Sieur Clubin là người đang chờ đợi một cơ hội.
Ông ta nhỏ người, nước da vàng vàng, sức khỏe như bò mộng. Biển cả đã không làm rám nổi ông ta. Da thịt ông ta như thể bằng sáp ong. Ông ta giống màu một cây nến và trong mắt ông ta có cái ánh kín đáo của nó. Trí nhớ của ông gần như không thể nhầm lẫn và hết sức đặc biệt. Nhìn thấy ai một lần, là ông ta nhớ mãi người ấy, như ghi vào sổ. Cái nhìn nhanh gọn ấy nắm rất chặt. Con người ông chụp ảnh một khuôn mặt và lưu giữ lại nó; khuôn mặt tha hồ già đi, Sieur Clubin vẫn nhận ra nó. Không thể nào đánh lạc hướng được cái kỷ niệm dai dẳng đó. Sieur Clubin ít nói, thanh đạm, lạnh lùng, không bao giờ giơ tay giơ chân. Vẻ mặt ngay thật của ông ta thoạt tiên được gây cảm tình. Nhiều người cứ tưởng ông ta ngây thơ; ở khóe mắt ông ta có một vết nhăn ngu ngốc lạ lùng. Như chúng tôi đã nói, không có tay thủy thủ nào giỏi hơn ông; không ai hơn ông ta về khoa kéo buồm hạ mũi gió, và giữ buồm đúng hướng bằng dây lèo. Không ai nổi tiếng bằng ông ta về mặt tôn giáo và liêm khiết. Ai ngờ vực ông ta thì chính người ấy lại bị hiềm nghi. Ông ta kết bạn với ông Rébuchet, làm nghề đổi bạc ở Saint-Malo, phố Saint-Vincent, cạnh nhà bán vũ khí, và ông Rébuchet thường nói: “Tôi có thể nhờ Clubin trông nom hộ cửa hàng”. Sieur Clubin góa vợ. Vợ ông ta trước kia là người đàn bà lương thiện cũng như ông ta là người đàn ông lương thiện. Bà ta chết với cái tiếng đức hạnh tuyệt vời. Nếu ông pháp quan trước kia mà có thả lời tán tỉnh bà ta, hẳn bà ta đã đi tâu với nhà vua; và nếu Chúa Trời mà có phải lòng bà ta, hẳn bà ta đã đi nói với cha cố. Đôi vợ chồng ấy, Sieur Clubin và bà Clubin, đã thực hiện được ở Torteval lý tưởng của tính từ Anh, đáng kính. Bà Clubin như con thiên nga; Sieur Clubin như con chồn trắng. Ông ta có thể chết được vì một vết nhơ. Bắt được một cái kim băng là ông ta phải tìm bằng được chủ nhân. Ông ta có thể đánh trống để rao trả lại một bao diêm. Một hôm, ông vào một tiệm ăn ở Saint-Servan, và nói với người chủ quản: Cách đây ba năm, tôi có vào đây ăn bữa trưa và ông đã tính nhầm tiền; và ông ta đã trả lại cho chủ quán sáu mươi nhăm xăngtim. Đấy là một hành vi liêm khiết cao quý, với một cử chỉ cắn môi trầm ngâm.
Dường như ông ta có ý rình mò. Rình ai? Chắc rình bọn lưu manh.
Thứ ba nào ông ta cũng lái tàu Durande từ Guernesey đến Saint-Malo. Ông ta đến Saint-Malo chiều thứ ba, ở lại đây hai ngày để bốc xếp hàng hóa, và sáng thứ sáu lại đi Guernesey.
Ở Saint-Malo dạo ấy có một lữ quán nhỏ trên cảng gọi là quán ông Jean.
Công cuộc xây dựng các bến cảng hiện nay đã phá hủy mất cái quán ấy. Thời bấy giờ nước biển lên làm ướt cả Saint-Vincent và cửa Dinan; Saint-Malo và Saint-Servan liên lạc với nhau lúc nước triều xuống bằng xe bò mui và xe thổ mộ len lách giữa các tàu bè nằm trên cạn, tránh những chiếc phao, neo và thừng chão, đôi khi liều chịu rách cả mui da vì một cái trục buồm thấp hay một cái sà buồm tam giác. Giữa hai đợt thủy triều, cánh đánh xa hành hạ lũ ngựa trên mặt cát, nơi mà sáu giờ sau, gió lại quất vào sóng biển. Cũng trên bãi cát này trước kia có hai mươi bốn con chó gác cửa Saint-Malo thường chạy lang thang và năm 1770 chúng đã ăn thịt mất một sĩ quan thủy quân. Tính quá ư tích cực ấy khiến phải bãi bỏ chúng đi. Ngày nay không còn nghe tiếng chó sủa đêm giữa Talard nhỏ và Talard nhớn nữa.
Sieur Clubin thường nghỉ ở Quán Ông Jean. Văn phòng Pháp của tàu Durande đặt tại đấy.
Cánh thuế quan và bảo vệ bờ biển hay đến ăn uống tại Quán Ông Jean. Họ có bàn riêng. Vì nhu cầu công tác cánh thuế quan Binac thường gặp nhau ở đấy với cánh thuế quan Saint-Malo.
Một số chủ thuyền cũng thường đến đây, nhưng ăn ở một bàn khác.
Sieur Clubin khi thì ngồi ở bàn này, khi thì ngồi ở bàn kia tuy vậy ông ta vẫn thích ngồi cùng bàn với cánh thuế quan hơn là cánh chủ thuyền. Cả hai nơi ông ta đều được hoan nghênh.
Ở đây ăn uống tốt. Có những thứ rượu ngon của địa phương xa lạ đối với những thủy thủ xa nhà. Một thủy thủ tiểu chủ ở Bilbao cũng có thể tìm được ở đấy một helada. Ở đấy cũng có thể uống được bia đen như ở Greenwich, và gueuse nâu như ở Anvers.
Có những thuyền trưởng đường dài và những tay kinh doanh vận tải đôi khi lên mặt ở bàn các chủ thuyền. Ở đây người ta trao đổi tin tức với nhau: - Đường ra sao rồi? - Cái chất ngọt ấy chỉ thấy một ít thôi. Thế nhưng đường thô thì vẫn có đấy, ba nghìn bao của Bombay và năm trăm thùng của Sagua. - Rồi các ông xem cánh phải cuối cùng sẽ quật đổ Villèle cho xem. - Thế còn cái khoản chàm? - Người ta chỉ đặt giá có bảy surons Guatemala. - Tàu Nanine-Julie đã vào đến cảng ngoài rồi. Một loại thuyền ba buồm rất đẹp của Bretagne. - Lại hai thành phố nữa của de la Plata cãi vã nhau. - Hễ Montevideo béo ra là Buenos - Ayres lại gầy. - Phải chuyển tải hộ tàu Regina-Cœli bị cấm chạy ở Callao. - Cacao chạy lắm. Bao Caraques định giá hai trăm ba mươi tư, còn bao Trinidad bảy mươi ba. Hình như hôm duyệt binh ở Champ de Mars người ta đã hô: Đả đảo các bộ trưởng! - Da muối chưa thuộc của xưởng thịt Nam Mỹ bán chạy lắm, bò đực sáu mươi frăng, bò cái bốn mươi tám. - Họ đã qua Balkan chưa? Diebitsch làm gì? - Ở Saint Francisco đang khan rượu hồi. Dầu ôliu Piagniol đứng giá. Pho mát Gruyère ba mươi hai frăng một tạ đấy. - Thế này, Léon XIII chết chưa? - Vân vân…
Những chuyện ấy được người ta gào thét và bình luận ầm ĩ với nhau. Ở bàn cánh thuế quan và bảo vệ bờ biển người ta nói khẽ hơn.
Công tác cảnh sát bờ biển và hàng hải càng muốn ít ầm ĩ hơn và ít lộ liễu hơn trong đối thoại.
Bàn cánh chủ thuyền do ông Gertrais Gaboureau, một thuyền trưởng già đường dài, chủ tọa. Ông Gertrais Gaboureau không phải là một con người, mà là một phong vũ biểu. Thói quen biển cả của ông đã ban cho ông một cái tài dự đoán phi thường không bao giờ lầm lẫn. Ông hạ lệnh cho thời tiết ngày mai. Ông chẩn đoán gió; ông bắt mạch thủy triều. Ông nói với mây trời: thè lưỡi mày ra cho tao xem. Nghĩa là chớp. Ông là bác sĩ của sóng nước, của gió nhẹ, của cuồng phong. Đại dương là con bệnh của ông, ông đã đi vòng quanh thế giới như người ta vòng quanh bệnh viện, quan sát mỗi thứ khí hậu lúc nó khỏe mạnh và khi nó giở giời; ông biết tường tận bệnh lý bốn mùa. Người ta nghe ông phát biểu những việc như sau: - Năm 1706, phong vũ biểu đã có lần hạ xuống ba vạch dưới bão. Ông làm thủy thủ vì ông yêu nghề. Ông yêu biển cả bao nhiêu thì ông căm ghét nước Anh bấy nhiêu. Ông đã nghiên cứu hải quân Anh để biết được nhược điểm của nó. Ông đã giải thích chiếc Sovereign năm 1637 khác chiếc Royal William năm 1670, và khác chiếc Victory năm 1765 như thế nào. Ông so sánh các kiểu thân tàu phía trên ngấn nước. Ông tiếc những cái tháp boong và những đài hình phễu trên cột buồm của tàu Great Harry năm 1514, có lẽ về phương diện đạn đại bác Pháp rơi rất trung vào các chỗ ấy. Đối với ông các quốc gia chỉ tồn tại bằng thể chế hải quân của chúng; ông có những từ đồng nghĩa kỳ quặc riêng của ông. Ông thích gọi nước Anh bằng Trinity House, xứ Scotland bằng Northern Commissionners, và xứ Irlande bằng Ballast Board[1]. Ông có thể chỉ dẫn về nhiều mặt, ông là sách vỡ lòng, là lịch toàn thư, là mực nước, là bảng giá. Ông thuộc lòng thuế đèn biển, nhất là đèn biển nước Anh; một penny mỗi tấn khi đi qua ngọn này, một phactinh khi đi qua ngọn kia. Ông nói: Ngọn hải đăng Small’s Rock, trước kia chi tiêu thụ có hai trăm ga lông dầu, nay tiêu thụ một nghìn năm trăm ga lông. Một hôm trong cơn ốm nặng trên tàu, người ta cứ tưởng ông chết, thủy thủ vây quanh võng ông, ông bỗng dừng cơn nấc hấp hối để nói với thợ cả đóng tàu: - Làm mỗi bên một cái mộng vào bề dày các mảnh chắp cột buồm để lùa một bánh xe rãnh bằng gang có trục sắt, và để lấy chỗ lùa thừng dựng buồm, thì rất có lợi. Từ tất cả những chuyện đó nổi bật lên một gương mặt hết sức oai nghiêm.
Ít khi câu chuyện ở bàn cánh chủ tàu lại cùng chủ đề với câu chuyện ở bàn cánh hải quan. Tuy vậy trường hợp ấy xảy ra đúng vào những ngày đầu tháng hai, mà những câu chuyện chúng tôi kể đây đã dẫn chúng tôi đến. Chiếc tàu ba buồm Tamaulipas, thuyền trưởng là Zuela, từ Chilê đến và đang trở về đấy, gợi sự chú ý của cả hai nhóm. Ở nhóm chủ thuyền, người ta nói chuyện về khoản hàng nó chở, và ở nhóm hải quân về hướng nó đi.
Thuyền trưởng Zuela, ở Copiapo, là một người Chilê, có chút máu Colombia, đã tự ý tham gia vào các cuộc chiến tranh vì độc lập, lúc thì ủng hộ Bolivar, lúc thì ủng hộ Morillo, tùy lúc nào thấy có lợi. Ông ta đã làm giàu nhờ giúp đỡ tất cả mọi người. Chẳng ai Bourbonien hơn, Bonapartiste hơn, chuyên chính hơn, tự do hơn, vô thần hơn và công giáo hơn. Ông ta thuộc phe phái lớn mà người ta có thể đặt tên phái là Lợi nhuận. Thỉnh thoảng lại thấy ông ta xuất hiện làm ăn ở Pháp, và cứ theo lời đồn đại thì ông ta sẵn sàng chở trên tàu những kẻ chạy trốn, bọn phá sản hoặc bọn bị trục xuất chính trị - ông ta bất cần - miễn là chịu chi tiền. Cách xuống tàu ông ta rất đơn giản. Kẻ đào tẩu chờ ở một địa điểm hẻo lánh nào đó trên bờ biển, và vào lúc nhổ neo, Zuela cho một chiếc canô đi đón hắn ta. Bằng cách đó, chuyến tàu trước ông ta đã giúp cho một tên bị kết án khuyết tịch trong vụ Berton trốn thoát, và nghe nói lần này ông ta dự định đưa đi số người liên lụy trong vấn đề Bidassoa. Cảnh sát được báo trước, đang theo dõi ông ta.
Dạo ấy đang là một thời kỳ chạy trốn. Trùng hưng là một sự thoái bộ, thế nhưng cách mạng thường dẫn đến những chuyện di cư và trùng hưng thường kéo theo những chuyện trục xuất. Suốt trong bảy tám năm đầu tiên, sau khi dòng họ Bourbons trở về, khắp nơi hoảng loạn, trong tài chính, công nghiệp, trong thương nghiệp, đều cảm thấy đất bằng chuyển động và đầy rẫy những vụ phá sản. Trong chính trị mạnh ai nấy chạy. Lavalette đã trốn, Lefebvre - Desnouettes đã trốn, Delon đã trốn. Những tòa án đặc biệt hoành hành, lại thêm Trestaillon. Người ta chạy trốn cầu Saumur, sân đình Réole, bức tường Thiên văn Đài Paris, tháp Taurias, những hình bóng ảm đạm sừng sững trong lịch sử, mà thoái bộ còn in dấu, và là nơi ngày nay người ta còn nhận thấy bàn tay đẫm máu ấy. Ở Luân Đôn, vụ án Thistlewood kéo dài sang tận Pháp, tại Paris vụ án Trogoff lan sang tận Bỉ, Thụy Sĩ và Italia, đã nhận thêm những lý do lo lắng và mất tích, và tăng thêm tình trạng tán loạn ngấm ngầm sâu sắc gây nên cảnh trống vắng cả trong những tầng lớp trên của trật tự xã hội bấy giờ. Tìm nơi an toàn, đấy là mối lo nghĩ chung. Bị liên can là hết thời. Bị tố cáo tức là bị hành hình. Tinh thần các pháp đình đặc biệt ngày xưa đã sống lâu hơn thể chế các phán quyết đều tùy tiện. Người ta trốn sang Texas, vào núi Rocheuses, sang Péru, sang Mexico. Những người vùng sông Loire, lúc ấy là cướp cỏ, ngày nay là hiệp sĩ giang hồ, đã thành lập trại Asile. Một bài hát của Béranger có câu: “Dã man, chúng tôi là người Pháp; Hãy thương đến vinh quang của chúng tôi”. Rời bỏ Tổ quốc là thượng sách. Nhưng chẳng có gì khó hơn là chạy trốn; từ ngữ này chứa đựng những vực thẳm. Đối với kẻ lấn át thì tất cả mọi thứ đều là chướng ngại vật. Trốn tránh đòi hỏi phải cải trang. Có những nhân vật quan trọng, và danh tiếng nữa, đã phải dùng đến những công kế của kẻ bất lương. Thế mà kết quả vẫn chẳng ra gì. Họ vẫn vụng về không giống trong việc cải trang. Thói quen tự do hành động của họ khiến họ khó lọt qua những mắt lưới đào tẩu. Trước mắt cảnh sát một tên kẻ cắp trái lệch quản thúc còn chững chạc hơn một ông tướng. Có thể nào tưởng tượng ngây thơ buộc phải vẽ mặt, đạo đức phải giả giọng, vinh quang phải mang mặt nạ không. Anh chàng qua đường có vẻ đáng ngờ kia là một người danh vọng đang tìm kiếm một tờ thông hành giả. Dáng điệu gian giảo của kẻ trốn tránh không chứng tỏ trước mặt ta không phải là một vị anh hùng. Đó là những nét thoáng qua và đặc sắc của thời đại, mà “chính sử” bỏ qua, mà họa sỹ thật sự của một thế kỷ phải nhấn mạnh. Đằng sau những cuộc trốn tránh của những con người lịch sử kia thường len lách những cuộc trốn chạy của bọn bịp bợm ít bị kiểm soát và ít bị nghi ngờ hơn. Một tên vô lại buộc phải lẩn lút lợi dụng cảnh hỗn loạn, làm như mình cũng nằm trong số người bị trục xuất, và như thường khi, như chúng tôi vừa nói, nhờ có nghệ thuật hơn, trong cái cảnh nhập nhoạng ấy, lại có vẻ phong nhã hơn cả người phong nhã. Chẳng có gì ngượng ngập hơn là chính trực mà bị tái phạm. Nó chẳng hiểu ra sao cả và làm những việc vụng về. Một tên giả mạo tẩu thoát còn dễ hơn một đại biểu Quốc Ước.
