Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BỐN: HAI ĐÁY CỦA CHƯỚNG NGẠI VẬT
I KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ MỘT MÌNH MÌNH ĐÓI

❊ ❊ ❊

Biển lặng dần. Nhưng ngoài khơi sóng vẫn còn khá mạnh nên không thể lên đường được ngay. Vả lại cũng muộn quá rồi. Với số hàng trên thuyền bầu, muốn đến Guernesey trước nửa đêm thì phải xuất phát từ sáng.

Mặc dù bụng đói cồn cào, Gilliatt cũng bắt đầu bằng việc cởi trần, vì đây là cách duy nhất để làm cho ấm người.

Quần áo của anh ướt sũng vì bão, nhưng nước mưa đã làm trôi hết nước biển nên bây giờ chúng có thể khô.

Gilliatt chỉ mặc mỗi chiếc quần xắn lên đến nửa bụng chân.

Anh trải ra đây đó, trên các mỏm núi xung quanh, sơ mi, va-rơ áo mưa, xà cạp và tấm da cừu, rồi lấy đá chận lại.

Đoạn anh nghĩ đến việc ăn.

Gilliatt phải nhờ đến con dao mà anh đã cẩn thận mài sẵn và lúc nào cũng để sẵn sàng, anh cạy ở núi đá ra dăm con hàu, gần giống như loại sò Địa Trung Hải; giống này có thể ăn sống. Nhưng sau bao nhiêu gian lao phức tạp vất vả, khẩu phần ấy quả có đạm bạc quá. Anh hết cả bánh quy rồi. Còn nước thì không thiếu nữa. Hơn cả được giải khát, anh đang bị ngập ngụa.

Anh tranh thủ lúc nước biển xuống, để lần mò trong núi tìm kiếm tôm càng. Cũng gặp được khá nên có hy vọng sẽ bắt được nhiều.

Có điều anh không nghĩ rằng anh không có cách gì đun nấu nữa. Giá anh chịu khó lần đến chỗ kho thì anh đã thấy nó sập đổ vì mưa. Số củi và than của anh đã bị ngập, và số xơ đay dự trữ để làm bùi nhùi, không có sợi nào không ướt. Chẳng có cách nào nhóm lửa cả.

Vả lại cái bễ đã vỡ tung, mái lò đã sập; bão táp đã làm tan hoang phòng thí nghiệm. Với những dụng cụ còn lại không bị hư hại, giỏi lắm Gilliatt chỉ còn có thể làm anh thợ mộc chứ không thể làm anh thợ rèn. Nhưng lúc này Gilliatt không nghĩ đến cái xưởng của anh.

Mặt khác, đang bị cái đói dày vò, nên không nghĩ ngợi gì nữa, anh phải lo đi kiếm bữa ăn. Anh lần mò không phải trong hẻm vực, mà ở bên ngoài, sau các mỏm đá ngầm. Chính ở phía ấy, mười tuần trước, tàu Durande đã đâm vào núi.

Trong việc kiếm bắt của Gilliatt, phía ngoài hẻm tốt hơn phía trong. Những lúc nước xuống, cua thường quen ra hóng gió. Chúng rất thích phơi nắng. Giống vật dị hình này ưa lúc giữa trưa. Việc chúng ra khỏi nước giữa ánh sáng là một việc kỳ lạ. Cảnh chúng lúc nhúc khiến người ta gần như bực mình. Nhìn thấy chúng với cái lối bò ngang ngang vụng về, trèo leo nặng nhọc, lần mò tí một trên các tầng phía dưới của núi đá như những bậc thang, người ta buộc lòng phải nhận là đại dương có sâu bọ.

Từ hai tháng nay, Gilliatt sống bằng giống sâu bọ ấy.

Tuy vậy, hôm ấy tôm cua lẩn đâu hết. Bão táp đã dồn cái lũ ẩn dật này vào hang hốc và chúng vẫn chưa hoàn hồn. Gilliatt cầm trong tay con dao mở sẵn, và thỉnh thoảng lại cạy một con sò, con hến dưới lớp rong tảo. Anh vừa ăn vừa đi.

Anh đang ở không xa chỗ Sieur Clubin trước đó đã bị nạn.

Gilliatt đang quyết định đành nhẫn nhục với hải đởm và ấu biển thì có tiếng róc rách dưới chân. Một con cua to, thấy anh đến gần, hoảng hốt, vừa nhảy xuống nước. Nó không ngập sâu nên Gilliatt không mất hút nó.

Gilliatt liền chạy đuổi theo con cua trên móng bãi ngầm. Nó đang lẩn trốn.

Đột nhiên chẳng còn gì nữa.

Con cua vừa rúc vào một cái khe nào đó dưới núi.

Gilliatt liền bám chặt vào những chỗ đá lồi lõm và nhô đầu ra để nhìn ở phía dưới mép nhô.

Ở đấy quả có một chỗ quanh co. Con cua hẳn đã trốn vào đấy. Không phải chỉ là một cái khe. Đấy là một cái cổng tò vò. Nước biển lùa vào cái cổng tò vò này, nhưng nước ở đây không sâu.

Dưới đáy đầy đá cuội. Những hòn cuội này màu lam lục và được ti tảo phủ kín, như vậy chứng tỏ chúng không bao giờ bị khô cạn. Chúng giống như thóp trẻ con với những sợi tóc xanh.

Gilliatt cắn chặt con dao, từ trên vách đá dùng cả tay lẫn chân nhảy xuống. Nước ngập đến tận vai.

Anh chui qua cái cổng. Anh đứng trong một hành lang mòn nhẵn, trên đầu là một mái vòm hình cung nhọn sơ phác. Vách núi vừa nhẵn vừa trơn. Không thấy con cua đâu nữa. Chân anh chạm đất. Anh lần bước trong ánh sáng nhạt dần, và bắt đầu không nhận thấy gì nữa.

Được độ mười lăm bước, không còn mái vòm trên đầu. Anh đã ra khỏi hành lang. Khoảng không rộng hơn, do đó có nhiều ánh sáng hơn; vả lại đôi con ngươi của anh đã giãn to; anh trông thấy khá rõ. Anh bỗng ngạc nhiên.

Anh lại vừa lần vào cái hầm kỳ dị mà tháng trước anh đã được vào thăm.

Có điều lần này anh vào theo nước biển.

Cái nhịp cầu mà hôm ấy anh đã trông thấy chìm sâu dưới nước thì hôm nay anh vừa đi qua. Gặp một số trường hợp triều thấp, có thể qua lại dưới vòm cầu.

Mắt anh quen dần. Mỗi lần anh nhìn thấy mỗi rõ hơn. Anh rất đỗi ngạc nhiên. Lại cái lâu đài bóng tối kỳ lạ kia, mái vòm kia, những cột trụ kia, những máu me hay những màu đỏ kia, số cây cỏ đầy ngọc quí kia, và ở đấy, cái hầm mộ gần như thánh điện kia, và vẫn tấm đá gần như bàn thờ kia.

Anh không nhận rõ những chi tiết ấy lắm, nhưng trong trí óc anh có được cái đại thể, và anh đang nhìn thấy lại nó.

Trước mặt, hơi cao trên vách núi, anh lại nhìn thấy cái khe hở mà qua đó anh đã chui vào lần đầu, và từ điểm anh dừng lúc này, nó lại có vẻ như không thể đến gần được.

Cạnh cái vòm cầu hình cung nhọn anh lại nhìn thấy những hang động thấp và tối om, những loại hốc nhỏ trong hầm mà anh đã quan sát từ xa. Lúc này anh đứng ngay cạnh chúng. Cái gần anh nhất khô và dễ đến.

Gần hơn cái lỗ trũng ấy nữa, bên trên mức nước, ngay tầm tay, anh nhận thấy một cái khe nằm ngang trong lớp đá hoa cương. Con cua chắc hẳn nằm trong ấy. Anh cố sức thọc nắm tay vào thật sâu, và bắt đầu sờ soạng trong cái lỗ tối om ấy.

Thình lình anh cảm thấy bị nắm chặt lấy cánh tay. Cảm giác của anh lúc này là một nỗi hãi hùng không thể nào tả nổi.

Một vật gì mong mỏng, nham nhám, bèn bẹt, lạnh buốt, bầy nhầy, sống động, vừa quằn quại trong bóng tối quanh cánh tay trần của anh. Nó đang lần về phía ngực anh. Nó thít chặt như một sợi cu-roa và thúc mạnh như một mũi khoan. Không đầy một giây, một loại dây xoắn ốc đã quấn hết cổ tay, khuỷu tay và chạm đến vai. Mũi nhọn đang sục vào nách.

Gilliatt liền ngả người ra phía sau, nhưng anh cựa quậy hết sức khó khăn. Anh như người bị ghìm chân tại chỗ. Bằng bàn tay trái còn được tự do, anh nắm lấy con dao ngậm giữa hai hàm răng, và bằng bàn tay ấy, cầm dao, chống vào núi, với một cố gắng tuyệt vọng để rút cánh tay ra. Anh chỉ làm cho sợi dây chằng lo ngại một chút, rồi nó lại siết chặt hơn. Nó mềm như da thuộc, chắc như thép, lạnh như đồng.

Một dải da khác, hẹp và nhọn, từ trong khe đá bò ra. Y hệt một cái lưỡi thè ra khỏi mõm. Nó liếm vào bộ ngực trần của Gilliatt một cách khủng khiếp, rồi thình lình vươn dài, vô tận, thanh mảnh, nó dán chặt vào da anh, và quấn lấy cả người anh.

Cùng lúc ấy, một nỗi đau chưa từng thấy, không thể so sánh với bất cứ gì, làm cho những cơ bắp co quắp của Gilliatt nổi lên. Anh cảm thấy trên da anh có những chỗ lõm sâu xuống, tròn tròn, ghê rợn. Hình như có vô vàn cái môi, dán chặt vào da thịt, đang tìm cách uống máu anh.

Một dải da thứ ba vờn lượn bên ngoài vách núi, sờ nắn người Gilliatt, và quất vào mạn sườn anh như một sợi thừng. Nó bấu chặt vào đấy.

Đạt đến điểm tột cùng, lo âu bao giờ cũng câm lặng! Gilliatt không kêu. Ánh sáng đủ để anh có thể nhìn thấy những hình thù ghê tởm dán chặt trên người anh. Một sợi dây trói thứ tư, sợi này nhanh như tên bắn, bay vút vào bụng anh và quấn quanh vào đấy.

