Saint-Sampson ngày nay gần như một thành phố; nhưng cách đây bốn mươi năm Saint-Sampson chỉ na ná một thôn xã.
Khi mùa xuân đến và không còn những đêm đông ngồi bên bếp lửa nữa thì tối đến, người ta chỉ chuyện trò dăm ba câu rồi đi ngủ. Saint-Sampson là một giáo khu cũ có lệnh giới nghiêm vẫn giữ thói quen tắt đèn từ sớm. Người ta cùng đi ngủ và thức dậy với mặt trời. Những làng Normandie xa xưa này vui lòng đóng vai chuồng gà.
Ngoài ra chúng ta cần phải nói, trừ vài gia đình tư sản giàu có ra thì Saint-Sampson toàn là dân làm đá và thợ mộc. Bến tàu là một cảng sửa chữa. Suốt ngày người ta khai thác đá và đẽo gỗ; chỗ này chòong, chỗ kia búa. Lúc nào cũng đục đẽo chuyển vận gỗ sồi và đá hoa cương. Tối đến người ta mệt nhoài và ngủ như chết. Công việc vất vả bao giờ cũng đem lại những giấc ngủ nặng nề.
Một tối đầu tháng năm, sau một lúc ngắm nhìn trăng lưỡi liềm trong cây và nghe tiếng chân Déruchette, nhân lúc trời đêm mát mẻ, dạo bước một mình trong khu vườn Bravées, Mess Lethierry đã về phòng riêng trên bến cảng và đã đi nằm. Douce và Grâce đã lên giường. Trừ Déruchette ra, cả nhà đều ngủ. Tất cả Saint-Sampson cũng đều ngủ. Khắp nơi cửa đóng then cài. Ngoài đường chẳng ai qua lại. Một vài ánh đèn hiếm hoi, như những con mắt hấp háy sắp tắt, nhuộm đỏ đây đó những cửa sổ trên mái, dấu hiệu giờ ngủ của kẻ ăn người làm. Chín giờ đã điểm được một lúc trên gác chuông cổ xưa phủ kín trường xuân; cùng với nhà thờ Saint-Brelade ở Jersey, gác chuông này có cái niên đại kỳ lạ mang bốn con một: IIII; nghĩa là một nghìn một trăm mười một.
Sở dĩ Mess Lethierry được lòng dân Saint-Sampson là nhờ sự thành công của ông. Cất bỏ thành công đó đi, thì chẳng còn gì nữa. Phải tin rằng vận hạn vốn hay lây và kẻ nào không vui đều bị dịch hạch, vì chẳng mấy lúc họ đều bị mọi người xa lánh. Các chàng trai đẹp mã, con nhà giàu đều lảng tránh Déruchette.
Xung quanh nhà Bravées hiện nay vắng vẻ đến mức họ không biết cả đến chút việc quan trọng địa phương hôm ấy đã làm cho cả Saint-Sampson xôn xao. Vị mục sư giáo khu, cha tôn kính Ebenezer Caudray, đã trở nên giàu có. Người cậu ông, vị niên trưởng danh tiếng của Saint-Asaph, vừa tạ thế ở Luân Đôn. Tin này đã được chiếc bưu thuyền Cashmere từ Anh tới ngay sáng hôm ấy đưa đến, và người ta nhìn thấy cột buồm thuyền Cashmere trong bến Saint-Pierre-Port. Trưa hôm sau, thuyền Cashmere phải đi Southampton, và nghe nói sẽ đưa ông mục sư tôn kính đi. Ông được gọi về Anh gấp để dự phiên họp chính thức về bản di chúc, không kể các chuyện cần kíp khác của một việc thừa hưởng gia tài lớn. Suốt ngày, Saint-Sampson bàn tán xôn xao. Thuyền Cashmere, cha Ebenezer tôn kính, người cậu quá cố, sự giàu có, việc ra đi, các khả năng được đề bạt trong tương lai của ông, là nội dung của việc rì rầm. Chỉ có một nhà, không được biết tin, vẫn im lìm, đó là gia đình Bravées.
Mess Lethierry, vẫn mặc cả quần áo, đã ngả lưng trên chiếc vòng thủy thủ của ông. Từ ngày tàu Durande xảy ra tai họa, ngả lưng trên võng là việc làm duy nhất của ông. Nằm dài trên chõng là việc mà mọi tù nhân đều phải cần đến, và Mess Lethierry đang là tù nhân của ưu phiền. Ông nằm nghỉ; đây là một cuộc hưu chiến, một dịp lấy hơi, một cơ hội ngừng suy nghĩ. Ông ngủ chăng? Không. Ông thức chăng? Không. Nói cho đúng, từ hai tháng rưỡi nay - từ ấy đến nay đã hai tháng rưỡi - Mess Lethierry như người mộng du. Bản thân ông vẫn chưa được tỉnh táo. Ông sống trong trạng thái hỗn hợp và lờ mờ mà những ai đã từng gặp những buồn phiền chán nản lớn đều biết. Suy nghĩ của ông không phải là tư tưởng, giấc ngủ của ông không phải là nghỉ ngơi. Ban ngày, ông không phải là người thức, ban đêm, ông không phải là người ngủ. Ông đứng chán rồi lại nằm, có thế thôi. Khi nào ông nằm trên võng, quên lãng lại đến với ông một tí, ông gọi như thế là ngủ, các ảo tưởng chập chờn trên người ông và bên trong ông, mây đêm, đầy những gương mặt mơ hồ, lướt qua đầu óc ông; hoàng đế Napoléon đọc hồi ký cho ông nghe, có nhiều Déruchette, những con chim kỳ lạ đậu trên cây, các đường phố Lons-le-Saulnier trở thành những con rắn. Ác mộng là giây phút nghỉ ngơi của thất vọng. Đêm đêm ông mơ màng, ngày ngày ông mơ mộng.
Đôi khi ông ngồi suốt cả buổi chiều, không nhúc nhích, bên cánh cửa sổ phòng ông nhìn xuống cảng, như ta còn nhớ, đầu cúi gằm, cùi tay chống trên đá, bàn tay nắm chặt lấy tai, không màng đến thế sự, mắt đăm đăm vào cái khoanh sắt cũ gắn trên tường nhà cách chỗ cửa sổ ông ngồi độ mấy tấc, nơi trước kia vẫn buộc tàu Durande. Ông nhìn lớp gỉ đang ăn trên khoanh sắt.
Mess Lethierry chỉ còn mỗi một chức năng vô ý thức là sống. Những người dũng cảm nhất, khi mất lý tưởng có thể thực hiện được, đều như vậy. Đấy là hậu quả của những cuộc sống không còn ý nghĩa. Đời là một cuộc du lịch, lý tưởng là hành trình. Hết hành trình, người ta dừng lại. Mục đích mất thì sức mạnh chết. Số phận có một quyền hạn tối tăm là được tùy nghi hành động. Với chiếc quyền trượng của nó, nó có thể chạm cả vào bản thể tinh thần của ta. Thất vọng, đó hầu như là sự bãi miễn tinh thần. Chỉ những bậc thật tài trí mới đứng vững được. Và cũng chưa chắc.
Mess Lethierry triền miên suy ngẫm, nếu chăm chú có thể gọi là suy ngẫm, trong một thứ vực sâu nước đục. Ông thường bật ra những lời ảo não như: Ta chỉ còn mỗi việc xin bề trên cho ta cái giấy ra cửa.
Chúng ta cần ghi nhớ một điều mâu thuẫn trong con người này cũng phức tạp như biển cả mà, có thể nói, Lethierry là sản phẩm; Mess Lethierry không bao giờ cầu nguyện.
Bất lực là một sức mạnh. Trước hai mặt mù quáng lớn của chúng ta, số mệnh và bản chất, chính trong hoàn cảnh bất lực của mình con người đã tìm ra điểm tựa là cầu nguyện.
Con người đòi hỏi khủng khiếp phải cứu giúp mình; nó yêu cầu nỗi sợ của nó cứu giúp; lo âu, đấy là một lời khuyên quỳ gối.
