Đại Tây Dương gặm mòn bờ biển chúng ta. Áp lực của dòng hải lưu địa cực làm thay đổi hình dáng bờ đá phía tây của chúng ta. Bức trường thành của chúng ta trên biển cả bị xói dần từ Saint-Valery-sur-Somme đến Ingouville, nhiều tảng núi to lở xuống, nhiều đám đá cuội bị nước cuốn trôi, nhiều bến cảng bị cát bồi hoặc đá lấp, các cửa sông của chúng ta bị chắn ngang. Mỗi ngày qua, lại thêm một mảng đất Normandie tách ra và biến mất dưới làn nước biếc. Công việc kỳ diệu ấy, ngày nay có chậm lại, ngày xưa thật là khủng khiếp. Nhờ có cái đinh thúc ngựa vĩ đại là mũi Finistère mới ngăn chặn được nó. Ta cứ xét đến sức mạnh của dòng nước địa cực và sức xói lở mãnh liệt ấy qua cái lỗ trũng do nó tạo nên giữa Cherbourg và Brest thì biết. Sự hình thành này của vịnh Manche, làm thiệt hại cho đất Pháp, diễn ra từ trước những thời kỳ lịch sử. Tuy vậy hành vi thô bạo cuối cùng của đại dương có tính chất quyết định vào duyên hải chúng ta cũng có năm tháng rõ ràng. Năm 709, sáu mươi năm trước ngày đăng quang của Charlemagne[1], một ngọn sóng lớn đã tách Jersey ra khỏi nước Pháp. Ta có thể nhìn thấy, như Jersey, nhiều mỏm đất khác bị ngập sâu từ trước. Những đỉnh nhọn nhô lên trên mặt nước này hình thành những hòn đảo mà người ta gọi là quần đảo Normandie.
Ở đấy có một số dân cư cần cù đông đúc.
Sau công trình của biển cả gây nên một cảnh điêu tàn, tiếp theo công trình của con người tạo thành một dân tộc.
II GUERNESEY
Hoa cương phía nam, cát vàng phía bắc; chỗ này vách núi cheo leo, chỗ kia động cát. Một dải đồng cỏ chênh chếch với đồi núi nhấp nhô gợn sóng; viền quanh tấm thảm xanh nhiều nếp ấy là bọt sóng đại dương; dọc bờ biển, một số pháo đài là là mặt đất; từng quãng, từng quãng, những tháp canh có lỗ châu mai; suốt dọc bãi cát thoai thoải, một hàng lan can núi đá, cắt quãng bởi những ụ súng và cầu thang, thường bị cát vàng xâm lấn, sóng biển tấn công, kẻ bao vây duy nhất phải e sợ; những cối xay gió bị bão táp giật gãy mất cột trụ, một vài cái, ở Valle, ở Ville-au-Roi, ở Saint-Pierre-Port, ở Torteval, vẫn còn quay; trong vách biển, những chỗ cho tàu bè thả neo; trên động cát, những bầy cừu, chó chăn cừu và chó chăn bò đang tìm kiếm và đang lúc làm việc; trên những con đường trũng lóc cóc những chiếc xe bò nhỏ của dân buôn thành phố; thường thường, những ngôi nhà đen kịt vì mưa mà phải quét hắc ín ở mặt tây; gà trống, gà mái, phân tro; khắp nơi những bức tường khổng lồ, các bức tường của bến tàu ngày xưa, chẳng may đã bị phá hủy, vẫn ngoạn mục với những khối đá dị hình, những cột trụ to khỏe và những sợi xích nặng nề; nhiều trang trại có rừng cây lớn bao quanh; các cánh đồng quây chắn ngang tầm tay bằng những hàng đá tạo thành một bàn cờ kỳ dị trên đồng bằng; đây đó, một bờ lũy xung quanh một cây gai, những ngôi nhà đá hoa, những cái chòi xây cuốn, những mái lều thách thức cả đạn pháo, đôi khi ở nơi hoang dã nhất, một ngôi nhà mới, đỉnh nóc có chuông, đây là một trường học; vài ba con suối ở tận cùng các đồng cỏ, nào du, nào sồi; một cây bách hợp ý muốn nói là chỉ đấy mới có, Guernesey lily; vào mùa “canh tác lớn”, những cái cày tám ngựa kéo; trước mặt nhà, những đụn cỏ khô to đánh đống trên những mốc đá xếp vòng tròn những đống kim tước gai góc, đôi lúc những khu vườn kiểu Pháp ngày xưa với thủy tùng uốn gọt, với những cây ngâu cắt tỉa, với những hòn non bộ, xen lẫn với những vườn quả vườn rau; một ít hoa trồng chơi trong các khu vườn nông dân; sơn lựu xen lẫn khoai tây; khắp nơi trong tảo màu tai gấu trải kín mặt cỏ; trong các nghĩa địa không có thánh giá, chỉ thấy những phiến đá dưới ánh trăng giả làm Đức Bà đứng khoác áo trắng; mười tháp chuông gothic ở chân trời; nhà thờ cũ, tín điều mới; lễ nghi Tin lành nằm trong kiến trúc gothic; trên động cát và các hải giác, điều bí ẩn tối tăm Celtic nằm rải rác dưới nhiều hình thức khác nhau, như đá bia, độc tay, đá phiến, đá tiên, đá đung đưa, đá rung chuông, đường hầm, đài cổ tích, mộ đá, pouquelaie; đủ mọi kiểu bia đài; sau các tăng ni thời xưa đến các tu viện trưởng; sau các tu viện trưởng đến các mục sư; những kỷ niệm về các chuyện thiên đường sa ngã; ở đỉnh này là Lucifer, tại lâu đài Michel-Archange; ở mũi kia là Icare, tại mũi Dicart; mùa đông hoa cũng nhiều như mùa hè. Guernesey là như thế đấy.
III GUERNESEY, TIẾP THEO
Đất cát phì nhiêu, màu mỡ, tràn đầy nhựa sống. Không đất chăn nuôi nào tốt hơn. Lúa mì nổi tiếng, bò cái trứ danh. Bò tơ các đồng cỏ Saint-Pierre du Bois sánh ngang với cừu đoạt giải của Confolens. Các hội đồng nông nghiệp nước Pháp và nước Anh thường tăng giải thưởng cho những sản phẩm nổi tiếng của ruộng đồng Guernesey.
Ngành nông nghiệp lại được một tổ chức cầu đường thành thạo phục vụ, và một hệ thống giao thông tuyệt diệu đưa lại nguồn sống cho toàn đảo. Đường sá rất tốt. Ở chỗ ngã tư, người ta thấy một phiến đá bằng phẳng với một cây thánh giá. Vị pháp quan xưa nhất của Guernesey, vị pháp quan năm 1284, người đứng đầu danh sách Gaultier de la Salle, đã bị treo cổ vì bất công của tòa án. Cây thánh giá ấy, tục gọi là Thánh giá pháp quan, đánh dấu địa điểm ông ta quỳ gối và cầu nguyện lần cuối cùng.
Biển trong các tiểu loan và các vịnh được thêm phần vui vẻ nhờ những “vật chết”, những chiếc thuyền ngang to lớn sặc sỡ kiểu đường bánh, kẻ ô vuông đỏ trắng, nửa vàng nửa đen, pha ngũ sắc màu lục, màu lam, màu da cam, hình quả trám, vân cẩm thạch, nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Đây đó có tiếng hát đơn điệu của những đoàn người kéo thuyền và kéo dây.
Không kém gì “cánh hàng cá”, nông dân cũng có vẻ hồ hởi. Các người làm vườn cũng thế. Đất đai, bão hòa bụi núi, rất tốt; phân bón, gồm cát bùn và rong biển, tăng thêm chất muối cho hoa cương, nhờ thế mà có một sức sống phi thường; nhựa cây tạo nên những điều kỳ diệu; mộc lan, sim rừng, thụy hương, trúc đào, tử dương hoa màu lam; vãn anh nhiều quá thể; có những vòm mã chiêm thảo ba lá; có những bức tường phong-lữ-thảo; cam, chanh dây mặt đất; không có nho, nho chỉ chín trong nhà kính; ở đấy nho rất ngon; sơn trà to như cây gỗ; trong vườn trầm hương cao hơn cả nhà ở. Không gì phong phú và xa hoa hơn các loại cây cối ấy, chúng che khuất và tô điểm cho các mặt tiền đỏm dáng của các biệt thự và các trang trại.
Guernesey, một mặt duyên dáng, còn một mặt thật dễ sợ. Phía tây, bị tàn phá, lúc nào cũng phơi mình dưới làn gió lộng. Ở đấy, đá ngầm, gió giật, vũng cạn, thuyền bè chắp vá, đất hưu canh, đầm lầy, lều tranh, thỉnh thoảng một thôn xóm lè tè run rẩy, các bầy gia súc gầy nhom, cỏ mặn khô cằn và cảnh nghèo nàn mênh mông khắc khổ.
Lihou là một hòn đảo nhỏ nằm ngay cạnh, hoang vắng, có thể đến được vào những giờ nước xuống. Ở đấy toàn bụi rậm và hang thú. Thỏ Lihou cũng biết giờ giấc. Chúng chỉ ra khỏi hang khi triều lên. Chúng trêu ghẹo cả người. Bạn chúng là đại dương cô lập chúng.
Những tình bạn cao cả ấy là toàn bộ thiên nhiên. Đào lớp phù sa ở vịnh Vason lên, người ta khắc thấy có cây cối. Ở đấy, dưới một tầng cát dày bí mật, là cả một cánh rừng.
Dân chài bị miền tây lộng gió này ngược đãi đều là những hoa tiêu tài giỏi. Biển trong các đảo biển Manche rất đặc biệt. Vịnh Cancale, kề ngay đấy, là điểm được thủy triều bồi nhiều đất vôi nhất.
IV CÂY CỎ
Cỏ ở Guernesey là thứ có thông thường của mọi nơi khác, tuy vậy có hơi màu mỡ hơn; đồng cỏ ở Guernesey cũng gần giống như bãi cỏ ở Cluges hay ở Géménos. Bạn thấy ở đấy có cỏ fétuques và cỏ pâturins như bất cứ ở đồng cỏ nào, thêm cỏ chân gà, cỏ nước nổi, thêm cỏ phương lê mềm bông kết hình thoi, thêm cỏ phalaris Canari, cỏ agrotstide để nhuộm màu lục, cỏ lùng dương mai hoa, cỏ lupin vàng, cỏ houlque thân có lông, cỏ Houve thơm thơm, cỏ linh lan run rẩy, cỏ sợ mưa, tỏi dại hoa rất đẹp mùi rất hắc, cỏ fléole, cỏ đuôi chồn hoa giống cái chùy nhỏ, cỏ stipe dùng đan giỏ, cỏ élyme cản lầy rất tốt. Hết chưa? Chưa, còn cây dactyle hoa chụm, cây kê, và theo một số nhà nông học bản xứ có cả andropogon. Có cây crépide là bồ công anh báo giờ, và cây diếp dại sibérie báo thời tiết. Tất cả những thứ ấy đều thuộc loài thảo, loài thảo đặc biệt của quần đảo; phải có đá hoa cương để làm lớp đất nền, và đại dương làm bình tưới.
Bây giờ bạn hãy xua vào đấy và đuổi cho bay trăm nghìn thứ sâu bọ, có loại ghê tởm, có loại xinh xinh, dưới cỏ những con sừng dài, những con mũi dài, những con kiến dương, những con kiến bận vắt sữa những con rệp cây vẫn đóng vai bò cái của chúng, những con châu chấu lúc nào cũng chảy dãi, con bọ rùa tục gọi là bọ nhà Trời, và con bổ củi tục gọi là bọ quỷ; trên cỏ, trên không, chuồn chuồn, tò vò, vò vẽ, cánh cam, ong đất mình nhung, bọ mạch-xít đăng ten, bọ mô-xít bụng đỏ, giống nhặng vo ve, thế là bạn sẽ có được một ý nghĩ về cảnh tượng đầy mộng mơ mà tháng sáu, giữa trưa, cái mông ngựa của Jerbourg hay của Fermain-Bay hiến cho một nhà côn trùng học hơi trầm tư và cho một nhà thơ hơi tự nhiên chủ nghĩa.
Thình lình bạn thấy dưới lớp cỏ xanh mượt mà ấy một phiến đá vuông nhỏ trên khắc hai chữ: W.D. tức là “War Department” nghĩa là khu vực quân sự. Đúng thế. Văn minh cần phải xuất đầu lộ diện. Nếu không địa điểm sẽ trở thành hoang dã. Bạn hãy đi dọc hai bên bờ sông Rhin, bạn hãy đến những xó xỉnh ít được biết nhất thuộc loại như thế; một vài nơi phong cảnh tôn nghiêm quá tưởng như của Giáo Hoàng; có thể nói Chúa có mặt ở đấy nhiều hơn ở chỗ khác, bạn hãy đi sâu vào những chỗ trú ẩn mà núi non vắng vẻ nhất và rừng rú tĩnh mịch nhất; bạn hãy chọn Andernach và các vùng lân cận chẳng hạn, bạn hãy đến thăm cảnh hồ Laach tối tăm, bình thản, hầu như bí mật vì rất ít người biết đến; không cảnh yên tĩnh nào uy nghiêm hơn; cuộc sống vạn vật ở đấy mang toàn bộ tính chất trong sáng tôn nghiêm; không có gì quấy rối; khắp nơi là cái trật tự thâm u của cảnh hỗn độn hùng vĩ tự nhiên; bạn hãy dạo chơi lòng đầy xúc động giữa cảnh hoang vu ấy; thật khoan khoái như trời xuân và u buồn như thu cảnh; bạn cứ đi lang thang, bạn hãy bỏ lại cái tu viện hoang tàn, và chìm đắm trong cảnh thanh bình rung cảm của các vực sâu. Giữa tiếng chim, tiếng lá, bạn hãy uống nước suối trong lòng bàn tay, lững thững suy tư, quên hết sự đời; một mái lều hiện ra, đánh dấu một góc thôn xóm chìm trong rặng cây; nó màu xanh, ngào ngạt, duyên dáng, phủ toàn trường xuân và hoa lá, đầy trẻ con và tiếng cười; bạn đến gần, ở góc chòi nổi rõ bóng tối và nắng vàng, trên một tảng đá của bức tường cũ ấy, dưới cái tên thôn Liederbreizig, bạn đọc được: tiểu đoàn 22, đại đội 2.
Bạn ngỡ mình đang đứng giữa một làng nào đấy, hóa ra bạn đang ở giữa một trung đoàn. Con người là như thế đấy.
V NHỮNG MỐI NGUY CỦA BIỂN CẢ
Trên bờ biển phía tây Guernesey chỗ nào cũng có Overfull tức là nơi nguy hiểm. Sóng nước đã khéo cắt xẻ nó. Ban đêm, trên các mỏm núi khả nghi, người ta bảo là có những ánh sáng mập mờ không thật, được những người lang thang ngoài biển khẳng định, báo hiệu hoặc đánh lừa. Cũng chính những người lang thang ấy, liều lĩnh hay cả tin, nhận thấy dưới nước con hải sâm trong truyền thuyết, đó là loại gai biển ghê rợn không thể nào chạm phải mà tay không bốc lửa. Cái tên địa phương, Tintajeu, chẳng hạn (từ tiếng gallois, Tin Tagel), tỏ rõ sự có mặt của quỷ sứ. Eustache, tức Wace, đã nói lên điều đó trong những câu thơ cổ của ông ta:
Biển cả bắt đầu nổi loạn,
Sóng nước bắt đầu khuấy động trào sôi,
Khiến bầu trời tối tăm, tầng mây đen kịt;
Chẳng mấy lúc biển trời tràn ngập mông mênh.
Biển Manche ấy ngày nay cũng bất khuất như thời Tewdrig, d’Umbrafel, d’Hamon-dhû đen và thời hiệp sĩ Emyr Lhydau, ẩn náu trên đảo Groie, gần Quimperlé. Trong các vùng bao quanh đấy, có những chuyện bất ngờ của đại dương cần cảnh giác. Chẳng hạn như chuyện sau đây, một trong những chuyện thay đổi rất thường thấy của cờ gió ở Channel Islands: một cơn bão thổi từ hướng đông-nam; bỗng nhiên trời lặng, lặng hoàn toàn; bạn thở phào nhẹ nhõm, đôi khi được một giờ như thế, thình lình cuồng phong biến mất ở hướng đông-nam, trở lại từ hướng tây-bắc, nó tóm đuôi, nó tóm đầu bạn: đây là cơn bão ngược chiều. Nếu bạn không phải là một hoa tiêu kỳ cựu, một người thành thạo lâu năm, nếu bạn không lợi dụng lúc trời lặng để chuẩn bị xoay ngược vận hành trong khi gió đảo ngược là đi đứt, thuyền vỡ tung và đắm ngay.
