Mess Lethierry đang điên cuồng kéo chuông. Đột nhiên ông dừng lại. Một người vừa đi ngoặt theo bến cảng.
Mess Lethierry chạy ngay đến với người ấy, hay nói đúng hơn nhảy bổ đến, nắm lấy bàn tay, và im lặng nhìn hồi lâu vào đôi mắt: một trong những giây phút im lặng trước khi bùng nổ, không biết thoát ra bằng cách nào.
Rồi sôi nổi, vừa lắc vừa lôi, vừa ôm chặt lấy người, ông dẫn Gilliatt vào căn phòng thấp ngôi nhà Bravées lấy gót ẩy cánh cửa đang mở hé, ngồi xuống hay đúng hơn đổ xuống, trên một chiếc ghế cạnh cái bàn to được soi sáng bởi vầng trăng mà ánh phản chiếu làm cho khuôn mặt Gilliatt hơi trắng lên, và bằng một giọng nói có cả tiếng cười lẫn tiếng nghẹn nào thổn thức, ông hét lên:
- Ôi! Con tôi! Anh chàng thổi kèn da! Gilliatt! Bố biết chắc là con mà! Trời ơi! Chiếc thuyền bầu! Con kể cho bố nghe đi. Thế ra con đã đến đấy! Nếu là một trăm năm về trước thì người ta đã thiêu sống con rồi. Đúng là yêu thuật. Không thiếu một chiếc đinh ốc. Bố đã nhìn tất cả, đã nhận xét tất cả, sờ mó tất cả. Bố đoán là bánh xe nằm trong hai cái hòm. Cuối cùng thế là con đã về! Bố vừa đi tìm con trong buồng lái. Bố đã kéo chuông. Bố tìm kiếm con. Bố đã tự nhủ: Nó đâu rồi, ta phải ăn sống nó! Phải công nhận là đã xảy ra nhiều chuyện phi thường. Con vật ấy từ bãi Douvres về. Nó đem cuộc sống trả lại cho ta. Trời đất ơi! Con là một thiên thần. Đúng, đúng, đúng, chính là cỗ máy của bố. Sẽ không ai tin vào chuyện ấy, rồi mà xem, người ta sẽ nói: Không đúng. Thế mà tất cả đều ở đấy! Tất cả đều nằm ở đấy! Không thiếu một ống xoắn nào cả. Không thiếu một apitagiơ nào cả. Ống hút nước không hề suy suyển. Thật không thể tin nổi là không có gì hư hỏng cả. Chỉ phải tra một ít dầu thôi. Nhưng con đã làm thế nào? Ai ngờ rồi đây tàu Durande sẽ lại chạy! Trục bánh xe được tháo gỡ như do thợ kim hoàn. Con lấy danh dự mà nói rằng bố không điên đi.
Ông thẳng người lên, hít thở khoan khoái và hỏi tiếp.