Cầu nguyện là sức mạnh to lớn riêng biệt của linh hồn và cùng loại với huyền bí. Cầu nguyện hướng vào lòng cao thượng của u minh, cầu nguyện nhìn huyền bí với chính đôi mắt của bóng tối, và trước sự tập trung đầy uy lực của đôi mắt van xin ấy, người ta cảm thấy rất có thể Vô-định sẽ vứt bỏ vũ khí.
Cái khả năng thấp thoáng ấy đã là một niềm an ủi.
Mess Lethierry không cầu nguyện.
Thời kỳ ông hạnh phúc, ông thấy có Chúa, có thể nói là Chúa bằng xương bằng thịt; Lethierry cũng chuyện trò với Chúa, hứa hẹn với Chúa, gần như thỉnh thoảng còn bắt tay Chúa nữa. Nhưng trong tai họa của Lethierry, hiện tượng này kể ra cũng khá thường xuyên, Chúa đã bị che khuất. Điều ấy thường xảy ra khi người ta tự tạo cho mình một Chúa Trời từ bi như một con người hiền lành chất phác.
Trong tâm trạng của ông, Lethierry chỉ có mỗi một hình ảnh rõ rệt, đó là nụ cười của Déruchette. Ngoài nụ cười ấy ra, tất cả đều đen tối.
Ít lâu nay, chắc hẳn vì việc mất tàu Durande mà cô cảm thấy hậu quả, nụ cười duyên dáng của Déruchette có hiếm hơn. Dường như cô bận bịu. Những nét yêu kiều trẻ con và như chim của cô đã tắt. Người ta không còn trông thấy cô, buổi sáng, lúc có tiếng đại bác bình minh, cúi chào trang trọng và nói với vừng đông: “Bum… giua[1]. Mời ngài quá bộ vào chơi.” Nhiều lúc cô có vẻ rất nghiêm trang, một điều đáng buồn trong con người dịu dàng này. Tuy vậy cô vẫn cố gắng tươi cười với Mess Lethierry và để làm cho ông khuây khỏa; nhưng vẻ vui tươi của cô, ngày càng tàn héo và mờ bụi, như một cánh bướm bị kim xuyên suốt qua mình. Cần nói thêm rằng, do buồn trước nỗi buồn của ông chú, vì cũng có những nỗi đau chỉ là phản ánh thôi, hoặc do những lý do khác, bây giờ hình như cô ngả nhiều về tôn giáo. Thời còn vị mục sư cũ, Monsieur Jaquemin Hérode, như ta đã biết, một năm cô chỉ đi nhà thờ có bốn bận. Bây giờ cô rất chăm đến nhà thờ. Cô không bỏ sót một lễ nào, chúa nhật cũng như thứ năm. Những người mộ đạo trong giáo khu rất thỏa mãn nhìn thấy việc cải hóa ấy. Vì một người con gái, chịu biết bao nguy hiểm bên cạnh đàn ông, quay về với Chúa, là một hạnh phúc lớn lao.
Điều ấy ít nhất cũng khiến cho các bậc cha mẹ đáng thương được yên tâm về chuyện ong bướm.
Buổi tối, hễ thời tiết cho phép, cô lại dạo chơi một vài giờ trong khu vườn Bravées. Ở đây, hầu như cô cũng trầm tư như Mess Lethierry, và lúc nào cũng chỉ có một mình. Déruchette thường đi ngủ sau cùng. Điều ấy không ngăn cản Douce và Grâce luôn luôn để mắt đến cô, vì bản năng rình mò là điều sẵn có trong giới tôi đòi; do thám làm cho việc hầu hạ đỡ buồn chán.
Còn Mess Lethierry, trong tình trạng tâm trí bị lu mờ, thì không nhận thấy những thay đổi nhỏ ấy trong thói quen của Déruchette. Vả lại ông không phải là bảo mẫu bẩm sinh. Ông không nhận thấy cả tính chất đều đặn của Déruchette trong việc đi lễ ở giáo khu. Vốn khó lay chuyển trong thành kiến đối với những việc và người trong giới tăng lữ, lẽ ra ông phải không vui khi thấy Déruchette lui tới nhà thờ như vậy.
Không phải vì tâm trạng ông không có chiều hướng thay đổi. Buồn phiền là mây và thường thay hình đổi dạng.
Các tâm hồn vững vàng, như chúng ta vừa nói, đôi khi vì một vài tai họa giáng phải, hầu như bị bãi miễn, không phải hoàn toàn. Những người có bản lĩnh kiên cường như Lethierry thường phản ứng lại sau một thời gian nhất định. Thất vọng có những cung bậc đi lên. Từ chỗ thất vọng, người ta đi lên đến chỗ sầu muộn, từ chỗ sầu muộn đi lên đến chỗ u buồn. U buồn là một cảnh chiều hôm. Trong ấy đau khổ tan hòa với một niềm vui đen tối.
U buồn, là hạnh phúc được buồn.
Lethierry không quen với những mức giảm nhẹ sầu bi ấy; cả tính khí ông, cả thể loại tai họa của ông, đều không chịu nổi những sắc thái ấy.
Có điều, vào lúc chúng ta vừa gặp lại ông, thì trạng thái mơ mộng trước thất vọng đầu tiên của ông, từ quãng một tuần đang có chiều hướng tiêu tan; tuy không kém buồn, Lethierry có kém đờ đẫn, ông vẫn âm thầm như mọi ngày, nhưng ông không ủ ê nữa; ông nhớ lại một vài việc, một vài sự kiện; và ông bắt đầu cảm thấy đôi chút cái hiện tượng mà người ta có thể gọi là trở về với thực tế.
Cho nên, ban ngày, trong căn phòng thấp, tuy không lắng tai để ý đến tiếng nói mọi người, nhưng ông vẫn nghe. Một sáng nọ Grâce đắc thắng đến nói với Déruchette rằng Mess Lethierry đã bóc băng một tờ báo.
Bản thân việc thừa nhận một phần thực tế là một dấu hiệu tốt. Đây là thời kỳ an dưỡng. Những tai họa lớn là một đòn choáng váng. Người ta từ đấy đi ra. Nhưng sự thuyên giảm ấy thoạt tiên giống như hậu quả của tình trạng trầm trọng thêm. Trạng thái mơ màng trước đây làm cho đỡ nhức nhối, trước chỉ nhìn thấy mơ hồ, chỉ cảm xúc chút ít; giờ đây đã thấy rõ, người ta không để lọt một tí gì, mọi thứ đều làm người ta xót xa. Vết thương nhức nhối thêm. Nỗi đau tăng thêm với tất cả những chi tiết trông thấy. Người ta nhìn thấy lại mọi chuyện trong ký ức. Thấy lại tất cả tức là luyến tiếc tất cả. Trong lần quay về thực tế này có đủ loại dư vị đắng cay. Có khá hơn đấy, nhưng cũng xót xa hơn. Chính đấy là điều Lethierry đang cảm thấy. Ông đau khổ rõ rệt hơn.
Điều đã dẫn Mess Lethierry trở về với cảm giác thực tế là một chấn động.
Chúng ta hãy nói đến chấn động ấy.
Một buổi chiều, quãng 15 hay 20 tháng tư, có hai tiếng gõ vào cửa căn phòng thấp nhà Bravées, báo hiệu có người đưa thư. Douce đã mở cửa. Đúng là có thư.
Thư này từ ngoài biển gửi về. Gửi cho Mess Lethierry. Đóng dấu Lisboa.
Douce đưa phong thư vào cho Mess Lethierry lúc ấy đang ngồi một mình trong phòng. Ông đã cầm phong thư, đặt lên bàn một cách vô ý thức, và không nhìn đến nó.
Suốt một tuần, phong thư vẫn nằm trên bàn, không được bóc.
Thế rồi một sáng nọ, tình cờ Douce nói với Mess Lethierry:
- Thưa ông, có nên quét bụi trên phong thư của ông không ạ?
Lethierry dường như bừng tỉnh. Ông nói:
- Đúng đấy.