Không có cách nào cắt hoặc gỡ được những sợi gây cu-roa nhờn nhờn kia đang dính chặt vào người Gilliatt và bằng rất nhiều điểm. Mỗi điểm này là một trung tâm nhức nhối khủng khiếp lạ kỳ. Đấy là cảm giác của người cùng một lúc bị một loạt mồm rất nhỏ nuốt.

Một dải thứ năm từ trong hốc đá phụt ra. Nó nằm chồng lên những giải trước và đến quấn quanh hoành cách mô của Gilliatt. Sức ghì cộng thêm với nỗi lo; Gilliatt gần như không thở nổi.

Các dải da ấy, đầu nhọn hoắt, cứ rộng gần như những lưỡi gươm về phía đốc. Tất cả năm dải dĩ nhiên đều thuộc vào một tâm điểm. Chúng trườn bò trên người Gilliatt. Anh cảm thấy những sức ép tối tăm ấy di chuyển giống như những cái mồm.

Thình lình một khối to nhầy nhụa, tròn tròn, bèn bẹt, từ dưới khe đá nhô ra. Đấy là tâm điểm; năm dải da ăn liền vào đấy như những nan hoa châu đầu vào một cái trục; ở phía đối diện của cái đĩa gớm ghiếc ấy, người ta nhận thấy chỗ bắt đầu của ba cái vòi khác vẫn còn nằm trong hốc núi.

Giữa khối nhầy nhụa ấy có hai con mắt đang nhìn.

Những con mắt ấy đã trông thấy Gilliatt.

Gilliatt chợt nhận ra con thuồng luồng.

II CON QUÁI VẬT

Muốn tin có thuồng luồng, cần phải được nhìn thấy nó.

So sánh với thuồng luồng, những con long sư[1] ngày xưa khiến người ta phải mỉm cười.

Có những lúc, người ta cũng thích nghĩ như thế, cái không thể nắm bắt được vẫn bềnh bồng trong những giấc mộng của chúng ta gặp những khối nam châm, vương vào đấy, và từ những điểm dính chặt tối tăm trong mơ ấy thoát ra những con vật. Tạo hóa liền hóa phép dùng chúng để tạo nên con vật kỳ quái. Orphée, Homère và Hésiode chỉ có thể tạo ra con long sư; Chúa đã sinh ra con thuồng luồng.

Lúc nào Chúa muốn, thì Người trở thành kiệt xuất về phương diện gớm guốc.

Tại sao lại muốn như thế, đó là điều khiến cho nhà tư tưởng đứng đắn phải hãi hùng.

Khi mà tất cả mọi lý tưởng đều được chấp nhận, nếu khủng khiếp cũng là một mục đích, thì thuồng luồng quả là một kiệt tác.

Cá voi có bề to, thuồng luồng chỉ nhỏ bé; hà mã có áo giáp, thuồng luồng lại trần trụi; rắn độc Nam Mỹ có lối phì phì, thuồng luồng luôn luôn câm lặng; tê giác có một cái sừng, thuồng luồng không có; bọ cạp có nọc, thuồng luồng không có; con buthus có càng, thuồng luồng không có; khỉ châu Mỹ có đuôi nắm bắt như tay, thuồng luồng không có; cá mập có vây sắc, thuồng luồng không có; dơi biển có cánh mỏng, thuồng luồng không có cánh; con nhím có chông, thuồng luồng không có; cá kiếm có gươm, thuồng luồng không có; cá điện-ngư có sét, thuồng luồng không phóng điện; cóc có siêu vi trùng, thuồng luồng không có; rắn hổ mang có nọc độc, thuồng luồng không có; sư tử có vuốt, thuồng luồng không có; con grapete có mỏ, thuồng luồng không có; cá sấu có răng, thuồng luồng không có răng.

Thuồng luồng không có thịt, không có tiếng kêu đáng sợ, không áo giáp, không sừng, không nọc, không càng, không có đuôi nắm bắt hay làm sừng tím, không có ngạnh sắc, không ngạnh móng, không có chông, không kiếm, không phóng điện, không siêu vi trùng, không nọc độc, không có vuốt, không mỏ, không răng. Trong tất cả mọi giống vật, thuồng luồng là giống được vũ trang khủng khiếp nhất.

Vậy thuồng luồng là gì? Là cái bầu giác.

Trong các bãi ngầm giữa biển khơi, nơi mà nước phơi bày và che giấu tất cả mọi vẻ huy hoàng của nó, trong các hốc núi không ai đến, trong các hang hầm không ai biết, nơi đầy rẫy cây cỏ, tôm cua và sò hến, dưới những cổng sâu của đại dương, người bơi lội nào mạo hiểm vào đấy, do cảnh đẹp lôi cuốn, đều có nguy cơ được gặp. Nếu bạn gặp, thì chớ có tò mò, bạn hãy thoát ra ngay. Bước vào hoa mắt, đi ra hãi hùng.

Cuộc gặp gỡ ấy, luôn luôn có thể có trong các hòn núi ngoài khơi, diễn biến như sau:

Một hình thù xầm xám, đu đưa trong nước, nó to như cánh tay, và dài độ hơn nửa mét; nó là một mảnh giẻ rách; hình thù ấy giống như một cái ô cụp không cán. Mảnh vải tả tơi ấy từ từ tiến về phía bạn. Đột nhiên, nó xòe ra, tám nan hoa đột ngột tách ra xung quanh một cái mặt có hai con mắt; những nan hoa này sống động; vừa uốn lượn chúng vừa rực sáng, đấy là một thứ bánh xe; xòe ra nó rộng đến gần hai mét đường kính. Một sự hớn hở khủng khiếp. Nó lao thẳng về phía bạn.

Con giao long tóm bắt con người.

Con vật này dán chặt vào mồi, phủ kín và quấn chặt lấy mồi bằng những dải dài. Phía dưới, nó vàng vàng, phía trên màu đất; không gì có thể miêu tả nổi cái sắc thái đất bụi kỳ dị ấy; y như một con vật bằng gio sống dưới nước, về hình dáng nó là loài nhện, về màu sắc nó là tắc kè nhông. Tức giận, nó lại chuyển sang màu tím. Khủng khiếp nhất, nó lại mềm mềm.

Nó mà quấn thì như trói chặt; nó đã chạm vào đâu thì ở đó tê liệt.

Nó có vẻ như mắc bệnh hoạt huyết và hoại thư. Đó là thứ bệnh dẫn đến quái trạng.

Nó là vật không thể nào rứt gỡ ra được. Nó bám chắc vào con mồi. Bằng cách nào? Bằng chân không. Tám cái vòi, ở gốc thì to rồi cứ nhỏ dần và kết thúc thành hình kim nhọn. Dưới mỗi vòi, hai dãy mụn tròn nhỏ dần, xếp thành hàng dài song song, mụn to ở cạnh đầu, mụn nhỏ phía đuôi nhọn. Mỗi dãy có hai mươi lăm mụn; mỗi vòi có năm chục mụn, và toàn bộ con vật có bốn trăm mụn. Những mụn ấy là những bầu giác.

Những bầu giác ấy là những đoạn xương sụn hình ống, cũng như sừng, màu xanh nhợt. Ở những giống to, chúng nhỏ dần, từ đường kính đồng năm frăng đến chiều to một thấu kính. Những đoạn ống này từ trong thân con vật thò ra rồi lại thụt vào. Chúng có thể cắm sâu vào con mồi đến gần ba phân.

Bộ máy hút đó tinh vi như một dãy phím đàn. Nó nhô lên rồi lại thụt mất. Nó tuân theo từng ý muốn nhỏ nhất của con vật. Những cảm xúc tinh tế nhất cũng không bì kịp khả năng co rút của hệ thống bầu giác này, luôn luôn ăn khớp với những động tác bên trong con vật và với những sự việc xảy ra bên ngoài. Con rồng này là một cây trinh nữ.

Giống vật kỳ quái ấy là giống vật mà dân miền biển gọi là bạch tuộc, khoa học gọi là giống túc-đầu, và truyền thuyết gọi là mực ma. Thủy thủ Anh gọi nó là Devil-fish, con cá ma. Họ cũng gọi nó là Blood-sucker, con hút máu. Trong các đảo vùng biển Manche, người ta gọi nó là thuồng luồng.

Ở Guernesey nó rất hiếm, ở Jersey rất nhỏ, ở Serk lại rất to và khá nhiều.

Một bức tranh khắc gỗ trong tác phẩm Buffon của Sonnini về một con túc-đầu quấn chặt một chiếc thuyền buồm. Denis Montfort nghĩ rằng thực sự bạch tuộc ở những vĩ tuyến cao có sức nhấn chìm một chiếc tàu. Bory Saint-Vincent phủ nhận điều ấy, nhưng lại công nhận rằng tại những vùng chúng ta ở nó tấn công vào người. Bạn cứ đến Serk, người ta sẽ chỉ cho bạn ở gần Brecq-Hou cái hõm núi nơi có một con thuồng luồng, cách đây mấy năm, đã tóm, giữ và dìm chết một người chuyên bắt tôm hùm. Péron và Lamarck sai lầm khi họ nghi ngờ khả năng bơi lội của bạch tuộc, vì chúng không có vây.

Người viết những dòng này đã chính mắt trông thấy ở Serk trong cái hang gọi là Hang Cửa Hàng, một con thuồng luồng bơi đuổi theo một người đi tắm. Bị giết chết, đem đo, nó sải rộng đến hơn một mét, và người ta đếm được bốn trăm vòi hút. Con vật hấp hối quằn quại đùn hết vòi ra ngoài.

Theo Denis Montfort, một trong những nhà quan sát mà trực giác cao siêu đã dẫn xuống hoặc dẫn lên đến thuyết yêu thuật, thì bạch tuộc có những tình cảm gần giống như người: bạch tuộc cũng biết căm thù. Đúng thế, nói một cách tuyệt đối, ghê tởm, tức là căm thù.

Con vật dị hình vùng vẫy do một sự cần thiết phải loại trừ khiến nó trở thành thù nghịch.