- Con thề đi. Cả một cuộc cách mạng! Bố tự cấu vào người, bố cảm thấy rõ ràng là bố không nằm mê. Con là con của bố! Con đã tìm cho bố cỗ máy khốn khổ này! Giữa biển khơi? Trong cái bẫy ngầm ấy! Trong đời bố, bố đã thấy biết bao chuyện rất buồn cười. Bố chưa hề thấy việc nào như vậy. Bố đã từng thấy người Paris là ma vương. Bố cần gì việc họ làm thế. Còn tệ hơn cả ngục Bastille. Bố đã thấy những anh chàng chăn súc vật ở Nam Mỹ cày trên các đồng cỏ Pampa, cày của họ là một cành cây có khuỷu, và bừa của họ là một bó gai kéo bằng dây da. Thế mà họ thu hoạch được những hạt lúa mì to như hạt dẻ. Bên cạnh con thì đó là trò trẻ con. Con đã làm một kỳ công, một kỳ công thực sự. A! Thằng côn đồ! Con hãy bá lấy cổ bố. Tất cả quê hương xứ sở sẽ nhờ con mà hạnh phúc. Ở Saint-Sampson họ sẽ tha hồ mà cảu rảu! Bố sẽ lo làm lại cái xuồng ngay lập tức. Thật là kì lạ, biên không sứt mẻ một chút nào. Các ông ơi nó đã đi đến hòn Douvres. Tôi nói rõ là Hòn Douvres. Nó đã đi một mình. Hòn Douvres! Hòn núi tai ác nhất trên đời. Con biết không, người ta có nói với con không? Việc đã được xác nhận rồi, nó đã được cố tình sắp đặt, Clubin đã đánh chìm tàu Durande để cuỗm của bố số tiền mà hắn phải đưa về cho bố. Hắn đã làm cho Tangrouille say. Dài dòng lắm, hôm khác bố sẽ kể cho con nghe câu chuyện ăn cướp này. Bố là con vật tệ hại, bố đã quá tin tên Clubin. Tên khốn kiếp, hắn đã thất bại, vì hắn không thể nào thoát khỏi. Có Chúa chứ, quân đê tiện! Con thấy không, Gilliatt, ngay lập tức, cấp tốc, cấp tốc, cho sắt vào lửa, chúng ta sẽ làm lại tàu Durande. Chúng ta sẽ thêm cho nó độ hơn sáu mét. Bây giờ người ta đóng những con tàu dài hơn. Bố sẽ mua gỗ ở Dantzick và Brême. Giờ đây thấy bố có cỗ máy, người ta sẽ cho bố vay vốn. Lòng tin sẽ trở lại.
Mess Lethierry ngừng nói, ngước mắt nhìn trời qua trần nhà và lẩm bẩm: “Đúng là có trời”.
Đoạn ông đặt ngón tay giữa của bàn tay phải vào giữa hai lông mày, ấn móng vào chỗ gốc mũi, dấu hiệu có một sự kiện thoáng qua trong đầu óc, và ông nói tiếp:
- Không sao, để bắt đầu lại tất cả trên một quy mô lớn, một ít tiền mặt cũng rất được việc cho ta. Ôi! Giá ta có được ba tờ bạc ngân hàng của ta chỗ bảy vạn năm nghìn frăng mà thằng côn đồ Rantaine đã trả cho ta và thằng kẻ cướp Clubin lại đánh cắp mất của ta!
Gilliatt lẳng lặng, tìm trong túi một vật gì đó và đặt trước mặt ông. Đấy là sợi thắt lưng da mà anh đã đưa về. Anh mở ra và giăng lên bàn sợi thắt lưng; ánh trăng cho thấy phía sau có chữ Clubin; anh rút ở túi thắt lưng ra một cái hộp, lấy trong hộp ba mảnh giấy gập nhỏ, và mở chỗ giấy ra chìa cho Mess Lethierry.
Mess Lethierry nhìn kĩ ba mảnh giấy. Trời trăng khá sáng để con số 1000 và chữ Thousand[1] hiện ra hết sức rõ rệt. Mess Lethierry cầm lấy ba tờ giấy bạc, đặt lên bàn, tờ nọ cạnh tờ kia, hết nhìn chúng, lại nhìn Gilliatt, lặng người đi hồi lâu, rồi như một hỏa diệm sơn phụt lửa sau một tiếng nổ.