Và ông mở phong thư. Thư viết như sau:
Biển khơi, ngày 10 tháng ba năm nay
Mess Lethierry, Saint-Sampson,
Ông sẽ vui mừng nhận được tin tức về tôi.
Tôi đang ngồi trên tàu Tamoulipas, trên đường đi Pasrevenir[2]. Trong số nhân viên trên tàu, có một thủy thủ tên là Ahier-Tostevin, người ở Guernesey; anh ta sẽ trở về và sẽ có nhiều chuyện để kể. Tôi tranh thủ việc gặp thuyền Hernan Cortez đi Lisboa để nhờ chuyển đến ông bức thư này.
Ông hãy ngạc nhiên đi. Tôi là người lương thiện.
Cũng lương thiện như Sieur Clubin.
Tôi tin rằng ông đã biết sự việc xảy ra; tuy nhiên tôi cũng cứ nói để ông rõ, có lẽ cũng không thừa.
Nó như sau:
Tôi đã trả đủ số vốn lại cho ông.
Trước đây tôi đã vay của ông, khi không lịch sự lắm, năm vạn frăng. Trước khi rời Saint-Malo, tôi đã nhờ người tin cẩn của ông là Sieur Clubin giao lại cho ông ba tờ bạc ngân hàng mỗi tờ một nghìn livrơ xteclinh, tổng cộng bảy vạn năm nghìn frăng. Có lẽ ông sẽ thấy việc bồi hoàn như vậy là đủ.
Sieur Clubin đã dùng sức mạnh cầm số tiền lời và nhận số tiền của ông. Tôi thấy ông ta có vẻ rất sốt sắng, vì vậy tôi xin báo để ông rõ.
Người tin cẩn khác của ông.
RANTAINE
Tái bút: Sieur Clubin có một khẩu súng lục, vì vậy tôi không có biên lai.
Bạn hãy chạm vào một quả ngư lôi, bạn hãy sờ vào một bình điện Leyde nạp sẵn, bạn sẽ nhận thức được điều mà Mess Lethierry cảm thấy khi đọc lá thư trên.
Dưới chiếc phong bì kia, trong tờ giấy gập tư mà lúc đầu ông rất ít để ý đến, có một sức chấn động.
Ông nhận ra nét bút, ông nhớ ra chữ ký kia. Còn sự việc thoạt tiên ông chẳng hiểu gì cả.
Chấn động kỳ lạ đến nỗi có thể nói là nó lại làm cho trí óc ông tỉnh táo.
Hiện tượng Rantaine giao lại số tiền bảy vạn năm nghìn frăng cho Clubin, vì là một điều bí ẩn, được xem như khía cạnh tốt của chấn động, bởi lẽ nó thúc đẩy đầu óc Lethierry phải làm việc. Đối với tư tưởng, phỏng đoán là một điều lành mạnh. Lý luận được thức tỉnh, suy luận được vận dụng.
Ít lâu nay dư luận công chúng ở Guernesey chú ý đến việc đánh giá lại Clubin, con người lương thiện suốt bao nhiêu năm được nhất trí mến chuộng. Người ta hỏi nhau, người ta đâm ra nghi ngờ, người ta đánh cuộc với nhau, có kẻ bênh người chống. Đã có một số điểm soi sáng đặc biệt. Clubin bắt đầu sáng rõ, nghĩa là trở thành đen tối.
Một cuộc điều tra tư pháp được tiến hành ở Saint-Malo để biết rõ số phận người lính phòng vệ duyên hải số 619. Sự minh mẫn của luật pháp đã đi lầm đường, điều này vẫn thường xảy ra. Nó xuất phát từ giả thuyết người lính phòng vệ duyên hải đã bị Zuela lôi kéo và đã theo thuyền Tamoulipas đi Chilê. Giả thuyết tài tình này đã kéo theo nhiều sai lầm. Công lý cận thị đến nỗi không biết có cả Rantaine. Nhưng trong quá trình các quan chức thẩm tra đã phát hiện thêm một số dấu vết khác. Vụ án đen tối càng trở nên phức tạp. Clubin đã đi vào chỗ bí ẩn. Người ta nhận thấy có một sự trùng hợp, một mối liên quan cũng nên, giữa ngày thuyền Tamoulipas ra đi với việc tàu Durande gặp tai nạn. Ở tiệm rượu của Dinan, nơi mà Clubin tưởng là không ai biết mình, người ta đã nhận ra hắn; người chủ tiệm rượu đã lên tiếng; Clubin đã mua một chai rượu trắng. Cho ai? Người bán súng ở phố Saint-Vincent đã lên tiếng: Clubin đã mua một khẩu súng lục. Để chống ai? Người chủ quán ông Jean đã lên tiếng; Clubin có những lúc vắng mặt không giải thích nổi. Thuyền trưởng Gertrais-Gaboureau đã lên tiếng; Clubin có ý định ra đi, mặc dầu đã được báo trước, và biết rằng sẽ gặp phải sương mù.
Thủy thủ tàu Durande đã lên tiếng. Thực tế, việc chở hàng đã bị lỡ, và việc bốc xếp không được tốt, một việc sơ suất dễ hiểu, nếu người thuyền trưởng muốn đánh đắm tàu. Ông khách người Guernesey đã lên tiếng; Clubin tưởng là bị đắm vào Hòn Hanois. Những người ở Torteval đã lên tiếng; Clubin đã đến đây vài hôm trước vụ đắm tàu Durande, và đã dạo chơi về phía Plainmont, gần Hòn Hanois. Hắn xách một cái túi du lịch. “Ông ta cầm đi, mà không cầm về.” Lũ trẻ phá tổ chim đã lên tiếng; câu chuyện của chúng hình như có thể liên quan đến việc Clubin mất tích, với điều kiện duy nhất là thay thế các bóng ma ở đấy bằng những tên buôn lậu. Cuối cùng chính ngôi nhà có ma ở Plainmont cũng đã lên tiếng, những người quyết tâm tìm hiểu đã trèo vào nhà, và đã tìm thấy ở trong nhà, cái gì? Đúng cái túi du lịch của Clubin. Đoàn Mười-Hai người ở Torteval đã tịch thu cái túi, và đã cho mở nó ra. Nó đựng thức ăn, một ống nhòm, một đồng hồ, một ít quần áo đàn ông và đồ lót có đánh dấu chữ đầu tên Clubin. Tất cả những khoản ấy, trong các câu chuyện ở Saint-Malo và Guernesey, kết hợp lại, và cuối cùng tạo thành gần như một việc cố ý làm hại chủ thuyền. Người ta đối chiếu các sự việc rối rắm lại; người ta nhận thấy có một sự khinh thường ý kiến kỳ lạ, một việc bất chấp sương mù, một sơ suất đáng ngờ trong việc bốc xếp hàng hóa, một chai rượu trắng? Một lái tàu say rượu, việc thuyền trưởng thay thế lái tàu, một đường lái ít ra là rất vụng về. Hành vi dũng cảm ở lại trên xác tàu đắm trở thành một trò xỏ lá. Vả lại Clubin đã nhầm lẫn bãi ngầm. Khi ý định làm hại chủ thuyền được chấp nhận, người ta hiểu ngay việc lựa chọn Hòn Hanois phía dễ bơi đến, việc nghỉ lại trong ngôi nhà có ma là chờ thời cơ đi trốn. Cái túi du lịch, chỗ đồ dự phòng, hoàn chỉnh việc chứng minh. Sự việc này dính líu như thế nào với sự việc kia, việc người lính phòng vệ duyên hải, người ta vẫn không nắm được. Người ta đoán là có một mối liên quan; thế thôi. Người ta thoáng thấy, phía người này, người lính phòng vệ duyên hải số 619, cả một tấn bi kịch. Có lẽ Clubin không đóng một vai nào ở đấy, nhưng người ta nhận thấy hắn có mặt trong hậu trường.
Tất cả vẫn không thể tự giải thích được bằng việc cố ý làm hại chủ thuyền. Có một khẩu súng lục không dùng đến. Khẩu súng này chắc hẳn nằm trong vụ án kia.