Ribeyrolles, người đã chết ở Brazil, lúc lưu lại ở Guernesey, ghi lủng củng những sự việc hàng ngày trong một cuốn sổ tay mà một tờ đang nằm trước mắt chúng tôi: “1 tháng Giêng. Quà biếu. Một cơn bão. Một chiếc thuyền, từ Portrieux đến, hôm qua đắm ở l’Esplanade. - 2. Một chiếc thuyền ba buồm chìm ở Rocquaine. Nó từ châu Mỹ đến. Bảy người chết. Hăm mốt người được cứu thoát. - Bưu thuyền không đến. - 4. Bão tiếp tục. -… Mưa. Đất lở, làm chết một người. - 15. Trời xấu. Thuyền Fawn không đi được. - 22. Gió đột ngột. Năm tai nạn trên bờ tây. - 24. Vẫn bão. Thuyền đắm khắp nơi.”
Hầu như không bao giờ có chuyện nghỉ ngơi ở cái góc đại dương này. Vì vậy mà có những tiếng hải âu kêu qua các thế kỷ trong cơn gió mạnh không ngừng ấy của nhà thơ khắc khoải cổ xưa Lhy-ouar’h-henn, Jérémie[2] của biển cả.
Nhưng trời xấu không phải là mối nguy lớn nhất cho ngành hàng hải của quần đảo; gió bão rất mãnh liệt, mà hiện tượng mãnh liệt là điềm báo trước. Người ta vào cảng hay là đi men men, có ý bố trí tâm buồm thật thấp; nếu gió thổi mạnh thì người ta cuốn hết buồm lại và có thể thoát được. Những tai nạn lớn ở các vùng quanh đó đều là những tai nạn vô hình, luôn luôn lởn vởn, và trời càng tối lại càng nguy hại. Gặp những trường hợp ấy, cần có một lối vận hành đặc biệt. Các thủy thủ miền tây Guernesey rất giỏi trong lối vận hành có thể gọi là dự phòng ấy. Không ai nghiên cứu kỹ như họ về ba nguy cơ của biển lặng là con khỉ, chỗ tối và xoáy nước. Con khỉ (swinge) là dòng nước; chỗ tối chính là đáy biển; xoáy nước là cái rốn, cái phễu đá phía dưới, cái giếng dưới đáy biển.
VI NÚI NON
Trên quần đảo Manche, bờ biển hầu như chỗ nào cũng hoang vu. Nội địa các hòn đảo ấy thì tươi đẹp, nhưng duyên hải lại gập ghềnh, cằn cỗi. Vì biển Manche gần như một Địa Trung Hải, nên sóng ở đấy ngắn và mạnh, nước triều vỗ róc rách đều đều. Do đó mà có tiếng gõ kỳ lạ vào vách đá, và hiện tượng bờ biển bị xói lở rất sâu.
Ai đi men theo bờ biển này cũng đều được trông thấy một loạt ảo ảnh. Lúc nào núi cũng tìm cách đánh lừa bạn. Ảo ảnh ẩn nấp ở những chỗ nào? Ngay trên đá hoa cương. Thật không gì kỳ dị hơn. Có những con cóc đá lù lù, từ dưới nước nhô lên chắc hẳn là để thở, có những mụ khổng lồ hối hả, lom khom ở chân trời, nếp khăn hóa đá của họ tưởng như đang tung bay trước gió; có những ông vua đầu đội mũ miện diêm thần trầm ngâm trên những ngai vàng đồ sộ mà bọt sóng tha hồ vùi dập; có những con người bị chôn vùi trong núi đá giơ tay ra ngoài, người ta thấy rõ ràng những ngón tay xòe rộng. Tất cả những cái ấy là bờ biển muôn hình muôn vẻ. Bạn cứ đến gần, chẳng còn gì nữa. Núi non hay có những trường hợp tiêu tan như thế. Đây một đồn lũy, một đền miếu điêu tàn, đây cảnh hỗn mang của những túp lều và những bức tường đổ nát, toàn bộ cảnh tan hoang của một thành phố vắng vẻ. Thế mà làm gì có phố phường, làm gì có đền miếu, làm gì có đồn lũy, chỉ toàn vách đá. Càng tiến tới hay càng đi xa, càng tách ra lối khác hay càng đi vòng, bờ biển càng mất vẻ tươi đẹp, không một kính vạn hoa nào tan rã nhanh chóng hơn, cảnh trí cứ tan tan hợp hợp, phong cảnh cứ như bỡn cợt trêu đùa. Khối đá này là một cái đế ba chân, rồi lại là một con sư tử, một thiên thần, một thiên thần giang cánh, rồi lại là một hình người ngồi đọc sách. Không gì hay thay đổi hình dáng như mây trời, nếu không phải núi đá.
Những hình dáng ấy gợi lên ý nghĩ vĩ đại chứ không gợi lên ý nghĩ về cái đẹp. Còn xa. Đôi khi chúng có vẻ bệnh hoạn và ghê tởm. Đá thường có những chỗ mấu, chỗ bướu, những nang thũng, những vết bầm, những cục u, những mụn cóc. Núi là những cái bướu của đất. Khi nghe Chateaubriand - ông này có đôi vai hơi nhô - nói xấu vùng núi Alpes, bà de Staël bảo: đó là tính đố kị của kẻ gù. Những đường nét hùng vĩ và những vẻ uy nghiêm trác việt của thiên nhiên, mực nước của biển cả, hình dáng của núi non, cảnh âm u của rừng rú, màu xanh của bầu trời, thường trở nên phức tạp vì một vết rạn vỡ to lớn nào đó xen lẫn trong nét hài hòa. Vẻ đẹp có những đường nét của nó thì vẻ xấu xí trong hình dạng cũng có những đường nét của nó. Có nụ cười tươi thì cũng có cái cười nhăn nhở. Hiện tượng tan rã trên núi đá tạo ra những kết quả giống như trên mây. Cái này bềnh bồng phân giải, cái kia vững chắc, rời rạc. Trong sáng tạo phảng phất chút đau khổ của hỗn mang. Huy hoàng cũng có những vật rất lộng lẫy và dường như phản đối lại trật tự. Trong mây thường có nếp nhăn. Có một vẻ kệch cỡm của trời. Tất cả các đường nét đều gẫy gập trong sóng nước, trong lá cành, trong núi non, và ở đấy thấp thoáng có những điểm bắt chước chơi nào đấy. Ở đấy cái dị hình ngự trị. Không bao giờ thấy một hình dáng đứng đắn. Vi đại thì có, thanh nhã thì không. Bạn hãy nhìn kĩ mây trời, bạn sẽ thấy vẽ lên đủ kiểu mặt, hiện ra đủ các hình dáng tương tự, phác họa đủ mọi dung mạo, bạn thử tìm một nét mặt Hy Lạp. Bạn sẽ gặp Caliban[3] chứ không gặp Vénus[4], và không bao giờ bạn thấy Parthénon[5]. Nhưng đôi khi, vào lúc chiều tà, một chiếc bàn đen to, đặt trên chân mây, và bao quanh bởi những khói sương mù, sẽ phác lên nền trời hoàng hôn xám xịt một đài cổ tích đồ sộ và quái gở.
VII PHONG CẢNH VÀ ĐẠI DƯƠNG LẪN LỘN
Ở Guernesey, đất ruộng cho làm rẽ rộng lớn phi thường. Một số dựng ngay trên bờ đường một bức tường sừng sững như một thứ trang trí, có cả cửa cho xe bò đi bên cạnh, cửa cho bộ hành qua lại. Thời gian đã đào xới trong các khung cửa và các vòm cung những kẽ sâu, ở đấy rùa biển đông thường giấu trứng để chờ nở, và cũng không hiếm những cô dơi nằm ngủ. Các thôn xóm nấp sau các rặng cây đều ọp ẹp và sống lâu. Một số mái tranh tuổi cũng già như các nhà thờ lớn. Trên đường đi Hubies, ở một góc tường một chòi đá có một đoạn cột nhỏ mang niên hiệu: 1405. Một chòi khác, phía Balmoral, mang ở mặt tiền một huy hiệu khắc ngay vào đá giống như các nhà nông dân ở Hernani và Astigarragx. Qua mỗi bước đi, trong các trang trại người ta thấy những cửa sổ bịt lưới quả trám, những tháp cầu thang và những đường hồi văn kiểu thời Phục Hưng. Không một cửa ra vào nào không có cục đá hoa cương để lên ngựa.
Một số chòi khác trước kia là những con thuyền; một cái vỏ tàu lật úp, đặt ngất ngưởng trên mấy cái cọc và mấy xà ngang, thế là thành một mái nhà. Một chiếc tàu biển, hầm tàu ở trên, là một nhà thờ; vòm tàu ở dưới, là một chiếc thuyền; cái bình chứa cầu nguyện, lật ngược, chế ngự biển cả. Trong các giáo khu khô cằn phía tây, cái giếng công cộng, đứng chơ vơ với cái mái tròn nhỏ bằng gạch trắng giữa cánh đồng hoang, nom gần giống như con hạc A Rập. Một cái rường nhà thủng với một tảng đá làm trụ xoay là cửa hàng rào một mảnh ruộng; qua một vài dấu hiệu, người ta nhận ra những cái thang mà lũ trẻ nghịch ngợm và ma quỷ ban đêm thường trèo. Các vực sâu trải bừa ra trên bờ dốc những cây dương xỉ, bìm bìm, trường xuân, những cây ô-rô hạt đỏ, dã tường vi, gai hồng, nhẫn đồng Scotland, thủy lạp và những cây leo gấp khúc, tục gọi là cổ áo Henry IV. Trong toàn bộ lớp cỏ cây ấy lan tràn và phát triển một giống liễu thảo quả dài như quả đỗ mà lừa cái rất thích nhá, và khoa thực vật học diễn đạt một cách thanh nhã, thẹn thùng bằng danh từ onagrariée. Khắp nơi toàn bụi rậm, lùm cây, “đủ loại brehailles”; những mảng xanh um tùm trong đó líu lo một thế giới chim muông bị một thế giới bò sát rình mò; yểng, hồng tước, đỏ cổ, cà cưỡng, torquilles; hoàng anh xứ Ardennes vội vàng vỗ cánh; từng đàn sáo sậu bay lượn vòng quanh; chỗ khác hoàng tước, kim oanh, quạ picarde, quạ khoang chân đỏ. Đây đó một con rắn nước.
Dăm ba thác nước nhỏ, dẫn qua các khe gỗ mọt, giỏ xuống thành giọt, làm quay những cối xay mà tiếng cánh quạt đập nghe lạch xạch trong cành lá. Giữa vài sân trại hãy còn cái máy ép rượu tần và cái vành đá cũ rỗng, trong đó trước kia bánh xe nghiền táo vẫn quay. Gia súc uống trong những máng ăn nom giống như quan tài đá. Có lẽ một vị vua người Celt nào đó đã mục ruỗng trong cái hộp hoa cương ấy, nơi mà giờ đây một con bò cái có cặp mắt của nữ thần Junon[6] đang thản nhiên uống nước. Các anh gõ kiến, các ả chìa vôi thân mật đến mổ thóc của đàn gà mái. Dọc bờ biển mọi vật đều hung hung đỏ. Gió thổi xơ xác những cỏ cây thường xuyên bị mặt trời thiêu đốt. Vài ba ngôi nhà thờ có một lớp trường xuân phủ suốt lên đến tận gác chuông. Đây đó, trên các cánh đồng hoang hiu quạnh, một mỏm núi nhô lên với một cái chòi ở cuối. Những chiếc tàu kéo lên cạn, vì thiếu cảng, khom lưng trên những tảng đá to. Những cánh buồm nhìn thấy ở chân trời đều màu vàng đất hoặc vàng cá hồi chứ không phải màu trắng. Phía phơi ra mưa gió, cây cối đều phủ một lớp địa y dày như lông thú; đến đá sỏi dường như cũng đề phòng và có một lớp da bằng rêu dày cứng. Có tiếng rì rào, tiếng vi vu, tiếng lá cành xào xạc, tiếng chim biển vút qua, một số ngậm cá bạc mỏ, rất nhiều bươm bướm màu sắc thay đổi theo mùa, và đủ các thứ tiếng xôn xao sâu sắc trong các núi đá vang vọng. Một ít ngựa thả rong trên đồng cỏ phi qua các cánh đồng hưu canh. Chúng lăn lộn, nhảy nhót, dừng lại, mặc cho bờm tung trước gió, và nhìn vào không trung trước mặt những con sóng không ngừng nối tiếp nhau mãi mãi. Tháng năm, các ngôi nhà cũ vùng quê và miền biển phủ hoa thập tự; tháng sáu phủ hoa đinh hương.
Trên động cát, các pháo đài sụp đổ. Đại bác cổ lỗ chỉ có lợi cho nông dân; ngư dân phơi lưới lên các ổ súng. Giữa bốn bức tường lô cốt đổ, một số con lừa lang thang, hay một con dê buộc cọc, gặm cỏ và gai xanh. Một số trẻ con cởi trần cười đùa. Trên các lối mòn thấy những hình chúng vẽ để chơi nhảy lò cò.
Về chiều, mặt trời lặn, rực rỡ nằm ngang, cho thấy trong các lối đi vắng vẻ có những ả bò lững thững trở về, còn rề rà nhai các bờ giậu bên phải, bên trái, khiến cho bầy chó sủa vang. Những mũi biển hoang dã phía tây uốn mình chúi xuống biển; một vài cây me thưa thớt run rẩy. Vào lúc hoàng hôn, các bức tường khổng lồ, để ánh sáng xuyên qua kẽ đá, tạo thành những mào dài của dải ren đen trên các ngọn đồi. Tiếng gió vi vu trong những cảnh cô liêu ấy cho ta một cảm giác xa xăm kỳ lạ.
VIII SAINT-PIERRE-PORT[7]
Ở Saint-Pierre-Port, thủ đô của Guernesey, trước kia nhà cửa đều làm bằng gỗ chạm đưa từ Saint-Malo đến. Hiện nay tại Grand’Rue vẫn còn một ngôi nhà đá đẹp từ thế kỷ mười sáu.
Saint-Pierre-Port là một bến cảng tự do[8]. Thành phố xếp thành tầng trên một loạt đồi núi trập trùng xinh xắn quanh Vieux-Havre, như bị một tên khổng lồ nắm trong bàn tay. Các khe trũng trở thành đường phố. Một số cầu thang rút ngắn các lối đi quanh co. Trên những đường phố dốc đứng tấp nập lên xuống những bẩy ngựa xe Anh-Normand tốt phi nước đại.
Trên quảng trường, các bà bán hàng ở chợ, ngồi giữa trời ngay trên lòng đường, hứng chịu những trận mưa dông; nhưng cách đấy mấy bước lại có bức tượng đồng của một vị hoàng thân. Ở Jersey, mỗi năm lượng mưa hơn ba trăm hai mươi ly, và ở Guernesey hai trăm tám mươi ba ly. Dân hàng cá được đối xử tốt hơn dân hàng rau; gian hàng cá cầu rộng mái che, có bàn đá hoa trên đó bày ngạo nghễ những mẻ tôm cá đánh bắt được, ở Guernesey thường thường rất lớn.
Không có một thư viện công cộng nào cả. Có một công ty cơ khí, một hội văn học, một trường trung học. Người ta lo dựng thật nhiều nhà thờ. Xây xong, người ta xin các “ngài trong hội đồng” công nhận. Ngoài phố, không hiếm những chiếc xe bò chở những bộ cửa sổ hình cung nhọn bằng gỗ do một người thợ mộc nào đó tặng cho nhà thờ.
Có một tòa án. Các vị thẩm phán, mặc áo tím, lớn tiếng phát biểu ý kiến. Thế kỷ trước, cánh hàng thịt không thể nào bán được nửa cân thịt bò hoặc thịt cừu trước khi các quan tòa chọn xong phần mình.
Rất nhiều “tiểu giáo đường” riêng để phản đối lại các nhà thờ công. Bạn cứ vào một trong những tiểu giáo đường ấy. Bạn sẽ được nghe một nông dân giải thích cho người khác nghe về thuyết cảnh-giáo, nghĩa là sự khác biệt giữa mẹ của đức Christ và mẹ của Chúa, hoặc giảng cho biết Chúa Cha quyền uy như thế nào, còn Chúa Con chỉ là một thứ uy quyền thông thường, giống hệt tà thuyết của d’Abeilard. Người Ireland theo đạo Thiên Chúa rất đông; họ ít kiên nhẫn, thành thử các cuộc tranh luận về thần học đôi khi được đánh dấu bằng những nắm đấm chính thống.
