Saint-Sampson không thể nào đông người mà Saint-Pierre-Port lại không vắng người. Một điều kỳ lạ trên một điểm nào đó là một cái bơm hút. Ở các tỉnh nhỏ tin tức thường lan truyền rất nhanh, đi xem cái ống khói tàu Durande dưới cửa sổ nhà Mess Lethierry là việc quan trọng của Guernesey từ lúc mặt trời mọc. Mọi sự kiện khác đều bị xóa nhòa trước sự kiện này. Át mất cái chết của vị niên trưởng ở Saint-Asanh; không ai nói đến chuyện cha tôn kính Ebenezer Caudray nữa, cũng như chuyện giàu có của ông, cũng như chuyện ông đáp tàu Cashmere. Cỗ máy tàu Durande đưa từ Hòn Douvres về, đây mới là câu chuyện thời sự. Người ta không tin có chuyện như thế. Vụ đắm tàu đã có vẻ ly kỳ rồi, nhưng việc trục vớt lại như vô lý. Ai cũng muốn tận mắt trông thấy mới tin. Mọi công việc bận rộn khác đều xếp lại. Các nhà tư sản lũ lượt thành hàng dài, từ anh vésin đến hàng mess, đàn ông, đàn bà, thượng lưu, mẹ bồng con, con ẵm búp bê, từ mọi ngả đường kéo nhau về hướng “cái vật cần trông thấy” ở Bravées và ngoảnh lưng lại Saint-Pierre-Port. Nhiều cửa hiệu ở Saint-Pierre-Port đều đóng cửa; ở Commercial-Arcade thì đình trệ tuyệt đối buôn bán và giao dịch; tất cả chú ý đều dành cho tàu Durande; không một nhà buôn nào “mở hàng”; trừ một nhà kim hoàn, ông này rất ngạc nhiên đã bán được một chiếc nhẫn cưới bằng vàng “cho một người có vẻ rất vội và hỏi thăm ông nhà riêng của vị cha xứ”. Những cửa hiệu còn mở cửa đều là những nơi chuyện trò, bàn tán ầm ĩ về việc trục vớt kỳ diệu. Không một ai dạo chơi trên Hyvreuse mà ngày nay không rõ tại sao người ta lại gọi là Cambridge-Park; không một bóng người trên High-Street lúc ấy gọi là Grand-Rue; cũng như trên Smith-Street hồi ấy gọi là phố Lò Rèn; không một bóng người ở Hauteville, đến Esplanade cũng vắng tanh. Cứ y như một ngày chủ nhật. Một ông hoàng duyệt binh ở Ancresse cũng không làm cho thành phố đến nỗi vắng vẻ như vậy. Tất cả quang cảnh tíu tít ấy vì một người không đáng gì như anh chàng Gilliatt kia khiến cho những người nghiêm trang đứng đắn phải nhún vai.
Nhà thờ Saint-Pierre-Port, có ba đầu hồi chụm lại với hành lang và mũi tên, đứng trên bờ nước ở cuối hải cảng, gần như ngay trên cầu tàu. Nó vẫy mừng người đến và từ biệt kẻ ra đi. Ngôi nhà thờ này là con chữ hoa của dòng chữ dài do mặt trước thành phố viết trên đại dương.
Nó vừa là giáo khu của khu Saint-Pierre-Port vừa là nhà ở của cha xứ cai quản toàn bộ hòn đảo. Mục sư kiêm giáo khu trưởng là vị đại diện của giám mục, giáo sĩ có toàn quyền.
Cảng Saint-Pierre-Port, ngày nay rất đẹp và rất rộng, thời kỳ ấy và cách đây mười năm vẫn không to bằng cảng Saint-Sampson. Đấy là hai bức thành to, khổng lồ, cong cong, chạy dài hai bên bờ phải và trái, và gần như chụm vào nhau ở phía cuối, nơi có một ngọn đèn biển trắng. Dưới ngọn đèn biển ấy, một cái ngõ hẹp, hãy còn hai khoanh xích sắt dùng để đóng ngõ thời kỳ trung cổ, cho thuyền bè qua lại. Ta cứ hình dung một cái càng tôm hùm hé mở, là thấy cảng Saint-Pierre-Port. Cái kìm này lấy của vực sâu một ít biển và bắt nó phải nằm yên. Nhưng gặp lúc gió đông thì có sóng ở cửa biển, cảng róc rách đều đều, và khôn ngoan không nên vào thì hơn. Đó là việc tàu Cashmere hôm ấy đã làm. Nó đậu ở ngoài cửa biển.
Mỗi khi có gió đông, thuyền bè đều sẵn sàng đậu ở ngoài, vì như thế lại tiết kiệm được cảng phí. Gặp trường hợp ấy, cánh lái đò được phép của thành phố, tầng lớp thủy thủ hiền lành mà hải cảng mới đã bãi bỏ, đến đón khách hoặc ở cầu tàu hoặc ở các điểm tập trung trên bãi cát, và chở cả người lẫn hành lý ra cho các tàu thuyền sắp khởi hành, nhiều khi gặp lúc biển rất động và không bao giờ để xảy ra tai nạn. Gió đông là thứ gió thổi một bên rất tốt để vượt biển sangAnh; tàu chỉ chòng chành ngang chứ không chúi ngửa chiều dọc.
Khi tàu sắp khởi hành nằm trong cảng, mọi người đều lên tàu tại bến; khi nó nằm ngoài cửa biển thì có thể tùy ý lên tàu tại một trong những điểm trên bờ biển gần chỗ tàu đậu. Ở tất cả các vũng, người ta đều gặp những lái đò “theo ý muốn”.
Havelet là một trong những cái vũng như thế. Cảng nhỏ này nằm ngay cạnh thành phố, nhưng nó vắng đến nỗi tưởng như xa lắm. Nó vắng vẻ vì đồn phòng thủ George nhìn xuống cái tiểu loan kín đáo ấy có những vách biển cao và sâu hoắm. Người ta đến Havelet bằng nhiều đường mòn. Lối gần nhất men theo bờ biển; nó có cái lợi là đi đến thành phố và đến nhà thờ chỉ mất năm phút, nhưng bất lợi vì bị ngập nuớc mỗi ngày hai lần. Các lối mòn khác; hoặc nhiều hoặc ít dốc đứng, đều ăn sâu vào các chỗ lồi lõm của vách núi. Ngay giữa ban ngày, Havelet cũng chập chờn nằm trong bóng tối. Những khối đá đua thõng xuống khắp nơi. Gai góc và bụi rậm tua tủa dày đặc, tạo thành một cảnh trời đêm dịu mát giữa chốn núi non và sóng nước hỗn độn này, không đâu thanh bình hơn cái vũng nhỏ này khi trời lặng gió, mà cũng không đâu ầm ĩ hơn lúc biển nổi ba đào. Tại đây có những ngọn cây thường xuyên ướt bọt. Mùa xuân chỗ nào cũng đầy tổ chim, hương thơm, hoa đẹp, chỗ nào cũng thấy chim, thấy bướm, thấy ong. Nhờ những công trình mới đây mà những cảnh hoang dại ấy ngày nay không còn nữa; nhiều đường nét thẳng đẹp đã thay thế chúng; có những nhà gạch, bến cảng, vườn hoa; công việc đào phá đã tàn phá thẩm mỹ, chỉ trích tính cách kỳ quặc của núi và vẻ bất nhã của đất đá.
II ĐAU LÒNG LẠI GẶP ĐAU LÒNG
Lúc ấy chưa đến mười giờ sáng; trước một khắc, như người ta nói ở Guernesey.
Dòng người rõ ràng là cứ kéo về Saint-Sampson. Dân chúng, nóng lòng sốt ruột vì tò mò, đổ cả về phía bắc đảo, nên Havelet ở phía nam càng vắng vẻ hơn bao giờ hết.
Tuy vậy cũng thấy có một chiếc tàu và một lái đò. Trên tàu có một túi hành lý. Người lái đò có vẻ như chờ đợi.
Ngoài cửa biển người ta trông thấy tàu Cashmere vẫn bỏ neo; vì đến giữa trưa mới đi nên nó chưa rục rịch sửa soạn gì cả.
Từ một đường mòn bậc thang nào đó của vách biển, nếu một khách qua đường lắng tai thì nghe có tiếng thì thầm trong Havelet, và nếu khách lại nhô mình qua những mỏm đá chênh vênh, thì nhìn thấy, cách chiếc tàu một chút, trong một hốc núi và cành cây, nơi mặt anh lái đò không sao xuyên thấu, hai người, một nam một nữ, Ebenezer và Déruchette.
