Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN HAI: MESS LETHIERRY
I CUỘC ĐỜI SÓNG GIÓ VÀ LƯƠNG TÂM THANH THẢN

❊ ❊ ❊

Mess Lethierry, nhân sĩ ở Saint-Sampson, là một thủy thủ cừ khôi. Ông đã từng ngược xuôi nhiều trên biển cả. Ông đã làm thủy thủ nhóc, làm buồm, coi buồm, cầm lái, đốc công, thủy thủ trường, hoa tiêu, chủ tàu. Bây giờ ông đang kinh doanh về hàng hải. Không ai am hiểu biển cả hơn ông. Trong việc cứu hộ ông rất gan dạ. Những hôm động trời, ông thường đi dọc bãi biển, nhìn ngó chân trời. Cái gì đằng kia thế? Có người đang gặp nguy. Đấy là một chiếc thuyền chạy ven biển ở Weymouth, một chiếc thuyền đáy bằng ở Aurigny, một thuyền đánh cá ở Courseulle, chiếc du thuyền của một huân tước, đây là một người Anh, một người Pháp, một người nghèo, một người già, đây là quỉ sứ, bất kể là ai, ông nhảy xuống một chiếc thuyền gọi hai hay ba người dũng cảm, nếu cần ông cũng chẳng thiết đến họ, một mình thay cả nhóm, tháo dây neo, cầm lấy chèo, băng ra biển khơi, cưỡi lên, chúi xuống, rồi lại cưỡi lên trong lòng sóng biển, lao vào gió dữ, xông vào hiểm nguy. Từ xa, người ta nhìn thấy ông như thế trong gió lộng, đứng thẳng trên con thuyền nước mưa đầm đìa, lẫn trong ánh chớp với bộ mặt của một hùng sư mang bờm bọt sóng. Đôi khi suốt ngày ông mải mê trong hiểm nguy, trong sóng nước, trong gió trời mưa đá, cặp sát vào các tàu bè lâm nạn, cứu người, cứu làng, chống chọi với bão táp. Tối đến ông lại về nhà ngồi đan bít tất.

Ông sống cuộc đời như thế suốt năm chục năm, từ thuở lên mười cho đến tuổi sáu mươi, suốt thời kỳ trai trẻ. Đến năm sáu mươi, ông nhận thấy mình một tay không nhấc nổi chiếc đe lò rèn Varclin nữa; chiếc xe đó nặng một tạ rưỡi; rồi thình lình ông bị những cơn thấp khớp giam giữ không cho đi đâu nữa. Buộc lòng ông phải từ bỏ biển cả.

Thế là từ tuổi anh hùng ông bước sang tuổi gia trưởng, và chỉ còn là một con người hiền lành chất phác.

Cùng một lúc ông đến với bệnh thấp khớp và cảnh an nhàn. Hai kết quả ấy của lao động sẵn sàng đi đôi với nhau. Đúng lúc được giàu có thì con người cũng vừa kiệt quệ: Vinh quang cuộc đời là thế đấy.

Người ta tự nhủ: Bây giờ phải vui hưởng.

Ở những đảo như Guernesey, dân số gồm những con người đã trải qua cả cuộc đời trên đồng ruộng và những con người đã trải cả cuộc đời vòng quanh thế giới. Đây là hai loại dân cày, một bên của đất cát, một bên của biển cả. Mess Lethierry thuộc vào loại sau. Tuy nhiên ông cũng am hiểu về đất cát. Ông đã từng sống một cuộc đời lao động hăng say. Ông đã ngao du trên lục địa. Một thời gian ông đã làm thợ mộc đóng thuyền ở Rochefort, rồi Cette. Chúng tôi vừa nói đến chuyện vòng quanh thế giới; ông đã đi vòng quanh nước Pháp làm thợ bạn trong nghề mộc. Ông đã làm ở trạm máy bơm chống úng cho các đồng muối ở Franche-Comté. Con người lương thiện ấy đã sống một cuộc đời giang hồ. Tại nước Pháp, ông đã học đọc, học suy nghĩ, học trau dồi ý chí. Việc gì ông cũng làm, và từ các việc ông làm, ông đã rút ra được lòng chính trực. Bản chất ông là thủy thủ. Nước là của ông. Ông thường nói: Cá ở ngay trong nhà tôi. Tóm lại, toàn bộ cuộc đời của ông, trừ vài ba năm, đều cống hiến cho đại dương, đều vứt xuống biển cả, như ông vẫn nói. Ông đã từng ngược xuôi trên các biển lớn, trên Đại Tây Dương, trên Thái Bình Dương, nhưng ông vẫn thích biển Manche hơn cả. Ông thường trìu mến thốt lên: Biển ấy mới thật là bất trị: Ông sinh ra ở đấy và muốn được chết ở đấy. Sau khi đi một hai vòng quả đất, biết là thế nào rồi, ông trở về Guernesey, và không đi đâu nữa. Từ nay các cuộc hành trình của ông là Granville và Saint-Malo.

