Lao Động Biển Cả

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BA: DURANDE VÀ DÉRUCHETTE
I TIẾNG THỎ THẺ VÀ LÀN KHÓI

❊ ❊ ❊

Thân hình con người rất có thể chỉ là một vẻ ngoài. Nó che giấu thực thể của chúng ta. Nó dày đặc lại trước ánh sáng hay bóng tối của chúng ta. Thực thể chính là linh hồn. Nói một cách tuyệt đối, bộ mặt chúng ta là một chiếc mặt nạ. Con người thật sự, chính là cái ở phía sau con người. Nếu trông thấy con người ấy ngồi hay nấp sau cái ảo ảnh mà ta gọi là da thịt, người ta sẽ có nhiều ngạc nhiên. Sai lầm chung thường lấy con người bên ngoài làm con người thật. Một cô gái nào đấy chẳng hạn, nếu ta nhìn cô ta đúng như trước mắt, sẽ trở thành một con chim.

Một con chim dưới hình dáng một cô gái, còn gì tuyệt diệu hơn! Bạn hãy hình dung bạn có một con chim ấy trong nhà. Đây sẽ là Déruchette. Con người mới dịu dàng làm sao? Người ta chỉ muốn nói với cô: Xin chào, cô chìa vôi. Người ta không trông thấy cảnh, nhưng người ta nghe tiếng líu lo. Chốc chốc cô lại hát. Qua tiếng thỏ thẻ có kém con người; qua tiếng hát lại hơn. Trong tiếng hát ấy có điều bí mật; một trinh nữ là cái vỏ ngoài của thiên thần. Khi người đàn bà hình thành thì thiên thần cất cánh bay đi. Nhưng sau đó thiên thần trở lại, đem đến một linh hồn nhỏ bé cho người mẹ. Trong lúc chờ đợi cuộc đời, người mà một ngày kia sẽ làm mẹ là một em bé trong một thời gian rất lâu, em bé gái tồn tại mãi trong người thiếu nữ, và đấy là một con chim bông lau. Trông thấy nó, người ta nghĩ: Thật đáng yêu quá, nó không bay đi! Con chim dịu dàng thân cận ấy tùy thích bay nhảy trong nhà, cành nọ sang cành kia, nghĩa là phòng nọ sang phòng kia, đi vào, đi ra, lùi xa, đến gần, rỉa lông hay chải tóc, gây đủ mọi tiếng động nhỏ nhẹ tế nhị, thầm thì những gì khó tả bên tai bạn. Nó hỏi, người ta trả lời, người ta hỏi, nó líu lo. Người ríu ra chim ríu rít. Nói chán thì ríu ra ríu rít cho đỡ mệt. Con chim ấy mang tính chất trời xanh trong mình. Đây là một tư tưởng màu xanh hòa vào tư tưởng đen tối của bạn. Bạn cảm ơn nó là sao nhẹ nhàng như thế, thoăn thoắt như thế, trơn chuội như thế, khó bắt như thế, mà lại có lòng tốt không tàng hình lẩn tránh, trong khi bản thân là vật tưởng như không thể sờ mó vào dược. Dưới trần này cái đẹp là cái cần thiết. Trên trái đất ít có những nhiệm vụ quan trọng hơn nhiệm vụ phải tỏ ra yêu kiều. Rừng xanh sẽ buồn nản nếu không có chim sâu. Toát lên niềm vui, phát tán hạnh phúc, tỏa sáng giữa những vật tối tăm, làm lớp mạ vàng của số phận, tỏ ra hài hòa, tỏ ra duyên dáng, tỏ ra đáng yêu tức là giúp ích cho bạn. Cái đẹp làm điều hay cho tôi vì nó đẹp. Một tạo vật nào đó có phép tiên gây được một niềm lạc thú đối với mọi thứ bao quanh; đôi khi chính nó cũng không hay biết gì về điều đó, như vậy lại càng tuyệt diệu; sự có mặt của nó soi sáng, việc nó đến gần làm ấm áp thêm; nó đi qua người ta bằng lòng, nó đứng lại người ta sung sướng; nhìn nó là thấy vui đời; nó là bình minh có mặt người; nó không làm gì hơn là đứng đấy, thế là đủ, nó biến cửa nhà thành cõi thiên thai, toàn thân nó tỏa ra hương sắc thiên đường; niềm ngây ngất ấy, nó ban phát cho tất cả mọi người mà không mất chút công khí nào khác hơn là chỉ đứng thở bên cạnh họ. Có được một nụ cười, không hiểu sao, làm nhẹ bớt sợi xích nặng mà mọi sinh linh cùng phải kéo lê, bạn muốn tôi nói với bạn thế nào, đó là điều thần thánh. Nụ cười ấy Déruchette có. Hơn thế nữa, Déruchette chính là nụ cười ấy. Có một cái gì giống chúng ta hơn cả bộ mặt chúng ta, đấy là diện mạo chúng ta, có một cái gì giống chúng ta hơn cả diện mạo chúng ta, đấy là nụ cười của chúng ta. Déruchette mỉm cười, đấy là Déruchette.

Dòng máu của Jersey và của Guernesey là một dòng máu đặc biệt. Các phụ nữ, nhất là các cô gái, có một vẻ đẹp tươi tắn và ngây thơ. Đấy là nước da trắng trẻo saxon kết hợp với vẻ tươi mát Normand. Những đôi má hồng, những cặp mắt xanh. Những cặp mắt ấy thiếu ánh sao. Nền giáo dục Anh - cát - lợi làm dịu bớt chúng. Những con mắt trong sáng ấy sẽ có sức cám dỗ mãnh liệt ngày nào trên đó xuất hiện vẻ sâu sắc của Paris. May sao Paris vẫn chưa thâm nhập vào phụ nữ Anh. Déruchette không phải là một cô gái Paris, nhưng cũng không phải là một cô gái Guernesey. Cô sinh tại Saint-Pierre-Port, nhưng Mess Lethierry đã nuôi dạy để cô trở thành một cô gái đáng yêu, thực tế cô vẫn là một cô gái đáng yêu.

Déruchette có vẻ nhìn lạnh lùng và khiêu khích mà không hay. Có lẽ cô không biết ý nghĩa hai chữ tình yêu, và cô dễ dàng làm cho người khác ngơ ngẩn vì cô. Nhưng không chút ác ý. Cô không hề nghĩ đến chuyện lấy chồng. Ông già quý phái di cư đã sinh cơ lập nghiệp ở Saint-Sampson thường nói: Con bé này đỏng đảnh quá thể.

Déruchette có đôi bàn tay đẹp tuyệt trần và hai bàn chân tương xứng với đôi tay, Mess Lethierry vẫn bảo đó là bốn cái chân ruồi. Cả con người cô là phúc hậu, là dịu hiền, cô xem Mess Lethierry, chú cô, là gia đình, là tài sản, chuyện mặc cho ngày tháng trôi qua là công việc, vài ba bài hát là tài năng, sắc đẹp là khoa học, ngây thơ là trí tuệ, ngu dốt là trái tim; cô mang cái tính lười biếng đáng yêu của người dân sinh trưởng thuộc địa, cộng lẫn với tính chất dại dột và tính hay hờn hay dỗi, cô có cái nét vui vẻ thích trêu chọc của trẻ con với chút khuynh hướng sầu muộn; cô ăn mặc hơi theo kiểu dân đảo, lịch sự nhưng không hợp cách, quanh năm đội mũ hoa; cô có vầng trán ngây thơ, cái cổ mềm mại và khêu gợi, mái tóc hạt dẻ, nước da trắng ngần mùa hè điểm thêm ít nốt tàn nhang, cái mồm lành mạnh, và trên cái miệng ấy vẻ trong sáng đáng yêu nguy hiểm của nụ cười. Đây là Déruchette.

Đôi khi, buổi tối, sau lúc mặt trời lặn, vào lúc trời đêm hòa với biển cả, vào giờ phút mà hoàng hôn làm cho sóng nước mang một vẻ rùng rợn, người ta thấy tiến vào cảng nhỏ Saint-Sampson, trên lớp sóng cồn buồn thảm, một khối dị hình, một bóng quái gở vừa khạc vừa huýt còi, một vật khủng khiếp khò khè như một con thú và phụt khói như một hỏa diệm sơn, một thứ giao long đang phều phào dãi nhớt trong bọt nước, kéo theo sau một dải sương mù, và lao thẳng về phía thành phố với tiếng đập vây rùng rợn, với một cái mõm phì ra lửa. Đấy là tàu Durande.

II CÂU CHUYỆN KHÔNG TƯỞNG MUÔN THUỞ

Năm 182., một chiếc tàu chạy bằng hơi nước trên biển Manche là một chuyện mới mẻ phi thường. Tất cả bờ biển Normand đều hãi hùng về chuyện đó trong một thời gian rất lâu. Ngày nay, mươi mười hai tàu máy ngược xuôi trên một chân trời của biển cả chẳng làm ai ngước mắt, quá lắm chúng chỉ làm bận tâm trong chốc lát người chuyên môn sành sỏi biết phân biệt qua màu khói chiếc này chạy bằng than Wales và chiếc kia đốt bằng than Newcastle. Chúng chạy qua, tốt lắm. Welcome[1], nếu chúng đến. Thượng lộ bình an, nếu chúng ra đi.

Trong phần tư đầu thế kỷ này, người ta có kém yên tâm hơn về các phát minh ấy, và những máy móc đó với lớp khói của chúng thường bị dân đảo vùng biển Manche nhìn với con mắt đặc biệt ác cảm. Trong cái quần đảo theo thanh giáo này, nơi mà Nữ hoàng Anh bị chê trách đã vi phạm Kinh Thánh vì khi đẻ lại dùng thuốc mê[2], chiếc tàu chạy bằng hơi nước đã đạt thắng lợi bước đầu được đặt tên là Tàu Quỉ (Devil boat). Đối với những người dân chài hiền lành lúc bấy giờ, trước kia theo phái Gia-tô, nay theo giáo phái Calvin, luôn luôn sùng tín, thì đấy hình như là địa ngục rồi. Một nhà truyền giáo địa phương bàn đến vấn đề: Người ta có quyền bắt cùng làm việc một lúc cả nước và lửa mà Chúa Trời đã chia tách không?[3]. Con vật lửa và sắt này chẳng giống Léviathan[4] sao? Có phải đây là muốn dựng lại cảnh hỗn mang trong phạm vi khả năng con người không? Đây không phải lần đầu tiên việc đi lên của tiến bộ bị gọi là việc quay lại thời kỳ hỗn mang.

Ý nghĩ điên cuồng, sai lầm kệch cỡm, câu chuyện phi lý; đấy là lời phán quyết của viện hàn lâm khoa học khi được Napoléon hỏi ý kiến hồi đầu thế kỷ này về chiếc tàu chạy bằng hơi nước. Người ta có thể tha thứ cho dân chài ở Saint-Sampson là, về mặt khoa học, trình độ chỉ ngang với các nhà hình học Paris, và về tôn giáo, một hòn đảo nhỏ như Guernesey không bắt buộc phải văn minh hơn một lục địa lớn như châu Mỹ. Năm 1807 lúc chiếc tàu đầu tiên của Fulton[5], được Livingstone đỡ đầu, lắp chiếc máy của Watt gửi từ nước Anh đến, và trên tàu ngoài số thủy thủ chỉ có hai người Pháp, André Michaux và một người nữa, lúc chiếc tàu hơi nước này chạy chuyến đầu tiên từ New York đến Albany, tình cờ lại vào ngày 17 tháng tám. Thế là giám lý hội lên tiếng, và trong tất cả các giáo đường, các nhà thuyết giáo miệt thị chiếc máy, tuyên bố con số mười bảy đó là tổng số của mười cái sừng và bảy cái râu của con vật trong sách Khải Huyền[6], ở châu Mỹ để chống đối tàu chạy bằng hơi nước, người ra viện con vật trong sách Khải Huyền, còn ở châu Âu thì con vật trong Sáng Thế Ký. Tất cả chỗ khác nhau là ở chỗ ấy.

