Kim

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Ta nay lại trở về chốn cũ,

Được nuôi dưỡng, tha thứ và nhận biết,

Lại được nhận bởi khúc xương của xương ta,

Và là anh em với thịt của thịt ta!

Con bê béo đã được dọn sẵn cho ta,

Nhưng những vỏ trấu lại hấp dẫn ta hơn...

Ta nghĩ những con lợn của ta sẽ là tuyệt nhất,

Nên ta lại quay về chuồng lợn đây.

Đứa con hoang đàng.

Một lần nữa, đoàn người lê bước chậm chạp, lếu thếch và buộc dây lỉnh kỉnh lại tiếp tục lên đường, còn cô liền ngủ thiếp đi cho đến khi họ tới điểm dừng chân tiếp theo. Chặng đường hôm ấy rất ngắn, và vẫn còn cách hoàng hôn một tiếng đồng hồ, thế là Kim bèn ngó nghiêng tìm kiếm trò giải trí.

– Nhưng sao không ngồi xuống mà nghỉ ngơi? – Một người trong tốp hộ vệ lên tiếng. – Chỉ có bọn quỷ sứ và người Anh mới đi lại lông nhông chẳng vì lý do gì.

– Đừng bao giờ kết bạn với Quỷ, Tôn Ngộ Không hay một Thằng bé. Chẳng ai biết chúng sẽ giở trò gì tiếp theo đâu – người đồng hành của hắn đáp.

Kim quay lưng lại với vẻ khinh khỉnh – hắn chẳng muốn nghe lại câu chuyện cũ rích về việc con Quỷ từng đùa giỡn với những đứa trẻ rồi hối hận ra sao, cứ thế thẫn thờ đi lang thang khắp xứ sở.

Lạt-ma rảo bước theo sau cậu. Suốt ngày hôm đó, hễ đi qua bất kỳ con suối nào, ông cũng rẽ sang để ngắm nhìn, nhưng chẳng có nơi nào đưa lại cho ông dấu hiệu nào cho thấy ông đã tìm ra Dòng sông của mình. Hơn nữa, một cách vô thức, niềm khuây khỏa khi được trò chuyện cùng ai đó bằng thứ ngôn ngữ hợp lý, và việc được một người phụ nữ cao quý đối xử trọng vọng, tôn kính như một bậc đạo sư tâm trí đã kéo suy nghĩ của ông rời xa Cuộc tìm kiếm một chút. Vả lại, ông cũng sẵn sàng dành ra những năm tháng thanh thản để thực hiện tâm nguyện; ông không có sự sốt ruột của người da trắng, mà có một niềm tin vô bờ bấy.

– Cậu đi đâu thế? – Ông gọi với theo Kim.

– Chẳng đi đâu cả – chặng đường ngắn ngủi thôi, và tất cả những thứ này – Kim vung tay rộng ra – đều mới mẻ đối với tôi.

– Người phụ nữ ấy không còn nghi ngờ gì nữa, là một người khôn ngoan và sáng suốt. Nhưng thật khó để tĩnh tâm khi mà...

– Đàn bà ai cũng thế cả. – Kim nói cứ như thể vua Solomon vậy.

– Trước tu viện có một khoảng sân rộng – vị lạt-ma lầm bầm, tay lần tràng hạt đã mòn – bằng đá. Trên đó ta đã để lại những dấu chân của mình – đi tới đi lui cùng những hạt này.

Ông lắt lách chuỗi hạt, bắt đầu câu chú «Om mane padme hum» để tụng niệm; lòng biết ơn sự mát mẻ, yên tĩnh và không có bụi bặm.

Hết điều này đến điều khác lôi cuốn ánh mắt tản mạn của Kim hướng ra đồng bằng. Chẳng có mục đích gì trong những bước chân lang thang của cậu, chỉ là kiến trúc của những căn lều gần đó trông có vẻ lạ mắt, và cậu muốn đến xem cho biết.

Họ tiến ra một khoảng đồng cỏ rộng lớn, mang sắc nâu và tía trong ánh nắng buổi chiều, giữa khoảng đất có một lùm xoài rậm rạp. Kim thấy lạ lùng khi một nơi đắc địa nhường ấy lại không có miếu thờ: cậu nhóc này vốn tinh ý chẳng kém gì một vị thầy tu trong những chuyện như thế. Tận đằng xa bên kia đồng bằng, bốn người đàn ông đang rảo bước song song, bị thu nhỏ lại bởi khoảng cách. Cậu nheo mắt nhìn chăm chú qua bàn khum khum và bắt gặp ánh chớp lấp lánh của đồ đồng.

– Lính. Lính da trắng! – Cậu nói. – Lại đây xem nào.

– Cứ hễ cậu với ta đi ra ngoài với nhau là lại gặp lính. Nhưng ta chưa từng thấy lính da trắng bao giờ.

– Họ chẳng làm hại ai trừ khi say rượu. Hãy nấp sau cái cây này.

Họ bước vào sau thân cây dày trong bóng râm mát rượi của lùm xoài. Hai bóng người nhỏ nhắn khựng lại; hai người còn lại ngập ngừng tiến lên. Đó là toán tiền tiêu của một trung đoàn đang hành quân, được phái đi cắm trại theo lệ thường. Họ mang theo những chiếc gậy dài năm thước với những lá cờ phấp phới, vừa đi vừa gọi nhau khi tản ra khắp bãi đất bằng.

Cuối cùng họ cũng bước vào lùm xoài, nặng nhọc lê bước.

– Ở đây hoặc quanh đây thôi – chắc là lều sĩ quan dưới mấy gốc cây, còn đám lính chúng ta thì ở bên ngoài. Họ đã đánh dấu chỗ cho mấy chiếc xe ngựa chở hành lý ở phía sau chưa nhỉ?

Họ lại gọi lớn cho những đồng đội ở đằng xa, và câu trả lời cục mịch vọng lại vừa mờ ảo vừa trầm ấm.

– Vậy thì cắm lá cờ xuống đây – một người nói.

– Họ đang chuẩn bị làm gì thế? – Vị lạt-ma kinh ngạc hỏi. – Đây quả là một thế giới lớn lao và đáng sợ. Ký hiệu trên lá cờ là gì vậy?

Một người lính cắm phập chiếc cọc xuống cách họ chỉ vài bước chân, hừ giọng bất mãn, rồi lại nhổ lên, bàn bạc với người đồng hành đang đảo mắt nhìn khắp không gian râm mát của vòm cây xanh lá, rồi hắn cắm lại xuống đất.

Kim trố mắt nhìn không chớp, hơi thở gấp gáp và ngắn hắt qua kẽ răng. Mấy người lính giậm chân bước đi dưới ánh nắng.

– Ôi Đấng Thiêng Liêng! – Cậu thở dốc. – Lá số tử vi của tôi! Hình vẽ trên nền đất bởi vị đạo sĩ ở Umballa! Hãy nhớ những gì ông ấy nói. Đầu tiên là hai người... pharash... đến để chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng... ở một chốn tối tăm, như vẫn thường thế vào lúc khởi đầu của một điềm chiêm bao.