Những nơi hẻo lánh tối tăm của bờ biển, thường quyến rũ các cô gái đi tắm, không phải lúc nào cũng vắng vẻ như người ta tưởng. Tại đây đôi khi người ta lại bị quan sát và nghe trộm. Những người lẩn tránh và ẩn nấp ở đây có thể dễ dàng bị theo dõi qua những lớp cây cối dày đặc, và nhờ có nhiều đường mòn chằng chịt. Đá núi và cỏ cây, che khuất chuyện riêng tư thì cũng có thể che giấu một nhân chứng.
Déruchette và Ebenezer đang đứng trước mặt nhau, mắt nhìn mắt, tay cầm tay. Déruchette nói, Ebenezer im lặng. Một giọt lệ ứ đọng và dừng lại giữa hai hàng mi, ngập ngừng không rơi xuống.
Nỗi đau buồn và tình yêu tha thiết hiện rõ trên vầng trán tôn nghiêm của Ebenezer. Thêm vào đấy là một vẻ nhẫn nhục xót xa, nhẫn nhục thù nghịch với đức tin, mặc dầu do đức tin mà có. Trên gương mặt ấy, từ trước đến nay chỉ đơn thuần trong sáng tựa thiên thần, đang bắt đầu có một biểu hiện bất hạnh. Con người từ trước chỉ biết suy tư về giáo lý, bắt đầu suy tư về số mệnh, loại suy tư có hại cho cha đạo. Ở đây đức tin bị phân hóa. Thật không gì rối lòng hơn khi phải gập mình trước vô định. Con người phải chịu cho sự kiện hành hạ mình. Đời là một cái đích để vươn tới mãi mãi; chúng ta phải tuân theo nó. Không bao giờ chúng ta biết được may rủi đột ngột từ phía nào đến. Tai ương và hạnh phúc đi vào rồi lại đi ra, như những nhân vật bất ngờ. Chúng có qui luật, có quĩ đạo, có lối chuyển động của chúng, bên ngoài con người. Đạo đức không mang lại hạnh phúc, tội ác không dẫn đến tai họa; lương tâm có một logic thì số mệnh cũng có một logic khác, không bao giờ trùng hợp. Chẳng có gì có thể dự kiến trước. Chúng ta sống hỗn độn và liên tiếp. Lương tâm là đường thẳng, cuộc đời là gió xoáy. Cơn gió xoáy ấy bất ngờ vút lên đầu con người những thứ hỗn mang đen tối và những khoảng trời xanh, số mệnh đâu có nghệ thuật chuyển tiếp. Đôi khi bánh xe quay nhanh đến nỗi con người rất khó nhận thấy quãng cách từ giai đoạn này sang giai đoạn nọ và mối liên quan giữa hôm qua và hôm nay. Ebenezer là một tín đồ có suy luận và một cha đạo phức tạp vì tha thiết yêu đương. Những tôn giáo chủ trương thuyết độc thân biết rõ việc mình làm. Không gì làm sa đọa cha đạo bằng yêu một người đàn bà. Đủ thứ mây mù làm cho Ebenezer trở nên âm thầm.
Ông lặng ngắm Déruchette rất lâu.
Hai con người ấy tôn thờ nhau.
Trong ánh mắt Ebenezer có sự sùng bái thầm lặng của thất vọng.
Déruchette nói:
- Cha đừng đi. Con không đủ sức chịu đựng đâu. Cha thấy đấy, con cứ tưởng có thể từ biệt cha, nhưng con không thể. Con người không bao giờ buộc phải có thể cả. Tại sao hôm qua cha lại đến? Nếu cha muốn đi thì không nên đến. Con không bao giờ nói chuyện với cha. Con vẫn yêu cha, nhưng con lại không biết là con yêu. Có điều, ngày đầu tiên, lúc cha Hérode đọc câu chuyện Rebecca và đôi mắt cha gặp đôi mắt con, con cảm thấy má con nóng bừng, và con nghĩ: Ôi! Chắc là Rebecca phải đỏ mặt lắm! Giá hôm kia có ai nói: “Cô yêu ông mục sư” thì con đã cười. Đó là điều khủng khiếp trong mối tình ấy. Nó như một sự phản bội. Con đã không đề phòng đến việc đó. Con vẫn đi nhà thờ, con vẫn trông thấy cha, con vẫn nghĩ rằng mọi người đều như con. Con không trách cha, cha không hề làm gì để con yêu cha, cha không hề bận tâm, cha nhìn con, đâu phải lỗi của cha nếu cha nhìn mọi người, và điều ấy đã khiến con yêu cha. Con không ngờ đến chuyện ấy. Khi cha cầm sách lên, đấy là ánh sáng, khi người khác cầm sách, thì chỉ là một cuốn sách. Đôi khi cha ngước mắt nhìn con. Cha thường nói đến các thượng đẳng thiên thần, chính cha là thượng đẳng thiên thần. Cha nói điều gì là con nghĩ ngay đến điều đó. Trước kia con không biết con có tin vào Chúa không. Nhưng từ khi có cha, con đã trở thành một phụ nữ ham say cầu nguyện. Con vẫn bảo Douce: “Mặc áo nhanh cho em kẻo nhỡ mất lễ”. Và con chạy đến nhà thờ. Thế đấy, yêu là như thế đấy. Trước con không biết đến điều ấy. Con tự nhủ: ta đâm ra sùng đạo quá! Chính cha đã dạy cho con biết rằng con đi nhà thờ không phải vì Chúa lòng lành. Con đến nhà thờ vì cha, thật thế. Cha đẹp trai, cha nói hay, lúc cha đưa hai tay lên trời, con thấy hình như cha nâng trái tim con trong hai bàn tay trắng muốt của cha. Con điên mà con không biết. Cha có muốn con nói rõ tội lỗi của cha không, đó là đã vào vườn tối hôm qua, là đã nói chuyện với con. Nếu cha không nói gì với con, con đã chẳng hay biết tí gì. Cha đã ra đi và con có lẽ là buồn, nhưng giờ đây con sẽ chết. Giờ đây con biết rằng con yêu cha, thì không thể nào cha lại ra đi nữa. Cha đang nghĩ ngợi gì thế? Cha không có vẻ gì là lắng nghe con nói.
Ebenezer đáp:
- Cô đã nghe những gì nói hôm qua rồi.
- Hỡi ôi!
- Thế thì cha làm gì được?
Hai người im lặng một lúc. Ebenezer nói tiếp:
- Cha chỉ còn mỗi một việc để làm. Là ra đi.
- Và con, là chết. Ôi! Con ước gì đừng có biển cả, và chỉ còn trời xanh thôi. Con thấy hình như thế là sẽ ổn tất cả, việc ra đi của chúng ta cũng sẽ vẫn thế. Cha, cha không nên nói yêu con. Tại sao cha lại nói với con? Thế thì cha đừng đi. Con sẽ ra sao đây? Con nói với cha là con sẽ chết. Cha sẽ còn tiến bộ nhiều khi con nằm ngoài nghĩa địa. Ôi! Tan nát lòng con. Con thật là bất hạnh. Tuy nhiên chú con đâu phải là người độc ác.
Đây là lần đầu tiên Déruchette gọi Mess Lethierry bằng chú. Từ trước đến nay nàng luôn luôn gọi là bố tôi.
Ebenezer lùi lại một bước và ra hiệu cho người lái đò. Có tiếng móc lạo xạo trên đá cuội và tiếng chân người trên mạn thuyền.
- Không, không! Déruchette hét lên.
Ebenezer đến gần bên nàng.
- Cần phải thế, Déruchette ạ!
- Không, không bao giờ! Chỉ vì một cỗ máy! Lẽ nào lại như thế? Cha có thấy con người khủng khiếp tối hôm qua không? Cha không thể nào bỏ rơi con. Cha có tài trí, cha sẽ tìm ra phương kế. Lẽ nào cha bảo con sáng nay đến gặp cha, với ý nghĩ rằng cha sẽ ra đi. Con có làm gì cha đâu. Cha không phải than phiền vì con. Cha muốn ra đi bằng chiếc thuyền kia ư? Con không đồng ý đâu. Cha sẽ không bỏ con. Không ai mở rộng cõi trời để rồi đóng lại. Con nói với cha rằng cha sẽ ở lại. Vả lại cũng chưa đến giờ kia mà. Ôi! Em yêu anh!
Và đứng sát vào Ebenezer, nàng đan mười ngón tay lại phía sau cổ ông, như bằng hai cánh tay ôm chặt làm thành một sợi dây trói Ebenezer, và với hai bàn tay chắp lại tạo nên một cử chỉ cầu xin Chúa.
Ông gỡ vòng tay yếu ớt ấy ra, vòng tay cố hết sức cưỡng lại. Déruchette ngồi phịch xuống một mỏm đá phủ trường xuân; bằng một cử chỉ vô ý thức nàng vén ống tay áo lên đến khuỷu, để lộ ra cánh tay trần nõn nà, với một ánh sáng đắm đuối và xanh nhợt trong đôi mắt đăm đăm. Chiếc thuyền đang đến gần.
