Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BỐN: CÁI KÈN DA
I NHỮNG ÁNH ĐỎ ĐẦU TIÊN CỦA MỘT CẢNH BÌNH MINH, HAY CỦA MỘT ĐÁM CHÁY

❊ ❊ ❊

Gilliatt chưa bao giờ nói chuyện với Déruchette. Anh biết cô vì đã trông thấy cô từ xa, như kiểu người ta biết sao mai.

Thời kì mà Déruchette gặp Gilliatt trên con đường từ Saint-Pierre-Port đến Valle và đã viết tên anh lên tuyết khiến anh phải ngạc nhiên, cô đang độ mười sáu tuổi xuân. Đúng hôm trước, Mess Lethierry đã bảo cô: Cháu đừng chơi những trò trẻ con nữa. Cháu là con gái lớn rồi.

Cái tên ấy, Gilliatt do cô gái kia viết, đã rơi vào một nơi sâu thẳm nào đó.

Đối với Gilliatt, đàn bà là gì? Bản thân anh có lẽ cũng không thể nói được. Mỗi khi anh gặp một người đàn bà, anh đều làm cho người ấy sợ. Bất đắc dĩ lắm anh mới nói chuyện với một người đàn bà. Anh chưa bao giờ là “nhân tình” của một cô gái quê nào cả. Mỗi khi anh đi một mình trên đường mà gặp một người đàn bà đi ngược lại là anh trèo qua bờ giậu một mảnh vườn hoặc chui vào một bụi rậm và đi thẳng. Anh tránh cả các bà già. Trong đời anh đã có lần anh gặp một người đàn bà Paris. Đối với Guernesey vào thời kỳ xa xưa ấy, một phụ nữ Paris ghé thăm là một sự kiện kỳ lạ. Và Gilliatt đã nghe bà Paris ấy kể tai họa của bà bằng những từ sau đây: “Bực quá, tôi vừa bị mấy giọt mưa vào mũ, nó màu vàng mơ, một màu rất sợ hoen ố”. Sau đó ít lâu, anh thấy giữa một quyển sách một bức tranh thời trang cũ, vẽ “một bà trên đường phố d’Antin” ăn mặc rất sang trọng, anh đã dán tờ tranh lên tường để hồi nhớ lại lần xuất hiện kia. Những chiều mùa hè, anh thường nấp sau những tảng núi của vũng Houmes-Paradis để xem các cô gái nông dân mặc áo lót tắm biển. Một hôm, xuyên qua hàng rào, anh đã nhìn mụ phù thủy Torteval sửa lại chiếc nịt bít tất của mụ. Có lẽ anh là trai tân.

Buổi sáng lễ Giáng sinh mà anh gặp Déruchette và cô vừa cười vừa viết tên anh, anh liền trở về nhà, không hiểu tại sao mình ra khỏi nhà nữa. Đến đêm anh không ngủ. Anh nghĩ ngợi hàng trăm chuyện; rằng nên trồng củ cải đỏ trong vườn; rằng việc trưng bày là tốt; rằng anh không thấy chiếc tàu Serk đi qua; có việc gì xảy ra cho chiếc tàu không; rằng anh đã thấy bạch vạn niên ra hoa, một điều hiếm có mùa này. Anh chưa bao giờ biết đích xác bà già đã chết là thế nào với anh, anh tự nhủ chắc bà phải là mẹ anh, và anh nghĩ đến bà với một niềm yêu thương gấp bội. Anh nghĩ đến bộ cánh phụ nữ trong chiếc hòm da. Anh nghĩ rằng cha tôn kính Jaquemin Hérode có lẽ một ngày nào đó sẽ được cử làm thầy cả của Saint-Pierre-Port, quyền giám mục, và chức mục sư Saint-Sampson sẽ khuyết. Anh nghĩ đến việc hôm sau lễ Giáng sinh sẽ là ngày hai mươi bảy âm lịch và như thế thì thủy triều sẽ lên vào lúc ba giờ hai mươi mốt phút, rút nửa chừng vào lúc bảy giờ mười lăm, thủy triều xuống vào lúc chín giờ ba mươi phút, và lên nửa chừng vào lúc mười hai giờ ba mươi chín phút. Anh nhớ đến từng chi tiết nhỏ bộ quần áo của anh chàng miền núi đã bán cái kèn da cho anh, đến cái mũ không vành có đính chiếc lá gai, đến thanh trường kiếm, đến chiếc áo chẽn vạt vuông và ngắn, đến chiếc váy ngắn của y gọi là Scilt hay philaberg lủng lẳng thêm cái túi Sporran và cái smushing-mull, loại túi đựng thuốc bằng sừng, đến cái ghim của y làm bằng một viên đá Scotland, đến hai sợi thắt lưng sashwise và belts, đến thanh kiếm swond, đến con dao dirck và cái skene dhu, một loại dao đen cán đen trang trí thêm hai cairgorum, và đến hai đầu gối trần của anh lính, đến đôi bít tất dài, đến bộ xà cạp kẻ ô vuông và đôi giày có khóa của y. Bộ cánh ấy trở thành một bóng ma, đuổi theo anh, làm anh phát sốt và thiếp đi. Sáng trắng anh mới tỉnh dậy và ý nghĩ đầu tiên của anh lại hướng về Déruchette.