– Nhưng đây không phải điềm chiêm bao – vị lạt-ma nói. – Đây chỉ là Ảo ảnh của trần gian mà thôi.

– Và sau họ chính là con Bò mộng – con Bò mộng Đỏ trên đồng cỏ xanh! Nhìn kìa! Chính là nó!

Cậu chỉ vào lá cờ đang giật phấp phới trong cơn gió chiều cách đó chưa đầy mười bước chân. Đó chẳng qua chỉ là một lá cờ đánh dấu trại bình thường; nhưng trung đoàn này, vốn luôn câu nệ tiểu tiết trong chuyện trang phục cờ quạt, đã thêu lên đó hiệu kỳ của trung đoàn: con Bò mộng Đỏ, cũng chính là huy hiệu của binh đoàn Mavericks—con Bò mộng Đỏ to lớn trên nền xanh lục Ireland.

– Ta thấy rồi, và giờ thì ta nhớ ra. – Vị lạt-ma nói. – Quả nhiên đó là con Bò mộng của cậu. Và chắc chắn rằng, hai người kia đã đến để dọn dẹp mọi thứ sẵn sàng.

– Họ là lính – lính da trắng. Vị đạo sĩ đã nói gì nào? «Dấu hiệu đối diện với con Bò mộng là dấu hiệu của Chiến tranh và những kẻ mang vũ khí». Hỡi Đấng Thiêng Liêng, chuyện này có liên quan đến Cuộc tìm kiếm của tôi.

– Đúng vậy. Quả thật là vậy. – Vị lạt-ma đăm đăm nhìn vào biểu tượng đang rực sáng như viên hồng ngọc trong chạng vạng. – Vị đạo sĩ ở Umballa đã nói rằng dấu hiệu của cậu là dấu hiệu của Chiến tranh.

– Bây giờ phải làm gì đây?

– Chờ đã. Chúng ta hãy chờ xem.

– Ngay lúc này đây bóng tối đang tan dần – Kim nói. Việc mặt trời lặn cuối cùng cũng chiếu xuyên qua những thân cây, rọi ngang lùm cây, lấp đầy nơi đó bằng thứ ánh sáng vàng nhạt tựa bột mì trong vài phút là điều hết sức tự nhiên; nhưng đối với Kim, đó chính là đỉnh cao của lời tiên tri từ vị Bà-la-môn ở Umballa.

– Lắng nghe kìa! – Vị lạt-ma nói. – Ai đó đang đánh trống — từ đằng xa!

Ban đầu, âm thanh truyền qua bầu không khí tĩnh lặng bị loãng đi, nghe tựa như tiếng đập của mạch máu trong đầu. Chẳng mấy chốc, nó trở nên rõ nét hơn.

– À! Tiếng âm nhạc – Kim giải thích. Cậu biết tiếng kèn trống của trung đoàn, nhưng điều đó khiến vị lạt-ma hết sức kinh ngạc.

Ở tận cùng phía bên kia đồng bằng, một cỗ xe ngựa đầy bụi bặm, nặng nề trườn vào tầm mắt. Rồi cơn gió mang theo làn điệu:

Chúng tôi khẩn cầu sự rủ lòng của quý vị

Để kể cho quý vị nghe những gì chúng tôi biết

Về cuộc hành quân trong đội quân Mulligan

Tiến xuống cảng Sligo!

Ngay lúc đó, tiếng sáo trúc đanh thép cất lên cắt ngang:

Chúng tôi vác súng lên vai,

Chúng tôi hành quân — hành quân đi.

Từ công viên Phœnix

Chúng tôi hành quân tới vịnh Dublin.

Tiếng trống và tiếng sáo,

Ôi, chúng tấu lên thật ngọt ngào,

Khi chúng tôi hành quân — hành quân — hành quân — cùng với

Đội quân Mulligan!

Đó là ban nhạc của trung đoàn Mavericks đang tấu nhạc dẫn đường cho toàn quân vào bãi cắm trại; bởi vì binh lính đang thực hiện cuộc hành quân đường trường mang theo hành lý. Đoàn người uốn lượn bước vào bãi bằng — những chiếc xe tải phía sau tách sang trái và phải, chạy lăng xăng như một ổ kiến, và...

– Nhưng đây là thuật phù thủy! – Vị lạt-ma thốt lên.

Bãi đất trống thưa thớt chấm phá những chiếc lều dường như mọc lên, tất cả đều đã được bung ra từ những chiếc xe chở hàng. Lại một đợt lính trót lọt tràn vào lùm cây, dựng lên một chiếc lều khổng lồ trong im lặng, rồi dựng tiếp tám hoặc chín chiếc nữa ngay bên cạnh, moi ra những cái nồi nấu ăn, chảo và những bọc đồ bị đám đầy tớ bản xứ chiếm lấy, và kìa, chỉ trong chớp mắt mà lùm xoài đã biến thành một thị trấn ngăn nắp trật tự!

– Chúng ta đi thôi – vị lạt-ma nói, e dè lùi lại khi những ngọn lửa bập bùng châm lên và các sĩ quan da trắng với thanh kiếm leng keng bước vào lều Chỉ huy.

– Lùi lại vào trong bóng râm đi. Chẳng ai nhìn thấy gì ngoài tầm ánh sáng của ngọn lửa đâu – Kim nói, mắt vẫn dán chặt vào lá cờ. Cậu chưa bao giờ được chứng kiến quy trình dựng trại trong vòng ba mươi phút của một trung đoàn kỳ cựu.

– Nhìn kìa! Nhìn kìa! Nhìn kìa! – Vị lạt-ma chép miệng. – Đằng kia có một vị thầy tu kìa.

Đó là Bennett, Tuyên úy Giáo hội Anh của trung đoàn, đang đi khập khiễng trong bộ đồ đen phủ đầy bụi đường. Một tên trong số đàn chiên của ông đã thốt ra vài lời thô lỗ về lòng dũng cảm của vị Tuyên úy; và để làm cho kẻ đó phải xấu hổ, ngày hôm đó Bennett đã sánh bước sát cánh cùng binh lính. Bộ y phục màu đen, cây thánh giá bằng vàng trên chiếc dây xích đồng hồ, khuôn mặt nhẵn thín không râu và chiếc mũ rộng Vành mềm mại màu đen đã khiến ông trông hệt như một người thánh thiện ở bất cứ nơi đâu trên đất Ấn Độ. Ông ngã người xuống chiếc ghế gấp dựng gần cửa lều Chỉ huy và tụt đôi ủng ra. Ba bốn sĩ quan xúm lại quanh ông, vừa cười vừa đùa cợt về chiến tích của ông.