Ebenezer đưa hai bàn tay ra ôm lấy đầu Déruchette; người trinh nữ này có vẻ như một góa phụ và chàng trai kia có vẻ như một bậc cha chú. Ông vuốt ve mái tóc nàng một cách trân trọng; ông dán mặt nhìn nàng hồi lâu, rồi đặt lên trán nàng một trong những cái hôn mà dưới đó hình như phải nở ra một vì sao sáng, rồi bằng một giọng nói run rẩy lo âu tột bực và trong đó người ta cảm thấy có sự giằng xé của tâm hồn, ông nói với nàng lời nói sau đây, lời nói của vực thẳm: “Vĩnh biệt!”
Déruchette òa lên nức nở.
Đúng lúc ấy cả hai người bỗng nghe một giọng nói thong thả, uy nghiêm:
- Tại sao các người lại không lấy nhau?
Ebenezer ngoảnh lại. Déruchette ngước mắt nhìn lên.
Gilliatt đứng ngay trước mặt họ.
Anh vừa đến theo một lối mòn tắt ngang.
Gilliatt không còn là anh đàn ông tối hôm qua nữa. Anh đã chải tóc, cạo râu, đi giày, mặc sơmi trắng của dân đi biển cổ bẻ to, anh vận những quần áo thủy thủ mới nhất. Ở ngón tay út của anh có thấy một chiếc nhẫn vòng. Anh có vẻ hết sức bình tĩnh. Nước da rám nắng của anh tái mét.
Gương mặt đó là một tượng đồng đau khổ.
Hai người sững sờ nhìn anh. Mặc dầu khó nhận, Déruchette cũng nhìn ra anh. Còn những lời anh vừa nói thì quá xa xôi với những gì họ đang nghĩ lúc ấy nên chúng đã trôi khỏi trí óc họ.
Gilliatt lại nói:
- Việc gì mà phải vĩnh biệt nhau? Các người cứ lấy nhau rồi sẽ cùng đi với nhau.
Déruchette rùng mình. Nàng run rẩy từ đầu đến chân.
Gilliatt nói tiếp:
- Cô Déruchette đã hai mươi mốt tuổi. Cô ấy chỉ phụ thuộc ở mình. Chú cô ấy chỉ là chú. Các người yêu nhau…
Déruchette dịu dàng cắt ngang:
- Tại sao anh lại đến đây?
- Các người cứ lấy nhau đi - Gilliatt tiếp tục.
Déruchette bắt đầu nhận thức được điều người kia nói. Nàng lắp bắp:
- Ông chú đáng thương của tôi…
- Ông ấy sẽ từ chối nếu đám cưới chưa thành - Gilliatt nói - nhưng ông ấy sẽ đồng ý khi đám cưới đã xong, vả lại các người sẽ ra đi kia mà. Khi nào các người trở về, ông ấy sẽ tha thứ.
Gilliatt nói thêm với một sắc thái chua chát:
- Với lại, ông ấy bây giờ chỉ nghĩ đến việc đóng lại chiếc tàu của ông ấy thôi. Việc ấy sẽ làm ông ấy bận rộn trong khi cô vắng mặt. Ông ấy có tàu Durande để an ủi rồi.
- Tôi không muốn - Déruchette ấp úng - trong giây phút sững sờ mà người ta cảm thấy có cả niềm vui, lại để lại sau lưng những buồn phiền.
- Buồn phiền sẽ không kéo dài đâu - Gilliatt nói.
Ebenezer và Déruchette như người bị choáng váng. Giờ đây họ đang trấn tĩnh. Trong nỗi hoang mang bớt dần, họ hiểu ra ý nghĩa lời nói của Gilliatt. Trong ấy vẫn còn một đám mây, nhưng việc của họ đâu phải là cưỡng lại. Người ta thường để mặc cho người cứu vớt hành động. Những lời phản đối lúc đặt chân vào địa đàng đều yếu ớt. Trong thái độ của Déruchette, dựa vào Ebenezer mà không cảm thấy, có một cái gì đồng tình với lời nói của Gilliatt. Còn điều bí ẩn về sự có mặt của người kia, về những lời nói đã gây nhiều nỗi ngạc nhiên của anh ta nhất là trong đầu óc Déruchette, đây là những vấn đề phụ. Con người kia nói với họ: “Các người cứ lấy nhau đi”. Điều ấy thật rõ ràng. Nếu có trách nhiệm thì anh ta chịu. Déruchette mơ hồ cảm thấy rằng, vì những lý do nào đó, anh ta có quyền trong vấn đề này. Điều anh ta nói về Mess Lethierry là đúng. Ebenezer trầm ngâm khẽ nói: “Chú không phải là cha”.
Ông ta đang đứng trước sự lung lạc của một tình huống may mắn và đột ngột. Những ngần ngại có lẽ có của vị cha đạo đang tan chảy và tiêu tan trong trái tim yêu đương đáng thương kia.
Giọng nói Gilliatt trở thành ngắn gọn, cứng cỏi và trong đó người ta cảm thấy như những mạch đập của cơn sốt.
- Ngay lập tức. Hai tiếng nữa tàu Cashmere sẽ khởi hành. Các người có thì giờ đấy, nhưng chỉ vừa đủ thôi. Đến cả đây.
Ebenezer chăm chú ngắm nhìn Gilliatt.
Bỗng thình lình ông nói to:
- Tôi nhận ra anh rồi. Chính anh đã cứu sống tôi.
Gilliatt đáp:
- Tôi không tin.
- Ở đằng kia kìa, chỗ Gild-Holm-’Ur.
- Tôi không biết địa điểm ấy.
- Đúng hôm tôi mới đến đây.
- Ta không nên mất thì giờ - Gilliatt nói.
- Và tôi cũng không nhầm, anh là người tối hôm qua.
- Có lẽ.
- Anh tên là gì nhỉ?
Gilliatt cất cao giọng:
- Lái đò, chờ chúng tôi nhé. Chúng tôi sẽ quay lại. Thưa cô, cô hỏi tại sao tôi lại có mặt ở đây, rất đơn giản thôi, tôi đi sau cô. Cô hai mươi mốt tuổi. Ở đất này, khi người ta trưởng thành và tùy thuộc ở bản thân thì việc lấy nhau chỉ mất mười lăm phút. Chúng ta hay đi theo con đường mòn men bờ biển. Nó cũng dễ đi, mãi trưa nước triều mới lên. Nhưng ngay lập tức. Các người đi theo tôi.
Déruchette và Ebenezer như hỏi ý kiến nhau bằng mắt. Họ đứng cạnh nhau, không nhúc nhích; họ đang như người say. Có những giây phút ngập ngừng kỳ lạ bên bờ của vực thẳm hạnh phúc. Họ hiểu mà không hiểu.
- Anh ấy tên là Gilliatt - Déruchette nói khẽ với Ebenezer.
Gilliatt nói tiếp với vẻ bề trên:
- Các người còn chờ gì nữa, tôi bảo các người đi theo tôi.
- Đi đâu? Ebenezer hỏi.
- Đến đằng kia.
Và Gilliatt chỉ lên tháp chuông nhà thờ.
Hai người líu ríu theo sau anh.
Gilliatt dẫn đầu. Bước chân anh quả quyết. Còn hai người thì lảo đảo.
Họ càng tiến về phía tháp chuông, ta càng thấy trên gương mặt đẹp đẽ và trong sáng của Ebenezer và Déruchette chớm nở một vẻ gì đó mà chẳng mấy lúc sẽ trở thành nụ cười. Càng đến gần nhà thờ họ càng rạng rỡ. Còn trong đôi mắt sâu của Gilliatt là cả một trời đêm.
Tưởng như một bóng ma đang dẫn dắt hai linh hồn lên cõi lạc.
Ebenezer và Déruchette không rõ việc gì sẽ đến. Việc can thiệp của con người kia là cành cây cho kẻ chết đuối bám lấy. Họ đi theo Gilliatt như tuyệt vọng ngoan ngoãn đi theo bất cứ người nào. Kẻ sắp chết không bao giờ khó tính trong việc chấp nhận sự cố. Déruchette, dại dột hơn, tin tưởng hơn. Ebenezer ngẫm nghĩ. Déruchette đã trưởng thành. Thủ tục giá thú ở nước Anh rất đơn giản, nhất là ở những xứ tự trị, nơi mục sư giáo khu có quyền tùy nghi hành động; nhưng liệu cha xứ có đồng ý tổ chức lễ cưới mà không cần hỏi xem ông chú có tán thành hay không? Ở đây có một vấn đề. Tuy nhiên cũng cứ thử xem. Trường hợp nào cũng chỉ là chuyện tạm hoãn.
