, gió bốn phương rầm rộ tiến về đất liền. Vào những thời kì này, cán cân nhiệt đới và địa cực dập dình chao đảo, và dòng triều vĩ đại của khí quyển dồn triều lên sang một bán cầu, và triều xuống sang bán cầu bên kia. Có những chòm sao biểu thị những hiện tượng ấy, như sao Thiên bình, sao Bảo bình.
Đấy là mùa bão táp.
Biển cả chờ đợi, và giữ thái độ im lặng.
Đôi khi bầu trời có vẻ cau có, mờ đục; một đám mây từ chân trời ùn ùn kéo lên, che kín cả bầu trời. Các thủy thủ lo lắng nhìn vẻ bực tức của bóng tối.
Nhưng chính vẻ hài lòng của nó mới là điều họ sợ nhất. Một bầu trời tươi vui giữa tiết phân cân, đấy là điềm bão táp sắp giở trò nham hiểm. Những lúc trời như thế, Tháp Các Bà Hay Khóc ở Amsterdam đông nghịt các bà đứng ngắm chân trời.
Khi nào bão xuân hoặc bão thu về muộn, tức là nó định chồng chất thật nhiều. Nó tích trữ để tàn phá. Phải coi chừng các khoản còn nợ lại. Ango thường nói: Biển cả vốn sòng phẳng.
Khi phải chờ đợi quá lâu, biển cả chỉ để lộ sốt ruột bằng thái độ bình tĩnh hơn. Có điều áp lực từ của từ trường biểu thị bằng cái có thể gọi là chứng viêm của nước. Từ sóng biển thoát lên những ánh sáng mờ mờ. Không khí có điện, nước có lân tinh. Các thủy thủ cảm thấy mệt nhoài. Giây phút ấy đặc biệt nguy hiểm đối với những tàu bè vỏ sắt, lớp vỏ sắt của chúng có thể làm cho la bàn chỉ sai, và khiến chúng lạc đường. Chiếc tàu xuyên Đại Tây Dương Yowa đã đắm vì thế.
Đối với những người quen sống ở biển cả, thì những lúc ấy có vẻ rất khác thường; dường như nó vừa mong mỏi lại vừa sợ cuồng phong. Có những cuộc tình duyên, tuy rất được thiên nhiên mong muốn, được đón tiếp theo kiểu ấy. Sư tử cái động dục thường chạy trốn khi nhìn thấy sư tử đực. Biển cả, cũng thế, đang động cơn. Vì vậy mà nó run rẩy.
Cuộc hôn nhân to lớn phi thường sắp diễn ra.
Cũng như các cuộc hôn lễ của hoàng đế ngày xưa, cuộc hôn nhân này được cử hành với những cảnh tàn sát. Đây là một ngày lễ kèm thêm tai họa.
Trong khi ấy, từ nơi kia, từ ngoài khơi, từ các vĩ tuyến bất khả xâm phạm, từ chân trời xanh nhạt của những vùng xa vắng, từ tận cùng của tự do không biên giới, các loại gió ùn ùn kéo đến.
Hãy cẩn thận, đấy là tiết cân phân.
Một cơn bão bao giờ cũng mang nặng âm mưu. Trong thần thoại cổ cũng có những nhân vật không rõ ràng xen lẫn trong thiên nhiên bao la hỗn độn. Thần Éole[24] bàn định với thần Borée[25]. Sự liên minh giữa các nguyên tố cơ bản là cần thiết. Chúng chia nhau phần việc.
Có những việc cần thúc giục sóng biển, mây trời, cần khí; đêm tối là kẻ phụ tá, cần sử dụng nó. Có những la bàn cần làm lạc hướng, những đèn hiệu cần thổi tắt, những hải đăng cần che, những ngôi sao cần dấu. Cần được biển cả hợp lực. Cơn bão nào cũng mở đầu bằng một tiếng rì rầm. Sau chân trời có tiếng thì thào sơ bộ của giông tố.
Đấy là những tiếng xa xa, trong bóng tối, trên cảnh yên tĩnh hãi hùng của biển cả.
Gilliatt đã nghe thấy tiếng thì thào đáng sợ ấy. Ánh sáng lân tinh đã là lời cảnh cáo thứ nhất; tiếng rì rầm này là lời cảnh cáo thứ hai.
Nếu có con quỷ Lê Dương, thì chính nó đấy, chắc chắn thế, chính là Gió.
Gió trời muôn hình muôn vẻ, nhưng không khí chỉ có một.
Vì vậy mà sinh ra cái hậu quả bão táp nào cũng hỗn hợp. Tính đơn nhất của không khí đòi hỏi phải thế.
Tất cả vực thẳm đều bao hàm trong một cơn bão. Toàn bộ đại dương đều nằm trong một cơn giông tố. Sức mạnh tổng hợp của nó đều nhảy vào trận tuyến và tham dự vào đấy. Sóng là vực sâu bên dưới; gió là vực sâu bên trên. Đụng chạm với một cơn bão tức là đụng chạm với toàn bộ biển cả và tất thảy bầu trời.
Messier, con người thông thạo nghề biển, nhà thiên văn trầm tư trong cái phòng con Cluny, thường nói: Gió của muôn phương ở khắp muôn phương. Ông không tin có những ngọn gió tù hãm, ngay cả ở những vùng biển khép kín. Đối với ông làm gì có gió địa trung hải. Ông nói là ông có thể nhận ra được chúng khi chúng đi qua. Ông khẳng định vào ngày nào, giờ nào, ngọn Föhn của hồ Constance, ngọn Föhn ngày xưa của Lucrèce, đã đi qua chân trời Paris, vào ngày nào ngọn Bora của Adriatique[26]; vào ngày nào ngọn Notus xoay tròn mà người ta cho là bị giam hãm trong vòng tròn quần đảo Cyclades. Ông chỉ rõ những tần quang của chúng. Ông không cho rằng ngọn gió nam xoay giữa Malte và Tunis, cũng như ngọn gió nam xoay giữa đảo Corse và quần đảo Baléares, không thể thoát ra ngoài. Ông không công nhận có loại gió gấu lẩn quẩn trong chuồng. Ông thường nói: “Mưa nào cũng từ nhiệt đới tới, chớp nào cũng từ địa cực về”. Đúng thế, gió no điện ở chỗ giao điểm của vành khuyên, nơi này đánh dấu chỗ tận cùng của trục, và no nước ở đường xích đạo; gió mang đến cho chúng ta chất nước từ xích đạo và chất lỏng từ các địa cực.
Sự có mặt ở khắp nơi, đó là gió.
Tất nhiên điều này không có nghĩa là không có những khu vực nhiều gió. Không gì được chứng minh rõ bằng những vùng có gió luồng đều đặn, và một ngày kia, với những con tàu chạy trên không mà chúng ta gọi theo lối Hy Lạp là phi cơ, ngành hàng không sẽ sử dụng những con đường chính của chúng. Việc gió đào kênh trong không khí là việc không phải bàn cãi, có những con sông gió, những con lạch gió và những con suối gió, có điều phân nhánh của không khí lại ngược chiều với phân nhánh của nước; suối từ lạch chảy ra, và lạch lại từ sông chảy ra chứ không phải đổ vào đấy, vì vậy mà đáng lí tập trung lại thì phân tán.
Chính sự phân tán này tạo thành sự tương hỗ của gió và sự đơn nhất của khí quyển. Một phân tử bị chuyển chỗ luôn luôn chuyển dịch một phần tử khác. Toàn bộ gió chuyển động cùng một lúc. Cùng với những lí do hỗn hợp sâu sắc ấy lại có thêm hình thế từ quả đất, nó chọc thủng khí quyển bằng tất cả núi non của nó, làm thành những nút thắt, những chỗ vặn trên đường đi của gió, và quyết định ở mọi phương những dòng nước ngược. Phát tỏa vô bờ bến.
Hiện tượng gió là sự giao động qua lại giữa hai đại dương; đại dương không khí chồng lên đại dương nước, đè lên trên sự rỉ thoát đó và lảo đảo trên rung chuyển của đó.
Cái không thể không chia cắt không bao giờ đứng trong phòng. Không có bức vách nào ngăn cách con sóng này với con sóng khác. Những hòn đảo trên biển Manche cảm thấy cả sự xô đẩy của Mũi Hảo Vọng. Ngành hàng hải thế giới đương đầu với một con quái vật duy nhất. Toàn bộ biển cả vẫn chỉ là một con giao long. Sóng nước bao la bao bọc biển cả bằng một thứ da cá. Đại dương tức là Ceto[27].
Cái hằng hà sa số sà xuống cái đơn nhất này.
V TURBA, TURMA[28]
Đối với la bàn, có ba mươi hai thứ gió tức là ba mươi hai hướng, nhưng các hướng này có thể chia ra mãi không cùng. Xếp theo hướng, gió là cái không thể đếm hết; xếp theo loại, gió là cái vô tận vô cùng.
Đến Homère cũng phải lùi bước trước việc kiểm đếm đó.