Các nhà bác học đã gạt bỏ tàu hơi nước, xem như không thể thực hiện được; đến lượt mình các cha cố gạt bỏ nó, xem như nghịch đạo. Khoa học đã kết tội, tôn giáo lại đọa đầy. Fulton là một loại Lucifer. Những người chất phác miền duyên hải và nông thôn tán thành việc bài xích vì cái của tân kỳ ấy làm cho họ khó chịu. Trước chiếc tàu hơi nước, quan điểm tôn giáo là: - Nước và lửa là một cuộc ly dị. Việc ly dị này do Chúa Trời ra lệnh. Con người không được chia rẽ cái Chúa Trời đã đoàn kết; con người không được đoàn kết cái Chúa Trời đã chia rẽ. Quan điểm nông dân là: cái ấy làm tôi hãi lắn.

Ở thời đại xa xôi ấy, dám làm một việc như thế, một chiếc tàu hơi nước chạy từ Guernesey đến Saint-Malo, phải là Mess Lethierry. Chỉ ông mới có thể quan niệm được việc đó theo tư cách một nhà tư tưởng tự do, và thực hiện theo tư cách một thủy thủ dũng cảm. Khía cạnh người Pháp của ông có ý nghĩ, khía cạnh người Anh của ông thực hành nó.

Nhân cơ hội nào? Chúng ta cần nói rõ.

III RANTAINE

Quãng bốn mươi năm trước thời kỳ xảy ra những việc chúng tôi kể đây, trong vùng ngoại ô Paris, cạnh bức tường thành bao quanh, giữa Hố Chồn và Mộ Issoire, có một ngôi nhà đáng ngờ vực. Đây là một ngôi nhà lụp xụp hẻo lánh khi cần thì trở thành nơi nguy hiểm. Một tên tư sản ăn cướp, nguyên là thư ký biện lý ở Châtelet, sau trở thành kẻ cắp thực thụ đã sống ở đây với vợ con. Về sau hắn phải ra trước tòa đại hình. Gia đình này gọi là cánh Rantaine. Trong ngôi nhà nát, trên một cái tủ ngăn kéo bằng gỗ đào hoa tâm, thấy để hai chiếc tách hoa bằng sứ: trên một chiếc có dòng chữ lấp lánh: Kỷ niệm của tình bạn và trên chiếc kia: Quà tặng của lòng mến chuộng. Đứa con sống trong cái hang ổ ô-hợp đó cùng với tội ác. Vì bố mẹ vốn thuộc tầng lớp tiểu tư sản, nên đứa bé cũng học đọc; người ta nuôi dạy nó. Người mẹ, xanh xao, ăn mặc gần như rách rưới, “giáo dục” con một cách máy móc, bắt nó đánh vần, và thường bỏ dở công việc để giúp chồng bày mưu tính kế, hoặc để đánh đĩ với một khách qua đường. Trong khi ấy, cuốn sách với Thánh Giá của Chúa Jésus, mở đúng chỗ người ta đã rời bỏ nó, vẫn nằm trên bàn, còn thằng bé mơ màng bên cạnh.

Người bố và người mẹ, bị bắt quả tang trong một vụ quả tang, biến mất trong đêm xử tội. Thằng bé cũng biến mất.

Trên đường rong ruổi của mình, có lần Lethierry gặp được một kẻ giang hồ như ông, cứu y ra khỏi một bước không may, làm ơn cho y, thương hại y, thu dụng y, đem y về Guernesey, thấy y thông minh trong nghề sông nước, liền cho y cộng tác với mình. Đây là thằng bé Rantaine đã trưởng thành.

Cũng như Lethierry, Rantaine có một cái gáy lực lượng, một quãng rộng và khỏe để vác những vật nặng giữa hai vai, và đôi hông của Hecule Farnèse. Lethierry và y, cũng cùng dáng bộ, cách đi đứng, tầm vóc Rataine lại có phần cao hơn. Nhìn họ từ sau lưng, cặp kè đi chơi trên bến cảng, ai cũng nói: Đúng là hai anh em. Nhìn thẳng mặt, lại khác. Tất cả những gì cởi mở ở Lethierry thì ở Rantaine đều khép chặt. Rantaine kín đáo. Rantaine là thầy dạy đánh kiếm, chơi harmonica hay, bắn tắt được một ngọn nến cách xa hai mươi bước bằng một viên đạn, có cú đấm tuyệt luân, ngâm thơ Henriade và biết đoán mộng. Y thuộc lòng Những nấm mộ Saint-Denis của Treneuil. Y tự hào đã từng kết bạn với vị sultan[7] ở Calicut “nhà người Tây Ban Nha gọi là Zamorin”. Giá ai được giở xem cuốn nhật kí trong người y sẽ thấy, xen giữa những ghi chép khác, những đoạn đại loại thế này: “Ở Lyon, trong kẽ tường một hầm tối, Saint-Joseph có giấu một cái dũa”. Y nói năng khôn ngoan từ tốn. Y bảo y là con một hiệp sĩ của Saint-Louis. Quần áo y không đồng bộ và được đánh dấu bằng những chữ khác nhau. Chẳng ai hay mất lòng bằng y về điểm danh dự: y đánh nhau và giết người. Trong vẻ nhìn y có một cái gì đó của một bà mẹ diễn viên.

Sức mạnh dùng làm vỏ che cho quỷ thuật, đấy là Ranraine.

Quả đấm tuyệt đẹp của y, giáng lên một cabeza de moro[8] trong một phiên chợ, trước đây đã tranh thủ được trái tim của Lethierry.

Ở Guernesey, người ta không biết được hết những chuyện ly kỳ của y. Thật là muôn màu muôn vẻ. Nếu số phận con người có một phòng quần áo, thì số phận của Rantaine phải ăn mặc theo kiểu Arlequin[9]. Y đã nhìn thấy thế giới và đã từng trải việc đời. Đúng là một nhà thám hiểm vòng quanh thế giới. Nghề nghiệp của y là cả một cung đàn. Y đã từng nấu bếp ở Madagascar, nuôi chim ở Sumatra, làm tướng ở Honolulu, nhà báo tôn giáo tại các đảo, nhà thơ ở Oomrawuttee, hội viên hội Tam điểm ở Haiti. Với danh nghĩa sau cùng này, y đã đọc tại Grand-Goâve một bài điếu văn mà báo chí địa phương còn lưu lại đoạn sau đây: “…Xin vĩnh biệt, hỡi linh hồn cao thượng! Trong bầu trời xanh thẳm, nơi giờ đây anh đang cất cánh bay cao, có lẽ anh sẽ gặp ngài tu viện trưởng hiền lành Léandre Crameau ở Petit-Goâve. Anh hãy nói với ngài rằng, nhờ mười năm cố gắng vinh quang, anh đã hoàn thành ngôi nhà thờ Anse-à-Veau! Vĩnh biệt, hỡi thiên tài siêu việt, hỡi người thợ… gương mẫu!”. Như người ta thấy, cái mặt nạ hội viên Hội Tam Điểm không ngăn cản y mang cái mũ Gia-tô giả. Cái thứ nhất dung hòa y với những người tiến bộ, cái thứ hai với những người tu hành. Y tuyên bố y là người da trắng thuần chủng, y căm thù người da đen; tuy nhiên chắc hẳn y phải ca ngợi. Ở Bordeaux năm 1815 y đã là verdet[10]. Thời kỳ ấy, khói bảo hoàng tỏa ra trên trán y dưới hình thức một cái lông chim trắng rất to. Y đã sống đời y theo kiểu nguyệt thực, hết hiện lại ẩn, rồi lại tái hiện. Đúng là một tên lưu manh giáo giở. Y biết tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: thay cho guillotine[11], y nói néboïsse. Y đã làm nô lệ ở Tripoli tại nhà của một thaleb[12] và ở đấy y đã học được tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, dưới làn gậy gộc: nhiệm vụ của y là tối tối đến của các ngôi đền và đọc to trước mặt tín đồ bản kinh Koran viết trên những mảnh gỗ con hay trên những xương vai lạc đà. Có lẽ y là kẻ bội giáo.

Y có khả năng làm đủ mọi việc, và những việc tệ hại nhất.

Cùng một lúc y có thể vừa cau mày vừa cười ha hả. Y thường nói: Về chính trị, tôi chỉ quí trọng những người uy vũ bất năng khuất, hoặc: Tôi ủng hộ các phong tục, hoặc: Cần phải đặt lại Kim tự tháp trên cái đáy của nó. Nói cho đúng thì y vui vẻ và thân mật hơn gì hết. Hình dáng cái mồm y phản đối ý nghĩa lời nói của y. Ở đuôi mắt, y có một giao điểm của nhiều nếp nhăn, nơi hẹn hò của tất cả các loại tư tưởng đen tối. Bí mật tướng mạo của y có thể bị khám phá tại chỗ ấy. Nếp nhăn ở đuôi mắt y là một cái móng diều hâu. Hộp sọ của y bẹp ở đỉnh đầu và rộng ở hai bên thái dương. Lỗ tai y chẳng ra hình thù gì cả và rậm rì như chổi xể, dường như bảo: chớ có nói với con vật nằm trong cái hang này.

Một hôm đẹp trời, tại Guernesey, người ta không biết Rantaine đi đâu mất.

Ông bạn cộng tác của Lethierry đã “chuồn thẳng”, để lại cái két rỗng không cho hội.

Trong két chắc chắn là có tiền của Rantaine, nhưng có cả năm vạn frăng của Lethierry.

Lethierry, trong nghề buôn tàu ven biển và đóng tàu của mình, sau bốn mươi năm khôn ngoan và chính trực, đã kiếm được mười vạn frăng. Rantaine đem đi mất một nửa số ấy của ông.

Mất hết một nửa vốn liếng, Lethierry không nản chí, lập tức nghĩ ngay đến chuyện đứng dậy. Đối với những con người can trường, có thể tiêu hủy tài sản nhưng không tiêu hủy được trái tim. Lúc bấy giờ người ta bắt đầu đến chuyện tàu hơi nước. Lethierry chợt nảy ra ý kiến thử nghiệm chiếc máy Fulton, đang bị bài bác mạnh, và dùng một chiếc tàu chạy than nối liền bán đảo Normand đi với nước Pháp. Ông liền ăn thua với ý nghĩ ấy. Ông quẳng vào đấy tất cả vốn liếng còn lại. Sáu tháng sau ngày Rataine biệt tích, người ta thấy từ hải cảng Saint-Sampson ngơ ngác chạy ra một chiếc tàu hỏa khói, nom y như một đám cháy trên biển, chiếc tàu máy đầu tiên chạy trên biển Manche.