Tình trạng đình trệ của ngày Chúa nhật được xem như bắt buộc. Tất cả mọi việc đều có thể được, trừ việc uống một cốc bia ngày Chúa nhật. Nếu bạn khát vào “ngày thánh sabbat”[9], bạn sẽ xúc phạm ông Amos Chick tôn kính, người có môn bài bán rượu bia và rượu tần trên Highstreet. Luật ngày Chúa nhật: hát chứ không uống. Trừ lúc cầu nguyện, người ta không nói: Lạy Chúa tôi, mà nói: điều tốt lành của tôi. Good thay thế cho God[10]. Một cô phụ giáo người Pháp trong một kí túc xá, nhặt được cái kéo, thốt lên: Ôi lạy Chúa tôi! liền bị thải hồi vì đã lỡ “thề”. Người ta tuân theo Kinh Thánh hơn cả theo sách Phúc âm.
Có một nhà hát. Một cánh cửa phụ, mở thẳng ra một con đường hẻm trong một phố vắng, đấy là lối vào, bên trong gần giống lối kiến trúc áp dụng cho các kho cỏ. Satan không có những thứ xa hoa lộng lẫy và phải ở chui rúc. Nhà hát đối diện với nhà tù, một nơi ở khác của cùng một cá nhân ấy.
Trên ngọn đồi phía bắc, tại Castle Carey (lỗi văn phạm, lẽ ra phải nói Carey Castle), có một bộ sưu tập tranh vẽ rất quý, phần lớn của Tây Ban Nha. Công cộng, nó sẽ là một thứ bảo tàng. Trong một số nhà quý tộc hãy còn những kiểu mẫu lạ lùng của loại gạch hoa Hoa Lan lát trên lò sưởi sa hoàng Pierre ở Saardam, và loại gạch men phủ tuyết đẹp, tiếng Bồ Đào Nha gọi là azulejos, sản phẩm nghệ thuật cao, loại men sứ cổ, ngày nay được phục hồi đẹp hơn bao giờ hết, nhờ những nhà khởi xướng như tiến sĩ Lasalle, nhờ những xí nghiệp như Premières, và nhờ những thợ gốm - họa sĩ như Deck và Devers.
Đường d’Antin của Jersey được gọi là Rouge-Bouillon, ngoại ô Saint-Germain của Guernesey được gọi là les Rohais. Những đường phố đẹp đẽ thẳng thắn rất nhiều, tất cả đều bị cắt quãng bởi những khu vườn. Tại Saint-Pierre-Port, cây cối cũng nhiều như mái nhà, tổ chim nhiều hơn nhà cửa, và tiếng chim nhiều hơn tiếng xe cộ. Les Rohais có cái vẻ ngoài thực tế của những khu phố Luân Đôn kiêu căng, vừa trắng vừa sạch.
Bạn hãy vượt qua một khe trũng, bước qua phố Mille, trèo lên một cầu thang hẹp, hun hút, khúc khuỷu, đá lát long lở, thế là bạn đứng trong một thành phố người Bédouins; lều tranh vách nát, đường ngõ lầy lội, đá lát bị nạy, hồi cháy, nhà sập, buồng hoang, cỏ mọc, không cửa lớn, không cửa sổ, một số xà gỗ nằm ngang đường, gạch vữa chắn ngang lối đi, đây đó một cái chòi lụp xụp có người ở, những em bé trần truồng, những phụ nữ xanh xao; người ta tưởng như ở Zaatcha.
Ở Saint-Pierre-Port, người ta không gọi là thợ sửa đồng hồ, mà là thợ đồng hồ quả quít; người ta không gọi là trưởng tòa giảo giá, mà là phát mãi viên, người ta không gọi là thợ quét vôi mà là thợ họa; người ta không gọi là thợ nề mà là thợ trát; người ta không gọi là thợ sửa móng chân mà là thợ tay chân, người ta không gọi là đầu bếp mà là thợ nấu ăn; người ta không gõ cửa mà lại đập vào cửa. Bà Pescott là “người nhà đoan và nhà thầu tàu bè”. Trong cửa hiệu của mình, một anh thợ cạo báo tin Wellington chết, bằng mấy lời sau đây: Viên chỉ huy lính tập đã chết.
Có những người đàn bà đi từng nhà bán lại những thứ tạp nham mua ở các cửa hàng tạp hóa hay ở chợ; lối làm ăn ấy gọi là buôn bán tập tàng. Những bà tập tàng ấy rất nghèo, mỗi ngày vất vả lắm mới kiếm được vài xu. Đây là lời một bà tập tàng: “Ông xem có thần tình không, tuần này tôi để ra được những bảy xu”. Một người qua đường, bạn của tôi, có hôm cho một bà tập tàng năm frăng; bà ấy nói: “Đa tạ ông, thế là tôi có thể mua buôn được rồi”.
Tháng năm, các du thuyền bắt đầu đến, cửa biển nhộn nhịp thuyền chơi; phần lớn là thuyền hai buồm, một số chạy bằng hơi nước. Một chiếc du thuyền như thế tốn kém cho chủ nó mỗi tháng mười vạn frăng.
Cricket phát triển thì quyền anh suy thoái. Các hội giới tửu thịnh hành một cách hữu ích, điều đó chúng ta phải công nhận. Chúng cũng rước xách, cũng rong diễu băng cờ khẩu hiệu bề ngoài gần giống như Hội Tam Điểm khiến cánh chủ quán rượu cũng phải động lòng. Người ta nghe các bà chủ tiệm vừa phục vụ mấy tay bợm rượu vừa nói: “Mời ông uống cho một cốc thôi, chứ đừng uống cả chai”.
Dân chúng tráng kiện, xinh đẹp và tốt bụng. Nhà tù thành phố thường thường rỗng không. Ngày lễ Giáng sinh, khi nào có tù nhân, người cai ngục lại thết họ một bữa tiệc nhỏ trong gia đình.
Kiến trúc địa phương có những kiểu cách lạ lùng khó thay đổi; thành phố Saint-Pierre-Port trung thành với Nữ hoàng, với Kinh Thánh và với lối cửa sổ máy chém[11], mùa hè đàn ông tắm truồng; quần đùi là một thứ khiếm nhã; nó càng làm thêm lộ liễu.
Các bà mẹ rất tài may mặc cho con; không gì xinh đẹp như những bộ quần áo nhỏ nhắn, nhiều màu nhiều vẻ, sáng tạo duyên dáng ấy. Trẻ con đi một mình ngoài phố, một sự tin cậy thật cảm động và dễ thương. Trẻ con dìu dắt con trẻ.
Về mặt thời trang, Guernesey học đòi Paris; không phải luôn luôn. Đôi khi những màu đỏ chóe hoặc xanh là biểu lộ khuynh hướng dung hòa kiểu Anh. Tuy nhiên chúng tôi cũng đã được nghe một bà bán trang phục phụ nữ địa phương, khuyến một bà lịch sự bản xứ, phản đối màu chàm và màu đỏ, rồi thêm nhận xét tế nhị sau đây: “Tôi cho là màu sắc cũng phải rất bà và rất cần như một tư tưởng đẹp”!
Nghề mộc miền biển của Guernesey rất nổi tiếng; xưởng tàu đầy ứ tàu, bè chờ đợi sửa chữa. Người ta kéo thuyền bè lên cạn theo tiếng sáo. Các ông chủ mộc thường nói: - Người thổi sáo còn được việc hơn một người thợ.
Saint-Pierre-Port cũng có một Pollet như Dieppe, và một Strand như Luân Đôn. Người lịch sự không bao giờ đi phố nách cắp một cuốn album hay một cái cặp, những ngày thứ bảy lại xách làn đi chợ.
Một nhân vật hoàng phái ghé đến đây đã thành cớ để dựng một cái tháp. Người ta chôn cất ngay trong thành phố. Phố Collège bên phải và bên trái chạy liền với hai nghĩa địa. Một ngôi mộ từ tháng hai năm 1610 dính liền với một bức tường.
L’Hyvreuse là một công viên trồng cỏ xanh và cây to có thể so sánh với những vuông đất đẹp nhất của Champs-Élysées[12] ở Paris, lại có thêm biển. Ở tủ kính hiệu Arcades, một hiệu tạp hóa lịch sự, thấy có những quảng cáo như sau: “Tại đây bán nước hoa được trung đoàn 6 pháo binh giới thiệu”.
Thành phố lúc nào cũng nhộn nhịp xe ngựa ngược xuôi chở những thùng bia hoặc những bao than đất. Khách đi dạo còn có thể đọc được chỗ này chỗ nọ nhiều cáo thị khác: Tại đây tiếp tục cho mượn một bò đực tốt như trước kia. - Tại đây mua bán kén xép, chì, thủy tinh, xương, giá cao. - Bán khoai mới, củ to, thượng hạng. Bán cám đậu, mấy tấn lúa mạch để trộn với cỏ, một bộ cửa kiểu Anh, đầy đủ cho một phòng khách, và một con lợn béo. Trại Mon Plaisir, Saint-Jacques. Bán soubats tốt vừa mới đập, cà rốt vàng cả trăm và một kim tiêm Pháp. Hỏi ở cối xay bột cầu thang Saint-André. - Cấm làm cá và để đồ đạc ngổn ngang. - Bán một cô lừa đang có sữa, v.v…
IX JERSEY, AURIGNY, SERK
Những hòn đảo trên biển Manche là những mảnh nhỏ của nước Pháp rơi xuống biển và được nước Anh nhặt lại. Vì thế mà đẻ ra một dân tộc phức tạp. Người Jersey và người Guernesey chắc chắn không phải là người Anh, việc mà họ không muốn, nhưng họ là người Pháp mà lại không biết. Nếu biết thế, thì họ quyết quên ngay. Điều ấy thấy rõ qua thứ tiếng Pháp họ nói.
Quần đảo do bốn đảo hợp thành, hai đảo lớn, Jersey và Guernesey, hai đảo nhỏ, Aurigny và Serk; không kể các đảo con con, như Ortach, Casquets, Herm, Jet-Hou, v.v… Các đảo con con và các hòn ngầm trong cái xứ Gaule già cổ này thường được gọi là Hou. Aurigny có Bur-Hou, Serk có Brecq-Hou, Guernesey có Li-Hou và Jet-Hou, Jersey có Écré-Hou, Granville có Pir-Hou. Có mũi Hougue, Hougue-bye, Hougue des Pommiers, Houmets, v.v… Có đảo Chousey, hòn ngầm Chouas, v.v… Cái từ căn Hou đặc biệt ấy của ngôn ngữ cổ xưa, còn được thấy ở khắp nơi (houle, huée, hure, hourque, houre - đoạn đầu đài, từ cũ - houx, houperon - cá mập - hurlement, hulotte, chouette - do đó mà có chouan, v.v…); nó thấm qua hai từ ngữ chỉ vô biên, unda và unde. Nó nằm trong hai từ ngữ diễn tả sự ngờ vực, ou và où.
Serk là một nửa của Aurigny, Aurigny là một phần tư của Guernesey, Guernesey là hai phần ba của Jersey. Toàn bộ Jersey to đúng bằng thành phố Luân Đôn. Phải có hai nghìn bảy trăm Jersey mới làm được nước Pháp. Theo tính toán của Charassin, nhà nông học thực hành ưu tú, nếu nước Pháp được trồng trọt giống như Jersey thì có thể nuôi sống được hai trăm bảy mươi triệu người, tức là toàn bộ châu Âu. Trong số bốn hòn đảo, Serk, đảo bé nhất, là đảo đẹp nhất; Jersey, đảo to nhất là đảo xinh nhất; Guernesey, hoang dã và tươi vui, giống cả hai. Ở Serk có một mỏ bạc không được khai thác vì trữ lượng kém. Jersey có năm vạn sáu nghìn dân, Guernesey ba vạn, Aurigny, bốn nghìn năm trăm, Serk, sáu trăm, Li-Hou, mỗi một. Từ đảo này sang đảo nọ, từ Aurigny sang Guernesey, và từ Guernesey sang Jersey, chỉ một bước của chiếc hài bảy dặm. Nhánh biển từ Guernesey đến Herm tên là Ruau nhỏ, và từ Herm đến Serk tên là Ruau lớn. Mũi đất Pháp gần nhất là mũi Flamanville. Ở Guernesey nghe được tiếng đại bác của Cherbourg, và ở Cherbourg nghe được tiếng sấm của Guernesey. Bão trên quần đảo Manche, như chúng tôi đã nói, thật khủng khiếp. Quần đảo là xứ sở của gió. Giữa mỗi hòn đảo có một hành lang đóng vai trò một cái bễ lò rèn. Quy luật xấu đối với biển, và tốt đối với đất liền. Gió cuốn đi những uế khí và dẫn đến những vụ đắm tàu. Quy luật này đối với Channel Islands cũng giống như đối với các quần đảo khác. Bệnh thổ tả đã bỏ qua Jersey và Guernesey. Tuy nhiên ở Guernesey, thời Trung cổ, cũng có một trận dịch ác liệt đến mức một pháp quan lúc ấy phải đốt cả giấy tờ lưu trữ để diệt trừ bệnh dịch hạch.
Ở Pháp người ta sẵn lòng gọi những hòn đảo ấy là đảo của Anh, còn ở Anh lại gọi chúng là đảo Normand. Các đảo trên biển Manche tự đúc lấy tiền, chỉ tiền đồng thôi. Một con đường từ thời La Mã, hiện nay vẫn còn thấy, chạy từ Coutances đến Jersey.
Như chúng tôi đã nói, chính năm 709, đại dương đã giật Jersey ra khỏi nước Pháp. Mười hai giáo khu bị chìm nghỉm. Có những gia đình hiện nay còn sống ở Normandie vẫn nắm giữ lãnh địa của các giáo khu ấy; thần quyền của họ nằm dưới nước; điều ấy thường xảy đến với các thần quyền.
X LỊCH SỬ, TRUYỀN THUYẾT, TÔN GIÁO
Sáu giáo khu ngày xưa của Guernesey thuộc về một lãnh chúa duy nhất là Néel, tử tước Cotentin, thất bại ở trận Dunes năm 1047. Thời ấy, theo lời Dumaresq, trong các đảo ở biển Manche có một ngọn núi lửa. Niên đại của mười hai giáo khu ở Jersey có ghi trong cuốn Hắc Thư của nhà thờ lớn Coutances. Ngài de Briquebec tự xưng là nam tước Guernesey. Aurigny là thái ấp của d’Henri l’Artisan. Jersey chịu cái vạ của hai tên cường quyền là César và Rollon.
Haro là tiếng kêu van tên công tước (Ha! Rollo!), trừ phi gốc nó từ tiếng Saxons, haran nghĩa là kêu. Tiếng Haro nhắc đi nhắc lại ba lần, quỳ gối, trên đường cái, và nơi nào tiếng kêu ấy được thốt lên, là mọi việc đều dừng lại cho đến khi nào công lý được xét xử.
Trước Rollon, công tước của người Normand, trên quần đảo đã có Salomon, vua của người Bretons. Vì vậy mà Jersey có nhiều tính chất Normandie và Guernesey có nhiều tính chất Bretagne; thiên nhiên ở đây phản ánh lịch sử; Jersey có nhiều đồng cỏ hơn và Guernesey nhiều núi hơn; Jersey xanh hơn và Guernesey gập ghềnh hơn.
Dinh cơ quý tộc rải khắp các đảo, Bá tước d’Essex có để lại một dinh cơ đổ nát ở Aurigny là Essex Castle. Jersey có Montongueil, Guernesey có lâu đài Cornet. Lâu đài Cornet được xây dựng trên một hòn núi trước là Holm, hay Heaume. Lối ẩn dụ này còn gặp lại trong hòn Casquets, Casques. Lâu đài Cornet đã bị bao vây bởi tên cướp xứ Picard tên là Eustache, còn Montongueil thì bởi tên Duguesclin; các pháo đài cũng như đàn bà thường tự hào về người bao vây mình khi những kẻ này nổi tiếng.
Một giáo hoàng, ở thế kỷ thứ mười lăm, đã tuyên bố Jersey và Guernesey là những đảo trung lập. Ông ta nghĩ đến chiến tranh chứ không nghĩ đến vấn đề ly giáo. Học thuyết Calvin, được Pierre Morice truyền giảng ở Jersey và Nicolas Baudoin truyền giảng ở Guernesey, đã thâm nhập quần đảo Normand năm 1563. Cũng như Luther, Calvini đã phát triển ở đấy, tuy vậy ngày nay cũng gặp nhiều trở ngại bởi thuyết Wesley[13], một thứ bướu của đạo Tin lành, chứa đựng tương lai của nước Anh.