Luồng gió bắc cực gặp phải luồng gió nhiệt đới. Thế là cái lạnh và cái nóng quyện vào nhau, cân bằng bắt đầu bị va chạm, sóng gió phát sinh, căng phồng, tản mác, và tỏa ra khắp mọi phía thành những dòng suối dữ. Sự phân tán của gió làm chuyển động khắp bốn phương trời tình trạng hỗn loạn diệu kì của không khí.
Tất cả các góc độ la bàn đều có mặt ở đấy, gió dòng nhiệt lưu Gulf Stream tỏa ra không biết bao nhiêu sương mù trên vùng Đất Mới, gió Pérou, vùng trời câm lặng mà con người không bao giờ nghe tiếng sấm, gió Tân Scotland nơi bay lượn lờ của giống đại bàng mỏ sọc, Alcaimpennis, gió Thiết phong của các biển Trung Hoa, gió Mozambique làm điêu đứng các thuyền buồm, gió điện của Nhật Bản bị tiếng cồng báo trước, gió châu Phi giữa núi Cái Bàn và núi Con Quỷ và từ đấy nổi lên, gió xích đạo lướt trên các gió mậu dịch và kẻ một đường parabôn mà Diêm vương từ miệng các hỏa sơn thoát ra và là loại gió lửa đáng sợ nhất, ngọn gió kì lạ riêng biệt của hỏa sơn Ata lúc nào cũng phát ra một luồng mây màu ôliu ở phía bắc, gió mùa Java mà để chống lại, người ta phải xây dựng những hầm cuốn gọi là nhà chống bão, gió bấc có nhiều nhánh nhỏ mà người Anh gọi là bush, bụi rậm, những thứ gió to hình cung của eo biển Malacca được Horsburgh quan sát, thứ gió mạnh tây-nam Chilê gọi là Pampero và ở Buenos-Ayres gọi là Rebejo, cuốn cả chim ưng ngay giữa biển và cứu nó thoát khỏi cái hố, trong đó có anh chàng người rừng ngửa lưng chờ đợi, dưới một tấm da bò mới lột, và lấy chân giương cái cung lớn, ngọn gió hóa học, theo Lemery, tạo nên những hòn đá sấm sét ở trong mây, gió nóng của vùng Nam Phi, gió ủi tuyết ở vùng Bắc Cực, hợp với các núi băng và kéo lê những lớp tuyết vĩnh cửu, gió vịnh Bengale đi đến tận Nijni-Novogorod phá phách cái khu tam giác các lán gỗ, nơi chợ phiên châu Á tụ họp, gió Trường Sơn chuyên khuấy động sóng lớn và rừng sâu, gió các quần đảo châu Úc nơi mà dân đi tìm mật phát hiện được những bọng ong rừng giấu kín dưới nách cành cây án thụ khổng lồ, gió Sirocco, gió Mistral, gió Hurricane, gió hạn, gió lụt, gió hồng thủy, gió nóng như thiêu đốt, gió hắt lên đường phố Gênes cát bụi của những cánh đồng Brésil, gió tuân theo sự xoay chuyển của ban ngày, gió trái ngược với nó là khiến cho Herrera phải nói: Malo viento torna contra el sol![29] Những gió đi đôi, đồng tình để đảo lộn, ngọn nọ phá hủy những gì ngọn kia làm nên, và những ngọn gió ngày xưa đã gây trở ngại cho Christophe Colomb trên bờ biển Veragua, và những ngọn gió trong suốt bốn mươi ngày, từ ngày 21 tháng mười đến ngày 28 tháng mười một Magellan phải bàn đến lúc cập bờ Thái Bình Dương, và những gió đã làm gãy cột buồm đội pháo thuyền Armada và thổi vào đội pháo thuyền Philippe II. Còn bao nhiêu thứ gió khác nữa, làm sao kể xiết? Những ngọn gió mang cả cóc, châu chấu, như những đám mây qua đại dương; những ngọn gió gây ra. Cái gọi là “gió trở”, và có nhiệm vụ kết liễu những kẻ đắm tàu, những gió chỉ một hơi thổi, bắt hàng hóa trên tàu phải chuyển chỗ, và buộc tàu phải tiếp tục đi nghiêng một bên, những gió tạo nên mây circumcumuli và mây circumstrati; những ngọn gió nặng mù đầy mưa, những gió mưa đá, những gió gây sốt, những ngọn gió mà hễ đến gần là làm sục sôi núi lửa phun bùn và những mỏ lưu hoàng Calap, những gió làm tóe lửa các bộ lông báo châu Phi đang rình mò trong các bụi rậm của mũ sắt, những ngọn gió đến lay động ngoài mây, như một cái lưỡi rắn đầu tam giác, tia chớp hai đầu khủng khiếp, những ngọn gió đưa theo tuyết. Đạo quân gió là như thế.
Bãi ngầm Douvres, vào lúc Gilliatt xây dựng cái đập chắn sóng của anh, đang nghe tiếng vó phi xa của gió.
Như chúng tôi vừa nói, Gió, tức là tất cả các loại gió.
Toàn thể đoàn quân ô hợp ấy đang đến.
Một bên, đoàn quân lê dương ấy.
Một bên, Gilliatt.
VI GILLIATT ĐƯỢC QUYỀN LỰA CHỌN
Các sức mạnh huyền bí đã chọn đúng thời cơ.
Nếu như có tình cờ, thì tình cờ thật là khôn khéo.
Chừng nào chiếc thuyền bầu còn được nằm trong vũng Thằng Người, chừng nào cỗ máy còn gắn chặt trong cái xác tàu thì Gilliatt vẫn còn là người không ai có thể khuất phục. Thuyền bầu được an toàn, cỗ máy được che chở; các Hòn Douvres giữ chặt cỗ máy, buộc nó phải hủy hoại từ từ nhưng lại bảo vệ cho nó khỏi gặp chuyện bất ngờ. Trong mọi trường hợp, Gilliatt đều có phương tiện. Cỗ máy có bị phá hủy cũng không hại được Gilliatt. Anh vẫn có chiếc thuyền bầu để tự cứu thoát.
Nhưng chờ cho chiếc thuyền rút ra khỏi bến, nơi mà không gì có thể tới gần nó, để cho nó chui vào cái ngõ hẹp của Hòn Douvres, kiên trì cho tới khi nó cũng bị bãi ngầm tóm chặt, cho phép Gilliatt tiến hành trục vớt, thả trượt và chuyển tải cỗ máy, không cản trở cái công việc diệu kì là đặt tất cả vào thuyền bầu, chấp thuận việc thành công này, đấy là cái bẫy. Việc ấy thoáng cho ta thấy mưu mẹo của vực sâu.
Vào giờ này, cỗ máy, chiếc thuyền bầu, Gilliatt, đều tập trung trong cái ngõ hẹp của mấy quả núi. Tất cả chỉ là một. Chiếc thuyền bầu dập nát vào bãi ngầm, cỗ máy chìm sâu, Gilliatt chết đuối, đây chỉ là công việc của một sức mạnh duy nhất, tại một điểm độc nhất. Tất cả có thể rồi hết, cùng một lần, cùng một lúc, và không phân tán, chỉ một cú là tất cả có thể bị nghiền nát.
Không hoàn cảnh nào nguy ngập hơn hoàn cảnh của Gilliatt.
Con nhân sư nằm đâu đó, mà những kẻ mơ mộng trong tận cùng bóng tối dè chừng, hình như đang đặt Gilliatt trước một cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Ở lại hay ra đi?
Ra đi là rồ dại, ở lại thật hãi hùng.
VII TRẬN CHIẾN ĐẤU
Gilliatt trèo lên Hòn Douvres Lớn.
Từ trên ấy anh nhìn thấy toàn bộ biển cả.
Phía tây thật đáng kinh ngạc. Một bức tường thành từ đó thoát ra. Một bức thành mây rất to, chắn ngang không trung trong suốt từ bên nọ sang bên kia, thong thả nhô từ chân trời lên đến thiên đỉnh. Bức thành đó, thẳng tắp, dựng đứng, suốt cả chiều cao không có một đường nứt nẻ, góc cạnh không có một chỗ nào sụt lở, dường như được xây với thước góc và dây chằng. Đấy là mây nhưng lại giống cẩm thạch. Vách mây, rất vuông góc ở đầu phía nam, hơi cong về phía bắc như tấm tôn oằn, và có vẻ như một mặt phẳng nghiêng nghiêng. Bức tường mây mù này rộng dần, lớn dần, đầu trên vẫn không ngừng song song với đường chân trời hầu như mờ mịt trong bóng tối đang xuống. Bức thành không khí này lẳng lặng nhô lên nguyên cả khối. Không một đường lượn, không một nếp nhăn, không một chỗ nhỏ nào biến dạng hay chuyển chỗ. Cái khối bất động mà di chuyển thật rùng rợn. Mặt trời, tái nhợt phía sau một lớp trong suốt độc hại, soi sáng cái đường nét khó hiểu đó. Đám mây đã xâm chiếm gần hết nửa không gian. Tưởng chừng đấy là bức lũy hãi hùng của vực thẳm. Một cái gì như một bóng núi đen nhô lên giữa đất và trời.
Đây là cảnh đêm tối dâng lên ngay giữa ban ngày.