– Lời ăn tiếng nói của người da trắng hoàn toàn thiếu đi vẻ trang nghiêm – vị lạt-ma nói, người chỉ đánh giá qua giọng điệu. – Nhưng ta quan sát nét mặt của vị tu sĩ kia và nghĩ rằng ông ấy là một người uyên bác. Liệu có khả năng ông ấy sẽ hiểu lời chúng ta không nhỉ? Ta muốn nói chuyện với ông ấy về Cuộc tìm kiếm của mình.

– Đừng bao giờ nói chuyện với người da trắng cho đến khi họ được ăn no – Kim trích dẫn một câu tục ngữ quen thuộc. – Bây giờ họ sẽ ăn, và — và tôi không nghĩ họ là người dễ để xin xỏ đâu. Chúng ta hãy quay lại chỗ nghỉ ngơi đi. Sau khi ăn xong chúng ta sẽ quay lại. Đó đích thị là con Bò mộng Đỏ — con Bò mộng Đỏ của tôi.

Cả hai đều lơ đễnh thấy rõ khi đoàn tùy tùng của bà cụ dọn bữa ăn ra trước mặt họ; thế nên chẳng ai phá vỡ sự im lặng, bởi vì làm phiền khách khứa là điều không may mắn.

– Giờ thì – Kim vừa nói vừaỉa xỉa răng – chúng ta sẽ quay lại nơi đó; nhưng ngài, hỡi Đấng Thiêng Liêng, phải đợi ở một khoảng xa xa một chút, bởi vì chân ngài nặng hơn chân tôi và tôi rất nóng lòng muốn ngắm kỹ hơn con Bò mộng Đỏ ấy.

– Nhưng làm sao con có thể hiểu được câu chuyện của họ? Hãy đi chậm thôi. Đường trời tối rồi – vị lạt-ma lo lắng đáp.

Kim gạt phăng câu hỏi đi. – Con đã đánh dấu một chỗ gần mấy gốc cây – cậu nói – nơi ngài có thể ngồi cho đến khi con gọi. Không – khi vị lạt-ma có ý phản đối – xin hãy nhớ rằng đây là Cuộc tìm kiếm của con — Cuộc tìm kiếm con Bò mộng Đỏ của con. Điềm báo trên các vì sao không dành cho ngài. Con biết chút ít về phong tục của lính da trắng, và con luôn muốn nhìn ngắm những thứ mới lạ.

– Có cái gì trên thế giới này mà con không biết cơ chứ? – Vị lạt-ma ngoan ngoãn ngồi thụp xuống một trũng đất nhỏ cách gò xoài tối thẫm dưới bầu trời lấm tấm sao chưa đầy một trăm thước.

– Hãy ở đây cho đến khi con gọi. – Kim biến mất vào chập tối. Cậu biết rằng rất có thể sẽ có lính canh quanh khu trại, và cậu mỉm cười một mình khi nghe tiếng bước chân nặng nề của một tên gác. Một đứa nhóc có thể luồn lách qua những mái nhà của thành phố Lahore trong đêm trăng sáng, tận dụng từng mảnh tối và góc khuất để đánh lừa kẻ truy đuổi, thì chắc chắn sẽ không bị chặn lại bởi một hàng lính được huấn luyện bài bản. Cậu dùng cách khôn ngoan là bò luồn giữa hai tên lính, lúc chạy lúc dừng, khi thì khom lưng lúc lại sát đất, vất vả mở đường tiến về phía túp lều Chỉ huy đang sáng đèn, nơi mà ngay sát sau thân cây xoài, cậu chờ đợi cho đến khi một lời nói tình cờ nào đó mang lại cho cậu một hướng đi có thể tận dụng.

Điều duy nhất trong đầu cậu lúc bấy giờ là tìm thêm thông tin về con Bò mộng Đỏ. Biết đâu đấy, và những giới hạn của Kim cũng kỳ cục và bất chợt hệt như sự hiểu biết rộng mở của cậu, những gã lính, chín trăm tên quỷ sứ chính hiệu trong lời tiên tri của cha cậu, có thể sẽ tôn thờ con vật đó sau khi trời tối, giống như người theo đạo Hindu tôn thờ con Bò thần. Ít nhất thì điều đó cũng hoàn toàn đúng đắn và hợp lý, và vị linh mục đeo thánh giá vàng do đó sẽ là người thích hợp để thỉnh giáo về vấn đề này. Mặt khác, nhớ lại những vị linh mục có khuôn mặt nghiêm nghị mà cậu từng tránh mặt ở thành phố Lahore, vị tu sĩ này có thể là một kẻ phiền phức hay tò mò, kẻ sẽ bắt cậu phải học hành. Nhưng chẳng phải đã được chứng minh ở Umballa rằng điềm báo trên bầu trời cao của cậu báo hiệu Chiến tranh và những kẻ mang vũ khí đó sao? Chẳng phải cậu là Bằng hữu của các Vì sao cũng như của cả Thế giới, đầu óc nhồi nhét đầy ắp những bí mật kinh hoàng hay sao? Cuối cùng — và cũng là điều đầu tiên ẩn chứa trong dòng suy nghĩ chớp nhoáng của cậu — cuộc phiêu lưu này, dẫu cậu không biết từ tiếng Anh của nó, là một trò nghịch ngợm vô cùng hoành tráng — một sự tiếp nối thú vị cho những chuyến bay nhảy qua mái nhà ngày trước của cậu, đồng thời là sự ứng nghiệm của lời tiên tri cao cả. Cậu nằm bò sát đất và trườn về phía cửa lều Chỉ huy, một tay đặt lên chiếc bùa hộ mệnh đeo quanh cổ.

Đúng như những gì cậu nghi ngờ. Các Sahib cầu nguyện vị Chúa của họ; bởi vì ở giữa bàn ăn trong lều — món đồ trang trí duy nhất của họ khi đang trên đường hành quân — là một con bò mộng bằng vàng được chế tác từ chiến lợi phẩm thời xưa ở Cung điện Mùa hè tại Bắc Kinh — một con bò mộng bằng vàng rỏ với cái đầu cúi thấp, đang chồm lên trên nền cỏ xanh lục Ireland. Các Sahib giơ cao ly rượu về phía nó và lớn tiếng hô vang đầy hỗn loạn.

Bấy giờ, Mục sư Arthur Bennett luôn rời lều Chỉ huy sau lời chúc rượu đó, và vì khá mệt mỏi sau chặng hành quân nên cử động của ông đột ngột hơn thường lệ. Kim, với cái đầu ngẩng lên một chút, vẫn đang đăm đăm nhìn vào vật tổ của mình trên bàn, thì vị Tuyên úy bước đạp lên xương bả vai phải của cậu. Kim co rúm lại dưới lớp da thuộc, và lật người sang một bên, kéo ngã vị Tuyên úy xuống, người vốn dĩ luôn nhanh nhẹn bèn chộp lấy cổ Kim và bóp nghẹt thở cậu. Kim liền tung một cú đá trời giáng vào bụng ông. Ngài Bennett thở hắt ra và gập người lại, nhưng không hề buông lỏng tay, ông lăn người lại và âm thầm lôi xềnh xệch Kim vào trong lều của chính mình. Bọn lính Mavericks vốn là những kẻ thích chơi trò khăm không thể sửa chữa; và người Anh này chợt nghĩ rằng im lặng là thượng sách cho đến khi ông điều tra cho ra ngô ra khoai.