Gần như có thể nói có một điều lạ lùng cần nhận thấy, đặc biệt đối với bọn bất lương, là việc đào tẩu dẫn đến tất cả. Cái khối lượng văn minh là một tên lưu manh đưa từ Paris hay Luân Đôn đến là một thứ hồi môn của nó tại những xứ sở sơ khai hay man rợ, lại tiến cử nó và tôn nó lên thành một người có công khai sáng. Biến cố ấy chẳng có gì là không thể thoát khỏi pháp luật ở chỗ này để đến với giáo chức ở chỗ nọ. Trong việc biến mất có sự lạm dụng ảo tưởng, và nhiều trường hợp đào tẩu lại có những kết quả của giấc mơ. Một sự tạm lánh kiểu ấy thường dẫn đến chuyện lạ và hão huyền. Một anh phá sản từ châu Âu trốn không trả nợ, hai mươi năm sau lại xuất hiện làm đại thần ở Mogol hay hoàng đế ở Tasmanie.
Giúp đỡ các cuộc đào tẩu, đây là một nghề, và do sự việc diễn ra thường xuyên, một nghề có lợi. Cái nghề đầu cơ này lại được bổ sung thêm bằng một số chuyện kinh doanh. Ai muốn trốn sang Anh thì nói chuyện với cánh buôn lậu; ai cần trốn sang Mỹ thì nói chuyện với bọn gian xảo đường dài như Zuela.
II CLUBIN THOÁNG THẤY MỘT NGƯỜI NÀO ĐẤY
Đôi khi Zuela đến ăn ở Quán Ông Jean. Sieur Clubin chỉ biết mặt lão thôi.
Vả lại Sieur Clubin không có tính kiêu ngạo; ông ta không coi khinh việc được biết mặt bọn vô lại. Đôi khi ông ta còn quen biết thật sự, bắt tay, chào hỏi chúng ngay giữa đường. Ông ta nói tiếng Anh với bọn gian thương trên biển và líu lô tiếng Tây Ban Nha với cánh buôn lậu. Về việc này ông có những câu cách ngôn: - Biết được điều dở là có thể rút ra được điều hay. - Gác săn nói chuyện với săn trộm cũng có lợi. - Hoa tiêu phải thăm dò hải tặc; hải tặc là một tảng đá ngầm. - Tôi nếm thử một tên vô lại cũng như thầy thuốc nếm thử thuốc độc. Không cãi vào đâu được.
Mọi người đều công nhận thuyền trưởng Clubin nói có lý. Người ta khen ngợi ông ta ở chỗ không phải là một người khó tính lố bịch. Ai dám bài bác những chuyện như thế? Mọi chuyện ông ta làm tất nhiên đều vì “lợi ích của công việc”. Ở ông ta mọi sự đều đơn giản. Không gì có thể làm thương tổn đến danh dự ông ta cả. Pha lê, có muốn tự vấy bẩn cũng không được. Sự tín nhiệm ấy là phần thưởng xứng đáng của cả một cuộc đời lương thiện, và đấy là mặt cao quý nhất của những thanh danh bền vững. Bất cứ việc gì Clubin làm hay tưởng như làm, người ta đều thấy rõ là có thâm ý trong cái nghĩa của đạo đức; ông ta được tiếng là người không thể chê trách; trước hết ông ta rất thận trọng, người ta bảo thế; và từ một việc giao du nào đó với người khác có thể bị nghi ngờ, tính liêm khiết của ông ta vẫn toát ra lại càng nổi bật về khôn khéo. Cái tiếng rất khôn ngoan ấy kết hợp với cái tiếng ngây thơ của ông ta, không chút mâu thuẫn, không chút vẩn đục. Ở đời vẫn có người ngây thơ khôn khéo. Đấy là một trong những loại người lịch sự, và một trong những loại người được mến phục nhất. Sieur Clubin thuộc loại người, bị bắt gặp nói chuyện thân mật với một tên bịp bợm hay một tên cướp, vẫn được thừa nhận, tin tưởng, hiểu biết, càng được kính trọng, và được quần chúng mến chuộng dành cho cái nháy mắt mãn nguyện.
Tàu Tamaulipas đã xếp xong hàng. Nó sắp khởi hành và sẽ nhổ neo nay mai.
Một chiều thứ ba, tàu Durande đến Saint-Malo vào lúc trời còn sáng. Sieur Clubin, đứng trên cầu tàu, theo dõi việc cập bến, chợt trông thấy cạnh Petit-Bey, trên bãi cát, giữa hai hòn núi, ở một chỗ rất hẻo lánh, hai người đang đứng chuyện trò. Ông ta liền đưa ống nhòm lên nhìn, và nhận ra ngay một trong hai người ấy. Đấy là viên thuyền trưởng Zuela. Hình như ông cũng nhận ra cả người kia.
Người kia là một tay cao to, tóc hơi hoa râm. Y đội mũ cao và bận bộ quần áo trang nghiêm của phái giáo hữu. Có lẽ đây là một người quaker[2]. Mắt y nhìn xuống ra chiều khiêm tốn.
Đến Quán Ông Jean, Sieur Clubin được biết tàu Tamaulipas định mười hôm nữa sẽ nhổ neo.
Người ta được biết sau đó, ông ta còn thu nhập thêm một số tin tức khác nữa.
Đêm hôm ấy, ông ta vào nhà người bán vũ khí ở phố Saint-Vincent và bảo với lão:
- Ông có biết súng lục là cái gì không?
- Biết, - người bán vũ khí đáp, - nó của Mỹ.
- Đấy là một kiểu súng ngắn cứ bắt đầu lại câu chuyện.
- Đúng đúng, nó vừa hỏi vừa trả lời…
- Vừa đáp lại.
- Đúng thế, ông Clubin ạ. Một loại nòng quay.
- Và năm hay sáu viên đạn.
Tay bán vũ khí nhếch mép tặc lưỡi, kèm thêm một cái lắc đầu, biểu thị sự thán phục:
- Loại súng ấy tốt lắm ông Clubin ạ. Tôi tin là nó sẽ được ưa chuộng.
- Tôi muốn mua một khẩu sáu nòng.
- Tôi không có loại ấy.
- Sao thế? Nhà bán vũ khí như ông?
- Tôi chưa nhận được loại hàng ấy. Ông thừa biết, kiểu mới mà. Của ấy vừa mới ra đời. Ở Pháp, người ta mới chế tạo có súng ngắn thôi.
- Khỉ thật!
- Nó chưa có ngoài thị trường.
- Khỉ thật?
- Tôi có một loại súng ngắn rất tốt.
- Tôi muốn mua một khẩu súng lục kia.
- Tôi đồng ý là có lợi hơn. Nhưng mà gượm, ông Clubin…
- Gì kia?
- Tôi tin lúc này ở Saint-Malo có một khẩu, cũ thôi.
- Súng lục chứ?
- Vâng.
- Ở đâu?
- Tôi tin là khắc tìm ra. Tôi sẽ hỏi dò.
- Bao giờ ông có thể trả lời tôi?
- Cũ. Nhưng mà tốt.
- Bao giờ tôi phải quay lại?
- Tôi mà đã cung cấp cho ông một khẩu súng, thì nó phải tốt.
- Bao giờ ông trả lời tôi?
- Chuyến tàu sau của ông.
- Ông đừng nói là mua cho tôi nhé. - Clubin bảo.
III CLUBIN XÁCH ĐI MÀ CHẲNG XÁCH VỀ
Sieur Clubin cho xếp hàng xuống tàu Durande, chở rất nhiều bò với một ít hành khách, và như thường lệ rời Saint-Malo đi Guernesey vào sáng thứ sáu.
Cùng ngày thứ sáu ấy, khi tàu ra khơi, lúc thuyền trưởng được phép vắng mặt một lát trên boong chỉ huy, Clubin liền đi vào cabin, đóng cửa lại, lấy một cái vali con, bỏ ít quần áo vào cái ngăn có chun, ít bánh quy, mấy hộp đồ hộp, vài lạng cacao thanh, một đồng hồ và một ống nhòm thủy thủ vào cái ngăn kiên cố, khóa vali lại, và lồng vào tai vali một đoạn dây ba tao sẵn sàng để rút kéo khi cần. Đoạn ông ta đi xuống hầm tàu, bước vào khoang để dây cáp, và người ta thấy ông ta trở lên với một sợi thừng loại có nút và móc sắt dùng cho thợ xảm thuyền trên biển và cho bọn đầu trộm đuôi cướp trên đất liền. Loại dây ấy giúp cho việc leo trèo được dễ dàng.
Đến Guernesey, Clubin đi ngay Torteval. Ông ta ở đó ba mươi sáu giờ. Ông ta cầm theo chiếc vali con với sợi thừng nút, nhưng không cầm gì về cả.
Thời kỳ ấy, bọn buôn lậu Tây Ban Nha đến tận Guernesey. Chúng đưa đến đấy xì-gà La Havan và rượu Xêrex mà người Anh vẫn gọi là Sery.
Chúng ta cần nói qua, Guernesey kể trong cuốn sách này là Guernesey ngày xưa, không còn nữa và ngày nay không thể tìm thấy đâu khác ngoài những vùng nông thôn. Tại đây nó vẫn sống, nhưng ở các thành phố thì nó đã chết rồi. Nhận xét chúng tôi dành cho Guernesey cũng phải dành cho Jersey. Saint-Hélier cũng như Dieppe, Saint-Pierre-Port cũng như Lorient. Nhờ sự tiến bộ, nhờ óc sáng tạo tuyệt vời của dân tộc nhỏ bé dũng cảm trên hải đảo này, mọi thứ đều thay đổi từ bốn mươi năm nay trong quần đảo biển Manche. Ở đâu ngày xưa là bóng tối thì ngày nay ở đấy có ánh sáng. Bây giờ xin nói sang chuyện khác.
Vào những thời ấy, đo quá xa xôi, đã trở thành thời kỳ lịch sử, việc buôn lậu trên biển Manche rất nhộn nhịp. Thuyền gian nhan nhản, nhất là trên bờ phía Tây Guernesey, người quá ư thông thạo, và biết cường tận từng chi tiết những gì xảy ra từ nửa thế kỷ về trước, có thể kể tên những chiếc tàu ấy, hầu hết là tàu Asturien và Guipuscoan. Một điều không thể nghi ngờ, là không tuần lễ nào không có một hoặc hai chiếc đến vịnh Các Thánh hoặc tại Plainmont. Việc tới lui có vẻ gần như là một sự vụ chính thức. Một cái hầm ở ngoài biển tại Serk, trước kia và hiện nay vẫn được gọi là Cửa hàng, vì người ta đến mua hàng của bọn gian ngay ở trong hang ấy. Trong các việc mua bán này, trước đây trên biển Manche người ta thường dùng một thứ ngôn ngữ buôn lậu, ngày nay đã bị quên lãng; nó giống tiếng Tây Ban Nha cũng như tiếng Phương Đông giống tiếng Italia vậy.
Trên nhiều địa điểm của vùng duyên hải Anh và Pháp, cánh buôn lậu thường bí mật thông đồng với bọn nhà buôn công khai có môn bài. Chúng ra vào nhà nhiều tay tài phiệt, tất nhiên theo cửa bí mật; rồi ngầm tuồn ra thị trường và toàn bộ hệ thống huyết mạch của công nghiệp. Trước mặt thương gia, sau lưng buôn lậu, đấy là lịch sử của nhiều cơ nghiệp. Séguin nói về Bourgain như thế, Bourgain nói về Séguin như vậy. Chúng tôi không dám bảo lãnh về lời nói của họ, có lẽ họ nói xấu nhau. Dù sao thì việc buôn lậu, bị pháp luật lùng bắt, cũng rõ ràng quan hệ rất mật thiết với tài chính. Nó giao hữu với “tầng lớp trên cùng”. Cái sào huyệt, nơi mà trước đây Mandrin sát cánh với bá tước Charolais, bề ngoài rất lương thiện và có một mặt tiền không thể chê trách được đối với xã hội; đầu hồi nhìn ra đường.
Vì vậy có nhiều chuyện thông đồng cần thiết phải che giấu. Những trò bí mật ấy cần một bóng tối bất khả xuyên thấu. Một tên buôn lậu thường biết rất nhiều chuyện và phải giữ kín; nguyên tắc của nó là một lòng tin vững chắc không gì lay chuyển nổi. Đức tính đầu tiên của một tên gian lậu là lòng trung thành. Không biết giữ bí mật thì đừng buôn lậu. Có bí mật của gian lậu cũng như có bí mật của việc xưng tội.
Tính bí mật này được bảo vệ một cách tuyệt đối. Kẻ buôn lậu thề giữ kín tất cả, và tôn trọng lời hứa. Người ta không thể tín nhiệm ai hơn một tên gian lậu. Một hôm viên quan tòa Oyarzun bắt một gã buôn lậu Ports, và cho tra tấn để buộc nó phải khai tên người xuất vốn bí mật. Gã buôn lậu nhất định không khai. Kẻ bỏ vốn này lại chính là viên quan tòa. Trong hai tên đồng lõa ấy, viên quan tòa và gã buôn lậu, một bên, để tuân thủ pháp luật trước mắt mọi người, phải ra lệnh tra tấn, một bên, để giữ vững lời thề, phải cố chịu tra tấn.
Thời kỳ ấy, hai tay buôn lậu nổi tiếng hay lui tới Plainmont là Blasco và Blasquito. Chúng thuộc người Tocayo. Một thứ thân tộc Tây Ban Nha theo đạo Gia-tô cốt để có cùng thần bảo hộ trên thiên đường, điều này người ta sẽ thừa nhận sau đáng được tôn kính không kém gì việc có cùng cha trên cõi thế.
Khi người ta gần biết rõ hành trình lén lút của việc buôn lậu, không gì dễ hơn và khó hơn việc nói chuyện với chúng. Chỉ cần không có thành kiến gì với đêm tối, đi đến Plainmont và đối chọi với dấu hỏi bí mật đang đặt ra ở đấy.
IV PLAINMONT
Plainmont, cạnh Torteval, là một trong ba góc của đảo Guernesey. Ở đấy, tại chỗ cuối mũi, có một gò cỏ cao nhìn xuống biển.
Đỉnh cao ấy rất hẻo lánh.
Càng hẻo lánh hơn, vì ở đấy thấy có một ngôi nhà.
Ngôi nhà làm cho cảnh vắng vẻ thêm rùng rợn.
Người ta bảo ngôi nhà có ma.
Có ma hay không, bề ngoài nom thật kỳ quái.
Ngôi nhà ấy, xây bằng đá và có một tầng gác, đứng chính giữa gò cỏ. Nó chẳng có vẻ gì là một ngôi nhà đổ nát cả. Nó hoàn toàn ở được. Tường vách dày dặn, mái che chắc chắn. Tường vách không thiếu một hòn đá, mái không mất một viên ngói nào. Một ống khói bằng gạch chọc thủng góc mái chui lên. Ngôi nhà ngoảnh lưng ra biển. Mặt nhìn ra đại dương chỉ là một bức tường cao. Nhìn kỹ mặt này, thấy có một cửa sổ đã được xây bịt. Hai đầu hồi có ba cửa mái, một ở phía đông, hai ở phía tây, cả ba đều bị xây bịt. Chỉ mỗi mặt nhìn vào đất liền là có một cửa ra vào và cửa sổ. Cửa ra vào đã bị xây bịt. Hai cửa sổ tầng dưới xây bịt. Ở gác một, và chính ở đây là điều đập vào mắt trước tiên khi người ta đến gần, có hai cửa sổ mở; những cửa sổ xây bịt lại không đáng sợ bằng những cửa sổ mở này. Lỗ hổng của chúng khiến chúng đen ngòm ngay giữa ban ngày. Chúng không có kính, cũng không có cả khung và mở giở vào bóng tối bên trong. Có thể nói đây là những cái hốc rỗng của hai con mắt đã bị móc mất tròng. Chẳng có gì trong ngôi nhà ấy cả. Qua những cánh cửa toang hoác người ta nhìn thấy tình trạng điêu tàn bên trong. Không có chút ván, chút gỗ nào lát tường, toàn đá trơ trụi. Tưởng như đây là một ngôi mộ có cửa sổ để các hồn ma được nhìn ra ngoài. Mưa gió xói lở móng nhà phía nhìn ra biển. Dăm cây tầm ma đu đưa trước gió khẽ vờn các chân tường. Ở chân trời, tịnh không có một nơi nào làm nơi trú ngụ. Ngôi nhà là một vật trống rỗng, lặng lẽ như tờ. Tuy nhiên nếu dừng chân và dán tai vào tường, người ta cũng nghe thấy bên trong chốc chốc mơ hồ có tiếng đập cánh hoảng hốt. Phía trên cái cửa xây bịt, trên hòn đá đầu cột, có khắc mấy chữ: ELM-PBILG và niên đại: 1780.
