Căn hầm đó không buông tha con người một cách dễ dàng. Lối vào đã không tiện, lối ra lại càng tắc nghẽn hơn. Tuy vậy Gilliatt cũng vẫn thoát ra được, nhưng anh không quay lại đấy nữa. Anh không tìm được những thứ định tìm, và anh cũng chẳng có thì giờ đâu mà tò mò.
Anh lập tức cho lò rèn hoạt động. Thiếu dụng cụ anh tạo ra dụng cụ.
Về nhiên liệu anh có cái xác tàu, về động cơ có nước, về bễ có gió, về đe có một tảng đá, về nghệ thuật có bản năng, về sức mạnh có ý chí.
Gilliatt hăng hái bắt tay vào công việc tối tăm ấy.
Dường như trời cũng chiều người. Thời tiết tiếp tục khô ráo và tiết cân phân hết sức lý tưởng. Tháng ba đã đến một cách bình thản. Ngày bắt đầu dài. Màu xanh của bầu trời, cảnh dịu dàng bao la của mọi chuyển động trong không trung, cảnh trời trưa thanh tĩnh, dường như loại trừ mọi ác ý. Biển cả mừng đón mặt trời. Một cử chỉ vuốt ve mở đầu càng tăng thêm ý vị cho những hành vi phản trắc. Kiểu vuốt ve ấy, biển cả không bao giờ bủn xỉn. Gặp người đàn bà ấy, cần phải cảnh giác với nụ cười.
Trời ít gió, ống bễ chạy bằng nước nhờ thế càng hoạt động tốt. Gió nhiều có thể gây trở ngại nhiều hơn là giúp ích.
Gilliatt có một cái cưa; anh làm thêm một cái dũa; với cái cưa anh tấn công vào gỗ; với cái dũa anh tấn công vào kim loại; rồi anh thêm vào hai bàn tay thợ rèn, một cái kìm và một cái kẹp; kìm để nắm, kẹp để xoay trở; cái hoạt động như cổ tay, cái kia như ngón tay. Dụng cụ là một cơ thể. Dần dần Gilliatt tự tạo ra người giúp việc, và làm lấy xưởng thợ. Với một mảnh sắt mỏng, anh làm thêm mái che cho cái bếp lò.
Một trong những lo lắng chính của anh là lựa chọn và chữa lại puli. Anh sửa sang lại các hòm gỗ và các bánh quay của róc rách. Anh cưa đứt phần bị tước ra của tất cả các sà gẫy, và cắt gọt lại các đầu sà. Như chúng tôi đã nói, để dùng vào các việc cần thiết trong nghề mộc, anh có vô khối thứ lặt vặt đã bỏ kho và sắp xếp theo hình dáng, kích tấc và loại gỗ, gỗ sến một bên, gỗ thông một bên, những thanh cong, như loại để ghép đáy, để riêng, các thanh thẳng như loại để ốp sườn, để riêng. Đấy là số dự trữ của anh về hòn kê và đòn bẩy mà một lúc nào đấy anh có thể rất cần đến.
Ai nghĩ đến máy trục đồ nặng cũng phải chuẩn bị sàn gỗ và róc rách; như thế vẫn chưa đủ, cần phải có thêm dây. Gilliatt sửa sang lại dây cáp và thừng ba tao. Anh căng thẳng các mảnh buồm rách và rút ra được loại sợi to để làm dây; với loại dây này anh xe đánh các loại thừng. Có điều các đầu nối dễ bị mục, nên anh phải vội sử dụng số dây và số cáp ấy ngay. Gilliatt chỉ có thể làm được thừng mộc vì anh thiếu nhựa đường.
Nối thừng xong, anh chuyển sang nối xích sắt.
Nhờ cái đầu nhọn của tảng đá đe, thay cho đầu sừng hình chóp, anh có thể rèn được những vòng sắt thô, nhưng chắc chắn. Với những vòng sắt ấy, anh nối các đoạn xích đứt vào nhau, và làm thành những đoạn dài.
Rèn một mình và không có phụ là điều quá ư vất vả. Tuy vậy anh vẫn làm được. Đúng là anh chỉ rèn những chi tiết nhỏ; anh có thể dùng một tay xoay trở chúng bằng cái kẹp trong lúc tay kia nện búa.
Anh chặt những thanh sắt tròn ở cầu boong chỉ huy thành ngắn, rèn hai đầu của mỗi đoạn thành một đầu nhọn, một đầu bằng, thế là được những cái đinh dài quãng hơn ba mươi phân. Loại đinh này, rất thông dụng trong ngành cầu đường, đùng để đóng vào núi đá rất tốt.
Tại sao Gilliatt lại bỏ nhiều công sức thế? Rồi ta sẽ rõ.
Anh phải sửa lại nhiều lần lưỡi búa và răng cưa.
Để sửa cưa, anh phải chế tạo một cái đục hình cung gãy.
Có lúc anh phải dùng đến máy trục của tàu Durande. Móc xích gãy, Gilliatt làm lại cái khác.
Với cái kẹp, cái kìm, và dùng cái đục làm lưỡi vặn vít, anh quyết định tháo hai bánh xe của chiếc tàu ra và anh đã thành công. Người ta không quên rằng việc tháo gỡ này có thể làm được; đấy là một đặc điểm trong lối chế tạo loại bánh xe này. Bộ trống phủ ngoài, bao bọc hai bánh xe; với số ván trống, Gilliatt cưa đóng hai cái thùng, trong đó anh xếp từng chi tiết một, hai bánh xe được đánh số cẩn thận. Hòn phấn của anh rất quý trong việc đánh số này.
Anh xếp hai cái thùng này lên chỗ vững chắc nhất của boong tàu Durande.
Xong những việc mở đầu ấy, Gilliatt đứng trước khó khăn lớn nhất. Vấn đề cỗ máy được đặt ra.
Tháo gỡ bánh xe thì có thể làm được, nhưng tháo gỡ cỗ máy thì không.
Trước hết, Gilliatt rất mù mờ về bộ máy này. Trong lúc mò mẫm, anh có thể gây cho nó một vết thương không hàn gắn nổi. Tiếp đó, dù là tháo thử ra từng mảnh, nếu anh có cái dại dột ấy, cũng phải cần những dụng cụ khác những thứ có thể chế tạo trong một cái hang thay cho lò rèn, với một ngọn gió lò thay cho bễ thổi, và một tảng đá thay cho đe thép. Mạo hiểm tháo gỡ cỗ máy, người ta dễ xả tung nó ra thành từng mảnh lắm.
Ở đây có thể tin rằng trước mắt là việc không làm nổi.
Hình như Gilliatt đang bị dồn đến chân bức tường nan giải.
Làm thế nào đây?
II SHAKESPEARE CÓ THỂ GẶP ESCHYLE[1] NHƯ THẾ NÀO
Gilliatt có ý kiến riêng của anh.
Từ ngày người thợ nề kiêm thợ mộc Salbris, ở thế kỷ thứ mười sáu, vào thuở ấu trĩ của khoa học, trước rất nhiều cái ngày Amontons tìm ra định luật ma sát đầu tiên, Lahire tìm ra định luật thứ hai và Coulomb tìm ra định luật thứ ba, không ai khuyên, không ai giúp, không có người phụ nào khác một em bé là con ông, với một số dụng cụ không hoàn chỉnh, giải xong cùng một lúc, trong việc hạ “cái đồng hồ đại” của nhà thờ Charité-sur-Loire, năm sáu bài tính về tĩnh học và động lực học lẫn lộn, cũng như những bánh xe trong một trường hợp xe bò ứ tắc và gây trở ngại; từ việc vận hành phi lí và tuyệt vời này, tìm được cách, không để đứt một sợi dây đồng, không làm sứt mẻ một bánh răng xe, thả trượt toàn bộ, bằng một phương pháp đơn giản kỳ diệu, từ tầng hai gác chuông xuống tầng một, cái lồng thời gian đồ sộ, toàn bằng sắt và đồng, “to như buồng người gác đêm” với cả bộ máy của nó, những ống đồng hộp cót, bộ trống, bộ móc, bộ cân, vành trong, vành ngoài, quả lắc ngang, bộ neo thoát, các cuộn xích to, xích nhỏ, những quả tạ đá có quả nặng tới hai trăm năm mươi cân, với bộ chuông, bộ nhạc, bộ hình nhân đánh chuông; từ con người làm nên kỳ tích ấy, mà ngày nay không còn ai biết đến tên tuổi, chưa bao giờ có một việc gì được quyết định tương tự như việc Gilliatt đang nghiền ngẫm.
Việc Gilliatt đang mơ tưởng có lẽ còn ghê hơn, nghĩa là còn đẹp đẽ hơn.
So với chiếc đồng hồ Charité-sur-Loire, các khó khăn của cỗ máy tàu Durande cũng không kém nặng nề, tinh vi và chằng chịt.
Người thợ mộc xưa kia có một người giúp việc là đứa con trai, còn Gilliatt chỉ có một mình.
Cả một số đông dân chúng có mặt ở đấy, từ Meung-sur-Loire, từ Nevers, cả từ Orléans kéo đến, lúc cần, có thể giúp đỡ người thợ mộc Salbris, và động viên ông bằng tiếng hò reo hào hiệp; còn Gilliatt xung quanh chỉ có gió trời và sóng biển làm quần chúng.
Không gì có thể so sánh với sự rụt rè của dốt nát, ngoài sự liều lĩnh của nó. Khi dốt nát dám quyết, tức là nó đã có trong tay một chiếc la bàn. Chiếc la bàn ấy là trực giác về sự thật trong một đầu óc giản dị đôi khi nó lại làm sáng sủa hơn trong một đầu óc phức tạp.
Ngu dốt thường hay thử thách. Ngu dốt là một trạng thái mơ mộng, và mơ mộng tò mò là một sức mạnh. Hiểu biết, đôi khi làm sai lệch và thường thường chỉ khuyên lùi bước. Gama, thông thái, có thể đã lùi bước trước mũi bão táp. Nếu Christophe Colomb là nhà vũ trụ tài giỏi, hẳn ông đã không tìm ra châu Mỹ.
Nếu Galvani thực sự là nhà thông thái, và biết thế nào là phản ứng, thì việc con ếch giãy chết hẳn đã không gợi sự tò mò của ông, và ông đã không tìm ra toàn bộ những quy luật kỳ diệu được đặt tên là lưu điện học.
Người thứ hai trèo lên ngọn Bạch Sơn là một nhà thông thái, Saussure; người thứ nhất là một anh chăn bò, Balmat.
Những trường hợp như thế, nói qua mà nghe thôi, đều là ngoại lệ, và tất cả điều này chẳng loại bỏ gì của khoa học vốn vẫn là quy tắc. Người ngu dốt có thể tìm ra, chỉ nhà thông thái mới phát minh.
Chiếc thuyền bầu vẫn neo trong vũng Thằng Người, nơi mà biển cả để mặc cho nó nằm yên. Như ta còn nhớ, Gilliatt đã thu xếp tất cả để được tự do tới lui chỗ chiếc thuyền. Anh đến đấy, và đo đạc thật cẩn thận lòng thuyền ở nhiều chỗ, đặc biệt ở chỗ trục chính. Đoạn anh quay lại tàu Durande, và đo đường kính lớn của sàn máy. Đường kính này, tất nhiên không bao gồm hai bánh xe, còn nhỏ hơn chỗ rộng nhất của lòng thuyền bầu đến hơn sáu mươi phân. Như vậy là cỗ máy có thể đặt gọn trong lòng thuyền.
Nhưng làm thế nào để đặt nó vào đấy?
III KIỆT TÁC CỦA GILLIATT ĐẾN CỨU KIỆT TÁC CỦA LETHIERRY
Sau đấy ít lâu, nếu một ngư dân nào điên dại tha thẩn mùa này trong những vùng nói trên, ắt hẳn anh ta đã nhờ sự liều lĩnh của mình mà được nhìn thấy giữa hai Hòn Douvres một việc rất kỳ lạ.