- Lại việc này nữa! Con thật kỳ diệu! Mấy tờ bạc của bố: Tất cả ba! Mỗi tờ một nghìn! Bảy vạn năm nghìn frăng của bố! Thế là con đã xuống tận địa ngục. Chính là sợi thắt lưng của Clubin. Trời ơi! Bên trong bố thấy rõ cái tên bẩn thỉu của hắn. Gilliatt đưa cỗ máy về, lại thêm cả số tiền nữa! Đúng là một việc đáng đăng lên báo. Bố sẽ mua thứ gỗ thượng hạng. Bố đoán ra rồi, con đã tìm thấy bộ xương. Clubin đã thối ruỗng trong một xó xỉnh nào đấy. Chúng ta sẽ mua gỗ thông ở Dantzick, gỗ sồi ở Brême, chúng ta sẽ cạp thuyền thật tốt, ta sẽ để gỗ sồi ở trong, gỗ thông ở ngoài. Ngày xưa, người ta đóng thuyền kém hơn thế mà chúng lại bền hơn; là vì gỗ được chọn lọc kĩ hơn, và người ta không đóng nhiều như bây giờ. Có lẽ chúng ta sẽ đóng vỏ tàu bằng gỗ du. Gỗ du rất tốt cho những phần chìm; cứ lúc khô lúc ướt thì nó dễ mục; gỗ du ưa lúc nào cũng phải ướt, nó sống bằng nước. Chúng ta sẽ thiết kế một chiếc tàu Durande đẹp cực kỳ! Người ta sẽ không thể bắt bí được ta. Ta không cần phải vay mượn nữa. Ta có khối tiền. Có ai thấy Gilliatt này bao giờ không? Tôi đang nằm ở đất, thẳng đờ, chết dở. Anh ấy nâng tôi dậy trên bốn vó của tôi! Vậy mà trước đây tôi không hề nghĩ đến anh ta một chút nào! Điều ấy tôi đã quên biến đi mất. Bây giờ tôi nhớ lại tất cả. Tội nghiệp con tôi! A! Trời ơi, con biết không, con là chồng Déruchette đấy!
Gilliatt tựa lưng vào tường, như người lảo đảo, và rất khẽ nhưng rõ ràng, anh nói:
- Không.
Mess Lethierry giật nảy mình.
- Tôi không yêu cô ấy.
Mess Lethierry đi đến bên cửa sổ, mở ra, đóng lại, quay về cạnh bàn, cầm lấy ba tờ giấy bạc, gấp nhỏ lại, đặt cái hộp sắt lên trên, gãi gãi mái tóc, nắm lấy sợi thắt lưng của Clubin, vứt mạnh nó vào tường, và nói:
- Có chuyện gì đây.
Ông thọc hai nắm tay vào hai túi và nói tiếp:
- Con không yêu Déruchette! Thế ra vì bố mà con thổi kèn da?
Gilliatt vẫn tựa lưng vào tường, tái mặt như người sắp tắc thở. Anh tái chừng nào thì Mess Lethierry càng đỏ chừng ấy.
- Đúng là một thằng ngu! Nó không yêu Déruchette! Thế thì, lo thu xếp mà yêu nó đi, vì nó chỉ lấy mỗi mình con thôi. Con vừa kể bố nghe chuyện quỷ quái gì thế? Con tưởng là bố tin được lời con đấy! Có phải con ốm không? Được rồi, cho gọi thầy thuốc ngay, nhưng đừng có mà nói những chuyện vô lý đấy! Con đã làm gì có thì giờ để cãi nhau và giận dỗi với nó. Đúng là cái bọn si tình lúc nào cũng ngu ngốc thảm hại! Nào, con có lý do gì không? Nếu có, thì cứ nói ra. Không ai làm một con ngỗng mà chẳng có lý do gì đâu. Với lại bố cũng có nhét bông vào tai, có lẽ bố nghe nhầm, con thử nhắc lại điều con nói xem.
Gilliatt đáp:
- Tôi đã nói là không.