Nhưng con người kia là ai? Và nếu chính anh ta là người tối hôm qua Mess Lethierry đã tuyên bố là rể ông ta thì giải thích thế nào việc anh ta làm đây? Đúng là trở ngại, anh ta lại biến thành cứu tinh. Ebenezer không còn hiểu ra sao nữa, nhưng trước sự việc đang diễn biến ông tán thành một cách mặc nhiên và nhanh chóng như người tự cảm thấy mình được cứu thoát.
Con đường mòn gồ ghề, đôi chỗ ướt và khó đi. Ebenezer, mải mê suy nghĩ, không để ý đến những vũng nước và những hòn đá cuội. Chốc chốc Gilliatt phải ngoảnh lại và nói với Ebenezer: “Cẩn thận với mấy hòn đá này, ông đưa tay cho cô ấy”.
III SỰ LO XA CỦA LÒNG QUÊN MÌNH
Lúc ba người vào nhà thờ thì đồng hồ vừa điểm mười giờ rưỡi.
Vì thời điểm và cũng vì cảnh vắng vẻ của thành phố ngày hôm ấy, nhà thờ vắng tanh.
Tuy nhiên, ở trong cùng, cạnh cái bàn thay cho bàn thờ trong các nhà thờ cải cách, cũng có ba người; đấy là vị cha xứ và người truyền giảng Phúc âm của ông; thêm viên thủ bộ. Vị cha xứ là cha Jaquemin Hérode đang ngồi, còn người truyền giảng và thủ bộ thì đứng.
Cuốn sổ để mở, để trên bàn.
Bên cạnh, trên bàn đồ lễ, một cuốn sổ khác, sổ giáo khu, cũng mở rộng; một con mắt chăm chú có thể nhận thấy trên sổ một trang vừa mới viết, mực vẫn chưa khô. Một cây bút và một nghiên mực để cạnh cuốn sổ.
Thấy cha Ebenezer vào, cha Jaquemin Hérode đứng dậy nói:
- Tôi đang chờ cha. Tất cả đều sẵn sàng.
Đúng thế, vị cha xứ mặc áo lễ.
Ebenezer nhìn Gilliatt.
Cha xứ nói thêm:
- Thưa cha đồng nghiệp, tôi xin làm theo ý cha.
Và ông cúi chào.
Cái chào không chệch sang phải, cũng không chệch sang trái. Theo hướng nhìn của cha xứ, rõ ràng ông xem như chỉ có một mình Ebenezer. Ebenezer vừa là giáo sĩ vừa thuộc giới thượng lưu. Trong cái chào của mình, cha xứ không nhập thêm Déruchette đứng bên cạnh, cũng như Gilliatt đứng phía sau. Vẻ nhìn của cha bao hàm một ngoặc đơn trong đó chỉ đề vẻn vẹn một mình Ebenezer. Việc duy trì những điều tỉ mỉ ấy thuộc về an ninh trật tự và củng cố xã hội.
Cha xứ nói tiếp với một vẻ dịu dàng cao đạo hết sức duyên dáng:
- Thưa cha đồng nghiệp, tôi xin phép được hai lần khen ngợi cha. Việc ông chú từ trần và việc cha lấy vợ, thế là cha được giàu sang nhờ bên này, và hạnh phúc nhờ bên kia. Vả lại, bây giờ, nhờ chiếc tàu hơi nước mà người ta sắp đóng lại, cô Lethierry cũng giàu có, đó là điều tôi tán thành. Cô Lethierry sinh tại giáo khu này, tôi đã kiểm tra ngày sinh của cô ấy trong sổ. Cô Lethierry đã trưởng thành, và được quyền tự chủ. Vả lại ông chú cô ấy, là người duy nhất trong gia đình, cũng đồng ý. Cha muốn cưới ngay vì việc cha ra đi, tôi hiểu thế, nhưng do cuộc hôn nhân này là của một vị mục sư giáo khu, nên tôi muốn nó phải long trọng đôi chút. Tôi sẽ làm nhanh gọn để được vừa lòng cha. Cốt yếu có thể bao gồm trong sơ lược. Giấy giá thú đã làm xong trên cuốn sổ này, chỉ còn việc điền thêm tên. Theo đúng các điều khoản của luật pháp và tập quán, lễ cưới có thể tổ chức ngay sau lúc đăng ký. Lời khai cần thiết để được miễn trừ cũng đã hợp lệ. Tôi xin nhận trách nhiệm về một điều nhỏ không hợp qui tắc, vì đơn xin miễn trừ lẽ ra phải được đăng ký trước bảy ngày, nhưng tôi phải thừa nhận việc ra đi của cha là cần thiết và khẩn cấp. Được! Tôi sẽ tổ chức hôn lễ cho cha. Vị truyền giảng của tôi sẽ là nhân chứng bên chồng; còn nhân chứng bên vợ…
Cha xứ ngoảnh lại phía Gilliatt.
Gilliatt gật đầu.
- Như vậy là đủ - cha xứ nói.
Ebenezer đứng im. Déruchette ngây ngất, sững sờ như tượng đá.
Cha xứ tiếp tục:
- Tuy vậy bây giờ vẫn còn một trở ngại.
Déruchette giật mình.
Cha xứ nói tiếp:
- Người được Mess Lethierry phái đến, hiện có mặt tại đây, đã xin miễn trừ cho cha và đã ký vào lời khai trên sổ, - bằng ngón tay cái trái, cha xứ chỉ vào Gilliatt, như vậy là cha khỏi phải nói tên - người được Mess Lethierry phái đến sáng nay đã nói với tôi rằng, vì quá bận không thể đích thân đến được, Mess Lethierry mong rằng lễ cưới được tiến hành ngay tức khắc. Ước muốn ấy, phát biểu bằng miệng, không đủ. Bởi lẽ những việc miễn trừ phải chuẩn y và việc sai qui tắc phải nhận lãnh, tôi không thể vượt quá nhanh chóng đến mức không hỏi ý kiến Mess Lethierry, trừ phi tôi được nhìn thấy chữ ký của ông ấy. Dù có thiện ý, tôi cũng không thể thỏa mãn với một lời nói miệng. Tôi cần phải có giấy trắng mực đen.
- Việc ấy không hại gì - Gilliatt nói.
Và anh chia cho cha xứ tôn kính một tờ giấy. Cha xứ cầm ngay lấy tờ giấy, đưa mắt lướt qua, hình như bỏ mấy dòng, hẳn là vô ích, và đọc to:
- “… anh hãy đến chỗ cha xứ để xin miễn trừ. Tôi muốn lễ cưới được cử hành thật sớm. Tốt nhất là ngay tức khắc.”
Ông đặt tờ giấy ngay lên bàn, và nói tiếp:
- Lethierry đã ký. Kính trọng hơn thì lẽ ra phải gửi cho tôi. Nhưng vì là đồng nghiệp, tôi cũng chẳng đòi hỏi gì hơn.
Ebenezer lại nhìn Gilliatt. Thường vẫn có những sự đồng tình của tâm hồn. Ebenezer cảm thấy ở đấy có một sự gian dối, nhưng ông không đủ sức mạnh, có lẽ ông cũng không có cả ý nghĩ, để tố giác nó. Hoặc do tuân theo một cử chỉ anh hùng kín đáo mà ông thoáng hiểu ra, hoặc do lương tâm bị bàng hoàng trước tiếng sét của hạnh phúc, ông đành đứng im không nói một lời.
Cha xứ cầm bút lên, và được người thủ bộ giúp đỡ, điền vào những chỗ trống trên trang giấy viết sẵn của cuốn sổ, đoạn cha đứng thẳng người, ra hiệu mời Ebenezer và Déruchette đến cạnh bàn.
Nghi lễ bắt đầu.
Một giây phút kỳ lạ.
Ebenezer và Déruchette đứng cạnh nhau trước mặt mục sư. Ai đã nằm mơ thấy mình lấy vợ hoặc lấy chồng đều cảm thấy điều mà hai người cảm thấy lúc ấy.
Gilliatt đứng cách đấy một tí, trong bóng tối hàng cột.
Sáng nay, Déruchette ngủ dậy thất vọng, nghĩ đến chiếc quan tài và tấm khăn liệm, nên đã mặc đồ trắng. Ý nghĩ tang tóc đó hóa ra hợp với lễ cưới. Chiếc áo dài trắng tức khắc tạo nên một vị hôn thê. Cái chết cũng trở thành một lễ đính hôn.
Một vẻ rạng rỡ từ Déruchette tỏa ra. Chưa bao giờ nàng lại như lúc ấy. Déruchette có cái khuyết điểm là có lẽ quá xinh mà lại không đẹp lắm. Sắc đẹp của cô phạm cái tội thừa duyên dáng, nếu như thế là tội, Déruchette lúc ngồi không, nghĩa là ngoài lúc đắm say và đau khổ - chi tiết này chúng ta đã nói đến - rất dễ thương. Giai đoạn thay đổi hình dáng của cô gái yêu kiều, đó là người trinh nữ lý tưởng. Déruchette trưởng thành nhờ tình yêu và đau khổ đã có sự tiến bộ ấy, xin cho phép chúng tôi được dùng chữ ấy. Cô vẫn ngây thơ như thế nhưng có đường bệ hơn, vẫn mơn mởn như thế nhưng có ngát hương hơn. Phảng phất như một bông cúc trắng biến thành một đóa hoa bách hợp.