Có thể nói là lúc bơi, thuồng luồng nằm trong vỏ. Nó bơi, bao nhiêu nếp nhăn siết chặt. Ta hãy hình dung một cái cán khâu kín với một nắm tay bên trong. Nắm tay ấy, là cái đầu, đẩy nước ra và tiến tới bằng một động tác sóng lượn mơ hồ. Hai mắt nó, mặc dầu to, không rõ lắm, vì giống hệt màu nước.

Lúc đi săn mồi hoặc rình nấp, thuồng luồng thường lẩn lút; nó tự thu nhỏ, tự cô đúc lại, trở về hình thức giản đơn nhất. Nó lẫn với ánh sáng mờ mờ. Nó có vẻ như một nếp sóng gợn. Nó giống tất cả, trừ cái gì sống động.

Thuống luồng là tên giả dối. Người ta không để ý đến nó; thình lình, nó xòe ra.

Một khối nhầy nhụa có ý chí, còn gì hãi hùng hơn: Một chất nhựa tràn ngập căm thù.

Chính giữa làn nước trong xanh đẹp nhất, thì cái ngôi sao phàm ăn ghê tởm ấy của biển cả xuất hiện. Nó không đến gần, thế mới khủng khiếp. Hầu như lúc nào cũng vậy, vừa thấy nó là người ta đã bị tóm chặt.

Tuy nhiên, ban đêm, và đặc biệt trong mùa giao hoan, nó lấp lánh ánh lân tinh. Cái của ghê tởm ấy cũng biết chuyện yêu đương. Nó chờ đợi cuộc ái ân. Nó cũng làm đỏm, tự thắp sáng, tự chăng đèn, và từ trên đỉnh cao một ngọn núi nào đó, người ta có thể nhìn thấy nó ở phía dưới, trong tăm tối dày đặc, xòe nở thành một khối phát quang xanh nhợt, ảo ảnh của mặt trời.

Thuồng luồng bơi, và nó cũng đi. Nó gần giống như cá, nhưng không phải vì thế mà nó không gần giống loài bò sát. Nó bò dưới đáy biển. Lúc đi nó sử dụng tám chân. Nó lê mình theo kiểu sâu đo.

Nó không có xương, không có máu, không có thịt. Nó nhũn nhùn nhùn. Chẳng có gì ở bên trong cả. Đó là một lớp da. Ta có thể lộn trái cả tám cái vòi của nó từ trong ra ngoài như các ngón găng tay. Nó chỉ có một cái lỗ, ở giữa điểm phát tỏa. Chỗ đứt quãng duy nhất ấy có phải là hậu môn không? Có phải là mồm không? Cả hai.

Cùng một lỗ thủng mà hai chức năng. Lối vào cũng là lối ra. Toàn bộ con vật lạnh buốt.

Cái giống ăn thịt sống ở Địa Trung Hải đó thật ghê tởm. Thật là gớm guốc khi chạm vào cái chất gélatine sống động bao bọc người thợ lặn đó, có thể ấn sâu bàn tay, lấy móng tay cào xé mà nó vẫn không chết, có thể giật rách mà không rứt nó ra được, một giống trơn tuột, dai dẳng, lọt qua kẽ tay; nhưng không sửng sốt nào có thể so sánh với lúc thuồng luồng xuất hiện đột ngột đó là nữ thần Méduse được tám con rắn phục vụ.

Không gì nắm chắc như khi con túc-đầu ôm chặt.

Đấy là cái máy rút không khí đang tấn công bạn. Bạn gặp phải cái máy chân không mà lại có cẳng. Không cho không cắn; một kiểu rạch da rất khó tả. Cắn thì dễ sợ; nhưng còn kém hơn hút. Bên cạnh cái bầu giác thì móng vuốt chẳng nghĩa lý gì. Móng vuốt, là con vật cắm sâu vào da thịt bạn; còn bầu giác, thì chính bạn chui sâu vào con vật. Các cơ bắp bạn phồng lên, các thớ thịt bạn xoắn lại, da bạn nứt ra dưới một sức ép bẩn thỉu, máu huyết bạn phọt ra và hòa lẫn một cách khủng khiếp vào bạch huyết của cái giống nhuyễn thể kia. Con vật nằm chồng lên bạn bởi hàng nghìn cái mồm ghê tởm; giao long nhập vào con người, người kết hợp với giao long. Bạn chỉ còn là một. Cảnh mộng ấy đang ở trên người bạn. Con hổ chỉ có thể ăn tươi nuốt sống bạn; con bạch tuộc, khủng khiếp quá, hút bạn. Nó kéo bạn về phía nó, vào trong nó; bị trói chặt, bị dính vào bẫy, bất lực, bạn tự cảm thấy mình bị rút rỗng từ từ vào trong cái bị khủng khiếp ấy, trong một con quái vật.

Bên kia cái cảnh hãi hùng, bị ăn tươi, có cái cảnh không thể nào tả được, bị uống sống.

Những con vật kỳ quái này, thoạt đầu khoa học loại trừ chúng, theo thói quen quá dè dặt, kể cả đối với sự việc, sau đó mới quyết định nghiên cứu chúng; khoa học mổ xẻ, phân loại, xếp thứ tự, dán cho chúng một nhãn hiệu; nó cố tìm được một ít vật mẫu; trưng bày trong tủ kính các nhà bảo tàng; thế là chúng được đưa vào danh mục; khoa học gọi chúng và vật nhuyễn thể, không xương sống, bức trạng; nó nhận thấy chúng cũng có họ hàng: bên kia mực ma một tí, bên này mực nang một tí; khoa học tìm ra cho loại giao long nước mặn này một con vật tương tự ở nước ngọt, con nhện nước; nó chia chúng ra loại to, loại vừa và loại nhỏ; nó công nhận loại nhỏ một cách dễ dàng hơn loại to, vả lại, trong tất cả mọi lĩnh vực, đây cũng là khuynh hướng chung của khoa học, vốn thích kính hiển vi hơn kính viễn vọng; nó nhìn cách cấu tạo của chúng và gọi chúng là loại túc-đầu, nó đếm số vòi và gọi chúng là loại tám chân. Thế rồi, nó để chúng đấy. Nơi nào khoa học buông ra, triết học lại tóm lấy.

Đến lượt triết học nghiên cứu những giống vật ấy. Nó đi vừa gần hơn vừa xa hơn khoa học. Nó không mổ xẻ chúng, nó ngẫm nghĩ về chúng. Nơi nào con dao mổ đã lách qua, thì nó nhét giả thuyết vào. Nó tìm kiếm nguyên nhân cơ bản. Nỗi băn khoăn sâu sắc của nhà tư tưởng. Những tạo vật ấy khiến cho nhà tư tưởng gần như lo ngại về Tạo hóa. Chúng là những hiện tượng bất ngờ ghê tởm. Chúng là những kẻ phá quấy người chiêm ngưỡng. Người chiêm ngưỡng cuống cuồng nhận thấy chúng. Chúng là những hình dạng có dụng ý của cái ác. Rồi sẽ ra sao đây trước những điều tự báng bổ này của Tạo hóa? Đổ lỗi cho ai?

Cái Có-Thể là một người mẹ quá quắt. Huyền bí cụ thể hóa thành quái vật. Một số mảng tối thoát ra từ cái khối ấy, từ sự tự tại, tự xé rách, tự tách ra, lăn chuyển, bềnh bồng, cô đọng lại, vay mượn thêm bóng đen xung quanh, chịu đựng những phân cực lạ lùng, nhận được sinh khí, hợp với bóng tối có được một hình dáng nào đó, hợp với uế khí có được một linh hồn nào đó, và bước đi, qua cảnh sinh tồn, như những loài sâu bọ. Một cái gì như tăm tối họa thành súc vật. Ích lợi gì? Như thế để làm gì? Lại vẫn rơi vào vấn đề muôn thuở.

Những con thú ấy quái vật bao nhiêu thì ma quái bấy nhiêu. Chúng vừa được chứng giải, vừa không chắc có. Tồn tại là việc dĩ nhiên của chúng, không tồn tại sẽ là quyền của chúng. Chúng là loài lưỡng thể của sự chết. Tính chất vô lý của chúng khiến cho sự tồn tại chúng thêm phức tạp. Chúng ở gần biên giới con người và ở đây trong ranh giới quái vật. Bạn không tin có ma cà rồng, thuồng luồng xuất hiện, cảnh chúng lúc nhúc là một thực tế làm cho tin tưởng của chúng ta phải ngỡ ngàng. Tính lạc quan, tuy thật đấy, nhưng đứng trước mặt chúng cũng đâm ra như mất bình tĩnh. Chúng là chỗ tận cùng có thể nhìn thấy được của những vòng đen. Chúng đánh dấu sự nối tiếp giữa thực tế của chúng ta với một thực tế khác. Dường như chúng thuộc vào chỗ bắt đầu những con vật khủng khiếp mà người mơ mộng thoáng thấy lờ mờ qua cái cửa hầm của đêm tối.

Những phần nối tiếp của lũ quái vật ấy, thoạt tiên trong chỗ vô hình, tiếp đó trong chỗ có thể có, đã được người ta ngờ đến, có lẽ trông thấy nữa, nhờ sự xuất thần nghiêm khắc và con mắt bất động của các đạo sĩ và các triết gia. Vì vậy mà có việc phỏng đoán về địa ngục. Ma là Con hổ của Vô Hình. Con dã thú của các linh hồn đã bị hai người mộng tưởng tố giác với nhân loại, một người tên là Jean, một người là Dante.

Nếu quả thật những vòng tròn bóng tối cứ tiếp tục vô cùng tận, nếu hết vòng này lại có vòng khác, nếu điều gia tăng này cứ kéo dài theo lũy tiến vô hạn, nếu sợi xích ấy, về phần ta chúng ta quyết nghi ngờ, mà có thật, thì chắc chắn, con thuồng luồng ở đầu này chứng minh là có Satan đầu kia.

Chắc chắn tên ác hiểm ở đầu này chứng minh là ở đầu kia có sự hiểm độc.

Mọi con vật hung dữ, cũng như mọi trí tuệ bất chính, đều là con nhân-sư.

Nhân sự khủng khiếp đặt câu hỏi bí ẩn khủng khiếp. Bí ẩn của cái Ác.

Chính tính hoàn chỉnh này của cái Ác đôi khi đã làm cho những đầu óc vĩ đại ngả về phía tin tưởng vị thần đôi, về phía pho tượng hai mặt dễ sợ của những người theo phái nhị nguyên giáo[2].