Ban đêm, ánh trăng ảm đạm lọt vào nhà.
Xung quanh ngôi nhà mông mênh biển cả. Vị trí của nó thật hùng vĩ, vì thế mà rùng rợn. Cảnh đẹp của địa điểm trở thành một điều bí ẩn. Tại sao không có gia đình nào trú ngụ ở đây? Địa thế đẹp, ngôi nhà tốt. Do đâu có cảnh ruồng bỏ này? Những câu hỏi của mơ màng thêm vào những câu hỏi của lý trí. Cánh đồng trồng trọt được, tại sao nó lại bị bỏ hoang không có chủ. Cửa ngõ xây bịt. Vậy địa điểm này có cái gì? Tại sao con người lại bỏ trốn? Cái gì đã xảy ra ở đây? Nếu không có gì xảy ra ở đây, tại sao lại không có người nào? Khi tất cả đều ngủ yên, ở đây có ai thức tỉnh không? Trời đêm, gió lộng, những con ác điểu, những thú vật lẩn lút, những sinh vật không tên, xuất hiện trong tư tưởng và hòa lẫn với ngôi nhà này. Nó dùng làm lữ quán cho những khách qua đường nào? Người ta hình dung ra những trận mưa đêm và mưa đá rào rào qua cửa sổ. Những dòng nước mờ mờ của bão táp đã để lại dấu vết trên bức tường bên trong. Những căn phòng bịt kín và trống trải kia luôn luôn được phong ba thăm hỏi. Ở đây có xảy ra vụ án nào không? Hình như, ban đêm, ngôi nhà phó mặc cho bóng tối này phải kêu cứu. Nó có chịu câm lặng không? Có tiếng gì thoát ra không? Trong chốn cô tịch này nó có quan hệ với ai? Ở đây những giờ đen tối tha hồ bí mật. Giữa trưa ngôi nhà này đáng nghi ngại; còn nửa đêm thì sao? Nhìn nó, người ta như nhìn vào một điều bí mật. Người ta tự hỏi, vì mơ màng có phần logic của nó và cái có thể cũng có chiều nghiêng của nó, ngôi nhà này ra sao từ phút hoàng hôn đến lúc chạng vạng? Cái tản mạn bao la của cuộc sống ngoài nhân gian trên đỉnh cao vắng vẻ này có một cái nút để dừng lại và buộc nó phải hiện hình và đi xuống không? Cái rải rác có đến đây cuốn xoáy không? Cái vô hình có cô đọng lại ở đây để thành hình không? Bí ẩn. Cảnh rùng rợn thiêng liêng nằm trong những hòn đá kia. Cái bóng tối trong các căn phòng nghiêm cấm kia còn hơn cả bóng tối; nó là cái không tên không tuổi. Sau lúc tắt mặt trời, tàu bè đánh cá sẽ trở về, chim chóc sẽ in tiếng, mục đồng sau núi sẽ ra đi với bầy dê, các khe đá sẽ để cho bầy bò sát vững dạ bò ra, các ngôi sao sẽ bắt đầu nhìn ngó, gió lạnh sẽ thổi, tăm tối sẽ dày đặc, hai cửa sổ sẽ đứng kia, toang hoác. Cảnh đó dẫn tới những điều mộng mị; và chính bằng những hình bóng, bằng những sâu bọ, bằng những mặt ma mờ mờ tỏ tỏ, bằng những mặt nạ trong ánh tù mù, bằng những cảnh hỗn loạn bí mật của linh hồn và bóng tối, mà tín ngưỡng của nhân dân, vừa ngây ngô vừa sâu sắc, thường diễn tả những chuyện thân mật tối tăm của ngôi nhà này với đêm khuya.
Ngôi nhà “có ma”: từ ngữ ấy giải thích được tất cả. Những người cả tin có cách giải thích của họ, nhưng những người thực tế cũng có cách giải thích của mình. Họ bảo chẳng có gì giản đơn hơn ngôi nhà này. Đây là một đài quan sát cũ, từ thời có những cuộc chiến tranh cách mạng và đế chế, cùng những chuyện buôn lậu. Nó được xây dựng nhằm mục đích ấy. Hết chiến tranh, đài bị phế bỏ. Người ta đã không phá hủy ngôi nhà vì nó có thể lại dùng được việc. Người ta đã xây bịt cửa ra vào và các cửa sổ tầng dưới để khỏi có phân người và để không ai vào được; người ta đã xây bịt các cửa sổ của ba mặt nhìn ra biển vì gió nam và gió tây. Có thế thôi.
Những người dốt nát và những người cả tin vẫn không chịu. Trước tiên, ngôi nhà không phải được xây vào thời kỳ chiến tranh cách mạng. Nó mang niên đại - 1780 - trước cách mạng. Sau đó, nó không phải xây dựng để làm đài quan sát; nó có mấy chữ ELM-PBILG, vốn là hiệp tự của hai gia đình, tỏ rõ, theo tục lệ, ngôi nhà đã được xây dựng để thành lập một tổ ấm mới. Như vậy là trước đây đã có người ở đấy. Tại sao bây giờ lại không có người ở nữa? Nếu đã xây bít cửa ra vào và các cửa sổ để không ai vào được trong nhà, tại sao người ta lại bỏ ngỏ hai cửa sổ? Phải xây bịt tất, hoặc không bịt cái nào cả chứ. Tại sao không có cửa ván? Tại sao không có khung cửa? Tại sao không có kính? Tại sao xây bịt các cửa sổ một phía nếu không bịt chúng phía bên kia? Người ta không cho mưa vào từ hướng nam, nhưng lại để mưa vào từ hướng bắc.
Hẳn là những người cả tin sai lầm, nhưng chắc chắn những người thực tế cũng không có lý. Vấn đề vẫn tồn tại.
Điều chắc chắn, là ngôi nhà được xem như có lợi chứ không phải có hại cho bọn buôn lậu.
Hãi hùng được khuếch đại thường làm cho sự vật mất hết tỉ lệ thật. Tất nhiên nhiều hiện tượng ban đêm, trong số những hiện tượng mà chuyện “có ma” của ngôi nhà nát dần dần tạo nên, có thể giải thích được bằng những sự có mặt mờ ám và lén lút, bằng những lần dừng chân ngắn ngủi của những con người hối hả lên thuyền đi ngay, lúc thì bằng những chuyện dè dặt, lúc thì bằng những chuyện táo bạo của một số nhà kỹ nghệ khả nghi trốn tránh để làm bậy và cho mọi người thoảng thấy để gây sợ hãi.
Vào thời kỳ đã xa xôi ấy, có thể có nhiều chuyện táo tợn. Cảnh sát, nhất là ở những xứ nhỏ, không như ngày nay.
Chúng ta cần nói thêm, nếu ngôi nhà nát kia, như người ta nói, thuận tiện cho bọn buôn lậu, thì những lần gặp gỡ của chúng ở đây phải được tự do hành động đến một chừng mực nào đấy, chính là vì ngôi nhà không được ai ưa. Không được ai ưa nên không bị ai tố giác. Chẳng ai đi tìm hải quan và cảnh sát để nói chuyện ma quỉ. Người mê tín làm dấu thánh giá chứ không làm biên bản. Họ nhìn thấy hoặc tưởng là nhìn thấy, rồi bỏ chạy và im lặng. Có một sự thông đồng ngấm ngầm, không chủ bụng, nhưng thực tế, giữa những người gây sợ hãi và những người sợ hãi. Những người hoảng sợ thấy mình hoảng sợ là không đúng, họ tưởng tượng đã bắt gặp được một điều bí mật, họ sợ làm nghiêm trọng thêm tình thế của họ, vốn cũng đã bí mật đối với họ rồi, và làm cho những hồn ma nổi giận. Vì vậy mà họ kín tiếng. Và ngoài chuyện tính toán ấy nữa, bản năng những người nhẹ dạ là im lặng; trong kinh hoàng có sự câm lặng; người hãi hùng thường ít nói, hình như rùng rợn bảo: im!
Nếu lại phải tin vào những chuyện hoang đường địa phương và những chuyện kể của những kẻ mà người ta gặp được, thì mê tín ngày xưa còn treo lên tường ngôi nhà ở Plainmont này, vào những cái đinh còn trông thấy vết đây đó, những con chuột không chân, những con dơi không cánh, những xác thú vật chết, những con cóc bẹp dí giữa những trang giấy một quyển Kinh Thánh, những mầm non đậu vàng, những đồ hàng mã kỳ dị, do những người qua đường ban đêm dại dột treo lên đấy, họ tưởng đã nhìn thấy một điều gì, và bằng những món quà đó họ mong được tha thứ, và làm cho nguôi giận những bóng quỉ hồn ma. Thời nào cũng có những người tin vào ma quỉ và những đêm hội phù thủy, kể cả những người khá quyền quí nữa. César cũng vẫn hỏi ý kiến Sagane, và Napoléon vẫn hỏi cô Lenormand. Có những lương tâm ko lắng đến nỗi cố tìm cách xin cho được quỷ sứ khoan hồng. Mong sao Chúa cứ làm và Satan đừng phá! Đây là một trong những lời cầu nguyện của Charles-Quint[3]. Nhiều người còn nhút nhát hơn nữa. Họ đi đến chỗ tin tưởng rằng người ta có thể phạm sai trái với thần ác. Một trong những điều lo lắng của họ là không được lộ khuyết điểm với quỉ. Vì vậy mà có những hoạt động tôn giáo hướng về thần tối tăm vô tận. Đó cũng là một thứ ngu tín thông thường. Trong một số đầu óc bệnh hoạn, cũng có những tội ác đối với ma quỉ: vi phạm luật pháp từ dưới làm khổ tâm những nhà tôn giáo kỳ quặc dốt nát chuyên giải quyết những trường hợp khó xử; đối với bóng tối người ta hay ngại ngùng. Tin vào kết quả của lòng thành kính đối với những tín điều của Brocken và của Armuyr, tưởng rằng mình đã phạm tội đối với địa ngục, vì những vi phạm hão huyền phải cầu cứu đến những trừng phạt hão huyền, thú nhận sự thật đối với Ma dối trá, hối hận nhận lỗi trước Cha Tội lỗi, xưng tội ngược chiều, tất cả những chuyện ấy đều có hoặc đã có; những bản án phù thủy chứng tỏ điều đó qua mỗi trang hồ sơ. Mộng mị của con người phát triển đến tận đấy. Khi con người bắt đầu hoảng hốt thì nó không dừng lại nữa. Người ta mơ đến những tội lỗi tưởng tượng, đến những cách tẩy rửa linh hồn tưởng tượng, và người ta bắt bóng chổi của phù thủy phải quét sạch linh hồn cho mình.
Phải nhớ rằng chuyện này xảy ra vào thời kỳ mà nông dân đảo Guernesey tưởng rằng năm nào sự huyền diệu Máng cỏ[4] cũng vẫn được bò lừa lặp lại vào ngày nhất định; thời kỳ mà không một ai, trong đêm lễ Giáng sinh, dám bước vào một chuồng bò, vì sợ gặp súc vật quỳ gối trong đó.
Dù sao đi nữa, nếu ngôi nhà đó có những chuyện ly kỳ thì đây là việc của nó; ngoài vài ba trường hợp tình cờ và vài ba trường hợp ngoại lệ, không một ai đến đấy xem, ngôi nhà vẫn bị bỏ chơ vơ, chẳng người nào lại thích mạo hiểm để gặp ma quỉ.
Nhờ hãi hùng bảo vệ cho nó, và đẩy xa khỏi đó kẻ nào có thể quan sát và chứng kiến, nên thời nào ban đêm cũng có thể vào trong ngôi nhà đó một cách dễ dàng, bằng một cái thang dây, hay rất đơn giản bằng bất cứ một cái thang con nào lấy ở những mảnh vườn gần đấy. Chỉ cần đem đến đấy một ít quần áo và thức ăn dự phòng là có thể an toàn chờ đợi ở đấy tình cờ và cơ hội tốt để lén lút đáp tàu. Truyền rằng cách đây bốn mươi năm, một tên đào tàu, người thì cho là về chính trị, người thì cho là về thương mại, đã trú ẩn một thời gian trong ngôi nhà có ma Plainmont, từ đấy hắn tìm được cách đáp một chiếc tàu đánh cá sang Anh. Từ Anh người ta có thể sang Mỹ một cách dễ dàng.
Cũng vẫn chuyện truyền khẩu ấy khẳng định rằng những thức ăn để lại trong ngôi nhà nát kia vẫn còn nguyên đấy không ai động chạm đến. Như bọn buôn lậu, Lucifer cũng có lợi nếu kẻ để những thứ đó quay lại.
Từ trên đỉnh cao có ngôi nhà kia, người ta nhìn thấy ở phía tây-nam, cách bờ biển một dặm, bãi ngầm Hanois.
Bãi ngầm này vốn nổi tiếng. Nó đã gây nên tất cả mọi tác hại mà một ngọn núi có thể gây nên. Đây là một trong những tên sát nhân đáng sợ nhất của biển cả. Nó là tên phản trắc đứng đón chờ tàu thuyền trong đêm tối. Nó đã mở rộng các nghĩa địa Torteval và Rocquaine.
Năm 1862, người ta đã đặt trên bãi ngầm này một ngọn hải đăng.
Ngày nay, bãi ngầm Hanois soi sáng ngành hàng hải mà trước đây nó vẫn làm cho lạc lối; cạm bẫy cầm một ngọn đuốc trên tay. Ngọn núi mà trước đây người ta phải trốn tránh như trốn tránh một tên bất lương thì ngày nay, người ta tìm kiếm nó trên chân trời như tìm kiếm một người che chở, một người hướng đạo. Bãi Hanois làm yên lòng những vùng trời đêm bao la mà xưa kia nó vẫn gieo rắc hãi hùng. Y hệt tên cướp trở thành sen đầm.
Có ba hòn Hanois: hòn Đại Hanois, hòn Tiểu Hanois và hòn Mauve. Ngày nay, ngọn “Hồng Đăng” đứng ngay trên hòn Tiểu Hanois.
Bãi ngắm này nằm trong một quần thể đỉnh nhọn, một số nằm ngầm dưới nước, một số nhô lên khỏi mặt biển. Nó cao hơn tất cả. Như một pháo đài, nó có những công trình tiền tiêu; phía biển cả, một dãy mười ba ngọn núi; phía bắc, hai ngọn đá ngầm, ngọn Hautes-Fourquies, ngọn Aiguillons, và một bãi cát, bãi Hérouée; phía nam, ba quả núi, hòn Cat-Rock, hòn Percée và hòn Roque Herpin; thêm hai hồ đất bùn, hồ South Boue và hổ Boue le Mouet, ngoài ra, trước Plainmont, là là trên mặt nước, có bãi Tas de Pois d’Aval.
Việc bơi từ Plainmont qua eo Hanois tuy có khó khăn nhưng chẳng phải là không được. Ta còn nhớ rằng đây là một trong những kỳ tích của Sieur Clubin. Tay bơi lội nào từng biết bãi ngầm này cũng có hai chỗ dừng có thể nghỉ được, hòn Roque tròn và xa hơn, hơi chếch sang trái một tí, hòn Roque đỏ.
V BỌN PHÁ TỔ CHIM
Gần như phải đặt vào quãng cái ngày thứ bảy ấy, ngày Sieur Clubin đến Torteval, một sự việc đặc biệt, thoạt tiên trong vùng ít được ai biết đến, và mãi sau mới lọt ra ngoài. Vì có nhiều chuyện không được biết, như chúng tôi vừa nhận xét, do chính sự hãi hùng mà chúng gây ra cho những người được chứng kiến.