Hôm sau, anh ngủ được nhưng suốt đêm lại mê thấy anh lính Scotland. Trong cơn mê, anh lẩm bẩm rằng sau lễ Giáng sinh, Tòa án sẽ họp vào ngày hai mươi mốt tháng giêng. Anh cũng mê thấy hiệu trưởng già Jaquemin Hérode. Tỉnh dậy, anh lại nghĩ tới Déruchette và rất tức với cô, anh tiếc rằng mình không còn là trẻ con để đến ném đá vào cửa kính nhà cô.

Rồi anh nghĩ đến nếu anh còn bé, anh sẽ có mẹ, thế là anh lại ngồi khóc thút thít.

Anh cũng định đi Chousey hay Minquiers, ở đấy ba tháng. Tuy vậy, anh cũng không đi.

Anh không đặt chân đến con đường từ Saint-Pierre-Port tới Valle nữa.

Anh hình dung tên anh, Gilliatt vẫn nằm mãi đấy, vạch trên mặt đất, và tất cả mọi người qua đường phải nhìn vào đấy.

II TỪNG BƯỚC, TỪNG BƯỚC ĐI VÀO CHỖ XA LẠ

Bù lại, ngày nào anh cũng trông thấy ngôi nhà Bravées. Anh không chủ bụng, nhưng anh thường đi về phía ấy. Tình cờ lối anh đi luôn luôn phải đi qua con đường mòn men theo bức tường vườn của Déruchette.

Một buổi sáng nọ, anh đang trên con đường mòn ấy thì một bà ở chợ từ Bravées về nói với một bà khác: Cô Lethierry rất thích seakales.

Thế là anh làm ngay một cái hố trồng seakales trong mảnh vườn của anh ở Bû de la Rue. Seakales là một thứ bắp cải có hương vị măng tây.

Bức tường vườn ngôi nhà Bravées rất thấp, có thể bước qua được. Anh thấy ý nghĩ bước qua tường có vẻ ghê sợ. Nhưng không ai cấm anh nghe lúc đi qua, cũng như tất cả mọi người, những giọng người nói trong các phòng hoặc trong vườn. Anh không lắng tai nhưng anh nghe thấy. Một bận, anh nghe hai cô đầy tớ Douce và Grâce cãi nhau. Đấy là một tiếng động trong ngôi nhà. Tiếng cãi nhau ấy lưu lại trong anh như một tiếng nhạc.

Một lần khác, anh nhận thấy một giọng nói không giống giọng những người khác, và anh thấy hình như phải là giọng nói của Déruchette. Anh liền chạy trốn.

Những lời nói do cái giọng đó thốt lên cứ mãi mãi khắc sâu vào tâm trí anh. Lúc nào anh cũng nhắc đi nhắc lại những lời ấy: Chị làm ơn cho tôi cái chổi.

Từng bước, từng bước, anh trở nên bạo dạn. Anh dám đứng lại. Tình cờ một lần Déruchette ngồi đàn piano và hát, ở ngoài không thể nhìn thấy cô mặc dầu cửa sổ mở. Cô hát bài Bonny Dundee yêu thích của cô. Anh tái mét cả mặt, nhưng anh quả quyết đứng lại nghe.

Mùa xuân đến. Một hôm Gilliatt bỗng có một ảo ảnh; trời xanh mở rộng. Gilliatt trông thấy Déruchette tưới rau diếp.

Chẳng bao lâu anh không chờ đứng lại. Anh quan sát các thói quen của cô, anh để ý đến giờ giấc của cô, và anh chờ đợi cô.

Anh cố ý không để cho ai trông thấy anh.