Một bức trướng Trung Quốc, lấy được nhân cuộc chiến tranh vừa qua trong cung điện hoàng đế Trung Hoa, thêu con cá mập ăn cá sấu, cá sấu ăn rắn, con rắn ăn đại bàng, con đại bàng ăn chim én, chim én ăn sâu.

Toàn bộ thiên nhiên trước mắt chúng ta đều ăn nhau và bị nhau ăn. Vạn vật tương tàn.

Trong khi ấy các nhà thông thái, vốn cũng là những triết gia, và vì vậy có hảo ý đối với công cuộc sáng tạo, tìm ra được hoặc tưởng tìm ra được cách giải thích.

Tựu trung, mục đích cuối cùng đánh vào Bonnet de Genève, con người đúng mực bí hiểm được viện ra để so sánh với Buffon, cũng như về sau Geoffroy Saint-Hilaire được viện ra để so sánh với Cuvier. Câu giải thích sẽ như sau: cái chết khắp nơi đòi hỏi khắp nơi phải chôn vùi. Quân phàm ăn là quân chôn người.

Tất cả mọi sinh vật đều con nọ chui vào bụng con kia. Vật thối ruỗng là vật phẩm để ăn. Đó là cảnh thanh trừng rùng rợn của trần gian. Con người là giống ăn thịt, bản thân nó cũng là một kẻ chôn người. Cuộc sống chúng ta bao gồm cả cái chết. Đấy là quy luật khủng khiếp. Chúng ta đều là những hầm mộ.

Trong thế giới tranh tối tranh sáng này của chúng ta, định mệnh của trật tự tạo ra những quái vật. Bạn hỏi: để làm gì? Thì đấy.

Có phải đó là câu giải thích không? Có phải đó là câu trả lời cho câu hỏi không? Nếu vậy, tại sao lại không phải là một trật tự khác? Câu hỏi lại được đặt lại.

Thôi được, chúng ta cứ sống.

Nhưng chúng ta hãy cố làm sao để cái chết đối với chúng ta phải là một sự tiến bộ. Chúng ta hãy vươn lên những thế giới ít tối tăm hơn.

Chúng ta hãy đi theo lương tâm đang dẫn dắt chúng ta đến đấy.

Vì, chúng ta chớ bao giờ quên, cái tốt hơn hết chỉ được tìm thấy nhờ cái tốt nhất.

III MỘT HÌNH THỨC CHIẾN ĐẤU KHÁC DƯỚI VỰC THẲM

Đấy là con vật đang nắm giữ Gilliatt từ nãy đến giờ.

Con vật kỳ quái ấy là chủ nhân cái động này. Nó là vị thổ thần khủng khiếp. Một thứ yêu ma đen tối của nước.

Tất cả mọi cảnh huy hoàng ấy đều lấy rùng rợn làm trung tâm.

Tháng trước, ngày mà Gilliatt bước vào hang động này lần đầu tiên, cái khối đen có hình dáng, mà anh thấy thấp thoáng qua những gợn nước lăn tăn bí mật, chính là con thuồng luồng đó.

Nó ở đấy trong nhà nó.

Lúc Gilliatt, vào hầm này lần thứ nhì, đuổi theo con cua, trông thấy cái khe mà anh nghĩ là nơi cua lẩn trốn, thì con thuồng luồng nằm trong cái lỗ ấy, đang rình.

Người ta có thể hình dung ra cái cảnh chờ đợi này không?

Không một con chim nào dám nằm ấp, không một quả trứng nào dám nở, không một bông hoa nào dám hé nụ, không một lồng ngực nào dám cho bú, không một trái tim nào dám yêu đương, không một trí óc nào dám bay bổng, nếu người ta nghĩ đến những cảnh kiên trì nham hiểm ẩn nấp trong vực thẳm.

Gilliatt đã thọc cánh tay vào lỗ, con thuồng luồng đã chộp lấy anh.

Nó đang giữ chặt anh.

Anh là con mồi của con nhện đó.

Gilliatt đang đứng dưới nước, ngập đến thắt lưng, hai bàn chân bấm vào những tảng đá tròn trơn, cánh tay phải bị ghì chặt và chịu chết trong những vòng quấn bèn bẹt của các dải thuồng luồng, và lồng ngực hầu như biến mất dưới những nếp băng chằng chịt rùng rợn ấy.

Trong số tám cánh tay thuồng luồng, ba cánh bám chặt vào vách núi, năm cánh bám chặt vào Gilliatt. Bằng cách ấy, một phía bấu chắc hoa cương, một phía bấu chắc vào con người, nó xích chặt Gilliatt vào quả núi. Gilliatt có trên mình hai trăm năm mươi cái miệng hút. Hoàn cảnh phức tạp vừa lo sợ vừa ghê tởm. Bị nắm chặt trong một nắm tay khác thường mà các ngón đàn hồi, dài gần một mét, lại đầy những cái mồm sống động ở mặt trong, cứ ngó ngoáy vào da thịt.

Như chúng tôi đã nói, không bao giờ có thể dứt ra khỏi thuồng luồng. Nếu thử dứt thì càng bị trói chặt hơn. Thuống luồng chỉ càng siết khỏe hơn. Cố gắng của nó tăng theo cố gắng của bạn. Càng cựa khỏe càng thúc đẩy thít khỏe.

Gilliatt chỉ còn mỗi một phương tiện: con dao của anh.

Anh chỉ có bàn tay trái tự do, nhưng ta biết là anh sử dụng tay trái rất khỏe. Có thể nói anh có hai bàn tay phải.

Con dao anh mở sẵn, vẫn nằm trong bàn tay ấy.

Không ai cắt vòi thuồng luồng cả; đấy là một loại da không thể nào cắt đứt được, nó trơn chuội dưới lưỡi dao; vả lại nó chồng chéo một cách mà nếu cắt những sợi dây ấy thì sẽ phạm vào thịt.

Bạch tuộc thật dễ sợ; tuy vậy cũng có một cách đánh nó. Các ngư dân vùng Serk đều nắm vững cách ấy; ai đã từng thấy họ thực hành ngoài biển một vài động tác đột ngột đều biết. Những con cá heo cũng nắm vững cách ấy; chúng có một lối cắn đứt ngang cổ cá mực. Vì vậy mà ta thấy tất cả những con mực ma, cá mực và những con bạch tuộc không đầu ngoài khơi.

Đúng thế, điểm yếu duy nhất của bạch tuộc là cái đầu.

Điều đó Gilliatt không phải không biết.

Anh chưa bao giờ trông thấy một con thuồng luồng cỡ ấy. Ngay lần đầu, anh đã chạm trán với loại to. Một người khác thì đã hoảng hốt.

Đối với thuồng luồng, cũng như đối với bò mộng, có một thời cơ phải nắm lấy ngay; đấy là lúc bò mộng cúi cổ, đấy là lúc thuồng luồng vươn đầu tới, một giây lát chớp nhoáng. Ai để lỡ mất thời cơ trọng yếu ấy thì chỉ có chết.

Tất cả những điều vừa nói xong chỉ diễn ra trong có vài phút. Tuy vậy Gilliatt cũng cảm thấy sức hút của hai trăm năm mươi cái bầu giác mạnh dần.

Thuồng luồng là giống phản trắc. Nó có làm cho con mồi của nó phải sững sờ. Nó tóm chặt, rồi cứ nằm chờ thật lâu.

Gilliatt vẫn nắm con dao. Các điểm hút ngày càng hút mạnh.

Anh nhìn con thuồng luồng, con thuồng luồng cũng nhìn anh.

Thình lình con vật tách cái vòi thứ sáu ra khỏi vách đá, và tung nó vào người Gilliatt, cố nắm lấy cánh tay trái anh.

Đồng thời nó lao mạnh đầu tới. Một giây nữa, cái mồm-hậu môn của nó sẽ áp lên ngực Gilliatt. Máu chảy ở sườn, và hai cánh tay bị trói chặt, Gilliatt thế là chết.

Nhưng Gilliatt vẫn tỉnh táo. Bị rình chờ, anh cũng rình chờ.

Anh tránh cái vòi, và đúng lúc con vật sắp ngoạm vào ngực anh thì nắm tay cầm dao của anh bập xuống con vật.

Hai kiểu quằn quại ngược chiều, một của con thuồng luồng và một của Gilliatt. Y như cuộc chiến đấu của hai tia chớp.

Gilliatt thọc sâu mũi dao vào cái khối nhầy nhụa bèn bẹt, và bằng một động tác khoanh tròn như lối xoắn của một ngọn roi da, anh vẽ một vòng tròn quanh hai con mắt, anh nhổ bật cái đầu ra như nhổ một cái răng.

Thế là xong!

Toàn bộ con vật đổ xuống.

Y hệt một miếng vải rời ra. Cái bơm hút bị trừ bỏ, chân không không còn. Trăm bầu giác cùng một lúc nhả vách đá và con người ra. Mảnh giẻ chìm xuống đáy nước.

Gilliatt, hổn hển vì chiến đấu, có thể nhìn thấy dưới chân, trên lớp đá hai đống gelatine dị hình, một bên cái đầu, một bên chỗ còn lại. Chúng tôi nói chỗ còn lại, vì không thể nói là cái thân.

Tuy vậy, sợ con vật còn giãy chết, Gilliatt vẫn lùi xa khỏi tầm các vòi.

Nhưng con vật đã chết thật.

Gilliatt xếp dao lại.

IV CHẲNG CÓ GÌ GIẤU ĐƯỢC, CHẲNG CÓ GÌ MẤT HẲN

Đúng lúc anh phải giết con thuồng luồng, anh hầu như bị nghẹt thở; cánh tay phải và lồng ngực anh tím bầm; hơn hai trăm chỗ sưng tấy; đây đó máu rỉ ra ở một vài chỗ. Phương thuốc chữa các vết thương ấy là nước mặn. Gilliatt liền hụp xuống nước. Đồng thời anh lấy lòng bàn tay xoa xát khắp người. Xoa đến đâu các chỗ sưng mất dần đến đấy.

Vừa lùi vừa hụp sâu xuống nước, anh đến gần mà không biết, chỗ lỗ trũng anh đã để ý, cạnh cái kẽ hở nơi anh bị thuồng luồng tung vòi ra bắt giữ.