Không khí nóng như trong lò. Từ đống chồng chất bí mật ấy bốc lên một thứ hơi nước của lò sấy. Bầu trời, từ xanh đã trở thành trắng, từ trắng đã trở thành xám. Y như một khối đá đen lớn. Biển cả, phía dưới, mờ đục, xám xịt như chì, là một tảng đá đen to khác. Không một hơi gió, không một gợn sóng, không một tiếng động.
Biển cả mông mênh, vắng lặng. Không phía nào có lấy một cánh buồm. Chim muông chốn hết. Người ta cảm thấy có sự phản trắc trong vô biên.
Toàn bộ bóng đen đó cứ rộng dần một cách khó nhận thấy.
Ngọn núi di động của hơi nước đang tiến về phía các Hòn Douvres là một trong những thứ mây có thể gọi là mây chiến đấu. Mây mờ ám. Qua những chồng chất đen tối ấy, hình như có một con mắt lúc nào đó đang nhìn bạn.
Hiện tượng tiến gần lại đó thật khủng khiếp.
Gilliatt chăm chú quan sát đám mây mù và lầm bầm trong miệng: Tao đang khát đây. Mày lại sắp cho tao uống đấy.
Anh đứng yên một hồi lâu, mắt dán vào đám mây. Tưởng chừng anh đang nhìn từ đầu đến chân cơn bão.
Chiếc mũ khổ của anh nằm trong túi áo va-rơ, anh móc nó ra, đội lên đầu. Anh lấy chỗ quần áo dự trữ, trong cái hang lâu nay anh vẫn nằm; anh mang xà cạp, khoác áo mưa vào, như một hiệp sĩ mặc áo giáp lúc sắp hành động. Ta được biết là anh không còn giày, nhưng đôi chân không của anh đã chai với núi đá.
Mặc xong chiến bào, anh ngắm nhìn tấm liếp chắn sóng, hăm hở tóm lấy sợi thừng nút, tụt xuống khỏi mặt bằng Hòn Douvres, đặt chân lên những tảng đá phía dưới, và chạy đến cái kho. Một lúc sau anh bắt tay vào công việc. Đám mây câm rộng lớn có thể nghe rõ tiếng búa của anh. Gilliatt đang làm gì thế? Với chỗ đinh, thừng và sàn gỗ còn lại, anh dựng thêm cho cửa biển phía đông một tấm liếp thứ hai cách tấm thứ nhất độ hơn ba mét.
Trời biển vẫn im lặng như tờ. Những ngọn cỏ trong các khe kẽ bãi ngầm không mảy may dao động.
Thình lình mặt trời biến mất. Gilliatt ngẩng đầu lên.
Đám mù dâng vừa chạm đến mặt trời. Y như một cảnh tắt phụt của ánh ngày, thay thế bằng một thứ ánh hỗn hợp nhợt nhạt.
Bức thành mây đã thay hình đổi dạng. Nó không còn giữ cái vẻ đồng nhất nữa. Nó đã nhăn nheo theo chiều ngang lúc chạm đến thiên đỉnh, từ chỗ ấy nó đứng nghiêng nghiêng trên phần trời còn lại. Bây giờ nó có nhiều tầng. Sự hình thành của bão táp ở đấy hiện rõ như trong một đoạn hào. Người ta nhận thấy có những lớp mưa và những vỉa đá. Không có sấm chớp, nhưng một chút ánh mờ mờ tản mạn khủng khiếp; vì ý nghĩa khủng khiếp cũng có thể gắn liền với ý nghĩ ánh sáng. Có tiếng thở mơ hồ của bão táp. Sự im lặng này phập phồng một cách khó hiểu. Gilliatt, cũng im lặng, nhìn tất cả những khối sương mù đang tập hợp trên đầu anh và tạo ra những đám mây hình dáng kì dị. Trên chân trời một dải sương mù màu gio nặng trĩu kéo dài, và trên thiên đỉnh một dải màu chì; những mảnh rách tả tơi xanh nhợt từ các lớp mây bên trên thõng xuống những lớp mù bên dưới. Toàn bộ bức nền, tức là bức tường mây, đều mờ đục, màu sữa, màu đất, thảm đạm, khó tả. Một giải mây trắng đục mỏng nằm ngang, không rõ từ đâu đến, cắt xiên từ bắc xuống nam bức thành cao âm u. Một đầu dải mây lê thê trên biển. Ở điểm nó chạm vào lớp sóng hỗn loạn, trong bóng tối, thấy có một lớp hơi màu đỏ bị dìm dập. Bên dưới giải mây tái nhợt, có những đám mây nhỏ, rất thấp, đen sì, bay ngược chiều nhau như không biết trở thành gì đây. Lớp mây nền to lớn phát triển cùng một lúc ra tất cả các phía, che khuất thêm, và tiếp tục giữ vị trí trung tâm buồn thảm. Ở phía đông, sau lưng Gilliatt, chỉ còn một cổng trời sáng sắp khép lại. Không có một cảm giác gì về gió, vậy mà một lớp lông tơ tản mác, kỳ lạ, xam xám lướt qua, vương vãi và nát vụn, như một con chim khổng lồ nào đó vừa bị vặt lông sau bức tường đen tối kia. Một lớp trần đen dầy đặc hình thành ở cuối chân trời, chạm xuống mặt biển và lẫn vào sóng nước đen ngòm. Người ta cảm thấy có một vật gì đang tiến đến. Rộng lớn, nặng nề, hung dữ. Bóng tối ngày càng dày đặc. Thình lình một tiếng sét rất to bùng nổ.
Bản thân Gilliatt cũng cảm thấy rung chuyển. Trong tiếng sét có màu hư ảo. Thực tế phũ phàng đó trong lĩnh vực ảo tưởng có một cái gì hãi hùng. Tưởng như là tiếng bàn ghế đổ trong một căn phòng khổng lồ.
Sau tiếng nổ, không tiếp theo một ánh lửa điện nào cả. Y hệt một tiếng sét đen. Lại im lặng. Có một quãng cách như khi tiến lên chiếm lĩnh vị trí. Thế rồi, thong thả và nối tiếp nhau, những tia chớp không ra hình thù gì xuất hiện. Những tia chớp này đều câm lặng. Không có tiếng rền vang. Qua mỗi tia chớp, mọi vật đều sáng rực. Bức tường mây lúc này là một hang động. Có vòm, có nhịp. Trong đấy người ta nhận thấy có nhiều bóng dáng. Những cái đầu quái gở phác họa; những cái cổ như vươn dài; những con voi mang cả kiệu thấp thoáng tan biến.
Một cột sương mù, thẳng, tròn, và đen, trên đỉnh có một làn hơi trắng, nom giống như ống khói một chiếc tàu khổng lồ bị chìm đang đốt lò dưới sóng và đang tỏa khói. Từng lớp mây cuồn cuộn như những lớp cờ nhăn. Ở giữa, dưới những lớp dày màu đỏ thắm, nằm lọt, bất động, một khối sương mù dày đặc, lì lợm, tia sáng điện cũng không xuyên nổi, một thứ bào thai gớm guốc trong lòng bão táp.
Thình lình Gilliatt cảm thấy có một hơi gió thổi tung mái tóc. Ba bốn tấm lưới mưa rất to đập vào núi đá quanh anh. Rồi một tiếng sét thứ hai. Gió nổi lên.
Sự chờ đợi của bóng tối đạt đến chỗ tột cùng, tiếng sét thứ nhất đã rung chuyển biển cả, tiếng sét thứ nhì làm rạn nứt bức thành mây từ trên xuống dưới, một lỗ tròn hiện ra, toàn bộ trận mưa lơ lửng đổ xuống phía ấy, chỗ nẻ trở thành như một cái miệng mở rộng đầy mưa, và bảo táp bắt đầu nôn mửa.
Giây phút thật hãi hùng.
Mưa rào, giông tố, chớp nguồn, sét nổ, sóng ngút tận trời mây bọt nước, tiếng nổ, quằn quại điên cuồng, tiếng kêu, tiếng gầm, tiếng huýt, tất cả cùng một lúc. Một lũ quái vật xổng xích.
Gió thổi như sấm rền. Mưa không rơi, mưa đổ.