Dần dần, đồng thời với các lùm cây tràn ngập bươm bướm và hoa hồng, im lìm và câm lặng suốt hàng giờ, nấp sau bức tường ấy, không một ai trông thấy, cố nín hơi thở, anh quen với việc Déruchette đi lại trong vườn. Con người vẫn quen dần với thuốc độc.

Đứng trong chỗ nấp, anh thường nghe được Déruchette nói chuyện với Mess Lethierry dưới một vòm cây xanh rậm rạp nơi có một chiếc ghế dài. Tiếng nói vẳng đến chỗ anh rất rõ.

Biết bao chặng đường anh đã vượt qua! Giờ đây anh đã đến chỗ rình mò và lắng tai nghe ngóng. Than ôi! Trái tim con người là một tên gián điệp già.

Còn một chiếc ghế dài khác, dễ thấy và rất gần, bên lề một lối đi. Thỉnh thoảng Déruchette ngồi ở đấy.

Qua các loại hoa mà anh thấy Déruchette hái và ngửi, anh đã đoán được sở thích của cô về mặt hương hoa. Hoa lý là thứ hoa cô ưa thích nhất, rồi đến cẩm chướng, rồi kim ngân, rồi hoa nhài. Hoa hồng chỉ đứng hàng thứ năm. Cô nhìn hoa huệ, nhưng cô không ngửi.

Qua việc lựa chọn hương hoa ấy, Gilliatt xây dựng con người có trong tư tưởng anh. Qua mỗi hương hoa anh liên tưởng đến một ưu điểm.

Chỉ riêng ý nghĩ ngỏ lời với Déruchette đã làm anh dựng tóc gáy lên rồi.

Một bà già buôn đồ cũ hiền lành, do nghề nghiệp đi rong, thỉnh thoảng lại đến con đường hẻm men theo khu vườn Bravées mang máng nhận thấy Gilliatt hay lui tới chỗ bức tường và ham thích nơi hẻo lánh này. Bà ta liên hệ sự có mặt của người đàn ông trước bức tường với khả năng có một người đàn bà sau bức tường không? Bà ta có nhận thấy sợi dây vô hình mỏng manh kia không? Trong cảnh già nua khốn khổ của mình, bà có còn đủ trẻ trung để hồi tưởng lại đôi chút những tháng năm đẹp đẽ, và trong cảnh đông tàn đêm tối của mình, bà còn có biết thế nào là bình minh không? Điều ấy chúng tôi không rõ lắm, nhưng hình như có lần đi qua cạnh Gilliatt đang “đứng gác”, bà hướng vào anh tất cả những nụ cười tàn còn lại, và lẩm bẩm qua hai hàng lợi: nóng lắm rồi!

Nghe mấy lời đó, Gilliatt sửng sốt, lầm bầm với một dấu hỏi trong bụng: - Nóng lắm rồi? Bà già ấy định nói gì? Suốt ngày anh nhắc đi nhắc lại câu nói một cách máy móc nhưng không hiểu nổi.

Một tối nọ, anh đang đứng ở cửa sổ nhà anh tại Bû de la Rue, bỗng có năm sáu cô thanh nữ ở Ancresse nhân vui đùa xuống tắm chỗ vũng Houmet. Các cô đùa nghịch rất ngây thơ dưới nước cách chỗ anh độ một trăm bước. Anh vội sập cửa sổ lại. Anh chợt nhận thấy là một người đàn bà trần truồng làm anh ghê tởm.

III ĐIỆU BONNY DUNDEE GẶP ĐƯỢC MỘT ÂM VANG TRÊN ĐỒI

Phía sau khu vườn Bravées có một góc tường um tùm ô-rô và trường xuân, ngổn ngang tầm ma, với một cây cẩm quỳ dại, và một cây đuôi hổ to mọc trong đó, chính ở cái xó đó anh đã ngồi gần suốt mùa hè. Anh ngồi đây, trầm ngâm một cách khó tả. Những con rắn mối, quen với anh, cũng phơi mình ra nắng trên những hòn đá ấy.