- Con đã nói không. Nó vẫn khăng khăng, cái đồ ngu! Chắc chắn là con có chuyện gì đây! Con đã nói không! Quả là một sự đần độn vượt mọi giới hạn của trần gian. Khối người bị mắng chửi vì những chuyện nhỏ nhặt hơn thế nhiều. Hừ! Con không yêu Déruchette! Thế ra vì yêu thương lão già mà con đã làm tất cả những điều con đã làm! Ra chỉ để làm đẹp lòng bố mà con đã ra tận Hòn Douvres, mà con đã chịu rét, chịu nóng, mà còn phải nhịn đói, nhịn khát, mà con đã ăn sâu ăn bọ trong núi, mà con đã dãi gió dầm sương, mà con đã thực hiện cái việc đem cỗ máy về cho bố, như người ta đưa về cho một người đàn bà đẹp con chim bạch yến đã sổ lồng! Lại thêm cơn bão cách đây ba hôm! Con tưởng bố không biết đấy. Con đã chịu đựng biết bao khó khăn! Chính là vừa chúm chím cười duyên với mái đầu già của bố mà con đã cắt, đã chặt, đã quay, đã vặn, đã kéo, đã dũa, đã cưa, đã đẽo gọt, đã phát minh, đã nghiền nát, và đã một mình làm nhiều chuyện mầu nhiệm hơn tất cả các thần thánh trên thiên đường. Hừ! Đồ ngu! Thế mà con đã quấy rầy bố khá nhiều với cái kèn da của con. Ở Bretagne người ta gọi loại kèn ấy là kèn biniou. Lúc nào cũng vẫn một điệu, đồ súc vật. Hừ! Con không yêu Déruchette! Bố không biết là con làm sao. Bây giờ bố nhớ rõ tất cả rồi, lúc ấy bố đứng ở góc nhà, Déruchette đã nói: Con sẽ lấy người ấy làm chồng. Và nhất định nó sẽ lấy con! Hừ! Con không yêu nó! Sau khi suy nghĩ kỹ, bố chẳng hiểu ra sao cả. Hoặc là con điên, hoặc là bố điên. Kìa nó lại không nói một lời nào nữa. Con không được phép làm tất cả những điều con đã làm, rồi cuối cùng lại nói: “Tôi không yêu Déruchette”. Không ai làm ơn cho người khác để làm cho họ nổi giận. Thế thì, nếu con không lấy nó, nó sẽ đi tu. Trước tiên, bố, bố cần đến con. Con sẽ là hoa tiêu của tàu Durande. Con tưởng bố sẽ để con ra đi như thế sao! Là lá la, không đâu, con yêu quí ạ, bố không thả con đi đâu. Bố nắm được con rồi. Bố không chịu nghe con đâu. Tìm đâu ra được một thủy thủ như con kia chứ! Con là người lý tưởng của bố. Kìa con nói đi chứ!
Trong khi ấy tiếng chuông đã thức tỉnh người nhà và lân cận, Douce và Grâce đã dậy và vừa bước vào căn phòng tháp, vẻ sửng sốt không nói một lời. Grâce cầm trong tay một ngọn nến. Một nhóm hàng xóm, tư sản, thủy thủ và nông dân, hốt hoảng ra khỏi nhà, đã đứng trên bến cảng, sững sờ, kinh ngạc ngắm nhìn cái ống khói tàu Durande trong chiếc thuyền bầu. Một vài người, nghe giọng nói của Mess Lethierry trong căn phòng thấp, bắt đầu lẳng lặng len vào đây qua cánh cửa mở hé. Giữa hai khuôn mặt của các bà, thò vào cái đầu của Sieur Landoys, ông này luôn luôn tình cờ có mặt ở những nơi mà rồi ra ông lại tiếc là không có mặt.
Những niềm vui lớn không đòi hỏi gì hơn là có được một đám đông. Chúng thích cái điểm tựa hơi tản mác mà quần chúng luôn luôn cống hiến; từ đó chúng lại ra đi. Mess Lethierry chợt nhận thấy có nhiều người ở xung quanh ông. Ông chấp nhận ngay tức khắc số thính giả đó.