Đây là những gì anh ta có thể nhìn thấy; bốn phiến gỗ thông thật to, để cách đều nhau, bắc từ Hòn Douvres này sang Hòn Douvres kia; và như lèn chặt vào giữa hai quả núi, đấy là cái thế vững chắc nhất. Phía Hòn Douvres Nhỏ, các đầu gỗ được thúc mạnh vào các chỗ núi mấp mô; phía Hòn Douvres Lớn, các đầu gỗ hẳn đã được đóng mạnh vào vách núi cheo leo bằng búa bởi một công nhân khỏe đứng ngay trên phiến gỗ mà anh ta đóng. Mấy phiến gỗ thông này hơi dài hơn quãng cách giữa hai hòn núi một tí, nhờ vậy chúng nằm rất vững; và cũng nhờ vậy mà tạo được mặt dốc. Chúng chạm vào Hòn Douvres Lớn theo góc nhọn và vào Hòn Douvres Nhỏ theo góc tù. Chúng hơi dốc nhưng không đều, đấy là một khuyết điểm. Ngoài khuyết điểm ấy ra, có lẽ người ta đã sắp đặt chúng để đón đỡ một mặt cầu. Buộc vào bốn phiến gỗ này có bốn palăng, cái nào cũng có thừng và dây kéo; điểm táo bạo và lạ lùng là bộ róc rách có hai bánh quay lại ở một đầu phiến gỗ, còn cái puli đơn lại ở đầu bên kia. Quãng cách này lớn quá, nên không thể không nguy hiểm, có lẽ do nhu cầu công việc buộc phải thế. Róc rách rất khỏe và puli rất chắc. Liền vào bộ palăng ấy là những sợi cáp nhìn xa như những sợi chỉ, và bên dưới bộ máy trên không toàn róc rách và khung gỗ ấy, cái xác tàu Durande đồ sộ nom như treo lơ lửng bằng những sợi chỉ kia.
Nói treo lơ lửng thì chưa đúng. Vuông góc dưới mấy phiến gỗ, có tám lỗ đục vào boong tàu, bốn lỗ bên trái, bốn lỗ bên phải cỗ máy, và tám lỗ khác dưới tám lỗ trên, đục vào bụng tàu. Những sợi dây cáp từ bốn bộ ròng rọc thòng thẳng xuống, chui vào boong tàu, rồi từ bụng tàu chui ra theo các lỗ bên mạn phải, luồn xuống dưới đáy tàu và dưới cỗ máy, rồi lại chui vào tàu theo các lỗ bên trái, sau đó lại đi lên, lại chui qua boong, lại trở về quấn vào bốn cái puli trên các phiến gỗ, tại đây một thứ câu chum tóm gọn tất cả lại thành một xâu kết liền với một sợi cáp duy nhất có thể điều khiển bằng một tay. Một cái móc và một khung gỗ tròn có lỗ ở giữa để sợi cáp duy nhất chui qua vào tháo ra, hoàn thành bộ máy và nếu cần hãm máy lại. Phương pháp này bắt bốn palăng phải hoạt động cùng một lúc, là bộ phanh thực sự của các lực treo, là tay lái động lực dưới bàn tay người điều khiển công việc, nó giữ cho việc chuyển vận được thăng bằng. Việc lắp đặt rất tài tình cái câu chìm này có một số ưu điểm đơn giản của puli Weston ngày nay, và của cái máy Vitruve cổ xưa. Gilliatt đã nghĩ ra nó, mặc dầu anh không biết Vitruve lúc ấy không còn, mà cũng không biết Weston lúc ấy chưa sinh ra. Chiều dài các sợi dây cáp tùy theo chiều nghiêng không đều của các phiến gỗ, và bổ khuyết cho sự chênh lệch ấy. Các sợi dây rất nguy hiểm, dây mộc có thể đứt, giá dùng xích sắt thì tốt hơn, nhưng xích sắt lại khó quấn vào palăng.
Toàn bộ có nhiều nhược điểm, nhưng do có mỗi một người làm, nên rất đáng ngạc nhiên.
Vả lại chúng tôi cũng giải thích một cách ngắn gọn. Người ta sẽ hiểu là chúng tôi đã bỏ đi rất nhiều chi tiết giúp cho người trong nghề hiểu rõ công việc và làm cho người khác thêm khó hiểu.
Đầu ống khói của cỗ máy nằm đúng vào chỗ quãng cách hai phiến gỗ giữa.
Gilliatt không ngờ mình đã vô tình ăn cắp mẫu của một người không quen biết, đã làm lại, sau ba thế kỷ, bộ máy của người thợ mộc Salbris, một bộ máy thô sơ không đúng qui cách, đáng sợ cho ai dám vận hành nó.
Ở đây, chúng ta cần nói là cả những khuyết điểm thô sơ nhất cũng không ngăn cản một cỗ máy hoạt động tạm. Nó khập khiễng nhưng nó vẫn đi. Cái tháp vuông nhọn tại quảng trường Saint-Pierre ở La Mã đã được xây dựng trái với các qui tắc tĩnh học. Cỗ xe song mã của Sa hoàng Pierre được đóng thế nào mà tưởng như nó vừa chạy vừa sắp đổ; vậy mà nó vẫn lăn bánh. Trong bộ máy Marly có biết bao nhiêu chỗ kì quái! Tất cả mọi thứ ở đây đều không đúng quy cách. Không vì thế mà nó không cho Louis XIV ăn tiêu phung phí.
Dù sao đi nữa Gilliatt cũng rất tin tưởng. Anh còn đi trước cả thành công đến mức bắt vào mạn thuyền bầu, hôm anh đến đấy, hai cặp vòng sắt đối diện ở hai bên thuyền, cùng cách nhau như bốn cái vòng của tàu Durande, nơi mà bốn sợi xích ống khói được bắt vào.
Tất nhiên Gilliatt có một kế hoạch rất đầy đủ và rất vững vàng. Vì mọi khả năng đều chống lại anh, nên về phía mình anh muốn đề phòng thật chu đáo.
Anh làm những việc tưởng như vô ích, dấu hiệu của một tính toán trước rất cẩn thận.
Cách anh làm, như chúng tôi đã nhận xét, có thể khiến cho một người quan sát dù có thành thạo cũng phải bối rối.
Giá có một người chứng kiến công việc anh làm, chẳng hạn được thấy anh, với những nỗ lực phi thường và có thể rất nguy hiểm, dùng búa đóng tám hay mười cái đinh đại do anh rèn vào móng hai Hòn Douvres, ở lối vào đường hẻm bãi ngầm, hẳn người ấy không thể nào hiểu nổi công dụng của những cái đinh ấy, và phải tự hỏi cần gì phải vất vả như thế.
Nếu sau đó lại được thấy Gilliatt đo cái mảng vách trước, ta còn nhớ, vẫn gắn chắc chắn vào xác tàu, đoạn buộc một sợi dây thừng to vào mép trên chi tiết này, dùng rìu chặt những thanh sà nứt toác vẫn giữ lấy nó, rồi kéo nó ra khỏi hẻm núi, dựa vào sức nước triều xuống đẩy phía dưới trong khi Gilliatt kéo phía trên, cuối cùng, với đoạn thừng trên vất vả lắm mới buộc được tấm vách nặng vừa ván vừa gỗ ấy, rộng hơn cả lối vào hẻm núi, vào những cái đinh đóng ở chân Hòn Douvres Nhỏ, có lẽ người quan sát càng thấy khó hiểu hơn, và nghĩ bụng nếu Gilliatt muốn, để công việc được dễ dàng, dọn quang cái ngõ hẹp giữa các Hòn Douvres cho hết những vật cồng kềnh kia, thì cứ để mặc nó rơi xuống nước, thủy triều khắc cuốn phăng nó đi.
Chắc hẳn Gilliatt cũng có những lý do của anh.
Để đóng đinh vào chân các Hòn Douvres, Gilliatt lợi dụng tất cả các kẽ nứt của núi đá, cần thì anh khoét rộng thêm, và trước tiên đóng các nêm gỗ, sau đó mới đóng đinh sắt vào nêm. Anh cũng chuẩn bị sơ bộ như thế vào hai tảng đá đứng ở bên kia ngõ hẻm của bãi ngầm, về phía đông; anh cắm nêm gỗ vào tất cả các kẽ nứt, như muốn bắt chúng phải sẵn sàng đón nhận đinh sắt; nhưng việc ấy có vẻ chỉ để dự phòng, vì anh không đóng đinh vào đấy. Người ta hiểu rằng, đề phòng thiếu hụt, anh chỉ có thể tiêu dùng vật liệu dần dần, vào lúc thật cần thiết. Đấy là một điều phức tạp thêm vào bao nhiêu khó khăn khác.
Công việc đầu tiên hoàn thành, một công việc thứ hai xuất hiện. Không do dự, Gilliatt chuyển từ việc nọ sang việc kia và cương quyết bước cái bước khổng lồ này.
IV SUB RE[2]
Con người làm những việc trên đây lúc này nom thật khiếp. Trong lao khổ nhiều mặt này, Gilliatt đã tiêu phí hết mọi sức lực của mình cùng một lúc; anh khó lòng hồi phục được chúng.
Một mặt mệt nhọc, một mặt ăn uống thiếu thốn, anh gầy rộc hẳn đi. Tóc tai râu ria tua tủa. Chỉ còn mỗi chiếc sơ mi là không tả tơi. Anh phải đi chân đất, gió đã cướp mất của anh một chiếc giày, và biển cướp nốt chiếc kia. Những mảnh vỡ của cái đe thô sơ, và rất nguy hiểm, mà anh đang sử dụng, đã gây cho anh những thương tích nhỏ, ở bàn tay và cánh tay, đây là những mảnh bắn ra lúc làm việc. Những thương tích này, phải gọi là vết xước hơn là vết thương, chỉ ở ngoài da, nhưng rất xót vì gió rét và nước mặn.
Anh vừa đói, vừa khát, vừa rét.
Bi-đông nước ngọt của anh rỗng không. Chỗ bột lúa mạch đã dùng hoặc ăn hết. Anh chỉ còn một ít bánh quy.
Anh phải dùng răng cắn bánh quy vì thiếu nước để chấm cho mềm.
Càng ngày sức khỏe anh càng sút kém dần.
Quả núi đáng sợ kia đang rút mất sức sống của anh.
Uống là một vấn đề, ăn là một vấn đề, ngủ cũng là một vấn đề.
Anh ăn khi nào bắt được một con cáy hoặc một con cua; anh uống khi nào thấy một con chim biển sà xuống một đỉnh núi. Anh trèo ngay lên đấy và tìm thấy một chỗ trũng với một ít nước ngọt. Anh uống sau chim, đôi khi cùng với chim, vì sơn ca và hải âu, đã quen anh, thấy anh đến gần vẫn không bay. Cả những lúc rất đói, Gilliatt cũng không hề làm hại chúng. Ta còn nhớ, anh rất quý chim. Về phía chim, vì tóc tai anh tua tủa, phát khiếp, và râu anh lại dài nên chúng không sợ nữa; sự thay đổi mặt mày này làm chúng yên tâm, chúng thấy anh không phải là người nữa, và tưởng anh là một con thú.
Chim và Gilliatt bây giờ đã là bạn tốt. Hai cảnh nghèo này giúp đỡ lẫn nhau. Chừng nào còn lúa mạch, là Gilliatt còn bẻ cho chúng những miếng bánh nhỏ do anh làm; những lúc ấy chim lại chỉ cho anh những chỗ có nước.
Anh ăn sò ốc sống; trong chừng mực nào đấy, ăn sò ốc cũng có đỡ khát. Còn cua thì anh phải làm chín; không có nồi, anh nướng chúng vào giữa hai hòn đá nung đỏ, theo lối dân đảo Féroë.
Trong khi ấy tiết cân phân đã về, trời đã bắt đầu mưa, nhưng một thứ mưa thù nghịch. Không mưa rào, không mưa giông, nhưng những mũi kim dài, nhỏ, lạnh, buốt nhọn hoắt, đâm thủng quần áo Gilliatt đến tận xương tủy. Thứ mưa này cho nước uống thì ít mà làm ướt thì nhiều.
Giúp đỡ thì keo kiệt, khổ đau thì hoang phí; đấy là kiểu mưa này, không xứng đáng với trời cao. Hơn một tuần, suốt ngày suốt đêm, Gilliatt phải đưa lưng ra hứng chịu nó. Loại mưa này là một hành vi độc ác của Thượng đế.