Má nàng vẫn ướt tuy nước mắt đã cạn. Một giọt lệ có lẽ còn đọng trên góc nụ cười. Những hạt lệ khô thấp thoáng, là một điểm âm thầm và dịu dàng tôn thêm vẻ đẹp của hạnh phúc.
Cha xứ đứng cạnh bàn, đặt một ngón tay lên quyển Thánh Kinh để mở và hỏi to:
- Có ai phản đối gì không?
Không ai trả lời cả.
- Amen - cha xứ nói.
Ebenezer và Déruchette liền bước một bước đến phía cha tôn kính Jaquemin Hérode.
Cha xứ nói:
- Joё Ebenezer Caudray, con có muốn lấy người đàn bà này làm vợ không?
Ebenezer đáp:
- Thưa, con có.
Cha xứ lại nói:
- Durande Déruchette Lethierry, con có muốn lấy người đàn ông này làm chồng không?
Trong giây phút hấp hối của tâm hồn, Déruchette sung sướng quá như ngọn đèn quá đượm dầu, lí nhí hơn là tỏ bày ý kiến:
- Thưa, con có.
Thế là, theo nghi thức đẹp đẽ của lễ cưới giáo phái Anh quốc, cha xứ nhìn quanh, và trong bóng tối nhà thờ, đặt câu hỏi trang nghiêm sau đây:
- Ai trao người đàn bà này cho người đàn ông này?
- Tôi - Gilliatt nói.
Im lặng hồi lâu. Ebenezer và Déruchette cảm thấy có một sự ức hiếp mơ hồ qua niềm ngây ngất của họ.
Cha xứ đặt bàn tay phải Déruchette vào lòng bàn tay phải của Ebenezer. Ebenezer liền nói với Déruchette:
- Déruchette, dù em có tốt hơn hay tồi tệ hơn, dù em có giàu sang hơn hay nghèo khổ hơn, dù em có ốm đau hay khỏe mạnh, anh cũng nhận em làm vợ, để yêu quí em cho đến trọn đời, và anh xin hứa với em.
Cha xứ lại đặt bàn tay phải Ebenezer vào lòng bàn tay phải của Déruchette. Déruchette liền nói với Ebenezer:
- Ebenezer, dù anh có tốt hơn hay tồi tệ hơn, dù anh có giàu sang hơn hay nghèo khổ hơn, dù anh có ốm đau hay khỏe mạnh, em cũng lấy anh làm chồng, để yêu quí anh, vâng lời anh cho đến trọn đời, và em xin hứa với anh.
Cha xứ lại nói:
- Nhẫn đâu?
Điều này thật không ngờ. Ebenezer, bị bất ngờ, không có nhẫn.
Gilliatt tháo ngay chiếc nhẫn ở ngón tay út ra và đưa cho cha xứ. Chắc đây là chiếc nhẫn “cưới” mua sáng nay ở hiệu kim hoàn Commercial-Arcade.
Cha xứ liền đặt chiếc nhẫn lên quyển sách, rồi trao cho Ebenezer.
Ebenezer cầm lấy bàn tay trái nhỏ nhắn, run bần bật, của Déruchette, lồng chiếc nhẫn vào ngón tay thứ tư và nói:
- Anh kết hôn với em qua chiếc nhẫn này.
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần - cha xứ nói.
- Amen - viên truyền giảng nói.
Cha xứ cất cao giọng:
- Hai con nên vợ nên chồng.
- Amen - viên truyền giảng nói.
Cha xứ lại nói:
- Chúng ta hãy cầu nguyện.
Ebenezer và Déruchette ngoảnh lại phía bàn và quì xuống.
Gilliatt, vẫn đứng nguyên, cúi đầu xuống.
Hai người quì gối trước Chúa, còn anh gập mình trước số phận.
IV “DÀNH CHO VỢ CON, KHI NÀO CON CƯỚI VỢ”
Ra khỏi nhà thờ, họ thấy tàu Cashmere bắt đầu sửa soạn nhổ neo.
- Thế là vừa khéo - Gilliatt nói.
Cả ba lại đi theo con đường mòn quay về Havelet.
Hai người đi trước, Gilliatt bây giờ đi sau.
Đấy là hai kẻ mộng du. Dường như họ chỉ thay đổi hình thái hôn mê. Họ không rõ là đang ở đâu, cũng không rõ là đang làm gì; họ vội vã một cách vô ý thức, không còn nhớ đến sự tồn tại của bất cứ một thứ gì, họ cảm thấy họ là của nhau, họ không thể liên kết nổi hai ý nghĩ. Trong say sưa người ta không nghĩ ngợi, cũng như người ta không bơi khi trôi giữa dòng thác lũ. Từ giữa u minh, họ đã thành lình rơi xuống một dòng Niagara[1] lạc thú. Có thể nói là họ đang lạc vào cảnh thiên thai. Họ không nói gì với nhau, vì tâm hồn họ đã nói với nhau quá nhiều. Déruchette ôm chặt lấy cánh tay Ebenezer.
Tiếng chân Gilliatt bước phía sau khiến họ thỉnh thoảng lại nghĩ đến việc có mặt của anh. Họ vô cùng xúc động, nhưng không nói một lời; quá nhiều xúc động thường dẫn đến sững sờ. Trạng thái sững sờ của họ thật êm dịu, nhưng nặng trĩu. Họ đã thành vợ thành chồng. Họ có ý để lại một ngày khác, rồi sẽ gặp lại nhau, điều Gilliatt làm thật là tốt đẹp, có thế thôi. Trong thâm tâm hai trái tim ấy cảm ơn anh một cách nồng nhiệt và mơ hồ. Déruchette thầm nghĩ có một việc mà rồi đây nàng phải thu xếp. Trong khi chờ đợi, họ cứ chấp nhận đã. Họ tự cảm thấy cứ phó mặc người kia, một con người quả quyết, thình lình đã dùng quyền lực đắp xây hạnh phúc cho họ. Đặt câu hỏi với anh, nói chuyện với anh lúc này là điều không thể được. Quá nhiều cảm giác dồn dập đến với họ cùng một lúc. Tình trạng chìm đắm của họ có thể tha thứ được.
Sự việc đôi khi giống như một trận mưa đá. Chúng rơi túi bụi lên người. Làm cho hai tai điếc đặc. Tính chất đột ngột của các việc bất ngờ xảy đến trong các cuộc sống quen yên tĩnh khiến các biến cố dễ trở thành khó hiểu cho những ai phải chịu đựng hoặc hưởng thụ chúng. Người ta không biết rõ chính vận hạn của mình. Bị dày xéo mà không đoán biết; được ban thưởng mà không hiểu nổi. Đặc biệt là Déruchette, từ mấy giờ nay, đã đón chịu đủ mọi xao xuyến; thoạt tiên là bàng hoàng, Ebenezer xuất hiện trong vườn; rồi đến ảo mộng, con quái vật lại được làm chồng nàng; sau đó đau khổ, thiên thần giang cánh và sẵn sàng bay đi; giờ đây là niềm vui, một niềm vui chưa từng thấy, với một nội dung thật khó hiểu; quái vật đem thiên thần đến cho chính nàng, cho Déruchette; đám cưới từ cảnh hấp hối mà thành; anh chàng Gilliatt kia, hôm qua còn là tai họa, hôm nay trở thành cứu tinh. Nàng không còn hiểu gì hết. Rõ ràng là từ sáng sớm, Gilliatt không có việc gì ngoài việc tác thành cho họ nên vợ nên chồng; anh đã làm tất cả; anh đã thay mặt Mess Lethierry đến gặp cha xứ, xin được miễn trừ, ký vào tờ khai cần thiết; đấy, nhờ vậy mà lễ cưới có thể cử hành. Nhưng Déruchette không hiểu nổi; vả lại dù có hiểu phần nào thì nàng cũng không hiểu tại sao.
Nhắm mắt lại, thầm lặng biết ơn, quên hết trần gian và thế sự, để mặc cho con thiện-tinh kia đưa lên trời, chỉ còn mỗi việc ấy để làm thôi. Giảng giải thì quá dài, mà cảm ơn thì quá ít. Nàng đành im lặng trong trạng thái mụ mẫm êm đềm của hạnh phúc.
Họ vẫn còn một đôi chút ý nghĩ, đủ để xử sự. Dưới nước có những chỗ bọt biển còn trắng. Họ vừa đủ sáng suốt để phân biệt biển cả với đất liền, và tàu Cashmere với các tàu khác.