Chiếc tàu ấy, mà hằn học và khinh bỉ của mọi người lập tức ban cho cái biệt danh “Tàu buôn Lethierry”, tuyên bố sẽ chạy thường xuyên từ Guernesey đến Saint-Malo…

IV TIẾP THEO CÂU CHUYỆN KHÔNG TƯỞNG

Sự việc, người ta thừa hiểu, thoạt tiên diễn ra rất tồi tệ. Tất cả các chủ tàu đáy bằng chạy từ đảo Guernesey đến bờ biển nước Pháp đều lớn tiếng la ó. Họ tố cáo việc này xâm phạm tới Kinh Thánh và tới độc quyền của họ. Một vài giáo đường nổi giận. Một vị giáo sĩ đáng kính, tên là Elihu, đánh giá chiếc tàu là “một trò phản tôn giáo”. Chiếc tàu bị tuyên bố là của chính thống. Người ta thấy có loạt sừng quỉ sứ trên đầu những con bò mà chiếc tàu hơi nước chở tới và dỡ xuống. Việc phản đối này kéo dài một thời gian khá lâu. Tuy vậy dần dần người ta nhận thấy những con bò ấy đến nơi ít nhọc mệt hơn, và bán được giá hơn vì thịt ngon hơn; nguy hiểm về biển đối với người cũng ít hơn; phương tiện ấy ít tốn kém hơn lại chắc chắn và nhanh hơn; người ta được đi đúng giờ, đến đúng giờ; cá mú nhờ đi nhanh hơn có tươi hơn, và từ nay có thể đổ lên các chợ Pháp số cá dư thừa của những chuyến đánh bắt lớn rất thường ở Guernesey; bơ của những con bò cái tuyệt vời ở Guernesey chuyên chở bằng chiếc Devil Boat (Tàu Quỉ) đi nhanh hơn khi chở bằng thuyền buồm, và không bị mất phẩm chất nữa, thành thử Dinan đòi hỏi, Saint-Brieuc đòi hỏi và Rennes đỏi hỏi; cuối cùng nhờ cái gọi là “Chiếc tàu buôn Lethierry”, người ta được đi lại an toàn, liên lạc đều đặn, tới lui dễ dàng nhanh chóng, giao thông mở rộng, thị trường bội tăng, thương mại phát triển, và tóm lại phải ủng hộ chiếc Tàu Quỉ đã xúc phạm Kinh Thánh và làm giàu cho đảo. Một số người không sợ dư luận còn liều tán thành trong một chừng mực nào đó. Sieur Landoys, lục sự, tỏ ra có cảm tình với chiếc tàu này. Và lại đây là thái độ vô tư của ông vì ông vốn không ưa Lethierry. Lúc đầu Lethierry là Mess còn Landoys chỉ Sieur[13]. Tiếp đó, mặc dầu là lục sự Saint-Pierre-Port, Landoys là giáo dân khu Saint-Sampson; thế mà, trong giáo khu, chỉ có họ, ông và Lethierry, là hai người không có thành kiến; ít ra người nọ phải ghét người kia. Cùng bờ lại hóa ra xa bến.

Sieur Landoys ít ra cũng quân tử ở chỗ tán thành chiếc tàu hơi nước. Một số người khác cũng theo Sieur Landoys. Sự việc cứ đi lên lúc nào không rõ; sự việc là một thứ thủy triều và, cùng với thời gian, với kết quả liên tục, tăng dần, với lợi ích rõ ràng, vì tất cả mọi người đều nhận thấy có thoải mái hơn, một hôm, trừ vài người khôn ngoan, mọi người đều ca ngợi “Chiếc tàu buôn Lethierry”.

Ngày nay chắc người ta ca ngợi nó ít hơn. Chiếc tàu máy cách đây bốn mươi năm hẳn làm cho các nhà đóng tàu của ta hiện nay mỉm cười. Của kỳ quan ấy dị hình, vật diệu kỳ ấy què quặt.

Từ những chiếc tàu to lớn vượt Đại Tây Dương của chúng ta ngày nay đến chiếc tàu có bánh xe và đốt lửa mà Denis Papincho chạy trên sông Fulde năm 1707, quãng cách không kém hơn từ chiếc tàu ba boong Montebello, dài hai trăm piê[14], rộng năm mươi, có một trục lớn có một trăm năm mươi piê, trọng tải ba nghìn tấn, chở được một nghìn một trăm sáu mươi hòm đạn súng máy, lúc chiến đấu, mỗi mạn tàu khạc ra ba nghìn ba trăm livrơ[15] sắt, và lúc chạy thì giăng ra gió năm nghìn sáu trăm thước vuông vải, đến chiếc thuyền Đan Mạch của thế kỷ thứ hai, tìm thấy đầy rìu đá, cung và chùy, trong bùn biển của Wester-Satrup, và để lại Tòa thị chính Flensbourg.

Đúng một trăm năm, 1707-1807, thêm ngăn cách chiếc tàu đầu tiên của Papin đến chiếc tàu đầu tiên của Fulton “Tàu buôn Lethierry” chắc chắn là một tiến bộ so với hai phác thảo ấy, nhưng bản thân nó cũng chỉ là một phác thảo. Nhưng không vì thế mà nó không phải là một kiệt tác. Bất cứ phôi thai nào của khoa học cũng mang hai hình dáng: bào thai quái vật, mầm mống kỳ quan.

V CHIẾC TÀU QUỶ

“Tàu buôn Lethierry” không đặt cột buồm theo đúng tâm điểm của buồm, như thế không phải khuyết điểm vì đây là một trong những quy tắc của nghề đóng tàu, vả lại tàu dùng lửa làm sức đẩy thì hệ thống buồm chỉ là phụ. Chúng ta cần nói thêm là tàu bánh xe hầu như không cần đến hệ thống buồm. Chiếc tàu buôn ngắn quá, tròn quá, thu gọn quá; má nó quá to, hông nó quá rộng; người ta không mạo hiểm đến chỗ thiết kế nó nhẹ nhàng, chiếc tàu buôn có một số điểm bất tiện và một số ưu điểm so với chiếc Thuyền Bầu. Nó ít chồm tới chồm lui, nhưng lại hay chòng chành. Bộ trống lại quá cao. Đối với chiều dài của nó thì thuyền nhiều rường ngang quá. Bộ máy đồ sộ, cồng kềnh, và để cho tàu chở được nhiều, người ta phải tôn cao quá mức bức vách chắn, thành thử chiếc tàu buôn có khuyết điểm gần gần giống những chiếc tàu năm 74, một thứ thuyền mẫu tạp nham và phải phá bằng để cho hợp với việc đi biển. Vì ngắn nên nó phải lái nhanh, thời gian dùng cho một vòng xoay tỷ lệ thuận với chiều dài tàu, nhưng trong lực làm cho nó mất lợi thế của hình dáng thon gọn. Khoang bụng rộng quá làm cho nó chậm chạp vì lực cản của nước tỷ lệ thuận với tiết diện chìm lớn nhất và với bình phương của tốc độ. Mũi tàu thẳng đứng, điều ấy ngày nay không phải là khuyết điểm, nhưng thời ấy lệ thường bất di bất dịch để cho nó nghiêng bốn mươi lăn độ. Tất cả các đoạn cong của vỏ tàu đều được chắp nối tốt, nhưng không đủ dài để bảo đảm cho chiều nghiêng và nhất là cho độ song song của khối nước lăng trụ bị chuyển dịch, khối này bao giờ cũng chỉ được đẩy ngang. Gặp lúc trời động, nó chìm quá sâu, lúc thì chúc mũi, lúc thì ngửa lái, đây là khuyết điểm của trọng tâm. Do số hàng chở nằm không đúng vị trí, vì trọng lượng máy, trọng tâm thường lấn về phía sau cột buồm đại, thành thử phải dựa hẳn vào hơi nước và phải dè chừng lá buồm đại, vì trong trường hợp ấy buồm đại làm cho tàu đi tới chứ không giúp cho tàu chống đỡ với gió trời. Biện pháp là lúc gần gió nhất phải thả hết dây lèo; như thế gió bị cố định ở đằng mũi bởi dây buồm, và buồm đại chỉ có tác dụng của một lá buồm lái. Lối vận hành này là khó. Tay lái kiểu cổ, không phải bằng bánh xe như ngày nay mà bằng sàn gỗ, xoay trên bản lề bắt chặt vào cây gỗ lớn ở đuôi thuyền và xoay chuyển bằng một thanh gỗ nằm trên cái sà sườn thuyền phía lái. Hai chiếc canô, loại thuyền ngắn, treo lủng lẳng ở hai bên mạn. Tàu có bốn neo, neo đại, neo trung là chiếc neo làm việc, working - anchor và hai neo đôi. Bốn chiếc neo này, thả cùng với xích sắt, đều chuyển vận tùy trường hợp bằng cái máy trục to đằng lái và cái máy trục nhỏ đằng mũi. Thời ấy, trục cuốn bằng bơm chưa thay thế cho sà đòn bẩy hoạt động gián đoạn. Chỉ có hai bộ neo đôi, một ở bên phải, một ở bên trái, tàu không thể nào buông neo đôi kiểu chân ngỗng, và thế là như bị tước bớt vũ khí trước một vài hướng gió. Tuy vậy gặp trường hợp ấy nó có thể sử dụng đến chiếc neo thứ hai. Phao đều thuộc loại thông thường, và cấu tạo đủ sức đỡ được dây neo, mà vẫn nổi trên mặt nước. Xuồng có kích tấc thích đáng. Đấy là dụng cụ phòng bị thật sự của chiếc tàu; nó khá vững chắc để rút chiếc neo đại. Một điểm mới của tàu này là một phần thuyền cụ của nó đều có xích sắt, vả lại như thế không hại gì đến sức chuyển động của thừng lưu động và sức căng của thừng cố định. Hệ thống cột buồm, mặc dầu chỉ là phụ, không có một khuyết điểm gì; hệ thống dây chằng rất dày, rất nhẹ nhàng, ít lộ. Toàn bộ sườn tàu chắc chắn, nhưng thô kệch, vì tàu hơi nước không đòi hỏi phần gỗ phải thanh tú như thuyền buồn, Tàu này chạy với tốc độ hai dặm một giờ. Gặp hỏng hóc, nó cứ đi lừng chừng. Với hiện trạng như thế, chiếc “Tàu buôn Lethierry” đi khơi thì tốt, nhưng thiếu mũi nhọn để rẽ nước, và không thể bảo là nó có dáng điệu thanh nhã. Người ta cảm thấy khi gặp nguy hiểm, đá ngầm hoặc cây nước, nó sẽ khó vận hành. Nó kêu răng rắc như một vật chưa hoàn thành. Lúc chòng chành trên sóng, nó phát ra một tiếng như tiếng đế giày mới.

Chiếc tàu này chủ yếu là một cái thùng chứa, và cũng như mọi tàu chuyên đón nhận hàng hóa hơn là sử dụng vào chiến tranh, nó chỉ được bố trí để chất xếp hàng. Nó nhận rất ít hành khách. Việc chuyên chở gia súc khiến cho việc bốc xếp trở nên khó khăn và rất khác biệt. Thời ấy người ta xếp bò trong khoang, đấy là một vấn đề phức tạp. Ngày nay người ta xếp chúng lên boong trước. Bộ trống chiếc Tàu Quỷ Lethierry sơn trắng, vỏ tàu, cho đến đường ngấn nước màu lửa, và toàn bộ các chỗ còn lại của tàu, theo kiểu cách khá xấu xí của thế kỷ ấy, màu đen. Lúc rỗng, tàu chìm sâu bảy piê, và lúc có hàng, mười bốn.