Nhà thờ nhan nhản trên quần đảo. Chi tiết đó đáng được người ta nhấn mạnh; chỗ nào cũng thấy đền thờ. Lòng mộ đạo Gia-tô bị vượt xa; mỗi một mảnh đất của Jersey và Guernesey đều có nhiều giáo đường hơn bất cứ mẩu đất nào của Tây Ban Nha hoặc của nước Italia. Giám-lý hội chính công, giám-lý hội cổ xưa, giám-lý hội liên quan, giám-lý hội độc lập, phái tẩy lễ, phái trưởng lão, phái thiên nhiên, phái quaker, phái Kinh Thánh, phái brethrens (anh em của Plymouth), không đảng phái, v.v…; thêm vào đấy tân giáo hội của Anh, giáo hội La Mã của giáo hoàng. Ở Jersey còn thấy có một tiểu giáo đường của phái mormon[14]. Người ta nhận ra những cuốn kinh thánh của phái chính thống ở chỗ chữ Satan không viết hoa: satan. Thế là phải.
Nhân nói đến Satan, người ta rất ghét Voltaire[15]. Hình như từ ngữ Voltaire là một trong những cách phát âm của Satan. Nói đến Voltaire mọi bất đồng đều tập hợp lại, phái Mormon trùng hợp với phái Anh quốc, sự thỏa hiệp được hình thành trong giận dữ, và tất cả các đảng phái đều chung một căm hờn. Tuyên cáo trục xuất Voltaire là giao điểm của tất cả các dạng khác nhau của đạo Tin lành. Một việc đáng chú ý là đạo Thiên Chúa không ưa Voltaire, và đạo Tin lành lại ghét cay ghét đắng Voltaire. Genève vượt quá cả Rome. Trong việc nguyền rủa có sự gia tăng dần dần. Calas, Sirven, biết bao trang hùng biện để chống lại những chuyện đàn áp cũng không tác dụng gì. Voltaire đã bác bỏ giáo điều, thế là đủ. Ông ta đã bênh vực các tín đồ Tin lành, nhưng ông ta lại làm tổn thương đạo Tin lành. Tín đồ Tin lành truy đuổi ông ta với một thái độ vong ơn kiểu chính thống. Người nào cần nói trước công chúng Saint-Hélier để quyên góp, đều được cảnh báo rằng nếu trong bài nói của mình có nhắc đến tên Voltaire thì việc lạc quyên sẽ không thành. Hễ quá khứ còn hơi sức để được ăn nói, thì Voltaire còn bị bài xích. Bạn hãy nghe những câu nói như thế này: y chẳng có thiên tài, cũng chẳng có tài năng, và cũng chẳng có tài trí. Voltaire, già bị chửi rủa, chết bị khai trừ. Ông ta vĩnh viễn bị “tranh cãi”. Chính đấy là vinh quang của ông ta. Có thể nào nói đến Voltaire một cách bình tĩnh và công bằng không? Khi một con người chế ngự cả một thế kỷ và tượng trưng cho tiến bộ, người ấy không cần nói chuyện với phê bình nữa, mà với căm hờn.
XI CÁC SÀO HUYỆT NGÀY XƯA VÀ CÁC VỊ THÁNH NGÀY XƯA
Quần đảo Cyclades nằm theo hình tròn; quần đảo Manche nằm theo hình tam giác. Khi ta nhìn lên một bản đồ, đấy là cách nhìn theo kiểu chim bay của con người, thì dãy Channel Islands, một khúc biển hình tam giác, nổi bật lên giữa ba điểm cao nhất, Aurigny đánh dấu mũi phía bắc, Guernesey đánh dấu mũi phía tây, Jersey đánh dấu mũi phía nam. Có thể nói mỗi một hòn trong ba đảo mẹ này đều có một đàn gà con xung quanh. Aurigny có Bur-Hou, Ortach và các hòn Casquets; Guernesey có Herm, Jet-Hou và Li-Hou; Jersey mở về phía nước Pháp cái vòng cung của vịnh Saint-Aubin; hai nhóm đảo, rải rác nhưng riêng biệt, là các hòn đảo Grelets và các hòn Minquiers, dường như lao vào vòng cung đó, vào cái khoảng xanh trong của sóng nước, cũng màu da trời như không khí, y hệt hai bầy ong sà vào một cái cửa tổ ong. Giữa quần đảo, Serk, có thêm Brecq-Hou và đảo Dê, là dấu nối giữa Guernesey và Jersey. Việc so sánh quần đảo Cyclades với Channel Islands chắc chắn là đã làm kinh ngạc phái thần bí và hoang đường dưới thời trùng hưng có quan hệ với de Maistre bởi d’Eckstein, và đã tạo ra một biểu tượng: quần đảo Hellas tròn trịa, ore rotundo; quần đảo Manche nhọn, lởm chởm, cau có, góc cạnh; cái này tương tự tính hài hòa, cái kia tương tự tính hay kiện cáo; không phải vô lý mà cái này mang tính chất Hy Lạp còn cái kia lại mang tính chất Normand.
Ngày xưa, trước những thời kỳ lịch sử, các hòn đảo này của biển Manche rất hung dữ. Những người sống trên đảo đầu tiên rất có thể thuộc loại người cổ xưa mà kiểu mẫu còn thấy ở Moulin-Quignon, và thuộc giống người có hàm răng thụt vào. Họ sống nửa năm bằng cá và sò ốc, nửa năm bằng những vật trôi dạt. Cướp bóc bờ biển của mình là cách sinh sống của họ. Họ chỉ biết có hai mùa, mùa đánh cá và mùa tàu đắm; người Greenland cũng gọi mùa hè là mùa săn tuần lộc và mùa đông là mùa săn hải cẩu. Tất cả các hòn đảo ấy, về sau thuộc về Normand, là những cánh đồng gai, những cánh đồng ngải, những hang thú, là chỗ trọ của bọn cướp biển. Một sử gia biên niên địa phương nói một cách quả quyết: Bẫy chuột và bẫy cướp. Người La Mã đến đấy, và chỉ đẩy đức tính chính trực tiến lên có một bước không đáng kể: họ đóng đinh lên thập ác bọn kẻ cướp và tổ chức những ngày hội Furinales, nghĩa là ngày hội của bọn kẻ cắp. Hội này vẫn còn được tổ chức tại một số làng của chúng ta vào ngày 25 tháng bảy, và suốt năm tại các thành phố của chúng ta… Jersey, Serk và Guernesey trước kia gọi là Ange, Sarge và Bissange. Aurigny là Redana, nếu không phải là Thanet. Một truyền thuyết khẳng định rằng trong đảo Chuột, insula rattorum, do sự đi lại giữa thỏ đực và chuột cái mà sinh ra con lợn Ấn Độ “Turkey cony”. Theo Furetière, tu viện trưởng Chalivoy, vẫn người đã chê trách La Fontaine không biết sự khác nhau giữa gỗ còn vỏ và gỗ rừng già, từ lâu nước Pháp không biết có Aurigny trên bờ biển của mình. Đúng thế Aurigny chỉ chiếm rất ít vị trí trong lịch sử Normandie. Thế mà Rabelais đã biết đến quần đảo Normand; ông nêu tên Herm, và Serk mà ông gọi là Cerq “Tôi cam đoan với các ngài là cái đất ấy nó như vậy, có những lần khác tôi đã thấy các đảo Cerq và Herm, giữa Bretagne và nước Anh” (Bản năm 1558, Lyon, trang 423).
Casquets là một điểm đắm tàu đáng sợ. Cách đây hai trăm năm, người Anh có cái nghề vớt đại bác ở đấy. Một trong số đại bác ấy, phủ đầy hàu và vẹm, hiện để ở viện bảo tàng Valognes.
Herm là một nơi ẩn dật. Thánh Tugdual, bạn thân của thánh Sampson, đã từng cầu nguyện ở Herm, cũng như thánh Magioire ở Serk. Trên tất cả các mỏm đá ngầm đấy đã có những vành hào quang của ẩn sĩ.
Hélier cầu nguyện ở Jersey, và Marcouf cầu nguyện trong các núi Calvados. Đấy là thời kì ẩn sĩ Éparchius thành thánh Cybard trong các động d’Angoulême, và dật sĩ Crescentius, trong rừng sâu Trêves, làm sập một ngôi đền của Diane vì đã nhìn trừng trừng vào đấy suốt năm năm. Chính tại Serk, nơi ẩn dật của mình, Magloire đã sáng tác bài thánh ca mừng lễ Các Thánh, Cœlo quos eadem gloria consecrat, sau đó được Santeuil làm lại. Cũng chính từ đó ông ta đã ném đá vào quân Saxons, hai lần đem hạm đội cướp biển đến phá rối buổi cầu nguyện của ông. Thời kỳ ấy quần đảo cũng phần nào bị viên tù trưởng của đoàn dân di cư Celt quấy rầy. Thỉnh thoảng Magloire vượt biển, đến bàn định với Nivou, vị Martierne ở Guernesey, ông này là một nhà tiên tri. Một hôm, Magloire, làm xong một phép mầu, phát nguyện sẽ không ăn cá nữa. Ngoài ra để giữ gìn phong tục cho chó và để các tu sĩ của mình khỏi có những tư tưởng tội lỗi, ông ta đuổi hết chó cái ra khỏi đảo Serk, luật này hiện nay vẫn tồn tại. Thánh Magloire còn làm nhiều việc khác cho quần đảo. Ông ta đi Jersey trấn áp đám tiện dân, ngày lễ Giáng sinh, có thói xấu hóa trang thành đủ loại súc vật, để biểu dương Mithras. Thánh Magloire bắt phải chấm dứt cái tệ tập ấy. Thánh tích của ông, dưới thời Nominoё, chư hầu của Charles hói đầu, bị các tu sĩ của Lehon-les-Dinan ăn trộm mất. Tất cả những sự việc ấy đã được những người bollandistes xác nhận, trong tập Acta Sancti Marculphi, v.v… và trong cuốn Lịch sử Giáo hội của tu viện trưởng Trigan. Victrice de Rouen, bạn của Martin de Tours, có một cái động ở Serk, hang này hồi thế kỷ thứ mười một, thuộc về tu viện Montebourg. Lúc chúng tôi nói đây, Serk là một thái ấp trở thành bất động sản trong tay bốn mươi tá điền.
XII ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG
Mỗi hòn đảo đều có loại tiền riêng, thổ ngữ riêng, chính quyền riêng, thành kiến riêng. Jersey thường lo ngại về một nghiệp chủ người Pháp. Không khéo ông ta mua hết cả đảo! Ở Jersey cấm người ngoại quốc mua đất, ở Guernesey thì cho phép. Bù lại, sự khắc khổ của tôn giáo, ở đảo thứ nhất có kém hơn ở đảo thứ nhì, ngày chủ nhật ở Jersey được tự do đi chơi, còn ở Guernesey không được, Kinh Thánh được chấp hành ở Saint-Pierre-Port tốt hơn ở Saint-Hélier. Việc mua lại một sản nghiệp ở Guernesey trở thành phức tạp, vì một nguy cơ đặc biệt, nhất là đối với người ngoại quốc dốt nát; người mua chịu trách nhiệm, trên lợi tức làm ra được trong hai mươi năm, về tình hình thương mại và tài chính của người bán lúc xảy ra việc mua bán.
Nhiều việc rắc rối khác nảy sinh từ chỗ khác nhau về tiền tệ và đo lường. Đồng schelling, tức đồng ascalin hoặc chelin cũ của chúng ta, ăn hai mươi lăm xu ở Anh, hai mươi sáu xu ở Jersey, và hai mươi bốn xu ở Guernesey. “Quả cân của nữ hoàng” cũng bất thường, quả livres ở Guernesey không phải là quả livres ở Jersey, quả này lại không phải là quả livres của Anh.
Ở Guernesey đo ruộng bằng vergée[16] và đo vergée bằng sào. Lối đo ở Jersey lại khác. Ở Guernesey chỉ tiêu tiền Pháp, và chỉ gọi bằng tên tiền Anh. Một franc được gọi là một đồng “mười pence”. Tình trạng mất cân đối đến nỗi tại quần đảo đàn bà nhiều hơn đàn ông; sáu đàn bà mới có năm đàn ông.
Guernesey có rất nhiều tên riêng, một số mang màu sắc địa chất; đối với giới bác học nó là Granosia, và đối với những người ngay thật nó là tiểu Anh Quốc. Đúng là nó giống nước Anh về hình dạng hình học; Serk là Ireland của nó, nhưng một Ireland ở phía đông. Biển Guernesey có hai trăm loại có vỏ cứng và bốn mươi loại bọt biển. Nó được người La Mã dâng cho Saturne[17], nhưng người Celt lại dâng nó cho Gwyn; trong việc này nó chẳng được lợi gì mấy, như Saturne, Gwyn cũng ăn thịt trẻ con. Nó có một bộ luật của Pháp mang niên hiệu 1331 và nhan đề là Lời dạy của d’Assize.
Về phía mình, Guernesey có ba hoặc bốn bộ luật cũ của Normand, tòa án gia tài, và tòa án hình sự Catel, tòa án Billet, một thứ tòa án thương mại, và tòa án thứ bảy, một thứ cảnh sát khinh tội. Guernesey xuất cảng dấm, gia súc và hoa quả, nhưng chủ yếu là nó tự xuất cảng; ngành thương mại chính của nó là thạch cao và đá hoa cương. Guernesey có ba trăm linh năm ngôi nhà không ai ở. Vì sao? Câu trả lời, ít ra là của một vài ngôi nhà, có lẽ nằm ở một trong những chương của cuốn sách này. Những người Nga trú ngụ ở Jersey vào đầu thế kỷ này đã để kỷ niệm lại trong giống ngựa, ngựa của Jersey là một giống lai đặc biệt của ngựa Normand và ngựa Cosaque, đây là giống ngựa chạy hay, đi khỏe. Nó có thể mang Tancrede và kéo Mazeppa[18].
Ở thế kỷ thứ mười bảy, có nội chiến giữa Guernesey với lâu đài Cornet; lâu đài Cornet theo Stuart, còn Guernesey theo Cromwell. Gần tương tự như đảo Saint-Louis tuyên chiến với bến Ormes. Tại Jersey có hai đảng phiến loạn, đảng Hoa Hồng và đảng Nguyệt Quế, những hình thức thu hẹp của Whigs[19] và Tories[20]. Sự chia rẽ đẳng cấp tầng lớp, việc phân đất thành lô rất hợp lý các cư dân trên quần đảo này, được gọi rất đúng là xứ Normandie không được ai biết. Đặc biệt dân Guernesey thích đảo đến mức họ lập thành những hòn đảo trong nhân dân; ở trên cùng cái trật tự xã hội nho nhỏ ấy, sáu mươi gia đình, giới sixty[21], sống riêng biệt ở lưng chừng, bốn mươi gia đình, giới forty[22], làm thành một nhóm khác cũng biệt lập; còn xung quanh là dân chúng. Còn chính quyền, vừa của nước Anh vừa của địa phương, thì được chia cắt như sau: mười giáo khu, mười mục sư, hai mươi nguyên soái, một trăm sáu mươi vị cầm đầu đoàn mười hai người, một tòa án hoàng gia với biện lý và kiểm soát, một nghị viện gọi là Nghị Hội, mười hai thẩm phán gọi là juvats, một phán quan gọi là baillif. Các hiến chương cũ gọi là Ballivus và coronator.
Về luật pháp thì theo tập quán Normandie. Biện lý do ủy viên hội bổ nhiệm, còn baillif thì theo môn bài; màu sắc Anh rõ rệt. Ngoài vị baillif quản lý mọi việc dân sự, có vị niên trưởng giải quyết việc phần hồn, và vị thống đốc thống lĩnh việc quân sự. Chi tiết về các công việc khác được ghi rõ trong “công vụ biểu của các ông giữ những cương vị cao nhất trong đảo”.
XIII CÔNG VIỆC CỦA VĂN MINH TRONG QUẦN ĐẢO
Jersey là hải cảng thứ bảy của nước Anh. Năm 1845, quần đảo có bốn trăm bốn mươi tàu dung lượng bốn vạn hai nghìn tô-nô; trong các cảng này thường nhập sáu vạn tô-nô và xuất năm vạn bốn nghìn tô-nô trên một nghìn hai trăm sáu mươi lăm tàu của tất cả các nước, trong đó có một trăm bốn mươi tàu chạy máy. Những con số ấy trong hai mươi năm đã tăng hơn gấp ba.