Mess Lethierry là người Guernesey, nghĩa là người Normand, nghĩa là người Anh, nghĩa là người Pháp. Ông mang trong người cái tổ quốc tay tư ấy, chìm ngập và như đắm đuối trong cái tổ quốc đại dương vĩ đại của ông. Suốt cuộc đời ông và bất cứ ở đâu, ông cũng vẫn giữ đúng phẩm cách một người dân chài Normand.

Điều ấy không hề ngăn cản ông thỉnh thoảng cũng giở một quyển sách cũ, thích thú với một quyển sách mới, biết được một số tên các triết gia và thi sĩ, và líu lô một tí tất cả mọi thứ tiếng.

II MỘT SỞ THÍCH CỦA ÔNG

Gilliatt là một con người man rợ. Mess Lethierry lại thuộc một loại man rợ khác.

Con người man rợ này có những mặt tao nhã riêng của nó.

Ông rất khó tính đối với bàn tay phụ nữ. Thời trai trẻ, gần như lúc còn là trẻ con nữa, giữa thủy thủ già và thủy thủ nhóc ông đã nghe viên pháp quan Suffren thốt lên: con bé xinh thật, nhưng hai bàn tay sao mà đỏ và to khiếp thế! Lời nói đô đốc, về mặt nào, cũng như ra lệnh. Trên sấm ngữ, có một mệnh lệnh. Lời cảm thán của viên pháp quan Suffren đã làm cho Lethierry trở thành tế nhị và khắt khe về phương diện những bàn tay trắng trẻo và xinh xắn. Còn bàn tay của ông ta, y như cái bay to tướng màu gỗ đào hoa tâm, dùng vào việc nhẹ thì như chùy đồng, mà để vuốt ve thi mơn trớn như kìm sắt, và nếu nắm chặt rơi xuống thì vỡ cả nền đường.

Ông chưa bao giờ cưới vợ. Ông không muốn lấy hoặc chưa tìm được người vừa ý. Có lẽ vì nhà thủy thủ đòi hỏi nắm những bàn tay nữ quận công. Loại bàn tay ấy thì ít thấy ở nữ dân chài Portbail.

Tuy vậy, người ta cũng kể lại rằng trước đây ở Rochefort, Charente ông đã gặp được một cô công nhân lẳng lơ đáp ứng đúng lý tưởng của ông. Một cô gái đẹp có bàn tay rất xinh. Cô thích nói xấu và hay châm chọc. Không nên gây sự với cô. Móng tay cô, khi cần, thành vuốt nhọn sạch sẽ, thanh tú, không thể chê vào đâu được và chẳng biết sợ là gì. Mấy móng tay xinh xắn ấy thoạt đầu làm Lethierry mê mẩn, sau lại làm ông lo ngại; và, sợ một ngày kia không làm chủ nổi cô tình nhân, ông đã quyết định không đưa ra trước xã trưởng câu chuyện ong bướm ấy nữa.

Một lần khác, ở Aurigny, ông lại gặp được một cô gái vừa ý. Ông đang tính đến chuyện cưới xin thì một người dân ở đây bảo ông: Tôi có lời khen ngợi ông đấy. Ông sẽ gặp được một cô mụ thung giỏi giang. Ông yêu cầu giải thích lời khen. Ở Aurigny có kiểu đi nhặt phân bò, rồi đem ném vào tường nhà. Lối ném rất tài tình, khi nào phân khô, rơi xuống, người ta lấy về để sưởi. Thứ phân khô ấy gọi là coipiaux. Người ta chỉ cưới một cô gái về làm vợ khi nào cô ta là mụ thung giỏi. Tài hoa ấy khiến Lethierry phải chuồn thẳng.

Vả lại về Vấn đề yêu đương hay chim chuột, ông vẫn có một triết lý nông dân thô thiển, một thứ khôn ngoan của thủy thủ lúc nào cũng bị cám dỗ, không bao giờ bị trói buộc, và ông thường tự hào, thời trai trẻ, rất dễ bị “quần hồng” đánh gục. Cái mà ngày nay ta gọi là váy xòe thì bấy giờ người ta gọi là quần hồng. Nó có mặt hơn và kém một người đàn bà.