Còn máy thì rất khoẻ. Mạnh đến một ngựa cho ba tô-nô, như thế là gần bằng sức mạnh một tàu kéo. Các bánh xe được đặt rất đúng chỗ, hơi nhích ra phía trước trọng tâm tàu một tí. Máy có một áp suất tối đa hai atmosphères. Nó tiêu thụ rất nhiều than, mặc dầu nó thuộc loại ngưng tụ và giãn đẩy. Nó không có tay lái vì điểm tựa không vững để bổ khuyết vào đó, như ngày nay người ta vẫn còn làm, nó dùng một thứ máy kép làm hoạt động luân phiên hai tay quay bắt vào đầu trục chính và bố trí sao cho một tay quay luôn luôn nằm ở điểm mạnh khi tay quay kia nằm ở điểm chết. Toàn bộ cỗ máy đặt trên một tấm gang duy nhất; nhờ thế ngay lúc bị hỏng nặng, không một cơn sóng nào làm nó mất thăng bằng và vỏ tàu có móp cũng không thể làm hỏng máy. Để máy thêm vững chắc, người ta đã đặt biên chính cạnh xi-lanh, như vậy là chuyển được giao tâm quả lắc từ giữa ra đằng đầu. Từ đấy người ta đã sáng kiến ra loại xi-lanh dao động cho phép bỏ hẳn biên; nhưng thời ấy cách đặt biên cạnh xi-lanh hình như đã là đỉnh cao nhất của khoa chế tạo máy. Nồi hơi chia ra từng ngăn và có bơm saumure. Các bánh xe rất to, như thế đỡ hao phí lực, và ống khói rất cao tăng thêm sức hút cho lò; nhưng bánh xe to lại cản nước, ống khói cao lại cản gió. Cánh bằng gỗ, móc bằng sắt, ổ trục bằng gang, các bánh xe đều chế tạo tốt và điều ngạc nhiên là có thể tháo lắp được. Luôn luôn có ba cánh nằm dưới nước. Tốc độ của tấm cánh chỉ hơn tốc độ tàu một phần sáu; đấy là khuyết điểm của loại bánh xe ấy. Ngoài ra, chỗ cầm tay quay dài quá, và hộc phân phối hơi trong xi-lanh cọ xát nhiều quá. Thời kì ấy, cỗ máy đó dường như tuyệt diệu và tuyệt diệu thật.

Cỗ máy đó được rèn ở Pháp tại nhà máy Bercy. Mess Lethierry có tưởng tượng ra nó chút ít; người thợ chế tạo ra nó theo hình vẽ của ông đã chết; vì vậy nó là cỗ máy duy nhất, không thể nào thay thế. Người thiết kế còn, nhưng thiếu người chế tạo.

Cỗ máy trị giá bốn vạn frăng.

Lethierry đã đích thân đóng chiếc tàu buôn dưới âu cảng có mái cạnh cái tháp đầu tiên giữa Saint-Pierre-Port và Saint-Sampson. Ông đã đi tận Brême mua gỗ. Trong công trình này, ông đã tận dụng tất cả tay nghề thợ mộc đóng tàu của ông, và người ta phải chịu tài ông trong nghề cạp thuyền với những đường máy rất nhỏ, rất đều, và được quét phủ bằng sarangousti, một thứ mát-tít Ấn Độ tốt hơn cả nhựa thông. Lớp bọc lòng tàu được đóng đinh to. Lethierry đã trát bụng tàu bằng nhựa gallegalle. Để bổ khuyết chiều tròn của vỏ tàu, ông đã lắp một cần buồm phụ vào cột buồm cái, nhờ vậy mà thêm được một buồm vuông giả vào cánh buồm vuông ở cột buồm mũi. Hôm hạ thủy ông đã nói: Thế là tôi xuống nước! Quả thật chiếc tàu buôn thành công, như ta đã thấy.

Do tình cờ hay hữu ý, nó được hạ thủy đúng vào ngày 14 tháng bảy[16]. Hôm ấy Lethierry, đứng trên boong tày giữa hai cái trống, nhìn thẳng ra biển khơi và hét to:

- Đến lượt mày rồi! Dân chúng Paris đã chiếm ngục Bastille; bây giờ chúng tao chiếm được chính này!

“Chiếc tàu buôn Lethierry” chạy từ Guernesey đến Saint-Malo mỗi tuần một lần. Nó rời bến sáng thứ ba và trở về chiều thứ sáu, trước phiên chợ ngày thứ bảy. Nó là một kiểu mẫu bằng gỗ khỏe hơn các thuyền buôn ven biển trong toàn quần đảo, và vì dung tích của nó tỷ lệ thuận với kích tấc, một chuyến đi của nó bằng bốn chuyến của một chiếc tàu đáy bằng thông thường, về lượng hàng và về lợi nhuận. Nhờ thế mà lời lãi rất nhiều. Tiếng tăm một chiếc tàu tùy thuộc ở việc chất xếp hàng hóa của nó, Lethierry lại là một tay bốc xếp tuyệt vời. Khi không thể đích thân lăn lộn ngoài biển cả nữa, ông liền luyện một tay thủy thủ để thay thế ông làm người bốc xếp. Sau hai năm, chiếc tàu hơi nước sinh lợi đúng bảy trăm năm mươi livrơ xteclinh ở Guernesey trị giá hai mươi bốn frăng, đồng ở Anh trị giá hai mươi lăm, và đồng ở Jersey hai mươi sáu. Những trò dấm dớ ấy không dấm dớ như vẻ ngoài của chúng; các ngân hàng đều kiếm chác ở chỗ ấy.

VI LETHIERRY BƯỚC VÀO VINH QUANG

Chiếc tàu buôn phát đạt. Mess Lethierry thấy mình sắp thành Monsieur đến nơi. Ở Guernesey người ta không phải ông với nhau cả đâu. Giữa con người và ông có cả một cái thang cao phải trèo; thoạt tiên, bậc thứ nhất, chỉ gọi tên trống không, Pie chẳng hạn; rồi bậc thứ nhì, vô danh (hàng xóm) Pierre; rồi bậc thứ ba, lão Pierre; rồi bậc thứ tư, Sieur Pierre; rồi bậc thứ năm, Mess Pierre; rồi đỉnh cao, ông (Monsieur) Pierre.

Cái thang này, từ lòng đất chui ra, cứ tiếp mãi trên trời xanh. Toàn bộ đẳng cấp nước Anh đều vào đấy và sắp xếp theo tầng lớp. Đây là các bậc, càng lên càng rực rỡ; trên ông (gentleman) có esq (dũng sĩ tùy tùng), trên esq có kỵ sĩ (sir suốt đời), rồi lên mãi, tòng nam tước (sir cha truyền con nối), rồi huân trước, ở Scotland là laird, rồi nam tước, rồi tử tước, rồi bá tước (ở Anh là earl), ở Na Uy là jarl, rồi hầu tước, rồi công tước, rồi nguyên lão Anh quốc, rồi hoàng tử, từ tầng lớp tư sản lên tầng lớp tòng nam tước, từ tầng lớp tòng nam tước lên tầng lớp nguyên lão, từ tầng lớp nguyên lão lên đến hàng vua chúa.

Nhờ có quyết định bất thần của mình thành công, nhờ hơi nước, nhờ cỗ máy, nhờ chiếc Tàu Quỷ, Mess Lethierry đã trở thành người có địa vị. Để đóng chiếc tàu buôn ông đã phải vay mượn; ông đã mang công mắc nợ ở Brême, ông đã mang công mắc nợ ở Saint-Malo; nhưng mỗi năm ông đều trả dần được nợ.

Ông còn mưa chịu, ngay ở lối vào cảng Saint-Sampson, một ngôi nhà xinh xắn bằng đá, mới tinh, trên vườn dưới biển, ở góc nhà có hai chữ: Les Bravées. Ngôi nhà Les Bravées, mà mặt tiền cũng thuộc vào chính bức tường thành của cảng, đáng chú ý ở hai dãy cửa sổ, phía bắc, phía một khu vườn đầy hoa, phía nam, phía đại dương; thành thử ngôi nhà này có hai mặt, mặt này nhìn thẳng bão táp, mặt kia trông ra vườn hồng.

Những mặt nhà này dường như dành cho hai người ở, Mess Lethierry và cô Déruchette.

Ngôi nhà Le Bravées được nhiều người ở Saint-Sampson nói đến. Vì cuối cùng Mess Lethierry đã được mọi người ngưỡng mộ. Việc được lòng dân này một phần do lòng tốt, do sự tận tâm và tính can đảm của ông, một phần do nhiều người được ông cứu vớt, còn phần lớn là do thành công của ông, và cũng do ông dành cho cảng Saint-Sampson đặc quyền về các chuyến đi đi về về của chiếc tàu hơi nước. Thấy chắc chắn chiếc Tàu Quỷ là một món lợi, Saint-Pierre, thủ đô, đã định dành nó cho cảng của mình, nhưng Lethierry quyết giữ cho Saint-Sampson. Đấy là thành phố quê hương ông. - Chính tại đây tôi đã được vứt xuống biển cả - ông nói. Nhờ vậy mà ông được nhiệt liệt ngưỡng mộ tại địa phương. Với tư cách nghiệp chủ đóng thuế ông được gọi là một cư dân Guernesey. Người ta gọi ông là thành viên trong đoàn Mười Hai. Người thủy thủ đáng thương này đã trèo hết năm bậc thang trong số sáu bậc của trật tự xã hội Guernesey; ông là Mess; ông gần thành Monsieur; và biết đâu ông sẽ chẳng vượt qua bậc Monsieur? Biết đâu một ngày kia người ta chẳng đọc thấy trong cuốn toàn thư Guernesey, ở mục Gentry and Nobility[17], đoạn ghi chép chưa từng có và tuyệt diệu này: Lethierry, esq.?[18]

Nhưng Mess Lethierry vẫn xem thường hoặc nói cho đúng không hay biết đến khía cạnh phù phiếm của chuyện đời. Niềm vui của ông là tự cảm thấy mình có ích. Được ngưỡng mộ không làm ông xúc động bằng cảm thấy mình cần thiết cho mọi người. Như chúng tôi đã nói, ông chỉ có hai niềm say mê, và do đó, chỉ có hai tham vọng; Durande và Déruchette.

Dù sao đi nữa, ông đã đánh xổ số với biển cả, và ông đã trúng giải độc đắc.

Giải độc đắc ấy là chiếc Durande ngược xuôi trên biển cả.

VII VẪN CHA ĐỠ ĐẦU ẤY, VẪN MẸ ĐỠ ĐẦU ẤY

Sau khi sáng tạo nên chiếc tàu chạy bằng hơi nước ấy, Lethierry đã đặt tên cho nó. Ông gọi nó là Durande. Tàu Durande, từ đây chúng tôi sẽ không gọi nó bằng cách khác nữa. Chúng tôi cũng xin phép bất chấp lệ thường của nhà in, không gạch dưới cái tên Durande, như thế là chúng tôi vẫn làm theo đúng tư tưởng của Mess Lethierry; đối với ông, Durande gần như một con người.