Đối với một con người đáng thương, mắc kẹt, như Gilliatt, với một chiếc thuyền chở nặng, giữa hai quả núi ngoài khơi, thật không có nguy cơ nào khủng khiếp hơn. Nguy cơ của nước triều, mà Gilliatt đã chiến thắng, không nghĩa lý gì bên cạnh nguy cơ của bão táp. Hoàn cảnh lúc ấy như sau: Vào phút cuối cùng và trước tai họa ghê gớm, xung quanh toàn vực thẳm, Gilliatt nghĩ ra được một chiến lược rất tài tình. Anh đã lấy chính kẻ thù làm điểm tựa; anh liên kết với bãi ngầm; Hòn Douvres trước đây là đối thủ của anh, lúc này lại là kẻ phụ tá anh trong trận quyết đấu lớn. Gilliatt đã sử dụng nó. Gilliatt đã dùng cái mộ địa ấy làm thành pháo đài. Anh tự tạo ra lỗ châu mai trong túp nhà ghê gớm đó của biển cả. Anh đã bị vây hãm ở đấy, nhưng lại được tường bao quanh. Có thể nói, anh tựa lưng vào bãi ngầm, mặt đối mặt với giông tố. Anh đã chắn ngang eo biển, con đường của sóng dữ. Vả lại đó là việc duy nhất phải làm. Dường như đại dương, vốn là một bạo chúa, bản thân nó cũng có thể bị trấn áp bằng những chướng ngại vật. Chiếc thuyền bầu có thể xem như được an toàn trên ba phía. Được giam chặt giữa hai mặt trong của bãi ngầm, lại thả neo theo thế chân ngỗng, nó được che chở phía bắc nhờ Hòn Douvres Nhỏ, phía nam nhờ Hòn Douvres Lớn, những quả núi cheo leo hoang dã, quen gây nên các vụ đắm tàu nhiều hơn ngăn cản chúng. Phía tây, nó được bảo vệ bằng tấm gỗ buộc ghìm và đóng đinh vào núi, một thứ đập được thử thách đã thắng đợt triều dâng gay gắt lúc biển cao, một cổng thành thực sự mà khung cửa lại chính là những cột trụ của bãi ngầm, hai Hòn Douvres. Về phía ấy không có gì phải sợ. Nguy cơ nằm ở phía đông.
Phía đông chỉ có cái đập chắn sóng. Đập chắn sóng là một thứ máy nghiền. Phải có cho nó ít nhất hai tấm rào thưa. Gilliatt chỉ có thì giờ làm được một tấm. Anh đang dựng thêm tấm thứ hai ngay dưới bão táp.
Cũng may gió lại từ hướng tây bắc thổi tới. Biển cả có những mặt vụng về của nó. Ngọn gió này, chính là ngọn gió galerne ngày xưa, ít tác động vào hai Hòn Douvres. Nó công phá xiên vào sườn bãi ngầm, và không thúc sóng vào cửa nào của ngõ hẻm cả, thành thử đáng lẽ đi thẳng vào một con đường, nó lại vấp phải một bức thành cao. Bão tố đã tấn công sai.
Nhưng những cuộc tấn công của gió đều theo đường vòng, và phải dè chừng có sự quay ngoặt đột ngột. Nếu việc quay ngoặt này diễn ra ở phía đông, trước khi làm xong rào chắn sóng thứ hai, nguy cơ sẽ rất lớn. Bão táp sẽ tràn ngập ngõ hẻm giữa núi, và thế là tan hoang hết.
Giông tố ngày càng ác liệt. Bão táp liên tiếp không ngừng. Đây là sức mạnh của nó; đấy cũng là chỗ yếu của nó. Làm dữ mãi, nó thúc đẩy trí tuệ, và con người phải tự vệ; nhưng nặng nề làm sao! Không gì khủng khiếp hơn. Không nghỉ ngơi, không gián đoạn, ngừng hoãn, không lấy hơi. Trong sự phung phí của vô tận có một cái gì hèn nhát. Người ta cảm thấy chính vô biên đang thở hồng hộc.
Toàn bộ bao la hỗn loạn xông vào bãi Douvres. Người ta nghe thấy vô vàn giọng nói. Ai gào thét thế? Đấy là cảnh kinh hoàng hoảng loạn ngày xưa. Thỉnh thoảng nó có vẻ như nói, như người ra lệnh. Thế rồi tiếng gào thét, tiếng kèn đồng, tiếng rung chuyển lạ lùng, và tiếng trống to uy nghiêm mà thủy thủ đặt tên là tiếng gọi của đại dương. Những đường xoắn ốc vô tận và vụt biến của gió, vừa gào rít vừa vặn vắt nước biển; dưới những sức mạnh quay cuồng ấy, sông nước trở thành những cái đĩa do những lực sĩ vô hình ném vào bãi ngầm như những tấm đá khổng lồ. Lớp bọt nước to lớn làm cho tất cả núi non đều rũ rượi. Thác lũ bên trên, dãi dớt bên dưới. Rồi tiếng gầm rống càng to. Không một tiếng ồn ào nào của con người hay súc vật có thể cho ta ý niệm về các tiếng ầm vang lẫn với những tiếng tan vỡ này của biển cả. Mây trời pháo kích, mưa đá xả liên thanh, sóng biển leo trèo. Có những điểm dường như bất động; lại có những điểm khác gió di chuyển đến bốn mươi mét một giây. Biển cả mịt mù trắng xóa; chân trời tràn ngập nước xà phòng đến mười dặm. Có những cánh cửa lửa mở ra rồi đóng lại. Một vài đám mây như bị những đám khác đốt cháy, và giống như khói trên những đống mây đỏ tựa than hồng. Có những hình thù bềnh bồng, va vào nhau, kết hợp với nhau, hình nọ làm biến dạng hình kia. Một trận mưa như trút nước đổ xuống. Trong bầu trời nghe có tiếng nổ súng trường. Giữa lớp trần đen tối có một thứ gùi to đang trút xuống hỗn độn nào cây nước, mưa đá, mây dày, nào thuốc đỏ, lân tinh, nào đêm tối, ánh sáng, nào tiếng động, sấm sét, những nghiêng ngả ấy của vực thẳm thật ghê gớm vô chừng!
Gilliatt dường như không để ý đến những chuyện ấy. Anh đang cắm đầu vào công việc. Tấm rào thưa thứ nhì bắt đầu cao dần. Cứ mỗi tiếng sét nổ, anh lại trả lời bằng một tiếng búa. Nhịp điệu ấy vang lên trong cảnh hỗn mang. Đầu anh để trần. Một cơn gió đã giật mất chiếc mũ khổ của anh.
Anh khát cháy cổ. Có thể là anh đang sốt. Nhiều vũng nước mưa hình thành xung quanh anh trong những hốc núi. Thỉnh thoảng anh lại lấy tay vốc nước lên uống. Rồi không cả quan sát xem bão đã đến đâu, anh lại chăm chú vào công việc.
Mọi sự có thể tùy thuộc vào một giây lát. Anh biết những gì đang chờ anh nếu anh không kịp thời hoàn thành tấm chắn sóng, cần gì phải mất một phút để nhìn cái mặt thần chết đang đến gần?
Cảnh tượng đảo lộn xung quanh anh như một chiếc nồi hơi đang sôi sục. Có tiếng đổ vỡ và tiếng ồn ào. Chốc chốc sét dường như chạy xuống cầu thang. Tia điện không ngừng đánh đi đánh lại mãi vào những đỉnh núi cũ, hẳn là có vỉa diorite. Có nhiều hạt mưa đá to như nắm tay. Gilliatt buộc phải giũ giũ các nếp nhăn trên áo varơ. Cả những túi áo cũng đầy mưa đá.
Cơn bão ngắn lúc này chuyển sang hướng tây, quất vào cái đập chắn của hai Hòn Douvres; nhưng Gilliatt tin tưởng vào cái đập là cũng phải. Đập này, làm bằng tấm sắt lớn phía trước của tàu Durande, đón chịu sức sóng đập một cách nhẹ nhàng; đàn hồi là một lực chịu đựng; những tính toán của Stevenson khẳng định rằng, để chống đỡ với sóng bản thân cũng co giãn, một cái dàn gỗ, với kích thước như ý, được bịt kẽ và ghép nối đúng cách, trở thành vật cản tốt hơn một cái đập chắn sóng xây bằng gạch. Cái đập chắn của hai Hòn Douvres có đủ những điều kiện ấy; vả lại nó được chằng giữ tài tình đến mức sóng nước, quật vào đấy cứ như búa đóng vào đinh, đè nó vào núi và củng cố thêm cho nó; muốn phá hủy nó phải lật nhào cả hai Hòn Douvres. Quả thật, gió cơn chỉ tung đến chiếc thuyền bầu, qua chướng ngại vật, một ít tia dãi dớt. Về phía này, nhờ có đập chắn, bão táp đã thất bại, chỉ như khạc nhổ nước bọt. Gilliatt không đếm xỉa đến cố gắng ấy. Anh yên tâm cảm thấy sau lưng mình thái độ lồng lộn vô ích ấy.
Những đám bọt sóng, bay bắn tứ tung, giống hệt như len. Làn nước mông mênh giận dữ nhận dìm núi đá, trèo lên, len vào trong, luồn vào hệ thống nứt nẻ, và từ các khối hoa cương chui ra theo các kẽ hẹp, những loại vòi không bao giờ cạn đóng vai những mạch nước nhỏ, bình thản trong cảnh đại hồng thủy này. Đây đó, từ những lỗ ấy, có những dải bạc tuôn trào xuống biển cả nom rất đẹp.
Tấm liếp tăng cường của cái đập chắn phía đông sắp hoàn thành. Còn vài nút dây và mắt xích nữa là đến lượt tấm rào này cũng có thể chống đỡ.
Đột nhiên, trời sáng hơn, mưa tạnh, mây tan, gió vừa trở chiều, một thứ cửa sổ cao mờ mờ mờ ra trên đỉnh trời, và các tia chớp tắt hết; tưởng chừng như vậy là chấm dứt. Đấy là lúc bắt đầu.
Gió trở từ tây bắc chuyển sang đông bắc.