Trong đêm thứ bảy rạng ngày chủ nhật, chúng tôi nói rõ ngày giờ và chúng tôi tin là chính xác, có ba em bé trèo lên vách biển cheo leo Plainmont. Ba em đang trở về làng. Chúng từ ngoài biển đi lại. Đấy là những em bé mà ngôn ngữ địa phương gọi là déniquoiseaux. Xin đọc là déniche-oiseaux. Chỗ nào có vách biển và những hốc đá trên mặt biển, đều có rất đông bọn trẻ con phá tổ chim. Chuyện ấy, chúng tôi đã nói qua. Xin nhớ lại là Gilliatt vẫn bận tâm đến việc này, vì cả chim, vì cả lũ trẻ.
Bọn phá tổ chim là những loại trẻ con hư vùng biển cả, ít rụt rè.
Đêm khuya tối đen như mực. Những đám mây chồng chất dày đặc che kín đỉnh trời. Ba giờ sáng vừa điểm trận tháp chuông Torteval, vừa tròn vừa nhọn như một chiếc mũ chỏm của phù thủy.
Tại sao bọn trẻ này lại về muộn thế? Có gì đâu. Chúng đi tìm tổ sơn ca, ở Tas de Pois d’Avai. Mùa này rất ấm áp nên chuyện ái ân của chim chóc bắt đầu rất sớm. Bọn trẻ, rình xem chim trống và chim mái bay lượn quanh tổ, và mải mê theo dõi nên đãng trí quên mất cả giờ khắc. Thủy triều lên đã bao vây chúng; không thể về kịp đến cái tiểu loan, chỗ chúng buộc canô, chúng buộc lòng phải chờ tại một trong những mũi nhọn của Tas de Pois cho nước biển rút. Vì vậy mà chúng quay về giữa đêm khuya. Những lần về như thế đều được các bà mẹ sốt ruột lo âu chờ đợi. Khi được yên tâm rồi, lo âu lại chuyển vui vẻ thành tức giận, và nước mắt đầm đìa tiêu tan thành những cái tát. Vì vậy, chúng vội vã, trong lòng khá lo ngại. Chúng vẫn có cái lối vội vã nhưng lại sẵn sàng đà đận, và chứa đựng một mong muốn bí mật là đừng tới. Chúng hình dung thấy trước một cảnh hôn hít kèm thêm những cái tát tai.
Chỉ có một đứa trong số bọn trẻ ấy là chẳng có gì phải sợ hãi, đấy là một thằng bé mồ côi, người Pháp, không bố không mẹ, và bằng lòng về việc giờ phút ấy không có mẹ. Chẳng ai quan tâm đến nó, nên nó sẽ không bị đánh. Hai thằng kia người Guernesey, và thuộc chính giáo khu Torteval.
Trèo hết mấy chỏm núi cao, ba em bé phá tổ chim lên đến trên ngọn đồi có ngôi nhà ma ám.
Chúng bắt đầu thấy sợ, đấy là bổn phận của mọi khách qua đường, và nhất là của mọi đứa trẻ, vào giờ này và tại chỗ này.
Chúng rất muốn ba chân bốn cẳng chạy trốn, nhưng cũng rất muốn đứng lại để nhìn!
Chúng đứng lại.
Chúng nhìn ngôi nhà.
Nó đen ngòm và thật dễ sợ.
Đấy là một đống tối om, giữa ngọn đồi vắng vẻ, một cái bướu đối xứng ghê tởm, một khối vuông cao có góc thẳng, một thứ gì giống như một cái bàn thờ bóng tối rất to.
Ý nghĩ đầu tiên của lũ trẻ là chạy trốn, ý nghĩ thứ hai là đến gần. Chưa bao giờ chúng được thấy ngôi nhà ấy vào giờ này. Trong sợ hãi thường vẫn có tính tò mò. Bọn chúng có một đứa người Pháp, điều ấy đã thúc đẩy chúng đến gần.
Người ta biết là người Pháp không tin gì hết.
Vả lại trong nguy hiểm mà có nhiều người thì thường vững dạ. Ba người cùng sợ là nguồn động viên.
Hơn nữa, chúng là thợ săn, là trẻ con; cả ba, chúng chưa đến ba mươi tuổi, chúng đang tuổi tìm kiếm, sục sạo, rình mò những chuyện kín đáo; có phải để nửa đường đứng lại đâu? Thò đầu vào lỗ này, tại sao lại không thò đầu vào lỗ kia? Ai đang lúc đi săn đều bị lôi cuốn, ai trên đường tìm kiếm cũng đứng trong một guồng máy. Nhìn mãi vào tổ chim đâm ra ngứa ngáy muốn nhìn vào tổ ma một tí. Tại sao lại không sục sạo trong địa ngục kia chứ?
Từ con mồi nọ sang con mồi kia, người ta đến với ma quỷ. Sau chim sẻ, thì yêu tinh. Rồi sẽ được biết tất cả những nỗi hãi hùng mà bố mẹ vẫn dọa dẫm. Không gì dễ trượt hơn khi tìm hiểu những chuyện thần tiên. Biết được nhiều chuyện như mấy bà hiền lành, thật là nhiều cám dỗ.
Toàn bộ cái mớ ý nghĩa lung tung ấy, ở trạng thái hỗn độn và bản năng trong đầu óc bọn phá tổ chim Guernesey, dẫn chúng đến chỗ liều lĩnh. Chúng liền đi về phía ngôi nhà.
Vả lại thằng bé dùng làm chỗ dựa cho chúng trong hành vi dũng cảm này cũng đáng mặt lắm. Đấy là một thằng bé quả quyết, học nghề xảm thuyền, thuộc loại trẻ con đã thành người lớn, ngủ tại công trường trên ổ rơm trong một nhà kho, tự mình kiếm sống, có giọng nói ồ ồ, vui lòng trèo lên tường, lên cây, chẳng có thành kiến gi khi gặp những quả táo trên đường đi, đã từng lao động tại các âu sửa chữa tàu chiến, con cái của tình cờ, cháu chắt của may rủi, mồ côi vui vẻ, sinh ra trên đất Pháp, và không biết ở đâu, hai lý do để trở thành gan dạ, không ngần ngại khi cho người nghèo một đồng hai hào, rất độc ác, rất tốt bụng, tóc nâu đến mức hung hung, đã từng nói chuyện với người Paris. Lúc này nó kiếm được mỗi ngày một sơlanh tiền xảm những thuyền đánh cá đang để chữa ở Pequeries. Khi nào thích thì nó nghỉ ngơi, đi phá tổ chim. Đấy là thằng bé người Pháp.
Cảnh hoang vắng của địa điểm có một vẻ gì tang tóc. Người ta cảm thấy ở đây không khí bất khả xâm phạm đáng lo ngại. Thật là dễ sợ. Ngọn đồi này, vắng lặng và trơ trụi, cắm thụt xuống vực sâu, cách đấy không xa, cái triền cong cong thoai thoải ra phía sau của nó. Phía dưới, biển cả im lìm. Chẳng có lấy một làn gió thoảng. Các ngọn cỏ không mảy may xao động.
Bọn trẻ phá tổ chim do thằng bé người Pháp dẫn đầu vừa thong thả bước tới, vừa nhìn ngôi nhà.
Một đứa trong bọn về sau kể lại sự việc hay là đại để sự việc nó còn nhớ, nói thêm: “Ngôi nhà chẳng nói gì sất”.
Chúng nín thở đến gần như lúc người ta đến gần một con vật.
Chúng đã trèo hết quảng dốc phía sau ngôi nhà và dẫn đến một eo núi nhỏ khó đi ở phía bờ biển; chúng đã đến được khá gần ngôi nhà nát; nhưng chúng chỉ nhìn thấy mặt phía nam hoàn toàn xây bịt; chúng không dám vòng sang trái vì như thế thì chúng đã trông thấy mặt kia, mặt có hai cửa sổ, điều đó khủng khiếp quá.
Tuy vậy chúng cũng đâm ra mạnh dạn vì được thằng bé học xảm bảo khẽ:
- Ta cạy sang trái đi. Chính phía ấy mới hay. Phải nhìn thấy hai cái cửa sổ đen.
Chúng “cạy sang trái” và đến từ phía bên kia ngôi nhà.
Cả hai cửa sổ đều sáng.
Lũ trẻ vội chạy như biến.
Lúc đã xa, thằng bé người Pháp mới ngoảnh lại và nói:
- Kìa, không thấy ánh sáng nữa.
Quả thật, ở hai cửa sổ không còn ánh gì nữa. Bóng dáng ngôi nhà nát in lên nền trời tái nhợt mờ mờ, như được cắt thủng bằng máy bấm lỗ.
Vẫn không hết sợ hãi, nhưng lại thấy tò mò. Bọn phá tổ chim lại lần tới gần.
Thình lình, cùng một lúc ở cả hai bên cửa sổ, ánh sáng lại bừng lên.
Hai thằng bé Torteval lại vắt chân lên cổ chạy như bay. Thằng quỉ sứ người Pháp không tiến lên, nhưng không lùi.
Nó đứng im, ngay trước ngôi nhà và nhìn ngôi nhà.
Ánh sáng chợt tắt dần, rồi lại lóe lên. Không gì rùng rợn hơn. Ánh phản chiếu kéo một vệt lửa dài lờ mờ trên làn cỏ ướt đẫm sương đêm. Có lúc, ánh sáng lờ mờ vẽ lên bức tường trong của ngôi nhà nát những hình nghiêng to đen cử động và những bóng hình đầu người rất to.
Vả lại, ngôi nhà nát không có trần cũng không có vách, chỉ còn bốn bức tường và mái, nên hễ một cửa sổ sáng là cả hai đều sáng.
Thấy thằng học xảm đứng lại, hai thằng phá tổ chim kia liền quay lại, bước từng bước một, thằng trước thằng sau, run rẩy, tò mò. Thằng học xảm nói rất khẽ với chúng:
- Trong nhà có ma, tao vừa thấy một con.
Hai thằng bé Torteval nép sau lưng thằng người Pháp, và được nó che chở, lấy nó làm cái khiên, dùng nó chống lại cái vật kia, yên tâm cảm thấy có nó giữa chúng và bóng ma, cũng nhón chân nhìn qua vai nó.
Về phía mình, ngôi nhà nát hình như cũng đang nhìn bọn chúng. Trong cảnh tăm tối câm lặng bao trùm đó, nó có hai con ngươi đỏ lòm. Đấy là hai cửa sổ. Ánh sáng hết khuất lại hiện, rồi lại khuất giống hai con người kia. Những quãng cách rùng rợn ấy chắc hẳn là do quỉ sứ đi tới đi lui. Nó hé ra, rồi lại đóng lại. Cửa hầm mộ địa vẫn có những cảnh tượng của đèn ló.
Thình lình một khối đen rất dày có hình người nhô lên trên một cửa sổ y như từ ngoài đến, rồi chui tọt vào trong nhà. Dường như có người vừa vào.
Vào theo cửa sổ, đó là thói quen của bọn bất lương.
Ánh sáng chợt lóe bừng lên một lúc, rồi tắt ngấm không xuất hiện nữa. Ngôi nhà trở lại đen ngòm. Lúc này bỗng có tiếng động thoát ra. Những tiếng động ấy giống như tiếng người. Bao giờ cũng vậy. Mắt nhìn thì tai không nghe; khi mắt không thấy thì tai lại nghe.
Đêm tối trên biển cả có một vẻ đẹp trầm mặc đặc biệt. Ở đấy im lặng của bóng tối thường sâu sắc hơn nơi khác. Lúc không có sóng, không có gió, trong khoảng không bao la xao động ấy mà thông thường vắng tiếng diều bay, người ta lại nghe được tiếng ruồi đập cánh. Cảnh thanh bình mộ địa ấy làm nổi bật một cách bi đát những tiếng động từ trong ngôi nhà nát thoát ra.
- Ta đến xem đi, - thằng bé người Pháp nói.
Và nó bước tới một bước về phía ngôi nhà.
Hai đứa kia sợ hãi đến nỗi quyết định đi theo nó. Chúng không dám chạy trốn một mình nữa.
Đúng lúc chúng vừa vượt qua đống củi khá to, không biết vì sao lại làm chúng vững bụng trong hoàn cảnh vắng vẻ này, thì một con cú mèo bỗng từ một bụi cây bay vụt lên. Có tiếng cành cây xào xạc. Cú mèo có lối bay chập chờn, mang tính chất bất chính đáng ngại. Con chim bay xiên qua cạnh lũ trẻ, chằm chằm nhìn chúng bằng đôi mắt tròn xoe, xanh lè trong đêm tối.
Nhóm trẻ có phần nào run run sau lưng thằng người Pháp.
Nó nói thẳng với con cú mèo:
- Đồ chim sẻ, mày đến muộn quá. Không phải lúc nữa. Tao đang muốn được nhìn thấy đây.
Nói xong nó tiến tới.
Tiếng đôi giày đinh to của nó răng rắc trên đám kim tước không che lấp các tiếng động trong ngôi nhà nát, lúc to lúc nhỏ, với âm sắc bình thản và liên tục của một cuộc đối thoại.
Một lúc sau, nó nói tiếp:
- Với lại chỉ có súc vật mới tin là có ma quỉ.
Tính ngang ngược trong nguy hiểm tập hợp bọn tụt hậu và thúc chúng đi tới.
Hai thằng bé ở Torteval lại bước tiếp, bám sát gót thằng học xảm thuyền.
Trước mắt chúng ngôi nhà ma ám có vẻ to ra vô hạn. Trong ảo tượng ấy của sợ hãi có mặt hiện thực. Ngôi nhà quả có to ra, vì chúng đến gần ngôi nhà.
Trong lúc ấy tiếng cười trong nhà mỗi lúc một rõ rệt. Bọn trẻ lắng nghe. Tai người cũng có kiểu khuếch đại của nó. Khác hẳn tiếng thì thào, hơn tiếng nói thầm, kèm tiếng lao xao. Chốc chốc, một hoặc hai lời nói phát âm rõ rệt nổi lên. Những lời nói ấy, không thể nào hiểu nổi, vang lên rất kỳ quặc. Bọn trẻ đứng lại, lắng nghe, rồi lại tiếp tục tiến lên.
- Đúng là ma nói chuyện, - thằng bé học xảm lầm bầm, - nhưng mình cóc tin có ma.
Hai thằng bé Torteval chỉ muốn nấp vào sau đống củi, nhưng chúng đã cách xa đông củi và thằng bạn xảm thuyền vẫn tiếp tục bước tới phía ngôi nhà nát. Chúng đứng với nó thì run, mà rời nó thì lại không dám.
Từng bước, từng bước, và hoang mang, chúng đi theo nó.
Thằng bé học xảm, ngoảnh lại bảo với chúng nó:
- Chúng mày cũng biết là không đúng. Làm gì có ma.
Ngôi nhà mỗi lúc một cao. Tiếng nói mỗi lúc một thêm rõ rệt.
Chúng nó đến gần.
Lúc đến gần, chúng nhận ra trong nhà có một cái gì như ánh sáng bị che bít. Một thứ ánh sáng le lói rất mơ hồ, một trong những cảnh tượng đèn ló đã nói ban nãy, và rất nhiều trong cảnh sáng các đêm hội phù thủy.
Lúc đã đến thật gần, chúng đứng lại.
Một trong hai thằng ở Torteval đánh liều nhận xét:
- Không phải ma đâu, đây là các bà thánh mặc áo trắng.
- Cái gì đu đưa ở cửa sổ thế? - Thằng kia hỏi.
- Nó có vẻ như một sợi dây.
- Một con rắn đấy.
- Đây là loại dây treo cổ, - thằng người Pháp nói ra dáng đàn anh. - Chúng cần dùng đến nó. Nhưng tao vẫn không tin.
Đoạn bằng ba bước nhảy chứ không phải bằng ba bước đi nó đã ở dưới chân tường ngôi nhà nát. Trong cử chỉ táo bạo ấy có sự nôn nóng.
Hai thằng kia, run rẩy, bắt chước nó và đến bám sát vào nó, thằng ôm bên phải, thằng ôm bên trái. Cả mấy đứa dán tai vào bức tường. Trong nhà, người ta vẫn tiếp tục nói.
Sau đây là những gì lũ ma quỉ nói:
- Thế là đồng ý chứ?[5]
- Đồng ý.
- Nhất định chứ?
- Nhất định.