Ban đêm, trong cái hốc đá của anh, anh chỉ ngủ vì lao động quá mệt mỏi. Những con muỗi biển to đến chích anh. Anh tỉnh dậy người đầy nốt mẩn.
Anh lên cơn sốt, điều ấy đã nâng đỡ anh. Sốt là một sự cứu viện giết người. Theo bản năng, anh nhá rong rêu hoặc nhấm lá cochléaria dại, những mầm cây cằn cỗi trong các khe cạn của bãi ngầm. Vả lại anh không quan tâm lắm đến nỗi đau của anh. Anh không có thì giờ để xao nhãng công việc vì bản thân, vì Gilliatt. Bộ máy của tàu Durande vẫn nguyên vẹn. Thế là đủ với anh rồi.
Vì nhu cầu công việc, anh luôn luôn phải bơi lội rồi lại lên cạn. Hết nhảy xuống nước rồi lại nhảy lên, như người đi từ phòng nọ sang phòng kia trong nhà.
Quần áo anh không kịp khô. Lúc nào chúng cũng ướt sũng nước mưa không ngớt và nước biển không bao giờ khô. Gilliatt sống trong tình trạng ướt át.
Sống ướt át là một thói quen của con người. Có những nhóm người Ireland rất đáng thương, những ông già, bà mẹ, những cô gái gần như trần truồng, những trẻ em, suốt mùa đông ở ngoài trời, dưới mưa rào và tuyết lạnh, co quắp vào nhau trong các góc nhà trên đường phố Luân Đôn, sống ướt át và chết ướt át.
Vừa ướt át vừa khát, Gilliatt phải chịu đựng nỗi khổ kỳ lạ ấy. Đôi lúc anh nhá cả ống tay áo varo của anh.
Ngọn lửa anh đốt chẳng sưởi ấm anh được bao nhiêu; lửa ngoài trời chỉ là một sự giúp đỡ nửa vời; phía bên này nóng bừng, phía bên kia rất cóng.
Gilliatt vã mồ hôi, run cầm cập.
Xung quanh Gilliatt, tất cả đều chống đối trong một tư thế im lặng khủng khiếp. Anh tự cảm thấy là kẻ thù.
Mọi vật đều mang hai chữ đen tối: Non possumus[3].
Tính chất bất động của chúng là một lời cảnh báo bi thảm.
Một ác ý vô bờ bao vây Gilliatt. Anh vừa rát bỏng lại vừa run rẩy. Lửa hồng cắn xé anh, nước làm anh tê cóng, khát làm anh sốt bừng bừng, gió trời xé rách áo anh, đói cồn cào dạ dày anh. Anh chịu đựng sự đè nén của một tổng thể làm hao mòn sức khỏe. Chướng ngại vật, bình thản, rộng lớn, có vẻ ngoài vô trách nhiệm của công việc tiền định, nhưng luôn luôn có một sự nhất trí hung ác nào đó, từ mọi phía chĩa vào Gilliatt. Anh cảm thấy nó đè nặng lên mình một cách khắc nghiệt không làm sao thoát khỏi. Nó gần như một con người, Gilliatt ý thức đấy là một sự bài xích đen tối, và một mối hằn thù cố sức làm giảm sút anh. Việc bỏ trốn chỉ tùy thuộc ở anh, nhưng vì anh đã ở lại nên anh phải chịu đựng sự thù địch khó hiểu. Không thể loại trừ được anh, người ta để anh xuống dưới vậy. Người ta là ai? Là Vô-Định. Nó ghì chặt lấy anh, dồn ép anh, tranh chỗ của anh, không cho anh thở. Anh bị cái vô hình làm đau khổ. Mỗi ngày chiếc đinh ốc bí mật lại siết thêm một nấc.
Hoàn cảnh Gilliatt trong môi trường đáng lo ngại này giống như một cuộc quyết chiến mờ ám trong đó có một tên phản bội.
Sự liên kết của các sức mạnh đen tối bao quanh anh. Anh cảm thấy có một quyết tâm muốn loại trừ anh. Băng đá đuổi khối phiên nham cũng như thế.
Gần như không có vẻ gì đụng chạm vào đó, cái khối liên kết ngấm ngầm này làm cho anh tơi tả, đổ máu, cùng đường, và có thể nói loại anh ra khỏi vòng chiến đấu trước trận chiến. Tuy vậy anh cũng vẫn làm việc hăng say, không nghỉ; nhưng công trình càng hình thành thì công nhân càng rời rã. Tưởng chừng như con dã thú thiên nhiên ấy, sợ hãi linh hồn, quyết định làm cho con người kiệt quệ. Gilliatt đương đầu và chờ đợi. Vực thẳm bắt đầu bằng cách tiêu hao anh. Rồi vực thẳm sẽ làm gì tiếp?
Hai Hòn Douvres, con rồng hoa cương ẩn nấp giữa biển khơi kia, đã chấp nhận Gilliatt. Chúng đã để cho anh vào và mặc cho anh làm. Sự chấp nhận này giống như sự tiếp đón của một cái mõm há sẵn.
Cảnh hoang vu, mặt đất, không trung, nơi lúc nào cũng xua đuổi con người, sự tàn nhẫn thầm lặng của các hiện tượng đang diễn ra, quy luật chung lớn lao khắc nghiệt và thụ động, nước triều lên xuống, bãi ngầm, chòm Tua Rua đen mà mỗi đỉnh nhọn là một vì sao có xoáy nước, trung tâm phát tỏa những luồng điện, âm mưu nào đó của sự vật dửng dưng chống lại sự liều lĩnh một con người, trời đông, mây mù, biển cả vây hãm, bao bọc Gilliatt, thong thả quây lấy anh, có thể nói là khép chặt anh, và ngăn cách anh với mọi sinh linh như như một cái hầm tối sừng sững xung quanh một con người. Tất cả đều chống lại anh, chẳng có gì đứng về phía anh cả; anh bị cô lập, bỏ rơi, yếu hèn, mòn mỏi, lãng quên. Kho lương của anh rỗng không, dụng cụ của anh sứt mẻ hoặc hư hao, đói khát ban ngày, rét mướt ban đêm, thương tích, tả tơi, mụn nhọt, da thịt, áo quần lỗ chỗ, bàn tay rách nát, bàn chân chảy máu, tứ chi khẳng khiu, mặt mày tái nhợt, một ngọn lửa trong đôi mắt.
Ngọn lửa hùng tráng, ý chí rõ ràng. Mắt người vốn được cấu tạo để phản ánh đạo đức. Con người của ta cho biết trong ta có bao nhiêu lượng người. Chúng ta tự khẳng định bằng thứ ánh sáng nằm dưới lông mày chúng ta. Những lương tâm nhỏ mọn nheo ánh mắt, những lương tâm quảng đại phát tỏa hào quang. Nếu dưới mi mắt không có gì long lanh, tức là chẳng có gì nghĩ ngợi trong đầu óc, chẳng có gì tình cảm trong tim. Kẻ nào yêu kẻ đó muốn, kẻ nào muốn kẻ đó soi sáng và biểu lộ. Quyết tâm thắp sáng vẻ nhìn; ngọn lửa tuyệt vời do những tư tưởng rụt rè đốt cháy.
Người kiên trì là con người trác việt. Ai đơn thuần gan dạ chỉ có một cơn, ai đơn thuần dũng cảm chỉ có một tính khí, ai đơn thuần can đảm chỉ có một đức độ, người ngoan cường trong chân lý mới thật là người vĩ đại. Hầu hết bí quyết của những trái tim vĩ đại nằm trong chữ Perseverando[4]. Kiên trì so với can đảm cũng như bánh xe so với đòn bẩy; đấy là sự luôn luôn đổi mới của điểm tựa. Mục đích dù ở trần gian hay trên trời, toàn bộ vấn đề là đi đến đích; trường hợp thứ nhất người ta gọi là Colomb[5], trường hợp thứ hai người ta là Jésus. Cây thập tự điên rồ, vì vậy mà nảy ra vinh quang của nó. Đừng để cho lương tâm bàn cãi, cũng đừng để cho ý chí mất vũ khí; chính vì vậy mà người ta đau khổ và chiến thắng. Trong lĩnh vực đạo đức, gục ngã vẫn không loại trừ chuyện bay bổng. Từ thất bại thoát thế đi lên. Kẻ tầm thường để cho vạn chướng ngại bên ngoài làm cho dừng bước; người cương nghị không thế. Chết chỉ là điều vị tất, chinh phục mới là điều hiển nhiên của họ. Bạn có thể cho Étienne tất cả mọi lý lẽ tốt đẹp để ông ta khỏi bị thiên hạ ném đá. Việc khinh miệt những lời biện bác hợp lẽ đẻ ra thứ chiến thắng cao cả bị đánh bại mà người ta gọi là tử vì đạo.
Tất cả mọi cố gắng của Gilliatt dường như bám chặt vào điều không thể làm được, thành công thật mỏng manh hay chậm chạp, và phải tiêu phí rất nhiều điều để nhận được rất ít, chính điều ấy làm cho anh cao thượng, chính điều ấy khiến anh bi tráng.
Nếu để dàn dựng bốn cái sà trên một chiếc tàu đắm, nếu để cắt đứt và tách riêng trong chiếc tàu cái phần có thể cứu được, nếu để bắt vào cái mảnh vớt được ấy trong cái xác tàu, bốn chiếc palăng với dây cáp mà phải nhiều chuẩn bị như thế, nhiều công việc, nhiều mò mẫm như thế, nhiều đêm ngủ đất, nhiều ngày vất vả như thế, thì đó là nỗi đau khổ của lao động đơn độc. Định mệnh trong nguyên do, cần thiết trong kết quả. Nỗi đau khổ ấy không phải Gilliatt chỉ có chấp nhận; mà hơn thế anh đã muốn như thế. Do sợ có người cạnh tranh, vì kẻ cạnh tranh ấy có thể là địch thủ, nên anh không tìm người phụ. Công việc nặng nhọc, mạo hiểm, nguy nan, việc làm tự nó dồn dập, khả năng người đi cứu có thể bị vùi xác vì việc trục vớt, đói khát, sốt bệnh, thiếu thốn, buồn phiền, một mình anh gánh chịu tất cả. Anh đã có cái mặt ích kỉ ấy.
Anh sống trong một thứ chuông chân không rùng rợn. Sinh lực dần dần rút khỏi người anh. Điều ấy anh chỉ nhận thấy một cách mơ hồ.
Sự kiệt quệ sức khỏe không làm nhụt ý chí. Tin tưởng chỉ là sức mạnh thứ nhì, ý chí là sức mạnh thứ nhất. Những ngọn núi đi vào ngạn ngữ mà lòng tin dời chuyển vẫn không đáng kể bên cạnh việc làm của ý chí. Tất cả trận địa Gilliatt để mất về sức mạnh, anh chiếm lại về bền bỉ. Sự giảm sút của con người xác thịt do ảnh hưởng dồn nén của thiên nhiên man rợ này dẫn đến sự lớn mạnh của con người tinh thần.
Gilliatt không cảm thấy mệt nhọc hay để nói đúng hơn, không chịu như thế. Việc tâm hồn từ chối không cho thể xác bỏ cuộc là một sức mạnh vô bờ.
Gilliatt nhìn thấy những bước đi trong công việc của anh, và chỉ nhìn thấy thế thôi. Đấy là con người khốn khổ mà không biết. Mục đích của anh, mà anh gần chạm đến được, ám ảnh anh. Anh chịu đựng tất cả những nỗi khổ cực ấy mà không hề có một ý nghĩ nào khác ý nghĩ: Tiến lên! Công trình của anh bốc lên đầu óc. Ý chí làm cho ngây ngất. Người ta có thể say sưa vì tâm hồn mình.
Niềm say sưa ấy gọi là tính chất anh hùng.
Gilliatt là một kiểu Job[6] của đại dương.
Nhưng một Job luôn luôn vật lộn, một Job luôn luôn chiến đấu, và luôn luôn đương đầu với thiên tai, một Job chinh phục, và nếu những từ ngữ như thế không quá đối với một thủy thủ đáng thương đánh bắt tôm cua, một Job Prométhée.