Lỗ trũng này cạn khô và kéo dài chênh chếch bên dưới những bức vách lớn của hầm. Những hòn đá dồn đống ở đấy đã tôn đáy hầm lên cao hơn mức nước triều bình thường. Chỗ hõm đó là một cái khung tò vò thấp khá rộng; một người cúi lom khom có thể chui vào đấy. Ánh sáng xanh mờ của cái hang dưới nước lọt vào đấy và soi sáng nó một cách yếu ớt.

Đang xoa vội trên mặt da sưng phù, Gilliatt bỗng vô tình ngước mắt lên.

Mắt anh dõi sâu vào lỗ trũng.

Anh bỗng rùng mình.

Ở tận cùng cái hốc trong bóng tối, hình như anh thấy có một cái gì như một cái mặt đang cười.

Gilliatt không biết từ ngữ ảo giác, nhưng hiện tượng thì anh biết. Những chuyện gặp gỡ bí mật vô lý mà, để giải thích, chúng ta thường gọi là ảo giác, vẫn xảy ra trong thiên nhiên. Không biết ảo mộng hay thực tế, nhưng vẫn có một số hình ảnh đi qua. Kẻ nào đứng trong hoàn cảnh khắc thấy. Chúng ta đã nói, Gilliatt vốn là con người trầm tư. Anh vĩ đại ở chỗ đôi khi cũng có ảo giác như một nhà tiên tri. Người mơ mộng ở những nơi hoang vắng không thể không bị trừng phạt.

Anh tin vào một trong những ảo ảnh, mà vốn hay đi đêm như anh, nhiều lần anh đã phải rụng rời.

Lỗ hõm gần giống một lò vôi. Đấy là một cái cũi chó thấp hình quai giỏ, mà những đường vòm dựng đứng cứ thu hẹp dần cho đến chỗ tận cùng hầm mộ, nơi đống đá và vòm núi gặp nhau, và nơi kết thúc cái ngõ cụt.

Anh chui vào đấy, cúi đầu lần sâu vào xem có những gì ở trong cùng.

Quả là có cái gì đang cười thật.

Đấy là một cái đầu người chết.

Không phải chỉ có đầu, mà cả bộ xương.

Một bộ xương người nằm trong cái hố sâu đó.

Con mắt một người dũng cảm, trong những trường hợp gặp gỡ tương tự, muốn biết rõ là thế nào.

Gilliatt liền đưa mắt nhìn quanh.

Xung quanh anh không biết cơ man nào là cua.

Cái đám cơ man này không cựa quậy. Nó có cái vẻ ngoài một ổ kiến chết. Tất cả số cua này đều nằm im. Rỗng ruột.

Đống cua rải rác đây đó, tạo thành những chòm sao dị hình trên nền đá ngổn ngang trong hố.

Gilliatt, mắt chăm chú vào chỗ khác, đã giẫm lên trên mà không hay biết.

Ở chỗ trong cùng hầm mộ, nơi Gilliatt đã lần đến, có một lớp cua dày hơn. Một đống lởm chởm, bất động, nào râu, nào cẳng, nào càng. Có nhiều cái càng mở to giương thẳng và không khép lại nữa. Những đầu lâu không cựa quậy dưới lớp vỏ gai của chúng; một số lật ngửa cho thấy phía trong rỗng huếch, xanh nhợt, cảnh chồng chất này giống như một cuộc hỗn chiến của kẻ vây thành và có cái vẻ chằng chịt của một bụi rậm.

Bộ xương người nằm ngay dưới cái đống ấy.

Dưới đống hỗn độn nào vòi nào mai ấy, người ta nhận thấy cái sọ với những khớp răng cưa của nó, những đốt xương sống, những xương đùi, xương ống chân, những ngón tay dài rõ đốt và móng. Lồng xương sườn dày đặc cua. Một trái tim nào đó đã đập trong ấy. Rêu biển phủ kín các hố mắt. Ốc sên đã để dãi dớt lại trong các hốc mũi. Vả lại trong hốc núi này không có rong, có cỏ, cũng không có một hơi gió thoảng qua. Không một cử động nào cả. Hai hàng răng đang nhe ra cười gằn.

Khía cạnh đáng sợ của vẻ cười là sự bắt chước của cái đầu lâu người chết.

Tòa cung điện cực kỳ diễm lệ này của vực thẳm, được thêu khảm bằng đủ thứ trân châu bảo ngọc của biển cả, cuối cùng đã tự bộc lộ và nói lên điều bí mật của nó. Đây là một cái hang thú, con thuồng luồng đã sống tại đây; và đây là một ngôi mộ, một con người đã yên nghỉ nơi đây.

Cảnh bất động ma quái của bộ xương và những con vật cứ chập chờn đu đưa vì ánh sáng phản hồi của những dòng nước ngầm rung rinh trên mớ xương hóa đá. Những con cua, dồn thành mớ hỗn độn khủng khiếp, có vẻ như đang kết thúc bữa ăn của chúng, số mai cua dường như đang ăn cái xác chết. Không gì kỳ quặc hơn đống sâu bọ chết ấy trên cái mồi chết ấy. Những hình ảnh nối tiếp ảm đạm sau cái chết.

Trước mắt Gilliatt là cái tủ đựng thức ăn của thuồng luồng.

Hình ảnh bi đát, nơi sự việc rùng rợn sâu sắc bị bắt gặp quả tang. Cua đã ăn người, thuồng luồng đã ăn cua.

Bên cạnh xác chết không còn lại chút quần áo nào cả. Hẳn là hắn đã bị bắt lúc trần truồng.

Gilliatt, chăm chú và quan sát, bắt đầu gạt bỏ số cua trên con người ra. Người này là thế nào? Xác chết dã được mổ xẻ một cách đáng khâm phục. Có thể nói đây là một cuộc chuẩn bị giải phẫu, toàn bộ phần thịt đều được loại bỏ; không một cơ bắp nào còn, không một cái xương nào thiếu. Nếu Gilliatt ở trong nghề, hẳn anh đã có thể nhận thấy điều đó. Những cốt mô bóc trần đều trắng, nhẵn, và như được đánh bóng. Nếu không có đây đó một đôi chỗ ty tảo bám xanh, thì đúng là ngà voi. Các lớp ngăn xương sụn đều bào gọt và giữ gìn tinh vi. Nấm mồ đã làm nên những thứ trang sức ghê rợn ấy.

Xác chết như bị chôn vùi dưới đống cua chết; Gilliatt bới nó lên.

Đột nhiên anh cúi vội xuống.

Anh vừa nhìn thấy quanh cột xương sống một thứ dây. Đấy là một sợi thắt lưng da tất nhiên thắt ở bụng người kia lúc còn sống.

Da đã mốc meo. Khóa gỉ.

Gilliatt kéo sợi thắt lưng về phía mình. Các đốt xương sống giữ lại; anh đành phải giật tung chúng ra để lấy sợi thắt lưng. Nó vẫn nguyên vẹn. Một lớp sò hến bắt đầu bám vào đấy.

Anh nắn nắn sợi thắt lưng, và cảm thấy có một vật cưng cứng vuông vuông bên trong. Không có cách nào mở được khóa. Anh liền dùng dao rạch lớp da ra.

Trong sợi thắt lưng có một cái hộp sắt nhỏ và mấy đồng tiền vàng. Gilliatt đếm được hai mươi ghine.

Cái hộp sắt là một loại hộp đựng thuốc đã cũ của thủy thủ, mở bằng lò-xo. Nó đã gỉ đen và đóng chặt cứng. Lò xo, hoàn toàn bị ôxi hóa, không bấm được nữa.

Con dao lại giúp cho Gilliatt khỏi phải lúng túng. Ấn mũi dao vào là nắp hộp bật tung.

Hộp mở ra.

Bên trong chỉ có giấy.

Một xấp giấy rất mỏng, gập làm tư, phủ kín đáy hộp. Tất cả đều ướt nhưng không hỏng. Cái hộp đóng rất khít, đã bảo vệ được chúng. Gilliatt mở xấp giấy ra.

Đấy là ba tờ bạc ngân hàng, mỗi tờ một nghìn livrơ xteclinh, tổng cộng bảy vạn năm nghìn frăng.

Gilliatt lại gập tất cả, bỏ vào hộp, lợi dụng còn một ít chỗ bỏ nốt hai mươi ghinê vào và cố gắng đóng hộp lại thật khít.

Anh bắt đầu xem xét sợi thắt lưng.

Sợi dây da, trước kia được đánh bóng phía ngoài, phía trong vẫn còn thô. Trên cái nền màu hung hung ấy có mấy chữ viết bằng mực đầu đen. Gilliatt cố mày mò và đọc được mấy chữ: Sieur Clubin.

V GIỮA QUÃNG CÁCH TỪ SÁU MƯƠI LĂM PHÂN ĐẾN MỘT MÉT RƯỠI CŨNG ĐỦ CHỖ ĐẾ CHỨA ĐỰNG CÁI CHẾT

Gilliatt lại nhét cái hộp vào thắt lưng, và bỏ sợi thắt lưng vào túi quần.

Anh để bộ xương lại cho lũ cua, cùng với con thuồng luồng chết bên cạnh.

Trong lúc Gilliatt ở cạnh con thuồng luồng và bộ xương, nước triều lên đã lại dìm ngập con đường ống đi vào. Gilliatt chỉ có thể ra bằng cách lặn xuống dưới vòm cầu. Anh thoát khỏi đây không có gì khó nhọc, anh đã biết lối ra và anh vốn có tài trong những môn thể thao dưới biển này.

Như vậy là người ta thấy được phần nào tấn bi kịch xảy ra tại đây sáu tuần trước. Một quái vật đã tóm được một quái vật. Con thuồng luồng đã bắt được Clubin.

Điều ấy, trong bóng tối khắc nghiệt, hầu như có thể gọi là kẻ cắp bà già gặp nhau, ở chốn tận cùng vực thẳm, đã có sự đụng độ giữa hai sinh mạng cấu tạo bằng chờ đợi và tăm tối, và bên này là con vật, đã trừng trị, bên kia là linh hồn. Những nền công lý ghê hồn.

Cua sống bằng xác chết, thuồng luồng sống bằng cua. Thuồng luồng chặn một con vật bơi qua, một con rái cá, một con chó, nếu có thể thì một con người, rồi hút máu, và bỏ xác chết lại dưới đáy nước. Cua là những giống bọ hung ăn xác chết của biển cả. Thịt thối thu hút chúng; chúng đến ăn cái xác chết, rồi thuồng luồng lại ăn chúng. Vật chết biến vào bụng cua, cua biển vào bụng thuồng luồng. Qui luật ấy chúng tôi đã nói rõ.