- Một người sẽ chờ ở đây, và sẽ có thể đi sang Anh với Blasquito chứ?
- Chi đủ.
- Chi đủ.
- Blasquito sẽ đưa người ấy đi theo thuyền của hắn.
- Không cần biết y là người nước nào chứ?
- Điều ấy không liên quan gì đến chúng tôi.
- Không cần hỏi tên y chứ?
- Cánh này không hỏi tên, cánh này cần túi bạc.
- Được. Người ấy sẽ chờ trong nhà này.
- Y phải có gì ăn đấy.
- Ở đâu?
- Trong cái túi tôi cầm đến đây.
- Tốt lắm.
- Tôi có thể để cái túi ở đây không?
- Dân buôn lậu không phải dân ăn cắp.
- Còn các anh, bao giờ các anh đi?
- Sáng mai. Nếu người của anh sẵn sàng, y có thể đến với chúng tôi.
- Y chưa sẵn sàng.
- Đấy là việc của y.
- Y phải chờ trong nhà này mấy ngày?
- Hai, ba, bốn ngày. Kém hoặc hơn.
- Có chắc Blasquito sẽ đến không?
- Chắc.
- Ở đây chứ? Ở Plainmont chứ?
- Ở Plainmont.
- Tuần nào?
- Tuần sau.
- Ngày nào?
- Thứ sáu, thứ bảy, hoặc chủ nhật.
- Hắn không thể sai hẹn chứ?
- Hắn là tocayo của tôi.
- Bất cứ thời tiết nào hắn cũng đến chứ?
- Bất cứ thời tiết nào. Hắn không sợ đâu. Tôi là Blasco, hắn là Blasquito.
- Như vậy là thể nào hắn cũng tới Guernesey?
- Tôi đến một tháng, hắn đến một tháng.
- Tôi hiểu.
- Kể từ thứ bảy tới. Nghĩa là đúng một tuần nữa, chưa hết năm hôm Blasquito sẽ đến.
- Nếu biển động thì sao?
- Trời xấu hả? (Tiếng Baxcơ)
- Phải.
- Blasquito không đến ngay, nhưng hắn sẽ đến.
- Hắn từ đâu đến?
- Từ Bilbao.
- Đi Portland.
- Tốt lắm.
- Hoặc đi Tor Bay.
- Càng hay.
- Người của anh có thể yên tâm.
- Blasquito không phản bội chứ?
- Bọn hèn nhát mới phản bội. Chúng tôi là những con người dũng cảm. Biển cả là nhà thờ của trời đông. Phản bội là nhà thờ của địa ngục
- Không ai nghe những điều chúng ta nói đấy chứ?
- Không thể nào nghe được chúng ta và nhìn chúng ta. Hãi hùng làm cho nơi đây thành hoang vắng.
- Điều ấy tôi biết.
- Còn ai dám liều lĩnh nghe chúng ta nói nữa?
- Đúng thế.
- Vả lại có nghe cũng không thể hiểu nổi. Chúng ta nói một thứ tiếng dữ tợn riêng của chúng ta mà chẳng có người nào biết. Anh đã biết tiếng, tức là anh cùng cánh với chúng tôi.
- Tôi đến đây để dàn xếp với anh.
- Tốt thôi.
- Bây giờ tôi đi đây.
- Được.
- Này, nếu người khách muốn Blasquito đưa đến nơi khác, ngoài Portland và Tor Bay thì sao?
- Y cứ trả gấp bốn.
- Blasquito có làm theo ý muốn của người ấy không?
- Blasquito sẽ làm theo ý muốn của tiền.
- Đi Tor Bay có lâu không?
- Tùy theo gió.
- Tám giờ chứ?
- Kém hoặc hơn.
- Blasquito có nghe theo người hành khách của hắn không?
- Nếu biển cả nghe theo Blasquito.
- Hắn sẽ được trả công xứng đáng.
- Vàng là vàng. Gió là gió.
- Đúng thế.
- Với vàng, con người làm những điều nó có thể làm, với gió Chúa làm những điều Chúa muốn.
- Người định đi với Blasquito sẽ ở đây vào thứ sáu.
- Tốt.
- Vào lúc nào thì Blasquito đến?
- Ban đêm. Đến ban đêm. Đi ban đêm. Chúng ta có một người vợ tên là biển cả, và một người chị tên là đêm tối. Vợ đôi khi còn lừa dối; chị thì không bao giờ. Mọi việc thế là đã thỏa thuận. Vĩnh biệt các anh.
- Xin chào. Làm tợp rượu chứ?
- Cảm ơn.
- Hay hơn nước ngọt.
- Tôi tin lời anh.
- Tôi tên là Chấm-Danh dự.
- Vĩnh biệt.
- Anh là quý phái, tôi là hiệp sĩ.
Rõ ràng là chỉ ma quỉ mới có thể nói như vậy. Bọn trẻ không nghe thêm nữa, và lần này chạy trốn thật sự; thằng bé người Pháp cuối cùng đã chịu, chạy nhanh hơn cả.
Thứ ba tiếp theo ngày thứ bảy ấy, Sieur Clubin trở lại Saint-Malo đưa tàu Durande về.
Tàu Tamaulipas vẫn ở trong bến.
Sieur Clubin, giữa hai hơi khói, hỏi người chủ Quán ông Jean:
- Thế nào, bao giờ tàu Tamaulipas kia đi?
- Ngày kia, thứ năm, người chủ quán đáp.
Tối hôm ấy, Clubin ngồi ăn cùng bàn với cánh bảo vệ bờ biển, và trái với thói quen của mình, ăn xong đi ngay. Vì vậy ông ta không thể ngồi ở phòng giấy tàu Durande, và gần như làm lỡ hết việc bốc xếp hàng hóa. Đối với một con người đúng mực như vậy là bị để ý ngay.
Hình như ông ta nói chuyện một lúc với người bạn đổi tiền.
Sau khi Noguette báo hiệu tắt lửa được hai giờ thì ông ta về. Chuông brésilienne đánh vào lúc mười giờ. Vậy là nửa đêm.
VI QUÁN JACRESSARDE
Cách đây bốn mươi năm, Saint-Malo có một cái ngõ gọi là ngõ Coutanchez. Ngày nay ngõ ấy không còn nữa, vì phải nhường chỗ cho những công trình làm tăng vẻ đẹp thành phố.
Đấy là hai dãy nhà bằng gỗ nghiêng ngả vào nhau, và cách nhau một quãng khá rộng cho một dòng suối gọi là đường phố. Người ta phải xoạc chân đi hai bên dòng nước, đầu hoặc khuỷu tay vấp vào dãy nhà bên trái và bên phải. Những chiếc lều cũ kỹ ấy của Normand thời trung cổ có những dáng dấp gần giống như người. Từ ngôi nhà nát đến mụ phù thủy cũng không xa. Những tầng gác thụt vào, những chỗ nhô ra, những mái hiên hình dấu mũ và những mớ sắt vụn giống những cái môi, những cái cằm, những cái mũi và những hàng lông mày. Cửa mái là con mắt chột. Vách tường là cái má hắc lào nhăn nheo. Chúng chạm trán nhau như đang âm mưu một việc mờ ám. Tất cả những từ của nền văn minh xa xưa như cắt hầu, cắt thủ, cắt mõm, đều gắn liền với nền kiến trúc ấy.
Một trong những ngôi nhà của ngõ Coutanchez, ngôi lớn nhất, ngôi trứ danh nhất, hay ngôi nổi tiếng nhất, tên là Quán Jacressarde.
Quán Jacressarde là nơi cư trú của những người không trú ngụ. Trong tất cả các thành phố, và đặc biệt tại các hải cảng, dưới tầng lớp dân chúng vẫn có một lớp cặn bã. Những tên vô lại, đến nỗi nhiều khi cả công lý cũng không thể moi ở chúng một lời thú nhận, những tên cướp mạo hiểm, những kẻ tìm mưu tính kế, những nhà hóa học bịp bợm, luôn luôn luyện lại cuộc đời, tất cả các loại áo manh quần vá và tất cả các kiểu ăn mặc rách rưới, những kẻ gian giảo thất nghiệp, những cuộc đời khánh kiệt, những lương tâm phá sản, những kẻ thất bại trong việc treo tường khoét vách (vì những tên đại bợm bao giờ cũng bay lượn và đứng lên cao), những thợ thuyền sa chân vào tội ác, những tay du côn, những ả đàng điếm, những kẻ hết biết ngượng ngùng và những lương tâm thủng rách, những tên vô lại bị dồn đến chỗ bần cùng, những tên hung ác không được đền bù xứng đáng, những kẻ thất bại trong cuộc đấu một mất một còn của xã hội, những kẻ đói khát đã từng cắn xé, những kẻ tiếp tay cho tội ác, những kẻ khốn cùng trong cả hai nghĩa thảm hại của từ ngữ; đấy, nhân số trong ngôi nhà ấy là như vậy. Trí tuệ con người ở lại đấy, đầy thú tính. Đấy là đống rác của linh hồn. Nó dồn đống trong một xó, để thỉnh thoảng lại chịu một nhát chổi, gọi là một cuộc bắt bớ của cảnh sát. Tại Saint-Malo, Quán Jacressarde là cái xó ấy.
Những gì tìm thấy trong các hang ổ như vậy, không phải là những loại giết người không biết gớm tay, những quân ăn cướp, những tên cường đạo, những sản phẩm đặc sắc của ngu dốt và đói nghèo. Nếu việc giết người có được tượng trưng ở đây thì cũng chỉ bằng một tên say rượu thô bạo nào đó, trộm cắp ở đấy không vượt quá một tên cắp vặt. Đấy là cục đờm của xã hội hơn là bãi nôn của nó. Du đãng thì đúng; nhưng côn đồ thì không. Tuy nhiên không nên tin tưởng vào đấy. Tầng lớp cuối cùng này của dân giang hồ tứ chiếng có thể có những bạo hành ác hiểm. Có lần quăng lưới vào l’Épi-scié, nơi này đối với Paris cũng như Jacressarde đối với Saint-Malo, cảnh sát tóm được Lacenaire.
Những nơi trú ngụ như thế thu nhận tất cả mọi thứ, sa ngã là một cảnh san bằng. Đôi lúc lương thiện lột trần cũng rơi vào đấy. Đạo đức và liêm khiết cũng có những bước ly kỳ, việc ấy đã từng thấy. Không nên vội vã quí trọng cung điện Louvres, cũng không nên vội vã khinh miệt các nhà tù. Lòng kính trọng của công chúng cũng như sự chê bai của toàn thể cần được xem xét kỹ. Ở đấy có nhiều chuyện bất ngờ. Một thiên thần trong nhà thổ, một viên ngọc trong đống phân, chuyện bắt gặp tối tăm và chói lòa như vậy có thể có lắm.
Quán Jacressarde là một cái sân chơi hơn là một ngôi nhà, một cái giếng hơn một cái sân. Nó không có gác nhìn xuống đường phố. Mặt tiền của nó là một bức tường cao đục thủng bởi một cái cửa thấp lè tè. Nhấc cái then lên, đẩy cánh cửa vào, thế là đứng trước một cái sân.
Giữa sân thấy có một lỗ tròn, bao quanh bởi một bờ đá ngang tầm mặt đất. Đấy là một cái giếng. Sân thì nhỏ, giếng thì to. Một lớp gạch lát sụt lở đóng khung bờ giếng.
Mảnh sân vuông, được xây cất ba phía. Phía đường phố, chẳng có gì, nhưng đối diện với cánh cửa, bên phải và bên trái, đều có nhà ở.
Sau khi trời tối, nếu dám liều lĩnh một tí, đặt chân vào đấy, người ta khắc nghe như có tiếng hơi thở ô hợp và nếu có đủ trăng sao để những đường nét tối tăm trước mắt có được hình dáng, thì sau đây là những gì người ta nhìn thấy.
Mảnh sân. Cái giếng. Xung quanh sân, trước cảnh cửa, một khoảng trống hình dung một thứ móng ngựa vuông vuông, kiểu nhà cầu mọt ruỗng, thông thống, trần sơ xà gỗ, chống đỡ bởi những trụ đá cách quãng không đều; ở giữa, cái giếng; xung quanh giếng, trên một ổ rơm, và hình thành như một vòng tràng hạt, những đế giày thẳng đơ, những phần dưới của giày ống vẹt gót, những ngón chân thò qua các lỗ giày và rất nhiều gót chân trần, chân đàn ông, đàn bà, chân trẻ con. Tất cả những cái chân ấy đang ngủ.
Bên kia dãy chân, nhìn sâu vào trong bóng tối chập chờn của khoảng nhà trống, con mắt nhận thấy những thân mình, hình dáng, những cái đầu mê mệt, chân tay cứng đơ duỗi thẳng, những quần áo rách rưới của cả hai giới, một cảnh chung đụng trong rác rưởi, một kiểu vạ vật thiểu não nào đó của con người. Phòng ngủ này dành cho tất cả mọi người. Ở đấy mỗi tuần phải trả hai xu. Dãy chân chạm vào giếng. Những đêm giông bão, mưa giội trên dãy chân ấy; những đêm đông lạnh, tuyết rơi trên những thân mình kia.
Những con người ấy là thế nào? Toàn người xa lạ. Tối đến, họ tới đấy và sáng ngày lại ra đi. Trật tự xã hội phức tạp thêm vì đám sâu bọ ấy. Một số lén lút vào một đêm mà không trả tiền. Phần đông suốt ngày chẳng ăn uống miếng gì. Tất thảy mọi tật xấu, bỉ ổi, tất thảy mọi nhuốc nhơ, buồn phiền; cùng một giấc ngủ sầu muộn trên cùng một chiếc giường nhầy nhụa bùn dơ. Những giấc mơ của tất cả các linh hồn ấy sống hòa thuận bên nhau. Một chốn hẹn hò thảm đạm, nơi chuyển động và kết quyện trong cùng một thứ uế khí của những mệt mỏi, những kiệt quệ, những cơn say li bì, những bước tới lui của một ngày không một miếng bánh và không một ý nghĩ tốt đẹp, những vẻ mặt tái nhợt mí mắt nhắm nghiền, những hối hận, thèm muốn, những mái tóc đầy rác rưởi, những bộ mặt có vẻ nhìn của thần chết, có lẽ những cái hôn của bóng tối dày đặc. Mùi hôi thối đó của con người lên men trong cái thùng ủ ấy. Chúng bị vứt vào nơi trú ngụ này do định mệnh, do chuyến đi, do chiếc tàu đến tối hôm qua, do vừa mãn hạn tù, do may rủi, do đêm tối. Mỗi ngày số mệnh lại đem gùi đến đỗ vào đấy. Ai muốn vào cứ vào, ai muốn ngủ cứ ngủ, ai dám nói cứ nói. Vì đây là một chốn thì thầm. Người ta hối hả trà trộn vào nhau. Người ta cố gắng quên mình trong giấc ngủ, vì người ta không thể sa ngã trong bóng tối. Người ta lấy của thần chết cái gì có thể lấy được. Họ nhắm mắt trong cái cảnh hấp hối hỗn độn đêm nào cũng bắt đầu lại đó. Họ từ đâu ra? Từ xã hội, vì họ là khốn cùng; từ sông nước, vì họ là bèo bọt.
Không phải ai muốn cũng có được một ổ rơm đâu. Biết bao trần truồng vẫn kéo lê trên hè phố; họ nằm xuống mệt nhừ; họ tỉnh dậy cứng đơ. Cái giếng, không lan can và không nắp đậy lúc nào cũng toang hoác, sâu đến mười mét. Mưa rơi xuống đấy, rác rưởi rỉ rịn xuống đấy, tất cả mọi rãnh nước của mảnh sân thấm xuống đấy. Cái xô múc nước để ngay cạnh. Ai khát, múc nước ấy mà uống. Ai chán chường, cứ việc trầm mình xuống đấy. Từ giấc ngủ trong phần rác, người ta trượt ngã vào giấc ngủ ấy. Năm 1819, người ta kéo ở đấy lên được một em bé mười bốn tuổi.
Để khỏi gặp nguy hiểm trong ngôi nhà ấy, phải “cùng cánh”. Kẻ ngoại đạo thường bị khinh miệt.
Những con người đó có quen biết nhau không? Không. Họ đánh hơi nhau.
Chủ nhân nơi trú ngụ ấy là một người đàn bà, trẻ, khá xinh, đội một cái mũ đính ruybăng, đôi khi lau mặt bằng nước giếng, có một cái chân gỗ.