Bão táp sắp nổi lên lại, với một đội cuồng phong mới. Phương bắc sắp tấn công mãnh liệt. Các thủy thủ gọi việc tiếp diễn đáng sợ này là cơn gió lật. Gió nam nhiều nước hơn, gió bắc nhiều sấm sét hơn.
Cuộc xâm lăng bây giờ, từ phía đông đến, sắp nhắm vào điểm yếu.
Lần này Gilliatt phải ngừng tay. Anh đưa mắt nhìn.
Anh đứng trên một mỏm núi nhỏ xiên, phía sau tấm liếp thứ nhì đã gần hoàn thành. Nếu tấm liếp thứ nhất bị cuốn mất nó sẽ phá bung tấm thứ nhì chưa được củng cố, đồng thời sẽ đè bẹp Gilliatt. Đứng ở chỗ anh vừa chọn, Gilliatt sẽ bị nghiền nát trước khi nhìn thấy chiếc thuyền bầu, cỗ máy, và toàn bộ công trình của anh chìm nghỉm dưới vực sâu. Đấy là một việc bất thường, Gilliatt sẵn sàng chấp nhận nó, và khủng khiếp thay, lại muốn cho nó xảy ra.
Trong cảnh chìm đắm hết mọi hy vọng này, chết trước tiên, đó là việc anh đang cần; chết trước; vì cỗ máy đối với anh cũng như một con người. Với bàn tay trái, anh vén mớ tóc vì mưa dính trên mắt, tay nắm lăm lăm chiếc búa to, ngả người ra sau, bản thân anh cũng đáng sợ, và chờ đợi.
Anh không phải chờ lâu.
Một tiếng sét, phát hiệu lệnh, cánh cửa mờ nhạt của đỉnh trời khép lại, một đợt mưa rào đổ xuống, mọi vật trở lại tối đen, và chỉ còn tia chớp làm đuốc soi. Cuộc tấn công tối tăm bắt đầu.
Một ngọn sóng khỏe, trông thấy được nhờ những đợt chớp, nổi lên phía đông, bên kia núi Thằng Người. Nó giống như một cuộn thủy tinh to, màu lam lục, không có bọt, và chắn ngang suốt cả mặt biển. Nó tiến về phía đập chắn sóng. Vừa đến gần nó vừa phồng lên, như một cái ống rộng lớn nào đó của u minh đang lăn tròn trên đại dương, sấm rền âm ỷ.
Đợt sóng ấy đến chỗ núi Thằng Người thì gãy ra làm đôi và đi qua. Hai đoạn sóng nhập lại chỉ còn là một núi nước, và từ chỗ song song với cái đập chắn sóng, nó trở thành vuông góc với đập. Đấy là một con sóng mang hình dáng một thanh gỗ.
Cái máy phá thành ấy đâm thẳng vào đập chắn sóng. Tiếng đụng gầm lên. Tất cả đều xóa nhòa trong bọt nước.
Nếu không nhìn thấy thì không thể nào hình dung nổi những cảnh tuyết lở có biển hùa thêm, qua đó biển chôn vùi những ngọn núi cao hơn ba mươi mét, chẳng hạn như ngọn Great Anderlo ở Guernesey và ngọn Pinnacle ở Jersey. Ở Saint-Mary, Madagascar, biển nhảy qua mũi Tintingue.
Ngọn sóng trào che khuất tất cả một hồi lâu. Chỉ còn thấy giận dữ chồng chất, dãi dớt ngập ngụa, màu trắng của tấm vải liệm xoay tít trước ngọn gió mộ địa, tràn đầy tiếng động và giông tố trong đó đang diễn ra cảnh tiêu diệt.
Bọt sóng lan dần. Gilliatt vẫn đứng yên.
Cái đập đã đứng vững. Không một sợi xích nào đứt, không một cái đinh nào bật. Qua thử thách, cái đập chứng tỏ là tấm chắn sóng có hai ưu điểm; nó mềm dẻo như một tấm liếp và vững chắc như một bức tường. Sóng đụng vào đã tiêu tan thành mưa.
Bọt nước ròng ròng lướt theo những đường ngoằn ngoèo trong vịnh, rồi tan biến dưới bụng chiếc thuyền bầu.
Con người đã làm ra cái rọ mõm ấy cho đại dương vẫn không nghỉ.
Cũng may giông tố nhãng đi mất một lúc lâu. Sóng biển lại tấn công vào vách bãi ngầm. Đây là một lúc tạm nghỉ. Gilliatt lợi dụng cơ hội để bổ khuyết cho tấm liếp phía sau.
Ngày hôm ấy kết thúc trong lúc Gilliatt mải mê vào công việc mệt nhọc đó. Cơn bão ngắn tiếp tục hoành hành trên sườn bãi ngầm với một vẻ uy nghiêm buồn thảm. Hũ nước và bình lửa trên các từng mây trút mãi vào nhau mà không cạn. Gió trời lúc cao lúc thấp như một con rồng uốn lượn.
Khi đêm đến thì cơn bão đã bắt đầu; người ta không nhận thấy điều ấy.
Vả lại, cũng không phải là bóng tối hoàn toàn. Bão táp, được sấm chớp làm cho sáng rực và lóa mắt, có những lúc gián đoạn nhìn thấy và không nhìn thấy. Tất cả đều trắng xóa, rồi tất cả lại đen ngòm. Người ta được chứng kiến cảnh hình ảnh xuất hiện và cảnh tối tăm trở lại.
Một vùng lân tinh, đỏ màu đỏ bắc cực, bềnh bồng như một đám lửa ma rách rưới sau những lớp mây dày. Kết quả là một màu xanh nhạt nhạt rất rộng. Các chiều ngang của đám mưa đều sáng rõ.
Những ánh sáng ấy giúp cho Gilliatt và dẫn dắt anh. Có lần anh ngoảnh lại và nói với chớp: cầm hộ tao cây nến.
Nhờ chút ánh mờ mờ ấy anh có thể tôn tấm liếp phía sau cao hơn cả tấm liếp phía trước. Tấm chắn sóng như vậy là gần hoàn chỉnh. Gilliatt đang buộc thêm vào khoang mũi cao nhất một sợi cáp thì gió bấc thổi thẳng vào mặt, khiến anh phải ngẩng đầu lên. Gió trở vào hỏm núi. Gió đã đột ngột quay về đông bắc. Cuộc tấn công vào cửa biển phía đông bắt đầu lại. Gilliatt đưa mắt nhìn ra khơi. Tấm chắn sóng sắp bị công hãm lần nữa. Một con sóng lớn mới đang tiến lên.
Ngọn sóng này quất rất mạnh; một ngọn thứ hai tiếp theo, rồi một ngọn khác, và một ngọn khác nữa, năm sáu ngọn tới tấp, hầu như cùng một lúc; sau cùng một ngọn cuối, khủng khiếp.
Ngọn sóng này, như một sức mạnh tổng hợp, có dáng dấp một vật thể sống. Chẳng khó khăn gì việc tưởng tượng ra trong cảnh trào dâng và trong suốt ấy những hình dáng mang cá và vây cá. Nó bẹp rúm lại và tự nghiền nát ra khi gặp tấm chắn sóng. Cái hình dáng gần như súc vật của nó tự xé toang ra khi bị tung tóc. Trên cái khối vừa núi vừa sà gỗ ấy, y như có một con giao long lớn bị nghiền nát. Ngọn sóng lúc chết đã hủy hoại. Sóng nước có vẻ muốn bám chặt và cắn xé. Một rung chuyển sâu sắc lay động bãi ngầm. Hòa vào đấy có cả tiếng súc vật hồng hộc. Bọt nước giống hệt dãi dớt một con quái vật khổng lồ.
Bọt nước rơi xuống cho thấy cả một cảnh tan hoang. Đợt công kích sau này đã làm nên việc. Lần này tấm chắn sóng đã bị tổn thương. Một thanh gỗ dài và nặng, bị giật khỏi tấm liếp phía trước, đã được ném qua lớp chắn phía sau, vào tảng đá nhỏ xiên đã có lúc được Gilliatt chọn làm vị trí chiến đấu. May sao anh lại không trèo lên chỗ ấy. Nếu không anh đã bị quật chết.
Khi thanh gỗ này rơi, có một điểm đặc biệt là nó vừa ngăn phiến gỗ này lên, vừa cứu Gilliatt khỏi bị hiện tượng thia lia và dội lại. Nó còn có ích cho anh một cách khác nữa, như ta sẽ thấy.
Giữa tảng đá nhô và mặt sườn cheo leo phía trong đường hẻm, có một quãng cách, một chỗ đứt đoạn to, gần giống một nhát rìu đẽo hay một lỗ nêm. Một đầu phiến gỗ bị sóng tung lên không, lúc rải xuống đã chui tọt vào chỗ đứt đoạn ấy. Chỗ đứt đoạn vì thế rộng ra.
Gilliatt chợt nảy ra một ý nghĩ.
Đè lên đầu kia.
Thanh gỗ, một đầu cắm chặt vào khe núi mà nó đã tách rộng thêm, thò ra như một cánh tay giơ thẳng. Cánh tay ấy duỗi dài song song với mặt trong ngõ hẻm, còn đầu tự do của thanh gỗ thì nhô ra ngoài điểm tựa quãng hơn năm mươi phân. Một quãng cách tốt cho phần lực phải tác động.