Clubin đã là miếng mồi của con thuồng luồng.

Thuồng luồng đã bắt giữ hắn lại và dìm chết hắn; sau đó cua đã ăn hắn. Một ngọn sóng nào đấy đã đẩy dạt hắn vào trong hầm, vào tận cùng cái hốc nơi Gilliatt đã tìm thấy hắn.

Gilliatt quay trở về, sục sạo trong các ngách núi, tìm kiếm hải đởm và ốc đồng tiền, chứ không thiết đến cua nữa. Anh thấy hình như anh đã ăn phải thịt người.

Vả lại anh chỉ nghĩ đến việc ăn thật no trước khi ra đi. Từ nay không có gì giữ chân anh lại. Sau những cơn bão to luôn luôn có một giai đoạn yên tĩnh đôi khi kéo dài nhiều ngày. Bây giờ không có nguy cơ gì về phía biển. Gilliatt quyết định hôm sau lên đường. Ban đêm, vì nước triều, cần canh giữ cái đập chắn giữa hai Hòn Douvres; nhưng Gilliatt tính phá cái đập ấy vào lúc tờ mờ sáng, đẩy thuyền bầu ra khỏi Hòn Douvres, và giương buồm về Saint-Sampson. Ngọn gió mát lành đang thổi, lại là gió đông nam, chính là ngọn gió anh đang cần.

Trăng tháng năm đang tiến thượng huyền; ngày đã bắt đầu dài.

Lúc Gilliatt, lần mò trong núi xong và dạ dày đã gần thỏa mãn, trở về chỗ giữa hai Hòn Douvres, nơi để chiếc thuyền bầu, thì mặt trời đã lặn, hoàng hôn lại được thêm ánh trăng mờ ảo mà người ta có thể gọi là ánh trăng lưỡi liềm; triều dâng đã đạt đến chỗ cao nhất, và đang bắt đầu xuống, ống khói cỗ máy, sừng sững trên thuyền bầu, đã được bọt bão phủ cho một lớp muối, trắng xóa dưới ánh trăng.

Gilliatt chợt nhớ ra là cơn bão ngắn đã hất vào trong thuyền nhiều nước mưa và nước biển, và nếu muốn ra đi hôm sau thì phải tát thật cạn thuyền.

Lúc rời thuyền để đi bắt cua, anh đã nhận thấy có khoảng mười lăm phân nước trong khoang. Cái gầu của anh sẽ đủ sức tát chỗ nước ấy ra ngoài.

Nhưng về đến thuyền, Gilliatt mới giật mình hoảng sợ. Trong thuyền có tới gần sáu mươi lăm phân nước.

Một việc tình cờ đáng sợ, chiếc thuyền bầu bị nước vào. Nước đã dần dần tràn vào trong lúc Gilliatt vắng mặt. Chở nặng như thế, sáu mươi lăm phân nước là một gia tăng nguy hiểm. Chỉ thêm một tí nữa là nó chìm liền. Nếu Gilliatt trở về muộn một giờ, hẳn là anh chỉ còn thấy có ống khói và cột buồm trên mặt nước.

Không có được một phút để mà cân nhắc nữa. Phải tìm cho ra lỗ rò, bịt nó lại, đoạn tát cạn thuyền hoặc ít nhất làm nhẹ bớt thuyền. Mấy cái bơm của tàu Durande đã mất hết trong trận đắm; Gilliatt chỉ còn mỗi cái gầu tát của thuyền bầu.

Trước hết tìm cho ra chỗ rò. Đấy là việc cấp bách nhất.

Gilliatt run rẩy, bắt tay ngay vào việc, không mất thì giờ nghĩ đến việc mặc lại áo nữa. Anh không còn cảm thấy đói, thấy rét nữa.

Chiếc thuyền bầu vẫn tiếp tục đầy thêm. Cũng may không có gió. Con sóng nhẹ nhất cũng có thể làm chìm nó.

Trăng lặn.

Gilliatt, mò mẫm, cúi gập quá nửa người ngập trong nước, tìm kiếm rất lâu. Cuối cùng anh phát hiện ra chỗ hổng.

Trong cơn cuồng phong, vào lúc nguy kịch mà chiếc thuyền bầu oằn xuống, chiếc thuyền vững chắc đã va thúc khá mạnh vào núi đá. Mô mỏm nhọn của Hòn Douvres Nhỏ đã làm thủng một chỗ bên mạn phải vỏ thuyền.

Tai hại thay, có thể nói là nham hiểm thay lỗ rò lại nằm cạnh giao điểm của hai thanh gỗ ghép đáy, điều này, cộng thêm với cảnh lồng lộn của cơn bão ngắn, đã không cho Gilliatt trông thấy chỗ hư hại trong lần kiểm tra tối tăm và vội vã lúc bão mạnh nhất.

Chỗ thủng nguy ngập vì chiều rộng của nó, nhưng lại làm vững tâm chỗ, mặc dầu lúc này chìm dưới mặt nước trong thuyền, nó vẫn nằm trên ngấn nước.

Vào lúc thuyền thủng, nước trong eo biển xao động mạnh, làm mất đường ngấn nước, nước đã vào trong thuyền theo chỗ vỡ; do tăng tải thuyền đã lún xuống quãng năm phân, và ngay cả sau khi lặng sóng, trọng lượng nước vào, nâng đường ngấn nước lên, đã giữ lỗ thủng ở dưới nước. Vì vậy mà nguy cơ càng cấp bách. Số nước dâng đã từ mười lăm nâng lên trên năm mươi phân. Nhưng nếu bít được lỗ rò thì có thể tát cạn thuyền; một khi thuyền không rỉ, nó sẽ nổi lên đến ngấn nước bình thường, chỗ vỡ sẽ nằm ngoài nước và, khô cạn, việc sửa chữa sẽ dễ dàng hay ít ra có thể làm được. Như chúng tôi đã nói, Gilliatt vẫn còn một số đồ nghề thợ mộc khá tốt.

Nhưng trước khi đạt đến chỗ ấy còn biết bao bấp bênh! Biết bao nguy hiểm! Biết bao chuyện không may! Gilliatt vẫn nghe tiếng nước róc rách một cách khắc nghiệt. Chỉ một rung động khẽ là tất cả sẽ chìm ngay. Khốn khổ! Có lẽ không còn đủ thì giờ nữa.

Gilliatt cay đắng tự buộc tội mình. Lẽ ra anh phải thấy ngay chỗ hỏng. Thấy mười lăm phân nước trong khoang lẽ ra anh phải biết ngay. Anh đã ngu ngốc cho rằng mười lăm phân nước ấy là do mưa và bọt sóng. Anh tự trách mình đã ngủ, đã ăn; anh tự trách mình mệt mỏi, hầu như anh ân hận đã gây ra bão táp và đêm tối nữa. Tất cả đều do lỗi của anh cả.

Anh vừa gay gắt nói một mình như thế vừa đi đi lại lại làm việc, đồng thời anh cũng vẫn tính toán.

Lỗ rò đã tìm ra, đấy là bước đầu; bịt nó lại là bước thứ hai. Lúc này không thể làm hơn. Không ai làm thợ mộc dưới nước cả.

Một hoàn cảnh thuận tiện là chỗ vỏ thuyền vỡ lại nằm vào quãng giữa hai sợi xích chằng ống khói cỗ máy vào mạn thuyền bên phải. Việc trám thuyền có thể đụng chạm đến hai sợi xích.

Trong khi ấy nước vẫn tràn vào. Lúc này nước đã dâng quá sáu mươi phân.

Nước ngập đầu gối Gilliatt.

VI DE PROFUNDIS AD ALTUM[3]

Trong kho dụng cụ dự trữ của thuyền bầu, Gilliatt có sẵn một tấm vải dầu khá to để đậy hàng, bốn góc đính dây dài.

Anh lấy tấm vải dầu ra, buộc hai góc vào hai khoanh sắt ở những sợi xích ống khói phía có lỗ rò, và vứt tấm vải dầu qua mạn thuyền. Tấm vải dầu rơi xuống như một tấm khăn trải bàn giữa Hòn Douvres Nhỏ và chiếc xuồng, và chìm xuống nước. Nước, muốn vào khoang thuyền phải đẩy tấm vải áp vào vỏ thuyền, trên cái lỗ rò. Nước càng thúc, tấm vải càng dán chặt. Chính dòng nước dẫn nó lên chỗ vỡ. Vết thương chiếc thuyền thế là được băng bó.

Tấm vải dầu này ngăn cách giữa lòng thuyền và sống nước bên ngoài. Không một giọt nước nào vào nữa.

Lỗ rò bị che, nhưng không bị trám kín.

Đấy là giây phút ngừng nghỉ.

Gilliatt cầm lấy cái xẻng tát và ra sức tát cạn thuyền. Lúc này cần gấp rút giảm nhẹ thuyền. Công việc này làm anh ấm người lên một tí, nhưng anh mệt rã rời. Buộc lòng anh phải tự nhận sẽ không hoàn thành và sẽ không thể làm cho khoang thuyền hết rò. Gilliatt mới ăn gọi là, và anh tự cảm thấy mình đã kiệt quệ.

Anh đo bước tiến của việc làm qua mức nước hạ ở đầu gối anh. Mức nước hạ rất chậm.

Ngoài ra dòng nước chỉ mới bị gián đoạn. Khó khăn có bớt, nhưng chưa hết hẳn. Tấm vải dầu, bị nước đẩy vào chỗ lỗ thủng, bắt đầu phồng to bên trong khoang. Giống như một quả đấm trong tấm vải, đang cố sức làm cho nó vỡ ra. Tấm vải, rất bền và được quét dầu, đang chống lại; nhưng sức phồng và sức căng vẫn tăng, không chắc tấm vải đã chịu nổi, và chưa biết lúc nào chỗ phồng có thể bục. Nước sẽ lại ùa vào.

Trong những trường hợp tương tự, các thủy thủ lâm nạn đều biết không có một phương cách nào khác một cái nùi đệm. Người ta lấy các thứ giẻ gặp được, tất cả những loại mà trong ngôn ngữ riêng gọi là vải quấn, rồi người ta cố sức tống cục vải dầu vào chỗ lỗ hở.