- A! Kìa các ông các bà. Thật sung sướng quá. Các ông các bà đều biết tin. Anh chàng này đã đến đây và đã đưa nó về. Xin chào Sieur Landoys. Ban nãy lúc tôi tỉnh dậy, tôi trông thấy cái ống khói. Ngay dưới cửa sổ nhà tôi. Không thiếu một cái đinh. Người ta thường khắc hình Napoléon, còn tôi, tôi lại thích nó hơn trận Austerlitz. Quí ông quí bà vừa ra khỏi giường. Tàu Durande đã về giữa lúc các ông các bà đang ngủ. Trong khi các ông các bà đội mũ bông lên đầu và tắt nến đi ngủ thì có những người anh hùng. Chúng ta là một lũ người ươn hèn, lười biếng, ngồi hơ chân tay thấp khớp, cũng may không phải vì thế mà không có những người điên dại. Những người điên dại ấy đi đến chỗ phải đi và làm những việc phải làm. Anh chàng ở Bû de la Rue từ Hòn Douvres về. Anh ta đã vớt tàu Durande từ đáy biển lên, anh ta đã vớt tiền từ trong túi Clubin, một cái lỗ còn sâu hơn nữa. Nhưng con đã làm như thế nào? Tất cả yêu quý đều chống lại con, hết gió lại nước triều, hết nước triều lại gió. Đúng con là phù thủy. Những người nói như thế cũng không phải là ngu ngốc lắm đâu. Tàu Durande đã trở về! Bão táp độc ác cũng chẳng làm gì nổi, độc ác đã chịu bó tay. Các bạn ơi, tôi xin báo trước với các bạn là không còn chuyện đắm tàu nữa. Tôi đã đến xem cỗ máy. Nó vẫn như mới, đầy đủ cả! Các ngăn hơi vẫn hoạt động êm ru. Cứ như một đồ vật mới sáng hôm qua. Các bạn đều biết là, để tận dụng nhiệt độ, người ta dùng hai cái ống lồng vào nhau, ống trong dẫn nước ra, ống ngoài dẫn nước vào; thế mà cả hai cái ống, vẫn y nguyên. Toàn bộ cỗ máy! Các bánh xe cũng thế! A! Con sẽ lấy nó!
- Ai? Cỗ máy ấy à? - Sieur Landoys hỏi.
- Không, con bé. Phải, cỗ máy. Cả hai. Anh ấy sẽ là con rể tôi, hai lần. Anh ấy sẽ là thuyền trưởng. Goodbye, thuyền trưởng Gilliatt. Nhất định sẽ có một chiếc tàu Durande mà! Với nó tôi sẽ làm ăn, sẽ vận chuyển, sẽ buôn bán, và chuyên chở bò cừu! Không đời nào tôi đổi Saint-Sampson lấy Luân Đôn đâu. Và đây là tác giả. Tôi xin nói với các bạn đây là một câu chuyện ly kỳ. Thứ bảy người ta sẽ được đọc nó trong tờ báo của cha Mauger. Gilliatt Khôn ngoan là một anh chàng khôn ngoan. Những đồng tiền vàng kia là thế nào?
Mess Lethierry vừa nhận thấy, qua kẽ nắp, có vàng trong cái hộp đặt trên mấy tờ giấy bạc. Ông cầm cái hộp lên, mở ra, dốc vào lòng bàn tay và đặt nắm tiền ghi-nê lên bàn.
- Cái này để cho người nghèo. Sieur Landoys, xin nhờ ông chuyển số tiền này cho ông thị trưởng Saint-Sampson. Các bạn biết bức thư của Rantaine chứ? Tôi đã cho các bạn xem rồi đấy. Thế là tôi đã có số giấy bạc. Đủ để mua gỗ sồi, gỗ thông và thuê thợ mộc. Các bạn nhìn xem. Các bạn còn nhớ thời tiết cách đây ba hôm chứ? Mưa gió tàn phá khủng khiếp như thế! Bầu trời lúc nào cũng như nã đại bác. Gilliatt đón nhận cái của này trên Hòn Douvres. Thế mà vẫn không ngăn cản được anh ta tháo gỡ cái xác tàu như tôi tháo gỡ chiếc đồng hồ của tôi. Nhờ anh ta, tôi lại trở thành người có tiếng tăm. Thưa quý ông quý bà, chiếc tàu Durande của lão Lethierry sẽ lại chạy đều. Một cái vỏ hạt dẻ với hai bánh xe và một ống điếu, tôi vẫn tàng tàng vì cái trò sáng chế ấy. Tôi luôn luôn tự nhủ: ta sẽ đóng một chiếc! Chuyện từ đã lâu; đấy là một ý nghĩ đến với tôi ở Paris, trong tiệm cà phê ở góc phố Christine và phố Dauphine, khi đọc một tờ báo nói đến việc ấy. Các bạn có biết là Gilliatt có thể ung dung nhét cỗ máy Marly vào túi và đi dạo chơi với nó không? Con người ấy là sắt nện, thép tôi, là kim cương, là một thủy thủ trọng nghĩa khinh tài, một người thợ rèn, một chàng trai xuất chúng, đáng kinh ngạc hơn cả thái tử Hohenlohe. Tôi cho đấy là một con người tài trí. Tất cả chúng ta đều là những kẻ không ra gì. Hải cẩu[2] là các bạn, là tôi, là chúng ta; nhưng hải sư là đây. Hoan hô, Gilliatt! Tôi không biết anh ấy đã làm những gì, nhưng chắc chắn anh ấy đã là một con quỷ, và làm sao tôi lại không dành Déruchette cho anh ấy!