Gilliatt dùng chân, đầu gối, nắm tay chống vào vách núi và tì hai vai vào cái đòn bẩy to tướng đó. Thanh gỗ dài nên đã tăng thêm sức bẩy. Tảng đá đã rung rinh. Tuy vậy Gilliatt cũng phải ra sức đến bốn lần. Từ tóc anh mồ hôi cũng chảy ròng ròng như nước mưa. Lần cố gắng thứ tư thật cuồng nhiệt. Trong núi nghe có tiếng gầm, chỗ đứt đoạn kéo dài thành kẽ hở mở ra như một cái hàm, và khối đá nặng rơi xuống quãng cách nhỏ hẹp của ngách núi với một tiếng động khủng khiếp, đáp lời những tiếng sét.
Thanh gỗ rơi thẳng, nếu có thể dùng được từ này, nghĩa là không gãy.
Ta hãy hình dung cả một trụ bia bị đẩy rơi xuống vực.
Thanh gỗ đòn bẩy bật theo tảng núi, và Gilliatt suýt nữa cũng ngã, vì mọi thứ dưới chân anh đều sụt lở cùng một lúc.
Đáy vực chỗ này ngổn ngang toàn đá và có rất ít nước. Khối độc thạch, làm bắn bọt nước lên cả người Gilliatt, nằm vào giữa hai tảng đá lớn song song với ngõ hẻm và làm thành một bức tường ngang, một thứ dấu nối giữa hai vách núi cheo leo. Hai đầu nó vừa khít; nó có hơi dài một tí, nên cái đỉnh đá bọt lúc khớp vào đã nát vụn. Tảng đá rơi xuống tạo thành một cái ngõ cụt đặc biệt mà ngày nay người ta còn có thể nhìn thấy. Phía sau tảng đá, nước hầu như vẫn nằm yên.
Đấy là một thành lũy kiên cố hơn cả tấm sắt phía trước của tàu Durande đã gắn chặt vào giữa hai Hòn Douvres.
Cái đập này xen vào rất đúng lúc.
Sóng biển lại tiếp lục hoành hành, vẫn kiên trì đánh vào chướng ngại vật. Tấm liếp thứ nhất bị sứt mẻ bắt đầu tan rã. Một mắt trên tấm chắn sóng bị bung là một hư hại nặng. Việc khoét rộng lỗ hổng không thể nào tránh khỏi, và không có cách nào cứu vãn ngay tại chỗ. Sóng nước sẽ cuốn luôn cả người làm.
Một luồng điện phóng ra, chiếu sáng bãi ngầm, giúp cho Gilliatt thấy rõ hư hại của tấm chắn sóng, các thanh gỗ cong queo, các mẩu thừng và xích sắt bắt đầu đu đưa trước gió, giữa bộ máy một lỗ thủng. Tấm chắn sóng thứ nhì vẫn nguyên vẹn.
Khối đá, bị Gilliatt ném mạnh vào quãng cách ở phía sau tấm chắn sóng, là loại rào chắn vững nhất, nhưng có một khuyết điểm là thấp quá. Sóng biển không thể phá vỡ nhưng có thể vượt qua nó.
Không nên nghĩ đến việc tôn cao nó lên. Chỉ đá tảng mới có thể chồng chất hiệu quả lên cái đập đá ấy; nhưng làm thế nào mà bật được đá tảng, lê được chúng, làm thế nào mà bốc được chúng, xếp được chúng, làm thế nào mà gắn chặt được chúng? Người ta thêm ván thêm gỗ, chứ không ai thêm núi đá.
Gilliatt đâu phải là Enceladus.
Việc tôn cao cái eo đất bằng hoa cương này lên một chút khiến cho Gilliatt phải bận trí.
Khuyết điểm này cho thấy ngay hậu quả. Các cơn gió giật không rời bỏ tấm chắn sóng nữa; chúng không chỉ xô vào đấy, mà có thể nói là chúng bám chặt vào đấy. Trên cái khung gỗ mấp mô ấy nghe như tiếng chân giậm thình thình.
Thình lình một khúc gỗ ọp bung khỏi cái khung vỡ, nhảy qua tấm liếp thứ nhì, bay qua tảng đá nằm ngang, và rơi vào trong hẻm núi, ở đấy nước biển tóm ngay lấy nó và cuốn theo những đường ngoằn ngoèo trong ngõ hẹp. Gilliatt mất hút nó. Có thể là khúc gỗ ấy sẽ vấp vào chiếc thuyền bầu. Cũng may bên trong bãi ngầm, nước, bốn bề bị vây hãm, không bị ảnh hưởng mấy về cảnh xáo động bên ngoài. Sóng ít, va chạm không thể mạnh lắm. Vả lại Gilliatt làm gì có thì giờ lo nghĩ đến chuyện hư hại đó, nếu có hư hại; tất cả mọi nguy hiểm đều cùng một lúc nổi lên, bão táp tập trung vào điểm yếu, tình trạng cấp bách đang ở ngay trước mắt anh.
Bóng tối bỗng dày đặc lại hồi lâu, chớp ngừng bặt, một sự đồng lõa thật độc ác; mây trời và sóng biển chỉ là một; có tiếng rầm rầm.
Tiếp theo là một tiếng nổ vang.
Gilliatt nhô đầu ra. Tấm liếp, mặt nước của đập, đã bị phá toang. Trong sóng có những đầu sà nhấp nhô nhảy nhót. Biển cả dùng tấm chắn sóng thứ nhất để phá tan hoang tấm thứ nhì.
Gilliatt cảm thấy điều mà một viên tướng cảm thấy khi nhìn tàn quân tiên phong của mình trở về.
Hàng sà gỗ thứ nhì chịu đựng đợt tấn công. Cái khung phía sau được chằng chống rất chắc. Nhưng tấm liếp gãy cũng rất nặng, nó mặc cho sóng ném đi, rồi tóm lại, nhờ số dây chằng còn lại nó không vỡ vụn, vẫn giữ nguyên khối, và những ưu điểm mà nó được Gilliatt tạo cho để thành một vật phòng ngự lại biến nó thành một chiến cụ phá hoại rất tốt. Từ khiên nó trở thành chùy. Ngoài ra những chỗ gẫy làm cho nó tua tủa, chỗ nào cũng nhô ra tinh đầu sà, như cắm đầy răng và đinh thúc ngựa. Không có thứ khí giới hủy diệt nào đáng sợ hơn và thích hợp hơn để cho bão táp sử dụng.
Nó là đạn, biển cả là máy phóng.
Tiếng bắn phá liên tục đều đặn bi đát. Trầm ngâm phía sau cánh cửa do chính tay anh đóng chắn, Gilliatt lắng nghe tiếng đập muốn vào của thần chết.
Anh cay đắng nghĩ rằng, nếu không có ống khói tàu Durande, bị xác tàu giữ lại một cách tai hại, thì ngay lúc này, và từ sáng, anh đã về đến Guernesey, đến bến cảng, với chiếc thuyền bầu an toàn, với cỗ máy được cứu thoát.
Sự việc lo sợ đang xảy đến. Việc phá hoại đang diễn ra. Y như một cơn thở dốc. Toàn bộ cái khung chắn sóng, hai bộ sườn cũng lẫn lộn và nát nhừ lao thẳng, trong một cây nước, vào cái đập đá như một cảnh hỗn mang lao vào một quả núi, và dừng lại đấy. Tất cả chỉ còn là một mớ chồng chất, một đống hỗn độn không ra hình thù gì, để cho sóng lọt qua nhưng vẫn nghiền nát chúng. Bức thành bị phá hủy này đang hấp hối một cách anh dũng. Biển cả đã bẻ gãy nó, và nó cũng đang bóp nát biển cả. Bị đổ nhào, nó vẫn còn tác dụng trong một chừng mực nào đó. Tảng đá hình thành đập chắn, một chướng ngại vật không cho phép lùi, đang giữ chân nó. Như chúng tôi đã nói, ngõ hẻm này là chỗ rất hẹp; cơn gió chiến thắng đã dồn đẩy, nhào trộn và giã nát nguyên cả tấm chắn sóng trong chỗ đất này; chính sức mạnh tổng thúc, vừa dồn đống cái khối ấy và vừa đẩy sâu những thứ gẫy nát cái nọ vào cái kia, đã làm cho mớ hủy hoại ấy thành một đống nát nhừ vững chắc. Thế là bị triệt hạ nhưng lại kiên cố. Chỉ có dăm ba thanh gỗ bật ra. Sóng đánh tung tán chúng đi. Một thanh bay lên không, rất gần Gilliatt làm anh cảm thấy gió tạt qua trán.
Nhưng có một số ngọn sóng, những ngọn sóng to trong bao thường trở lại đều đặn, nhảy qua tấm chắn nát vụn. Chúng rơi vào trong ngõ hẻm, và mặc dầu ngõ có nhiều khúc khuỷu, chúng cũng làm tung nước ở đấy lên. Nước trong eo biển bắt đầu bực dọc chuyển động. Cái hôn kín đáo mà sóng nước dành cho núi đá nghe rõ dần.