Tài linh mẫn của dân chúng vốn tinh và chính xác. Bản năng của công chúng rất tài trong những chuyện phục hồi sự thật gồm những mẩu vụn vặt như thế. Có điều trong các sự việc để toát lên ý đồ làm hại chủ thuyền có vẻ như thật này, có những điều chưa chắc chắn nghiêm trọng.
Tất cả đều đứng vững, tất cả đều phù hợp; nhưng điểm cơ bản lại thiếu.
Không ai đánh đắm một chiếc tàu chỉ vì thích đánh đắm nó. Không ai đón nhận tất cả những hiểm nguy như thế của sương mù, của bãi ngầm, trong việc bơi lặn, ẩn náu và trốn tránh mà không nhằm một lợi ích gì. Lợi ích của Clubin có thể là cái gì?
Người ta nhìn thấy hành vi, nhưng không nhìn thấy động cơ của hắn.
Vì vậy nảy sinh một mối ngờ vực trong nhiều đầu óc. Ở đâu không có động cơ, hình như ở đó không còn hành động.
Thiếu sót thật quan trọng.
Thiếu sót này, bức thư của Rantaine đến bổ khuyết.
Bức thư ấy cho thấy động cơ của Clubin. Bảy vạn năm nghìn frăng cần đánh cắp.
Rantaine là vị thần trong bộ máy. Hắn từ trên mây bước xuống tay cầm một cây nến.
Bức thư của hắn là tia sáng cuối cùng.
Nó giải thích tất cả, và rất thừa thãi, nó báo trước một chứng cứ, Ahier-Tostevin.
Điều quyết định, nó cho thấy việc sử dụng khẩu súng lục.
Rantaine hiển nhiên biết rất rõ. Bức thư của hắn cho thấy rõ ràng.
Không thể có chút giảm nhẹ nào cho việc gian hùng của Clubin. Hắn đủ âm mưu đánh đắm tàu; chứng cớ là số đồ dự phòng đưa đến ngôi nhà có ma. Và cứ giả dụ là hắn vô tội, cứ cho rằng vụ đắm tàu là chuyện ngẫu nhiên, lại sao đến phút cuối cùng, đã quyết định hy sinh trên xác tàu, hắn lại không nhờ những người thoát nạn trên xuồng giao số tiền bảy vạn năm nghìn frăng lại cho Mess Lethierry?
Sự việc hiển nhiên đã rành rành. Bây giờ Clubin thế nào rồi? Có lẽ hắn đã thành nạn nhân của việc nhầm lẫn của hắn, chắc hẳn hắn đã chết trong bãi ngầm Douvres.
Việc sắp xếp những điều phỏng đoán, rất hợp với thực tế, như ta đã thấy, làm cho đầu óc Mess Lethierry bận rộn mất nhiều ngày. Bức thư của Rantaine giúp ông cái việc là buộc ông phải suy nghĩ. Thoạt tiên ông bị điều bất ngờ rung chuyển, sau đó ông cố tập trung suy nghĩ, cố gắng khó hơn nữa là thăm dò tin tức. Ông đành phải chấp nhận, và phải tìm kiếm nữa, các cuộc chuyện trò. Sau tám ngày ông đã trở lại, trong một chừng mực nào, con người thực tế; trí óc ông đã trở lại mạch lạc và hầu như khỏi hẳn. Ông đã ra khỏi trạng thái thác loạn.
Bức thư của Rantaine, cứ cho rằng Mess Lethierry có thể có lúc cũng nuôi hy vọng được bồi thường ở phía ấy, làm tan biến vận may cuối cùng của ông.
Nó thêm vào thảm họa tàu Durande vụ đắm mới này của bảy vạn năm nghìn frăng. Nó cho ông được hưởng lại số tiền ấy vừa đủ để ông cảm thấy nỗi mất mát. Bức thư ấy cho ông thấy sự phá sản hoàn toàn của ông.
Do đó nảy sinh một đau khổ mới, rất nhức nhối, mà chúng tôi đã nêu lên ban nãy. Ông bắt đầu, điều mà ông không làm từ hai tháng nay, lo lắng đến việc nhà, đến tình trạng sắp tới của nó, đến cách phải tổ chức lại nó. Buồn phiền nhỏ với hàng nghìn mũi nhọn, hầu như còn tệ hơn thất vọng. Chịu đựng tai họa trong từng chi tiết, giành giật với việc đã rồi từng tấc đất nó cướp của anh, đó là điều thật ghê tởm. Có thể chịu đựng cả khối tai họa, chứ không chịu nổi bụi bặm của nó. Cái toàn bộ trĩu nặng, cái chi tiết dày vò. Ban nãy thảm họa như sét đánh vào bạn, giờ đây nó giằng co, cãi vã với bạn.
Đó là nỗi nhục nhã làm cho cảnh dày vò thêm đau đớn. Đấy là lần hủy diệt thứ nhì thêm vào lần thứ nhất, và lại xấu xa nữa. Người ta bước xuống thêm một bậc trong chốn hư không. Sau tấm vải liệm là mảnh giẻ rách…
Nghĩ đến chuyện sa sút, thật không còn ý nghĩ nào buồn bã hơn.
Bị phá sản, việc ấy tưởng như đơn giản. Đòn ác liệt; sự tàn bạo của số kiếp; đấy là tai họa quyết định. Được. Người ta chấp nhận nó. Thế là hết. Bị phá sản. Được rồi, thì chết. Không. Người ta vẫn sống. Ngay hôm sau, người ta nhận thấy điều ấy. Nhờ đâu? Nhờ những mũi kim châm. Một người qua đường nào đấy không chào bạn nữa, hóa đơn đòi nợ tới tấp như mưa, kìa một kẻ thù của bạn đang cười. Có lẽ hắn cười vì lối chơi chữ mới đây của Arnal, nhưng cũng chẳng sao, hắn thấy lối chơi chữ ấy hay chỉ vì bạn bị phá sản. Bạn thấy được sự sa sút của bạn ngay cả trong những con mắt lãnh đạm; những người đến ăn cơm ở nhà bạn thấy trên bàn thừa đến ba món; các khuyết điểm của bạn đập vào mắt mọi người; những kẻ vô ơn, không chờ đợi gì nữa, làm cho người ta để ý đến mình; tất cả những đứa ngu si đều nhìn thấy trước những gì xảy đến với bạn; bọn độc ác xâu xé bạn, lũ tồi tệ nhất ái ngại cho bạn. Rồi hàng trăm chuyện ti tiện vụn vặt. Cảm giác buồn nôn tiếp theo nước mắt. Trước kia bạn uống rượu vang, rồi đây bạn sẽ uống rượu tần. Hai đầy tớ gái! Thế là đã thừa một. Sẽ phải thải cô này, và bắt cô kia làm thêm việc. Trong vườn nhiều hoa quả; rồi đây sẽ trồng khoai. Hoa quả trong vườn trước kia vẫn để biếu bạn bè, rồi đây sẽ cho đem ra chợ bán. Còn người nghèo, thôi không nên nghĩ đến họ nữa; bản thân ta chẳng phải cũng là một kẻ nghèo sao? Còn quần áo, vấn đề thật đau lòng. Bớt của vợ một sợi ruy-băng, ôi, còn đau khổ nào hơn! Đối với người đã hiến dâng sắc đẹp cho bạn mà lại từ chối họ chút đồ trang sức! Mang cái vỏ một người keo kiệt! Có lẽ họ sẽ bảo bạn: “Sao, ông đã hái hết hoa trong vườn tôi, rồi bây giờ ông lại lấy cả hoa trên mũ tôi!” Than ôi! Bắt vợ phải mặc những chiếc áo bạc màu! Bàn ăn gia đình thầm lặng. Bạn nghĩ rằng xung quanh bạn, người ta ác cảm với bạn. Những gương mặt thân yêu đều ưu tư. Đấy, sa sút là như vậy đấy. Ngày nào cũng lại phải chết thêm lần nữa. Quỵ ngã, không đáng kể, đấy là lò lửa rực. Sa sút, là ngọn lửa liu riu.