– Ồ, hóa ra là một đứa nhóc! – Ông nói khi kéo được chiến lợi phẩm của mình vào dưới ánh đèn lều, rồi lắc mạnh cậu và hét lên: – Mày đang làm gì thế? Mày là kẻ trộm à? Choor? Mallum? (Biết không?)

Tiếng Ấn Độ của ông rất hạn chế, và Kim, kẻ đang bù xù bực bội, quyết tâm giữ vững vỏ bọc đã được định sẵn cho mình. Khi lấy lại được hơi thở, cậu liền bịa ra một câu chuyện vô cùng xuôi tai và hợp lý về mối quan hệ của cậu với một tên đầy tớ nào đó, đồng thời liếc mắt thật nhanh sang nách trái của vị Tuyên úy. Cơ hội đã đến; cậu cúi đầu chui ra cửa, nhưng một cánh tay dài phóng ra tóm lấy cổ cậu, làm đứt dây bùa hộ mệnh và túm lấy chiếc bùa.

– Đưa nó cho tôi. Ồ, đưa nó cho tôi đi. Nó bị mất rồi à? Đưa cho tôi mấy tờ giấy đi.

Những từ đó được thốt ra bằng tiếng Anh — thứ tiếng Anh lanh lảnh, cắt gọn như tiếng cưa của những kẻ sinh ra ở bản địa, và vị Tuyên úy giật mình.

– Một chiếc khăn tràng – ông vừa nói vừa mở bàn tay ra. – Không, một thứ bùa chú ngoại đạo nào đó. Sao... sao cơ, mày biết nói tiếng Anh à? Trẻ con đi ăn trộm thì phải bị đòn. Mày biết điều đó chứ?

– Tôi không biết... tôi không có ăn trộm. – Kim nhảy cẫng lên vì đau đớn hệt như một con chó sục trước một cây gậy đang giơ lên. – Ồ, đưa nó cho tôi đi. Đó là bùa của tôi mà. Đừng có cướp nó đi chứ.

Vị Tuyên úy phớt lờ, bước ra cửa lều và gọi lớn. Một người đàn ông mập mạp, cạo râu nhẵn nhụi xuất hiện.

– Tôi muốn xin ý kiến của anh, Cha Victor – Bennett nói. – Tôi bắt gặp đứa nhóc này trong bóng tối bên ngoài lều Chỉ huy. Lẽ ra tôi nên trừng phạt nó rồi thả đi, bởi vì tôi tin nó là một tên trộm. Nhưng có vẻ như nó nói được tiếng Anh, và nó lại coi trọng một thứ bùa chú đeo quanh cổ. Tôi nghĩ có lẽ anh có thể giúp tôi.

Giữa ông và vị Tuyên úy Công giáo La Mã của binh đoàn người Ireland tồn tại một khoảng cách mà Bennett tin là không thể vượt qua, nhưng người ta nhận thấy rằng bất cứ khi nào Giáo hội Anh đối mặt với một vấn đề nhân sinh thì họ rất hay cầu cứu Giáo hội ROME. Sự ghét bỏ mang tính chính thức của Bennett đối với Người đàn bà Đám đỏ và mọi đường lối của mụ chỉ tương đương với sự tôn trọng ngầm của ông dành cho Cha Victor.

– Một tên trộm biết nói tiếng Anh sao? Hãy để ta xem bùa của nó nào. Không, đó không phải là chiếc khăn tràng, Bennett. – Ông chìa tay ra.

– Nhưng chúng ta có quyền mở nó ra không nhỉ? Một trận roi cho nên người...

– Tôi không có ăn trộm – Kim phản đối. – Các ông đã đá vào người tôi khắp nơi rồi. Giờ thì trả bùa cho tôi để tôi đi.

– Không nhanh thế đâu. Chúng ta phải xem trước đã – Cha Victor nói, thong thả mở tấm da cừu ghi chứng nhận «ne varietur» của tội nghiệp Kimball O’Hara, giấy chứng nhận xuất ngũ và giấy rửa tội của Kim. Trên tấm giấy cuối cùng này, O’Hara — với một ý nghĩ mơ hồ rằng anh ta đang làm những điều kỳ diệu cho con trai mình — đã nghuệch ngoạc viết tới hàng chục lần: «Hãy chăm sóc đứa trẻ. Xin hãy chăm sóc đứa trẻ» — ký đầy đủ tên và số hiệu trung đoàn của mình.

– Hỡi các Thế lực Bóng tối dưới kia! – Cha Victor thốt lên, chuyển tất cả cho ông Bennett. – Anh có biết mấy thứ này là gì không?

– Vâng – Kim nói. – Chúng là của tôi, và tôi muốn đi đây.

– Tôi không hiểu lắm – ông Bennett nói. – Có lẽ nó đã mang theo chúng một cách có chủ ý. Đó có thể là một mánh khóe ăn mày nào đó.

– Thế thì ta chưa từng thấy kẻ ăn mày nào lại ít tha thiết muốn ở lại với đoàn của mình đến thế. Ở đây có mầm mống của một bí ẩn ly kỳ đấy chứ. Anh có tin vào Sự quan phòng không, Bennett?

– Tôi hy vọng là thế.

– Vâng, còn tôi thì tin vào phép màu, thế nên cũng rứa cả thôi. Các Thế lực Bóng tối! Kimball O’Hara! Và con trai hắn! Nhưng thế thì nó là người bản xứ, mà chính mắt tôi đã thấy Kimball làm lễ cưới với Annie Shott cơ mà. Mày có những thứ này bao lâu rồi, hả nhóc?

– Từ khi tôi còn là một đứa bé xíu.

Cha Victor bước nhanh tới và vạch phần cổ áo trên của Kim ra. – Anh thấy đấy, Bennett, nó không đen lắm đâu. Tên mày là gì?

– Kim.

– Hay Kimball?

– Có lẽ vậy. Các người có để tôi đi không?

– Gì nữa nào?

– Người ta gọi tôi là Kim Rishti ke. Nghĩa là Kim thuộc trung đoàn Rishti.

– Đó là cái gì — «Rishti»?

– Ai-rishti — đó là Trung đoàn — của cha tôi.

– Người Ireland — ồ, ra thế.

– Vâng. Cha tôi đã kể cho tôi thế. Cha tôi, ông ấy đã sống.

– Sống ở đâu?

– Đã sống. Tất nhiên là ông ấy chết rồi — đi mất rồi.

– Ồ! Cách nói cộc lốc của mày là thế đấy phỏng?