Những loại vải quấn ấy, Gilliatt không có. Tất cả những vải rách và bùi nhùi anh tích trữ được đều đã đem dùng vào công việc, hoặc bị gió bão tung tán.

Cùng lắm, lùng sục trong các ngách đá, anh cũng có thể tìm được ít mảnh còn rơi rớt. Chiếc thuyền cũng đã khá nhẹ rồi, anh có thể vắng mặt mười lăm phút; nhưng không có ánh sáng thì làm thế nào mà tìm kiếm? Trời tối như mực. Không còn trăng, chỉ có bầu trời sao âm u. Gilliatt không có thừng khô để làm bấc, mỡ bò để làm nến, không có lửa để thắp, không có đèn để mà che. Mọi vật trong thuyền và trên bãi ngầm đều hỗn độn và mù mịt. Có tiếng nước róc rách quanh vỏ thuyền bị thủng, không nhìn thấy cả chỗ vỡ; chính nhờ hai bàn tay mà Gilliatt nhận biết sức căng dần của tấm vải dầu. Trong cảnh tối tăm này không thể nào làm ra được một ít giẻ rách hoặc mẩu thừng vương vãi trên các mỏm ngầm. Không nhìn thấy rõ thì làm thế nào thu nhặt được những mảnh vải ấy? Gilliatt buồn bã ngắm cảnh trời đêm. Đủ hết cả sao mà không có được lấy một ngọn nến.

Lượng nước trong thuyền đã giảm bớt, sức ép bên ngoài lại tăng lên. Chỗ căng của tấm vải dầu càng to. Mỗi lúc nó một phòng thêm. Y hệt một cái nhọt sắp vỡ. Hoàn cảnh, khả quan được một lúc, lại trở nên đáng sợ.

Nhất thiết phải có nùi đệm.

Gilliatt chỉ còn quần áo.

Ta còn nhớ, anh còn số quần áo phơi trên các mỏm đá của Hòn Douvres Nhỏ.

Anh liền đi nhặt hết về và vắt lên cạp thuyền.

Anh lấy cái áo mưa, rồi quì gối trong nước, nhét nó vào chỗ vỡ, đẩy cái khối u của tấm vải đậy hàng ra phía ngoài, và thế là tống được hết nước trong cục u. Anh lấy tấm da cừu thêm vào cái áo, lấy chiếc sơmi lèn thêm vào tấm da cừu và lấy varơ thêm vào chiếc sơmi. Tất cả đều tống hết vào đấy.

Trên người anh chỉ còn mỗi một manh quần, anh lại cởi nó ra, và với manh quần anh làm cho cái nùi thêm to thêm chắc. Chỗ đệm đã làm xong và có vẻ đủ chắc.

Chỗ đệm tòi ra ngoài lỗ thủng, với tấm vải đậy hàng bọc ngoài. Nước muốn vào lại ép lên vật cản, càng làm cho nó tòe rộng ra và chắc thêm trên chỗ vỡ. Đấy là một thứ vải băng ép bên ngoài.

Phía trong, vì chỉ phần giữa khối u được tống ra, xung quanh chỗ vỡ và cục đệm còn một khoanh tròn của tấm vải đậy hàng; nó càng dính chặt vì những chỗ vỡ nham nhở giữ nó lại. Lỗ rò như vậy là được bịt kín.

Nhưng không gì tạm bợ hơn. Cái đầu nhọn của chỗ vỡ đang giữ chặt tấm vải đậy hàng có thể chọc xuyên nó và qua những lỗ thủng ấy nước sẽ lại tống vào. Trong tối, Gilliatt sẽ không nhìn thấy chúng. Cái nùi đệm khó lòng chịu được đến sáng. Nỗi lo của Gilliatt có thay đổi dạng, nhưng anh cảm thấy nó lại tăng lên đồng thời với sức khỏe tắt dần của anh.

Anh lại ra sức tát cạn khoang thuyền, nhưng hai cánh tay anh đã ra rời, chỉ hơi nâng được cái gầu đầy nước. Anh trần truồng và run bần bật.

Gilliatt cảm thấy gần đến giây phút kiệt quệ bi thảm.

Trong đầu óc anh chợt nảy ra một khả năng của vận may. Biết đâu chẳng có một cánh buồm ngoài khơi. Một ngư dân tình cờ đi qua quanh vùng Hòn Douvres có thể đến cứu giúp anh. Đã đến lúc nhất thiết phải cần đến một người cộng tác. Một người và một ngọn đèn, thế là tất cả các thứ đều có thể được cứu thoát. Có hai người, sẽ dễ dàng tát cạn khoang thuyền, một khi thuyền hết rò rỉ, không quá tải về nuớc nữa, nó sẽ trồi lên, nó sẽ lấy lại đường ngấn nước, chỗ vỡ sẽ nhô ra khỏi nước, việc sửa chửa sẽ thực hiện được, lập tức sẽ thấy nùi đệm bằng một mảnh ván cạp, và thấy các thứ tạm thời đắp trên lỗ thủng bằng một biện pháp sửa chữa hẳn hoi. Nếu không thì phải chờ đến sáng, chờ suốt đêm! Một sự chậm trễ tai hại có thể dẫn đến chỗ tiêu tan. Gilliatt nóng lòng muốn làm gấp. Nếu tình cờ thấy được một ngọn đèn hiệu nào đó của thuyền, Gilliatt có thể từ trên Hòn Douvres Lớn làm dấu hiệu. Thời tiết đang yên tĩnh, không có gió, không có sóng, một người cử động trên nền trời sao có khả năng dễ được nhận thấy. Một thuyền trưởng, hay chỉ một chủ đò, ban đêm đi trên vũng Hòn Douvres, cũng không thể không chĩa ống nhòm lên bãi ngầm; đấy là vì phải thận trọng.

Gilliatt hy vọng người ta sẽ trông thấy anh.

Anh liền leo lên xác tàu, nắm lấy sợi thừng nút, và trèo lên Hòn Douvres Lớn.

Ở chân trời không một cánh buồm. Không một ánh đèn hiệu. Chỉ có trời nước, mênh mông vắng lặng.

Không hy vọng có sự cứu giúp nào cả, và không có cách nào cầm cự cả.

Gilliatt tự thấy mình bị tước mất vũ khí, điều mà cho đến lúc này anh không hề cảm thấy.

Định mệnh đen tối bây giờ là bà chủ anh. Anh, với chiếc thuyền của anh, với cỗ máy tàu Durande, với tất cả vất vả của anh, với tất cả thành công, với tất cả dũng cảm của anh, đang thuộc về vực thẳm. Anh không còn phương tiện chiến đấu; anh trở thành thụ động. Làm thế nào ngăn cản sóng đến, triều lên, đêm tối tiếp tục? Cái nùi đệm kia là điểm tựa duy nhất của anh. Gilliatt đã kiệt quệ và trần trụi để làm nên nó và bổ khuyết cho nó; anh không còn sức để củng cố nó, làm cho nó vững chắc thêm; cái nùi đệm cứ nguyên như thế, phải nằm như thế, và bất hạnh thay mọi cố gắng đều không còn nữa. Biển cả tha hồ làm tình làm tội cái thiết bị vội vã áp lên lỗ rò đó. Cái vật cản bất động ấy sẽ chịu đựng như thế nào? Bây giờ chính nó chiến đấu chứ không phải Gilliatt nữa. Chính mảnh giẻ rách ấy, chứ không phải cái đầu óc ấy. Sức thổi phồng của một làn sóng cũng đủ làm bung cái nút ở lỗ thủng. Áp lực nhiều hay ít, toàn bộ vấn đề là ở đấy.

Tất cả sẽ được giải quyết bằng một cuộc chiến đấu vô ý thức giữa hai lượng vô ý thức. Từ nay Gilliatt không thể giúp đỡ tay chân, mà cũng không thể ngăn chặn kẻ thù. Anh chỉ còn là người đứng nhìn cái sống hay cái chết của mình. Anh chàng Gilliatt ấy, trước đây là một vị cứu tinh, đến phút cuối cùng, đã được thay thế bằng một vật cản vô ý thức.

Không một thử thách nào, không một hãi hùng nào Gilliatt đã trải qua có thể so sánh với lần này.

Lúc đến bãi ngầm Douvres, anh thấy mình bị bao vây và như bị bắt giữ bởi cảnh cô đơn. Cảnh cô đơn ấy không chỉ bao vây anh, mà hơn thế nữa, nó bao bọc lấy anh. Hàng nghìn mối đe dọa cùng một lúc đã giơ nắm tay ra với anh. Gió, sẵn sàng để thổi; biển, sẵn sàng để gầm rú. Không thể nào gang cái mồm gió ấy lại; không thể nào bẻ hết răng cái mõm biển ấy lại. Vậy mà anh đã chống cự, là con người, anh đã chiến đấu mặt đối mặt với đại dương, đã vật nhau với bão táp.

Anh đã đương đầu với bao nhiêu lo âu khác và bao nhiêu nhu cầu bức thiết khác nữa. Anh đã phải chịu đựng tất cả mọi nguy nan. Anh đã phải làm bao nhiêu việc mà không có dụng cụ, di chuyển những vật nặng mà không có người phụ, giải quyết nhiều vấn đề mà không biết khoa học, ăn uống mà không có thực phẩm dự trữ, ngủ mà không có giường, có nhà.

Trên bãi ngầm này, một thứ giá bi đát, anh đã lần lượt khổ sở vì những tai ương tra tấn khác nhau của thiên nhiên, lúc yêu là mẹ, lúc ghét lại là đao phủ.

Anh đã chiến thắng cô đơn, chiến thắng cái đói, chiến thắng cái khát, cái rét, chiến thắng cơn sốt, công việc, chiến thắng giấc ngủ. Anh đã gặp những vật chướng ngại hợp sức cùng nhau ngáng đường anh. Sau cảnh thiếu thốn xác xơ, đến nguyên tố cơ bản của thiên nhiên, sau thủy triều đến gió dữ; sau bão táp đến thuồng luồng; sau quái vật đến ma quỷ.

Một điều trớ trêu bi đát cuối cùng. Trong cái bãi ngầm này, nơi mà Gilliatt đã tưởng là mình sẽ bước ra với tư thế chiến thắng, tên Clubin chết rồi kia lại mới vừa nhìn anh vừa cười.