Waterloo là bước sụp đổ; Sainte-Hélène là bước giảm sút số phận, hiện thân trong Wellington, còn có đôi chút phẩm chất, nhưng khi nó là Hudson Low, thì thật là đê tiện! Số phận trở thành một tên hèn hạ. Người ta thấy con người hùng Campo-Formio cãi nhau vì một đôi bít tất lụa. Việc hạ thấp Napoléon làm cho nước Anh trở thành nhỏ mọn.
Hai giai đoạn ấy, Waterloo và Sainte-Hélène, thu hẹp lại trong khuôn khổ tầm thường, bất cứ người nào phá sản cũng đều trải qua cả.
Tối hôm nói trên đây, một trong những buổi tối đầu tiên của tháng năm, Lethierry, mặc cho Déruchette thơ thẩn trong vườn dưới ánh trăng trong, đã đi nằm, buồn nản hơn bao giờ hết.
Tất cả những chi tiết nhỏ nhặt và khó chịu ấy, những chuyện rắc rối của các cơ nghiệp tiêu tan, tất cả những âu lo vụn vặt ấy, bắt đầu trở thành vô vị và cuối cùng trở thành bi thảm, đang diễu qua đầu óc ông. Một cảnh bề bộn buồn rầu của đau khổ. Mess Lethierry cảm thấy bước quỵ ngã của mình hết đường cứu vãn. Sẽ làm gì đây? Sẽ ra sao đây? Phải bắt Déruchette chịu những hy sinh nào đây? Sa thải ai? Douce hay Grâce? Có bán ngôi nhà Bravées không? Liệu có phải xa rời hòn đảo này không? Nơi trước kia người ta là tất cả, thì nay không là gì hết, cảnh suy vi quả là không thể nào chịu nổi thật.
Mà nào đã hết! Nhớ lại những chuyến vượt biển ấy, nối liền nước Pháp với Quần đảo, những ngày thứ ba khởi hành ấy, những ngày thứ sáu trở về ấy, dân chúng trên bến, những buổi bốc xếp rộn ràng ấy, công cuộc làm ăn, cảnh phồn vinh ấy, việc chuyển vận trực tiếp và đầy tự hào ấy, cỗ máy mà con người đặt hết ý chí vào ấy, cái nồi hơi to khỏe, làn khói ấy, thực tế ấy! Tàu hơi nước là chiếc la bàn được bổ sung đầy đủ; la bàn chỉ rõ con đường thẳng, hơi nước cứ thế đi theo. Cái này đề xuất, cái kia thi hành. Giờ đây nó ở đâu, con tàu Durande của ông, cô nàng Durande lộng lẫy tuyệt vời, bà chúa của biển khơi, vị nữ hoàng đã đưa ông lên ngôi vua! Đã từng là con người tư tưởng, con người thắng lợi, con người cách mạng của quê hương! Bây giờ lại từ bỏ! Lại thoái vị! Không tồn tại nữa! Mà lại làm trò cười! Thành một cái bị trong đó trước kia đã có một cái gì! Trở thành quá khứ khi người ta đã là tương lai! Dẫn đến lòng thương hại kiêu căng của lũ ngu đần! Nhìn thấy óc bảo thủ, tính gàn bướng, hủ lậu, ích kỷ, ngu dốt chiến thắng! Ngồi nhìn những chiếc thuyền đáy bằng cổ lỗ lại bắt đầu tới lui dập dềnh trên biển một cách ngu ngốc! Ngồi nhìn cảnh già khọm hồi xuân! Đã hy sinh cả cuộc đời! Đã từng là ánh sáng, thế mà nay chịu cảnh che khuất! Ôi! Đẹp biết bao, cái ống khói hiên ngang trên biển kia, cái ống kỳ diệu kia, cái trụ tỏa khói kia, cái cột vĩ đại hơn cột Vendôme vì trên cột này chỉ có một người, còn trên cột kia là cả sự tiến bộ! Đại dương nằm bên dưới. Đấy là sự thực hiển nhiên, ngay giữa biển khơi. Người ta đã nhìn thấy điều đó trên hòn đảo nhỏ bé này, trong cái cảng nhỏ bé này, trong Saint-Sampson nhỏ bé này! Phải, người ta đã nhìn thấy nó! Sao! Trước đây người ta đã nhìn thấy nó, vậy mà rồi đây người ta sẽ không thấy nó nữa!
Tất cả nỗi ám ảnh đó của nuối tiếc dày vò Lethierry. Tư tưởng có những tiếng nấc của nó. Có lẽ không bao giờ ông cảm thấy sự mất mát của mình đắng cay hơn. Một trạng thái trì độn tiếp theo những cơn đau gay gắt ấy. Lòng nặng trĩu buồn phiền, ông thiu thiu ngủ.
Ông nhắm mắt nằm độ hai giờ đồng hồ, ngủ thì ít, nghỉ ngơi thì nhiều, người nóng hầm hập. Những cơn hôn mê như thế thường che đậy một công việc mơ hồ của óc não, rất mệt nhọc. Đến khuya, vào quãng nửa đêm, trước hay sau một tí gì đấy, ông chợt thoát khỏi trạng thái mơ màng. Ông tỉnh giấc, mở mắt ra, cửa sổ ở ngay trước võng, ông trông thấy một điều kỳ lạ.
Một hình dáng sờ sờ trước cửa sổ. Một hình dáng hết sức lạ lùng. Ống khói một chiếc tàu hơi nước.
Mess Lethierry ngồi nhỏm ngay dậy. Chiếc võng đu đưa như bị bão lắc, Lethierry nhìn chăm chú. Trong cửa sổ một ảo ảnh. Bến cảng rực rỡ ánh trăng đóng khung giữa các ô kính, và trên cái ánh sáng ấy, ngay cạnh nhà ông, nổi rõ, thẳng, tròn và đen, một hình bóng nguy nga.
Một cái ống khói đang đứng đó sừng sững.
Lethierry nhảy vội xuống võng, chạy đến bên cửa sổ, nâng cái khung gỗ lên, nghiêng người ra ngoài và nhận ngay ra nó.
Ống khói tàu Durande đang ở trước mắt ông.
Nó nằm đúng chỗ cũ.
Đến sợi xích của nó chằng nó vào mạn một chiếc tàu, trong tàu bên dưới ống khói, thấy có một khối to đường nét phức tạp.
Lethierry giật lùi, xoay lưng lại phía cửa sổ, và ngồi phịch xuống võng.
Ông lại quay người lại, và vẫn nhìn thấy ảo ảnh.
Một lúc sau, nhanh như chớp, ông đã ở trên bến cảng, tay cầm một chiếc đèn bão.
Một chiếc thuyền buộc ở khoanh sắt xưa kia vẫn neo tàu Durande; hơi về phía sau thuyền có một khối đồ sộ, từ đó nhô lên cái ống khói thẳng ngay trước cửa sổ nhà Bravées, mũi thuyền là là trên mặt bến cảng, chìa ra ngoài góc tường nhà.
Trong thuyền chẳng thấy ai cả.
Thuyền này có một hình dáng riêng biệt mà cả Guernesey đều biết rõ đặc điểm, đấy là chiếc thuyền bầu.
Lethierry nhảy tót vào thuyền. Ông chạy vội đến cái khối bên kia cột buồm. Đấy là cỗ máy.
Nó nằm đấy, nguyên vẹn, đầy đủ, không suy suyển, chễm chệ trên cái bệ gang của nó; nồi hơi còn đủ tất cả các vách ngăn; cầu trục bánh xe dựng đứng và buộc cạnh nồi hơi; cái bơm vẫn ở vị trí cũ. Không thiếu một chút gì.
Lethierry xem xét kỹ cỗ máy.
Chiếc đèn bão cùng với vầng trăng chung sức soi sáng cho nó.
Ông kiểm tra lại toàn bộ cỗ máy.
Ông nhìn thấy hai cái hòm nằm bên cạnh, ông nhìn cầu trục bánh xe.
Ông đi đến buồng lái. Buồng lái rỗng không.
Ông quay về với cỗ máy, và sờ vào nó. Ông thò đầu vào nồi hơi. Ông quì gối xuống để nhìn bên trong.