Bennett cắt lời. – Có khả năng tôi đã đối xử bất công với đứa trẻ. Nó quả thực là người da trắng, dẫu rõ ràng là bị bỏ bê. Tôi chắc chắn mình đã làm nó bầm dập. Tôi không nghĩ là tinh thần...

– Vậy thì hãy lấy cho nó một ly sherry, rồi bảo nó ngồi xổm lên chiếc giường gấp đi. Nào, Kim – Cha Victor nói tiếp – chẳng ai hại cháu đâu. Uống cạn đi rồi kể cho chúng tôi nghe về cháu đi. Sự thật nhé, nếu cháu không phiền.

Kim ho khục khặc khi đặt chiếc ly không xuống và trầm ngâm suy nghĩ. Đây có vẻ là lúc cần sự thận trọng và trí tưởng tượng. Lũ trẻ con lang thang quanh trại thường bị tống cổ ra ngoài sau một trận roi đòn. Nhưng cậu chẳng hề bị ăn đòn roi nào; chiếc bùa hộ mệnh rõ ràng đang phát huy tác dụng có lợi cho cậu, và có vẻ như lá số tử vi ở Umballa cùng vài từ ít ỏi mà cậu còn nhớ được trong những lời lảm nhảm của cha cậu đã khớp với nhau một cách kỳ diệu. Bằng không thì tại sao vị cha xứ mập mạp lại tỏ ra có vẻ ấn tượng đến thế, và tại sao lại có ly đồ uống màu vàng ấm nóng từ vị gầy kia?

– Cha tôi, ông ấy đã chết ở thành phố Lahore từ khi tôi còn rất nhỏ. Người đàn bà đó, mụ giữ cửa hàng kabarri gần chỗ có những chiếc xe hơi thuê. – Kim bắt đầu tuôn một lèo, không chắc chắn lắm liệu sự thật có giúp ích được gì cho mình không.

– Mẹ mày à?

– Không! – kèm theo một cử chỉ ghê tởm. – Mụ ta chuồn thẳng lúc tôi vừa sinh ra. Cha tôi, ông ấy lấy được những giấy tờ này từ cái Jadoo-Gher — các ông gọi đó là gì nhỉ? (Bennett gật đầu) — bởi vì ông ấy có tư cách tốt. Các ông gọi cái đó là gì? (Bennett lại gật đầu). Cha tôi đã kể với tôi điều đó. Ông ấy cũng nói, và cả vị Bà-la-môn đã vẽ hình trên bụi đất ở Umballa hai ngày trước, ông ấy cũng nói rằng tôi sẽ tìm thấy một con Bò mộng Đỏ trên đồng cỏ xanh và con Bò mộng đó sẽ giúp tôi.

– Một kẻ nói dối tiểu yêu phi thường – Bennett lầm bầm.

– Hỡi các Thế lực Bóng tối dưới kia, đúng là một đất nước kỳ quái! – Cha Victor lẩm bẩm. – Nói tiếp đi, Kim.

– Tôi không có ăn trộm. Hơn nữa, lúc này tôi là đệ tử của một vị tu sĩ rất thánh thiện. Ngài đang ngồi ở bên ngoài kìa. Chúng tôi thấy hai người mang cờ đến, chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Điều đó luôn xảy ra trong một giấc mơ, hoặc là do một... một... lời tiên tri. Thế nên tôi biết nó đã trở thành sự thật. Tôi đã nhìn thấy con Bò mộng Đỏ trên đồng cỏ xanh, và cha tôi đã nói rằng: «Chín trăm tên quỷ sứ chính hiệu và vị Đại tá cưỡi ngựa sẽ chăm sóc con khi con tìm thấy con Bò mộng Đỏ!». Tôi không biết phải làm gì khi nhìn thấy con Bò mộng, nhưng tôi đã bỏ đi rồi quay lại khi trời tối. Tôi muốn gặp lại con Bò mộng một lần nữa, và tôi đã thấy con Bò mộng cùng với mấy ông... Sahib đang cầu nguyện với nó. Tôi nghĩ con Bò mộng sẽ giúp tôi. Vị tu sĩ thánh thiện cũng nói thế. Ngài đang ngồi ở ngoài kìa. Các ông có làm tổn thương ngài không, nếu tôi gọi lớn một tiếng bây giờ? Ngài rất thánh thiện. Ngài có thể làm chứng cho mọi điều tôi nói, và ngài biết tôi không phải là kẻ trộm.

– «Các Sahib cầu nguyện với một con bò mộng!» Mấy cậu hiểu chuyện này thế nào đây? – Bennett nói. – «Đệ tử của một vị tu sĩ thánh thiện!» Đứa bé này điên rồi à?

– Chắc chắn là con trai của O’Hara rồi. Con trai của O’Hara cấu kết với mọi Thế lực Bóng tối. Đúng là phong cách của cha nó nếu ông ta say rượu. Tốt hơn là chúng ta nên mời vị tu sĩ thánh thiện vào. Biết đâu ông ta lại biết gì đó.

– Ông ấy chẳng biết gì sất – Kim nói. – Tôi sẽ dẫn các ông ra gặp ông ấy nếu các ông đi cùng. Ngài là sư phụ của tôi. Rồi sau đó chúng ta có thể đi.

– Các Thế lực Bóng tối! – Đó là tất cả những gì Cha Victor có thể thốt lên khi Bennett bước đi với một bàn tay siết chặt trên vai Kim.

Họ tìm thấy vị lạt-ma ở chỗ ông đã ngồi thụp xuống.

– Cuộc tìm kiếm đã kết thúc đối với tôi rồi – Kim lớn tiếng gọi bằng thổ ngữ. – Con đã tìm thấy con Bò mộng, nhưng Chúa mới biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Họ sẽ không làm hại ngài đâu. Hãy đến lều của vị linh mục mập cùng với người đàn ông gầy này và xem kết cục thế nào đi. Mọi thứ đều mới mẻ cả, và họ không biết nói tiếng Hindi. Họ chỉ là những con lừa chưa cạo lông thôi.

– Thế thì không nên chế giễu sự vô của họ – vị lạt-ma đáp. – Ta rất mừng nếu con cảm thấy vui, chela (đệ tử) ạ.

Trang nghiêm và không chút hoài nghi, ông sải bước vào túp lều nhỏ, chào các Giáo hội theo phép tắc của một tu sĩ, rồi ngồi xuống bên cạnh lò than đang mở. Lớp lót màu vàng của túp lều hắt ánh đèn làm gương mặt ông ánh lên sắc đỏ hồng.

Bennett nhìn ông với vẻ thờ ơ ba lớp của thứ tín ngưỡng gom chín phần mười thế giới vào danh xưng «ngoại đạo».

– Và kết cục của Cuộc tìm kiếm là gì? Con Bò mộng Đỏ đã mang lại món quà gì? – Vị lạt-ma hướng lời về phía Kim.