Trời hè rực rỡ mơn trớn vuốt ve. Trên đầu Gilliatt, mây trôi lơ lửng. Anh ngồi trên một hòn đá trong cỏ. Xung quanh rộn rã tiếng chim. Hai tay ôm trán, anh tự hỏi: Nhưng tại sao cô ta lại viết tên mình lên tuyết kia chứ? Gió biển cuốn ra xa những tiếng thở dài. Chốc chốc trên công trường đá Vaudue xa xa, tiếng tù và thợ mỏ lại đột ngột rúc lên, báo hiệu cho người qua đường tránh xa và một phát mìn sắp nổ. Người ta không nhìn thấy cảng Saint-Sampson, nhưng vẫn thấy những đỉnh cột buồm trên các ngọn cây. Hải âu bay lượn tản mác. Gilliatt có nghe mẹ nói rằng đàn bà cũng có thể phải lòng đàn ông, rằng chuyện ấy đôi khi cũng xảy ra. Anh tự trả lời: Ra thế đấy. Ta hiểu rồi. Déruchette phải lòng ta. Anh cảm thấy rất chi là buồn bã. Anh tự nhủ: Nhưng cả cô ấy, cô ấy cũng tơ tưởng đến ta; thế là hay lắm. Anh ngẫm nghĩ đến chuyện Déruchette giàu có, còn anh thì nghèo. Anh nghĩ rằng chiếc tàu hơi nước là một sáng chế kinh tởm. Không bao giờ anh có thể nhớ được hôm nay là mùng mấy. Anh lơ đãng nhìn những con ong đất mình đen, lông vàng, cánh ngắn, đang vù vù chui vào những cái lỗ trên tường.

Một đêm nọ, Déruchette vào nhà đi ngủ. Cô đến gần cửa sổ để đóng lại. Trời đêm mịt mù. Thình lình Déruchette lắng tai. Trong bóng tối sâu thẳm văng vẳng có tiếng nhạc. Một người nào đó có lẽ ở trên sườn đồi, hay ở chân mấy ngọn tháp của lâu đài Valle, hoặc có thể xa hơn nữa, đang chơi một bài nhạc trên một nhạc cụ. Déruchette nhận ra bản nhạc buồn ưa thích Bonny Dundee của mình, thổi bằng kèn da. Cô không hiểu ra sao cả.

Từ đó, thỉnh thoảng vào giờ ấy, tiếng nhạc lại văng vẳng, nhất là những đêm thật tối trời.

Déruchette không thích chuyện ấy lắm.

IV ĐỐI VỚI ÔNG CHỦ VÀ VỊ GIÁM HỘ, NHỮNG CON NGƯỜI HIỀN LÀNH ÍT NÓI, NHẠC CHIỀU LÀ NHỮNG TIẾNG ẦM Ĩ ĐÊM KHUYA (Thơ của một hài kịch chưa in)

Bốn năm trôi qua.

Déruchette đã gần hai mươi mốt tuổi và vẫn không lấy chồng.

Một người nào đấy đã viết không biết ở đâu: - Một ý nghĩ cố định là một mũi khoan. Mỗi năm nó xoáy sâu thêm một vòng. Nếu muốn nhổ bật nó ra hộ ta năm đầu tiên, người ta sẽ kéo tóc ta; năm thứ hai, người ta sẽ làm rách da thịt ta; năm thứ ba, người ta sẽ làm gãy xương ta; năm thứ tư, người ta sẽ rứt óc ta ra.

Gilliatt đang ở vào cái năm thư tư ấy.

Anh vẫn chưa nói một lời nào với Déruchette. Anh chỉ tơ tưởng đến người con gái kiều diễm kia. Có thế thôi.

Tình cờ một hôm, ở Saint-Sampson, anh được thấy Déruchette nói chuyện với Mess Lethierry trước cái cửa ngôi nhà Bravées nhìn xuống lòng đường bến cảng. Gilliatt đánh liều đến thật gần. Anh tin chắc rằng lúc anh đi qua cô ta đã mỉm cười. Chuyện ấy chẳng có gì là vô lý.

Dérucherte thỉnh thoảng vẫn được nghe tiếng kèn da.

Tiếng kèn ấy, Mess Lethierry cũng nghe. Cuối cùng ông nhận thấy tiếng nhạc ấy cứ dai dẳng dưới cửa sổ Déruchette. Tiếng nhạc du dương, nên càng nghiêm trọng. Ông vốn không thích một gã trai lơ đi đêm. Ông muốn gả chồng cho Déruchette đúng lúc, khi nào cô ưng và khi nào ông muốn, một cách trong sạch và đơn giản, không tiểu thuyết, không đàn sáo. Sốt ruột, ông rình và ông tin chắc là đã thấp thoáng thấy Gilliatt. Ông lùa móng tay vào bộ râu quai nón, dấu hiệu của tức giận, và lầm bầm: Thằng súc sinh, hà cớ gì mà nó lại thổi kèn? Rõ ràng nó yêu Déruchette. Mày chỉ mất thì giờ thôi. Thằng nào muốn lấy Déruchette; là phải hỏi ta chứ không phải là thổi kèn.