Ngay từ sáng tinh mơ, mảnh sân đã quang hẳn người; các khách quen tẩu tán.
Trong sân có một con gà trống và vài con gà mái, suốt ngày đứng bới đống phân. Mảnh sân có một thanh gỗ bắc ngang trên cột, hình ảnh một cái giá treo cổ không đến nỗi quá lạc lõng ở đây. Thường thường, hôm sau những đêm mưa gió, người ta thấy phơi trên cái sà gỗ ấy một chiếc áo dài lụa ướt và vấy bùn của người đàn bà chân gỗ.
Bên trên gian nhà trống, và cũng giống nó, bao quanh mảnh sân, có một tầng gác, và trên tầng gác có một gác mái. Một cầu thang gỗ mục, chọc thủng trần gian nhà trống, dẫn lên tầng trên; một thứ thang rung rinh mà người đàn bà lẩy bẩy trèo cót ca cót két.
Những người thuê tạm một tuần hay một đêm thì ở ngoài sân; những người thuê dài hạn thì ở trong nhà.
Cửa sổ, không kính; không cửa, không cánh; lò sưởi, không lửa; ngôi nhà như thế đấy. Đi từ phòng nọ sang phòng kia, có thể tùy ý chui qua một cái lỗ vuông dài trước kia là cửa, hoặc qua một khoảng hình tam giác trước kia là phần giữa cái kéo vách, vôi vữa rơi xuống, phủ đầy ặp sân. Người ta không hiểu nhờ đâu mà ngôi nhà đứng vững. Gió đu đưa nó. Người ta cứ leo lên, gặp chăng hay chớ, chậm chuội trên những bậc thang ọp ẹp. Mọi thứ đều thưa rỗng. Mùa đông lọt vào ngôi nhà nát như nước trong một miếng bọt biển. Nhìn thấy nhiều nhện, có thể yên trí là nhà chưa đến lúc sập. Chẳng có lấy một cái bàn hay tủ. Hai ba tấm nệm rơm trong xó, lòi cả ruột, để lộ nhiều tro bụi hơn rơm rác. Đây là một cái vò và một cái chậu sành dùng vào những việc linh tinh. Thoang thoảng một mùi tởm lợm.
Từ các cửa sổ có thể nhìn xuống sân. Cảnh tượng giống như phía trên một chiếc xe bò của người hút bùn. Các thứ, không kể người, đang thối rữa ở đất, đang gỉ nát, mốc meo ở đấy, thật là khó tả. Các thứ vụn nát cạnh nhau, chúng từ các bức tường rơi xuống, từ các sinh vật rớt ra. Quần manh áo rách thường gieo rắc những thứ đổ nát.
Ngoài số dân nay ở mai đi, đóng cắm trong sân Quán Jacressarde có ba người thuê nhà, một anh bán than, một người nhặt giẻ rách và một tay luyện vàng. Anh bán than và anh nhặt giẻ rách chiếm hai đệm rơm ở tầng một; tay luyện vàng, nhà hóa học ngủ trên gác mái mà không hiểu tại sao người ta gọi là cái tra. Không biết người đàn bà ngủ ở xó nào. Tay luyện vàng có hơi thi sĩ một tí. Y ở trong mái nhà, dưới lớp ngói, một căn phòng có một cửa mái nhỏ hẹp và một lò sưởi to bằng đá, một thứ hang sâu để cho gió rít. Vì cửa mái không có khung nên y đã đóng lên đó một mảnh tôn mỏng lấy ở một mảng thuyền rách ra. Tấm tôn này để lọt vào rất ít ánh sáng và rất nhiều khí lạnh. Anh bán than thỉnh thoảng trả một bao than, người nhặt giẻ trả lại mỗi tuần một đấu thóc cho gà, tay luyện vàng không trả. Trong khi chờ đợi y làm cái việc đốt nhà, y đã bóc giật phần gỗ ít ỏi trong nhà và lúc nào cũng thấy y rút ở tường hay mái ra một thanh rui để đun cái niêu vàng của y. Trên vách, bên trên cái giường khổ của người nhặt giẻ, thấy hai cột chữ số viết bằng phấn, do anh ta vạch lên từng tuần, một cột số ba và một cột số năm, tùy theo đấu thóc giá ba liard hay năm xăngtim. Cái niêu vàng của “nhà hóa học” là một quả đạn cũ vỡ, được y tôn là nồi súp de, trong đó y nhào trộn các loại thuốc. Công việc biến hóa thu hút hết tâm trí của y. Đôi khi, y cũng nói chuyện ấy với cánh chân đất ngoài sân, cánh này chỉ cười. Y bảo: Những người ấy đầy thành kiến. Y quyết tâm không chịu chết trước khi ném hòn đá hóa vàng vào các ô kính của khoa học. Cái lò của y ngốn rất nhiều gỗ. Cái lan can cầu thang đã biến vào đấy. Toàn bộ ngôi nhà âm ỉ chui vào đấy. Bà chủ nhà bảo y: Rồi ông chỉ để lại cho tôi cái vỏ thôi. Hắn làm nguôi lòng bà ta bằng cách tặng bà mấy câu thơ. Quán Jacressarde là thế đấy!
Một thằng bé, có lẽ là một thằng lùn, quãng mười hai hay sáu mươi tuổi gì đấy, có bướu ở cổ, lúc nào cũng cầm một cái chổi ở tay, là đày tớ trong nhà.
Khách quen vào theo lối cửa sân; công chúng vào qua lối cửa hàng.
Cửa hàng là cái gì?
Bức tường cao xem như mặt tiền nhìn ra phố bị đục thủng, bên phải lối vào sân, một lỗ hình êke vừa là cửa ra vào vừa là cửa sổ, có cả cửa ván và khung, bức cửa ván duy nhất có chốt và bản lề trong toàn bộ ngôi nhà, cái khung duy nhất có ô kính. Phía sau mặt hàng nhìn ra phố ấy, có một phòng con, khoảng nhà xén vào chỗ vừa buồng ngủ vừa nhà kho. Trên cái cửa nhìn ra phố, người ta đọc được dòng chữ viết bằng than: Tại đây bán đồ quý. Từ đó người ta quen dùng câu nói ấy. Trên ba tấm ván sát vào lớp kính làm kệ, thấy có vài chiếc lọ sành không quai, một chiếc lọng Tàu bằng ruột bò có vẽ hình, lỗ chỗ, không giương không cụp được, ít mảnh sắt hoặc sa thạch chẳng ra hình thù gì cả, mấy cái mũ thủng của đàn ông hay đàn bà, ba bốn cái vỏ chai, vài gói khuy cũ bằng xương và bằng đồng, một hộp thuốc có chân dung Marie-Antoinette, và một tập Đại số của Boisbertrand không đủ bộ. Cửa hàng đấy. Cái mớ tạp nham ấy là “đồ quí”. Cửa hàng ăn thông bằng một cửa sau với mảnh sân có giếng. Trong cửa hàng có một cái bàn và một chiếc ghế đẩu. Người đàn bà chân gỗ là bà chủ ngồi quầy.
VII KHÁCH MUA ĐÊM, CHỦ BÁN TỐI
Clubin không đến Quán Ông Jean suốt cả tối thứ ba; chiều thứ tư ông ta cũng không đến.
Chiều hôm ấy, lúc xẩm tối, có hai người đi vào ngõ Coutanchez, họ dừng chân trước Quán Jacressarde. Một trong hai người gõ vào ô kính. Cánh cửa nhà hàng mở ra. Họ bước vào. Người đàn bà chân gỗ nở nụ cười dành cho dân tư sản. Trên bàn có một ngọn nến.
Hai người kia đúng là dân tư sản.
Trong hai người, tay gõ cửa nói:
- Chào bà. Tôi đến lấy cái của ấy đây.
Người đàn bà chân gỗ lại nở nụ cười thứ hai và đi theo lối cửa sau, mở vào mảnh sân có giếng. Một lúc sau, cánh cửa lại mở, và một người đàn ông xuất hiện trên khung cửa mở hé. Người này đội mũ lưỡi trai, mặc áo thụng, dưới lớp áo thụng có một vật cồm cộm. Y có mấy cọng rơm trên những nếp nhăn của chiếc áo thụng, và cặp mắt của một người vừa được gọi dậy.
Anh ta tiến lên. Hai bên nhìn nhau. Người mặc áo thụng có vẻ bỡ ngỡ và sắc sảo. Y nói:
- Ông chính là người buôn vũ khí?
Người gõ cửa đáp.
- Phải. Anh là Parisien?
- Tức Peaurouge. Phải.
- Anh cho xem đi.
- Đây.
Người kia rút trong áo thụng ra một khí cụ rất hiếm ở châu Âu thời ấy, một khẩu súng lục.
Khẩu súng lục còn mới và sáng loáng. Hai người tư sản xem xét súng. Anh chàng dường như quen biết ngôi nhà, mà tay mặc áo thụng gọi là “người buôn vũ khí”, lách cách thử súng. Anh ta trao món hàng cho anh kia, người này kém vẻ cùng thành phố hơn và ngoảnh lưng lại ánh sáng.
Tay buôn vũ khí lại hỏi:
- Bao nhiêu?
Người mặc áo thụng đáp:
- Tôi từ Mỹ sang với nó, có những người đem theo khỉ, vẹt, súc vật, làm như người Pháp là dân mọi rợ. Tôi thì tôi mang theo món này. Đây là một phát minh có ích.
- Bao nhiêu?
- Pap. Một cú đầu, Pap. Một cú thứ hai. Pap… một tràng mà! Nó được việc lắm.
- Bao nhiêu?
- Nó có sáu nòng.
- Thế thì bao nhiêu?
- Sáu nòng, là sáu lu-i[6].
- Anh đồng ý năm luy không?
- Không được. Mỗi viên đạn một lu-i… giá nó là thế.
- Chúng ta có muốn mua bán nghiêm chỉnh không? Ta nên biết điều.
- Tôi đã nói đúng giá. Ông cứ xem kỹ đi, ông buôn súng ạ.
- Tôi đã xem kỹ rồi.
- Ổ máy xoay tít như ông Taleyrand[7]. Người ta có thể bỏ cái ổ máy này vào Từ điển cờ gió. Đúng là một thứ nữ trang.
- Tôi đã thấy nó rồi.
- Còn nòng súng, là của Tây Ban Nha đúc.
- Điểm đó, tôi đã chú ý đến.
- Đây là thép ép. Loại thép ấy, chế tạo như thế này. Người ta đổ cái gùi của anh nhặt sắt cũ vào lò nung. Người ta đổ thật đầy sắt vụn, đinh cũ của thợ bịt móng ngựa, những sóng ngựa gẫy…
- Và những xỉ sắt của lò than.
- Tôi đang định nói thế đấy ông buôn vũ khí ạ. Người ta cho đống sắt vụn ấy đỏ chảy ra, thế là được một tấm sắt tuyệt vời…
- Đúng, nhưng nó có thể có những lỗ hổng, những kẽ nứt, những khuyết điểm.
- Đúng, đúng! Nhưng người ta chữa các chỗ hư hỏng bằng mộng đuôi cá nhỏ, cũng như tránh những chỗ gập bằng cách nện thật khỏe. Người ta nện tấm sắt bằng búa đại, rồi nung thêm hai lượt đỏ chảy; nếu sắt nung quá già, người ta hoàn trả bằng cách nung mềm và nện khẽ. Thế rồi người ta dát dài tấm sắt ra, đoạn cuốn nó lại trên sơ-mi, và với những thứ sắt ấy, hấp! Người ta làm ra loại nòng ấy.
- Ra anh cũng ở trong nghề à?
- Nghề nào tôi cũng hay cả.
- Nòng súng màu xanh biếc.
- Thật tuyệt vời, ông buôn vũ khí ạ. Muốn đạt được thế, người ta dùng mỡ ăngtimoan.
- Vậy chúng tôi xin nói là chúng tôi sẽ trả anh năm lu-i nhé.
- Tôi xin phép lưuý ông là tôi đã hân hạnh nói sau lu-i.
Tay buôn vũ khí hạ giọng:
- Này anh Parisien, anh nghe đây. Anh nên chớp lấy thời cơ. Anh nên đẩy nó đi. Nó chẳng đáng gì với các anh, loại súng như thế này. Mà nói lại làm cho người ta để ý.
- Kể ra, - Parisien nói - cũng hơi nhìn xa đấy. Để cho một nhà tư sản thì hơn.
- Anh đồng ý năm lu-i chứ?
- Không, sáu. Mỗi lỗ một.
- Thế thì sáu napoléons[8] vậy.
- Tôi muốn sáu lu-i kia.
- Thế ra anh không phải phái Bonapartiste? Anh thích một lu-i hơn một napoléon à?
Parisien tức Peaurouge mỉm cười, nói:
- Napoléon giỏi hơn, nhưng Louis giá trị hơn.
- Sáu napoléon.
- Sau lu-i. Đối với tôi chênh lệch hẳn hai mươi bốn frăng.
- Thế thì đành thôi vậy.
- Được. Tôi giữ lại món đồ chơi.
- Thì anh giữ lấy.
- Bớt! Đời nào! Không bao giờ tôi nhả một của mới phát minh như vậy đâu.
- Thế thì xin chào.
- Nó tiến bộ hơn loại súng ngắn mà người da đỏ sidapic gọi là Nortay-u-Hah.
- Năm lu-i tiền mặt, là vàng ròng.
- Nortay-u-Hah có nghĩa là Súng ngắn. Nhiều người không biết thế đâu.
- Anh có đồng ý năm lu-i, với một êquy nhỏ không?
- Thưa ngài, tôi đã bảo sáu.
Trong lúc diễn ra cuộc đối thoại con người vẫn ngoảnh lưng lại ngọn nến và từ nãy vẫn chưa nói gì chỉ thử cho ổ máy xoay. Anh đến gần tai người buôn vũ khí và thì thầm với y:
- Hàng tốt chứ?
- Hết ý.
- Tôi trả cả sáu luy đấy.
Năm phút sau, trong lúc Parisien tức Peaurouge giấu vào một kẽ bí mật dưới nách áo thụng sáu đồng lu-i vàng vừa nhận được, thì tay buôn vũ khí cũng với người mua, đút khẩu súng lục trong túi quần, đi ra khỏi ngõ Coutanchez.
VIII HÒN BI ĐEN CHẠM HÒN BI ĐỎ[9]
Hôm sau, ngày thứ năm, cách Saint-Malo không xa, cạnh mũi Décollé, ở một nơi vách núi cao và biển sâu, xảy ra một việc bi đát.
Một dải núi hình mũi giáo, dính với đất liền nhờ một eo đất hẹp, chạy dài xuống nước và kết thúc đột ngột ở đấy bằng một tảng đá ngầm thẳng đứng; trong kiến trúc của biển cả chẳng có gì thường thấy hơn thế. Từ bờ muốn ra đến ngọn đồi có tảng đá thẳng đứng, phải lần theo một triền dốc đôi khi trèo lên khá nguy hiểm.
Chính trên một ngọn đồi loại ấy, vào quãng bốn giờ chiều, có một người đang đứng, mình quấn áo khoác chỉ huy rộng, và hẳn là có vũ khí bên trong, điều đó dễ nhận thấy qua một vài nếp thẳng và gẫy góc của chiếc áo. Chỗ đỉnh cao người ấy đứng là một mặt bằng khá rộng, rải rác có những hòn đá tảng, giống như những phiến đá lát đường thật to, và để chứa những lối đi hẹp. Mặt bằng ấy, có một thứ cỏ ngắn mọc dày, kết thúc phía biển bằng một quãng trống, dẫn đến một mép vách cheo leo. Vách biển, cao khoảng hai mươi mét trên biển cả dường như được cắt thẳng. Góc bên trái của nó tuy vậy cũng bị sụt lở và hình thành một kiểu cầu thang tự nhiên đặc biệt của vách núi hoa cương, mà các bậc trước không tiện lắm đôi khi đòi hỏi phải bước kiểu khổng lồ hoặc nhảy như hề rạp xiếc, Núi dốc thẳng xuống đến tận biển và chui tọt xuống nước. Gần như một chỗ liều mạng. Tuy nhiên, bất đắc dĩ cũng có thể nhờ lối ấy mà đáp thuyền đậu dưới vách núi.
Gió thổi hiu hiu. Con người quấn áo khoác đứng vững vàng trên đôi chân, bàn tay trái nắm chặt khuỷu tay phải, nheo một mắt và áp lên mắt kia một cái kính viễn vọng. Dường như y đang thu hút vào một mục tiêu quan trọng. Y đi đến gần mép núi và đứng đấy, bất động, mắt đăm đăm dán chặt vào chân trời. Nước triều dang dâng. Phía dưới, sóng vỗ vào chân vách núi.