– Ông ấy hỏi rằng: «Ngài định làm gì thế?» – Bennett đang lo lắng nhìn chằm chằm vào Cha Victor, và Kim, vì mục đích riêng của mình, đã tự nhận lấy vai trò phiên dịch.

– Tôi không hiểu gã đạo sĩ này có dính líu gì đến đứa nhóc, kẻ có lẽ là kẻ lừa đảo hoặc đồng lõa của lão – Bennett bắt đầu. – Chúng ta không thể dung thứ cho một đứa trẻ người Anh — Giả sử nó là con của một thành viên Hội Tam Điểm, thì việc nó vào Trại mồ côi Tam Điểm càng sớm càng tốt.

– À! Đó là ý kiến của anh với tư cách là Thư ký của Lô-gi Trung đoàn – Cha Victor nói; – nhưng chúng ta cũng nên nói cho ông lão biết chúng ta định làm gì. Trông ông ấy không giống kẻ ác.

– Kinh nghiệm của tôi cho thấy người ta không bao giờ dò thấu được tâm can người phương Đông. Nào, Kimball, tôi muốn cậu dịch lại những gì tôi nói cho người này nghe từng câu từng chữ.

Kim nắm bắt ý nghĩa của vài câu tiếp theo và bắt đầu nói:

– Hỡi Đấng Thiêng Liêng, tên ngốc gầy gò trông giống con lạc đà kia nói rằng con là con trai của một Sahib.

– Nhưng sao lại thế?

– Ồ, điều đó là sự thật. Con đã biết từ khi sinh ra rồi, nhưng hắn chỉ có thể tìm ra bằng cách giật phăng chiếc bùa trên cổ con và đọc hết mấy tờ giấy. Hắn nghĩ rằng một khi đã là Sahib thì mãi mãi là Sahib, và hai gã bọn chúng định giữ con lại trong Trung đoàn này hoặc tống con vào một madrissah (trường học). Chuyện này từng xảy ra trước đây rồi. Con luôn tránh né nó. Tên mốc mập thì nghĩ một đằng còn tên giống lạc đà thì nghĩ một nẻo. Nhưng chẳng sao cả. Con có thể ở lại đây một đêm và có lẽ là đêm hôm sau nữa. Chuyện đó từng xảy ra rồi. Sau đó con sẽ trốn chạy và quay về với ngài.

– Nhưng hãy nói với họ rằng con là chela của ta. Hãy kể cho họ nghe về việc con đã đến với ta khi ta mệt mỏi và bối rối thế nào. Hãy kể cho họ nghe về Cuộc tìm kiếm của chúng ta, và chắc chắn họ sẽ để con đi ngay bây giờ.

– Con đã kể cho họ rồi. Họ cười, và họ nói về cảnh sát.

– Mày đang nói gì thế? – Ông Bennett hỏi.

– Dạ. Cậu ta chỉ nói rằng nếu các ông không để con đi thì nó sẽ cản trở công việc của cậu ta — việc riêng bận rộn khẩn cấp của cậu ta. – Câu cuối này là một ký ức từ cuộc trò chuyện với một viên thư ký gốc Á-Âu ở Cục Kênh đào, nhưng nó chỉ chuốc lấy một nụ cười khiến cậu bực bội. – Và nếu các ông biết công việc đó là gì thì các ông đã chẳng bầy hầy cuống cuồng lên để can thiệp như thế.

– Thế nó là cái gì? – Cha Victor hỏi, không phải không có cảm xúc khi quan sát khuôn mặt vị lạt-ma.

– Có một Dòng sông ở đất nước này mà ngài ấy rất... rất muốn tìm kiếm. Nó được tạo ra bởi một Mũi tên mà... – Kim gõ chân thiếu kiên nhẫn khi dịch trong đầu từ thổ ngữ sang thứ tiếng Anh vụng về của mình. – Dạ, nó được tạo ra bởi Chúa Tể Phật Tổ của chúng ta, các ông biết đấy, và nếu các ông tắm ở đó, các ông sẽ được gột rửa khỏi mọi tội lỗi và trở nên trắng tinh như bông gòn. – (Kim từng nghe chuyện truyền giáo rồi.) – Con là đệ tử của ngài, và chúng ta phải tìm cho ra Dòng sông đó. Nó vô cùng... vô cùng quý giá đối với chúng tôi.

– Nói lại lần nữa xem nào! – Bennett bảo.

Kim làm theo, có thêm thắt đôi chút.

– Nhưng đây là tội báng bổ thô thiển! – Vị mục sư Giáo hội Anh thốt lên.

– Tck! Tck! – Cha Victor thông cảm chép miệng. – Tôi sẵn sàng đổi rất nhiều thứ để có thể nói được thổ ngữ đấy. Một dòng sông gột rửa tội lỗi! Và hai người đã đi tìm nó bao lâu rồi?

– Ồ, nhiều ngày lắm rồi. Giờ chúng tôi muốn đi đi và tìm kiếm nó lần nữa. Nó không ở đây, các ông thấy đấy.

– Tôi thấy rồi – Cha Victor nghiêm nghị nói. – Nhưng nó không thể đi tiếp cùng công ty của ông lão đó được. Sẽ khác đấy, Kim, nếu cháu không phải là con của một người lính. Hãy bảo ông ta rằng Trung đoàn sẽ chăm sóc cháu và biến cháu thành một người đàn ông tốt như... tốt hết mức có thể. Hãy bảo ông ta rằng nếu ông ta tin vào phép điều kỳ diệu thì ông ta phải tin rằng...

– Chẳng cần phải lợi dụng lòng tin ngây thơ của ông ta làm gì – Bennett cắt lời.

– Tôi có làm thế đâu nào. Ông ta phải tin rằng việc đứa trẻ đến đây — đúng Trung đoàn của nó — để tìm kiếm con Bò mộng Đỏ mang bản chất của một phép màu. Hãy nghĩ đến những xác suất nghịch lại điều đó đi, Bennett. Chỉ một đứa trẻ này trong cả nước Ấn Độ, và lại trúng ngay Trung đoàn của chúng ta đang trên đường hành quân để nó gặp mặt! Nhìn bề ngoài thì đây là sự sắp đặt của định mệnh. Đúng vậy, hãy nói với ông ta đó là Kismet. Kismet, mallum? (Hiểu chứ?)

Ông quay sang vị lạt-ma, người mà có nói chuyện với ông ta về vùng Lưỡng Hà cũng rứa.