Một sự kiện quan trọng dự kiến từ lâu diễn ra. Người ta loan báo cha tôn kính Jaquemin Hérode được cử quyền giám mục Winchester, thầy cả của đảo và mục sư Saint-Pierre-Port, và ông sẽ rời Saint-Sampson đi Saint-Pierre ngay sau khi tìm được người thay thế.

Ông mục sư mới trước sau cũng đến. Vị mục sư này là một người thuộc tầng lớp thượng lưu gốc Normandie, ông Joë Ebenezer Caudray, gọi theo tiếng Anh là Cawdry.

Về ông mục sư tương lai, người ta có được những chi tiết mà thiện cảm và ác cảm bình luận trái ngược nhau. Người ta bảo ông còn trẻ và nghèo, nhưng tuổi trẻ của ông được châm chước bởi nhiều đạo lý và hoàn cảnh nghèo của ông do nhiều hy vọng. Trong ngôn ngữ chuyên môn sáng tạo cho việc thừa tự và giàu sang, cái chết được gọi là hy vọng. Ông ta là cháu và là người thừa kế của vị thầy cả già giàu có ở Saint-Asaph. Vị thầy cả này mà chết thì ông ra sẽ giàu có. Ông Ebenezer Caudray có những họ hàng quyền quí, ông gần như có quyền có tư cách là người danh giá. Còn về mặt đạo lý của ông, người ta đánh giá có khác nhau. Ông theo giáo phái Anh quốc, nhưng theo từ ngữ của giám mục Tillotson, rất “phóng túng” nghĩa là rất nghiêm ngặt. Ông rất ghét tính đạo đức giả, ông đứng về phái Trưởng Lão hơn là phái Thành Công Hội. Ông mơ ước đến giáo hội nguyên thủy, trong đó Adam có quyền chọn Ève, và Frumentanus, giám mục d’Hiérapolis, bắt cóc một người con gái để làm vợ và nói với bố mẹ: Nàng muốn thế và tôi muốn thế, ông không còn là cha nàng nữa và bà không còn là mẹ nàng nữa, tôi là thiên thần của d’Hiérapolis, và cô gái này là vợ tôi. Cha chính là Chúa. Nếu phải tin vào lời người ta nói thì ông Ebenezer Caudray thay thế câu Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi[1] bằng câu theo ông thì cao hơn: Người đàn bà là máu thịt của người đàn ông. Người đàn bà sẽ từ giã bố mẹ để theo chồng. Vả lại khuynh hướng khoanh hẹp phụ quyền và thành kính dành ưu tiên cho tất cả mọi hình thức tạo nên quan hệ vợ chồng là thích hợp với toàn bộ Tân giáo, đặc biệt nhất ở nước Anh và lạ lùng nhất ở nước Mỹ.

V THÀNH CÔNG CHÍNH ĐÁNG BAO GIỜ CŨNG BỊ THÙ GHÉT

Đây là bản quyết toán của Mess Lethierry vào lúc ấy. Tàu Durande đã giữ đúng tất cả những lời cam kết. Mess Lethierry đã trả hết công nợ, bù đắp được tổn thất, thanh toán những khoản vay ở Brême, nhìn thẳng vào những hạn kỳ ở Saint-Malo. Ông đã chuộc xong ngôi nhà Brayées, ông đã mua lại tất cả những khoản lợi tức địa phương đăng ký vào ngôi nhà này. Ông là chủ một công cụ sản xuất lớn, tàu Durande. Lợi tức thực sự của chiếc tàu hiện nay là một nghìn livrơ xteclinh và mỗi ngày một tăng. Nói cho đúng thì tàu Durande là toàn bộ tài sản của ông. Nó cũng là tài sản của địa phương. Việc chuyên chở bò là một trong những món lợi to lớn nhất của chiếc tàu, cho nên để cải tiến việc sắp xếp hàng và để thuận tiện việc bò ra vào, người ta đã phải bỏ hết những giá treo và hai chiếc canô. Có lẽ đây là một chuyện dại dột. Tàu Durande chỉ còn mỗi một xuồng con, chiếc xà-láp. Chiếc xà-láp đúng là tốt thật.

Từ ngày xảy ra vụ lừa đảo của Rantaine, mười năm đã trôi qua.