Vẻ cười chế nhạo của con ma ấy vậy mà có lý. Gilliatt thấy mình đã cùng đường. Gilliatt thấy mình cũng chết như Clubin.

Trời đông, đói khát, mệt mỏi, cái xác tàu phải bổ, cỗ máy phải chuyển tải, những thay đổi của tiết cân phân, gió, sét, thuồng luồng, tất cả những thứ ấy đều chẳng nghĩa lý gì bên cạnh cái lỗ rò. Người ta có thể có, và Gilliatt đã có, lửa để đối phó với cái rét, sò hến trong núi để đối phó với cái đói, mưa để đối phó với cái khát, tay nghề và ý chí để đối phó với những khó khăn trong việc trục vớt, đập chắn sóng để đối phó với nước triều và bão táp, con dao để đối phó với thuồng luồng. Còn đối với lỗ rò, không có gì cả.

Cuồng phong gửi anh lời chào từ biệt ghê rợn. Hiệp đấu cuối cùng, đường kiếm hiểm độc, đòn tấn công nham hiểm của kẻ bại trận đối với người chiến thắng. Bão táp thua chạy đang bắn lui mũi tên ấy. Chiến bại quay lại đánh. Đấy là miếng đà đao của vực thẳm.

Người ta chiến đấu với bão táp; nhưng làm thế nào chiến đấu với một lỗ rò?

Nếu nút đệm bật, nếu lỗ rò lại bung ra, thì không có cách nào để thuyền khỏi đắm cả. Đó là sợi dây buộc mạch máu bị tuột. Và một khi chiếc thuyền nằm dưới đáy nước, với cỗ máy quá tải ấy, thì không có cách nào kéo thuyền lên được, cố gắng cao thượng của hai tháng phi thường kết thúc bằng một việc hủy hoại toàn bộ. Không thể bắt đầu lại.

Gilliatt không còn lò rèn, không còn vật liệu nữa. Có lẽ, lúc tờ mờ sáng, anh sẽ trông thấy toàn bộ công trình của anh chìm xuống vực thẳm từ từ và không có cách nào cứu vãn.

Điều khủng khiếp là cảm thấy sức mạnh đen tối ở ngay dưới chân mình.

Vực thẳm đang kéo anh xuống.

Một khi thuyền bị chôn vùi, anh chỉ còn có việc chết đói và chết rét như người kia, anh chàng đắm tàu trên núi Thằng Người.

Suốt hai tháng trời, những lương tâm và thần thánh trong chốn vô hình đã được chứng kiến một điều: bên này là trời biển mênh mông, sóng, gió, sấm chớp, khí tượng, bên kia là một con người; bên này biển cả, bên kia một linh hồn; bên này cái vô cùng lớn, bên kia cái vô cùng nhỏ.

Và một cuộc giao chiến đã diễn ra.

Và có lẽ thế là điều huyền diệu không thành.

Thế là kỳ tích anh hùng chưa từng có kia kết thúc, thế là trận chiến đấu khủng khiếp được chấp nhận ấy, cuộc vật lộn giữa cái Không-Có-Gì chống lại cái Tất-Cả ấy, bản anh hùng ca Iliat một người ấy, kết thúc bằng tuyệt vọng.

Gilliatt luống cuống nhìn không gian.

Anh không còn lấy một manh áo. Anh đang trần trụi giữa trời biển mông mênh.

Thế là, lòng nặng trĩu vì hoàn cảnh trọng đại khác thường ấy, không biết người ta muốn gì ở mình, tự đối chiếu mình với bóng tối, trước cảnh tối tăm không thay đổi ấy, trong tiếng rì rầm của sóng nước, của bọt biển, của gió cơn, dưới những đám mây dày, dưới những luồng gió thổi, dưới sức mạnh bao la tản mác, dưới bầu trời bí ẩn của chim muông, của thiên thể và mộ địa, dưới ý định có thể có xen lẫn với những thứ to lớn vô cùng ấy, xung quanh và dưới chân là đại dương, trên đầu là muôn vàn tinh tú, dưới cái khôn dò, anh gục xuống, anh từ bỏ, anh nằm dài trên núi đá, ngửa mặt nhìn sao, thất bại, và chắp tay trước vực thẳm rùng rợn, anh gào to trong cảnh bao la: Cứu tôi với!

Bị vô biên đánh quị, anh cầu khẩn vô biên.

Anh nằm đấy, một mình trong đêm tối này, trên quả núi này, giữa biển cả này, kiệt sức, như một người bị sét đánh, trần trụi như một đấu sĩ trên hí trường, có điều thay cho hí trường lại là vực thẳm, thay cho thú dữ lại là u minh, thay cho con mắt dân chúng lại là cái nhìn của vô-định, thay cho những nữ vu[4] lại là tinh tú, thay cho César lại là Chúa Trời.

Anh cảm thấy hình như anh đang tan hòa trong rét mướt, trong mệt mỏi, trong bất lực, cầu xin, trong bóng tối, và đôi mắt anh nhắm lại.

VII TRONG CHỐN VÔ ĐỊNH CŨNG CÓ TAI

Mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Mặt trời mọc, chói lọi.

Tia nắng đầu tiên trên đỉnh đồi Hòn Douvres Lớn chiếu vào một hình thù bất động. Đấy là Gilliatt.

Anh vẫn nằm dài trên núi.

Cái thân hình trần trụi giá buốt và cứng đờ ấy không còn chút rung động nào nữa. Các mí mắt nhắm nghiền xanh mét. Thật khó nói nếu đấy không phải là một xác chết.

Mặt trời có vẻ như nhìn vào nó.

Nếu con người trần trụi kia không chết, thì cũng gần, gần đến nỗi chỉ cần ngọn gió lạnh nhẹ nhất cũng đủ để kết liễu đời nó.

Gió bắt đầu thổi, ấm áp và trong lành, ngọn gió xuân tháng năm.

Trong khi ấy, vầng ô cứ lên cao dần trên bầu trời xanh thẳm, tia nắng đã bớt chiếu ngang bắt đầu đỏ hồng. Ánh sáng trở thành sức nóng, bao bọc lấy Gilliatt.

Gilliatt không cựa quậy. Nếu anh có thở, thì cũng là thứ hơi thở sẵn sàng để tắt, thứ hơi thở chỉ thoáng phủ mờ một mảnh gương soi.

Vầng ô tiếp tục lên cao, mỗi lúc một bớt chếch trên người Gilliatt. Ngọn gió, thoạt đầu chỉ ấm áp, giờ đây cũng đã nóng.

Cái thân hình cứng đờ và trần trụi kia vẫn không cử động; tuy nhiên màu da dường như có bớt nhợt nhạt.

Vầng ô, lên gần đến thiên đỉnh, chiếu thẳng xuống mặt đồi Hòn Douvres. Ánh sáng từ trời cao chan hòa dội xuống; sức phản chiếu rộng lớn của biển lặng lại gộp thêm vào; núi bắt đầu ấm và sưởi nóng con người kia.

Một tiếng thở dài khẽ nâng lồng ngực Gilliatt lên. Anh vẫn sống.

Vầng ô, tiếp tục vuốt ve, hầu như rạo rực. Gió lúc này đã là gió nam và gió hè, lướt gần Gilliatt như một cái mồm, khẽ thổi.

Gilliatt cựa quậy.

Cảnh thanh bình biển cả thật là khó tả. Nó thì thầm giống một người mẹ hiền bên đứa con thơ. Sóng nước như ru hồi bãi đá.

Những con chim biển, vốn quen với Gilliatt, lo lắng, bay lượn trên người anh. Đây không phải nỗi lo lắng man rợ trước đây của chúng nó nữa, mà là một cái gì trìu mến, thân thương. Chúng khẽ ríu rít. Có vẻ như muốn gọi anh. Một con hải âu, hẳn là yêu quí anh, thân mật sà xuống cạnh người. Nó cất tiếng nói với anh. Dường như anh không nghe. Nó liền nhảy lên vai anh và dịu dàng mổ khẽ vào môi.

Gilliatt mở mắt ra.

Bầy chim, thỏa mãn và hung dữ, vụt bay lên.

Gilliatt đứng dậy, vươn mình như hùng sư tỉnh giấc, chạy đến bên mép đồi, nhìn xuống chỗ giữa hai Hòn Douvres.

Chiếc thuyền bầu vẫn đấy, nguyên vẹn. Cái nút đệm vẫn nằm tại chỗ, chắc biển cả cũng ít hành hạ nó.

Tất cả đều được cứu thoát.

Gilliatt đã hết mệt. Sức khỏe anh đã hồi phục. Cơn ngất của anh là một giấc ngủ.

Anh liền tát cạn thuyền, để cho khoang khô ráo và chỗ hỏng nằm ngoài ngấn nước, mặc quần áo vào, ăn uống, vui vẻ.

Xem xét kỹ ban ngày, lỗ rò đòi hỏi nhiều việc phải làm hơn Gilliatt tưởng. Hư hỏng khá nặng. Gilliatt bỏ cả ngày để sửa chữa cũng không phải là quá đáng.

Hôm sau, sáng tinh mơ, sau khi phá bỏ cái đập và lại mở rộng lối ra của eo biển, mặc số quần áo rách đủ bịt kín được lỗ rò, trên mình có sợi thắt lưng của Clubin và chỗ bảy vạn năm nghìn frăng, đứng trên chiếc thuyền bầu đã sửa chữa xong, bên cạnh cỗ máy được cứu thoát nhân gặp gió xuôi, vừa lúc biển lặng, Gilliatt ra khỏi bãi Douvres.

Anh hướng thuyền về phía Guernesey.

Đúng vào lúc anh rời khỏi bãi ngầm, giá có ai đứng đấy hẳn đã được nghe anh khẽ hát khúc ca Bonny Dundee.

❀ ❀ ❀

[1] Quái vật đầu sư tử, đuôi rồng, mồm phun ra lửa.

[2] Nhị nguyên giáo (manichéen): Một giáo phái do Manès sáng lập.

[3] De profundis ad altum (tiếng La tinh): Từ vực thẳm đến tận đỉnh trời cao.

[4] Nữ vu (vestal): Các trinh nữ ngày xưa chuyên việc thờ nữ thần Vesta ở Cổ La Mã.

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.