Durande và Déruchette, vẫn cùng một tên, Déruchette là từ thu hẹp của Durande. Kiểu từ thu hẹp này rất thông dụng ở miền Tây nước Pháp.

Các thánh ở nông thôn thường mang tên mình với tất cả các từ thu hẹp và các từ làm mạnh thêm nghĩa. Người ta tưởng đâu nhiều người hóa ra chỉ có một. Những trường hợp trùng lẫn nam thánh và nữ thánh bảo hộ mang những tên khác nhau không phải chuyện hiếm. Lise, Lisette, Lisa, Élisa, Isabelle, Lisbeth, Betsy, cả cái đám đông ấy là Élisabeth. Có lẽ Mahout, Maclou, Malo và Magloire cũng vẫn là một ông thánh. Tuy vậy chúng tôi không chú trọng đến điều ấy.

Nữ thánh Durande là một nữ thánh của vùng Angoumois và vùng Charente. Bà có đoan trang hay không? Điểm ấy quan hệ đến dân bollandistes. Đoan trang hay không, bà cũng có giáo đường.

Hồi ở Rochefort, khi còn là một chàng thủy thủ trẻ, Lethierry đã được biết bà thánh đó, hẳn là qua một cô gái xinh đẹp nào đó ở Charante, có lẽ cái cô gái lẳng lơ có móng tay đẹp. Ông còn giữ được khá nhiều kỷ niệm về cô nên ông mới dành cái tên ấy cho hai thứ ông yêu quý nhất đời: Durande cho chiếc tàu buồm, Déruchette cho cô con gái.

Ông là bố của bên này và chú của bên kia.

Déruchette là con gái một người anh của ông. Cô không còn bố mẹ. Ông đã nhận cô làm con nuôi. Ông thay thế cả bố lẫn mẹ.

Déruchette không phải chỉ là cháu ông. Cô còn là con đỡ đầu của ông. Chính ông đã là cha đỡ đầu của cô. Chính ông đã tìm ra cho cô bà thánh bảo hộ, nữ thánh Durande, và cái tiểu danh Déruchette.

Như chúng tôi đã nói, Déruchette sinh tại Saint-Pierre-Port. Cô được ghi vào sổ giáo khu đúng ngày sinh của cô.

Ngày nào cô cháu còn là trẻ con, và ông chú còn nghèo hèn thì chẳng ai thèm để ý đến cái tên Déruchette; nhưng khi cô bé trở thành một thiếu nữ và người thủy thủ trở thành một quý ông thì Déruchette nghe hơi chướng. Người ta lấy thế làm ngạc nhiên. Người ta hỏi Mess Lethierry: Tại sao lại Déruchette? Ông đáp: Thì cái tên nó như thế. Nhiều lần người ta có đặt lại tên thánh cho cô. Ông đều không chịu. Một hôm, một phu nhân xinh đẹp và sang trọng ở Saint-Sampson, vợ một chủ lò rèn giàu có đã bỏ nghề, một sixty như người ta vẫn gọi ở Guernesey, bảo với Mess Lethierry: Từ nay tôi gọi con gái ông là Nancy. Ông nói: Tại sao không gọi là Lons-Le-Saulnier? Phu nhân xinh đẹp vẫn không chịu thôi, và hôm sau lại nói với ông: Dứt khoát chúng tôi không đồng ý cái tên Déruchette. Tôi đã tìm được cho con gái ông một cái tên rất hay, Marianne. - Tên hay thật đấy - Mess Lethierry đáp lại - nhưng lại bao gồm hai con vật xấu xí, một anh chồng và một con lừa[19]. Ông vẫn giữ cái tên Déruchette.

Nếu từ câu nói trên mà kết luận rằng ông không muốn gả chồng cho cháu thì lầm to. Tất nhiên, ông cũng muốn kiếm cho cháu một tấm chồng nhưng theo kiểu của ông. Ông đòi hỏi cô phải lấy một người chồng thuộc loại như ông, lao động thật nhiều, còn cô thì chẳng làm gì lắm. Ông thích đàn ông tay đen, còn đàn bà thì tay trắng. Để Déruchette khỏi làm hỏng hai bàn tay xinh đẹp, ông đã hướng cô về phía tiểu thư. Ông đã kiếm cho cô một ông thầy dạy đàn, một chiếc dương cầm, một tủ sách nhỏ, và thêm ít kim chỉ trong giỏ may. Cô thích đọc hơn thích khâu, thích đàn hơn thích đọc. Mess Lethierry muốn cô như thế. Duyên sắc, đấy là tất cả những gì ông đòi hỏi ở cô. Ông đã nuôi dưỡng cô để trở thành bông hoa chứ không phải để thành đàn bà. Ai đã nghiên cứu về thủy thủ khắc hiểu rõ điều ấy. Cứng cỏi bao nhiêu lại khao khát tế nhị bấy nhiêu. Muốn có cháu thực hiện được lý tưởng của ông chú thì cô cháu phải giàu sang. Chính đây là điều Mess Lethierry mong muốn. Cỗ máy to đi biển của ông hoạt động nhằm mục đích ấy. Ông giao trách nhiệm cho Durande phải lo khoản hồi môn cho Déruchette.

VIII ĐIỆU NHẠC BONNY DUNDEE

Déruchette ở căn phòng đẹp nhất của ngôi nhà Bravées, có hai cửa sổ, tủ bàn toàn bằng gỗ đào hoa tâm có vân, trang hoàng thêm một cái giường có màn kẻ ô vuông xanh trắng, nhìn ra mảnh vườn và ngọn đồi cao trên đó có lâu đài Valle. Phía bên kia ngọn đồi là ngôi nhà Bû de la Rue.

Trong căn phòng ấy, Déruchette để sách nhạc và cây đàn piano của cô. Thường ngày cô đệm đàn piano vừa hát điệu hát ưa thích, bản nhạc Scotland Bonny Dundee; suốt tối chỉ có điệu hát ấy, suốt buổi bình minh chỉ nghe giọng cô; một điểm tương phản hơi kỳ lạ, người ta nói: cô Déruchette đang ngồi bên chiếc đàn piano của cô, và người qua đường phía dưới chân đồi đôi khi cũng dừng bước trước bức tường khu vườn Bravées để lắng nghe giọng hát xiết bao trong sáng ấy và bài hát xiết bao buồn bã ấy.

Déruchette là hình ảnh tươi vui đi đi lại lại trong nhà. Cô làm cho ngôi nhà quanh năm thắm đượm trời xuân. Cô đẹp, nhưng cô lại xinh hơn là đẹp, và lại duyên dáng hơn là xinh. Cô gợi cho các hoa tiêu già hiền lành bạn của Mess Lethierry nhớ đến nàng công chúa trong một bài hát của lính và thủy thủ, công chúa đẹp đến nỗi “có tiếng là đẹp trong trung đoàn”. Mess Lethierry thường nói: Nó có mái tóc dài như một sợi dây cáp.

Từ bé cô đã có sắc đẹp mê hồn. Một thời gian dài người ta ngại về cái mũi của cô, nhưng con bé, hẳn trời đã định cho là phải đẹp, vẫn đầy duyên dáng, tuổi trưởng thành đã không làm hại cô; mũi cô không dài quá, không ngắn quá; và lớn lên cô vẫn yêu kiều.

Không bao giờ cô gọi chú cô khác hơn là “bố”.

Ông cho phép cô thi thố chút ít tài năng làm vườn, và nội trợ nữa. Cô tự tay tưới các luống hồng thục quỳ, thiên nga nhung, giáp trúc đào lâu năm và thủy dương mai đỏ rực; cô trồng crépis hồng và thố thảo hồng; cô biết lợi dụng khí hậu của Guernesey vốn rất mến hoa. Cũng như mọi người cô có dứa rừng trên mặt đất bằng, và điểm này khó hơn, trồng được cả phiên bạch thảo Népaul. Vườn rau nhỏ bé của cô được tổ chức rất khoa học; xong củ cải đỏ, cô trồng rau muống, sau rau muống cô trồng tiếp đỗ hạt; cô biết gieo cấy súp lơ Hà Lan và bắp cải Bruxelles vào tháng bảy, cải củ vào tháng tám, diếp quăn vào tháng chín, cải thơm tròn vào mùa thu, và diệp lạ bắc vào dịp đông. Mess Lethierry để mặc cho cô làm, miễn cô đừng xúc xẻng và dùng cào nhiều quá, nhất là đừng tự tay bón phân. Ông cho cô hai người tớ gái Grâce và Douce hai tên của Guernesey. Grâce, Douce làm việc trong nhà và ngoài vườn thêm được quyền có những bàn tay đỏ.

Còn Mess Lethierry, phòng của ông là một căn buồng xép nhìn ra cảng và liền với căn phòng lớn, thấp của tầng dưới nơi có cửa ra vào và nơi hội tụ các cầu thang trong nhà. Đồ đạc trang hoàng trong phòng có chiếc vòng thủy thủ, đồng hồ và cái tẩu hút thuốc lá của ông. Cũng có thêm một cái bàn và một cái ghế. Trần nhà, trơ cả xà, cũng được quét vôi trắng như bốn bức tường; bên phải cánh cửa, quần đảo Manche đóng bằng đinh, một tấm bản đồ với dòng chữ: W. Faden, 5, Charing Cross. Geographer of His Majesty[20]. Và bên trái, một số đinh khác đóng dăng ra trên bức tường rộng một loại khăn vải to, có những hình màu tượng trưng cờ và dấu hiệu của toàn bộ hàng hải thế giới, bốn góc là quốc kỳ nước Pháp, nước Nga, nước Tây Ban Nha, nước Mỹ, và ở giữa là quốc kỳ Anh.

Douce và Grâce là hai con người bình thường, hiểu theo khía cạnh tốt của từ ngữ. Douce không ác và Grâce không xấu. Hai cái tên nguy hiểm này không có hại gì cả. Douce, chưa lấy chồng, có một “nhân tình”. Trên các đảo vùng biển Manche, từ ngữ này rất thông thường, mà sự việc cũng thông thường. Hai cô gái có cái mà người ta có thể gọi là lối phục dịch thuộc địa, một kiểu chậm chạp đặc biệt của tầng lớp đi ở của Normand trong quần đảo. Grâce, làm dáng và xinh, luôn luôn nhìn ngắm chân trời với một vẻ lo lắng như mèo. Đó là vì, như Douce, cô cũng có một gã nhân tình; ngoài ra người ta bảo cô còn có một người chồng thủy thủ mà cô rất sợ ngày về. Những điểm ấy không can hệ gì đến chúng ta. Nét khác biệt giữa Grâce và Douce là gặp một gia đình ít khắc khổ hơn và ít ngây thơ hơn, Dolce hẳn chịu làm đầy tớ mãi và Grâce trở thành con sen. Những tài năng tiềm tàng của Grâce bị mai một với một cô gái trong trắng như Déruchette. Vả lại những chuyện tình duyên của Dolce và Grâce chỉ ngấm ngầm. Chẳng có gì khiến Mess Lethierry phải ngạc nhiên và chẳng có gì ảnh hưởng đến Déruchette cả.