Việc phát đạt của tàu Durande có một mặt yếu là nó không gây được tin tưởng; người ta cho đây là một chuyện mắc may. Trường hợp của Mess Lethierry chỉ được chấp nhận như một người ngoại lệ. Ông được xem như đã làm một chuyện điên rồ may mắn. Ở Cowes, trên đảo Wight, có người bắt chước ông nhưng đã không thành công. Việc thử thách đã làm phá sản các cổ đông. Lethierry nói: Vì cỗ máy chế tạo không tốt. Nhưng người ta lắc đầu. Những chuyện mới mẻ thường bị chống đối vì mọi người ác cảm với chúng; hơi lỡ bước là hỏng ngay. Một trong những tay có uy tín về buôn bán của quần đảo Normandie, tay chủ ngân hàng Jauge, ở Paris, được hỏi ý kiến về việc kinh doanh tàu hơi nước, nghe nói đã ngoảnh lưng trả lời: Các vị đề nghị với tôi một việc chuyển hoán. Chuyển hoán tiền ra khói. Trái lại, các tàu buồm muốn bao nhiêu vốn cũng có. Tư bản kiên quyết ủng hộ buồm chống lại nồi hơi. Tại Guernesey, tàu Durande là một việc hiển nhiên, nhưng hơi nước không phải là một nguyên tắc. Đấy là tính quyết liệt của phủ nhận trước tiến bộ. Người ta nói về Lethierry: Tốt thôi, nhưng lão chẳng làm lại lần thứ hai đâu. Không những không khuyến khích, gương sáng của ông còn khiến người ta sợ hãi. Chẳng ai dám liều một chiếc tàu Durande thứ hai.

VI VẬN MAY CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐẮM TÀU KIA LÀ GẶP ĐƯỢC CHIẾC DUYÊN THUYỀN ẤY

Tiết cân phân trên biển Manche thường đến sớm. Đây là một loại biển hẹp ngăn cản gió trời và làm cho nó phẫn nộ. Ngay từ tháng hai, đã bắt đầu có gió tây, và bốn bể đều nổi sóng. Việc đi lại trên biển trở thành mối lo ngại, dân duyên hải nhìn cột buồm hiệu; người ta lo ngại cho những thuyền bè có thể lâm nguy. Biển cả thành như cạm bẫy; một tiếng kèn vô hình báo hiệu một cuộc chiến đấu nào đấy không biết; những hơi thở dài giận dữ đảo lộn chân trời; trời nổi một cơn gió khủng khiếp. Bóng tối rít thổi ào ào. Trong cảnh trời mây thăm thẳm, bộ mặt đen sì của bão táp đang phồng mang trợn mắt.

Gió là một mối nguy; sương mù lại là một mối khác.

Thời đại nào người đi biển cũng đều sợ sương mù. Trong một số trường hợp sương mù người ta thấy lơ lửng những lăng trụ bằng đá li ti mà Mariotte cho là nguồn gốc của những hiện tượng, quầng, ảo nhật và tán mặt trăng. Những thứ sương mù mà tạo ra bão táp rất phức tạp; nhiều thứ hơi khác nhau, trọng lực riêng không đồng đều, hòa hợp với hơi nước, và chồng chất lên nhau theo một trật tự phân chia sương mù thành nhiều tầng và làm cho sương mù trở thành một hệ thống thật sự, dưới cùng là iốt, trên iốt là lưu huỳnh, trên lưu huỳnh là brôm, trên brôm là phốt pho. Điều này, trong một chừng mực nào đó, trừ phần điện áp và từ áp, giải thích được nhiều hiện tượng, ngọn lửa Saint-Ele của Colomb và của Magellan, những sao sa lẫn vào thuyền bè mà Sénèque nói đến, hai ngọn lửa Castor và Pollux mà Plutarque đã đề cập, đạo quân La Mã mà César tưởng như thấy cầm toàn lao bốc lửa, ngọn thương của lâu đài Duino trong Frioul mà anh lính canh làm lóe sáng lúc chạm giáo của mình vào, và có lẽ cả những tia chớp nguồn từ dưới mà người xưa gọi là “chớp đất của Thổ tinh”. Ở vùng xích đạo, có một đám mây mù to thường xuyên dường như thắt quanh quả đất, đây là vòng Cloud-ring, chiếc nhẫn mây. Vòng Cloud-ring có nhiệm vụ làm lạnh vùng chí tuyến, cũng như luồng hải lưu Gulf-Stream có nhiệm vụ hâm nóng địa cực. Dưới vòng Cloud-ring, không sao tránh khỏi sương mù. Đấy là những vĩ độ ngựa, horse latitude, ở đây người đi biển của các thế kỷ vừa qua, thường quẳng ngựa xuống biển, lúc trời bão để cho nhẹ bớt, lúc gió lặng để tiết kiệm số nước dự trữ. Colomb nói: Nube abaxo es muerte, “Mây thấp là cái chết”. Người Étrusques[2], họ đối với ngành khí tượng cũng như người Chaldéens[3] đối với ngành thiên văn, có hai chức chủ giáo, giáo chủ của sấm và giáo chủ của mây; các ông lôi sĩ quan sát sấm chớp và các ông aquilèges quan sát sương mù. Đoàn các cha cố giải mộng. Tarquinies thường được người Tyri, người Phénicie, người Pélasges và tất cả những người đi biển ngày trước của xứ Marinterne cổ xưa hỏi ý kiến. Thời ấy người ta đã thoáng thấy được cách hình thành của bão táp; nó có liên quan chặt chẽ với cách hình thành sương mù, và nói cho đúng, đều cùng một hiện tượng. Trên đại dương có ba vùng sương mù, một ở xích đạo, hai ở địa cực; cánh thủy thủ chỉ gọi chúng bằng một tên duy nhất: Cái hũ nút.