Ông đặt chiếc đèn bão vào trong lò; ánh đèn soi sáng tất cả bộ máy và tạo nên gần như một bức ảo hóa của một cỗ máy được thắp sáng.
Đoạn ông cười phá lên và đứng thẳng, mắt chằm chằm vào cỗ máy hai tay đưa về phía ống khói, ông hét thật to: “Cứu tôi với!”
Chiếc chuông bến cảng nằm ở trên bờ, cách đấy mấy bước; ông vội chạy đến, nắm lấy sợi xích và ra sức kéo như điên.
II LẠI TIẾNG CHUÔNG TRÊN CẢNG
Thật thế, sau một chuyến vượt biển an toàn, nhưng hơi chậm vì thuyền chở nặng, Gilliatt đã về đến Saint-Sampson vào lúc trời tối mịt, gần mười giờ hơn là chín giờ.
Gilliatt đã tính toán giờ giấc. Thủy triều đã lại lên nửa chừng. Vừa có trăng, vừa gặp nước; có thể vào cảng được.
Cảng nhỏ đã ngủ yên. Dăm chiếc thuyền đậu ở đây, buồm cuốn vào trục, đài quan sát đã buộc dây lên đầu cột buồm, và không thắp đèn hiệu. Trong cùng, một ít thuyền đang sửa chữa nằm trên cạn trong xưởng. Những thân thuyền to gẫy buồm vì bị đánh đắm, chĩa lên trên cạp thuyền lỗ chỗ những mũi nhọn cong cong của sườn thuyền trơ trụi; gần giống như những con bọ hung chết nằm ngửa giơ chân lên trời.
Sau khi vượt khỏi cái cửa biển nhỏ, Gilliatt đã quan sát bến cảng và sân cảng. Không một chỗ nào có ánh sáng, trên nhà Bravées cũng như các nơi khác. Không ai qua lại, có lẽ trừ một người, đàn ông, vừa vào nhà mục sư hay vừa ở đấy ra. Mà cũng chưa chắc có phải là một người không, vì đêm tối thường xóa nhòa tất cả những hình nó vẽ và ánh trăng lúc nào cũng chỉ tạo nên những đường nét lờ mờ. Quãng cách lại thêm vào bóng tối. Nhà mục sư dạo ấy nằm ở bên kia bến cảng, trên một địa điểm mà ngày nay đã xây dựng một chỗ đậu tàu trống trải.
Gilliatt lẳng lặng cập sát vào nhà Bravées, và buộc chiếc thuyền bầu vào cái khoanh sắt của tàu Durande dưới cửa sổ của Mess Lethierry.
Đoạn anh nhảy qua mạn thuyền và lên cạn.
Bỏ chiếc thuyền bầu nằm lại trên bến, Gilliatt đi vòng qua ngôi nhà, men theo một ngõ hẹp, một ngõ nữa, không cả nhìn nhánh đường mòn dẫn đến Bû de la Rue, và vài phút sau dừng lại ở cái góc tường có một cây cẩm quỳ dại ra hoa đỏ hồng tháng sáu, có ô rô, trường xuân và tầm ma. Chính từ chỗ đó, khuất sau bụi gai, ngồi trên một tảng đá, đã bao lần trong những ngày hè, suốt bao nhiêu giờ liền và bao nhiêu tháng trời, anh đã chiêm ngắm, qua bức tường thấp đến nỗi cứ muốn bước qua, ngôi vườn Bravées, và qua các cành cây, hai cái cửa sổ ở một căn phòng của ngôi nhà. Anh lại thấy tảng đá của anh, bụi gai của anh, vẫn bức tường thấp như thế, vẫn cái góc tối như thế, và như một con vật trở về hang, len lách hơn là cất bước, anh thu mình lại. Ngồi xong, anh không dám cựa quậy nữa. Anh đưa mắt nhìn. Vẫn ngôi vườn, những lối đi, vẫn những lùm cây, những luống hoa vuông, vẫn ngôi nhà, hai cửa sổ căn phòng. Vầng trăng phô bày cho anh cảnh mộng ấy. Thật là khủng khiếp khi buộc lòng phải thở. Anh cố sức làm sao để khỏi phải thở.
Anh có cảm giác như đang được nhìn thấy một thiên đường ma quái. Anh chỉ sợ những thứ ấy bay mất. Việc những thứ ấy tồn tại thực sự trước mắt anh hầu như vô lý; và nếu chúng tồn tại thật thì chỉ có thể là trước sau cũng sẽ tan biến như mọi vật thần tiên. Chỉ một ngọn gió thoảng là tất cả sẽ tiêu tan. Gilliatt run sợ sẽ như thế.
Ngay cạnh, trước mắt anh, trong vườn, bên lề một lối đi, có một chiếc ghế dài bằng gỗ sơn xanh. Ta vẫn còn nhớ chiếc ghế ấy.
Gilliatt nhìn lên hai cửa sổ. Anh tơ tưởng đến ai kia trong phòng có thể đang mơ màng giấc điệp. Sau bức tường, người ta đang ngủ. Anh chỉ muốn không ngồi ở chỗ đang ngồi. Anh những ước ao được chết còn hơn rời khỏi đó. Anh tơ tưởng đến một hơi thở đang làm phập phồng một lồng ngực. Nàng, ảo ảnh đó, màu trắng đó trong mây, ám ảnh bềnh bồng đó trong trí óc anh, nàng đang ở đây kia! Anh tơ tưởng đến con người không thể với tới đang nằm ngủ, và gần làm sao, như ở ngang tầm niềm ngây ngất của anh; anh tơ tưởng đến người đàn bà không thể chiếm hữu đang chập chờn, và chính nàng cũng đang có những điều mơ mộng trong đầu óc, đến con người hằng mơ ước, xa xôi, không nắm bắt được, mắt nhắm nghiền, tay bóp trán, đến điều bí mật trong giấc ngủ của con người lý tưởng, đến những mộng mị mà một giấc mơ có thể có được. Anh không dám tơ tưởng xa hơn, nhưng anh vẫn cứ tơ tưởng; anh mạo hiểm trong chỗ khiếm nhã của mơ màng; cái phần hình dáng đàn bà mà một thiên thần có được khiến anh bối rối, đêm khuya khiến con mắt rụt rè thêm mạnh bạo có những cái nhìn vụng trộm, anh tự trách mình đi quá bước, anh sợ trong suy nghĩ mình đã làm điều xúc phạm; mặc dầu miễn cưỡng, bị ép buộc, run rẩy, anh vẫn nhìn vào chốn vô hình. Anh chịu đựng nỗi rùng mình, và hầu như nỗi đau khổ, phải hình dung ra một chiếc váy trên ghế, một tấm áo choàng vứt trên thảm, một dải thắt lưng mở khóa, một chiếc khăn quàng. Anh tưởng tượng đến một chiếc áo lót phụ nữ, một dải yếm trên đất, những chiếc bít tất và nịt tất. Tâm hồn anh lơ lửng trên các tầng sao.
Ngàn sao được tạo ra cho trái tim một kẻ nghèo như Gilliatt cũng y hệt cho trái tim một gã triệu phú. Ở một mức độ nào đó của mê say, người nào cũng có thể có những lúc ngây ngất sâu sắc. Nếu thuộc loại thô bạo và chất phác thì lại thêm một lý do nữa. Man sơ, càng hay mơ mộng.
Say đắm là một trạng thái sung mãn cũng tràn ngập như mọi hoàn cảnh sung mãn. Đối với Gilliatt, trông thấy những cửa sổ kia hầu như đã là quá rồi.
Thình lình, anh trông thấy chính bản thân nàng thật.
Từ trong cành lá một bụi rậm đã đầy kín vì tiết xuân, nhô ra, với một dáng điệu thong thả khó tả của hồn ma và tiên giới, một hình dạng, một tấm áo, một khuôn mặt thần tiên, hầu như một ánh sáng dưới cảnh trời trăng.
Gilliatt cảm thấy bủn rủn cả người, chính là Déruchette.