Sau mấy phút, cả mấy người đến Havelet.
Ebenezer xuống tàu trước. Đúng lúc Déruchette sắp bước theo, nàng bỗng cảm thấy có người giữ tay áo nàng lại. Gilliatt vừa đặt một ngón tay lên nếp áo của nàng.
- Thưa bà[2] - anh nói - bà không ngờ tới việc ra đi này. Tôi đã nghĩ có lẽ bà cần đến áo dài và tư trang. Trên tàu Cashmere bà sẽ thấy một cái hòm đựng các thứ cần thiết của phụ nữ. Hòm ấy là của mẹ tôi để lại. Dành cho người vợ tương lai của tôi. Bà cho phép tôi được tặng lại bà.
Déruchette dường như tỉnh khỏi giấc mơ. Nàng ngoảnh về phía Gilliatt. Anh nói tiếp, giọng nhỏ nhẹ, phải lắng tai lắm mới nghe rõ!
- Bây giờ, không phải là cố ý làm chậm trễ bà, nhưng thưa bà, bà thấy đấy, tôi cho rằng cần phải giải thích để bà rõ. Cái ngày xảy ra tai họa này, bà ngồi trong căn phòng thấp, bà có nói một câu. Bà không nhớ, chuyện ấy cũng đơn giản thôi. Con người đâu có bổn phận phải nhớ tất cả những lời mình nói. Lúc ấy Mess Lethierry rất buồn phiền. Chắc chắn đây là một chiếc tàu tốt, được việc. Tai họa biển cả đã xảy đến; cả xứ nhốn nháo. Đây là những sự việc mà tất nhiên người ta đã lãng quên. Đâu phải chỉ có chiếc tàu ấy đâm vào núi. Người ta không thể luôn luôn nghĩ đến một tai nạn. Có điều tôi muốn nói với bà là trong khi mọi người đều nói sẽ không có ai đi, thì tôi đã đến đấy. Họ bảo không thể làm được; việc ấy không phải không thể làm nổi. Tôi cảm ơn bà, đã lắng nghe tôi nói một lúc. Thưa bà, bà hiểu cho, sở dĩ tôi đi ra đây, không phải là để xúc phạm đến bà. Vả lại sự việc xảy ra từ rất lâu. Tôi biết bà đang vội. Nếu có thì giờ, nếu nói ra thì người ta sẽ nhớ lại, nhưng cũng chẳng ích gì. Việc ấy đã xảy ra vào một ngày tuyết rơi. Hôm ấy, tôi đi qua, tôi nghĩ rằng bà đã mỉm cười. Đấy, phải giải thích sự việc như thế mới đúng. Còn hôm qua, tôi chưa có thì giờ về qua nhà, tôi vừa rời bỏ công việc, rách rưới xác xơ, tôi đã làm bà sợ hãi, bà đã ngất đi, tôi có khuyết điểm, không ai lại đến nhà người khác như vậy, xin bà đừng ác cảm với tôi. Đấy, hầu hết những điều tôi muốn nói với bà là như thế. Bà sắp ra đi. Bà sẽ gặp trời đẹp. Gió đông. Xin vĩnh biệt bà. Bà thấy việc tôi nói với bà vài lời như vậy là phải chứ? Đây là giây phút cuối cùng.
- Tôi đang nghĩ đến cái hòm - Déruchette đáp - Nhưng tại sao anh không để dành nó cho vợ anh, khi anh lấy vợ.
- Thưa bà - Gilliatt nói - có thể là tôi không lấy vợ.
- Thật đáng tiếc, vì anh là người tốt. Cảm ơn anh nhé.
Déruchette mỉm cười. Gilliatt cười đáp lại.
Đoạn anh giúp Déruchette bước xuống xuồng.
Không đầy mười lăm phút sau, chiếc thuyền chở Ebenezer và Déruchette áp sát mạn tàu Cashmere ở ngoài cửa biển.
V NẤM MỒ VĨ ĐẠI
Gilliatt men theo mép nước, nhanh chóng đi qua Saint-Pierre-Port rồi lại đi về hướng Saint-Sampson, dọc theo bờ biển, tránh gặp mọi người, bỏ các con đường vì anh mà đông nghịt.
Như ta đã biết, từ lâu anh vẫn có tài ngang dọc khắp xứ mà không để ai gặp. Anh biết nhiều lối mòn, anh tự tìm ra những đường đi vắng vẻ, quanh co, anh có thói quen yếm thế của con người tự cảm thấy mình không được mọi người yêu quí; anh luôn luôn xa cách. Ngay từ ngày còn bé, thấy trên mặt mọi người ít có vẻ niềm nở với mình, anh đã quen cái lối sống cách biệt, từ đấy trở thành bản năng của anh.
Anh đi qua Esplanade, rồi qua Salerie. Chốc chốc, anh lại ngoảnh lại, nhìn tàu Cashmere vừa kéo buồm lên, phía sau, chỗ cửa biển. Gió thổi hiu hiu. Gilliatt đi nhanh hơn tàu Cashmere. Anh lần bước trên những tảng đá ngoài cùng của mép nước, đầu cúi gằm. Nước triều bắt đầu lên.
Có lúc anh dừng chân, và ngoảnh lưng ra biển, ngắm nhìn ít phút một cụm sồi bên kia những quả núi che khuất con đường đi Valle. Đấy là những cây sồi chỗ Dãy Nhà Thấp. Tại đây, trước kia, dưới rặng cây ấy, ngón tay Déruchette đã viết tên anh, Gilliatt, lên tuyết. Từ lâu lớp tuyết ấy đã tan.
Anh lại bước tiếp.
Trời hôm nay đẹp hơn tất cả những ngày vừa qua trong năm. Sáng hôm nay thấm đượm một vẻ gì đó của ngày cưới. Đấy là một trong những ngày xuân nắng ấm nhất của tháng năm; tạo hóa dường như không có mục đích nào khác ngoài việc tưng bừng và đắp xây hạnh phúc. Trong mọi tiếng lao xao, của rừng sâu cũng như của thôn xóm, của sóng cả cũng như của không trung, đều có một âm sắc ngọt ngào âu yếm. Những cánh bướm đầu tiên đậu lên những bông hồng đầu tiên.
Trong thiên nhiên tất thảy đều mới mẻ, từ ngọn cỏ, làn rêu, đến lá cành, hương thơm, tia nắng. Hình như mặt trời cũng mới chiếu sáng lần đầu. Sỏi đá đều được rửa sạch. Bài ca sâu sắc của cỏ cây được các cánh chim mới nở hôm qua hót lên. Rất có thể chiếc vỏ trứng bị cái mỏ nhỏ của chúng mổ vỡ vẫn còn nằm trong tổ. Tiếng cánh tập vỗ lao xao trong lá cành xao động. Chúng đang hót tiếng hót đầu tiên của chúng, chúng đang bay chuyến bay thứ nhất của chúng. Đấy là liếng líu lo dịu dàng cùng một lúc của tất cả, dẻ quạt, bạc má, gõ mõ, hồng tước, sơn thước thầy tu và thiếu nữ. Hoa đinh hương, linh lan, hoa thùy dương, hoa hoàng đầu tạo thành một lớp thảm sặc sỡ tuyệt diệu trong các bụi rậm. Một loại bèo nước rất đẹp của Guernesey phủ lên mặt ao một tấm khăn xanh màu ngọc bích. Những cô chìa vôi và những chú vặt táo, có những cái tổ rất xinh, đang vùng vẫy tắm ở đấy. Qua tất cả các khe kẽ của hoa lá, đều thấy thấp thoáng màu thiên thanh. Một vài đám mây lẳng lơ đuổi bắt nhau trên bầu trời múa lượn như nữ thần sông núi. Người ta cảm thấy như có những chiếc hôn lướt qua, do những đôi môi vô hình gửi tặng cho nhau. Không bức tường cũ nào không có một chùm hoa thập tự như chú rể. Mận rừng nở hoa, kim tước cũng nở hoa; qua các cành lá chằng chịt có những đốm trắng sáng ngời và những điểm vàng lấp lánh. Trời xuân có bao nhiêu bạc vàng đều tung cả vào cái làn thủng mênh mông của rừng rú. Các mầm non đều xanh tươi mơn mởn. Trên không trung rộn ràng tiếng chào đón líu lo. Mùa hè mến khách đang mở cửa đợi chờ những cánh chim xa. Đây là lúc yến, nhạn kéo nhau về. Hoa kim tước mọc suốt dọc vệ các con đường trũng, trong khi sơn trà chưa nở. Cái đẹp, cái xinh thân thiện kề vai; tuyệt mỹ được bổ sung bằng duyên dáng; cái lớn không làm trở ngại cái nhỏ, không một thanh âm nào mất trong cuộc hòa tấu; mọi vẻ lộng lẫy li ti đều có vị trí trong cái đẹp chung rộng lớn, tất cả đều được nhận thấy rõ như trong một làn nước trong suốt. Khắp nơi một cảnh sung mãn thần tiên và một cảnh căng phồng huyền bí giúp ta hình dung được sự cố gắng khủng khiếp và thiêng liêng của nhựa sống đang lên. Cái long lanh càng long lanh rực rỡ, người yêu đương càng yêu đương thắm thiết. Trong hoa lá có tiếng hát ca, trong rung động có hào quang rực rỡ. Nét hài hòa phân tán khắp nơi đang tung nở. Cái chớm nở kích thích cái bắt đầu nảy sinh. Một sự rối loạn từ dưới lên, và cả từ trên xuống, làm xao xuyến một cách mơ hồ mọi trái tim, vốn dễ bị quyến rũ vì ảnh hưởng tản mạn và ngấm ngầm của các mầm non. Hoa xinh kín đáo hứa hẹn quả ngọt, mọi nàng trinh nữ đều mơ mộng vẩn vơ, sự sinh nở của muôn loài, do linh hồn bao la của bóng tối dự tính, đều được phác họa trong sự phát tỏa của vạn vật. Nơi nơi tìm hiểu. Chốn chốn thành đôi. Cuộc sống hòa hợp với vô biên, như trai gái trao tình. Trời đang đẹp, đang trong sáng, đang ấm áp; qua các rặng rào, trong các khu vườn, trẻ nhỏ đang cười vui. Một số đang nhảy lò cò. Các cây táo, cây đào, cây lê, cây mận phủ kín các vườn quả với những làn lá sum sê xanh nhợt hay đỏ thắm. Ngoài nội cỏ, nào anh thảo, thi thảo, hồng nhung, nào hoa cúc, hoa tím, huyền sâm, cung nhân thảo và dạ hương lan. Khắp nơi đầy rẫy tử thảo mầu xanh, diên vỹ màu vàng, với những ngôi sao màu hồng nho nhỏ, xinh xinh, lúc nào cũng nở đồng loạt và vì vậy mà được gọi là hoa “bạn đường”. Những con bọ vàng óng chạy giữa các tảng đá. Trường sinh đang độ nở hoa nhuộm đỏ các lều tranh mái rạ. Bao cô ong thợ đều bay ra ngoài tổ. Nàng ong đang bận. Không gian rộn tiếng rì rào của biển cả và tiếng ruồi muỗi vo ve. Thiên nhiên thấm đượm hơi xuân, ướt niềm khoái cảm.