V SUB UMBRA[7]
Đôi khi đang đêm, Gilliatt mở mắt ra nhìn bóng tối.
Anh cảm thấy trong lòng xao xuyến lạ thường.
Mắt trừng trừng nhìn vào bóng đen. Hoàn cảnh thật là rùng rợn; khắc khoải.
Bóng tối cũng có áp lực.
Một trần u minh khó tả; một trời tăm tối khôn dò; trong cảnh tối tăm ấy có lẫn cả ánh sáng, một thứ ánh sáng thất bại và mịt mù nào đó không rõ; nó mờ mờ li ti như bột, hạt giống chăng? Tro tàn chăng? Hàng triệu ngọn đuốc mà lại không hề chiếu sáng; một kiểu đốt cháy rộng lớn mà không cho biết bí quyết, một thứ lửa bột tung tán giống như một đám tia sáng đang bay dừng lại, cảnh hỗn độn của gió lốc và cảnh im lìm của mộ địa, vấn đề mở ra một vực thẳm, điều bí ẩn vừa chìa ra vừa giấu kín mặt, vô biên che kín bằng màu đen, đấy trời đêm là như thế đấy. Cảnh chồng chất ấy đè nặng lên con người.
Cảnh hỗn hợp đồng thời ấy của tất cả các bí mật, của bí mật vũ trụ cũng như bí mật tiền định, làm cho đầu óc con người mụ mẫm.
Áp lực của bóng tối tác động trái ngược đối với các loại tâm hồn khác nhau. Trước đêm tối con người tự nhận thấy mình không hoàn chỉnh. Nó nhìn thấy tối tăm và cảm thấy tàn tật. Bầu trời đen là con người mù. Đối diện với đen tối, con người ngã lòng, quỳ gối, phủ phục, nằm sấp xuống, bò đến một cái lỗ, hoặc tìm cách tự chắp cánh cho mình. Hầu như lúc nào nó cũng muốn trốn tránh sự hiện diện dị hình của Vô-Định. Nó tự hỏi đấy là cái gì; nó run sợ, nó gục xuống, nó không biết; đôi khi nó cũng muốn đi đến đấy.
Đến đâu?
Đến đấy.
Đấy? Là cái gì? Và có gì ở đấy?
Tất nhiên đó là tính hiếu kì muốn biết những thứ cấm đoán, vì ở phía ấy tất cả mọi nhịp cầu xung quanh con người đều bị cắt đứt. Nhịp cầu của vô biên lại không có. Nhưng là vực thẳm, nên của cấm bao giờ cũng lôi cuốn. Nơi bàn chân không đến được, con mắt có thể nhìn tới, nơi mắt nhìn dừng lại, trí óc có thể đi tiếp. Dù yếu hèn, dù bất lực đến mấy, không một người nào không muốn thử. Tùy theo bản chất, trước đêm tối, con người vẫn tìm kiếm, hoặc dừng chân đứng lại. Đối với một số người, đó là một sự dồn ép; đối với một số người khác lại là một sự giãn nở. Cảnh tượng thật đen tối. Trong đó lẫn cả cái không thể nào định nghĩa.
Trời đêm có sáng trong không? Đấy là một cái nền bóng tối. Trời đêm có giông tố không? Đấy là cái nền khói. Vô biên vừa hiến thân, vừa không thuận, vừa khép kín trước thí nghiệm vừa mở rộng cho phỏng đoán. Vô vàn điểm sáng càng làm cho u minh không đáy thêm đen. Hồng ngọc, sao sáng, tinh cầu, những hình ảnh nhận thấy trong Xa-Lạ; những thách thức rùng rợn đổ xô đến những ánh sáng kia. Đấy là những cột tiêu của sáng tạo trong tuyệt đối, đây là những dấu hiệu về quãng cách ở những nơi không còn quãng cách; đấy là một kiểu đánh số không thể làm được, tuy vậy vẫn hiện thực, của mực nước thấp nhất ở các vực sâu. Một điểm li ti lấp lánh, một điểm khác, rồi một điểm khác, rồi lại một điểm khác; đấy là cái hết sức nhỏ, đấy là cái to lớn phi thường. Ánh sáng ấy là một lò lửa, lò lửa ấy là một ngôi sao, ngôi sao ấy là một mặt trời, mặt trời ấy là một vũ trụ, vũ trụ ấy chẳng là gì cả. Mọi con số đều là số không trước vô biên.
Những vũ trụ không là gì cả ấy vẫn tồn tại. Nhận thấy chúng, người ta cảm thấy ngay sự khác biệt giữa cái rất nhỏ và cái không có.
Cái không thể với tới thêm vào cái không hiểu nổi, cái không hiểu nổi thêm vào cái không giải thích được, cái không giải thích được thêm vào cái vô lượng vô biên, bầu trời là như vậy đấy.
Từ việc chiêm ngưỡng ấy toát lên một hiện tượng cao cả: sự lớn mạnh của tâm hồn do kinh ngạc.
Hãi hùng thiêng liêng là đặc điểm của con người; thú vật không biết nỗi sợ hãi ấy. Trong trạng thái kinh hoàng uy nghiêm ấy, trí tuệ thấy mình bị che khuất và được xác nhận.
Bóng tối là một, vì thế mà rùng rợn. Đồng thời nó lại phức tạp, vì thế mà khủng khiếp. Tính đơn nhất của nó đè nặng lên đầu óc chúng ta, và làm mất ý chí chống cự. Tính phức tạp của nó khiến người ta phải nhìn khắp xung quanh, hình như người ta sợ chuyện xảy đến thình lình. Người ta đầu hàng, người ta lo giữ mình. Người ta đứng trước Tất-Cả, vì vậy mà phải khuất phục, và trước Nhiều-Thứ, vì vậy mà phải cảnh giác. Tính đơn nhất của bóng tối chứa đựng một bội số. Bội số bí mật, trông thấy được trong vật chất, cảm thấy được trong tư tưởng. Nó im lặng, thêm một lý do nữa để đề phòng.
Đêm tối - người viết điều này đã nói ở một chỗ khác - là hình thái riêng và bình thường của sáng tạo đặc biệt trong đó có chúng ta. Ngày, vốn ngắn ngủi về thời gian cũng như không gian, chỉ là một sự kế cận với tinh sao.
Sự huyền diệu bao quát của trời đêm không thể hoàn thành mà không có va chạm, và tất cả các va chạm của một bộ máy như thế đều là những vết thương gây cho cuộc sống. Những va chạm của bộ máy được chúng ta gọi là Cái Ác. Chúng ta cảm thấy trong cảnh tối tăm ấy có Cái Ác, sự phản kháng kín đáo về trật tự thiêng liêng lời phạm thượng chứa đựng trong sự việc phản nghịch với lý tưởng. Cái Ác làm cho quần thể vũ trụ bao la thêm phức tạp bởi một thứ quái-hình-học nghìn đầu. Chỗ nào Cái Ác cũng có mặt để phản đối. Là cuồng phong, nó dồi dập đường đi một con tàu; là hỗn mang, nó ngăn trở sự nẩy nở một thế giới. Cái Thiện có tính thống nhất, Cái Ác có tính biến tại. Cái Ác làm sai lạc cuộc sống vốn hợp lý. Nó thúc đẩy con chim nuốt con ruồi, và sao chổi nuốt hành tinh. Cái Ác là một nét gạch xóa vào công cuộc sáng tạo.
Bóng tối ban đêm thường đầy thác loạn. Ai đi sâu nghiên cứu bóng tối cũng đều chìm ngập và giãy giụa trong đó. Không khó nhọc nào có thể so sánh được với việc khảo cứu về u minh ấy. Đấy là công cuộc nghiên cứu về một hiện tượng lúc nào cũng lẩn tránh.
Không một chỗ nào nhất định để cho trí óc đúng. Toàn điểm xuất phát mà không có đích tới. Nơi chồng chéo của những bài giải mâu thuẫn, tất cả mọi hướng hoài nghi đồng thời xuất hiện, cảnh phân nhánh của những hiện tượng cứ chia tách mãi do một sức đẩy không rõ, tất cả các qui luật dồn tụ vào nhau, một sự giao kế không dò nổi khiến cho sỏi đá sinh trưởng, cỏ cây tươi tốt, cho tư tưởng đè nặng, tình yêu tỏa sáng và cho dẫn lực yêu đương; mặt trận tấn công rộng lớn của tất cả các vấn đề phát sinh trong bóng tối vô biên; điều thoáng thấy phác họa điều không được biết, tính đồng thời phát sinh của vũ trụ giữa lúc xuất hiện, không phải cho mắt nhìn mà cho trí tuệ, trong không gian rộng lớn không rõ rệt; vô hình trở thành ảo ảnh. Đấy là Bóng Tối. Con người đứng ở dưới đó.
Con người không biết chi tiết, nhưng nó chịu đựng, theo khối lượng tương xứng với trí óc của nó, cái trọng lượng phi thường của toàn bộ. Điều ám ảnh này đã đẩy cánh mục đồng xứ Chaldéens đến với khoa thiên văn. Những phát hiện vô tâm nảy sinh từ khắp nơi của sáng tạo. Một sự rỉ thoát khoa học có thể nói là tự thân, và lây đến kẻ ngu muội. Bất cứ một kẻ cô độc nào, dưới sự thấm nhiễm bí mật ấy, cũng đều trở thành một triết gia tự nhiên, mà thường lại không có ý thức về việc ấy.
Bóng tối không thể chia cắt. Nó có người ở. Có cái tuyệt đối ở, nhưng không di chuyển; và cũng vừa ở vừa di chuyển. Điều đáng lo ngại là người ta cử động trong ấy. Một sự hình thành thiêng liêng đang thực hiện các giai đoạn của nó trong đó. Những mưu toan, sức mạnh, những mục đích đã định, cùng nhau sửa soạn một công trình quá lớn. Trong ấy là cả một cuộc sống khủng khiếp rùng rợn. Có những chuyển biến rộng lớn của tinh tú, gia đình của muôn sao, gia đình của hành tinh, phấn hoa của hoàng đới, cái Quid divinum[8] của các dòng điện, các tần quang của các sự phân cực và các sức hút; có sự bao trùm và sự tương phản, một tiến trào và một thoái trào xán lạn của sự trái ngược vạn vật; cái không thể cân lường tự do giữa các trung tâm; có nhựa sống trong các tinh cầu, có ánh sáng ngoài các tinh cầu, có nguyên tử lang thang, có mầm sống tản mác, có những con đường sinh nở, có những cuộc gặp gỡ để giao hoan và giao tranh, có những cảnh dồi dào chưa từng thấy, có những quãng cách như những giấc mơ, có những kỳ diệu đuổi nhau trong cõi u minh, một bộ máy thật hoàn chỉnh, có những hơi thở của tinh cầu trốn chạy, có những bánh xe mà người ta cảm thấy đang quay; nhà thông thái suy luận, kẻ ngu muội công nhận và run rẩy, điều đó đang diễn ra và đang lẩn tránh; thật là không thể khuất phục; nó ở ngoài tầm tay, không sao đến gần nó được. Người ta bị thuyết phục đến mức ngột ngạt. Người ta có trên mình một thứ hiển nhiên đen tối nào đấy. Người ta không thể nắm được gì hết. Người ta bị đè bẹp bởi cái không thể sờ mó được.
Khắp nơi đều là cái không thể hiểu nổi, không đâu có cái khó hiểu.
Và thêm vào tất cả cái đó câu hỏi đáng sợ: tính Nội-Tại này có phải là một Thực-Tại không?
Người ta đứng dưới bóng tối. Người ta nhìn. Người ta nghe ngóng.
Trong khi đó quả đất tối tăm vẫn đi và vẫn lăn; các bông hoa đều có ý thức được sự vận động to lớn này; hoa thạch trúc nở lúc mười một giờ đêm, hoa kim châm nở vào năm giờ sáng. Những sự đều đặn hãi hùng.
Trong những vực sâu khác, giọt nước trở thành một thế giới. Chích trùng nhung nhúc, sự sinh nở khổng lồ thoát ra từ vi động vật, cái rất nhỏ phô trương sự to lớn của nó, cái trái ngược với mênh mông tự biểu lộ; trong một giờ một khuê tảo sinh ra một nghìn ba trăm triệu khuê tảo khác.