Déruchette đến gần. Nàng dừng chân. Nàng đi xa ra mấy bước, rồi lại dừng chân, quay về ngồi trên chiếc ghế gỗ. Vầng trăng lấp ló trong cây, vài ba đám mây lang thang giữa trời sao nhợt nhạt, biển cả thì thầm với những vật nằm trong bóng tối, thành phố ngủ yên, một đám sương mù từ chân trời dâng lên, cảnh u buồn ấy thật sâu sắc. Déruchette cúi đầu, với con mắt trầm tư chăm chú mà lại chẳng nhìn gì, nàng ngồi nghiêng, đầu gần như để trần, với một chiếc mũ không buộc để lộ chân tóc trên cái gáy thanh tú. Nàng lơ đãng quấn một dải băng mũ quanh ngón tay, bóng tối chập chờn uốn lượn theo hai bàn tay đẹp như tay tượng, chiếc áo dài của nàng thuộc loại màu sắc mà trời đêm đổi sang màu trắng, cây cối rung rinh dường như xúc động trước vẻ huyền diệu từ nàng toát lên, người ta trông thấy các ngón ở một bên chân nàng; trong hàng mi nhìn xuống có cái vẻ nhấp nháy báo hiệu một giọt lệ bị cầm giữ hay một tư tưởng bị ức chế, đôi cánh tay ngập ngừng ngây ngất như không biết từ đâu, một cái gì hơi lưỡng lự xen lẫn trong toàn bộ dáng điệu của nàng; đây là một ánh sáng dịu dàng hơn là một tia sáng rực rỡ, một vẻ đẹp hơn là một nữ thần; các nếp nhăn trên gấu váy của nàng thật thanh nhã; gương mặt yêu kiều của nàng trầm ngâm một cách trong trắng. Nàng gần quá, gần đến khủng khiếp. Gilliatt nghe cả tiếng nàng thở.
Đâu đây có tiếng hót họa mi. Làn gió thoảng trong cành lá khô làm cho tĩnh mịch khôn tả của trời đêm chuyển động. Déruchette xinh đẹp, thiêng liêng, xuất hiện trong cảnh chập chờn ấy như kết tinh của những tia sáng và hương thơm kia; cái đẹp quyến rũ bao la và tản mạn ấy qui tụ ở nàng một cách huyền bí, và ngưng đọng lại ở nàng, còn nàng là phát tiết của nó. Dường như nàng là linh hồn trinh bạch của toàn bộ bóng tối kia.
Toàn bộ bóng tối ấy, chập chờn trên người Déruchette, đè nặng lên Gilliatt. Anh luống cuống. Điều anh đang cảm thấy thật khó tả; xúc cảm luôn luôn mới mẻ mà ngôn từ bao giờ cũng quá cũ xưa; vì vậy không thể nào diễn đạt nổi cảm xúc. Ngây ngất nặng trĩu lòng người là điều vẫn có. Nhìn thấy Déruchette, nhìn thấy chính nàng, nhìn thấy tấm áo, cái mũ của nàng, nhìn thấy dải ruy-băng nàng quấn quanh ngón tay, ôi có thể nào ngờ đến một việc như vậy không? Ở ngay cạnh nàng, có thể nào thế không? Nghe cả tiếng nàng thở, thì ra nàng cũng thở! Thế ra tinh tú cũng thở. Gilliatt rùng mình. Anh là con người khốn khổ nhất, con người say sưa nhất. Anh không biết phải làm gì bây giờ. Nỗi cuồng loạn được nhìn thấy nàng làm anh hoảng hốt. Sao? Chính nàng đang đứng kia sao, và chính anh lại đang ngồi đây sao? Ý nghĩ của anh, bị chói lòa và gắn chặt, dừng lại trên người kia như trên một viên hồng ngọc. Anh nhìn cái gáy kia, mái tóc kia. Anh không dám nghĩ rằng tất cả những thứ ấy giờ đây là của anh, rằng không bao lâu nữa, có lẽ ngày mai thôi, cái mũ kia, anh sẽ có quyền bỏ nó ra, dải ruy-băng kia, anh sẽ có quyền tháo gỡ nó ra. Mơ tưởng đến đây, không bao giờ anh dám nghĩ đến việc quá ư táo bạo ấy. Đụng chạm bằng tư tưởng cũng gần như sờ mó bằng tay. Tình yêu đối với Gilliatt, cũng như mật ong đối với gấu, là niềm mơ ước ngọt ngào tuyệt diệu. Anh suy nghĩ miên man, không biết mình có những gì. Chim họa mi vẫn líu lo. Anh cảm thấy anh đang thở ra.
Đứng dậy, bước qua bức tường, đến gần bên, rồi nói: chính tôi đây, nói với Déruchette, ý nghĩ ấy không đến với anh. Giá mà nó có đến thì anh cũng chạy trốn. Nếu có một cái gì tương tự như một tư tưởng chớm nở trong đầu óc anh thì chính là điều sau đây, rằng Déruchette đang đứng kia, rằng không cần gì hơn nữa, rằng hạnh phúc đời đời bất diệt đang bắt đầu.
Bỗng một tiếng động làm cả hai người chợt tỉnh, nàng hết mơ màng, anh hết đê mê.
Có một người nào đó đang bước trong vườn. Không trông thấy ai đi, vì cây cối. Chỉ biết là bước chân đàn ông.
Déruchette ngước mắt lên.
Tiếng chân đến gần, rồi im bặt. Người đang đi vừa đứng lại.
Chắc phải gần lắm rồi. Con đường mòn, nơi đặt chiếc ghế dài, khuất giữa hai lùm cây. Chính đấy là chỗ người kia đang đứng, ở quãng giữa, cách ghế mấy bước.
Tình cờ đã sắp đặt cành lá để cho Déruchette nhìn thấy người kia, nhưng Gilliatt lại không thấy.
Vầng trăng hắt lên mặt đất, ra khỏi lùm cây, đến tận chiếc ghế, một bóng đen.
Gilliatt trông thấy bóng đen.
Anh nhìn Déruchette.
Nàng tái mặt. Mồm nàng hé mở sắp thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc. Nàng đã đứng dậy nửa chừng nhưng lại ngồi phịch xuống ghế; trong cử chỉ của nàng lẫn lộn cả muốn trốn cả sững sờ. Thái độ ngạc nhiên của nàng là một nỗi sung sướng đầy sợ hãi. Trên đôi môi nàng phảng phất niềm tươi vui của nụ cười và một ánh lệ trong mắt. Nàng như biến đổi vì một sự có mặt. Hình như con người mà nàng trông thấy kia không thuộc cõi trần. Hình ảnh một thiên thần đang long lanh trong mắt nàng.
Con người từ nay đến giờ đối với Gilliatt chỉ là một bóng đen chợt cất tiếng. Một giọng nói từ lùm cây thoát ra dịu dàng hơn cả giọng phụ nữ, tuy vậy vẫn là giọng đàn ông. Gilliatt nghe những lời sau:
- Thưa cô, chúa nhật nào, thứ năm nào, tôi cũng được trông thấy cô; người ta nói trước kia cô không năng đến như vậy. Xin cô thứ lỗi cho, đấy là nhận xét của thiên hạ. Tôi chưa hề nói chuyện với cô, đấy là bổn phận trước đây của tôi; còn hôm nay tôi nói chuyện với cô, đấy là bổn phận hiện nay của tôi. Trước hết tôi phải ngỏ lời với cô. Ngày mai tàu Cashmere nhổ neo, vì vậy mà tôi phải đến đây. Tối nào cô cũng dạo bước trong vườn. Nếu tôi không có cái tư tưởng hiện giờ tôi đang có, thì việc biết rõ thói quen của cô là một điều không phải của tôi. Thưa cô, lúc này cô đang gặp bước khó khăn, từ sáng hôm nay, tôi là người giàu có. Cô có vui lòng cho tôi được làm chồng cô không?
Déruchette chắp hai tay lại như van xin và im lặng, mắt chăm chú, run rẩy từ đầu đến chân, nhìn con người đang nói với cô.