Tiền tệ tín dụng hoạt động trong các đảo trên một quy mô rộng và đem lại những kết quả rất tốt. Ở Jersey ai muốn phát hành giấy bạc thì cứ phát; nếu những giấy bạc ấy đứng vững được trước làn sóng hoàn trả thì ngân hàng được thành lập. Trên quần đảo lúc nào cũng chỉ thấy thứ giấy bạc một livrơ xteclinh. Ngày nào phiếu lợi tức được người Anglo - Saxon hiểu, chắc chắn họ sẽ ứng dụng nó, và người ta sẽ có cái hiện tượng kỳ lạ được thấy cùng một sự việc mà tại châu Âu thì ở tình trạng không tưởng, còn tại Channel Islands thì ở tình trạng tiến bộ hoàn toàn. Cách mạng tài chính sẽ được tiến hành một cách rất hẹp trên mảnh đất nhỏ bé này của thế giới.
Một đầu óc thông minh kiên quyết, sắc sảo, linh lợi, nhanh nhẹn, là đặc tính của người Jersey, nếu muốn, họ sẽ là những người Pháp tuyệt vời. Người Guernesey, cũng sâu sắc và vững vàng như thế, có chậm chạp hơn.
Đấy là những dân tộc dũng cảm, khỏe mạnh, có kiến thức hơn người ta tưởng, và người ta sẽ gặp nhiều điều ngạc nhiên ở họ. Báo chí ở đây rất nhiều, bằng tiếng Anh và tiếng Pháp; sáu tờ ở Jersey, bốn tờ ở Guernesey; những tờ báo rất to, rất tốt. Đấy là bản năng hùng mạnh và không thay đổi của người Anh. Bạn cứ giả thiết một hòn đảo hoang vắng; ngay hôm sau khi đến, Robinson làm một tờ báo, và Thứ Sáu đặt mua luôn.
Bổ sung thêm có việc quảng cáo. Quảng cáo khổng lồ và nhiều vô kể. Bảng yết thị đủ mọi màu sắc và đủ mọi kích thước, chữ hoa, hình ảnh, minh họa ngay ở giữa trời; trên tất cả các bức tường của Guernesey, một nhãn hiệu to, vẽ một người đàn ông cao sáu piê, tay cầm một cái chuông, gõ rao hàng. Guernesey lúc này có nhiều quảng cáo hơn cả toàn bộ nước Pháp.
Từ lối quảng cáo ấy nảy sinh ra cuộc sống. Cuộc sống tư tưởng rất nhiều khi, với những kết quả bất ngờ, san bằng dân chúng nhờ thói quen đọc sách, tạo nên phẩm cách trong cử chỉ. Bạn chuyện trò trên đường phố Saint-Hélier hoặc Saint-Pierre-Port với một người qua đường chỉnh tề, mặc đồ đen, khuy cài nghiêm túc, áo lót trắng tinh, người ấy nói với bạn về John Brown và hỏi thăm về Garibaldi[23]. Một cha cố chăng? Không. Đấy là một anh chăn bò. Một nhà văn đương thời đến Jersey, vào nhà một người bán tạp hóa[24], và trong một phòng khách lộng lẫy kề với cửa hàng, nhìn thấy sau một tủ kính toàn tập các tác phẩm của mình được đóng bìa cứng, để trong một tủ sách cao, rộng, trên đặt một bức tượng bán thân của Homère.
XIV NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KHÁC
Từ đảo này sang đảo nọ, người ta xem nhau như anh em, và người ta cũng chế giễu nhau một cách nhẹ nhàng. Aurigny phụ thuộc vào Guernesey, đôi khi bất bình vì thế, và chỉ muốn kéo về mình quyền quản hạt và biến Guernesey thành chư hầu của mình. Guernesey không giận dữ, trả lời lại bằng câu “vè” dân gian sau đây:
Kéo đi Jean, kéo đi, Pier,
Guernesey đánh cho một mẻ.
Vì là một gia đình miền biển, nên những người dân hải đảo này đôi khi cũng nghiệt ngã, nhưng không bao giờ chua ngoa. Ai bảo họ thô bỉ là không hiểu họ. Chúng tôi không tin có cuộc mạo nhận là đối thoại kiểu mẫu sau đây giữa Jersey và Guernesey: - Các anh là giống lừa - Đáp lại: - Các anh là giống cóc nhái. Đấy là một lối chào hỏi mà quần đảo Normand không thể có. Vadius và Trissotin trở thành hai hòn đảo của đại dương, chúng tôi không chấp nhận chuyện ấy.
Vả lại, Aurigny có tầm quan trọng tương đối của nó. Đối với các hòn đảo Casquets, Aurigny là Luân Đôn. Có con gái người gác đèn biển Houguer, sinh tại Casquets, lúc hai mươi tuổi đi Aurigny chơi. Cô ta luống cuống vì tiếng ồn ào, và đòi trở về quả núi của mình. Cô ta chưa bao giờ trông thấy bò. Thoạt gặp một con ngựa, cô ta hét lên: Con chó to quá!
Trên những hòn đảo Normand ấy, người ta già trước tuổi rất nhiều, không phải thực sự, nhưng đương nhiên. Hai người qua đường nói chuyện với nhau: - Cái lão ngày nào cũng đến đây chết rồi. - Lão bao nhiêu tuổi? - Khoảng băm sáu.
Phụ nữ xứ Normandie hải đảo này không thích đi làm người ở, chẳng biết đó là một điều chê trách hay một lời khen? Hai người hầu trong một nhà khó lòng hòa hợp với nhau. Họ không bao giờ nhượng bộ nhau; vì vậy mà có một lối hầu hạ thiếu mềm dẻo, rất thất thường và hết sức lủng củng. Họ chỉ chăm lo đại khái cho chủ, nhưng không ác cảm với chủ. Chủ muốn ra sao thì ra. Năm 1852, một gia đình người Pháp, vì gặp nhiều sự kiện phải đến Jersey, mượn một chị nấu bếp quê tại Saint-Brelade và một chị hầu phòng quê tại Boulay-Bay. Một buổi sáng tháng chạp, người chủ nhà dậy sớm, thấy cái cửa nhìn ra đường cái mở toang cả hai cánh, và chẳng còn người đầy tớ nào nữa. Hai người đàn bà đã không chịu nhau, và sau một cuộc cãi cọ, chắc hẳn cũng có một vài lý do để tự xem như đã được trả công xá, họ đã gói ghém áo xống ra đi, mỗi người một ngả, giữa đêm khuya, bỏ mặc chủ còn ngủ và cửa nhà để ngỏ. Một chị đã nói với chị kia: Tao không ở lại với một con bò cái, và chị kia đã đáp lại: Tao không ở lại với một con ăn cắp.
Luôn luôn hai trên mười là một thành ngữ lâu đời có tính chất tục ngữ địa phương. Nó nghĩa là thế nào? Là nếu trong nhà bạn có một anh lao công hoặc một chị giúp việc, hai mắt của bạn không bao giờ rời khỏi mười ngón tay của họ. Lời khuyên của người chủ nhà keo kiệt; đấy là sự nghi ngờ cổ xưa cho thấy tính lười biếng cổ xưa. Diderot kể lại rằng, vì cửa sổ nhà ông, ở Hà Lan, vỡ mất một miếng kính, năm người thợ đến; một người ôm tấm kính mới, một người đem mát-tít, một người xách xô nước, một người cầm bay và một người nữa cầm miếng bọt biển. Năm người đó, trong hai ngày, lắp lại xong ô kính.
Phải nói đây là những thói lề mề cổ xưa, nảy sinh từ chế độ nông nô cùng những thói nhắc nhởn ở đất thuộc địa nảy sinh từ chế độ nô lệ, những thói xấu chung của tất cả các dân tộc mà ngày nay chỗ nào cũng đã biến mất do cọ xát với tiến bộ, ở Channel Islands cũng như ở các nơi khác, và có lẽ còn nhanh hơn ở các nơi khác. Trong các cộng đồng khéo léo này của hải đảo, tính ham hoạt động, vốn là yếu tố của lòng ngay thật, ngày nay trở thành quy luật lao động. Trong quần đảo Manche, vẫn còn thấy một số sự việc của quá khứ. Chẳng hạn như: - TÒA ÁN LÃNH ĐỊA, họp ở khu giáo khu Saint-Ouen, tại nhà ông Malzard, ngày thứ hai 22 tháng Năm năm 1854, giờ giữa trưa. Tòa án do vị pháp quan chủ tọa, bên phải có giáo đoàn trưởng, bên trái có viên đình lại. Tham dự phiên tòa có vị công tử quý tộc, điện hạ xứ Morville và các nơi khác, nắm quyền một phần giáo khu. Vị pháp quan đòi hỏi vị giáo đoàn trưởng tuyên thệ, nội dung như sau: Lấy đức tin vào Chúa, ngài hãy thề và hứa sẽ thi hành tốt và trung thành chức vụ giáo đoàn trưởng của tòa án lãnh địa và thái ấp Morville, và ngài sẽ duy trì quyền lãnh chúa - Vị giáo đoàn trưởng sau khi giơ tay và cúi chào vị lãnh chúa, nói: - Tôi xin thề như thế.
Quần đảo Normand nói tiếng Pháp với một vài biến thể như thế. Paroisse phát âm thành paresse. Người ta bị đau ở cái chân không bình thường. Ông có được khỏe không? - Tí ti. Vừa vừa. Dễ chịu lắm. Nghĩa là: Yếu lắm, tương đối, rất khỏe. Buồn rầu là đầu óc thấp. Thối là ngửi không tốt, gây tổn hại là “faire du ménage”, quét buồng, rửa bát, v.v… là picher son fait, baquet[25] thường đầy rác bẩn, là cái bouquet. Say rượu là bragi, ướt là mucre. Bị bệnh thần kinh là có fixes. Con gái là hardelle, tạp dề là devantier, khăn bàn là doublier, áo dài là dress, túi áo là pouque, ngăn kéo là haleur, bắp cải là caboche, tủ đứng là presse, quan tài là cái thùng người chết, quà biếu là irvières, lòng đường là cauchie, mặt nạ là visagier, viên thuốc là boulets. Chẳng bao lâu nữa, là bien dupartant. Chợ không đầy đủ lắm, vật phẩm hiếm hoi, cá và rau écarts. Khoai đầu mùa ở Guernesey là temprunes, ở Jersey là heurives. Kiện tụng, làm nhà, du lịch, đãi khách, mời tất cả, mở hội, là coûrageux (ở Bỉ và ở xứ Flandre của Pháp là frayeux). Một cô gái không để cho hôn, vì sợ về nhà bouquie (đầu bù, tóc sổ). Cao quí là một trong những từ hay được dùng nhất trong thứ tiếng Pháp địa phương này. Mọi việc hoàn thành tốt đều đi đứng cao quý. Một chị đầu bếp đi chợ mua về một miếng thịt bò cao quý. Một con vịt được nuôi tốt là một con cạc cạc cao quý. Một con ngỗng béo là một con quác quác cao quý. Ngôn ngữ tư pháp và pháp định cũng có dư vị Normand. Một hồ sơ kiện cáo, một đơn yêu cầu, một bản dự án, đều được đặt vào phòng lục sự. Một ông bố gả chồng cho con gái không phải cho con gì cả vì nó được chồng bao hết.
Theo các điều khoản của tập quán Normand, một cô gái không chồng mà chửa, cứ việc chỉ rõ người bố của đứa con trong dân chúng. Đôi khi cô ta cũng có lựa chọn một tí. Như thế không phải là không có điều bất tiện.
Thứ tiếng Pháp mà cư dân ngày xưa trên quần đảo mới nói có lẽ không phải hoàn toàn do khuyết điểm của họ.
Cách đây mười lăm năm, có nhiều người Pháp đến Jersey, chi tiết này chúng tôi vừa nói đến (nhân thể cần nói là người ta không hiểu tại sao họ đã từ bỏ xứ sở của họ, một số cư dân gọi họ là cánh phiến loạn). Một trong số người Pháp ấy tiếp một ông giáo già dạy tiếng Pháp đến xứ sở này lập nghiệp từ lâu, theo lời ông ta nói. Đấy là một người Alsace[26] cùng đi với vợ. Ông ta tỏ ra ít có cảm tình với thứ tiếng Pháp Normand, vốn là thổ âm của biển Manche. Vừa bước vào ông ta nói to: - Tôi phởi vấc lắm khi dại tiếng Pháp cho họ. Ở đây người ta nói toàng tổ nữ.
- Sao, tổ nữ à?
- Phởi, tổ nữ.
- À, thổ ngữ chứ?
- Đúng, đúng, tổ nữ.
Ông giao tiếp tục kêu rêu về cái “tổ nữ” Normand. Bà vợ thì thầm gì đó với ông, ông liền ngoảnh lại nói ngay: - Đừng có mà nói những chuyện lènh nhèng ở đây.
XV ĐỒ CỔ VÀ ĐỒ CŨ. TẬP QUÁN, LUẬT PHÁP VÀ PHONG TỤC
Chúng ta cần nhận thấy rằng ngày nay hòn đảo Normand nào cũng có trường trung học riêng và nhiều trường tiểu học, cũng có những giáo sư giỏi người Pháp, người Guernesey và người Jersey.
Còn thổ ngữ, bị ông giáo sư người Alsace tố cáo, là một ngôn ngữ thực sự, không đáng khinh rẻ tí nào. Thổ ngữ này là một thổ âm đầy đủ, rất phong phú và rất đặc biệt. Bằng cái ánh tối tăm nhưng sâu sắc của mình, nó làm sáng tỏ những nguồn gốc của ngôn ngữ Pháp. Thổ ngữ này có những nhà thông thái chuyên môn, trong số đó phải kể đến người dịch cuốn Kinh Thánh sang tiếng Guernesey, Monsieur Métivier, người có công đối với ngôn ngữ Celt - Normand cũng như tu viện trưởng Élicagaray đối với ngôn ngữ Tây Ban Nha - Basque.
Trên đảo Guernesey có một tiểu giáo đường mái đá của thế kỷ thứ tám, và một pho tượng của người Gôloa từ thế kỷ thứ sáu, nay dùng làm khung cho một cái cửa nghĩa địa, những kiểu mẫu có lẽ duy nhất. Một kiểu mẫu duy nhất khác là một người dòng dõi của Rollon, một người thượng lưu rất chững chạc, sống lặng lẽ trên quần đảo. Ông ta bằng lòng công nhận nữ hoàng Victoria[27] là chị em họ.
Dòng họ của ông ta hình như được xác nhận và chẳng có gì hồ đồ cả.
Như chúng tôi đã nói, trên các đảo này, người ta rất quý huy hiệu của mình. Chúng tôi đã được nghe một bà trong họ M. trách những người trong họ G. Họ đã lấy gia huy của chúng tôi để đặt lên mộ của họ.
Một nông dân nói: Tổ tiên nhà tôi.
Hoa huệ rất nhiều. Nước Anh sẵn sàng chạy theo những thời thượng mà nước Pháp từ bỏ. Ít nhà tư sản nào mà sân và vườn lại không có một hàng rào hoa huệ.
Người ta rất khó chịu về những chuyện hôn nhân không đăng đối. Không biết trên hòn đảo nào, ở Aurigny thì phải, con trai một dòng họ buôn rượu rất xưa kết hôn một cách không môn đăng hộ đối với con gái một nhà mới làm mũ, ai cũng phẫn nộ, cả đảo chê trách anh con trai kia, và một bà đáng kính trọng thốt lên: Đấy có phải đâu là một cái cốc để cho bố mẹ uống! Vương bá phu nhân cũng không đến nỗi phát khùng một cách bi đát hơn, khi bà trách cứ một bà chị em họ, lấy hoàng tử Tingry, là đã “vô lại hóa với một Montmorency”.
Ở Guernesey đưa cánh tay cho một phụ nữ khoác có nghĩa là đính hôn. Một cô dâu mới, tám ngày sau khi cưới, chỉ ra khỏi nhà để đi lễ. Một chút ràng buộc, làm cho tuần trăng mật thêm phần hương vị. Một tí thẹn thùng cũng thích đáng thôi. Việc cưới xin đòi hỏi ít thủ tục đến nỗi nó có thể tiến hành ngấm ngầm. Cahaigne, ở Jersey, đã nghe những câu hỏi và trả lời sau đây trao đổi giữa một bà mẹ già với cô gái bốn mươi tuổi: - Tại sao con không lấy cái ông Stevens ấy? - Thế mẹ muốn con lấy ông ta hai lần sao? - Sao thế? - Thì chúng con đã lấy nhau bốn tháng nay rồi thôi.
Tại Guernesey hồi tháng mười năm 1863, một cô gái đã bị kết án sáu tuần tù “vì đã làm buồn phiền bố”.