Một đề xuất kì lạ biết chừng nào của tất cả các điều bí ẩn cùng một lúc!
Điều không thể giản lược được nằm ở đấy.
Con người buộc lòng phải đến với đức tin. Bắt buộc phải tin, kết quả là như vậy. Nhưng có đức tin vẫn không đủ để yên lòng. Đức tin có một đòi hỏi kỳ lạ về hình thức. Vì vậy mà nảy sinh ra tôn giáo. Không gì băn khoăn day dứt như một lòng tin không rõ nét.
Dù nghĩ gì, dù muốn gì, dù trong lòng có ý chống đối thế nào, thì việc nhìn bóng tối cũng không phải là nhìn, mà là chiêm ngưỡng.
Làm thế nào trước những hiện tượng như vậy? Làm thế nào cử động dưới sức hội tụ của chúng? Không thể nào phân tích được áp lực ấy. Làm thế nào đưa mơ màng vào tất cả những đầu mối bí mật ấy? Biết bao điều phát lộ khó hiểu, đồng thời, ấp úng, tối tăm chính vì nhiều quá, những kiểu bập bẹ của ngôn từ. Bóng tối là một sự im lặng; nhưng sự im lặng này nói lên hết. Một kết luận từ đó thoát ra một cách uy nghiêm, đó là Chúa. Chúa là khái niệm không thể thu hẹp được. Nó nằm trong con người. Các kiểu tam đoạn luận, các cuộc tranh cãi, các lối phủ nhận, các chế độ, tôn giáo, đều vượt qua nó mà không làm giảm sút nó. Khái niệm ấy, toàn bộ bóng tối khẳng định nó. Nhưng một trạng thái hỗn loạn vẫn ở trên tất cả những gì còn lại. Vấn đề nội tại ghê gớm. Sự liên minh khó tả của các sức mạnh biểu thị bằng sự duy trì thăng bằng của toàn bộ bóng tối đó. Vũ trụ lơ lửng; không có gì rơi rớt. Sự di chuyển không ngừng và khác thường diễn ra không tai nạn, không đổ vỡ. Con người tham dự vào chuyển động xê dịch ấy, và cái lượng dao động mà nó phải chịu đựng đó, con người gọi là số mệnh. Số mệnh bắt đầu từ đâu? Thiên nhiên kết thúc ở đâu? Có khác biệt gì giữa một sự biến và thời tiết, giữa một nỗi buồn và cơn mưa, giữa một ngôi sao và đức tốt? Một giờ, không phải là một làn sóng ư? Không trả lời với con người, các bánh xe đang lăn cứ tiếp tục tuần hoàn bình thản của chúng. Bầu trời sao là một hình ảnh của bánh xe, của quả lắc và của đối tượng. Đấy là sự chiêm ngưỡng cao nhất, cộng thêm sự trầm tư cao nhất. Đấy là toàn bộ thực tế, cộng với toàn bộ trừu tượng, Ngoài đó chẳng có gì cả. Người ta tự cảm thấy bị giữ chặt. Bị phó mặc cho bóng tối ấy. Không có cách nào trốn thoát cả. Người ta tự cảm thấy bị cuốn vào guồng máy, người ta là một phần của một Toàn-Thể không được biết, người ta cảm thấy kẻ xa lạ trong bản thân bí mật đồng tâm hiệp lực với một kẻ xa lạ bên ngoài. Đấy là tiền triệu cao siêu của cái chết. Còn lo âu nào hơn, và đồng thời còn say mê nào hơn! Sát nhập với vô biên; bị việc sát nhập này đẩy đến chỗ phải tự nhận lấy sự bất tử cần thiết, biết đâu cũng có thể là một vĩnh cửu cảm thấy trong làn sóng kì diệu của cảnh tràn đầy sức sống vạn vật và cái tính chất dai dẳng không chìm nổi của cái tôi! Nhìn tinh tú và nói: Ta cũng là một linh hồn như các ngươi! Nhìn bóng tối và nói: Ta cũng là một vực thẳm như mi!
Những điều vô nghĩa ấy, chính là đêm tối.
Tất cả những thứ ấy, tăng thêm bởi cảnh cô đơn, đang đè nặng trong tâm trí Gilliatt.
Anh có hiểu thế không? Không.
Anh có cảm thấy điều ấy không? Có.
Gilliatt là một đầu óc tối tăm vĩ đại và một trái tim man rợ vĩ đại.
VI GILLIATT BẮT CHIẾC THUYỀN BẦU ĐỨNG VÀO CHỖ
Việc trục vớt cỗ máy này, do Gilliatt trù tính, như chúng tôi đã nói, là một cuộc vượt ngục thực sự, và người ta được biết những sự kiên trì của việc vượt ngục. Người ta cũng được biết những thủ đoạn của nó. Thủ đoạn đi đến chỗ kỳ công; sự kiên trì đến mức hấp hối. Tù nhân Thomas chẳng hạn, ở Mont Saint-Michel, tìm được cách nhét cả một nửa bức tường to vào cái nệm rơm của y. Một tù nhân khác, ở Tulle, năm 1820 cắt chì trên lối đi dạo của nhà tù, bằng loại dao gì? Điều đó người ta không thể đoán nổi, nấu chảy chỗ chì ấy bằng lửa gì? Điều đó người ta không biết, để chỗ chì ấy vào thứ khuôn nào? Điều này người ta biết, trong một cái khuôn bằng ruột bánh mì; với chỗ chì ấy, cái khuôn ấy, làm một chiếc chìa khóa, và với chiếc chìa khóa mà anh ta mới chỉ thấy lỗ. Những tài khéo léo phi thường ấy, Gilliatt đều có cả. Nếu cần anh cũng có thể trèo lên và trèo xuống vách biển Boisrosé. Anh là Trenck[9] của một xác tàu và là Latude[10] của một cỗ máy.
Biển cả là mụ cai ngục, đang giám sát anh.
Vả lại, chúng ta cũng nên nói, mưa dù có bạc ác, tồi tệ đến mấy, anh cũng tìm được cách lợi dụng nó. Anh đã phần nào tích trữ được nước ngọt; những cái khát của anh thật không thể nào thỏa mãn, và anh dốc hết bi-đông của anh cũng gần nhanh như khi anh lấy đầy nó.
Một hôm, hình như vào ngày cuối cùng của tháng tư, hay ngày đầu tiên của tháng năm, mọi việc đều sẵn sàng.
Cái sàn máy như được đóng khung giữa tám sợi cáp của pa-lăng, bốn sợi bên này, bốn sợi bên kia. Mười sáu cái lỗ để cáp chui qua đều được nối liền ở trên mặt boong và dưới bụng tàu bằng những vết cưa. Lớp gỗ lót mặt trong tàu được cắt bằng cưa, sườn bằng rìu, phần sắt bằng dũa, lớp ốp bằng đục. Phần sống tàu trên đặt một cỗ máy, được cắt đứt hẳn và sẵn sàng vừa trượt cùng cỗ máy vừa đỡ dưới cỗ máy. Toàn bộ cái võng dễ sợ ấy chỉ còn được treo bằng một sợi xích, và bản thân sợi xích cũng chỉ còn chờ một nhát dũa. Ở giai đoạn hoàn thành này và gần chỗ kết thúc như thế, vội vàng là khôn ngoan.
Nước triều đang xuống, đấy là thời cơ thuận lợi.
Gilliatt đã tìm cách tháo được cái trục bánh xe mà hai đầu có thể cản trở và chặn đứng việc thả trượt. Anh cũng đã buộc đứng được bộ phận nặng nề này trong chính cái lồng của cỗ máy.
Đã đến lúc phải kết thúc. Như chúng tôi vừa nói, Gilliatt không nhọc vì anh không muốn thế, nhưng dụng cụ của anh nhọc. Lò rèn của anh dần dần không dùng được. Tảng đá đe đã nứt nẻ. Cái bễ bắt đầu làm việc chẳng ra gì. Vì cái thác nước nhỏ dùng nước biển nên muối đã đóng trong các kẽ máy, và làm cho máy trục trặc.
Gilliatt đi đến vũng Thằng Người, kiểm tra lại chiếc thuyền bầu, xem cho chắc, mọi việc ở đây đều tốt đẹp, đặc biệt là bốn cái vòng gắn hai bên mạn, đoạn anh rút neo lên và chèo thuyền bầu về chỗ hai Hòn Douvres.
Quãng cách giữa hai Hòn Douvres có thể tiếp nhận chiếc thuyền bầu. Ở đấy đủ sâu và đủ rộng. Ngay từ đầu Gilliatt đã biết là có thể đẩy chiếc thuyền bầu xuống tận dưới bụng tàu Durande.
Tuy vậy việc vận hành cũng rất gay go, nó đòi hỏi độ chính xác của thợ kim hoàn, và chuyện len thuyền vào bãi ngầm càng khó khăn vì Gilliatt lại muốn cho lái đi trước, nên cần phải đi vào bằng đuôi thuyền. Điều quan trọng là cột buồm và dụng cụ của chiếc thuyền bầu phải ở phía bên này xác tàu, phía hẻm núi.
Những khó khăn này trong vận hành khiến công việc thêm bất tiện cho chính Gilliatt. Đây không còn là việc vung mạnh tay lái như lúc vào vũng Thằng Người, mà phải đồng thời đẩy, kéo, chèo chống và thăm dò. Gilliatt mất vào đấy mười lăm phút. Tuy nhiên anh vẫn đạt được ý muốn.
Trong mười lăm, hai mươi phút, chiếc thuyền bầu được đặt đúng dưới tàu Durande. Nó gần như được chằng cả mũi cả lái ở đấy. Gilliatt neo chiếc thuyền bầu theo lối hai neo giằng nhau. Chiếc neo to cốt để dùng vào lúc gió to nhất, là gió tây. Sau đó bằng đòn bẩy và máy trục, Gilliatt hạ xuống thuyền bầu hai cái thùng đựng bánh xe đã tháo rời, dây treo thùng đã sẵn sàng. Hai cái thùng ấy dùng để dằn cho đằm tàu.
Trút được hai cái thùng, Gilliatt buộc vào móc xích máy trục sợi dây treo của pa-lăng điều chỉnh lớn, mục đích để hãm pa-lăng.
Trong suy tính của Gilliatt, những nhược điểm của chiếc thuyền bầu trở thành ưu điểm; thuyền không có boong, hàng chở càng có thêm chiều sâu và có thể để ngay trên hầm tàu; cột buồm dựng phía trước, có lẽ hơi quá về phía trước, việc xếp hàng sẽ dễ dàng hơn, và cột buồm do đó nằm ngoài xác tàu, nên sẽ không có gì cản trở việc đi ra; thuyền chỉ còn là một chiếc guốc, mà ở ngoài biển thì chẳng gì vững vàng và chắc chắn như một chiếc guốc.
Thình lình, Gilliatt nhận thấy nước triều đang lên. Anh nhìn xem gió từ hướng nào đến.
VII LẬP TỨC MỘT NGUY CƠ
Gió chỉ hiu hiu, nhưng lại từ hướng tây thổi tới. Đấy là một thói xấu thông thường của gió vào dịp cân phân. Tùy theo hướng gió thổi mà nước triều lên hoạt động khác nhau trong bãi Douvres. Tùy luồng gió đấy, sóng tiến vào hành lang này, hoặc từ phía đông hoặc từ phía tây. Vào từ phía đông thì biển cả hiền lành êm lặng; vào theo hướng tây thì nó lại dữ tợn hung hăng. Đó là vì gió đông, từ đất liền thổi tới, nên thở ngắn hơi, còn gió tây, vượt qua Đại Tây Dương, nên đem đến toàn bộ sinh khí của trời biển bao la. Nếu gió mát từ phía tây đến, thì bề ngoài dù thổi rất nhẹ nó cũng đáng ngại. Nó cuốn những lớp sóng rộng của không gian vô bờ bến, và cùng một lúc đẩy quá nhiều sóng vào quãng thắt.