Những người dân miền biển vụng về ấy của quần đảo Normand cũng có tài trí. Hầu hết họ biết đọc và rất ham đọc sách. Ngày chủ nhật, người ta thường thấy những thủy thủ nhóc tám tuổi ngồi trên một cuộn thừng tay cầm cuốn sách. Thời đại nào cánh thủy thủ Normand ấy cũng ưa châm chọc, và như ngày nay người ta thường nói, thích nói chữ. Chính một trong số họ, tay hoa tiêu dũng cảm Quéripel, đã ném vào Montgomery, ẩn lánh ở Jersey sau mũi giáo không may của ông ta vào Henry Đệ Nhị, câu nói này: Đầu điên đánh vỡ đầu rỗng. Lại một người khác, Touzeau, chủ thuyền ở Saint-Brélade, đã nói câu đồng âm dị nghĩa triết lý này, vẫn gán cho giám mục Camus: Sau khi chết, các giáo hoàng hóa thành bươm bướm, và các điện hạ hóa thành mọt gạo.[1]

III NGÔN NGỮ CỔ XƯA CỦA MIỀN BIỂN

Cánh thủy thủ ấy của Channel Islands đúng là người Gaulois cổ xưa. Những hòn đảo này, ngày nay Anh hóa nhanh chóng, từ lâu vẫn giữ tính chất bản xứ. Người nông dân Sark nói tiếng Louis XIV.

Cách đây bốn mươi năm, các thủy thủ Jersey và Aurigny vẫn nói thứ thổ ngữ cổ điển của miền biển. Người ta cứ tưởng như đang đứng giữa bờ biển của thế kỷ mười bảy. Một chuyên gia khảo cổ có thể đến đấy nghiên cứu thổ ngữ cổ về diễn tập và chiến đấu mà Jean Bart rống lên trong cái loa làm khiếp đảm đô đốc Hidde. Từ vựng hàng hải của cha ông chúng ta ngày nay gần như hoàn toàn đổi mới, vẫn còn sử dụng tại Guernesey vào năm 1820. Một chiếc thuyền chịu gió tốt hơn là bon boulinier; một chiếc thuyền hầu như tự biết nó nép theo chiều gió, bất kể buồm mũi và lái của nó, là vaisseau ardent. Bắt đầu hoạt động là prendre aire; liệu thế đi khi trời xấu là capeyer; buộc đầu một sợi thừng lưu động là faire dormant; đón gió trên là faire chapelle; giữ vững dây cáp là faire teste; mất trật tự trên tàu là être en pantenne; cho buồm đón gió là porter plain. Tất cả những từ ấy không ai nói nữa. Ngày nay người ta nói louvoyer thì trước kia người ta nói leauvoyer; nay nói naviguer, trước kia nói naviger; nay nói virer vent devant, trước kia nói donner vent devant; nay nói aller de l’avant, trước kia nói tailler de l’avant; nay nói tirez d’accord, trước kia nói halez d’accord; nay nói dérapez, trước kia nói déplantez; nay nói embraquez, trước kia nói abraquez; nay nói taquets; trước kia nói bittons; nay nói burins; trước kia nói tapes; nay nói balancines; trước nói valancines; nay nói tribord; trước kia nói stribord; nay nói les hommes de quart à bâbord; trước kia nói les basbourdis. Tourville viết thư cho Hocquincourt: chúng ta đã singlé. Đáng lẽ la rafale thì nói le raffal; đáng lẽ bossoir thì nói boussoir; đáng lẽ drosse thì nói drousse; đáng lẽ loffer thì nói faire une olofée; đáng lẽ élonger thì nói alonger; đáng lẽ forte brise thì nói survent; đáng lẽ jouail thì nói jas; đáng lẽ soute thì nói fosse; đấy là ngôn ngữ thuyền bè của các đảo vùng biển Manche, hồi đầu thế kỷ này. Nghe một hoa tiêu Jersey nói, Ango hẳn phải bối rối. Trong lúc mọi nơi nói buồm faseyaient, thì ở các đảo vùng biển Manche nói buồm barbeyaient. Một cơn gió trở thình lình trước kia là một folle-vente. Trước kia chỉ ở đó người ta mới dùng hai lối buộc thuyền kiểu gothic: lối vature và lối Bồ Đào Nha, Trước kia chỉ ở đó mới nghe những mệnh lệnh cổ xưa: Tour-et-choque! - Bosse et bitte! Một thủy thủ ở Granville đã nói le clan, trong khi một thủy thủ ở Saint-Aubin hoặc ở Saint-Sampson còn nói le cannal de pouliot, Ở Saint-Malo gọi bout d’alonge, thì ở Saint-Hélier gọi oreille d’âne. Mess Lethierry, cũng hoàn toàn như công tước Vibonne, gọi đường khum của boong tàu là la torture và cái đục của thợ xảm tàu là la patarasse. Chính miệng dùng thứ thổ ngữ lạ lùng này mà Duquesne đã đánh thắng Ruyter, mà Duguay-Trouin đã đánh thắng Wasnaer, mà Tourville năm 1681 giữa ban ngày chằng giữ chiếc thuyền đầu tiên bắn vào Alger. Ngày nay nó là một từ ngữ. Tiếng lóng miền biển ngày nay khác hẳn, Duperré sẽ không hiểu nổi Suffren.