Lúc Gilliatt đến Saint-Sampson, phía cuối cảng vẫn chưa có nước, nên anh có thể đi trên cạn, phía sau các vỏ tàu đang sửa chữa mà không bị ai trông thấy. Nhờ có một dãy tảng đá bằng, nằm cách quãng ở đấy, anh đi được dễ dàng.
Không ai để ý đến Gilliatt. Dân chúng đều ở phía đầu kia bến, cạnh cảng nhỏ, ở Bravées. Tại đây mọi người đang nhắc đến tên anh. Vì nói nhiều đến anh quá nên không ai để ý đến anh. Gilliatt đi qua, có thể nói là nhờ tiếng tăm của anh che khuất.
Từ xa anh nhìn thấy chiếc thuyền bầu vẫn nằm ở chỗ anh buộc, cái ống khói cỗ máy ở giữa bốn sợi xích, cảnh hoạt động của thợ mộc đang làm việc, những bóng dáng lờ mờ của người đi kẻ lại, và anh nghe được cả tiếng nói oang oang vui vẻ của Mess Lethierry đang ra lệnh.
Anh đi sâu vào các ngõ.
Không có ai phía sau nhà Bravées cả, những người tò mò đều tập trung cả ở phía trước. Gilliatt men theo lối mòn dọc bức tường thấp của khu vườn. Anh dừng chân ở góc tường có cây cẩm quì dại; tảng đá anh thường ngồi vẫn đấy; cái ghế gỗ Déruchette ngồi cũng vẫn đấy. Anh nhìn chỗ đất trên lối đi, nơi anh đã thấy hai bóng đen ôm nhau hôn, và nay đã biến mất.
Anh lại bước tiếp. Anh trèo lên ngọn đồi lâu đài Valle, rồi lại lần xuống, đi về phía Bû de la Rue.
Houmes-Paradis vẫn nằm chơ vơ một mình.
Nhà anh vẫn như ban sáng, lúc anh rời nó sau khi mặc quần áo để đi Saint-Pierre-Port.
Một cửa sổ vẫn mở. Qua cửa sổ vẫn thấy cái kèn da treo ở đinh tường.
Trên bàn có quyển Kinh Thánh do một người lạ là Ebenezer tạ ơn anh tặng.
Chìa khóa vẫn cắm ở cửa. Gilliatt đến gần, đặt bàn tay lên chìa khóa, xoay hai vòng, bỏ chìa vào túi rồi lại ra đi.
Anh đi, không phải về phía đất liền, mà về phía biển.
Anh băng qua khu vườn, theo lối gần nhất, chẳng kể gì đến các luống hoa, tuy thế anh vẫn có ý không xéo lên các cây seakales đã trồng vì đấy là thứ hoa ưa thích của Déruchette.
Anh trèo qua lan can và đi xuống phía đá ngầm.
Vẫn nhắm tới phía trước, anh bắt đầu lần theo dãy đá ngầm dài và hẹp nối liền Bû de la Rue với cái tháp đá vuông đứng ngoài biển khơi vẫn được gọi là Sừng Thú. Ở đây có chiếc ghế Gild-Holm-’Ur.
Anh bước từ hòn nọ sang hòn kia như một người khổng lồ trên đỉnh núi. Bước như thế trên các mỏm ngầm cũng giống như đi trên nóc nhà.
Một bà hớt cá đang chân đất lần mò trong các vũng nước gần đấy và đang trở vào bờ, gào to với anh:
- Phải cẩn thận. Thủy triều lên đấy.
Anh tiếp tục đi tới.
Đến tảng đá to của mũi nhọn gọi là Hòn Sừng, nhô cao trên mặt biển, anh dừng lại. Đấy là nơi chấm dứt đất liền, điểm tận cùng của hải giác.
Anh đưa mắt nhìn ra.
Ngoài khơi, dăm ba chiếc thuyền cắm neo đánh cá. Thỉnh thoảng trên thuyền lại thấy những dòng bạc trắng chảy ròng ròng trước ánh mặt trời, đấy là nước biển từ trên lưới rơi xuống. Tàu Cashmere chưa đến ngang Saint-Sampson; lá buồm đại trên nguy bằng đã bay phấp phới. Nó đang nằm giữa Herm và Jet-Hou.
Anh vòng quanh tảng đá, đến dưới Ghế Gild-Holm-’Ur, ngay chân cái cầu thang dốc đứng mà non ba tháng trước anh đã giúp Ebenezer bước xuống. Anh trèo lên cầu thang.
Phần lớn các bậc thang đã chìm sâu dưới mặt nước. Chỉ còn vài ba bậc vẫn khô. Anh trèo lên.
Các bậc này dẫn tới chiếc Ghế Gild-Holm-‘Ur. Anh lên đến ghế, ngắm nghía nó một lúc, áp bàn tay lên mắt và từ từ vuốt lông mày từ bên nọ sang bên kia, một cử chỉ như muốn xóa nhòa dĩ vãng; đoạn anh ngồi vào chỗ hốc đá, dưới chân là biển cả bao la, sau lưng cheo leo vách núi.
Tàu Cashmere lúc này đang men theo cái tháp tròn ngập nước, vẫn có một viên đội và một cỗ đại bác bảo vệ, tháp này đánh dấu nửa đường của cửa biển, giữa Herm và Saint-Pierre-Port.
Trên đầu Gilliatt, trong các kẽ núi, một vài bông hoa đá rung xinh. Nước biển mênh mông xanh biếc một màu. Gió đang từ hướng đông thổi tới, nên xung quanh Serk ít có sóng hồi, từ Guernesey, chỉ nhìn thấy bờ phía tây. Xa xa, nước Pháp như một dải sương mù, và bãi cát vàng Carteret thoai thoải. Thỉnh thoảng một con bướm trắng vờn qua. Bướm ong vốn thích lượn chơi trên biển.
Gió mát thổi rất nhẹ. Toàn bộ màu xanh ấy, trên cũng như dưới, đều im phăng phắc. Không một rung động nào lay chuyển bầy rắn màu xanh chỗ nhạt chỗ thẫm kia, làm hằn lên trên mặt nước những đường ngoằn ngoèo kín đáo của đáy biển.