Cái mà người kia đang quan sát là một chiếc thuyền ngoài khơi đang dập dềnh một cách đặc biệt.
Chiếc thuyền ấy, vừa rời cảng Saint-Malo chưa đầy một tiếng, đã dừng lại sau dãy Banquetiers. Nó là một loại thuyền ba buồm. Nó không thả neo, có lẽ đáy biển chỉ cho phép buộc bằng cáp và vì thuyền có thể vướng neo vào mũi; nó đành phải kéo buồm đứng yên tại chỗ.
Người kia, vốn là lính bảo vệ bờ biển, như chiếc áo đồng phục của y cho thấy, theo dõi tất cả mọi cử động của chiếc thuyền ba buồm và hình như cố ghi vào óc. Chiếc thuyền đã giữ buồm cho thuyền đứng yên, gió trên gió trong; điều mà lá cờ vuông con và gió trong lá cờ vuông to chỉ rõ; nó đã cuốn buồm lái và cố sức hướng lá buồm tầng hai, để buồm nọ đối lập buồm kia và đón nhận ít gió và ít bị trôi dạt. Nó không lo phải hứng quá nhiều gió, vì nó chỉ quay lá buồm con vuông góc với sống thuyền. Bằng cách ấy, ở thế chếch chếch, nó chỉ trôi dạt nhiều lắm mỗi giờ một nửa dặm.
Trời hãy còn sáng, nhất là giữa biển khơi và trên đỉnh vách biển. Chân bờ biển trở thành tối mịt.
Người gác bờ biển, tập trung hết tâm trí vào công việc và chăm chú theo dõi biển khơi, đã không nghĩ đến việc dò xét hòn núi bên cạnh và phía dưới. Y ngoảnh lưng lại cái cầu thang khó trèo nối liền ngọn đồi của vách núi với biển cả.
Y không nhận thấy có một vật gì đó đang động đậy ở đấy. Trong cái cầu thang ấy, phía sau một chỗ mấp mô, có một người, đàn ông, chắc đã nấp ở đấy trước khi người gác bờ biển đến. Chốc chốc, trong bóng tối, một cái đầu từ dưới hòn núi lại nhô ra, nhìn lên, và theo dõi người đang theo dõi. Cái đầu này, đội một cái mũ Mỹ rộng vành, là đầu anh chàng, của tay quaker, trước đấy mười lăm hôm, đứng nói chuyện với thuyền trưởng Zuela giữa mấy hòn núi ở Petit-Bey.
Thình lình người gác bờ biển có vẻ tập trung chú ý gấp bội. Y lau vội mặt kính ống nhòm bằng tay áo dạ và cương quyết hướng ống nhòm vào chiếc thuyền ba buồm.
Một chấm đen vừa lách ra khỏi thuyền.
Điểm đen ấy, giống hệt một con kiến trên biển cả, là một chiếc xuồng con.
Chiếc xuồng dường như muốn vào đất liền, trên đó có vài ba thủy thủ, đang ra sức chèo, Nó đi chếch dần dần vào hướng mũi Décollé.
Việc đi theo dõi của người gác bờ biển đã đến lúc tập trung cao độ. Y không bỏ qua một cử động nào của chiếc xuồng. Y lại xích đến gần mép biển hơn nữa.
Lúc ấy một người cao to, tay quaker, xuất hiện sau lưng anh lính gác bờ biển, ở đầu cầu thang. Anh lính theo dõi không nhìn thấy hắn.
Hắn dừng lại một lúc, hai tay để thõng, nắm chặt và với con mắt của kẻ đi săn nhắm bắn, nhìn vào lưng người gác bờ biển.
Chỉ bốn bước chân ngăn cách hắn với người gác bờ biển, hắn để một chân lên trước, đoạn dừng lại, hắn bước thêm bước nữa, rồi lại dừng; hắn không làm một động tác nào khác hơn là bước, toàn bộ thân mình còn lại của hắn là một pho tượng; chân hắn dẫm lên cỏ không một tiếng động, hắn bước bước thứ ba rồi dừng lại, hắn như gần chạm vào người gác bờ biển, vẫn trơ trơ với ống kính viễn vọng. Hắn thong thả thu hai nắm tay lại ngang tầm xương quai xanh, đoạn, thình lình, hai cẳng tay hắn giáng xuống, là hai nắm tay hắn, như có lò xo, nện vào hai vai người gác bờ biển. Miếng đòn thật hiểm độc. Người gác bờ biển không kịp kêu tiếng nào. Anh đã đâm đầu từ trên đỉnh núi xuống biển sâu. Người ta thấy trong chớp nhoáng hai cái đế giày của anh. Như một tảng đá lăn nhào xuống nước. Tất cả khép kín như không.
Hai ba vòng tròn to khoanh khoanh trên mặt nước tối đen.
Chỉ còn mỗi cái kính viễn vọng rời khỏi bàn tay người gác bờ biển và rơi xuống đất trên mặt cỏ.
Tay quaker nghiêng mình trên mép núi, nhìn những vòng tròn nhòa dẫn trên sóng nước, chờ mấy phút, đoạn vừa thẳng người lên vừa khẽ hát qua kẽ răng:
Thế là Ông Cảnh Binh đã chết.
Mất luôn cả mạng.
Hắn cúi xuống nhìn một lần thứ hai. Chẳng có gì xuất hiện lại. Chỉ thấy trên mặt nước, chỗ người gác bờ biển chìm nghỉm, hình thành một lớp màu nâu dày, rộng dần trên mặt sóng đung đưa. Có thể là người gác biển đã đập sọ vào một tảng đá ngầm nào đấy. Máu anh nổi lên và tạo thành cái vật kia trên bọt nước. Tay quaker vừa ngắm nhìn cái vũng đỏ quạch vừa hát tiếp:
“Mười lăm phút trước khi ông chết
Ông vẫn còn…”
Hắn không hát hết.
Hắn chợt nghe sau lưng có một giọng nói rất dịu dàng:
- Kìa, anh Rantaine. Xin chào. Anh vừa giết chết một người.
Hắn ngoảnh ngay lại, và thấy sau lưng hắn độ mười lăm bước, giữa một quãng cách của mấy quả núi, một người nhỏ bé lăm lăm khẩu súng lục.
Hắn đáp ngay:
- Đúng đấy. Xin chào, Sieur Clubin.
Người nhỏ bé bỏng rùng mình.
- Anh nhận ra tôi sao?
- Thì anh đã nhận không sai tôi. - Rantaine đáp lại.
Trong khi ấy có tiếng mái chèo vỗ trên mặt biển. Đấy là chiếc xuồng con mà người gác bờ biển quan sát, đang tiến đến gần.
Sieur Clubin nói khẽ, như nói với chính mình.
- Làm nhạy thật đấy.
- Có việc gì để hầu tiếp anh đây? - Rantaine hỏi.
- Cũng chẳng có gì nhiều. Đã mười năm nay tôi không trông thấy anh. Hẳn anh làm ăn phải khấm khá lắm. Anh có được khỏe không?
- Tốt - Rantaine nói - Thế còn anh?
- Rất tốt - Sieur Clubin đáp.
Rantaine bước một bước về phía Sieur Clubin.
Một tiếng gọn nhỏ lọt vào tai hắn. Sieur Clubin lên đạn súng lục.
- Rantaine, chúng ta đứng cách nhau mười lăm bước. Đó là một quãng cách tốt. Anh hãy đứng yên tại chỗ.
- Ra thế đấy - Rantaine nói - anh muốn gì ở tôi?
Rantaine không nhúc nhích nữa, Sieur Clubin nói tiếp.
- Anh vừa ám sát một người gác bờ biển. Rantaine hất vành mũ lên và đáp:
- Anh đã cho tôi cái hân hạnh được nghe anh nói điều đó rồi.
- Bằng những lời kém cụ thể hơn. Ban nãy tôi nói: một người, bây giờ tôi nói: một người gác bờ biển. Người gác bờ biển này mang số hiệu sáu trăm mười chín. Y là bố trong gia đình. Y bỏ lại một vợ và năm con.
- Hẳn là thế, - Rantaine nói.
Một khoảnh khắc dừng lại rất khó nhận thấy.
- Những lính gác bờ biển ấy là những con người ưu tú - Clubin nói - hầu hết là cựu thủy thủ.
- Tôi đã nhận thấy - Ranraine nói là nói chung người ta để lại một vợ và năm con.
Sieur Clubin tiếp tục:
- Anh đoán thử xem khẩu súng lục này tôi phải trả bao nhiêu?
- Đúng là một của quí đấy. - Rantaine đáp.
- Anh ước giá bao nhiêu?
- Tôi rất thích nó.
- Tôi đã mất với nó một trăm bốn mươi frăng đấy.
- Hẳn là anh phải mua cái của ấy - Rantaine nói - tại cửa hàng vũ khí phố Coutanchez.
Clubin nói tiếp:
- Y đã không kêu la. Ngã không kịp cất tiếng.
- Sieur Clubin ạ, đêm nay sẽ gió nhẹ.
- Chỉ có một mình tôi biết sự việc bí mật.
- Anh vẫn trọ tại Quán Ông Jean chứ? Rantaine hỏi.
- Phải, ở đấy không đến nỗi tồi lắm.
- Anh khỏe thật, Rantaine ạ! Anh cả vai lắm! Tôi chẳng muốn nhận một cái búng tay của anh đâu. Tôi chào đời ốm yếu đến nỗi người ta không biết có thành công trong việc nuôi nấng tôi không.
- Thì đã thành công rồi đấy thôi, sung sướng thật.
- Tôi vẫn giữ thói quen, lúc nào cũng trọ tại Quán Ông Jean cũ ấy.
- Sieur Clubin này, ông biết tại sao tôi nhận ra ông không? Chính là vì ông đã nhận ra tôi. Tôi nói: chỉ có Clubin tài thế.
Rồi hắn bước tới một bước.
- Rantaine, đứng vào chỗ cũ.
Rantaine lùi lại và nói một mình:
- Người ta trở thành trẻ con trước những của nợ ấy.
Sieur Clubin nói tiếp.
- Tình huống. Bên phải, phía Saint-Énogat, cách đây ba trăm bước, chúng ta có một người gác bờ biển khác, số sáu trăm mười tám, đang sống, và bên trái, phía Saint-Lunaire, một đồn hải quan. Như vậy là bảy người đầy đủ súng ống có thể đến đây trong vòng năm phút. Quả núi sẽ bị bao vây. Đường đèo bị canh giữ. Không tài nào thoát nổi. Ở chân vách núi có một xác chết.
Rantaine liếc nhìn khẩu súng lục.
- Đúng như anh nói, Rantaine ạ. Đây là một của quí. Có thể là nó chỉ được nạp toàn thuốc súng. Nhưng như thế thì đã sao? Chỉ cần một tiếng nổ để gọi lực lượng vũ trang đến. Tôi có sáu phát tất cả.
Tiếng mái chèo thay nhau vỗ nghe đã rất rõ. Chiếc xuồng con không xa.
Con người cao to nhìn con người bé nhỏ, một cách khác thường, Sieur Clubin nói, giọng mỗi lúc một bình tĩnh và dịu dàng hơn.
- Rantaine, những người trên chiếc canô sắp đến, khi biết việc anh vừa mới làm ở đây ban nãy sẽ giúp sức để bắt giữ anh. Anh trả cho thuyền trưởng Zuela một vạn frăng về chuyến đi của anh. Nói thêm một chút, lẽ ra anh có thể trả rẻ hơn với cánh buôn lại Plainmont; nhưng họ chỉ đưa anh sang Anh thôi, vả lại anh không thể liều lĩnh đi Guernesey, nơi mà người ta có hân hạnh được biết anh. Lại nói về tình huống. Nếu tôi nổ súng, là người ta tóm cổ anh ngay. Anh trả Zuela một vạn frăng. Zuela sẽ giữ chỗ năm nghìn frăng ấy và đi thẳng. Thế đấy, Rantaine ạ, anh cải trang khá lắm. Cái mũ kia, chiếc áo kỳ quặc kia và đôi ghệt kia làm anh khác hẳn. Anh đã quên mất cái kính. Anh để râu quai nón là phải.
Rantaine khẽ mỉm cười, nghe gần như một tiếng nghiến răng. Clubin nói tiếp:
- Rantaine, anh mặc chiếc quần chẽn Mỹ hai túi. Trong một túi có chiếc đồng hồ của anh. Anh cứ giữ lấy nó.
- Cảm ơn, Sieur Clubin.
- Trong túi kia có một cái hộp sắt con đóng mở bằng lò xo. Đó là loại hộp đựng thuốc ngày xưa của thủy thủ. Anh hãy moi nó khỏi túi và vứt nó cho tôi.
- Thế là một trò ăn cắp!
- Anh cứ việc tự do gọi bảo vệ.
Và Clubin nhìn chằm chằm Rantaine.
- Này Mess Clubin[10]… Rantaine vừa nói vừa tiến tới một bước, chìa bàn tay xòe rộng.
Mess là một lời nịnh hót.
- Đứng nguyên tại chỗ, Rantaine.
- Mess Clubin, chúng ta nên dàn xếp với nhau. Tôi biếu ông một nửa.
Clubin khoanh tay lại, để thò đầu khẩu súng lục ra ngoài.
- Rantaine, anh cho tôi là hạng người nào? Tôi là một người lương thiện.
Và ông ta nói thêm, sau một lúc im lặng:
- Phải đưa tôi tất.
Rantaine lầu bầu qua kẽ răng:
- Thằng này chơi cha thật.
Trong lúc ấy con mắt Clubin vừa lóe sáng. Giọng ông ta trở nên rành rọt và sắc như thép. Ông ta nói to:
- Tôi thấy anh lầm to đấy. Chính anh tên là Ăn - cắp, còn tôi, tôi tên Hoàn - trả. Rantaine, anh nghe đây. Cách đây mười năm, đang đêm anh đã rời khỏi Guernesey, lấy trong két một hội buôn năm vạn frăng của anh, và quên để lại năm vạn frăng của một người khác. Số tiền năm vạn frăng ấy, do anh ăn cắp của người chung vốn với anh, Mess Lethierry cao quí và đức độ, ngày nay cộng với lãi mẹ đẻ lãi con trong mười năm thành tám vạn một nghìn sáu trăm sáu mươi sáu frăng sáu mươi sáu xăngtim. Hôm qua anh đã vào nhà một người đổi tiền. Để tôi nói ngay tên y ra cho anh nghe. Rébuchet, phố Saint-Vincent. Anh đã đến cho y bảy vạn sáu nghìn frăng bằng bạc giấy ngân hàng Pháp, y trao lại cho anh tờ giấy bạc của ngân hàng Anh, mỗi tờ một nghìn livrơ xteclinh, với chỗ lẻ. Anh đã để mấy tờ bạc ấy trong cái hộp sắt đựng thuốc, và cái hộp sắt đựng thuốc trong cái túi con bên phải. Chỗ ba nghìn livrơ xteclinh xem như bảy mươi lăm nghìn frăng. Nhân danh Mess Lethierry, tôi bằng lòng với số ấy. Ngày mai tôi đi Guernesey, và tôi muốn đưa số tiền đó đến cho ông ta. Rantaine, chiếc thuyền ba buồm đứng ngoài kia là chiếc Tamaulipas. Hồi đêm, anh đã cho bỏ xuống thuyền hòm xiểng của anh lẫn lộn với túi và vali của trai bạn. Anh muốn rời khỏi nước Pháp. Anh có lý do của anh. Anh đi Arequipa. Chiếc xuồng kia đến tìm anh. Anh chờ nó ở đây. Nó đang đến đấy. Người ta nghe rõ tiếng nó đang chèo. Để anh đi hay cho bắt giữ anh lại là tùy ở tôi. Nói thế là đủ. Vứt cái hộp sắt đựng thuốc đây cho tôi.
Rantaine mở túi con, móc ra một cái hộp nhỏ và vứt nó cho Clubin. Đấy là cái hộp sắt đựng thuốc. Nó lăn vào chân Clubin.
Clubin nghiêng người nhưng không cúi đầu và nhặt cái hộp thuốc bằng tay trái, vẫn chĩa vào Rantaine cặp mắt của mình và sáu cái nòng của khẩu súng lục.
Đoạn ông ta quát:
- Anh bạn, quay lưng lại.