Căn phòng thấp ở tầng dưới là một gian buồng lớn có lò sưởi xung quanh bày bàn và ghế dài, thế kỷ trước đã dùng làm nơi hội họp cho một cuộc hội nghị bí mật của dân tị nạn người Pháp theo đạo Tin lành. Bức tường đá chỉ có mỗi cái khung gỗ đen là vật xa xỉ, trên cùng một tấm giấy da ghi những thành tích của Bénigne Bossuet[21], giám mục thành Meaux. Một số giáo dân đáng thương trong giáo khu của con đại bàng này[22] bị ông ta hành hạ lúc thủ tiêu sắc dụ Nantes[23], và trốn tránh tại Guernesey, đã treo cái khung gỗ trên bức tường ấy để dẫn chứng. Trên đây, người ta đọc được, nếu có thể đọc nổi nét chữ ngoằn nghèo và một thứ mực ố vàng, những sự việc ít được biết đến như sau:

- Ngày 29 tháng mười năm 1685, triệt hạ các đền Morcerf và Nanteuil, do ông giám mục thành Meaux yêu cầu nhà vua.

- Ngày mùng 2 tháng tư năm 1686, bắt hai cha con Cochard, vì lý do tôn giáo, theo yêu cầu của ông giám mục thành Meaux. Được thả, cha con Cochard đã tuyên thệ bỏ đạo.

- Ngày 28 tháng mười năm 1699, ông giám mục thành Meaux gửi cho ông de Pontchartrain một bức thư điều trần nói là cần thiết phải đưa các cô de Chalandes và de Neuville, theo tôn giáo cải cách, vào nhà Nữ Tân Tín đồ Gia-tô của Paris.

- Ngày mùng 7 tháng bảy năm 1703, thi hành lệnh nhốt vợ chồng Baudoin, tín đồ Gia-tô xấu của Fublaines, vào nhà thương điên, do ông giám mục thành Meaux yêu cầu nhà vua.

Ở cuối phòng, cạnh cửa buồng của Mess Lethierry, có một buồng con bằng ván, trước kia là tòa giảng của phái Huguenots[24], nay nhờ lớp lưới sắt có cái lỗ con, trở thành bàn giấy của chiếc tàu hơi nước, nghĩa là văn phòng của tàu Durande, do đích thân Mess Lethierry phụ trách. Trên cái yên sách cũ bằng gỗ sồi, một quyển sổ với những trang giấy ghi rõ bên Có và bên Nợ thay cho cuốn Kinh Thánh.

IX NGƯỜI ĐÃ ĐOÁN ĐƯỢC RANTAINE

Ngày nào Mess Lethierry còn tung hoành được trên biển cả, thì ông còn điều khiển tàu Durande, và ông không có hoa tiêu nào, thuyền trưởng nào khác ngoài bản thân, nhưng đã đến giờ phút, như chúng tôi đã nói, mà Mess Lethierry phải tìm người thay thế. Để làm việc ấy ông đã chọn được Sieur Clubin, quê ở Torteval, một con người trầm mặc ít nói. Trên toàn miền duyên hải, Sieur Clubin được tiếng hết sức liêm khiết. Đấy là cái tôi khác[25] và là người đại diện của Mess Lethierry.

Mặc dù có vẻ một viên lục sự hơn là một thủy thủ, Sieur Clubin là một tay đi biển có nhiều khả năng và hiếm thấy. Ông ta có tất cả mọi tài năng cần thiết cho việc mạo hiểm thường xuyển biến đổi. Ông ta là tay bốc xếp khéo léo, coi buồm thận trọng phụ trách neo lèo phao chu đáo và thông thạo, cầm lái vững, hoa tiêu giỏi và thuyền trưởng dũng cảm. Tính ông ta cẩn thận, và đôi khi cẩn thận đến mức liều, đây là một đức tính lớn trên biển cả. Ông ta biết sự việc có thể xảy ra, nhưng lại biết dung hòa với khả năng có thể làm được. Đây là một trong những thủy thủ dám đương đầu với hiểm nguy trong chừng mực mà họ nắm vững, và bất cứ trường hợp nào cũng biết tạo nên thắng lợi. Tất cả phần vững tin mà biển khơi có thể dành cho một con người, ông ta đều có đủ; ngoài ra Sieur Clubin còn là một tay bơi lặn nổi tiếng; ông ta thuộc loại người dạn dày sóng nước, có thể ngâm mình dưới nước bao nhiêu lâu cũng được, và có thể đi từ Havre-des-Pas ở Jersey, vượt qua Colette, vòng quanh tháp của am tu sĩ và lâu đài Elisabeth, rồi sau hai giờ đồng hồ quay về địa điểm xuất phát. Ông ta quê ở Torteval và nghe đâu ông ta thường hay bơi quãng đường ghê sợ từ Hanois đến mũi Plainmont.

Một trong những điều khiến Mess Lethierry tin tưởng vào Sieur Clubin nhất, là do biết hay hiểu thấu được Rantaine, ông ta đã báo trước cho Mess Lethierry cái tính gian xảo của con người này, và đã nói với ông: - Rantaine sẽ lừa ông cho xem. Điều ấy đã được chứng minh. Nhiều lần, đối với những vật đúng là không quan trọng, Mess Lethierry đã thử thách lòng ngay thẳng đến mức quá chu đáo của Sieur Clubin, và ông đã nhờ cậy ông ta trong các công việc của ông. Mess Lethierry nói: Lương tâm ngay thẳng đòi hỏi phải được tin tưởng hoàn toàn.

X NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐƯỜNG XA

Tuy có chịu khó về mặt khác, nhưng lúc nào Mess Lethierry cũng mặc quần áo làm việc trên tàu, và thích chiếc varơ thủy thủ hơn chiếc varơ hoa tiêu. Việc ấy khiến Déruchette phải nhíu cái mũi xinh xinh lại. Không có gì đẹp bằng người có duyên nhăn mặt, lúc nổi giận. Cô vừa trách vừa cười và kêu lên: Eo ơi! Bố toàn mùi nhựa đường. Và cô khẽ vỗ vào cái vai u của ông.

Người anh hùng này của biển cả đã thuật lại nhiều chuyện lạ lùng về các chuyến chu du của mình. Ở Madagasca, ông đã thấy những chiếc lông chim mà chỉ cần ba chiếc là đủ lợp một mái nhà. Ở Ấn Độ, ông đã thấy những cây ôdây cao gần ba mét. Ở Tân Hà Lan, ông đã thấy những đàn ngỗng và gà tây được chăn dắt bởi một thứ chó chăn cừu mà lại là một con chim gọi là Agami. Ông đã thấy những nghĩa địa voi. Ở châu Phi ông đã thấy những con vượn, những loại người - hổ, cao đến hơn hai mét. Ông biết tập quán của tất cả các loại khỉ, từ loại macacơ rừng mà ông gọi là macaco bravo đến loại macacơ hay hét mà ông gọi là macaco barbado. Ở Chilê, ông đã thấy một con khỉ cái chìa con ra cho những người thợ săn làm họ phải xúc động. Ở California, ông đã thấy một thân cây rỗng đổ xuống đất, trong đó có một người đi ngựa có thể đi được một trăm năm mươi bước. Ông đã thấy ở Maroc những người Mozabites và những người Biskris đánh nhau bằng dùi cui và gậy sắt vì cánh biskris bị gọi là kelb nghĩa là chó, và cánh Mozabites bị gọi là khamsi nghĩa là người thuộc môn phái thứ năm. Ở Trung Quốc, ông đã thấy một tên cướp bị tùng xẻo vì đã giết người trưởng ấp. Tại “Thủ Dầu Một” ông đã thấy một con sư tử[26] bắt một bà già ngay giữa chợ tỉnh. Ông đã được dự một buổi đón con rắn to từ Quảng Đông đến Sài Gòn, để tổ chức tại chùa Chợ Lớn lễ thánh mẫu của những người đi biển. Ông đã được ngắm xem vị Đại Quân Sư tại vùng dân tộc ít người. Tại Rio-Janeiro, ông đã thấy các bà người Braxin tối đến là dắt lên mái tóc những túi vải thưa bé tí, mỗi cái đựng một con vagalumes, một loại đom đóm, như thể là họ đội ngôi sao. Ông đã đánh nhau với những con kiến Uruguay, và ở Paraguay với những con nhện to bằng con chim, có lông, to bằng đầu trẻ con, sải chân chiếm một đường kính rộng đến bốn mươi phân, tấn công cả người, bắn vào người những cái lông như những mũi tên cắm vào da thịt và làm tấy thành mụn nhọt. Trên sông Arinos, phụ lưu của sông Tocantins, trong những khu rừng hoang ở phía bắc Diamantina, ông đã thấy được dân tộc dơi khủng khiếp, những murcilagos, những con người bẩm sinh tóc bạc, mắt đỏ, sống trong những rừng âm u, ngày ngủ, đêm dậy đi câu, đi săn trong tối, và có thể nhìn thấy rõ hơn khi không có trăng. Gần Beyrouth, tại chỗ cắm trại của một đoàn thám hiểm mà ông được tham gia, có một lều bị mất cắp một chiếc vũ kế, một người phù thủy, đeo hai ba cái dây da giống như người đeo dải quần, đã giận dữ lắc một cái chuông con ở đầu một cái sừng đến nỗi một con linh cẩu phải đem chiếc vũ kế đến trả lại. Con linh cẩu ấy là một mụ ăn cắp. Nhữngcâu chuyện có thật ấy giống chuyện hoang đường quá khiến Déruchette rất thích thú.

Con búp bê của tàu Durande là mối dây liên lạc giữa chiếc tàu và cô gái. Ở các đảo Normand, người ta gọi búp bê là hình chạm ở mũi tàu, gần như một bức tượng gỗ chạm. Do đó, thành ngữ địa phương, nói đứng giữa lái và búp bê tức là đi biển.

Mess Lethierry đặc biệt quí hóa con búp bê của tàu Durande. Ông đã đặt thợ mộc làm nó thật giống Déruchette. Giống nhờ những nhát rìu. Đây là một khúc gỗ cố gắng để thành một cô gái xinh.

Cái khối hơi dị dạng ấy gây ảo tưởng cho Mess Lethierry. Ông nhìn ngắm nó với thái độ chiêm ngưỡng của một tín đồ. Ông rất thành tâm trước cái hình đó. Nhìn nó ông nhận thấy đúng là Déruchette. Tín điều giống sự thật, và thần tượng giống Chúa cũng đại khái như thế.

Mỗi tuần Mess Lethierry có hai niềm vui lớn, một niềm vui vào ngày thứ ba và một niềm vui vào ngày thứ sáu. Niềm vui thứ nhất, thấy tàu Durande ra đi, niềm vui thứ hai, thấy nó trở về. Ông chống cùi tay vào cửa sổ, nhìn công trình của mình và hả hê sung sướng. Trong sách Sáng-thế ký cũng có một cái gì tương tự thế. Et vidit quod esset bonum[27].

Ngày thứ sáu, việc có mặt của Mess Lethierry ở cửa sổ có giá trị như một dấu hiệu. Khi nào thấy ở cửa sổ nhà Bravées, cái tẩu của ông loé sáng là người ta bảo: A! Chiếc tàu hơi nước đang ở phía chân trời. Làn khói nọ báo tin làn khói kia.

Tàu Durande về đến cảng là buộc cáp dưới cửa sổ của Mess Lethierry, vào một khoanh sắt to gắn trong nền nhà Bravées. Những đêm ấy, Lethierry đánh một giấc ngon lành trên chiếc võng của ông, cảm thấy bên này Déruchette đang ngủ yên và bên kia Durande được buộc kỹ.