Bây giờ làm thế nào ngăn cản không cho dao động này lan đến chiếc thuyền bầu?
Chẳng mấy lúc nữa những cơn gió giật sẽ khuấy động tất cả nước bên trong thành phong ba và chỉ sau dăm đợt sóng to, chiếc thuyền bầu sẽ vỡ toang, và cỗ máy chìm nghỉm.
Gilliatt run rẩy nghĩ ngợi.
Nhưng anh không bối rối. Đối với tâm hồn ấy không thể có chuyện bỏ cuộc.
Giông tố lúc này đã tìm thấy chỗ tiếp nối và lồng lộn thốc vào giữa hai bức thành của eo biển.
Thình lình, sau lưng Gilliatt một tí, vang lên và kéo dài trong ngõ hẻm một tiếng răng rắc, hãi hùng hơn tất cả những gì Gilliatt đã được nghe từ trước đến nay.
Đấy là ở phía chiếc thuyền bầu.
Có một chuyện gì bi thảm đang xảy ra ở đấy.
Gilliatt vội chạy lại.
Từ cửa biển phía đông, nơi anh đứng, anh không thể nhìn thấy chiếc thuyền bầu vì ngõ khúc khuỷu. Đến chỗ ngoặt cuối cùng anh đứng lại và chờ đợi một tia chớp.
Tia chớp đến ngay và cho anh thấy rõ hoàn cảnh.
Một ngọn gió ập vào cửa phía tây đã đáp lại ngọn sóng đánh vào cửa phía đông. Một tai họa đang bắt đầu diễn ra ở dấy.
Chiếc thuyền bầu không bị hư hại gì đáng kể; được neo kỹ như thế, nó không dễ gì bị quật hỏng; nhưng xác tàu Durande thì đang lúc nguy ngập.
Cái mở thảm hại ấy, trong một cơn bão táp như thế, phơi ra nhiều diện tích. Nó nhô cả ra ngoài nước, giữa trời, lồ lộ. Cái lỗ hổng mà Gilliatt khoét để lấy cỗ máy ra làm cho vỏ tàu bị yếu hẳn. Thanh sà sống tàu đã bị cắt đứt. Bộ xương gẫy mất cột sống.
Ngọn gió dữ đã thổi vào đấy.
Không cần gì nhiều hơn. Mặt boong oằn lại như một quyển sách mở. Việc phanh sả đã xong. Chính tiếng răng rắc này, qua cơn bão ngắn, đã vẳng đến tai Gilliatt.
Những gì anh trông thấy lúc đến gần có vẻ hầu như không thể cứu vãn nổi.
Chỗ sẻ hình vuông do tay anh mở ra đã trở thành một vết thương. Từ chỗ cắt ấy, gió đã tạo nên một vết gẫy. Đường đứt ngang chia xác tàu ra làm hai. Phần phía sau, gần chiếc thuyền bầu, gắn chặt trong gọng kìm núi đá. Phần phía trước, phần đối diện với Gilliatt, vẫn lủng lẳng. Một vết gẫy, khi còn dính, giống như một thứ bản lề. Cái khối nặng ấy đu đưa theo đường gẫy như có bản lề, và gió cứ lúc lắc nó nghe ghê rợn cả người.
May sao chiếc thuyền bầu không nằm ở phía dưới nữa. Nhưng việc đu đưa này làm rung chuyển nửa vỏ tàu kia, nửa vẫn gắn chắc và nằm im giữa hai Hòn Douvres. Từ rung chuyển đến đứt rời không xa. Dưới sức gió dai dẳng, phần nứt vỡ có thể đột ngột kéo theo phần kia, phần này gần chạm vào chiếc thuyền bầu và toàn bộ, cả chiếc thuyền lẫn cỗ máy, sẽ chìm nghỉm khi đổ xuống.
Gilliatt nhìn thấy cảnh ấy trước mắt.
Đấy là thảm họa.
Làm thế nào để chuyển hướng nó đi.
Gilliatt thuộc loại người từ nguy nan vẫn nảy ra phương kế thoát nạn. Anh trầm ngâm suy nghĩ một lúc.
Gilliatt đi đến chỗ kho và lấy cái rìu.
Đoạn Gilliatt trèo lên xác tàu. Anh đứng vững trên phần sàn không bị oằn, và cúi người trên chỗ vực ngăn cách hai Hòn Douvres, anh bắt đầu thanh toán những thanh gỗ gẫy và chặt đứt những gì còn dính với cái vỏ tàu lủng lẳng.
Hoàn thành việc cắt đôi xác tàu, giải thoát nửa còn chắc, vứt xuống nước phần mà gió đã tóm chặt, phân định giới hạn cho bão táp, đấy là công việc phải làm. Nó nguy hiểm chứ không phải khó làm. Cái nửa lủng lẳng của vỏ tàu, bị gió và trọng lượng lôi kéo, chỉ còn dính có mấy điểm. Toàn bộ xác tàu giống hệt một bức tranh xếp mà một tấm đã gần long đỉnh cứ dập vào tấm kia. Chỉ còn năm hay sáu chi tiết sườn tàu, bị bẻ gập và nứt toác, nhưng không dứt hẳn, vẫn dính chặt. Những chỗ gẫy cứ rít ken két và rộng dần mỗi lần gió bấc qua lại, và lưỡi rìu có thể nói là chỉ còn việc giúp gió một tay. Chút ít phần còn lại ấy, khiến cho công việc được dễ dàng, cũng là mối nguy cơ. Tất cả có thể sụp đổ cùng một lúc dưới chân Gilliatt.
Gió bão đang đạt đến điểm tột cùng. Từ trước bão chỉ mới gọi là khủng khiếp, giờ đây nó trở thành rùng rợn. Cảnh quằn quại của biển cả lan rộng đến tận bầu trời. Cho đến lúc bấy giờ mây vẫn là chúa tể, dường như nó làm theo ý muốn của nó, nó thúc giục, nó trút dội điên khùng lên sóng, đồng thời giữ lấy một phần minh mẫn bi đát nào đó. Bên dưới, điên cuồng, bên trên phẫn nộ. Bầu trời là hơi thở, đại dương chỉ là bọt nước. Do đó quyền uy của gió. Giông tố là thần. Tuy vậy niềm say sưa về sự ghê gớm của nó đã làm cho nó mê loạn. Nó chỉ còn là cơn gió lốc. Đó là sự mù quáng đẻ ra đêm tối. Trong những cơn bão ngắn có một lúc mất trí; đối với bầu trời đấy là một thứ bốc đồng. Vực thẳm không biết mình làm gì nữa. Nó cứ nhắm mắt đánh bừa. Không còn gì ghê rợn hơn. Đấy là giờ phút dễ sợ. Bãi ngầm rung chuyền cao độ. Bất cứ cơn bão nào cũng có một phương hướng bí mật; vào lúc ấy, nó mất phương hướng. Đấy là chỗ dở của bão táp. Vào lúc ấy, theo lời Thomas Fuller, gió là một thằng điên nổi giận. Chính vào lúc ấy trong các cơn bão diễn ra sự tiêu phí điện lực liên tục mà Piddington gọi là thác chớp. Chính vào lúc ấy ở chỗ đen nhất của mây xuất hiện, không rõ tại sao, để theo dõi sự hốt hoảng chung, cái vòng ánh sáng xanh mà cánh thủy thủ gia Tây Ban Nha vẫn gọi là Mắt bão el ojo de tempestad. Con mắt bi thảm ấy đang nhìn Gilliatt.
Về phía mình, Gilliatt cũng đang nhìn mây. Bây giờ anh ngẩng đầu lên. Sau mỗi nhát rìu, anh lại thẳng người lên, hiên ngang. Anh gặp, hay hình như gặp, nhiều tai họa quá nên anh không thể không tự phụ. Anh có thất vọng không? Không. Trước cơn rồ dại cùng cực của đại dương, anh vừa khôn ngoan vừa dũng cảm. Trên xác tàu, anh chỉ đặt chân ở những điểm nào chắc chắn. Anh vừa mạo hiểm vừa thận trọng giữ mình. Bản thân anh cũng đang ở điểm tột cùng. Sinh lực anh nhân lên gấp bội. Anh say sưa gan dạ. Tiếng rìu của anh vang lên như những lời thách thức. Anh có vẻ như đã thu được phần sáng suốt mà bão táp mất đi. Một cuộc xung đột hùng tráng. Một bên không bao giờ cạn, một bên không khi nào mệt mỏi. Ai tài thì bắt đối thủ bỏ cuộc. Trong cảnh bão là các đám mây khủng khiếp giống như những mặt nạ thủy tặc, tất cả những gì có thể uy hiếp đều diễn ra, mưa từ sóng lên, bọt từ mây xuống, những bóng ma của gió lom khom, những hình thái khí tượng khi đỏ hồng khi lẩn khuất, và sau khi những thứ ấy tan biến bóng tối thật là quái dị; chỉ còn một cảnh trút đổ, cùng một lúc từ bốn phương tới; tất thảy đều sôi sục; bóng tối tràn ngập toàn khối; những đám mây tích tụ mưa đá, tả tơi, màu tro, như lên cơn điên loạn xoay tròn, trên không trung có tiếng như sàng đỗ, những luồng điện ngược chiều được Volta[30] quan sát nổ từ đám mây nọ sang đám mây kia, những tia sét vươn dài khủng khiếp, các ánh chớp đến sát bên người Gilliatt. Dường như anh làm cho vực thẳm ngạc nhiên. Anh đi tới đi lui trên chiếc tàu Durande rung rinh, làm mặt boong dưới chân phải run rẩy, hết quai búa, lại đục, lại cắt, lại chặt, tay lăm lăm cái rìu, tái nhợt trước ánh chớp, đầu tóc rối bù, chân đi đất, áo quần tả tơi, mặt mũi đầy đờm dãi của biển cả, vĩ đại trong cái vũng lầy sấm sét ấy.