Ngôn ngữ tín hiệu cũng thay đổi không kém. Biết bao xa cách kể từ bốn ngọn lửa đỏ, trắng, xanh, vàng, đến chiếc tàu Bourdonnais mười tám lá cờ ngày nay. Những lá cờ này kéo lên từng hai chiếc một, ba chiếc một, và bốn chiếc một, cung cấp cho các đòi hỏi viễn thông bảy vạn tổ hợp, không bao giờ cạn, và có thể nói là tiên đoán những điều bất ngờ.

IV NGƯỜI TA CÓ THỂ BỊ TỔN THƯƠNG BỞI CÁI MÌNH YÊU QUÍ

Mess Lethierry là một người hiền lành thật thà, một người “tim để trên tay”; một bàn tay to và một trái tim cao cả. Khuyết điểm của ông chính là cái đức tính đáng khen, lòng tin người. Ông có một lối cam kết riêng của ông, thật trang trọng; ông nói: Tôi xin dâng lời nói danh dự của tôi cho Chúa lòng lành. Một khi đã nói thế, là ông làm đến cùng. Ông tin ở Chúa lòng lành, không tin gì khác. Thỉnh thoảng ông có đi nhà thờ cũng là chuyện giữ lễ. Ở biển, ông là người mê tín.

Tuy nhiên chẳng bao giờ trời động lại khiến ông phải lùi bước; đó là do ông khó chấp nhận sự mâu thuẫn. Ông không tha thứ chuyện mâu thuẫn ở đại dương cũng như ở một người khác. Ông muốn mọi người phải theo ý ông; mặc kệ biển cả nếu nó chống lại; biển cả phải đứng về phía ông. Mess Lethierry không chịu khuất phục. Một cơn sóng dữ, cũng chẳng hơn gì một người láng giềng hay gây sự, không thể ngăn chặn nổi ông. Điều ông nói là đinh đóng cột, điều ông dự định là điều đã thực hiện. Ông không chịu cúi mình trước một lời bắt bẻ, cũng như trước một trận phong ba. Đối với ông không có từ Không; không có trên cửa miệng một con người, mà cũng không có từ Có trong tiếng sấm động. Ông bất chấp hết. Ông không cho ai từ chối ông. Vì vậy mà ông bướng bỉnh trong đời sống và dũng cảm trên đại dương.

Ông vui lòng tự tay thêm nếm món súp cá của ông, vì ông biết liều lượng tiêu, muối, hành mùi nên cho, và khi nấu, ông thích thú bao nhiêu thì khi ăn ông cũng thích thú bấy nhiêu. Một con người mà một ngọn gió tây nam làm biến đổi sắc mặt, mà một chiếc áo rơđanhgôt làm cho mụ mẫm, một con người tóc bay trước gió như Jean Bart, và khi đội chiếc mũ tròn thì giống như Jocrisse đã nhìn thấy phong trào cách mạng, một người ngu dốt rất thông thái, không bao giờ tin nhảm, nhưng có đủ thứ ảo mộng, tin ở Phu nhân góa chồng hơn ở Đức Bà Đồng Trinh, sức mạnh của Polyphème, ý chí của Christophe Colomb, lôgic của chong chóng gió, một cái gì của bò mộng và một cái gì của trẻ con, một cái mũi gần như tẹt, đôi má chắc nịch, một cái mồm đủ răng, một gương mặt chỗ nào cũng nhăn, một diện mạo dường như đã bị gió vỗ và trên đó kim la bàn đã xoay suốt bốn mươi năm, một vẻ phong ba trên vùng trán, một nước da màu đá tảng giữa biển khơi; và bây giờ bạn hãy thêm vào gương mặt ấy một vẻ nhìn hiền lành, bạn sẽ có Mess Lethierry.

Mess Lethierry có hai niềm say mê: Durande và Déruchette.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: Après la mort les papes deviennent papillons et les sires deviennent cirons. Câu này hay ở những chỗ đồng âm papes, papiallns và sires, cirous.

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.