Giọng nói lại tiếp tục:
- Tôi yêu cô. Chúa Trời không tạo nên trái tim con người để bắt nó phải im lặng. Bởi chưng Chúa hứa hẹn cuộc sống muôn đời, tức là Chúa muốn cho con người được có lứa đôi. Trên cõi trần có một người đàn bà dành cho tôi, đấy là cô. Tôi nghĩ đến cô như nghĩ đến một bài kinh cầu nguyện. Đức tin của tôi hướng về Chúa, ước mơ của tôi hướng về cô. Đôi cánh của tôi, chính cô đang mang chắp trên mình. Cô là lẽ sống của tôi, và đã là thiên đường của tôi.
- Thưa ông - Déruchette nói - trong nhà không có ai để trả lời.
Giọng nói lại cất lên:
- Tôi đã xây đắp giấc mộng êm đềm sau đây. Chúa không cấm con người mơ mộng. Đối với tôi cô là hình ảnh một vinh quang. Thưa cô tôi yêu cô tha thiết. Sự trong trắng thần thánh, chính là cô. Tôi biết giờ này là giờ yên ngủ, nhưng tôi không thể lựa chọn một thời cơ khác. Cô có nhớ đoạn Kinh Thánh người ta đọc cho chúng ta nghe không? Sáng thế ký, chương hai mươi bốn. Từ ngày ấy, tôi luôn luôn suy nghĩ đến đoạn Kinh Thánh. Tôi vẫn hay đọc lại nó. Cha tôn kính Hérode thường nói với tôi: “Anh phải lấy một người vợ giàu”. Tôi đã trả lời cha: “Không, tôi phải lấy một người vợ nghèo”. Thưa cô, tôi nói chuyện với cô mà chân không dám nhích đến gần, tôi còn xin lùi bước nếu cô không muốn bóng tôi động đến chân cô. Chính cô là người quyết định; cô sẽ đến với tôi nếu cô vui lòng. Tôi yêu và tôi chờ đợi. Cô là hình bóng sinh động của ân phước.
- Thưa ông - Déruchette - tôi không ngờ người ta vẫn để ý đến tôi ngày thứ năm và chúa nhật.
Giọng nói tiếp tục: - Con người bao giờ cũng bất lực trước việc làm của thần thánh. Tình yêu là trên hết. Hôn nhân là đất Chanaan[3]. Cô là cái đẹp hứa hẹn. Ôi, xin cúi chào mừng cô, đầy ân phước.
Déruchette đáp:
- Tôi không ngờ đã làm nhiều điều không tốt, hơn những người đoan trang.
Giọng nói lại tiếp tục:
- Chúa đã biểu lộ ý định trong muôn hoa, trong ánh bình minh, trong cảnh xuân về, và Người muốn con người phải yêu nhau. Cô xinh đẹp giữa bóng tối thiêng liêng này của trời đêm. Mảnh vườn này chính tay cô vun xới, và trong hương thơm của nó phảng phất một chút gì của hơi thở cô. Thưa cô, những gặp gỡ của linh hồn đâu phải tự chúng mà nên. Đây không phải do lỗi chúng ta. Cô chứng kiến, thế thôi; tôi đứng đây, chẳng có gì hơn. Tôi chỉ có mỗi một tội là cảm thấy lòng tôi yêu cô. Đôi khi, đôi mắt tôi đã ngước nhìn cô. Tôi có điều không phải, nhưng biết làm thế nào? Chính vì nhìn cô mà sinh ra mọi chuyện. Con người không thể nào tự ngăn cản. Có những ý chí bí mật trên cả chúng ta. Đền thờ thiêng liêng nhất là trái tim. Có được linh hồn cô trong nhà, đấy là cảnh địa đàng mà tôi hằng khát khao mơ ước, cô có vui lòng như thế không? Chừng nào tôi còn nghèo khổ, tôi vẫn không dám ngỏ lời. Tôi biết tuổi xuân của cô. Cô hai mươi mốt, tôi hai mươi sáu. Ngày mai tôi ra đi; nếu cô từ chối, tôi sẽ không trở lại. Cô hứa hẹn với tôi đi, cô vui lòng chứ? Biết bao lần, bất chấp tôi, mắt tôi đã đặt câu hỏi ấy với đôi mắt cô. Tôi yêu cô, cô hãy trả lời tôi đi. Tôi sẽ xin thưa chuyện với chú cô ngay khi ông có thể cho tôi gặp, nhưng trước tiên tôi phải ngỏ lời với cô đã. Muốn cầu hôn với Rebeca thì phải nói với chính Rebeca. Trừ phi cô không yêu tôi.
Déruchette cúi vầng trán xuống, thỏ thẻ:
- Ôi! Ta yêu chàng!
Câu nói khẽ đến mức chỉ một mình Gilliatt nghe được.
Nàng ngồi, cúi đầu, như thể gương mặt khuất trong bóng tối đang để cho tư tưởng chìm trong bóng tối.
Một giây lát tạm ngừng. Lá cành không xao động. Đấy là giây phút trang nghiêm, yên tĩnh mà giấc ngủ vạn vật thêm vào giấc ngủ con người, và đêm khuya như lắng nghe tiếng đập của trái tim thiên nhiên. Trong cảnh trầm tư ấy, như một hòa âm bổ sung cho một dấu lặng, nổi lên tiếng rì rào mênh mông của biển cả.
Giọng nói tiếp tục:
- Thưa cô.
Déruchette rùng mình.
Giọng nói lại tiếp:
- Thưa cô, tôi đang chờ đợi.
- Ông chờ đợi gì?
- Câu trả lời của cô.
- Chúa đã nghe rồi - Déruchette nói.
Thế là giọng nói vang lên gần như sang sảng, và đồng thời cũng dịu dàng hơn bao giờ hết. Những lời nói ấy từ lùm cây vang xa như từ một bụi cây rực lửa[4].
- Em là vị hôn thê của anh. Em đứng lên đi, và đến với anh đi. Hãy để cho trời xanh thăm thẳm với ngàn vạn tinh sao chứng kiến cảnh hồn em đón nhận hồn anh, và hãy để cho cái hôn đầu tiên của đôi ta hòa vào bầu trời lồng lộng!
Déruchette đứng dậy và đứng yên một lúc, mắt đăm đăm về phía trước, chắc hẳn nhìn vào một cặp mắt khác. Rồi thong thả từng bước, đầu ngước thẳng, hai tay buông thõng, ngón tay xòe ra như khi người ta bước trên một thanh gỗ lạ, nàng tiến về phía lùm cây và khuất vào đó.
Một lúc sau, không phải một bóng đen trên cát, mà hai bóng lẫn vào nhau, và Gilliatt thấy ở chân mình hai bóng đó ôm hôn nhau.
Thời gian trong ta trôi qua như từ một chiếc đồng hồ cát, và ta không có cảm giác về sự trôi chảy đó, nhất là trong một số phút giây trọng đại. Một bên là đôi uyên ương kia không ngờ đến và không nhìn thấy tên nhân chứng kia, một bên là nhân chứng kia không trông thấy đôi uyên ương, nhưng biết là có họ; họ đã đứng lặng như thế, trong cảnh ngưng đọng huyền bí ấy bao nhiêu phút? Thật khó có thể nói được. Thình lình, một tiếng vang xa nổi lên, một tiếng thét: “Cứu tôi với!” Và tiếng chuông trên cảng rền vang. Tiếng ồn ào ấy, rất có thể là hạnh phúc, say sưa và thần tiên, không nghe thấy.
Chuông tiếp tục rền vang. Giá có ai tìm kiếm Gilliatt trong góc tường, họ không gặp anh ở đấy nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Bumgiua: từ này đọc lên nghe vừa như tiếng đại bác nổ, vừa như tiếng chào bông-giua (bonjour).
[2] Từ này có nghĩa là: Không trở lại.
[3] Chanaan: Miền đất sung sướng được Chúa Trời hứa cho dân Hébreux.
[4] Hình ảnh mượn trong Kinh Thánh: Đức Chúa Trời hiện ra trong bụi cây rực lửa cho Moise thấy