XVI ĐẶC ĐIỂM, TIẾP THEO
Các đảo Manche chỉ còn có hai pho tượng, một pho ở Guernesey, của “chồng nữ vương”, pho kia ở Jersey, được người ta gọi là Ông Vua Vàng; gọi như thế vì không rõ nó tượng trưng nhân vật nào và không biết nó ghi nhớ công ơn ai. Nó đứng giữa quảng trường Saint-Hélier. Một pho tượng vô danh vẫn cứ là một pho tượng, điều ấy mơn trớn lòng tự ái một dân tộc, rất có thể đó là vinh quang của một người nào đó. Không gì trồi lên mặt đất chậm hơn một pho tượng, và cũng không gì mọc nhanh hơn. Không phải một cây sồi thì là một cái nấm. Shakespeare vẫn luôn luôn chờ đợi tượng mình trên đất Anh. Beccaria vẫn luôn luôn chờ đợi tượng mình trên đất Italia, nhưng hình như ông Dupin sắp có tượng của mình ở Pháp. Người ta thích thấy những sự tôn sùng công cộng đối với những người làm rạng rỡ cho một xứ sở, như cho Luân Đôn chẳng hạn, nơi mà xúc cảm, ngưỡng mộ, luyến tiếc, và quần chúng chịu tang cứ tăng dần vào ba đám ma của Wellington[28], của Palmerston và của võ sĩ Tom Sayers.
Jersey có một Núi Treo Cổ, Guernesey thiếu cái đó. Cách đây sáu mươi năm, người ta đã treo cổ một người ở Jersey vì đã lấy mười hai xu trong một ngăn kéo, đúng là cùng thời kỳ ấy ở Anh người ta treo cổ một em bé mười ba tuổi vì tội ăn cắp bánh, và ở Pháp người ta đưa Lesurques, vô tội, lên máy chém. Những cái hay cái đẹp chờ án tử hình.
Ngày nay Jersey, tiến bộ hơn Luân Đôn, sẽ không dung thứ giá treo cổ nữa. Án tử hình ở đấy đã mặc nhiên được hủy bỏ.
Trong nhà tù người ta giám sát rất kỹ việc đọc sách. Tù nhân chỉ có quyền được đọc Kinh Thánh. Năm 1830, một người Pháp bị kết án tử hình, tên là Béasse, được phép đọc các bi kịch của Voltaire, trong lúc chờ đợi giá treo cổ. Việc quái gở ấy ngày nay sẽ không được dung thứ nữa. Anh chàng Béasse ấy là người bị treo cổ áp cuối của Guernesey. Tapner đã và sẽ là, chúng ta hy vọng thế, người cuối cùng.
Cho đến năm 1825, pháp quan của Guernesey vẫn nhận lương ba mươi livrơ tuôcnoa như từ thời d’Edouard III; quang năm mươi frăng. Ngày nay, ông ta được ba trăm livrơ xteclinh. Ở Jersey, pháp đình nhà vua gọi là la Cohue. Một người đàn bà đứng đơn kiện gọi là l’actrice. Ở Guernesey người ta xử phạt bằng roi; ở Jersey bị cáo bị bỏ vào cũi sắt. Người ta chế giễu các thành tích nhưng lại thờ đôi ủng của Charles II. Đôi ủng được thành kính lưu trữ tại tiểu lâu đài Thánh Ouen. Thuế thập phân vẫn hiện hành. Trong lúc dạo chơi, người ta gặp những kho thuế thập phân. Hình như quyền bẻ hoa[29] bị hủy bỏ, nhưng thuế gà vẫn hoành hành. Người viết những dòng này mỗi năm vẫn nộp hai con gà mái cho Nữ hoàng Anh quốc.
Thuế má dựa một cách hơi kỳ quặc vào tổng số tài sản, thực tế hay ước đoán, của người chịu thuế. Điều này có điểm bất lợi là không thu hút được những nhà tiêu thụ lớn vào đảo. Monsieur Rothschild, nếu ở tại Guernesey trong một trang trại xinh xắn tậu quãng hai vạn frăng, sẽ đóng một nghìn năm trăm frăng tiền thuế mỗi năm. Cần nói thêm rằng, nếu chỉ cư trú năm tháng, trong năm, ông ta sẽ không phải đóng gì cả. Chính tháng thứ sáu là cái tháng tai hại.
Thời tiết, một mùa xuân kéo dài. Mùa đông, được; mùa hè, cố nhiên, nhưng không thái quá, không bao giờ có Sénégal, không bao giờ có Sibérie. Các đảo Manche là những đảo Hyères của nước Anh. Người ta gửi đến đây những lồng ngực yếu ớt của Albion. Một giáo khu của Guernesey, Saint-Martin chẳng hạn, được xem như một Nice[30] nhỏ. Không một Tempe nào, không một Gémenos nào, không một Val-Suzon nào hơn được thung lũng Bò ở Jersey và thung lũng Talbots ở Guernesey. Chỉ nhìn các sườn núi phía nam thì không gì xanh hơn, ấm hơn và mát hơn quần đảo này. Ở đây có thể sống một cách sang trọng. Những hòn đảo này đều có giới thượng lưu của chúng. Ở đây người ta nói tiếng Pháp, điều đó chúng tôi vừa nhắc lại, trong xã hội thượng lưu người ta nói: Cô ta có một bông hồng ở mũ. Ngoài điểm ấy ra, chuyện trò rất có duyên.
Jersey tôn sùng tướng Don; Guernesey tôn sùng tướng Doyle. Đây là hai vị thống đốc cũ đầu thế kỷ này. Ở Jersey có phố Don và ở Guernesey có đường Doyle. Ngoài ra, Guernesey còn xây dựng và hiến dâng cho vị tướng của mình một cái cột to trông ra biển mà đứng ở Casquets người ta có thể nhìn thấy, còn Jersey thì tặng cho vị tướng của mình một đài cổ tích. Đài cổ tích này ở gần Saint-Hélier; nó nằm trên ngọn đồi ngày nay có vị Nhiếp chính khỏe. Tướng Don đã nhận đài cổ tích, cho chở từng tảng một ở trên bờ, đưa xuống một chiếc tàu buồm, và đã mang nó đi. Đài kỷ niệm này là kỳ quan của các đảo Manche; nó là đài cổ tích hình tròn duy nhất của quần đảo; nó đã nhìn thấy người Cimmériens tưởng nhớ đến Tubal-Caïn, cũng như người Esquimaux tưởng nhớ đến Probisher; nó đã nhìn thấy người Celt mà bộ óc so với bộ óc hiện nay chỉ bằng 13 trên 18; nó đã nhìn thấy những vọng lâu kỳ lạ bằng gỗ mà người ta còn tìm thấy bộ sườn trong các cổ mộ, và làm cho trí óc phải do dự giữa ngữ nguyên domgio của Du Cange và ngữ nguyên domi-junctœ của Barleycourt; nó đã nhìn thấy những cái chùy bằng đá lửa, và những cái rìu của người Goloa cổ xưa; nó đã nhìn thấy Teutatès vĩ đại đan bằng liễu; nó tồn tại trước bức thành La Mã, nó chứa đựng bốn nghìn năm lịch sử; ban đêm các thủy thủ trông thấy từ xa dưới ánh trăng cái vành tròn to những quả núi đứng thẳng trên vách biển cao của Jersey. Ngày nay đấy là một đống đá trong một góc của một Yorkshire nào đấy.
XVII TÍNH SỔ NHỮNG ĐIỂM CỰC ĐOAN
Quyền trưởng nam tồn tại, thuế thập phân tồn tại; giáo khu tồn tại, lãnh chúa tồn tại, có lãnh chúa thái ấp và lãnh chúa tiểu lâu đài; lối kêu phản đối tồn tại, “vụ kiện phản đối giữa Nicolle, dũng sĩ tùy tùng, và Godfrey, lãnh chúa Méléches, đã được chồng lên các ngài tư pháp sau khi tòa án đã được thiết lập theo yêu cầu thường lệ” (Jersey, 1864). Loại livrơ tuôcnoa tồn tại, quyền thừa kế tức khắc[31] và quyền từ chối thừa kế tồn tại, quyền tịch thu hàng lậu tồn tại, thuế bồi thuộc tồn tại, quyền rút khỏi đồng tông tồn tại, quá khứ tồn tại. Người ta là ông lớn. Có pháp quan. Có senechal[32], có trưởng đoàn một trăm, trưởng đoàn hai mươi, trưởng đoàn mười hai. Có thuế một phần hai mươi hoa lợi Saint-Sauyeur và quyền thu hoạch ở Saint-Ouen. Năm nào cũng có nguyên soái cưỡi ngựa để chia tách đường sá. Tử tước dẫn đầu, “tay cầm cây sào lệnh”. Có giờ giáo hội trước ngọ. Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, lễ Thánh Jean và lễ Thánh Michel là những kỳ-nhật pháp định. Người ta không bán bất cứ bất động sản nào mà chỉ cho thuê lấy lợi. Người ta được nghe những lời đối thoại như sau trước tòa án: “Bẩm quan thị trưởng, có phải ngày, giờ, và địa điểm các phiên tòa của tòa án lãnh địa và thái ấp đã được công bố không? - Phải. - Amen. - Amen”. “Trường hợp dân quê không công nhận đất làm rẽ của mình nằm trong đất người khác” đã được dự kiến trước. Có những “chuyện ngẫu nhiên, những tài sản tìm được, những đám cưới, v.v… mà lãnh chúa có thể lợi dụng”. “Lãnh chúa được quyền giám thị cho đến khi có mặt người có quyền trước pháp luật”. Có lệnh trình diện và sự thú nhận, có chứng cứ và điều tra chứng cứ; có trưởng phiên tòa, phong ấp, quyền sở hữu; có thái ấp và quyền của nhà vua.
Bạn cho như thế là hoàn toàn trung cổ ư; không, hoàn toàn tự do. Bạn cứ đến, cứ sống, cứ làm ăn. Bạn cứ đi chỗ nào bạn muốn, cứ làm điều gì bạn thích, cứ đóng vai người mà bạn ưng. Không ai có quyền biết tên bạn. Bạn có một Đức Chúa Trời của bạn phải không? Bạn cứ việc thuyết giáo. Bạn có một lá cờ của bạn ư? Bạn cứ việc giương nó lên. Ở đâu? Ở ngoài đường. Cờ trắng à? Được. Cờ xanh ư? Tốt lắm. Cờ đỏ chứ? Đó cũng là một màu sắc. Bạn thích tố cáo chính quyền? Cứ việc trèo lên cột mốc mà nói. Bạn muốn hội họp công khai ư? Cứ hội họp. Bí mật ư? Cứ hội họp. Bao nhiêu người? Muốn bao nhiêu cũng được. Trong giới hạn nào? Chẳng có giới hạn nào cả. Bạn muốn tập hợp dân chúng phải không? Xin cứ việc. Tại đâu? Trên quảng trường. Tôi sẽ tấn công nền quân chủ ư? Chuyện ấy không liên quan gì đến chúng tôi. Tôi muốn dán áp phích ư? Khối tường đấy. Bạn cứ suy tư, cứ nói, cứ viết, cứ in, cứ diễn thuyết, đấy là việc của bạn.
Một mặt, nghe tất cả và đọc tất cả, như thể hàm ý, mặt khác, nói tất cả và viết tất cả. Vậy là quyền tự do tuyệt đối về ngôn luận và báo chí. Ai muốn làm chủ nhà in cứ làm, ai muốn truyền giáo cứ truyền, ai có thể làm chủ giáo cứ làm. Chỉ tùy thuộc ở bạn để trở thành giáo hoàng. Muốn thế bạn cứ sáng tạo ra một tôn giáo. Bạn cứ tưởng tượng ra một hình thức mới về Chúa mà bạn sẽ là nhà tiên tri. Chẳng ai có việc gì mà dòm ngó vào đấy. Nếu cần, cảnh sát giúp đỡ bạn. Không chút ngăn trở. Hoàn toàn tự do, cảnh tượng thật huy hoàng. Người ta tranh luận việc tòa án đã xử. Cũng như người ta thuyết giáo với cha cố, người ta xét đoán cả quan tòa. Báo chí in: “Hôm qua tòa án đã ra một phán quyết bất công”. Lầm lẫn tự nhiên của tòa án không có quyền gì được tôn trọng cả, lạ lùng thật. Công lý của con người cũng như đạo giáo bị phó mặc cho bài bác. Tính độc lập cá nhân khó lòng mà đi xa hơn. Mỗi người là chúa tể của chính mình, không phải do luật pháp mà do phong tục. Quyền làm chủ thật hoàn toàn và hòa lẫn vào cuộc sống đến mức có thể nói là người ta không cảm thấy nó nữa. Luật pháp trở thành dễ thở, nó không có màu sắc, không ai để ý đến nó và nó cần thiết như không khí. Đồng thời người ta “trung thực”. Đấy là những công dân dám tự hào mình là thần dân. Nói chung, thế kỷ thứ mười chín trị vì và thống trị. Nó lọt qua tất cả các cửa sổ của tòa nhà trung cổ vẫn đứng sừng sững ấy. Nền pháp luật già nua của Normand bị tự do xuyên suốt từ bên nọ qua bên kia. Túp nhà nát ấy tràn ngập thứ ánh sáng kia. Chưa bao giờ sai lầm về thời đại lại ít ngang ngạnh như thế. Lịch sử cho quần đảo này tính chất gothic, công nghiệp và trí tuệ lại làm cho nó thành hiện đại. Nó thoát khỏi sự trì trệ là hoàn toàn nhờ lồng phổi của dân chúng. Điều đó không ngăn cản người ta trở thành lãnh chúa của Mélèches. Một chế độ phong kiến đương nhiên, một chế độ cộng hòa thực sự. Hiện tượng là như vậy.
Nền tự do ấy chịu đựng một biệt lệ, một thôi, điều ấy chúng tôi đã nói rõ. Ở Anh, có một bạo chúa. Bạo chúa của người Anh trùng tên với chủ nợ của Đông Giuăng, nó tên là Chủ nhật. Nước Anh là dân tộc đã nói: time is money[33], bạo chúa Chủ nhật thu hẹp tuần lễ hoạt động lại còn có sáu ngày, nghĩa là lấy mất của người Anh một phần bảy tư bản. Và không thể có một chống đối nào hết. Ngày chủ nhật trị vì bằng phong tục, chuyên chế khác hẳn luật pháp. Chủ nhật, ông vua ấy của nước Anh, có vị đông cung thái tử là bệnh ưu uất. Thái tử có quyền buồn chán. Thái tử đóng cửa các xưởng thợ, các phòng bào chế, các thư viện, các viện bảo tàng, các rạp hát, hầu như đóng cả các vườn hoa và các rừng cây. Tuy vậy, chúng ta cần nhấn mạnh điểm này, ngày chủ nhật của Anh ức hiếp Jersey ít hơn Guernesey. Ở Guernesey, một bà chủ quán nghèo người Pháp rót một cốc bia cho một khách dạo chơi, đúng vào ngày chủ nhật, mười lăm ngày tù. Một người bị trục xuất, làm thợ giày, muốn lao động ngày chủ nhật để nuôi vợ con; y đóng cửa ván lại để người ta khỏi nghe tiếng búa; nếu để người ta nghe được là bị phạt tiền. Một chủ nhật nọ, một họa sĩ, từ Paris đến, vừa mới xuống tàu, dừng chân trên đường để vẽ một cái cây, một vị trưởng đoàn một trăm gọi ông ta lại, bắt phải dừng ngay cái việc ô nhục ấy, và vì khoan hồng, sẵn lòng không giam ông ta vào phòng lục sự. Một anh thợ cạo ở Southampton cạo mặt cho một khách qua đường vào ngày chủ nhật; anh ta trả cho sở thuế ba livrơ xteclinh. Rất đơn giản, hôm ấy Chúa phải nghỉ ngơi.
Vả lại, hạnh phúc thay cái dân tộc được tự do sáu ngày trên bảy. Vì chủ nhật được xem như đồng nghĩa với nô lệ, chúng tôi được biết có những nước mà tuần lễ có bảy ngày chủ nhật.
Sớm muộn rồi những trở ngại ấy cũng sẽ hết. Tất nhiên tư tưởng chính thống khó lay chuyển. Tất nhiên vụ khởi tố giám mục Golensa chẳng hạn là nghiêm trọng. Tuy vậy các bạn nên nghĩ đến bước đường tự do mà nước Anh đã đi từ thời Elliot bị đưa ra tòa đại hình vì đã nói là trên mặt trời có người ở.
Có một mùa thu để các thành kiến rơi rụng. Đấy là giờ phút suy tàn của các nền quân chủ. Giờ phút ấy đã đến.
Văn minh của quần đảo Normand đang đi và sẽ không dừng lại. Nền văn minh ấy có tính chất địa phương, điều ấy không ngăn cản nó vẫn mến khách tứ chiếng. Thế kỷ mười bảy nó đã nhận được ảnh hưởng cách mạng Anh, và thế kỷ mười chín, ảnh hưởng cách mạng Pháp. Nó đã hai lần chịu đựng sự rung chuyển sâu sắc của độc lập.