Rantaine quay lưng lại.
Sieur Clubin kẹp khẩu súng lục vào nách, và bấm lò xo hộp thuốc. Cái hộp mở ra.
Nó đựng bốn tờ bạc, ba tờ một nghìn livrơ và một tờ mười livrơ.
Ông ta gập ba tờ giấy một nghìn livơ lại, bỏ cả vào trong hộp sắt, đóng hộp lại và bỏ nó vào túi mình.
Đoạn ông ta nhặt ở đất một hòn sỏi, gói nó bằng tờ bạc mười livrơ, và nói:
- Quay mặt lại.
Rantaine quay mặt lại.
Sieur Clubin nói tiếp:
- Tôi đã bảo với anh rằng tôi bằng lòng với chỗ ba nghìn livrơ. Đây tôi trả anh mười livrơ.
Và ông ta ném cho Rantaine tờ bạc trong đó gói hòn sỏi.
Rantaine đá một cái văng tờ bạc và hòn sỏi xuống biển.
- Tùy anh thôi - Clubin - Thôi được, anh hẳn phải giàu lắm. Tôi rất yên tâm.
Tiếng mái chèo, cứ đến gần mãi trong lúc diễn ra cuộc đối thoại, bỗng ngừng bặt. Như thế chứng tỏ chiếc xuồng đang ở dưới chân vách biển.
- Xe của anh đang đứng dưới kia, Rantaine, anh có thể đi được rồi.
Rantaine bước đến phía cầu thang và chui tọt xuống.
Clubin thận trọng đến bên bờ vách cheo leo và nhô đầu ra, nhìn hắn đi xuống.
Chiếc canô dừng cạnh bậc đá cuối cùng, ngay chỗ người gác bờ biển ngã xuống.
Vừa nhìn Rantaine trèo xuống, Clubin vừa lầu bầu:
- Tội nghiệp anh chàng sáu trăm mười chín! Anh ta tưởng chỉ có một mình. Ranraine tưởng chỉ có hai. Mỗi mình ta là biết có ba.
Ông ta thấy ở chân, trên cỏ, cái kính viễn vọng mà người gác bờ biển đã để rơi. Ông ta nhặt nó lên.
Tiếng mái chèo lại tiếp tục. Rantaine vừa mới nhảy vào canô, và canô đang ra khơi.
Lúc Rantaine đã ở trên canô, sau mấy mái chèo đầu tiên, và khi vách biển bắt đầu xa dần sau lưng, hắn bỗng đứng dậy đột ngột, gương mặt trở nên quái đản, hắn trỏ nắm tay xuống nước và hét to:
- Ha, ha! Bản thân quỉ sử cũng là một tên vô lại!
Mấy giây sau, Clubin, đứng trên vách biển và chĩa ống nhòm lên chiếc xuồng, nghe rành rọt những lời sau đây do một giọng nói oang oang thốt lên giữa tiếng rì rào của biển cả:
- Sieur Clubin, ông là người lương thiện, nhưng ông sẽ thấy là tôi cũng cần viết thư cho Lethierry, để báo cho ông ta biết sự việc; hiện trong canô có một thủy thủ Guernesey thuộc số hai bạn của thuyền Tamaulipas, tên anh ta là Ahier Tostevin, anh ta sẽ trở về Saint-Malo theo chuyến thuyền sắp tới của Zuela và sẽ chứng nhận rằng tôi đã giao cho ông để trả lại Mess Lethierry số tiền ba nghìn livrơ xteclinh.
Đấy là giọng nói của Rantaine.
Clubin là con người chỉ biết làm việc phải. Đứng trơ trơ như người gác biển, và cũng vẫn ở chỗ ấy, mắt gắn chặt vào ống nhòm, ông ta không một phút rời khỏi chiếc canô. Ông ta nhìn thấy nó nhỏ nhất trong sóng nước, hết ẩn lại hiện, rồi đến gần chiếc thuyền đang đứng yên, cặp vào mạn, và ông ta có thể nhận ra tầm dáng cao to của Rantaine trên boong thuyền Tamaulipas.
Lúc chiếc canô được rút lên mạn thuyền và đặt vào đúng chỗ, thuyền Tamaulipas lại chạy tiếp. Gió hiu hiu từ đất liền thổi ra, quạt vào tất cả các cánh buồm, ống kính của Clubin vẫn chĩa vào cái hình bóng mỗi lúc một thêm giản đơn, và nửa giờ sau thuyền Tamaulipas chỉ còn là một chiếc sừng đen, nhỏ dần trên bầu trời tái nhợt của hoàng hôn.
IX CHỈ DẪN BỔ ÍCH CHO NHỮNG NGƯỜI CHỜ ĐỢI, HOẶC SỢ, NHỮNG BỨC THƯ TỪ HẢI NGOẠI
Đêm hôm ấy nữa, Sieur Clubin lại về muộn.
Một trong những lý do của việc về muộn đó là trước khi về, ông ta đã đi đến tận cửa hàng Dinan, nơi có nhiều hàng quán. Trong một tiệm ăn không có ai quen biết, ông ta đã mua một chai rượu trắng, bỏ nó vào cái túi rộng varo, như muốn giấu nó vào đấy; sau đó, vì tàu Durande sáng hôm sau phải nhổ neo, ông ta đã đảo lên tàu một vòng để yên trí là mọi việc đều chu đáo.
Lúc Sieur Clubin trở về Quán Ông Jean, trong căn phòng thấp chỉ còn có người thuyền trưởng già đường dài, ông Gertrais-Gaboureau, đang ngồi uống bia và phì phèo tẩu thuốc.
Ông Gertrais-Gaboureau chào Sieur Clubin giữa một hơi khói và tợp bia.
- Goodbye, thuyền trưởng Clubin.
- Này, thế là thuyền Tamaulipas đi rồi.
- À! - Clubin nói - thế mà tôi không để ý.
Thuyền trưởng Gertrais-Gaboureau khạc nhổ và nói:
- Chuổn thôi, Zuela.
- Lúc nào thế?
- Tối nay.
- Lão đi đâu?
- Theo quỉ sứ.
- Hẳn rồi; nhưng đi đâu?
- Đi Arequipa.
- Thế mà tôi chẳng hay biết gì cả - Clubin nói, rồi tiếp thêm - Tôi đi nằm đây.
Ông ta châm nến, đi về phía cửa, rồi quay lại:
- Này thuyền trưởng Gertrais, ông đã đi Arequipa chưa?
- Đã. Cách đây mấy năm.
- Người ta ghé những đâu?
- Mỗi nơi một tí. Nhưng thuyền Tamaulipas này sẽ không ghé lặt vặt.
Ông Gertrais-Gaboureau dốc tàn thuốc trong tẩu ra mép một cái đĩa, và nói tiếp:
- Ông biết chiếc duyên ngạn Ngựa thành Troie và chiếc thuyền ba buồm rất đẹp Trentemouzin, đã đi Cardiff đấy chứ. Vì thời tiết, tôi đã không tán thành chuyến ra khơi. Chúng ta đã trở về trong một tình trạng thảm hại. Chiếc duyên ngạn thì chở nhựa thông, nó bị nước vào, thế là trong lúc cho bơm chạy nó đã bơm cả nước cả hàng họ ra. Còn chiếc thuyền ba buồm thì bị hư hại nhất ở phần trên; sườn mũi, đầu thuyền, mi-nô, sà neo bên cạy, tất cả gẫy hết. Cần kéo buồm tam giác ở mũi gẫy sát đến tận cọc. Còn xu-bac và thừng buộc buồm tam giác, đi mà xem có còn không. Cột buồm thì không sao; tuy vậy nó cũng lung lay nghiêm trọng. Toàn bộ phần sắt trên cột buồm cái mất sạch, và điều không thể tin được là cột buồm cái chỉ bị nhá nát, nhưng đã hoàn toàn bị bóc nhãn. Lớp vỏ ngoài bên cạy bong đến hơn ba piê vuông. Đấy thế nào là không chịu nghe lời thiên hạ.
Clubin đã đặt cây nến lên bàn và cứ loay hoay ghim lại dãy ghim trên cổ chiếc varơ. Ông ta lại nói:
- Thuyền trưởng Gertrais, ông bảo thuyền Tamaulipas không ghé vặt phải không?
- Không. Nó đi thẳng Chile.
- Như thế thì trên đường đi nó không thể cho biết tin tức của nó.
- Xin lỗi thuyền trưởng Clubin. Trước tiên nó có thể trao các bức điện lại cho tất cả các tàu thuyền nó gặp đang giong buồm về châu Âu.
- Đúng thế.
- Sau đó nó có hòm thư ngoài biển.
- Ông nói cái gì là hòm thư ngoài biển?
- Thuyền trưởng Clubin, ông không biết cái ấy?
- Không.
- Khi đi qua eo biển Magellan.
- Thì sao?
- Khắp nơi tuyết rơi, trời lúc nào cũng xấu, gió lồng lộn như điên, biển thì chẳng ra gì.
- Sau đó?
- Khi ông đã đi quá mũi Monmouth.
- Được rồi. Sao nữa?
- Tiếp đó ông đi quá mũi Valentin.
- Rồi sao nữa?
- Tiếp đó ông đi quá mũi Isidore.
- Thế rồi?
- Ông đi qua mũi Anna.
- Được, nhưng ông gọi cái gì là hòm thư ngoài biển?
- Đang nói đến chỗ ấy đây. Bên phải núi, bên trái cũng núi. Khắp nơi toàn chim cánh chụt, chim hải âu báo bão. Thật là một nơi khủng khiếp. Ôi! Lạy thánh, lạy thần! Sóng cao làm sao, gió dữ làm sao! Cuồng phong chẳng cần phải ai đến phụ. Chính đấy là nơi phải để ý đến lan can lái. Phải hạ bớt buồm! Phải buồm to bằng buồm tam giác, và thay buồm tam giác bằng buồm biển động. Gió hết đợt này đến đợt khác. Rồi đôi khi suốt bốn, năm, sáu ngày, chỉ đi dưới trời xấu. Thường thường cả một hệ thống buồm mới toanh mà chỉ còn trở lại vải xơ. Đúng là một điệu vũ lạ lùng! Có những cơn gió bốc cả một chiếc thuyền ba buồm như một con rận. Tôi đã thấy trên một chiếc tàu Anh hai buồm chiếc True Blue, một thủy thủ nhóc con đang lúi húi ở gibboom bị bốc tít mù tang với cả cái gibboom. Người ta bay lên không cứ như bươm bướm. Tôi đã thấy viện đốc công thuyền Revenue, một chiếc hai buồm xinh xắn, bị giật khỏi mũi tàu, và chết tươi. Tôi đã có lần vỡ mất sườn tàu, và tan mất cái giữ ống máng. Ra khỏi đấy là có bao nhiêu buồm đều mất sạch. Có những tàu buồm năm mươi tấn bị nước vào cứ như những cái thúng. Lại thêm cái bờ biển chết tiệt! Không đầu hiểm trở hơn. Núi non lởm chởm như trò chơi con trẻ. Gần đến Port-Famine. Ở đây, tệ hại hết chỗ nói. Tôi chưa bao giờ thấy gió dữ như thế. Cứ như những vùng bao quanh địa ngục. Thình lình người ta nhìn thấy hai chữ màu đỏ: Post Office.[11]
- Ông định nói gì, thuyền trưởng Gertrais?
- Thuyền trưởng Clubin, tôi muốn nói là ngay sau khi đi qua mũi Anna, người ta thấy trên một hòn đá cao độ một trăm piê có một cái gậy. Đấy là một cái cột treo lủng lẳng ở cổ một cái thùng. Cái thùng ấy là hòm thư. Chắc người Anh đã viết lên đấy hai chữ: Post Office. Họ xen vào việc gì thế? Đấy là bưu điện của đại dương; nó không phải của riêng của nhà quí tộc đáng kính là vua nước Anh đâu. Hòm thư ấy là của chung. Nó thuộc quyền tất cả mọi sắc cờ. Post Office! Có khá rắc rối không? Cứ y như một chén trà mà quỉ sứ thình lình mời anh xơi cho. Bây giờ nói đến cách làm việc. Bất cứ tàu bè nào đi qua cũng gửi đến cái cọc một chiếc canô với số thư tín của mình. Tàu từ Đại Tây Dương đến gửi thư cho châu Âu, và tàu từ Thái Bình Dương đến gửi thư cho châu Mỹ. Người sỹ quan chỉ huy chiếc canô bỏ vào thùng cái gói của mình và lấy cái gói nằm trong ấy. Ông đảm nhận số thư ấy; chiếc tàu đến sau lại sẽ đảm nhận số thư của ông. Vì đi ngược chiều nhau nên lục địa ông rời đúng là lục địa tôi tới. Tôi đưa thư hộ ông, ông đưa thư hộ tôi. Cái thùng bị buộc vào cọc bằng một sợi xích. Mặc cho mưa rơi! Mặc cho tuyết phủ! Mặc cho mưa đá! Trời biển thật chẳng ra sao! Hải điểu bay lượn tứ phía. Thuyền Tamaulipas sẽ đi qua đấy. Cái thùng có một cái nắp tốt có bản lề, nhưng chẳng có khóa khiếc gì cả. Ông thấy không, người ta có thể gửi thư cho bạn bè. Thư tự khắc đến.
- Hay thật - Clubin mơ màng khẽ nói.
Thuyền trưởng Gertrais-Gaboureau quay lại với vại bia của minh.
- Cứ giả định tên Zuela vô lại ấy viết thư cho tôi, thằng bần tiện ấy tống lá thư gà bới của nó vào cái thùng ở Magellan, và sau bốn tháng là tôi có được mảnh giấy nguệch ngoạc của tên khốn kiếp ấy. À, này thuyền trưởng Clubin, mai ông đi chứ?
Clubin, bị thu hút trong một thứ mộng du, không nghe thấy. Thuyền trưởng Gertrais nhắc lại câu hỏi.
Clubin chợt tỉnh.
- Chắc chắn rồi, thuyền trưởng Gertrais ạ. Ngày của tôi mà. Sáng mai tôi phải đi.
- Địa vị tôi, tôi sẽ không đi. Thuyền trưởng Clubin ạ, da chó cảm thấy ướt lông. Hai đêm nay chim biển đến lượn vòng quanh hải đăng. Dấu hiệu không hay đấy. Tôi có một cái kính xem thời tiết nhì nhằng. Hiện chúng ta đang ở vào đầu tuần trăng; độ ẩm cao nhất. Ban nãy tôi thấy địa du cúp lá và một luống chĩa ba chổng ngược. Giun bò ra đất, ruồi đốt, rất đau, ong không rời bộng, chim sẻ hỏi nhau. Nghe cả những tiếng chuông xa. Chiều nay tôi nghe tiếng chuông chiều của Saint-Lunaire. Rồi mặt trời lặn nom rất bẩn. Ngày mai sương mù sẽ rất dày cho xem. Tôi khuyên ông không nên đi. Tôi sợ sương mù hơn cả gió dữ. Sương mù là một tên đại nham hiểm.
❀ ❀ ❀
[1] Trinity House (tiếng Anh) nghĩa là Ba ngôi, vì nước Anh chịu trách nhiệm về ba mặt hải đăng, hải tiêu (tức phao tiêu) và hoa tiêu.
[2] Quaker: một giáo phái ở Anh.
[3] Charles-Quint (1500-1558) tức Charles V: Vua Tây Ban Nha năm 1516, Hoàng đế Đế quốc Đức năm 1519, đánh nhau trên ba mươi năm với vua nước Pháp là Francois.
[4] Tức việc Đức Chúa Jesus sinh ra trong máng cỏ một chuồng bò.
[5] Trong nguyên tác, toàn bộ cuộc đối thoại dưới đây được Victor Hugo viết bằng thứ ngôn ngữ của bọn buôn lậu trên biển Manche. Để bản dịch khỏi rườm rà, chúng tôi dịch thẳng.
[6] Lu-i (louis): loại tiền vàng của Pháp, đúc thời vua Louis XIII, giá trị bằng hai mươi frăng (francs).
[7] Taleyrand (1754- 1838): Nhà ngoại giao kỳ tài nhưng xảo quyệt của Pháp.
[8] Napoléons: Loại tiền vàng của Pháp, có chạm hình Napoléon đệ nhất, kém giá trị hơn đồng lu-i.
[9] Trong trò chơi bi-a.
[10] Rantaine đã tôn Clubin lên một bậc, từ Sieur lên Mess.
[11] Post office (tiếng Anh): bưu cục.