Tàu Cashmere, ít được gió đẩy, đã giương hết buồm phụ trên nguy bằng để hứng ngọn gió mát. Nó như được phủ kín bằng vải. Nhưng vì gió thổi ngang nên các buồm phụ buộc nó phải đi sát vào bờ biển Guernesey. Nó đã vượt khỏi phao Saint-Sampson, đang đến chỗ lâu đài Valle, và sắp vượt qua mũi Bû de la Rue.
Gilliatt ngồi nhìn nó đến.
Sóng nước và không khí như vật vờ ngủ thiếp. Thủy triều đang dâng, không phải vì lớp sóng lăn tăn mà do sức căng phồng. Mức nước lên dần không chút phập phồng. Tiếng rì rầm đã tắt của biển khơi giống hệt tiếng thở trẻ thơ.
Phía cảng Saint-Sampson văng vẳng có tiếng búa gõ thình thịch. Chắc hẳn thợ mộc đang đặt pa-lăng và xe chở hàng để nhấc cỗ máy ra khỏi thuyền bầu. Những tiếng động ấy chỉ khẽ thoảng đến tai Gilliatt vì anh đang ngồi tựa lưng vào khối đá rất to.
Tàu Cashmere tiến đến, thong thả như một bóng ma.
Gilliatt đang chờ.
Thình lình có tiếng sóng róc rách vỗ nhẹ và một cảm giác lành lạnh khiến anh phải nhìn xuống. Sóng nước đang liếm vào chân anh.
Anh khẽ đưa mắt nhìn xuống, rồi lại trông lên.
Tàu Cashmere đã gần.
Vách núi bị mưa gió đẽo gọt thành chiếc Ghế Gild-Holm-‘Ur dốc đứng, và ở đấy nước rất sâu, đến nỗi lúc biển lặng, tàu bè có thể đi sát vào cách núi vài ba tầm.
Tàu Cashmere đến. Nó hiện ra, nhô thẳng. Dường như nó từ dưới nước mọc lên. Y hệt một bóng đen cao vụt. Thuyền cụ đen ngòm nổi bật trên nền trời theo nhịp đung đưa uy nghi của biển cả. Những cánh buồm dài, thoáng chồng lên mặt trời, bỗng trở thành gần như màu hồng và mang một vẻ trong suốt rất khó tả. Sóng nước rì rào không rõ. Không một tiếng động nào quấy rối cảnh lướt trôi ung dung của cái hình bóng ấy. Boong tàu rõ mồn một.
Tàu Cashmere gần như đi sát vào núi đá. Người lái làu đứng bên tay lái, một thủy thủ nhóc trèo lên cột buồm, vài ba hành khách tì tay trên mạn, lặng ngắm cảnh trời trong, thuyền trưởng đứng hút thuốc.
Nhưng Gilliatt không trông thấy một chút gì trong tất cả những hình ảnh ấy.
Trên boong tàu có một góc chan hòa ánh nắng. Anh chăm chú nhìn vào đấy. Giữa ô nắng, Ebenezer và Déruchette đang ngồi cạnh nhau, duyên dáng nép sát vào nhau, như đôi chim sưởi nắng giữa tia nắng ngọ, trên một chiếc ghế dài dặt dưới bóng một cái mái nhỏ quét hắc ín mà những tàu bè lịch sự thường dành cho hành khách và trên đó nếu là tàu Anh, thì có dòng chữ For Ladies only[3]. Đầu Déruchette ngả trên vai Ebenezer, cánh tay Ebenezer quàng ngang hông Déruchette; hai người nắm tay nhau, ngón lồng ngón, sắc thái khác biệt giữa hai thiên thần thật rõ ràng trên hai gương mặt yêu kiều ngây thơ ấy. Một đàng trinh bạch hơn, một đàng thoát tục hơn. Cái hôn trong trắng của họ mang đầy ý nghĩa. Nó chứa đựng đầy đủ niềm hoan lạc cũng như toàn bộ ý thẹn thùng. Chiếc ghế dài đã trở thành một phòng loan và gần như một tổ ấm. Đồng thời đấy là một vành hào quang; hào quang dịu mát của tình yêu lẩn trốn trong một áng mây hồng.
Cảnh im lặng thật thần tiên.
Mắt Ebenezer tràn đầy biết ơn và chiêm ngưỡng; đôi môi Déruchette mấp máy; trong không khí im lặng ngây ngất ấy, nhờ gió thổi từ phía đất liền, vào phút giây chiếc tàu lướt gần Ghế Gild-Holm-‘Ur, Gilliatt nghe được giọng nói dịu dàng và thánh thót của Déruchette:
- Anh nhìn kìa. Dường như có một người trên núi đá.
Hình ảnh xuất hiện ấy đi qua.
Tàu Cashmere bỏ lại sau lưng và chìm sâu vào nếp sóng. Không đầy mười lăm phút sau, trên biển cả, buồm và cột buồm chỉ còn là một tháp vuông trắng, nhỏ dần ở chân trời. Nước lên đến đầu gối Gilliatt.
Anh lặng nhìn chiếc tàu xa dần.
Ngoài khơi gió hiu hiu bắt đầu trở mạnh. Anh có thể trông thấy tàu Cashmere kéo buồm phụ và buồm tam giác ở mũi lên để đón lấy ngọn gió gia tăng này. Tàu Cashmere đã ra khỏi vùng nước Guernesey.
Gilliatt vẫn không rời mắt khỏi nó.
Nước lên đến thắt lưng anh.
Mức triều cao dần. Thời gian cứ trôi.
Sơn ca và chim cốc lượn vòng xung quanh anh, lo lắng. Dường như chúng muốn tìm cách báo cho anh. Có lẽ trong những đàn chim ấy có một con hải âu nào đó, từ Hòn Douvres đến, nó nhận ra anh.
Một giờ trôi qua.
Trong cửa biển không cảm thấy có gió khơi, nhưng tàu Cashmere cứ nhỏ lại rất nhanh. Nhìn bên ngoài, tàu như đang mở hết tốc lực.
Nó đã đến gần ngang bãi Casquets.
Xung quanh hòn Gild-Holm-’Ur không có bọt nước. Không một ngọn sóng nào vỗ vào vách hoa cương. Nước lẳng lặng căng phồng.
Nó lên gần đến vai Gilliatt.
Một giờ nữa trôi qua.
Tàu Cashmere đã đi quá vùng biển Aurigny. Hòn Ortach che kín nó hồi lâu. Nó khuất sau núi, rồi lại nhô ra như một cảnh nguyệt thực.
Tàu chạy trốn về phía bắc. Nó hướng ra biển khơi. Nó chỉ còn là một chấm nhỏ, một ánh sáng lấp lánh nhờ ánh mặt trời.
Bầy chim khẽ ríu rít với Gilliatt.
Chỉ còn nhìn thấy mỗi mái đầu của anh.
Biển cả vẫn dâng cao, êm đềm, dễ sợ.
Gilliatt, bất động, nhìn tàu Cashmere tan biến.
Sóng triều hầu như đang lúc mãnh liệt nhất. Trời đã gần chiều.
Sau lưng Gilliatt, trong cửa biển, vài ba chiếc tàu đánh cá đang trở về.
Mắt Gilliatt dán chặt vào con tàu ngoài khơi.
Đôi mắt chăm chăm ấy không giống bất cứ một thứ gì có thể nhìn thấy trên trái đất. Trong đôi con ngươi bi đát và bình thản ấy có một cái gì rất khó tả. Vẻ nhìn ấy chứa đựng tất cả niềm an ủi mà giấc mơ tuyệt vọng đã để lại; đấy là sự chấp nhận bi thảm một nhiệm vụ khác. Một vì sao băng cũng phải được những cặp mắt như thế dõi theo. Chốc chốc bóng tối thiên đường lại xuất hiện dưới đôi mày mà nhãn tuyến vẫn đăm đăm vào một điểm của không trung. Đồng thời với làn nước mênh mông vô tận xung quanh Hòn Gild-Holm-’Ur, cảnh thanh bình bát ngát của bóng tối cũng đang trào dâng trong con mắt sâu thẳm của Gilliatt.
Tàu Cashmere, từ nãy đã khó nhận ra, lúc này chỉ còn là một chấm nhỏ lẫn lộn trong lớp sương mù. Muốn nhận ra nó phải biết rõ nó đang nằm ở chỗ nào.
Dần dần chấm ấy, không còn là một hình gì nữa, mờ nhạt đi.
Rồi nó nhòa dần.
Rồi nó tiêu tan.
Vừa lúc chiếc tàu tan biến ở chân trời thì mái đầu cũng biến mất dưới làn nước bạc. Không còn một tí gì khác ngoài biển cả.
HẾT
❀ ❀ ❀
[1] Niagara: một con sông ở biên giới Mỹ và Canada, nổi tiếng vì có ngọn thác cao đến 50 mét.
[2] Theo phép lịch sự của châu Âu, tất cả các phụ nữ có chồng đều được gọi là bà.
[3] For ladies only (tiếng Anh): Dành riêng cho phụ nữ.