Từ nãy Déruchette đã đứng trong phòng. Nàng không nói một lời, không gây một tiếng động. Nàng bước vào như một cái bóng. Nàng ngồi gần như không ai để ý, trên một chiếc ghế sau Mess Lethierry. Ông đang đứng nói thật to, thao thao, sôi nổi, vui vẻ và vung tay vung chân. Sau Déruchette một lúc, lại một bóng khác thầm lặng bước vào. Một người mặc áo đen, ca-vat trắng, mũ cầm tay, đứng lại trên ngưỡng cửa. Bây giờ trong nhóm người đông dần đã có nhiều cây nến. Những ánh sáng ấy chiếu sáng một bên người mặc áo đen; nét mặt nhìn nghiêng của người ấy trắng, trẻ và đẹp hiện lên trên nền tối rõ ràng như một tấm huy chương; người ấy tỳ khuỷu tay lên góc một cánh cửa, và đỡ vầng trán trong bàn tay trái, một cử chỉ duyên dáng và chính người ấy cũng không ngờ, làm nổi bật vầng trán vị đại bên bàn tay nhỏ nhắn. Ở khóe môi mím chặt của người ấy có một nếp lo âu. Người ấy quan sát và lắng nghe một cách chăm chú sâu sắc. Nhận ra cha tôn kính Ebenezer, vị mục sư của giáo khu, những người có mặt đã tránh ra để ông đi vào, nhưng ông vẫn đứng trên ngưỡng cửa. Điệu bộ ông do dự nhưng mắt ông cả quyết. Đôi mắt ấy thỉnh thoảng lại gặp đôi mắt Déruchette. Còn Gilliatt thì do vô tình hay hữu ý vẫn đứng trong bóng tối, và người ta chỉ nhìn thấy anh một cách lờ mờ.
Mess Lethierry thoạt tiên không trông thấy Monsieur Ebenezer, nhưng ông trông thấy Déruchette. Ông đến bên nàng và hôn nàng với tất cả sôi nổi có thể có được trong một cái hôn trán. Đồng thời, đưa cánh tay về chỗ góc tối Gilliatt đứng, ông nói:
- Déruchette, thế là con lại giàu có rồi, và kia là chồng con.
Déruchette ngơ ngác ngẩng đầu lên, và nhìn vào chỗ bóng tối.