Trong tất cả các vùng lân cận và nhất là trên biển Manche, sương mù tiết cân phân rất nguy hiểm. Chúng đột nhiên tạo ra đêm tối trên biển cả. Một trong những mối nguy hại của sương mù, ngay cả lúc nó không đến nỗi dày lắm, là không cho nhận thấy sự thay đổi đáy biển qua sự thay đổi màu nước, vì vậy mà nó che giấu một cách đáng sợ việc tiếp cận các bãi ngầm và chỗ cạn. Người ta đến gần một tảng đá ngầm mà chẳng có gì báo trước. Thông thường sương mù chỉ để cho thuyền bè đang chạy mỗi một phương kế là hạ buồm đứng lại hoặc thả neo. Có bao nhiêu tai nạn đắm tàu vì gió là có bấy nhiêu tai nạn đắm tàu vì sương mù.

Thế mà, sau một trận cuồng phong rất mạnh tiếp theo một trong những ngày sương mù ấy, chiếc bưu thuyền men biển Cashmere từ nước Anh đến rất an toàn. Nó vào Saint-Pierre-Port khi tia nắng đầu tiên nhô lên khỏi biển cả, đúng giữa lúc lâu đài Cornet bắn phát súng chào đón hừng dương. Bầu trời trong sáng. Thuyền Cashmere được đón chờ vì nó đưa ông mục sư mới của Saint-Sampson tới. Thuyền đến được một lúc thì trong thành phố được biết tin đêm hôm qua có một chiếc xà-lúp cập sát vào nó, chứa một tốp thủy thủ đắm tàu.

VII VẬN MAY CỦA KẺ NHÀN DU ẤY LÀ ĐƯỢC NGƯỜI ĐÁNH CÁ KIA TRÔNG THẤY

Đêm hôm ấy, lúc gió đã lặng, Gilliatt đi câu, nhưng anh cũng không cho thuyền bầu ra khỏi bờ quá xa.

Khi anh quay về, lúc thủy triều đang lên, vào quãng hai giờ trưa, nắng rất đẹp, đi qua trước cái Sừng Thú để về chỗ tiểu loan Bû de la Rue, anh thấy trong hình chiếu của chiếc ghế Gild-Holm-‘Ur hình như có một cái bóng đổ không phải bóng của ngọn núi. Anh để mặc cho thuyền trôi về phía ấy, và anh nhận ra có một người đang ngồi trên chiếc ghế Gild-Holm-‘Ur. Nước triều đã dâng rất cao, hòn núi đã bị sóng biển bao quanh, không còn cách nào trở về được nữa. Gilliatt liền vung tay rối rít cho người ấy.

Người ấy vẫn ngồi im. Gilliatt đến gần. Người ấy đã ngủ quên.

Người ấy mặc đồ đen. Có vẻ là một cha cố - Gilliatt nghĩ thế. Anh đến gần hơn nữa, và thấy một bộ mặt thanh niên.

Đối với anh, bộ mặt này xa lạ.

Hòn núi may sao lại thẳng đứng nên chỗ ấy rất sâu. Gilliatt liền lách khéo và men theo được vách núi. Thủy triều nâng chiếc thuyền lên khá cao nên Gilliatt có thể nhón chân trên mép thuyền để chạm vào bàn chân người kia. Anh liền nhón chân đứng trên mạn thuyền và đưa tay lên. Nếu lúc ấy anh ngã thì cũng khó mà ngoi lên được mặt nước. Sóng đang vỗ mạnh. Giữa chiếc thuyền bầu và ngọn núi không thể tránh khỏi quật nát.