– Họ nói rằng – ánh mắt ông lão sáng lên trước lời Kim – họ nói rằng ý nghĩa lá số tử vi của ta nay đã được ứng nghiệm, và vì được dẫn dắt quay lại — dẫu như ngài biết đấy ta ra đi vì sự tò mò — với những con người này và con Bò mộng Đỏ của họ, ta buộc phải đến một trường madrissah và được biến thành một Sahib. Giờ thì ta giả vờ đồng ý, bởi vì tệ nhất thì cũng chỉ là vài bữa ăn ở xa ngài mà thôi. Sau đó ta sẽ lẻn đi và đi dọc con đường đến Saharunpore. Thế nên, hỡi Đấng Thiêng Liêng, hãy ở lại với người phụ nữ Kulu ấy — tuyệt đối không rời xa chiếc xe chở hàng của bà ấy cho đến khi con quay lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, điềm báo của con là về Chiến tranh và những kẻ mang vũ khí. Hãy nhìn cách họ cho con uống rượu và đặt con lên chiếc giường vinh dự kìa! Cha con hẳn phải là một nhân vật lớn nào đó. Thế nên nếu họ tôn vinh con giữa họ, tốt quá. Bằng không, cũng tốt nốt. Dù thế nào đi nữa, con sẽ chạy về với ngài khi con thấy chán. Nhưng hãy ở lại với người phụ nữ Rajputni đó, bằng không con sẽ lỡ mất dấu chân ngài... Ồ vâng – đứa nhóc nói – con đã kể mọi điều các ông bảo con nói rồi.

– Và tôi chẳng thấy có lý do gì để nó phải đợi cả – Bennett nói, tay thọc vào túi quần. – Chúng ta có thể điều tra chi tiết sau — và tôi sẽ cho nó một ru--

– Cho nó chút thời gian đi. Biết đâu nó quyến luyến đứa nhỏ thì sao – Cha Victor vừa nói vừa nửa ngăn cản cử chỉ của vị mục sư.

Vị lạt-ma lôi xềnh xệch chuỗi tràng hạt ra và kéo vành chiếc mũ rộng vành che khuất đôi mắt.

– Bây giờ lão ta muốn cái gì nữa đây?

– Ông ấy nói – Kim giơ một tay lên. – Ông ấy nói: «Im lặng đi». Ông ấy muốn nói chuyện riêng với con một mình. Các ông thấy đấy, các ông chẳng hiểu nổi một từ nào trong những gì ông ấy nói, và con nghĩ nếu các ông cứ nói nhảm thì có lẽ ông ấy sẽ giáng cho các ông những lời nguyền rủa cực kỳ tồi tệ đấy. Khi ông ấy cầm mấy hạt chuỗi kiểu đó, các ông thấy đấy, ông ấy luôn muốn được yên tĩnh.

Hai người Anh ngồi chết trân, nhưng trong ánh mắt của Bennett ẩn chứa một vẻ mặt chẳng lành chút nào dành cho Kim khi cậu rơi vào tay lực lượng tôn giáo.

– Một Sahib và là con của một Sahib... – Giọng vị lạt-ma khàn đặc vì đau đớn. – Nhưng chẳng có người đàn ông da trắng nào hiểu rõ vùng đất này và phong tục của vùng đất này như con hiểu. Sao chuyện này lại là sự thật cơ chứ?

– Có hề gì đâu, hỡi Đấng Thiêng Liêng? — nhưng hãy nhớ rằng chuyện này chỉ diễn ra trong một hoặc hai đêm thôi. Hãy nhớ rằng, con có thể thay đổi rất nhanh. Mọi thứ sẽ lại y như cũ lúc con lần đầu tiên nói chuyện với ngài dưới khẩu đại bác lớn Zam-Zammah...

– Như một đứa bé trong trang phục của người da trắng — khi lần đầu tiên ta đến Viện Kỳ Quan. Và lần thứ hai con là một tín đồ Hindu. Lần đầu thai thứ ba sẽ là gì đây? – Ông cười khẩy một cách ảm đạm. – À, chela, con đã làm điều sai trái với một ông già bởi vì trái tim ta đã hướng về con.

– Và trái tim con cũng hướng về ngài. Nhưng làm sao con biết được rằng con Bò mộng Đỏ sẽ đưa con đến nông nỗi này chứ?

Vị lạt-ma lại che khuất khuôn mặt, bồn chồn lắt lách chuỗi tràng hạt. Kim ngồi xổm xuống bên cạnh ông và túm lấy một nếp áo của ông.

– Giờ thì người ta đã hiểu rằng đứa trẻ là một Sahib rồi phải không? – Ông tiếp tục với giọng nghèn nghẹn. – Một Sahib giống như kẻ từng trông nom các bức tượng trong Viện Kỳ Quan ấy. – Kinh nghiệm của vị lạt-ma về người da trắng còn hạn chế. Ông có vẻ đang lặp lại một bài học. – Thế thì thật không phải phép nếu nó làm khác đi những gì các Sahib làm. Nó phải quay về với người dân của mình.

– Chỉ trong một ngày một đêm và một ngày thôi mà – Kim nài nỉ.

– Không, nhóc đừng có mơ! – Cha Victor thấy Kim đang lùi dần về phía cửa bèn chen một chân cứng ngắc ra chặn lại.

– Ta không hiểu phong tục của người da trắng. Vị Tu sĩ trông coi các bức tượng trong Viện Kỳ Quan ở Lahore còn lịch sự hơn vị tu sĩ gầy gò ở đây. Đứa trẻ này sẽ bị cướp mất khỏi tay ta. Họ sẽ biến đệ tử của ta thành một Sahib ư? Khổ thân ta! Làm thế nào ta có thể tìm thấy Dòng sông của mình đây? Họ không có đệ tử nào sao? Hãy hỏi nó đi.

– Ông ấy nói ông ấy rất... rất buồn vì không thể tìm thấy Dòng sông lúc này được nữa. Ông ấy nói, sao các ông không có đệ tử nào mà cứ quấy rầy cậu ta làm gì? Cậu ta muốn được gột rửa tội lỗi cơ mà.

Cả Bennett lẫn Cha Victor đều chẳng tìm được câu trả lời nào sẵn sàng.

Kim nói bằng tiếng Anh, tỏ vẻ đau xót trước nỗi thống khổ của vị lạt-ma: – Tôi nghĩ nếu các ông để tôi đi bây giờ, chúng tôi sẽ lững thững đi khỏi đây một cách yên lặng và không ăn trộm đâu. Chúng tôi sẽ đi tìm Dòng sông đó giống như trước khi tôi bị bắt. Ước gì tôi đã không đến đây để tìm con Bò mộng Đỏ và mấy thứ tẻ nhạt kiểu đó. Tôi chẳng thèm muốn nó nữa đâu.

– Đó là công việc làm ăn tuyệt vời nhất mà cậu từng làm cho bản thân đấy, chàng trai trẻ – Bennett nói.

– Chúa tôi, tôi chẳng biết phải an ủi ông ấy thế nào nữa – Cha Victor nói, chăm chú quan sát vị lạt-ma. – Lão không thể mang đứa nhóc đi cùng được, và dù sao lão cũng là một người tốt — tôi chắc chắn lão là người tốt. Bennett, nếu anh đưa cho lão đồng rupee đó, lão sẽ nguyền rủa anh đến tận gốc rễ đấy!