Mess Lethierry nói tiếp:
- Ta sẽ tổ chức lễ cưới ngay lập tức, nếu có thể thì ngày mai, ta sẽ được miễn trừ, vả lại ở đây thủ tục cũng không đến nỗi khắt khe, vị niên trưởng được tùy ý quyết định, ngoảnh đi ngoảnh lại là đã thành vợ thành chồng, chứ không phải như ở Paris, phải công bố, thông báo, thời hạn, cả một lô những chuyện lủng củng, và con có thể tự hào được làm vợ một con người dũng cảm, và chẳng phải nói, một thủy thủ ra thủy thủ, điều ấy bố đã nghĩ đến ngay từ đầu lúc thấy anh ta từ Herm trở về với khẩu đại bác nhỏ. Bây giờ anh ấy từ Hòn Douvres về, với tài sản của con, với tài sản của bố, và tài sản của quê hương; đây là con người mà một ngày kia người ta sẽ không thể không nói đến; con đã nói: “Tôi sẽ lấy anh ta”. Vậy thì con sẽ lấy anh ấy; và các con sẽ có con, bố sẽ là ông, và con sẽ được may mắn làm vợ một chàng trai đứng đắn, lao động giỏi, có ích cho xã hội, và điều kỳ diệu, xứng đáng bằng trăm người khác, cứu được sáng chế của người khác, là một vị cứu tinh và ít ra là con, con sẽ không như hầu hết các cô nàng cay nghiệt giàu có của xứ này, lấy phải một anh lính hay một mục sư, nghĩa là một tên giết người hay một kẻ nói dối. Nhưng con làm gì trong cái xó ấy thế, Gilliatt? Người ta không nhìn thấy con. Douce, Grâce! Tất cả, hãy thắp đèn lên. Hãy giúp tao làm cho chàng rể của tao sáng rực lên xem nào. Bố đính hôn cho các con đấy các con ạ, đây là chồng con, đây là rể bố, là Gilliatt ở Bû de la Rue, chàng trai quí hóa, người thủy thủ vĩ đại; bố sẽ không có chàng rể nào khác, con sẽ không có người chồng nào khác, bố lấy lời nói danh dự mà hứa như thế với Chúa lòng lành. À! Ông đấy à, ông mục sư, ông sẽ làm lễ cưới cho đôi trẻ kia hộ tôi.
Mắt Mess Lethierry vừa đặt lên cha tôn kính Enebezer.
Douce và Grâce đã vâng lời. Hai cây nến đặt trên bàn soi sáng Gilliatt từ đầu đến chân.
- Đẹp quá đi mất! - Lethierry hét lên.
Gilliatt nom thật gớm chết.
Anh vẫn đúng như lúc rời khỏi Hòn Douvres sáng nay, rách rưới, tay áo thủng, râu ria tua tủa, tóc tai bờm xờm, hai mắt ngầu đỏ, mặt mũi xây xước, nắm tay rớm máu, hai chân đi đất. Một số mụn thuồng luồng vẫn còn rõ trên hai cánh tay lông lá.
Lethierry ngắm nghía anh.
- Đúng là chàng rể thực sự của tôi. Anh ta đã gian nan chiến đấu với biển cả! Quần áo tả tơi! Đôi vai kìa! Tay chân kìa! Con tôi đẹp quá!
Grâce bỗng chạy đến bên Déruchette và đỡ lấy đầu cô. Déruchette vừa bất tỉnh nhân sự.
II CHIẾC HÒM DA
Ngay từ sáng tinh mơ Saint-Sampson đã dậy và Saint-Pierre-Port bắt đầu kéo đến. Việc tàu Durande sống lại gây nên một tiếng vang trong đảo có thể so sánh với việc tàu Salette ở phía nam nước Pháp. Trên bến cảng dân chúng tập trung rất đông để nhìn cái ống khói nhô ra ngoài chiếc thuyền bầu. Người nào cũng muốn được nhìn và sờ một tí vào cỗ máy; nhưng giữa ban ngày, Lethierry, sau khi đắc thắng kiểm tra lại cỗ máy lần nữa, đã cắt hai thủy thủ đứng trong thuyền bầu với nhiệm vụ không cho ai đến gần. Hơn nữa, cái ống khói cũng đủ cho mọi người chiêm ngưỡng. Dân chúng mặc sức trầm trồ. Người ta chỉ bàn tán về Gilliatt. Người ta bình luận và nhấn mạnh vào cái biệt hiệu Khôn ngoan của anh; sự thán phục sẵn sàng kết thúc bằng câu: “cái việc trên đảo có những người làm được những điều như vậy không phải lúc nào cũng hay cả đâu!”