Chỗ buộc tàu Durande, khu vực Bravées, ngôi nhà, mảnh vườn, những con đường hẻm có rào giật, và cả phần lớn các ngôi nhà xung quanh, ngày nay không còn nữa. Việc khai thác đá hoa cương của Guernesey đã buộc phải bán những mảnh đất ấy. Toàn bộ địa điểm, vào giờ phút này, đều bị những công trường đá chiếm giữ.

XI NHÌN QUA NHỮNG ANH CHỒNG CƠ HỘI

Déruchette lớn lên và vẫn không lấy chồng.

Mess Lethierry trong khi tạo cho cô đôi bàn tay trắng, đã làm cho cô sinh ra khó tính. Những lối giáo dục ấy về sau thường phản lại các bạn.

Vả lại, về phía mình, ông còn khó tính hơn. Người chồng mà ông tưởng tượng cho Déruchette cũng phần nào là một người chồng cho Durande. Ông ước sao cùng một lúc kiếm được chồng cho cả hai cô con gái của ông. Ông những mong sao người dìu dắt cô sau này cũng có thể là hoa tiêu của họ. Chồng là thế nào? Là người thuyền trưởng của một chuyến vượt trùng dương. Tại sao lại không cùng một chủ nhân cho cả cô con gái và chiếc tàu? Một gia đình tuân theo những dòng nước thủy triều. Anh nào biết dẫn dắt một chiếc tàu khắc biết dẫn dắt một người vợ. Đấy là hai nữ thần dân của trăng và của gió. Sier Clubin, kém Mess Lethierry có mười lăm tuổi, chỉ có thể là một người chủ tạm thời của Durande, cần phải có một tay hoa tiêu trẻ, một chủ nhân chính thức, một người kế tục thực sự cho người sáng lập, cho người phát minh, cho người sáng tạo. Người hoa tiêu chính thức của Durande sẽ phần nào là con rể của Mess Lethierry. Tại sao lại không hòa hai anh con rể vào làm một? Ông luôn luôn ôm ấp ý nghĩ ấy. Bản thân ông cũng thấy xuất hiện trong những giấc mộng của ông một vị hôn phu. Một anh chàng coi buồm khỏe mạnh, rám nắng và hung hung, lực sĩ của biển cả, lý tưởng của ông là thế. Đây không phải hoàn toàn là lý tưởng của Déruchette. Cô xây một giấc mộng tươi hồng hơn thế.

Dù sao ông chú và cô cháu cũng dường như thống nhất với nhau về điểm không cần vội vã. Khi thấy Déruchette sắp trở thành một cô thừa kế, các đám đều lũ lượt kéo đến. Những trò sốt sắng ấy không phải lúc nào cũng thuộc loại tốt. Mess Lethierry cảm thấy điều đó. Ông lầu bầu: cô dâu vàng cốm, chú rể đồng thau. Và ông từ chối khéo các chàng trai rấp ranh bắn sẻ. Ông chờ đợi. Cô cũng vậy.

Điểm đặc biệt, ông ít quan tâm đến tầng lớp quí phái. Về mặt này, Mess Lethierry có vẻ không phải là người Anh. Người ta sẽ khó tin rằng ông đã đi đến chỗ thay mặt cho Déruchette từ chối một anh chàng Ganduel ở Jersey, một anh Bugnet-Nicolin ở Serk. Người ta còn dám khẳng định, nhưng chúng tôi ngờ sự việc có thể như thế, rằng ông không nhận một tầng lớp quí phái Aurigny, và ông đã từ chối đề nghị của một người trong gia đình Édou, gia đình này tất nhiên thuộc dòng họ d’Édouard, cha Xưng tội.

XII NHỮNG NGOẠI LỆ TRONG TÍNH TÌNH CỦA LETHIERRY

Mess Lethierry có một khuyết điểm, một khuyết điểm lớn. Ông căm ghét, không phải một con người, mà một thứ gì đó, cha cố. Một hôm, ông đọc - vì ông vẫn hay đọc - Voltaire, vì ông hay đọc Voltaire - gặp mấy chữ: “cánh cố đạo là một giống mèo”, ông liền đặt sách xuống, và người ta nghe ông khẽ lầm bầm: mình cảm thấy mình là chó.

Cần nhớ rằng cánh cố đạo, phái Luther và phải Calvin cũng như phái Gia-tô, dạo ông đóng chiếc Tàu Quỷ, địa phương đã kịch liệt đả kích ông và nhẹ nhàng làm ông khốn đốn. Làm cách mạng trong ngành hàng hải, tìm cách tô điểm cho quần đảo Normandie bằng một tiến bộ, làm cho hòn đảo nhỏ Guernesey được hưởng trước thành quả của một phát minh mới, đây là một điều táo bạo đáng trừng phạt, điều ấy chúng tôi không giấu giếm. Vì vậy người ta có đọa đày ông chút ít. Xin đừng quên rằng ở đây chúng tôi nói về tầng lớp tăng lữ cũ, khác hẳn tầng lớp tăng lữ hiện nay, trong hầu hết các nhà thờ địa phương, nó có một khuynh hướng tự do về tiến bộ. Người ta đã dùng hàng trăm cách ngăn trở Lethierry; tất cả những gì có thể dùng để ngăn trở trong các bài giảng và bài thuyết pháp đều được đưa ra để chống lại ông. Bị các nhà chức sắc của nhà thờ khinh ghét, ông cũng khinh ghét họ. Mối hằn thù là trường hợp giảm khinh cho lòng căm thù của ông.

Nhưng phải nói là mối ác cảm của ông đối với các cố đạo có tính chất phản ứng riêng biệt. Ông không cần bị hằn thù mới sinh ra căm ghét họ. Như ông nói, ông là con chó của những con mèo kia. Ông chống đối họ vì tư tưởng và, điều khó giảm nhẹ nhất, vì bản năng. Ông cảm thấy những móng vuốt ngầm của họ, nên ông nhe răng ra. Hơi sai một tí, chúng ta công nhận như thế, và không phải luôn luôn đúng lúc. Không biết phân biệt là một điều sai trái. Không có hình thù nào hoàn toàn tốt cả. Trước mắt ông, vị trợ tế xứ Savoy cũng không được tha thứ. Đối với Mess Lethierry, chưa chắc đã có một cố đạo nào tốt. Triết gia quá, ông đâm ra mất hết khôn ngoan. Người khoan dung cố chấp cũng như người ôn hòa nổi khùng. Nhưng Lethierry quá hiền lành nên ông không thể căm hờn thật sự. Ông đẩy ra hơn là tấn công. Ông đối xử lãnh đạm với giới tăng lữ. Họ đã làm hại ông, ông chỉ tự hạn chế không làm điều hay cho họ. Điểm khác biệt giữa căm hờn của họ và của ông chính là ở chỗ căm hờn của họ là thù oán, còn căm hờn của ông là ác cảm.

Tuy là một hòn đảo nhỏ bé, Guernesey vẫn có đủ chỗ cho hai tôn giáo. Nó chấp nhận cả đạo Gia-tô, cả đạo Tin Lành. Chúng ta cần thêm rằng nó không để cả hai đạo vào một nhà thờ. Mỗi đạo giáo đều có đền thờ hay giáo đường riêng. Ở Đức, tại Heideberg chẳng hạn, người ta không khách sáo lắm, người ta cắt đôi nhà thờ, một nửa cho thánh Pierre, một nửa cho Thánh Calvin; giữa hai bên, một bức vách để đề phòng những trò đấm đá; phần bằng nhau; phái Gia-tô có ba bàn thờ, phái Huguenot có ba bàn thờ; vì giờ hành lễ trùng nhau, cái chuông duy nhất đành phải rung cho cả hai bên cùng một lúc. Cùng một lúc nó gọi con chiên đến với Chúa và đến cả với Quỷ. Thật là giản tiện.

Tính lạnh lùng của người Đức thích hợp với những kiểu xóm giềng như thế. Nhưng ở Guernesey mỗi tôn giáo đều có cơ sở riêng.

Có giáo khu chính thống và có giáo khu tà đạo. Người ta có thể lựa chọn. Không theo bên này, không theo bên kia; đây là cách lựa chọn của Mess Lethierry.

Người thủy thủ ấy, công nhân ấy, nhà triết gia ấy, con người nhờ lao động mà thành đạt ấy, bề ngoài rất đơn giản, suy cho cùng chẳng đơn giản chút nào. Ông cũng có những mâu thuẫn và những kiểu cố chấp của ông. Về mặt cố đạo thì ông không lay chuyển. Ông có thể chấp cả Montlosier.

Ông tự cho phép mình dùng những câu chế giễu rất không đúng chỗ. Ông có những chữ của ông, kỳ quặc, nhưng ý nghĩa. Đi xưng tội, ông gọi là đi “chải lương tâm”. Chút ít chữ nghĩa học được, rất ít, một đoạn sách đọc được đây đó, giữa hai cơn bão, vì lý do chính tả mà thành rắc rối thêm. Ông cũng có những lối phát âm sai, không phải lúc nào cũng ngây thơ. Sau trận Waterloo, lúc hòa bình được lập lại giữa nước Pháp của Louis XVIII và nước Anh của Wellington, Mess Lethierry nói: Bourmont chính là tên phản bội nối liền[28] giữa hai trận địa. Có lần ông viết Papauté là pape ôté[29]. Chúng tôi không nghĩ đó là cố tình.

Thái độ chống đối chế độ Giáo Hoàng làm cho ông hòa hoãn với giáo phái Anh quốc. Ông không được các Mục sư Tin Lành, mà cũng không được những Cha Cố Gia-tô yêu quí. Trước các tín điều quan trọng nhất, tính vô tôn giáo của ông biểu lộ gần như không dè dặt. Một hôm, tình cờ run rủi ông nghe được một bài thuyết giảo về địa ngục của cha tôn kính Jaquemin Hérode, một bài thuyết giáo tuyệt vời từ đầu đến cuối đầy rẫy những văn bản tôn nghiêm chứng minh các hình phạt đời đời, những khổ hình, những tra tấn, những đày đọa, những trừng trị khắc nghiệt, những kiểu thiêu đốt không thôi, những lời nguyền rủa không bao giờ dứt, những cơn giận của đấng tối cao, những trận lôi đình của thượng đế, những cách trả thù của thần thánh, những chuyện không thể bác bỏ được, người ta nghe thấy ông nói một cách dịu dàng lúc đi ra với một trong những tín đồ: - Ông biết không, tôi có một ý nghĩ rất buồn cười. Tôi cứ tưởng là Chúa lòng lành lắm kia đấy.

Nguồn gốc vô thần ấy của ông do thời gian sống ở Pháp mà có.

Mặc dầu ông vốn là người Guernesey khá thuần túy, trong đảo người ta vẫn thường gọi ông là: “ông người Pháp” vì tinh thần improper[30] của ông. Bản thân ông cũng không phản đối chuyện ấy, ông tiêm nhiễm những tư tưởng quá khích. Lòng hăng say của ông trong việc đóng chiếc tàu chạy bằng hơi nước, chiếc Tàu Quỷ, đã chứng minh điều ấy. Ông nói: Tôi được bú sữa của năm 89[31]. Đấy không phải là thứ sữa tốt.