Một dòng nước xoáy lúc nào cũng ghê rợn nước cũng như đám đông; quần chúng là một thể lỏng; khi khối lượng có thể ít hơn khối lượng nước cuốn vào, thì đám đông dày xéo lên nhau và nước có trạng thái cuồn cuộn. Chừng nào gió tây lại ngự trị, thì dù là ngọn gió mát yếu nhất Hòn Douvres cũng bị tấn công ngày hai lần. Biển dâng, triều ép, núi đã chống cự, cửa ngõ chỉ mở hà tiện, sóng bị tống vào bằng vũ lực, chồm lên, rống lên, và một loạt sóng lồng lộn đánh vào hai mặt phía trong con đường hẻm thành thử gặp ngọn gió tây nhẹ nhất, Hòn Douvres cũng có cái quang cảnh đặc biệt: bên ngoài, trên biển cả, không khí thanh bình, trong bãi ngầm, một cảnh giông tố. Quang cảnh ồn ào cục bộ và khép kín này chẳng còn gì của một cơn bão cả; đó chỉ là một cuộc nổi loạn của sóng nước, nhưng khủng khiếp. Còn gió bắc và gió nam, chúng thổi ngang vào bãi và chỉ gây một ít phản ba trong đường ống. Lối vào phía đông, chi tiết cần nhắc lại, tiếp giáp với Núi Thằng Người, lối ra đáng sợ phía tây ở đầu đối diện, đúng vào giữa hai Hòn Douvres.
Gilliatt cùng đoàn tàu Durande mắc cạn và chiếc thuyền bầu được chằng giữ đang nằm đúng ở lối ra phía tây này.
Một tai nạn đang dường như không thể tránh khỏi. Tai nạn này đang có được ngọn gió cần thiết, khối lượng tuy nhỏ, nhưng vừa đủ.
Trong ít giờ nữa, nước triều dâng cao sẽ hùng hổ xông vào eo biển Douvres. Những lớp sóng đầu tiên đã rào rạt. Là ngọn sóng cồn của Đại Tây Dương, thế trào dâng này sẽ có sau lưng toàn bộ biển cả. Không chút gió bão, không chút phẫn nộ; nhưng một làn sóng uy nghi, đơn giản, chứa chất trong mình một xung lực, xuất phát từ châu Mỹ để kết thúc ở châu Âu, có một tầm dài hai nghìn dặm. Làn sóng này, như một nét gạch ngang khổng lồ của đại dương, sẽ gặp chỗ đứt đoạn của bãi ngầm, và bị nhíu lại ở hai Hòn Douvres là những tháp canh cửa vào, là những cột trụ của eo biển, bị triều dâng làm phồng lên, bị sức cản làm căng ra, bị núi đá đẩy lùi, bị gió mát làm cho kiệt quệ, sẽ cưỡng bách bãi ngầm, sẽ xông vào với tất cả những quằn quại của vật cản đụng phải và tất cả nỗi cuồng loạn của sóng nước bị ngăn chặn, giữa hai bức thành cao, sẽ gặp chiếc thuyền bầu với tàu Durande, và sẽ bóp nát chúng ra.
Chống lại tình huống bất ngờ này, cần phải có một lá chắn. Cái ấy Gilliatt đã có rồi.
Phải ngăn cản nước triều đổ vào quá thấp, cấm nó thúc mạnh mà vẫn để cho nó dâng dần, chặn lối đi của nó nhưng không cấm lối vào, vừa chống đối nó, vừa nhượng bộ, phòng ngừa sóng dồn vào hẻm, vì đây là toàn bộ nguy cơ, thay thế sự đột nhập bằng việc mời vào, rút bỏ lôi đình và tàn bạo của sóng nước, bắt buộc hùng hổ phải dịu dàng. Phải thay thế vật cản làm nổi xung bằng vật cản biết xoa dịu.
Với tài khéo léo mạnh hơn sức mạnh của anh, Gilliatt tiến hành một cuộc thao diễn của linh dương trên núi, của khỉ xạ trong rừng, lợi dụng từng mỏm núi nhỏ để bước những bước rất hiểm nghèo, trơn ngợp, nhảy xuống nước, tót lên bờ, bơi lội trong nước xoáy, trèo lên núi đá, răng cắn một sợi dây, tay cầm một cái búa, tháo sợi thừng ba tao vẫn treo tấm vách phía trước tàu Durande dán vào nền hòn Douvres Nhỏ, dùng những đoạn thừng buộc tàu tạo thành những bản lề ghì chặt bức vách vào số đinh to đã đóng vào đá hoa cương, cho xoay quanh số bản lề ấy cái khung ván giống như một cửa cống, chìa hông nó ra, như người ta vẫn chìa lá bánh lái, cho sóng đầy, và áp một đầu nó lên hòn Douvres Lớn trong khi những bản lề thừng giữ chặt đầu kia vào hòn Douvres Nhỏ; bằng số đinh đóng phòng sẵn trên hòn Douvres Lớn, anh cũng ghìm chặt trên hòn Douvres Nhỏ, buộc chắc tấm ván rộng vào hai cột trụ của ngõ hẻm, bắt chéo lên cái đập này một sợi xích như một thứ dây đeo gươm trên áo giáp, và không đầy một giờ, bức rào ấy đứng sững chống lại nước triều, và ngõ hẻm bãi ngầm như có cửa đóng kín.
Tấm chắn vững ấy, một khối nặng vừa gỗ vừa ván, để nằm có thể là một cái bè, để đứng là một bức tường, nhờ sức sống, đã được Gilliatt vận dụng với một tài nghệ của người leo dây. Hầu như có thể nói cái tiết mục ấy đã được thực hiện xong trước khi thủy triều đủ thì giờ nhận thấy.
Đấy là một trong những trường hợp mà Jean Bart có thể thốt lên lời nói bất hủ mà ông vẫn dùng với sóng biển mỗi khi ông tránh được một trận đắm: Thua rồi nhé, anh người Anh ơi! Người ta được biết khi nào Jean Bart muốn chửi đại dương, ông đều gọi nó là anh người Anh.
Chắn xong eo biển, Gilliatt nghĩ ngay đến chiếc thuyền bầu. Anh đã thả khá nhiều dây cáp trên hai cái neo để thuyền có thể cùng lên theo thủy triều. Giống như việc mà các thủy thủ ngày xưa gọi là “thả neo với dây chằng”. Trong toàn bộ sự việc này, Gilliatt không bị bất ngờ, trường hợp này đã được dự kiến trước, một người trong nghề tất đã nhận ra qua hai cái puli thừng lớp rèn thành hình guốc ở phía sau chiếc thuyền bầu, để luồn hai sợi thừng ba tao, đầu buộc vào khoen neo.
Trong khi ấy nước triều đã dâng cao quá mức trung bình; vào lúc này sóng triều dù hiền hòa cũng có thể quật rất mạnh. Điều mà Gilliatt trù tính đang diễn ra. Sóng cuốn ầm ầm về phía đập chắn, gặp đập, nó bồng lên và chui qua phía dưới. Bên ngoài sóng nước dập dềnh, bên trong, thẩm lậu. Gilliatt đã tưởng tượng ra một thứ chàng nạng đuôi cá của biển cả. Sóng triều đã bị đánh bại.
VIII TÌNH TIẾT CHỨ CHƯA PHẢI LÀ ĐOẠN KẾT
Giây phút đáng sợ đã đến.
Bây giờ cần phải đặt cỗ máy vào lòng thuyền.
Gilliatt trầm ngâm một lúc, bàn tay phải đỡ lấy khuỷu tay trái và bàn tay trái đỡ lấy vầng trán.
Đoạn anh trèo lên cái xác tàu mà một phần, cỗ máy, phải tách ra, còn phần kia, cái sườn, phải nằm lại.
Anh cắt đứt bốn sợi dây trục vẫn ghìm chặt bốn sợi xích ống khói hai mạn vào bức vách tàu Durande. Dây trục chỉ là thừng thường, nên con dao của anh cắt được.
Bốn sợi xích, tự do và không dính vào đâu, buông thõng dọc theo ống khói.
Từ xác tàu, anh trèo lên cái dàn do anh xây dựng, lấy chân giẫm mạnh lên các phiến gỗ, kiểm tra các róc rách, nhìn số puli, sờ nắm dây cáp, xem xét các chỗ nối, tin chắc rằng thừng mộc không bị ướt sâu, nhận thấy không có thứ gì oằn xuống; đoạn từ mép cạp tàu nhảy lên boong, anh đứng vào vị trí, cạnh máy trục hàng, trên cái phần tàu Durande phải nằm lại với các Hòn Douvres. Đấy là vị trí làm việc của anh.
Uy nghiêm, chỉ xúc động khi đáng xúc động, anh đưa mắt nhìn lần cuối cùng lên các pa-lăng, đoạn cầm một cái dũa và bắt đầu cưa sợi xích vẫn treo lơ lửng toàn bộ.
Tiếng dũa rít ken két trong tiếng gầm réo của biển cả.
Sợi xích máy trục, dính liền với pa-lăng điều chỉnh, nằm ngang tầm tay Gilliatt, ngay cạnh bàn tay anh.
Thình lình có tiếng răng rắc. Mắt xích bị dũa cứa, đã bị chạm đến quá nửa, vừa đứt; toàn bộ cỗ máy rung chuyển. Gilliatt chỉ đủ thì giờ nhảy đến bên cái róc rách đại.
Sợi xích đứt quật mạnh vào núi đá, tám sợi cáp căng thẳng; toàn bộ khối nặng bị cưa và cắt, bứt ra khỏi xác tàu, bụng tàu Durande mở ra, tấm sàn sắt của cỗ máy đè nặng lên số dây cáp xuất hiện dưới sống tàu.
Nếu Gilliatt không kịp thời nắm lấy cái róc rách đại thì là cả một cảnh rơi thẳng. Nhưng bàn tay khủng khiếp của anh đã sẵn sàng; đấy là một động tác hạ xuống từ từ.
Khi người anh của Jean Bart, là Peter Bart, anh chàng say rượu khỏe mạnh và sáng suốt, anh ngư dân đáng thương của Dunkerque, vẫn mày tao với vị đô đốc vĩ đại của nước Pháp, cứu chiếc chiến thuyền Langeron bị tai nạn trong vịnh Ampleteuse, khi định kéo cái khối nặng nề nổi ấy ra khỏi bãi đá ngầm của cái vịnh hung dữ, ông ta buộc lá buồm đại cuộn tròn bằng cói biển, khi ông ta muốn chính những cây sậy ấy đứt ra sẽ tung buồm cho gió thổi, ông ta cũng đã trông chờ vào những cây sậy đứt như Gilliatt tin cậy vào sợi xích đứt, và chính sự táo bạo kỳ lạ giống nhau đó đã được ban thưởng bằng thành công kinh ngạc như nhau.
Cái róc rách đại, bị Gilliatt tóm chặt, đứng vững và hoạt động rất tuyệt vời. Nhiệm vụ của nó, ta còn nhớ, là giảm nhẹ các lực, từ nhiều lực thu vào một lực duy nhất, và tập trung vào một động tác chung. Cái róc rách này có đôi chỗ giống như một đầu dây lèo giữa; có điều đáng lẽ định hướng cho một lá buồm thì ở đây nó cân bằng cho một bộ máy.
Gilliatt đứng, nắm tay để trên máy trục, có thể nói là đang để bàn tay lên mạch máy.
Đến đây sáng chế của Gilliatt mới biểu lộ rõ.
Một sự trùng hợp đặc sắc của các lực diễn ra.
Trong khi cỗ máy Durande, tách rời cả khối, tụt xuống chiếc thuyền bầu, thì chiếc thuyền bầu cũng nhô lên phía cỗ máy. Xác tàu và thuyền đi vớt, cái nọ giúp đỡ cái kia, tiến ngược chiều nhau. Chúng tìm đến nhau và bớt cho nhau một nửa công việc.
Sóng chiều lẳng lặng, phồng lên giữa hai Hòn Douvres, nâng dần chiếc thuyền và đưa nó tới gần tàu Durande. Thủy triều không chỉ thất bại, mà còn bị thuần hóa. Đại dương cũng đứng về phía bộ máy.
Nước lên nâng cao chiếc thuyền bầu, không để va chạm, nhẹ nhàng, hầu như thận trọng và y như nó là một thứ đồ sứ.