Hơn nữa, tất cả các quần đảo đều là những xứ sở tự do. Tác dụng huyền bí của biển cả và gió trời.
XVIII CHỖ NƯƠNG THÂN
Những hòn đảo ấy, ngày xưa đáng sợ, ngày nay đã trở nên hiền hòa. Trước kia chúng là chốn hiểm nghèo, bây giờ chúng là nơi nương náu. Những nơi nguy khốn ấy đã trở thành những địa điểm cứu nguy. Ai thoát khỏi tai họa đều nổi lên ở đấy. Tất cả những ai bị chìm đắm đều đến đấy, người vì bão táp, kẻ vì cách mạng. Những con người ấy, thủy thủ và lưu đày, ướt đẫm những bọt sóng khác nhau, cùng nhau phơi mình dưới ánh mặt trời ấm áp. Ở đây, Chateaubriand, trẻ, nghèo, tối tăm, không tổ quốc, đã ngồi trên một hòn đá của cái bến Guernesey ngày xưa. Một bà chất phác đã nói với ông: Anh bạn ơi, anh bạn cần gì? Thật là một niềm an ủi ngọt ngào lớn đối với con người Pháp bị trục xuất, và gần như một sự xoa dịu huyền bí khi được gặp lại trên Channel Islands cái thổ ngữ chính là văn minh ấy, những giọng nói tỉnh lẻ của chúng ta, những tiếng hò reo trên các hải cảng của chúng ta, những điệp khúc trên các đường phố và nông thôn của chúng ta, “reminiscitur Argos”. Louis XIV đã vứt vào cái bộ lạc Normand cổ xưa này một đội ngũ người Pháp hiền lành nói năng lịch sự; việc bãi bỏ sắc dụ Nantes[34] đã tiếp tế tiếng Pháp cho các đảo. Những người Pháp ở ngoài nước Pháp sẵn lòng sống hết quãng đời còn lại của họ trên quần đảo Manche này; họ rong chơi trên các hòn núi này, mơ màng kiểu những con người chờ đợi; sự lựa chọn này tự giải thích bằng niềm say mê được nghe lại cái thổ ngữ của quê hương. Người được Charles X nói: Nhân đây, trẫm quên nói với khanh rằng trẫm đã phong cho khanh làm quận công, hầu tước de Rivière thường khóc trước những cây táo ở Jersey và ưa thích đường phố Pier ở Saint-Hélier hơn phố Oxford của Luân Đôn. Quận công d’Anville, là Rohan và La Rochefoucauld, ở ngay trong đường phố Pier này. Một hôm, ông d’Anville, có một con chó săn lùn già, nhờ một thầy thuốc ở Saint-Hélier khám bệnh cho mình, và ông thấy cũng nên nhờ khám hộ cho cả con chó. Ông yêu cầu người thầy thuốc Jersey cho con chó của mình một đơn thuốc. Con chó cũng chẳng ốm đau gì, nhưng đấy là một lối đùa vui của kẻ quyền quí. Ông bác sĩ cho ý kiến. Hôm sau vị quận công nhận được của ông bác sĩ một đơn tính tiền như sau:
Hai lần khám bệnh:
1 - Cho ông quận công, một lu-i.
2 - Cho con chó của ông, mười lu-i.
Trước đây, các đảo này là nơi ẩn náu của số phận: tất cả mọi thứ định mệnh đều đã đi qua đấy, từ Charles II thoát khỏi Cromwell cho đến quận công Berry đi Luven. Cách đây hai nghìn năm, César bị nộp cho Brutus, đã đến đấy. Từ thế kỷ thứ mười bảy, các đảo này đã tỏ ra thân ái đối với toàn thế giới; tinh thần mến khách là vinh dự của chúng. Chúng có lòng vô tư của chốn nương thân, là bảo hoàng, chúng đón tiếp nền cộng hòa thất bại; là huguenot[35], chúng thu nhận đạo Cơ đốc di cư. Chúng còn lịch sự với đạo Cơ đốc đến mức, điểm này chúng tôi đã nói rồi, cũng ghét Voltaire không kém. Và vì, theo nhiều người, nhất là theo các tôn giáo nhà nước, ghét bỏ kẻ thù của chúng ta là cách yêu mến chúng ta tốt nhất, trên các đảo Manche, đạo Cơ đốc phải hết sức được yêu quí.
Đối với một người mới tới, vừa thoát khỏi một cảnh chìm đắm và đến đây tiến hành một cuộc thực tập trong số phận lạ lùng, thì đôi khi không khí trĩu nặng của những chốn cô liêu này cũng thật sâu sắc; trong không khí đượm niềm thất vọng; và thình lình người ta cảm thấy ở đấy một sự vuốt ve mơn trớn, một làn gió thoảng qua nâng đỡ bạn. Làn gió ấy là cái gì? Một âm điệu, một lời nói, một tiếng thở dài, chẳng là gì cả. Cái chẳng là gì cả ấy cũng đủ. Trên đời ai là người không có một lần cảm thấy sức mạnh của điều này: một vật chẳng đáng gì?
Cách đây mươi, mười hai năm, một người Pháp, mới từ trên tàu bước xuống Guernesey, vơ vẩn trên một bãi biển phía tây, cô đơn, buồn rầu, chua chát, ngẫm nghĩ đến tổ quốc bị mất. Ở Paris, người ta rong chơi, ở Guernesey người ta vơ vẩn. Đối với ông lúc ấy, đảo này có vẻ thê lương. Bốn bề sương phủ, bãi bờ ầm vang sóng nước, từng đám bọt biển to dội vào núi đá, bầu trời thù nghịch và đen sạm. Vậy mà lúc đấy đang giữa mùa xuân, nhưng xuân biển cả có một cái tên dữ tợn, đó là tiết xuân phân. Nó dễ thành cuồng phong hơn gió mát, và người ta có thể dẫn chứng một ngày tháng năm, dưới làn gió ấy, bọt sóng đã nhảy lên đến hơn sáu mét trên mũi cột tín hiệu hiện nằm ở sân thượng cao nhất của lâu đài Cornet. Người Pháp ấy cảm thấy mình đang ở trên đất Anh; ông không biết lấy một câu tiếng Anh; ông thấy một lá cờ Anh cũ, bị gió xé rách đang phần phật trên ngọn tháp đổ ở đầu một mũi đất hoang vắng; ở đấy có hai ba túp lều; xa xa chỉ toàn cát, đất hoang, đầm lầy, kim tước gai; dăm ba pháo đài là mặt đất, lỗ châu mai rộng, chia góc ra ngoài; những tảng đá do con người đục đẽo cũng rầu rầu như những quả núi bị biển cả bào gọt, người Pháp kia cảm thấy chớm nở trong lòng niềm tang tóc dày nặng, mở đầu cho tình luyến nhớ quê hương; ông nhìn ngó, ông lắng tai; không một tia nắng; những con cốc đi săn, những đám mây trốn chạy; khắp nơi trên chân trời một màu chì nặng trĩu; một bức màn rộng xám xịt từ đỉnh trời buông xuống; bóng ma ưu uất nằm trong tấm khăn liệm của bão táp; không một chút gì gọi là hy vọng, và không một chút gì giống như tổ quốc; người Pháp kia mơ màng, mỗi lúc một thêm ủ dột; thình lình ông ngẩng đầu lên; một giọng nói từ một túp lều hé mở thoát ra, một giọng nói trong sáng, mát rượi, yếu ớt, một giọng nói trẻ con; giọng ấy hát:
Tung tăng nhảy múa trên đồng,
Tung tăng khắp chốn rừng thông một mình,
Tung tăng đùa bỡn với tình.
XIX:
Tất cả những phút giây tưởng nhớ đến nước Pháp trên quần đảo không phải đều đẹp đẽ như nhau. Chúng tôi được biết một người qua đường, trên đảo Serk kỳ diệu; một chủ nhật, ông ta nghe trong sân một trại ấp đoạn sau đây của một bài thánh ca cũ bằng tiếng Pháp của phái tân giáo huguenot, đồng ca rất trang trọng qua những giọng hát tôn nghiêm mang âm điệu Calvinistes trầm trầm:
Thiên hạ đều thối tha
Như một xác ma.
Chỉ mỗi Jésus lòng lành
Của tôi là có mùi thơm.
Thật u buồn và hầu như đau xót khi nghĩ rằng tại vùng núi Cevennes, người ta đã chết vì những lời ấy. Đoạn hát trên đây, mang một tính chất khôi hài vô tâm cao độ, thật bi thảm. Nghe nó người ta cười, nhưng lẽ ra người ta phải khóc. Về đoạn hát này, Bossuet, một trong số bốn mươi ngài trong viện hàn lâm Pháp, đã hét lên: Giết! Giết!
Vả lại, đối với lòng cuồng tín, ghê tởm khi chính nó ngược đãi, tôn nghiêm và xúc động khi nó bị ngược đãi, thì bài thánh ca bề ngoài chẳng là gì cả. Trong lòng nó vẫn có bài hát vĩ đại và buồn thảm để bí mật hát lên trong tâm hồn qua tất cả các lời ca. Ngay trong vẻ hài hước, nó cũng thắm đượm tính chất cao cả và bất chấp lời thơ, lời văn của các cha cố, nó vẫn làm biến đổi lời văn và lời thơ ấy bằng sự hài hòa mênh mông tiềm tàng ở lòng tin của nó. Nó sửa chữa các câu nói xấu xa hằng dùng bằng sự vĩ đại của các thử thách chấp nhận và các cực hình chịu đựng. Nơi nào thiếu chất thơ, nó đem lương tâm điền vào. Lời văn trong bản ca kịch tử vì đạo có thể tầm thường, không sao, nếu cái chết vì đạo cao thượng.
XX HOMO EDAX[36]
Trong một thời gian nhất định hình thể của một hòn đảo luôn luôn thay đổi. Đảo là một công trình xây dựng của đại dương. Vật chất vĩnh viễn, hình dáng thì không. Tất cả mọi thứ trên trái đất thường xuyên bị cái chết nhào nặn, kể cả những công trình kiến trúc ngoài nhân loại, dù là đá hoa cương. Tất thảy đều biến dạng, kể cả cái không có hình dạng. Những công trình của biển cả cũng sụp đổ như mọi cái khác.
Biển cả đã dựng xây chúng lên, biển cả lại lật nhào chúng xuống.
Trong một nghìn năm trăm năm, chỉ riêng từ cửa sông Elbe đến cửa sông Rhin, trong số hai mươi ba đảo có bảy hòn đã chìm nghỉm.
Các bạn cứ tìm chúng ở dưới đáy biển. Chính vào thế kỷ thứ mười ba, biển đã làm nên hải loan Zuyderzée[37]; chính vào thế kỷ thứ mười lăm, biển đã tạo nên vịnh Bies-Bosch, hủy bỏ cả hai mươi hai làng; chính vào thế kỷ thứ mười sáu, biển đã chôn vùi Torum, ứng tác ra vịnh Dollart. Cách đây một trăm năm trước thị trấn Ault, ngày nay bị cắt thẳng đứng trên vách biển Normand, người ta còn thấy dưới làn sóng bạc cái gác chuông của thị trấn Ault ngày xưa. Nghe nói ở Úcré-Hou, đôi khi lúc triều xuống, người ta vẫn nhận thấy những cái cây ngày nay nằm dưới đáy biển của khu rừng nước Gaulois cũ bị chìm ngập vào thế kỷ thứ tám. Ngày xưa, Guernesey dính liền với Herm, Herm liền với Serk, Serk liền với Jersey và Jersey liền với nước Pháp. Giữa nước Pháp và Jersey, một em bé thường bước qua eo biển. Người ta đã vứt xuống đấy một bó củi, lúc giám mục Coutances đi qua, để giám mục khỏi ướt chân.
Biển cả xây dựng và phá hủy; con người lại tiếp tay cho biển cả, không phải để xây dựng, mà để phá hoại.
Trong tất cả những cái răng của thời gian, cái làm việc nhiều nhất là cái cuốc của con người. Con người là một loài thú gặm nhấm. Tất cả mọi thứ đều thay đổi và hư hỏng dưới bàn tay nó, để trở nên tốt hơn hoặc để thành tệ hại hơn. Chỗ này nó làm biến dạng, chỗ kia nó làm thay hẳn bộ mặt. Đèo Roland không đến nỗi phi thường như vẻ ngoài của nó; con người đẽo gọt thiên nhiên. Vết sẹo do lao động con người rất dễ nhận thấy trên công trình của Chúa. Hình như con người có nhiệm vụ phải hoàn thành một số công việc nào đó. Nó làm cho công cuộc sáng tạo thích hợp với nhân loại. Nhiệm vụ của nó là như thế. Nó có đủ táo bạo để làm việc ấy; hầu như có thể nói là đủ tinh thần nghịch đạo. Sự cộng tác đôi khi xúc phạm. Con người, cái giống sống kiếp phù du ấy, con vật suốt đời chết mòn ấy, định giễu cợt vô biên. Đối với mọi ngọn triều lên xuống của thiên nhiên, đối với nguyên tố muốn liên kết với nguyên tố, đối với các hiện tượng xung quanh, đối với sự luân lưu rộng lớn của các sức mạnh dưới vực sâu, con người biểu thị sự bao vây của nó. Nó cũng nói ngươi sẽ không đi xa hơn đâu. Nó có sự tùy tiện của nó, mà vũ trụ buộc phải chấp nhận. Vả lại nó chẳng có riêng một vũ trụ là gì? Nó muốn làm theo ý muốn nó. Một vũ trụ là một thứ nguyên vật liệu. Trần gian, công trình của Chúa, là bản phác họa của con người.
Tất cả mọi thứ đều hạn chế con người nhưng không gì ngăn chặn được nó. Nó trả lời giới hạn bằng cách bước qua. Cái không thể làm được là một biên giới lúc nào cũng lùi lại.
Một cơ sở địa chất mà dưới móng có bùn hồng thủy và trên đỉnh có tuyết vĩnh cửu, đối với con người cũng chỉ là một bức tường như mọi bức tường khác, nó cứ chọc thủng và đi qua. Nó cắt một eo đất, khoan thủng một núi lửa, đẽo gọt một vách biển, moi rỗng một vỉa quặng, biến một hải giác thành những tảng nhỏ. Ngày xưa, con người khó nhọc như thân nó. Việc giảm bớt ngu muội ấy gọi là tiến bộ. Con người lao động tại nhà mình, và nhà nó là quả đất. Con người đảo lộn, di chuyển, bỏ bớt, triệt hạ, san bằng, phá sập, moi rỗng, đào bới, đập vỡ, nghiền nát, xóa bỏ cái nọ, phế bỏ cái kia, và xây dựng lại bằng việc phá hủy. Không gì khiến nó phải do dự, không một khối nào, không một tảng nào, không một chướng vật cồng kềnh nào, không một quyền lực nào của vật chất huy hoàng, không một uy phong nào của thiên nhiên. Nếu các công trình to lớn của tạo hóa vừa sức nó thì nó phá tan tành. Khía cạnh có thể phá hủy ấy của Chúa cám dỗ nó, và tay cầm búa nó tấn công vào vô biên. Rồi đây có lẽ tương lai sẽ nhìn thấy dãy núi Alpes[38] bị triệt hạ. Hỡi địa cầu, hãy để mặc cho cái kiến của mi tàn phá.
Em bé, đập phá đồ chơi, có vẻ muốn tìm kiếm linh hồn của đồ chơi. Con người dường như cũng muốn tìm kiếm linh hồn của quả đất.
Tuy vậy chúng ta không nên phóng đại sức mạnh của chúng ta, con người dù có làm gì đi nữa thì những nét lớn của tạo hóa cũng vẫn tồn tại mãi; cái khối cuối cùng không tùy thuộc ở con người. Nó có thể chi phối chi tiết chứ không thể chi phối được toàn bộ. Như vậy là tốt. Cái Toàn - thể thuộc về Thượng đế… Các quy luật đều ở trên chúng ta. Những điều ta làm không vượt khỏi bề mặt. Con người mặc áo hoặc cởi áo cho quả đất; đốn rừng chỉ là một việc cởi bỏ quần áo. Nhưng làm chậm sự xoay chuyển của quả đất trên địa trục, thúc đẩy bước đi của quả đất trên quỹ đạo, thêm hoặc bớt một toise[39] vào chặng đường bảy trăm mười tám nghìn dặm mỗi ngày mà quả đất xoay quanh mặt trời, thay đổi tuế-sai của các tiết cân phân, bớt đi một giọt mưa, thì không bao giờ! Cái gì ở trên cao vẫn ở trên cao. Con người có thể thay đổi thời tiết, nhưng không thể thay đổi được bốn mùa. Bạn thử bắt mặt trăng xoay ngoài vòng hoàng đạo xem!