Vả lại ông thường tạo ra những từ phản nghĩa. Ở những tỉnh rất nhỏ, rất khó giữ được toàn vẹn. Ở Pháp, giữ thể diện, ở Anh, được kính trọng, cuộc sống yên ổn đòi hỏi phải như vậy. Được kính trọng, điều ấy đòi hỏi một loạt qui tắc, từ ngày Chúa nhật rất thần thánh hóa đến chiếc cà vạt tử tế. “Chớ để bị phỉ báng công khai”. Đấy lại thêm một điều khủng khiếp nữa. Bị phỉ báng công khai, đấy là bị rút phép thông công thu hẹp. Các thành phố nhỏ, nơi đầy rẫy mụ mồm loa mép giải, rất giỏi trong cái trò độc ác cô lập này, nó là các tai họa nhìn qua ống nhòm. Những người dũng cảm nhất cũng phải sợ cái trò sỉ vả ấy. Người ta đương đầu với đại liên, với gió dữ, nhưng lại lùi bước trước bà Pimbêche. Mess Lethierry vốn ngoan cố hơn là có lý luận. Nhưng dưới áp lực ấy, tính ngoan cố của ông cũng chùn. Ông cho “nước vào rượu”, một thành ngữ khác đầy nhượng bộ kín đáo, và đôi khi xảy ra. Ông không muốn gần các vị tăng lữ, nhưng lại không cương quyết cấm cửa họ. Những dịp chính thức và những thời gian viếng thăm đã định của cha cố, ông tiếp đón một cách vừa phải, hoặc vị mục sư phái Luther hoặc ông tư tế phái Giáo Hoàng. Năm thì mười họa ông cũng đi theo Déruchette đến giáo khu phái Anh quốc. Nhưng chúng tôi đã nói, chính cô cũng chỉ đến đây vào bốn dịp lễ lớn trong năm.

Kể ra những trò nhượng bộ khổ tâm ấy khiến ông đâm ra cáu kỉnh, và không những không làm ông ngả về phía các tăng lữ mà còn khiến ông thêm khó gần. Ông càng nhạo báng để bù lại. Con người không chua cay này chỉ khắc nghiệt về mặt ấy thôi. Ở đây không có cách nào sửa đổi được tâm tính của ông.

Thực sự và nhất định, đây là tính khí của ông, và đành phải chịu ông vậy.

Tăng lữ nào ông cũng đều không ưa. Ông mang trong mình cái chất bất kính cách mạng. Ông ít phân biệt kiểu thờ phụng này với thờ phụng khác. Ông không thừa nhận cả sự tiến bộ lớn này: không tin vào thực tế. Tính thiển cận của ông trong vấn đề này còn đi đến chỗ không nhìn thấy nét khác biệt giữa một mục sư và một thầy dòng. Ông lẫn lộn một thầy giảng đáng kính với một cha cố đáng kính. Ông nói: Wesley cũng chẳng hơn gì Loyola[32]. Hễ thấy một mục sư đi qua cùng với vợ là ông ngoảnh mặt đi. Cha cố mà lấy vợ! Ông nói với cái giọng vô lý mà thời ấy mấy chữ này vẫn có ở nước Pháp. Ông kể chuyện, lần cuối cùng sang Anh chơi, ông đã được thấy “Giám mục phu nhân của Luân Đôn”. Ông phản đối kiểu hôn nhân này đến mức phẫn nộ. - Áo dài là không có lấy áo dài! - ông quát lên. Đối với ông, giao quyền mang tính chất một giới tính. Ý ông muốn nói: “Chẳng phải đàn ông, chẳng phải đàn bà, cha cố”. Ông gán một cách khiếm nhã cho giới tăng lữ phái Anh giáo và cho giới tăng lữ phái Giáo Hoàng những tính từ khinh miệt giống nhau; ông cho cả hai chiếc “áo dài thâm” vào cùng một rọ; và ông không cần mất công thay đổi, khi nói về cha cố, bất kể họ là thế nào, phái Gia-tô hay phái Luther, những hoán dụ lính tráng quen thuộc quen dùng thời ấy. Ông bảo với Druchette: “Cháu muốn lấy ai thì lấy, miễn là đừng lấy một thằng đội mũ chỏm”.

XIII VÔ TẬN CŨNG LÀ MỘT KHÍA CẠNH CỦA DUYÊN DÁNG

Một lời nói ra Mess Lethierry nhớ mãi, một lời nói ra Déruchette quên ngay. Đấy là điểm khác nhau giữa ông chú và cô cháu.

Như chúng ta đã thấy, Déruchette vốn không quen chịu trách nhiệm. Chúng ta cần nhấn mạnh, trong một nền giáo dục không được chú trọng đúng mức có không ít nguy hại tiềm tàng. Muốn cho con cái sớm được sung sướng quá, đó có lẽ là một điều dại dột.

Déruchette nghĩ rằng chỉ cần mình bằng lòng là tất cả mọi chuyện đều tốt đẹp. Vả lại cô thấy chú cô vui mỗi khi thấy cô vui. Gần như cô có những ý nghĩ của Mess Lethierry. Về mặt tín ngưỡng, cô cảm thấy thỏa mãn mỗi năm đến giáo khu bốn lần. Ta đã được thấy cô trong bộ cánh ngày lễ Giáng sinh rồi. Về cuộc đời, cô chẳng biết gì hết. Cô có tất cả những gì cần thiết để một ngày kia điên loạn vì yêu đương. Trong lúc chờ đợi, cô hớn hở vui tươi.

Cô hát lung tung, cô nói lung tung, cô sống qua ngày, cô buông ra một tiếng rồi bỏ đi, cô làm một việc gì đấy rồi chạy trốn, thật là đáng yêu. Các bạn cứ thêm vào đấy cái chất tự do kiểu Anh-Cát-Lợi. Ở Anh trẻ con đi một mình, con gái làm chủ bản thân, thanh niên không bị ràng buộc. Phong tục là như vậy. Sau đó các cô gái tự do ấy trở thành những người đàn bà nô lệ. Ở đây chúng tôi dùng hai chữ ấy với khía cạnh tốt, tự do trong trưởng thành, nô lệ trong bổn phận.

Mỗi sáng Déruchette thức dậy, không có ý thức gì đến hành động ngày hôm trước của mình. Nếu hỏi cô đã làm gì tuần trước, có lẽ các bạn sẽ làm cô bối rối. Điều đó không ngăn cản cô, vào những giờ phút u ám, cũng có một chút lo âu huyền bí, và cảm thấy đen tối của cuộc đời lướt qua trên sự nảy nở và niềm vui của mình. Những khoảng trời xanh ấy thường có những đám mây như vậy. Nhưng những đám mây ấy cũng sớm tan bay. Cô thoát khỏi chúng bằng một tiếng cười vang. Cô không rõ tại sao mình buồn, cũng không biết tại sao mình lại trong sáng. Cô vui đùa với tất cả mọi thứ. Tính nghịch ngợm của cô mổ cả vào khách qua đường. Cô trêu ghẹo đám con trai. Giá có gặp quỷ sứ, chắc cô cũng chẳng thương hại gì nó, cô cũng cho nó một vố. Cô xinh, cô đẹp, đồng thời cô vô tâm đến mức lạm dụng cả điểm ấy. Cô ban phát nụ cười cũng như một chú mèo con xòe móng ra tát. Mặc xác kẻ bị cào. Cô không nghĩ đến chuyện ấy nữa. Đối với cô không có ngày hôm qua, cô sống trong cảnh trọn vẹn của ngày hôm nay. Hạnh phúc quả là như vậy đấy. Ở Déruchette ký ức bay biến như tuyết tan.

❀ ❀ ❀

[1] Welcome (tiếng Anh): Hoan nghênh.

[2] Sáng thế ký, chương III, câu 16: Người sẽ đau đớn khi sinh con.

[3] Sáng thế ký chương I, câu 4: Đức Chúa Trời bèn phân ra ánh sáng và u minh

[4] Léviathan: Yêu quái khổng lồ

[5] Robert Fulton (1765-1835): Người Hoa Kỳ đầu tiên đã cải tiến thành công tàu chạy hơi nước

[6] Khải Huyền (Apocalypse); tập cuối cùng trong Tân Ước. Giáo hội cho rằng tập này do thánh Jean ghi lại (chương XIII, câu 1).

[7] Sultan: Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ

[8] Caberza de moro (tiếng Tây Ban Nha): đầu một tên Maure.

[9] Arlequin: vai hề mặc quần áo may bằng những mảnh vải chắp vá khác màu.

[10] Verdet: nhóm bảo hoàng khủng bố ở miền Nam nước Pháp sau ngày 9 Thermidor, và sau thời kỳ Một trăm ngày, đeo một băng vải xanh trên cánh tay.

[11] Guillotine (tiếng Pháp): bị chém cổ bằng máy chém.

[12] Thaleb: người Maure viết thuê hay công chứng viên.

[13] Danh xưng cấp bậc xã hội, Mess cao hơn Sieur một bậc (xem quyển ba, chương VI).

[14] Piê (pied): Đơn vị chiều dài: bằng 0,324 m.

[15] Livrơ (livre): Đơn vị trọng lượng, quãng nửa kilogam.

[16] Hàng năm người Pháp kỉ niệm ngày 14 tháng Bảy năm 1789, ngày quần chúng nổi dậy chiếm nhà ngục lớn Bastille ở Paris.

[17] Gentry and Nobility (tiếng Anh): giai cấp trung lưu và giai cấp quý tộc.

[18] Lethierry Esquize: Lethierry, dũng sĩ tùy tùng (một tước vụ xã giao).

[19] Một lối chơi chữ: Marian, đồng âm với hai danh từ tiếng Pháp là mari - người chồng và âne - con lừa.

[20] Tên và địa chỉ nhà vẽ đồ bản của vua.

[21] Jacques-Bénigne Bossuet (1627-1704): một giáo sĩ Gia-tô và một nhà đại hùng biện.

[22] Tức Bossuet, người vẫn được người đương thời gọi là con đại bàng của thành Meaux.

[23] Sắc dụ do Henry IV ký năm 1598 cho Tân Giáo được tự do truyền bá ở Pháp, sắc dụ này đến thời Louis XIV bị bãi bỏ dần, đến năm 1685 thì bãi bỏ hẳn, và người theo Tân Giáo phải trốn ra nước ngoài.

[24] Huguenot: người theo phái Tân Giảo của Calvin.

[25] Nguyên văn tiếng La tinh: alter ego.

[26] Có lẽ tác giả nhầm, vì ở Việt Nam không có sư tử. Đây chắc là một con hổ.

[27] Và thấy thế là tốt (Sáng thế ký, chương I, câu 13).

[28] Lẽ ra phải nói là Le traid d’union (cái dấu nối), nhưng Lethierry nói sai là le traitre (tên phản bội) d’union.

[29] Papauté là chế độ Giáo Hoàng, còn pape ôté là Giáo Hoàng bị phế truất. Hai chữ này đọc nhanh nghe gần như nhau.

[30] Improper (tiếng Anh): không thích hợp.

[31] Năm 89: Năm bắt đầu cách mạng Pháp.

[32] John Wesley: nhà thần học và thuyết giáo người Anh theo đạo Tin Lành. Loyola (tức thánh Ignace de Loyola): người sáng lập dòng Tên.

Hoàng Lâm (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.