Từ ngoài, người ta trông thấy Mess Lethierry ngồi ở bàn, trước cửa sổ và đang viết, một mắt nhìn vào giấy, một mắt nhìn cỗ máy. Ông tập trung đến mức chỉ dừng lại có mỗi một lần để “kêu” Douce và để hỏi về Déruchette. Douce đã trả lời: “Cô đã dậy và đã đi ra ngoài trời”. Mess Lethierry nói: “Cô ra ngoài trời thế là tốt. Đêm qua trời nóng nên cô hơi khó ở. Có nhiều người trong phòng quá. Rồi lại chuyện bất ngờ, niềm vui, mà các cửa sổ lại đóng. Cô sẽ có một người chồng hiên ngang!”. Nói xong, ông lại viết. Ông đã ký và niêm phong hai lá thư gửi cho những người chủ công trường danh tiếng nhất ở Brême. Ông đang đóng dấu si lên bức thư thứ ba.
Tiếng bánh xe lăn trên bến khiến ông ngẩng đầu lên. Ông nhô người ra ngoài cửa sổ và thấy ở chỗ con đường mòn đi Bû de la Rue có một thằng bé đẩy một chiếc xe cút kít. Thằng bé đi về phía Saint-Pierre-Port. Trong xe có một chiếc hòm da vàng đóng hoa đinh đồng và đinh thiếc.
Mess Lethierry gọi giật thằng bé:
- Cháu đi đâu thế?
Thằng bé đứng lại và đáp:
- Ra chỗ tàu Cashmere.
- Làm gì thế?
- Đưa cái hòm này.
- Thế thì cháu đưa cả ba phong thư này nữa.
Mess Lethierry mở ngăn kéo bàn, lấy một đoạn dây, buộc chữ thập tất cả ba phong thư vừa viết, rồi vứt xuống cho thằng bé, nó đưa tay ra bắt.
- Cháu nói với thuyền trưởng tàu Cashmere là thư của ông nhé, và nhờ thuyền trưởng cẩn thận hộ. Thư gửi đi Đức đấy. Đi Brême qua Luân Đôn.
- Cháu không nói với thuyền trưởng đâu, Mess Lethierry ạ.
- Tại sao?
- Tàu Cashmere không nằm trong bến!
- A!
- Nó đang nằm ngoài cửa biển.
- Đúng rồi. Vì nước triều.
- Cháu chỉ có thể nói với chủ tàu thôi.
- Cháu đưa mấy phong thư của ông, cho chủ tàu.
- Vâng ạ, Mess Lethierry.
- Mấy giờ tàu Cashmere đi?
- Mười hai giờ.
- Giữa trưa, hôm nay, triều lên. Thế thì ngược triều.
- Nhưng thuận gió.
- Cháu này - Mess Lethierry nói, tay trỏ vào cái ống khói cỗ máy - cháu nhìn thấy cái kia không? Nó bất chấp cả gió cả nước triều đấy.
Thằng bé bỏ mấy phong thư vào túi, nắm lấy càng xe, và đi tiếp về phía thành phố. Mess Lethierry gọi “Douce! Grâce!”
Grâce hé cửa ra.
- Thưa ông, có việc gì ạ?
- Vào đây, chờ đấy.
Mess Lethierry lấy một tờ giấy và cắm cúi viết. Đứng sau lưng ông, nếu Grâce tò mò vươn đầu tới trong khi ông viết, thì cô có thể đọc qua vai ông như sau: “Tôi viết thư cho Brême về việc gỗ. Tôi bận gặp thợ mộc suốt ngày để định giá. Việc đóng lại tàu để tiến hành rất nhanh, về phía anh, anh hãy đến chỗ cha xứ để xin miễn trừ. Tôi muốn lễ cưới được cử hành thật sớm, tốt nhất là ngay tức khắc. Tôi lo về tàu Durande, anh lo về Déruchette”.
Ông đề ngày và ký tên: LETHIERRY.
Ông không thèm niêm phong tờ giấy, chỉ gấp nó lại làm tư rồi đưa cho Grâce.
- Đưa cái này cho Gilliatt.
- Ở Bû de la Rue?
- Ở Bû de la Rue.
❀ ❀ ❀
[1] Thousand (tiếng Anh): nghìn.
[2] Nguyên văn là loups de mer, có nghĩa là hải cẩu, là thủy thủ lão luyện. Đây dùng nghĩa trên để làm nổi bật chữ hải sư bên dưới.