Gilliatt phối hợp và điều hòa hai công việc của nước và bộ máy; đứng im bên máy trục như một pho tượng khủng khiếp mà tất cả mọi công tác đều phải vâng theo một lúc, anh hiệu chỉnh cho tốc độ tụt xuống và tốc độ nhô lên đều thong thả như nhau.
Nước không rung chuyển, pa-lăng không giật mạnh. Đúng là một sự cộng tác kỳ lạ của tất cả các sức mạnh tự nhiên, bị khuất phục. Phía này, hấp lực hạ cỗ máy xuống, phía kia, thủy triều nâng chiếc thuyền lên. Sức hút của tinh tú là nước triều, và sức hút của đất là trọng lực, dường như ăn ý với nhau để phục vụ Gilliatt. Sự phục tùng của chúng không do dự, cũng không dừng lại và, dưới áp lực của một tâm hồn, các uy lực thụ động ấy trở thành những kẻ phụ tá tích cực. Công việc tiến triển từng giây từng phút; quãng cách giữa xác tàu và thuyền bầu giảm dần rất khó thấy. Việc xích gần tiến hành lẳng lặng như sợ hãi con người đang đứng kia. Vật thể nhận mệnh lệnh và cứ thế thi hành.
Hầu như đúng lúc nước triều thôi dâng thì các sợi cáp cũng thôi nhả. Thình lình nhưng không rung động mạnh, hệ thống róc rách dừng lại. Cỗ máy, như được một bàn tay đặt xuống, đã đoàng hoàng nằm trong thuyền bầu. Nó đứng đấy, thẳng thắn, bất động, vững vàng. Tấm bệ tì cả bốn góc và đứng cân bằng trên tấm thuyền.
Thế là xong.
Gilliatt nhìn xuống, luống cuống.
Con người đáng thương kia không vì vui sướng mà kiêu căng. Anh thấy trong lòng nao nao vì một hạnh phúc quá lớn. Anh cảm thấy chân tay bủn rủn, và trước thắng lợi, anh, con người đến lúc ấy chưa từng bối rối, bỗng bắt đầu run rẩy.
Anh lặng ngắm chiếc thuyền bầu dưới các tàu, và cỗ máy trong lòng thuyền bầu. Dường như anh không tin vào chuyện ấy. Có thể nói là anh không ngờ đến việc anh đã làm. Một kỳ công đã từ tay anh thoát ra, và anh sững sờ nhìn nó.
Nỗi kinh hoàng ấy chỉ thoáng qua trong chốc lát.
Gilliatt, như người chợt tỉnh, lao ngay đến bên cái cưa, cắt đứt cả tám sợi cáp; lúc này, nhờ nước triều dâng lên, chiếc thuyền bầu chỉ còn cách anh có độ hơn ba mét, anh liền nhảy xuống thuyền, cầm lấy một cuộn thừng, kết bốn sợi dây trục, luồn chúng vào các khoanh sắt đã chuẩn bị sẵn, và ghì chặt, vào hai mạn thuyền, bốn sợi xích ống khói một giờ trước đây còn buộc vào mạn tàu Durande.
Chằng xong ống khói, Gilliatt giải tỏa cho phần trên cỗ máy. Một mảng vuông của mặt boong tàu Durande vẫn dính liền vào đấy. Gilliatt nhổ đinh ra, vứt bỏ hết số gỗ ván ngổn ngang trên thuyền lên núi.
Một việc giảm nhẹ có ích.
Vả lại, chiếc thuyền bầu, như người ta phải dự kiến, cũng đã đứng vững dưới trọng lượng cỗ máy. Thuyền bầu chỉ chìm xuống đến ngấn nước an toàn. Cỗ máy tàu Durande, tuy nặng, cũng không bằng đống đá và khẩu đại bác mà trước đây chiếc thuyền bầu đã chở từ Herm về.
Mọi việc như vậy là xong hết. Chỉ còn việc ra đi.
IX THÀNH CÔNG VỪA CHO ĐÃ TỨC THÌ LẤY LẠI
Mọi việc chưa phải đã xong hết.
Lại mở cái ngõ hẹp ra, do mảng vách tàu Durande chặn lại, và đẩy ngay chiếc thuyền bầu ra khỏi bãi ngầm, không có gì được vạch ra rõ ràng hơn. Ở biển, mỗi giờ mỗi phút đều cấp bách. Gió ít, chỉ hơi gợn ngoài khơi; trời chiều, rất đẹp, hứa hẹn một đêm trăng sao. Biển đứng, nhưng lại bắt đầu cảm thấy triều xuống; thời cơ tuyệt diệu để lên đường. Người ta sẽ gặp triều xuống để ra khỏi Hòn Douvres, và triều lên để trở về Guernesey. Tờ mờ sáng là có thể có mặt ở Saint-Sampson.
Nhưng một chướng ngại bất ngờ xuất hiện. Trong dự tính của Gilliatt có một khuyết điểm.
Cỗ máy tự do; nhưng ống khói lại không.
Nước triều, nâng chiếc thuyền bầu lên gần cái xác tàu lơ lửng trên không, đã giảm bớt mọi nguy cơ trong lúc hạ máy, và rút ngắn thời gian trục vớt; nhưng quãng cách này được giảm bớt thì đầu ống khói lại mắc vào trong cái khung rỗng của bụng tàu Durande toang hoác. Ống khói bị giữ lại đấy như giữa bốn bức tường.
Việc giúp đỡ của sóng nước trở thành rắc rối vì chuyện nham hiểm này. Hình như biển cả buộc phải vâng lời đã có một ẩn ý.
Đúng là những gì triều lên đã giúp, thì triều xuống lại phá đi. Ống khói, cao hơn sáu mét một tí, vướng đến hai mét rưỡi trong tàu Durande; mức nước sẽ hạ xuống gần bốn mét; ống khói, cùng với thuyền bầu tụt xuống lúc triều rút, sẽ có một quãng hơn một mét thoải mái và có thể thoát ra.
Nhưng phải bao nhiêu thời gian mới giải thoát như thế? Sáu giờ.
Sáu giờ nữa là đến gần nửa đêm, làm thế nào để có thoát ra vào giờ ấy, theo lạch nào để lấn qua tất cả những mỏm ngầm kia ban ngày cũng đã quá mức chằng chịt, và làm thế nào để mạo hiểm giữa đêm đen trong cái ổ phục kích của đá ngầm này?
Buộc lòng phải chờ đến hôm sau. Sáu giờ mất đi làm mất ít ra mười hai giờ.
Cũng không nghĩ cả đến chuyện thúc đẩy công việc bằng cách lại mở cái ngõ hẹp của bãi ngầm. Cái đập chắn sẽ cần thiết vào lần nước triều sắp đến.
Gilliatt đành phải nghỉ ngơi.
Khoanh tay là việc duy nhất anh chưa làm từ hôm sống trong bãi ngầm Douvres.
Việc nghỉ ngơi miễn cưỡng này khiến anh bực tức và gần như phẫn nộ, y như là do lỗi của anh. Anh tự nhủ: Déruchette sẽ nghĩ gì về ta, nếu nàng thấy ta ngồi đây mà không làm gì hết!
Tuy nhiên việc hồi phục sức khỏe này có lẽ không phải vô ích.
Chiếc thuyền bầu bây giờ trong tay anh, anh quyết định sẽ nghỉ đêm trên ấy.
Anh liền đi tìm da cừu trên Hòn Douvres Lớn, đoạn trở xuống, ăn tối bằng mấy con vòm và hai ba con ấu biển, rồi khát quá uống mấy ngụm nước ngọt còn lại trong cái bi-đông gần cạn khô, khoan khoái quấn mình trong tấm da cừu, nằm bên cạnh cỗ máy như một con chó giữ nhà, kéo sụp chiếc mũ khổ xuống tận mắt và ngủ luôn.
Anh ấy ngủ rất say. Sau những công việc hoàn thành tốt đẹp, người ta thường có những giấc ngủ như vậy.
X NHỮNG LỜI CẢNH CÁO CỦA BIỂN CẢ
Vào quãng nửa đêm, thình lình, và như bị lò xo bật, anh bỗng tỉnh giấc.
Anh mở mắt ra.
Hai Hòn Douvres trên đầu anh sáng lòa như có một đống than đỏ rực phản chiếu lên. Trên toàn bộ mặt đen của bãi ngầm như có một ánh lửa.
Ngọn lửa ấy từ đâu đến?
Từ nước.
Biển cả thật khác thường.
Hình như nước đang bốc cháy. Nhìn đến đâu, trong bãi ngầm, ngoài bãi ngầm, cũng thấy toàn bộ biển cả sáng rực. Cảnh sáng rực ấy không phải màu đỏ; nó chẳng có gì như ngọn lửa lớn sinh động của những miệng hỏa sơn và các lò lửa. Không tiếng nổ, không nóng gắt, không đỏ thắm, không tiếng động. Những dải xanh xanh trên sóng giống hệt những nếp nhăn của vải liệm. Một lớp ánh sáng rộng nhợt nhạt run rẩy trên mặt nước. Không phải đám cháy, mà là ảo ảnh của nó.
Một cái gì như thứ xanh xanh trong phần mộ do một ngọn lửa trong mơ.
Ta cứ hình dung cảnh u minh được thắp sáng.
Dường như đêm khuya, cái đêm khuya rộng khắp, âm u, và tản mạn, là nhiên liệu của ngọn lửa lạnh lẽo ấy. Nó là một thứ ánh sáng mờ ảo mịt mù nào đó. Bóng tối như thuộc thành phần của cái ánh sáng ma quái ấy.
Tất cả những thủy thủ trên biển Manche đều biết loại ánh lân tinh khó tả này, chúng lúc nào cũng báo trước cho nhà hàng hải. Không ở đâu chúng kỳ lạ hơn trong cái chữ V lớn, cạnh Isigny.
Trước thứ ánh sáng này, mọi vật đều mất hết vẻ thực của mình. Một sự thâm nhập ma quái làm cho chúng thành như trong suốt. Núi đá chỉ còn là những đường nét. Những sợi cáp treo nom như những thanh sắt nung trắng. Dưới nước lưới đánh cá của ngư dân có vẻ như đan bằng lửa. Một nửa mái chèo bằng gỗ mun, còn nửa kia, dưới nước, bằng bạc. Từ mái chèo rơi xuống mặt sóng, các giọt nước rắc sao lên biển cả. Mỗi con thuyền được kéo theo sau một ngôi sao chổi. Các thủy thủ ướt đẫm và sáng ngời như người đang bốc cháy. Nhúng bàn tay xuống nước, lúc rút lên thì tay đã mang găng lửa; ngọn lửa ấy là một ngọn lửa chết, người ta không cảm thấy nó. Cánh tay bạn là một thanh củi cháy dở. Bạn thấy những hình bóng trong biển cả đang cuồn cuộn trôi dưới sóng nước theo dòng lửa. Bọt nước lóe sáng. Cá là những ngọn lửa và những đoạn chớp ngoằn ngoèo dưới một tầng sâu nhợt nhạt.
Cái ánh mờ mờ ấy đã xuyên qua mí mắt nhắm của Gilliatt. Chính nhờ nó mà anh đã tỉnh giấc.
Anh dậy vừa đúng lúc.
Nước triều đã xuống, một đợt triều mới lại đến. Ống khói cỗ máy, được giải thoát trong lúc Gilliatt ngủ, sắp bị cái xác tàu toang hoác phía trên tóm lại.
Nó đang từ từ trở lại vị trí cũ.
Chỉ ba bốn tấc nữa là ống khói lại chui vào lòng tàu Durande.
Đối với nước triều, dâng lên ba bốn tấc là quãng nửa giờ. Nếu muốn lợi dụng việc giải thoát đã được xét lại này, Gilliatt có nửa giờ trước mắt.
Anh vùng ngay dậy.
Hoàn cảnh có gấp rút mấy anh cũng không thể làm gì khác hơn là đứng yên mấy phút, ngắm nhìn cảnh lân tinh lấp lánh, trầm ngâm suy nghĩ.