Anh kéo chân người đang ngủ.

- Này, ông làm gì đấy?

Người ấy chợt tỉnh, nói:

- Tôi đang ngắm cảnh. Rồi tỉnh hẳn, nói tiếp:

- Tôi mới tới địa phương này, nhân lúc dạo chơi tôi đến đây, suốt đêm tôi ngồi ngoài biển, tôi thấy cảnh đẹp, tôi mệt quá, tôi ngủ quên.

- Mười phút nữa là ông chết đuối, - Giliatt nói.

- Chết thật!

- Ông nhảy ngay xuống thuyền tôi đi.

Gilliatt lấy chân giữ thuyền, một tay bám chắc vào núi, tay kia chìa cho người mặc đồ đen, ông ta nhẹ nhàng nhảy xuống thuyền. Đó là một thanh niên rất đẹp trai.

Gilliatt cầm lấy bơi chèo, và hai phút sau chiếc thuyền bầu đã đến vũng Bû de la Rue.

Người thanh niên đội mũ tròn, thắt cà vạt trắng. Tấm áo rơ-đanh-gốt đen dài cài khuy đến tận cổ. Ông ta có mái tóc nâu như vành miện, nét mặt đàn bà, con mắt trong sáng, dáng vẻ uy nghiêm.

Trong khi ấy chiếc thuyền đã chạm đất liền. Gilliatt luồn dây cáp vào khoanh sắt buộc thuyền, rồi quay lại, và thấy bàn tay trắng muốt của người trai trẻ chìa ra cho anh một đồng tiền vàng.

Gilliatt khẽ gạt bàn tay ấy ra.

Một giây lát im lặng. Người trai trẻ nói trước:

- Ông đã cứu sống tôi.

- Có lẽ. - Gilliatt đáp.

Thuyền đã buộc xong. Hai người ra khỏi thuyền.

Người trai trẻ lại nói:

- Thưa ông, tôi còn sống là nhờ ông đấy.

- Thế thì có làm sao?

Sau câu trả lời của Gilliatt lại tiếp theo một giây lát im lặng.

- Ông có phải người của giáo khu này không? - người trai trẻ hỏi.

- Không - Gilliatt đáp.

- Vậy ông thuộc giáo khu nào?

Gilliatt đưa bàn tay phải chỉ lên trời và nói:

- Giáo khu kia.

Người trai trẻ chào anh và chia tay với anh.

Được mấy bước, người trai trẻ dừng lại, tìm trong túi, lấy ra một cuốn sách, và vừa trở lại vừa chìa cuốn sách cho anh.

- Cho phép tôi được tặng ông món này.

Gilliatt cầm lấy cuốn sách.

Đấy là một cuốn Kinh Thánh.

Một lát sau, Gilliatt, tì tay trên lan can nhà, nhìn người trai trẻ đi rẽ chỗ góc con đường mòn dẫn về Saint-Sampson.

Dần dần anh gục đầu xuống, quên mất người mới tới không biết cái ghế Gild-Holm-‘Ur có hay không nữa, và đối với anh mọi vật đều biến mất, chìm ngập trong cảnh mơ màng không đáy.

Giliatt có một vực thẳm là Déruchette.

Một giọng nói gọi anh, chợt kéo anh ra khỏi bóng tối ấy:

- Ê, Gilliatt!

Anh nhận ra ngay giọng nói và ngước mắt lên.

- Có việc gì thế Sieur Landoys?

Đúng là Sieur Landoys đang đi qua đường cách Bû de la Rue độ một trăm bước, trong chiếc xe ngựa bốn bánh đóng con ngựa con. Ông ta dừng lại để gọi Gilliatt, nhưng hình như ông ta bận việc và đang vội.

- Có chuyện lạ đấy, Gilliatt ạ.

- Ở đâu kia?

- Ở Bravées.

- Gì thế?

- Xa quá không kể cho anh nghe được đâu.

Gilliatt rợn người.

- Cô Déruchette lấy chồng phải không?

- Không. Còn lâu.

- Thế ông muốn nói gì?

- Cứ đến Bravées đi. Anh khắc rõ.

Nói xong Sieur Landoys ra roi quất ngựa.

❀ ❀ ❀

[1] Một trong mười điều răn của đạo Thiên Chúa.

[2] Étrusques: dân một miền xưa của Italia, nay là Toscane.

[3] Chaldeens: một nước thành lập vào hồi đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Thiên Chúa giáng sinh, gần vịnh Ba Tư bây giờ.

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.