Chống lại cơn mê sảng của các sức mạnh, chỉ có khôn khéo mới có thể chiến đấu. Khéo léo là ngón sở trường của Gilliatt. Anh muốn cho toàn bộ chôc di vật tan rã kia cùng đổ xuống một lúc. Muốn thế anh phải làm yếu những đường gẫy bản lề, mà không để chúng đứt hẳn, vẫn chừa một ít đủ nâng đỡ phần còn lại. Thình lình anh dừng lại, tay giơ cao cái rìu. Động tác vừa đúng lúc. Toàn khối rời ra.
Nửa này của vỏ tàu chìm xuống, giữa hai Hòn Douvres, phía dưới Gilliatt, anh đang đứng trên nửa kia, vừa cúi vừa nhìn. Nó nhào thẳng góc xuống nước, bắn tung toé nước lên núi, và dừng lại trong chỗ co thắt, trước khi chạm đến đáy. Phần nhô lên trên cũng còn khá cao, hơn mặt nước độ gần hai mét; tấm vách đứng chắn giữa hai Hòn Douvres; như tảng núi đã bị hất nằm ngang trong ngõ hẻm, quá phía bên trên một tí, nó chỉ để cho một ít bọt sóng lọt qua hai đầu; và đấy là chướng ngại vật thứ năm do Gilliatt ứng biến nghĩ ra để chống lại bão táp trong con đường này của biển cả.
Cuồng phong, mù quáng, đã giúp sức tạo nên chướng ngại sau cùng này.
Cũng may mà chỗ eo núi đã không để cho cái đập này lọt xuống tận đáy. Nhờ vậy mà nó được cao hơn; ngoài ra nước còn có thể luồn qua dưới vật chướng ngại và do đấy giảm bớt sức mạnh của sóng. Cái gì chui qua bên dưới thì không nhảy qua bên trên. Chính đấy là một phần bí quyết của đập chắn sóng nổi.
Từ nay, mây muốn làm gì cũng chẳng mảy may phải lo sợ cho chiếc thuyền bầu và cỗ máy. Nước không thể nào xao động xung quanh chúng nữa. Giữa bức rào của hai Hòn Douvres che chắn chúng ở phía tây và cái đập mới bảo vệ chúng ở phía đông, không một ngọn sóng, một cơn gió nào có thể chạm đến chúng.
Từ tai họa Gilliatt đã rút ra được lối thoát. Nói tóm lại, mây đã giúp anh.
Xong việc ấy, anh vốc ở một vũng nước mưa một ít nước trong lòng bàn tay, uống và nói với mây: Vò nước!
Thật là một niềm vui mỉa mai đối với trí tuệ chiến đấu khi nhận thấy các sức mạnh giận dữ quá ư ngu ngốc lại hóa ra được việc, và Gilliatt cảm thấy thèm muốn mắng chửi kẻ thù của mình như những người cổ xưa, một nhu cầu vốn có từ thời các vị anh hùng của Homer.
Gilliatt bước xuống thuyền bầu và lợi dụng các ánh chớp để ngắm kỹ nó. Thật vừa đúng lúc cần phải cứu giúp chiếc thuyền thảm hại, nó đã bị quăng quật rất mạnh và đang bắt đầu oằn xuống. Nhìn thoáng qua, Gilliatt nhận thấy không có hư hại gì cả. Tuy nhiên anh tin chắc là chiếc thuyền đã chịu đựng những dồn dập rất dữ. Có lần nước lặng, vỏ tàu đã tự nhô lên; các mỏ neo vẫn nguyên vẹn; còn cỗ máy vẫn được bốn sợi xích ghì chặt.
Gilliatt vừa xem xét xong thì một vệt trắng vút qua ngay bên cạnh anh và chui tọt vào bóng tối. Đấy là một con hải âu.
Trong các cơn bão ngắn không có gì tốt lành hơn thế. Bao giờ chim chóc đến thì giông tố rút lui.
Một dấu hiệu tuyệt vời khác, sấm nổi dồn dập.
Những hiện tượng cực kỳ mãnh liệt của bão táp làm cho nó giải thể. Tất cả các thủy thủ đều biết thế, thử thách cuối cùng bao giờ cũng rất quyết liệt, nhưng ngắn ngủi. Sét nhiều báo hiệu kết thúc.
Mưa đột ngột tạnh hẳn. Rồi chỉ còn một tiếng lăn hằn học trong mây. Bão tố chấm dứt như một tấm ván rơi tòm xuống đất. Có thể nói là nó gẫy ngang, cả bộ máy đồ sộ của mây trời tan rã. Một kẽ nứt của bầu trời tách đôi u minh. Gilliatt sửng sốt, trời đã sáng rõ.
Bão đã kéo dài gần hai mươi tiếng đồng hồ.
Gió đã đưa đến, gió lại mang đi. Một trời tăm tối mịt mù đi xuống ngổn ngang cả chân trời. Sương mù tan vỡ, và lẩn trốn hỗn độn chồng chất lên nhau, từ đầu nọ đến đầu kia dải mây cả một cảnh tháo chạy, có tiếng ồn ào kéo dài nhỏ dân, một ít giọt mưa cuối cùng rơi lác đác và toàn bộ bóng tối đầy sấm sét ấy ra đi như một đoàn xe ô hợp khủng khiếp.
Đột nhiên trời xanh trong.
Gilliatt cảm thấy người rã rời. Giấc ngủ sà xuống như một con mãnh cầm trên thân mình mệt mỏi. Gilliatt buông mình khuỵ xuống thuyền, không cần chọn chỗ, và ngủ thiếp đi. Anh nằm như thế luôn mấy tiếng đồng hồ, thẳng đờ, lẫn lộn giữa đống sà gỗ.
Lúc tỉnh dậy, anh thấy đói.
❀ ❀ ❀
[1] Sóc vọng (syzygie): ngày mùng một và ngày rằm âm lịch.
[2] Mây quyển; cirrus.
[3] Ai dám nói là mặt trời sai.
[4] Vasco da Gama (1469 -1524): nhà hàng hải danh tiếng của Bồ Đào Nha, năm 1502 đã tìm đường sang Ấn Độ quanh theo mũi Hảo Vọng ở cực nam Châu Phi.
[5] Oedipus: là một nhân vật kì lạ và đau khổ trong thần thoại Hy Lạp mang tội giết cha và lấy mẹ vì lầm lẫn.
[6] Luoghi spaventosi (tiếng Italia): những nơi khủng khiếp.
[7] Pan: thần của sự hoang dã, thần của mục đồng, của tự nhiên.
[8] Biển cả kỳ diệu.
[9] Nó muốn thổi chỗ nào thì thổi.
[10] Loại cây có vỏ dùng làm giấy.
[11] Khi bọn kẻ cắp dám làm những việc như thế, thì các ông chủ sẽ làm gì!
[12] Trong tập thơ La Légende des siècles (VII).
[13] Franklin Benjamin (1706-1790): là nhà vật lý học người Mỹ đã phát minh ra cột thu lôi…
[14] Người theo Ấn Độ giáo, thờ vị thần tối cao là Bà la môn (Brahma).
[15] Platon (429-347 trước Công Nguyên): triết gia trứ danh ở Cổ Hy Lạp.
[16] Bởi những người nhìn nghiêng.
[17] Buffon (1708- 1788): nhà vạn vật học Pháp.
[18] Cuvier (1769-1832): nhà vạn vật học có tiếng của Pháp, đã sáng lập ra môn cổ sinh vật học.
[19] Griffon: quái vật dị hình mình sư tử, đầu và cánh chim ưng, tai ngựa, bờm như vây cá.
[20] Theo Kinh Thánh, là đỉnh núi trên đó Chúa hiện ra cho Moise gặp.
[21] Lavoisier (1743-1794): nhà hóa học người Pháp, người sáng tạo nên hóa học hiện đại, đã phát minh định luật bảo tồn vật chất.
[22] Nơi nào nó muốn.
[23] Đơn vị tiền tệ của Cổ Hy Lạp.
[24] Éole: Thần Gió.
[25] Borée: Thần Bắc Phong.
[26] Adriatique: vịnh lớn ở Địa Trung Hải, nằm giữa Ý, Albani và Nam Tư.
[27] Ceto: Nữ Hải Thần.
[28] Turba, turma (tiếng La tinh): Đại đội, cảnh náo động.
[29] Gió dữ quay trái ngược với mặt trời.
[30] Volta: nhà Vật lý Italia sáng chế ra điện pin.