Gilliatt vốn thông thạo biển cả. Mặc dầu biển cả đã nổi giận, và mặc dầu anh vẫn thường bị biển cả bạc đãi, từ lâu anh vẫn là bạn đường của biển cả. Nhân vật huyền bí gọi là đại dương không thể có cái gì trong tư tưởng mà Gilliatt không đoán được. Nhờ quan sát luôn, nhờ mơ màng và cô đơn mãi, Gilliatt đã trở thành gần như một người đoán trước được thời tiết, mà tiếng Anh gọi là Weatherwise.
Gilliatt vội chạy đến bên đống thừng, thả hết dây cáp ra; đoạn không còn bị bộ neo đổi giữ chân nữa, anh chụp ngay lấy cái sào móc của thuyền bầu và, ù mạnh vào vách núi, anh đẩy nó về phía cái cửa hẹp nằm ở bên kia tàu Durande vài ba sải, ngay cạnh đập chắn. Các thủy thủ Guernesey gọi là hàng ngũ. Không đầy năm phút, thuyền bầu đã rút ra khỏi bụng xác tàu mắc cạn. Từ nay không còn sợ ống khói lại mắc vào bẫy. Sóng triều cứ việc dâng.
Tuy nhiên Gilliatt không có vẻ gì của một người sắp ra đi.
Anh vẫn ngắm nhìn cảnh trời lấp lánh ánh lân tinh và thu neo lại; nhưng không phải là để nhấc hẳn, mà để một lần nữa neo thuyền bầu lại thật chắc; cạnh lối ra, đúng thế.
Đến lúc ấy anh chỉ mới dùng có hai cái neo của thuyền bầu, anh chưa sử dụng đến cái neo nhỏ của tàu Durande tìm được, ta còn nhớ trong lớp đá ngầm. Chiếc neo này được anh để trong một xó thuyền bầu, phòng trường hợp cấp bách, với cả một lô đồ dự bị như thừng buộc tàu, puli dựng buồm, và sợi cáp có sẵn những dây buộc một đầu rất dòn, nhờ vậy mà không phải đi tìm. Gilliatt thả chiếc neo thứ ba này, có ý buộc sợi cáp vào một sợi thừng ba tao mà một đầu móc và khoen neo, còn đầu kia thì buộc sẵn vào máy trục thuyền bầu. Bằng cách ấy, anh tạo được một lối buông neo chân ngỗng, chắc hơn lối neo đôi nhiều. Điều này chứng tỏ anh rất phòng xa, và rất chu đáo. Một thủy thủ hẳn phải nhận thấy đấy gần như cách neo thuyền lúc thời tiết bắt buộc, khi người ta sợ bị một luồng nước bốc thuyền lên cơn gió.
Cảnh lân tinh lấp lánh, mà Gilliatt theo dõi và chằm chằm để mắt, có lẽ đang đe dọa, nhưng đồng thời lại giúp anh. Không có nó có lẽ anh đã bị giấc ngủ giam giữ và đêm khuya đánh lừa. Nó đánh thức và soi sáng cho anh.
Trong bãi ngầm ánh lân tinh chiếu sáng một cách đáng ngờ. Nhưng cái mơ hồ này, dù có vẻ đáng ngại cho Gilliatt, lại có tác dụng giúp anh nhìn thấy rõ nguy cơ và vận hành được dễ dàng. Từ đây, khi nào Gilliatt muốn giương buồm, chiếc thuyền bầu mang cỗ máy được tự do.
Có điều dường như Gilliatt mỗi lúc một ít nghĩ đến việc ra đi. Chằng giữ xong thuyền bầu, anh đi tìm sợi xích to nhất trong kho, buộc nó vào những chiếc đinh đóng vào hai Hòn Douvres, và với sợi xích đó anh củng cố phía trong cái thành lũy bằng ván và sà gỗ đã được bảo vệ bên ngoài bằng sợi xích chéo. Anh không mở lối ra, mà lại hoàn tất việc chắn giữ thêm cho nó.
Lân tinh vẫn lấp lánh soi sáng lối ra, nhưng có dịu bớt. Đúng là ánh sáng ngày đang bắt đầu chớm rạng ở chân trời.
Thình lình Gilliatt phải lắng tai nghe.
XI AI HIỂU, NẤY NHỜ
Trong chốn xa xăm vô tận, hình như anh đang nghe thấy một tiếng gì rất khẽ và không rõ rệt.
Có những giờ phút vực thẳm phát lên tiếng một tiếng rền vang.
Anh lại lắng tai nghe lần thứ hai. Tiếng động xa xăm lại bắt đầu. Gilliatt lắc đầu như người biết rõ sự việc.
Vài phút sau, anh đã ở đầu kia ngõ hẹp bãi ngầm, ngay cửa vào phía đông, từ trước đến lúc ấy vẫn thênh thang và bằng những nhát búa thật khỏe, anh đóng một loại đinh to vào vách đá ở hai mũi cửa cạnh Núi Thằng Người, y như anh đã làm với cửa bãi Douvres.
Những kẽ đá nứt nẻ ở đây đều sẵn sàng và đã có nêm gỗ, hầu hết bằng lõi sồi. Bãi ngầm phía này đổ nát rất nhiều, nên rất nhiều kẽ hở, và Gilliatt có thể đóng vào đấy nhiều đinh hơn ở móng hai Hòn Douvres.
Thình lình, và như có một người thổi phụt ánh lân tinh bỗng tắt ngấm; cảnh chạng vạng, mỗi lúc một sáng rõ hơn, thay thế ánh lân tinh.
Đóng xong đinh, Gilliatt kéo các xà gỗ, rồi thừng, chão, xích sắt, và, mắt không rời khỏi công việc, không xao nhãng một lúc nào, với những phiến gỗ đặt nằm ngang và chằng bằng dây cáp, anh bắt đầu dựng ngang cửa Thằng Người một thứ đập chắn thưa mà khoa học ngày nay đã áp dụng và gọi là đập chắn sóng.
Những ai đã thấy, chẳng hạn ở Rocquaine, ở Guernesey, hay ở Bourg-d’eau ở Pháp, tác dụng của dăm cái cọc đóng vào núi đá, khắc hiểu sức mạnh của những việc lắp đặt đơn giản như thế. Đập chắn sóng là sự kết hợp cái ở Pháp gọi là đê rẽ nước với cái ở Anh gọi là dick. Đập chắn sóng là những cự mã của các công trình chống bão. Người ta chỉ có thể chống cự với biển cả bằng cách lợi dụng khả năng chia cắt sức mạnh ấy.
Trong khi ấy mặt trời đã lên, không chút gợn mây. Trời trong, biển lặng Gilliatt hối hả làm việc. Anh cũng bình tĩnh, nhưng trong thái độ vội vã của anh vẫn có nỗi lo âu.
Anh bước những bước dài từ mô đá này sang mộ đá kia, từ đập chắn đến kho và từ kho đến đập chắn. Anh về, hối hả kéo lúc thì một thanh gỗ ghép, lúc thì một miếng ván ốp. Công dụng của số sà dự trữ này bây giờ mới thấy rõ. Tất nhiên Gilliatt đang đứng trước một sự bất ngờ đã dự đoán.
Anh dùng một thanh sắt to làm đòn bẩy để xeo các sà gỗ.
Công việc tiến hành nhanh đến nỗi tưởng như một sự xuất hiện hơn là một công cộng xây dựng. Ai không thấy một công binh làm cầu thì không thể có ý niệm về sự nhanh chóng ấy.
Cửa biển phía đông còn hẹp hơn phía tây. Nó chỉ hé rộng độ hai mét. Cửa hẹp lại được việc cho Gilliatt. Vì quãng cách phải củng cố và đóng kín rất hẹp, nên khung gỗ sẽ càng chắc và có thể đơn giản hơn. Như thế các sà ngang cũng đủ; các thanh đứng không cần thiết.
Đặt xong những sà ngang của đập chắn sóng, Giliatt trèo lên trên và lắng tai nghe.
Tiếng gầm réo trở nên rõ ràng.
Gilliatt tiếp tục xây dựng. Anh chống vào đó hai thanh gỗ treo xuồng của tàu Durande, được nối liền với chỗ sà gỗ chằng chịt bằng những dây buồm luồn qua ba bánh xe puli. Anh chằng tất cả lại bằng xích sắt.
Công trình ấy chẳng qua chỉ là một thứ liếp khổng lồ, lấy các phiến gỗ làm nan công và các xích sắt làm nan đan.
Nó giống như được đan hơn là xây cất.
Gilliatt tăng dây chằng, và đóng thêm đinh ở những nơi cần thiết.
Nhờ có nhiều sắt tròn trên xác tàu, anh đã làm được rất nhiều đinh dự trữ.
Vừa làm vừa nhá bánh quy. Anh khát nước nhưng không được uống, vì hết nước ngọt. Anh đã nốc sạch bi-đông hôm qua lúc ăn tối.
Anh dựng thêm bốn năm cái sườn nữa, đoạn lại trèo lên đập chắn. Anh lắng tai nghe.
Tiếng động ở chân trời đã lặng. Tất cả đều im tiếng.
Biển cả hiền hòa, hùng vĩ, xứng đáng với tất cả những lời văn hóa mà các thị dân vẫn tặng cho nó khi bằng lòng nó như “một tấm gương”, “một mặt hồ”, “một lớp dầu”, “một trò chơi”, “một con cừu”. Màu xanh thẳm của trời cao đáp lại màu xanh biếc của đại dương. Lam ngọc ấy, bích ngọc kia có thể ca tụng nhau. Chúng không có chút gì phải chê trách nhau. Trên cao không một gợn mây, dưới thấp không chút bọt sóng. Giữa toàn cảnh huy hoàng ấy mặt trời tháng tư rực rỡ tiến lên. Không thể thấy một thời tiết nào đẹp hơn.
Ở tận cùng chân trời một đàn chim bay qua vạch một nét đen dài lên bầu trời. Chúng bay nhanh về hướng đất liền. Trong đường bay của chúng hình như có ý trốn tránh.
Gilliatt lại lo tôn cao thêm cái đập chắn sóng.
Anh tôn nó lên thật cao, trong chừng mực mà chiều cong của núi cho phép.
Vào quãng trưa, anh thấy hình như mặt trời có nóng hơn mức thường. Giữa trưa là giờ cao điểm trong ngày, đứng trên tấm liếp vững chắc anh vừa xây dựng xong, Gilliatt lại bắt đầu ngắm cảnh trời biển bao la.
Biển cả không chỉ yên lặng, hơn thế nữa, nó tù đọng. Trên biển không một cánh buồm. Bầu trời khắp nơi trong sáng; chỉ có điểm là từ xanh lam nó chuyển sang màu trắng. Màu trắng này thật đặc biệt. Ở phía tây, trên chân trời, có một vệt nhỏ, vẻ ngoài không lành mạnh. Vệt ấy đứng yên một chỗ, nhưng cứ lớn dần. Gần bãi ngầm, sóng rung rinh rất khẽ.
Gilliatt xây dựng cái đập chắn sóng là rất phải.
Một cơn bão đang đến gần.
Vực sâu quyết định giao chiến.
❀ ❀ ❀
[1] Eschyle (thế kỷ V trước Công Nguyên): đại thi hào Cổ Hy Lạp, người đã sáng tạo ra thể văn bị kịch.
[2] Sub re (tiếng La tinh): trong sự vật, bắt tay vào việc.
[3] Non possumus (tiếng La tinh): Chúng tôi không thể.
[4] Perseverando (tiếng La tinh): Kiên trì.
[5] Christophe Colomb (1451-1506): nhà hàng hải người Italia đã tìm ra Châu Mỹ đầu tiên ngày 03 tháng 8 năm 1492.
[6] Job: Một nhân vật trong Kinh Thánh, nghèo xác xơ.
[7] Sub umbra (tiếng La tinh): Trong bóng tối.
[8] Quid divinum (tiếng La tinh): cải huyền bí.
[9] Trenck (1726-1794): tức Friedrich von der Trenk, nhân vật nổi tiếng về cuộc đời giang hồ đầy tai họa, bị bắt cầm tù rồi vượt ngục.
[10] Latude (1725-1805): tức Jean Henri Latude, nhân vật giang hồ nhiều lần bị bắt và mặc dầu vượt ngục nhiều lần vẫn bị cầm tù 35 năm không được xét xử.