Có những người mơ mộng, một số rất tiếng tăm, đã mơ đến việc trả lại mùa xuân vĩnh viễn cho trái đất. Những mùa quá khích, hạ và đông, đều do trục quay quả đất quá nghiêng trên mặt phẳng của vòng hoàng đạo mà chúng ta vừa nói đến. Để loại bỏ những mùa ấy, chỉ cần dựng thẳng cái trục xoay. Còn gì đơn giản hơn. Cứ cắm vào địa cực một cái cọc dài xuyên đến tận tâm quả đất, buộc vào đấy một sợi xích, tìm ở ngoài quả đất một trường lực, kiếm lấy mười tỷ cỗ ngựa, mỗi cỗ mười tỷ con, bắt kéo, trục sẽ đứng thẳng, và bạn sẽ có được mùa xuân của bạn. Xem đấy thì thấy chẳng cần phải làm gì nhiều lắm.
Chúng ta hãy tìm kiếm địa đàng ở nơi khác. Mùa xuân quý thật nhưng tự do và công lý giá trị hơn. Địa đàng mang tính chất tinh thần, chứ không mang tính chất vật chất.
Tự do và chính trực điều đó tùy thuộc ở ta.
Sự yên tĩnh ở trong thâm tâm. Mùa xuân vĩnh cửu của chúng ta nằm trong lòng ta.
XXI SỨC MẠNH CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐẬP ĐÁ
Guernesey là một bộ tam. Nữ hoàng của các bộ tam là đảo Sicile. Sicile thuộc về Neptune[40], và mỗi một góc trong ba góc của nó lại được hiến dâng cho một mũi nhọn của đinh ba. Ba mũi đất có ba đền thờ, một dâng cho Dextra, một dâng cho Dubia, một dâng cho Sinistra. Dextra là mũi nhọn của các con sông, Sinistra, mũi nhọn của các biển cả, Dubia, mũi nhọn của các cơn mưa. Dù đức Pharaon[41] Psammuthis có nói gì, có dọa Trasidée, vua của Agrigente, sẽ làm cho Sicile “tròn như một cái đĩa” những bộ tam ấy cũng vẫn thoát khỏi sự đẽo gọt lại của con người, và sẽ giữ gìn ba hải giác của chúng cho tới khi trận đại hồng thủy đã làm nên chúng đến phá hủy chúng.
Sicile sẽ luôn luôn có mùi Pelore hướng về nước Italia, mũi Pachynum hướng về Hy Lạp và mũi Lilybee hướng về châu Phi, và Guernesey sẽ luôn luôn có mũi nhọn Ancresse ở phía Bắc, mũi nhọn Plainmont ở phía tây nam, và mũi nhọn Jerbourg ở phía đông nam.
Ngoài điểm đó ra, đảo Guernesey đang trên đường hủy hoại. Chất hoa cương ấy tốt, ai muốn mua? Toàn bộ vách biển đều bị bỏ thầu. Cư dân đem hòn đảo ra bán lẻ. Ngọn núi kỳ lạ Roque-au-diable vừa mới bị mua bán vì mấy đồng livrơ xteclinh, công trường đá rộng lớn Ville-Baudue hết, người ta sẽ sang công trường khác.
Tất cả nước Anh đòi hỏi thứ đá ấy. Chỉ riêng cho cái đập xây dựng trên sông Tamise, cũng sẽ cần hai mươi vạn tấn. Những người trung thực thiết tha đến sự vững bền của các bức tượng vua rất tiếc rằng cái bệ tượng đồng Albert, bằng đá hoa cương Cheesering, đã không được làm bằng thứ đá quí Guernesey. Dù sao, bờ biển Guernesey cũng đang sụp đổ trước mũi cuốc. Trong bốn năm, tại Saint-Pierre-Port, trước cửa sổ các cư dân Falue, một quả núi đã biến mất.
Và việc ấy ở châu Mỹ cũng diễn ra như ở châu Âu. Vào giờ này, Valparaiso đang bán đấu giá cho thợ đá các ngọn đồi huy hoàng đáng kính trọng đã cho nó cái tên là Thung lũng Thiên đường.
Những người Guernesey kỳ cựu không nhận ra hòn đảo của họ nữa. Họ chỉ muốn thốt lên: người ta đã thay đổi quê hương tôi. Wellington cũng thường nói như thế về Waterloo, quê hương ông. Bạn hãy thêm vào đấy rằng Guernesey, trước kia nói tiếng Pháp, giờ đây nói tiếng Anh; một sự hủy diệt khác.
Cho đến năm 1805, Guernesey đã bị cắt thành hai đảo. Một con sông biển xuyên qua nó từ bên này sang bên kia, từ núi Crevel phía đông sang núi Crevel phía tây. Nhánh biển này đổ ra phía tây trước mặt hòn Fruquiers và hai hòn Sauts Roquiers; nó có những vịnh ăn khá sâu vào đất liền, một vịnh ăn vào đến tận Salterns; người ta gọi nhánh biển này là Braye du Valle. Thế kỷ trước, Saint-Sampson là một bến đò hai phía của một con đường trên đại dương. Đường hẹp và ngoằn ngoèo. Cũng như người Hà Lan đã tát cạn biển Harlem làm thành một cánh đồng khá xấu, người Guernesey đã lấp Braye du Valle, giờ đây là đồng cỏ. Họ đã biến con đường trên thành một ngõ cụt, ngõ cụt ấy là cảng Saint-Sampson.
XXII LÒNG NHÂN HẬU CỦA NHÂN DÂN TRÊN QUẦN ĐẢO
Ai đã được thấy quần đảo Normand đều yêu mến nó, ai đã từng sống trên quần đảo đều quý trọng nó.
Đấy là một dân tộc cao quí, bé nhỏ, vĩ đại về tâm hồn, tâm hồn của biển cả. Những con người trên các đảo Manche ấy là một chủng tộc đặc biệt. Họ có một cái gì hơn hẳn “miền đất liền”, họ tỏ ra ngạo mạn với nước Anh, đôi khi cũng sẵn sàng khinh thị “ba hay bốn lọ hoa trong cái hồ nước ấy”. Jersey và Guernesey đáp lại: Chúng tôi là người Normand, và chính chúng tôi đã chinh phục nước Anh. Người ta có thể mỉm cười, người ta cũng có thể khâm phục.
Rồi một ngày kia, Paris sẽ làm cho người ta theo mốt các hòn đảo ấy và sẽ làm cho chúng giàu có, chúng xứng đáng như vậy. Một sự thịnh vượng không ngừng phát triển đang chờ đợi, ngày mà chúng được biết đến. Chúng có cái nét quyến rũ đặc biệt là kết hợp một khí hậu dành cho nhàn rỗi với một dân tộc sinh ra để lao động. Bài ca đồng vọng ấy là một công trường, quần đảo Normand ít nắng hơn quần đảo Cyclades nhưng nhiều cây xanh hơn, nó cũng nhiều cây xanh như Orcades và nhiều nắng hơn. Nó không có đền Astypalée, nhưng nó lại có những lâu đài cổ tích, nó không có động Fingal, nhưng nó có Serk. Cối xay Huet có thể sánh với Tréport, bãi cát Azette không kém gì Trouville; Piémont cũng chẳng thua gì Étretat. Xứ sở đẹp đẽ, dân tộc trung hậu lịch sử kiêu hùng. Khía cạnh hoang dã thật là tôn nghiêm. Quần đảo có một sứ đồ, Hélier, một nhà thơ, Robert Wace, một anh hùng, Pierson. Trong số những tướng lĩnh tài nhất và những đô đốc giỏi nhất nước Anh, nhiều người sinh tại quần đảo. Những ngư dân nghèo ấy nếu gặp dịp đều tỏ ra rộng rãi; trong những lần quyên góp giúp người bị lụt ở Lyon và bị đói ở Manchester, Jersey và Guernesey đã cho nhiều hơn cả nước Pháp và nước Anh, so sánh theo tỷ lệ[42].
Trong lối sống buôn lậu xa xưa của họ, những dân tộc ấy còn giữ được ưa thích kiêu căng trước phiêu lưu và mạo hiểm. Họ đi khắp bốn phương trời. Như một bầy ong, họ rời bỏ xứ sở. Quần đảo Normand ngày nay đi tìm thuộc địa, cũng như quần đảo Hy Lạp xưa kia. Đấy là một vinh dự. Có người Jersey và người Guernesey ở châu Úc, ở California, ở Ceyland. Bắc Mỹ có Jersey-Mới (New Jersey) ở bang Ohio. Những người Anh-Normand ấy, tuy hơi trì trệ vì môn phái, vẫn có một năng khiếu tiến bộ không bao giờ mất. Đủ kiểu mê tín, đúng, nhưng cũng hoàn toàn đầy lý tính. Nước Pháp trước kia chẳng phải là ăn cướp ư? Nước Anh trước kia chẳng ăn thịt người là gì? Chúng ta nên khiêm tốn, và hãy nghĩ đến tổ tiên thích xâm mình của chúng ta.
Nơi nào nghề thổ phỉ phát đạt, nơi đó ngự trị nghề buôn. Một sự biến hóa tuyệt vời. Công trình thời đại, hẳn thế, nhưng cũng là của con người. Tấm gương cao cả ấy, chính quần đảo bé tí ấy cho. Những loại quốc gia nhỏ bé ấy làm chứng cho văn minh. Chúng ta hãy yêu mến chúng và hãy tôn kính chúng. Những tiểu vũ trụ ấy thu nhỏ lại, trong tất cả các giai đoạn của nó, sự hình thành vĩ đại của con người.
Jersey, Guernesey, Aurigny, xưa kia sào huyệt, ngày nay công trường. Trước đây bãi ngầm, hiện giờ hải cảng.
Đối với người quan sát những chuyện đổi thay gọi là lịch sử ấy, không có cảnh nào xúc cảm bằng được nhìn thấy, từng bước vươn lên và xuất hiện trước mặt trời văn minh cái dân tộc tối tăm kia của biển cả. Con người của tăm tối ngoảnh lại và nhìn thẳng vào bình minh. Không gì vĩ đại hơn, không gì bi tráng hơn. Xưa kia hải tặc, ngày nay thợ thuyền, xưa kia man rợ, ngày nay công dân, xưa kia lang sói, ngày nay con người. Nó có kém phần táo bạo hơn ngày xưa không?
Không. Nhưng tính táo bạo này hướng về ánh sáng. Khác biệt thay giữa ngành hàng hải hiện thời, chạy ven bờ, dọc theo duyên hải, buôn bán, lương thiện, hữu nghị, với thứ chiến thuyền dị hình ngày xưa, lấy câu Homo homini monstrum[43] làm châm ngôn. Rào chắn đổi thành cầu qua lại. Chướng vật trở thành vật dẫn đường. Nơi xưa kia dân tộc ấy là hải tặc thì ngày nay nó là hoa tiêu. Và nó gan dạ, liều lĩnh hơn bao giờ hết. Xứ sở ấy vẫn là xứ sở của mạo hiểm trong khi trở thành xứ sở của lòng chính trực. Điểm xuất phát càng nhỏ bé, bước tiến lên càng cảm động. Vết phân chim trên cái vỏ trứng khiến ta càng thán phục sải cánh chim bằng. Chính với cảm tình tốt mà ngày nay người ta nghĩ đến cái nghề hải tặc xưa kia của quần đảo. Trước tất cả những cánh buồm xinh xắn và êm đềm được dìu dắt thắng lợi qua những con đường chằng chịt của sóng nước và đá ngầm, bởi ngọn đèn biển bằng thấu kính và ngọn hải đăng điện tử, người ta nghĩ, với lương tâm thanh thản gắn liền với tiến bộ nhận thấy, đến những thủy thủ già lén lút, hung dữ, ngày xưa chèo lái những chiếc xuồng không la bàn, trên những ngọn sóng đen ngòm, được le lói chiếu sáng từng quãng từng quãng, từ hải giác này đến hải giác nọ, bởi những mớ than hồng bập bùng, mà gió lộng muôn phương hành hạ trong những chiếc cũi sắt.
❀ ❀ ❀
[1] Charlemagne (742-814): vua nước Pháp, lập ra đế quốc Đông-Âu.
[2] Jérémie (650-590 TCN): một trong bốn nhà đại tiên tri Do Thái. Trong Thánh Kinh có những lời tiên tri của ông và những lời “Ta thán” trứ danh về sự suy tàn của Jerusalem.
[3] Caliban: nhân vật giống ma quỷ trong vở kịch Bão táp của Shakespeare. Tượng trưng cho giống vật buộc phải vâng lời một sức mạnh cao siêu.
[4] Vénus: tức thần Vệ nữ, thần ái tình, tượng trưng người đàn bà đẹp.
[5] Parthénon: một cung điện xưa, hiện nay còn di tích ở Hy Lạp.
[6] Nữ thần vợ của Jupiter.
[7] Saint-Pierre-Port: tức Cảng Saint-Pierre, phần bến cảng của thị trấn Saint-Pierre. Saint Pierre là Thánh Pierre.
[8] Không đánh thuế hàng xuất nhập cảng.
[9] Ngày nghỉ cuối tuần của người Do Thái.
[10] Tiếng Anh: Good - tốt, God - Chúa.
[11] Cửa sổ có cánh đẩy lên sập xuống như máy chém.
[12] Tư dinh của tổng thống Pháp.
[13] Thuyết Wesley: một giáo phái theo giáo lý của giám-lý hội.
[14] Phái Mormon (Mormonisme): một giáo phái ở Mỹ, do J. Smith sáng lập.
[15] Voltaire (1694-1778): văn hào Pháp, chủ trương nhiều cải cách xã hội.
[16] Vergée: một đơn vị đo đất xưa bằng 40 sào.
[17] Saturn: Thổ tinh.
[18] Mazeppa (1644-1709): một tù trưởng của người Côdăc, trước theo Pyotr Đại đế, sau theo vua Charles XII của Thụy Điển để chống lại Nga Hoàng.
[19] Whig: Đảng viên Đảng tự do Anh.
[20] Torie: Đảng viên Đảng bảo thủ Anh.
[21] Sixty: sáu mươi.
[22] Forty: bốn mươi.
[23] Garibaldi (1807-1882): một vị anh hùng Ý đã chiến đấu cho nền độc lập Tổ quốc.
[24] Charles-Asplet, Beresford street.
[25] baquet: thùng gỗ nhỏ để đựng nước.
[26] Alsace: một tỉnh kỹ nghệ thuộc Pháp từ năm 1918, ở miền Đông Bắc, giáp nước Đức.
[27] Victoria (1819-1901): Nữ Hoàng Anh.
[28] Wellington (1769-1852): Đại tướng Anh, đánh thắng quân của Napoléon nhiều trận ở Tây Ban Nha, và nhất là trận Waterloo (1815).
[29] Quyền bẻ hoa: quyền của lãnh chúa để chân lên giường nữ gia nhân khi đám cưới, để tiêu biểu quyền bẻ hoa.
[30] Nice: một thành phố nghỉ mát của Pháp, trên bờ Địa Trung Hải.
[31] Tức quyền chiếm hữu tài sản của một người, ngay sau khi người này chết, không cần chờ lệnh tòa án.
[32] Sénéchal: chức pháp quan thời phong kiến.
[33] Tiếng Anh: Thời giờ là tiền bạc.
[34] Sắc dụ Nantes (edit de Nantes): do Henry IV ban hành năm 1598 tại thành Nantes, cho phép nhân dân theo đạo cải cách. Gần 100 năm sau Louis XIV thu hồi sắc dụ này.
[35] Huguenot: người theo tân giáo của Calvin.
[36] Tiếng La tinh: người, kẻ phá hoại.
[37] Zuyderzée: hải loan ở bờ biển phía bắc Hà Lan.
[38] Alpes: dãy trường sơn dài 1200 cây số, ở phía Tây châu Âu, ngăn cách Pháp với Thụy Sĩ, Italia, đỉnh cao nhất là Mont Blanc cao 4807 mét.
[39] Toise: đơn vị đo lường cũ. 1 toise bằng khoảng 2 mét.
[40] Neptune: Hải vương.
[41] Pharaon: tên gọi các vị vua cổ ở Ai Cập.
[42] Về việc giúp dân Pháp bị lụt năm 1856, đây là tỉ lệ số tiền quyên góp: tính theo đầu dân nước Pháp đã cho 30 xu, nước Anh sáu xu, Guernesey ba mươi tám xu.
[43] Homo homini monstrum (tiếng La tinh): người với người là quái vật.