Họ lắng nghe tiếng thở của nhau — ba... năm phút tròn. Rồi vị lạt-ma ngẩng đầu lên, nhìn đăm đăm qua mặt họ vào khoảng không vô tận và trống rỗng.

– Và ta là một Kẻ tuân theo Đạo lộ – ông cay đắng nói. – Tội lỗi là của ta và sự trừng phạt là của ta. Ta đã tự huyễn hoặc bản thân — vì giờ đây ta thấy đó chỉ là sự huyễn hoặc — rằng con được phái đến để giúp ta trong Cuộc tìm kiếm. Thế nên trái tim ta đã hướng về con vì lòng từ, sự lịch thiệp và sự khôn ngoan ở tuổi nhỏ của con. Nhưng những kẻ tuân theo Đạo lộ không được phép để cho ngọn lửa của bất kỳ ham muốn hay sự vướng bận nào nhen nhóm, bởi vì đó tất cả chỉ là Ảo ảnh. Như đã nói... – Ông trích dẫn một đoạn văn cổ xưa của Trung Quốc, tiếp viện bằng một đoạn khác, rồi củng cố chúng bằng đoạn thứ ba. – Ta đã bước chệch khỏi Đạo lộ, hỡi chela của ta. Đó không phải lỗi của con. Ta đã ham mê ngắm nhìn sự sống, những con người mới trên đường đi, và niềm vui của con khi được chứng kiến những điều đó. Ta đã hài lòng với con, kẻ lẽ ra chỉ nên quan tâm đến Cuộc tìm kiếm của ta và một mình Cuộc tìm kiếm của ta mà thôi. Giờ đây ta đau buồn bởi vì con bị cướp mất và Dòng sông của ta thì ở quá xa. Đó chính là Luật lệ mà ta đã phá vỡ!

– Hỡi các Thế lực Bóng tối dưới kia! – Cha Victor thốt lên, người vốn am tường trong tòa giải tội, đã nghe thấy nỗi đau trong từng câu chữ.

– Giờ ta thấy rằng điềm báo về con Bò mộng Đỏ là điềm báo dành cho ta cũng như dành cho con. Mọi Ham muốn đều mang sắc đỏ — và là điều xấu xa. Ta sẽ chịu khổ hạnh và đi tìm Dòng sông của mình một mình.

– Ít nhất hãy quay lại với người phụ nữ Kulu đi – Kim nói, – bằng không ngài sẽ bị lạc trên đường đi đấy. Bà ấy sẽ cho ngài ăn cho đến khi con quay lại với ngài.

Vị lạt-ma phất tay ý chỉ vấn đề đã được định đoạt dứt khoát trong tâm trí ông.

– Giờ thì – giọng ông thay đổi khi quay sang Kim – họ sẽ làm gì với con? Ít nhất ta có thể, qua việc tích lũy công đức, xóa sạch những điều tồi tệ trong quá khứ.

– Biến con thành một Sahib — họ nghĩ thế đấy. Ngày mốt con sẽ quay lại. Xin đừng đau buồn.

– Loại nào cơ? Giống như gã này hay gã kia? – Ông chỉ về phía Cha Victor. – Giống như những kẻ ta thấy tối nay, những kẻ mang gươm và giậm chân nặng nề ấy à?

– Có lẽ vậy.

– Thế thì không hay đâu. Những kẻ đó chạy theo ham muốn và chuốc lấy sự trống rỗng. Con không được phép thuộc về loại người của họ.

– Vị đạo sĩ ở Umballa đã nói rằng Ngôi sao của con là Chiến tranh – Kim chen vào. – Con sẽ hỏi mấy tên ngốc này... nhưng thực sự chẳng có nhu cầu đó đâu. Con sẽ trốn chạy đêm nay, dù tất cả những gì con muốn chỉ là ngắm nhìn những thứ mới lạ.

Kim đặt hai ba câu hỏi bằng tiếng Anh với Cha Victor, rồi dịch các câu trả lời lại cho vị lạt-ma.

Rồi: – Ông ấy nói: «Các ông mang nó đi khỏi tôi và các ông không thể nói nổi mình sẽ biến nó thành cái gì». Ông ấy nói: «Hãy nói cho tôi biết trước khi tôi đi, bởi vì biến một đứa trẻ thành người không phải là chuyện nhỏ».

– Cháu sẽ được gửi tới một ngôi trường. Sau này, chúng ta sẽ xem xét. Kimball, ta đoán cháu hẳn muốn làm lính chứ?

– Gorah-log (dân da trắng). Không-ah! Không-ah! – Kim dữ dội lắc đầu. Chẳng có chút gì trong tính cách của cậu thu hút nổi việc tập luyện và kỷ luật thép cả. – Con sẽ không làm lính đâu.

– Mày sẽ là cái gì mà người ta bảo mày phải làm – Bennett nói; – và mày nên biết ơn vì bọn tao sắp giúp mày.

Kim mỉm cười đầy thương hại. Nếu những kẻ này cứ chìm đắm trong ảo tưởng rằng cậu sẽ làm bất cứ điều gì mà cậu không thích, thì càng tốt chứ sao.

Một khoảng im lặng kéo dài nữa lại tiếp diễn. Bennett bồn chồn thiếu kiên nhẫn, và đề nghị gọi lính canh đến để tống cổ gã đạo sĩ đi.

– Chúng có cho không hay bán kiến thức trong số các Sahib vậy? Hãy hỏi chúng xem – vị lạt-ma nói, và Kim dịch lại.

– Họ nói rằng tiền phải được trả cho thầy giáo — nhưng tiền đó Trung đoàn sẽ chi trả... Cần gì chứ? Chỉ là một đêm thôi mà.

– Và — càng trả nhiều tiền thì kiến thức truyền thụ càng tốt phải không? – Vị lạt-ma phớt lờ những kế hoạch trốn chạy sớm của Kim. – Trả tiền cho việc học hành chẳng có gì là sai trái cả. Giúp những kẻ vô minh đạt đến sự khôn ngoan luôn là một công đức. – Chuỗi hạt lách cách điên cuồng như một chiếc bàn tính. Rồi ông đối mặt với những kẻ áp bức mình.

– Hãy hỏi chúng xem với bao nhiêu tiền thì chúng cho một nền giáo dục khôn ngoan và thích hợp? Và sự dạy dỗ đó được trao ở thành phố nào?

– Chà – Cha Victor nói bằng tiếng Anh khi Kim đã dịch xong, – điều đó còn tùy thuộc. Trung đoàn sẽ chi trả cho cháu trong suốt thời gian cháu ở Trại mồ côi Quân đội; hoặc cháu có thể vào danh sách của Trại mồ côi Tam Điểm Punjab (không phải lão hay cháu hiểu điều đó có nghĩa là gì đâu); nhưng ngôi trường tốt nhất mà một đứa trẻ có thể nhận được ở Ấn Độ, dĩ nhiên là trường St Xavier’s in Partibus ở Lucknow. – Việc này mất một lúc mới dịch xong, bởi vì Bennett muốn rút ngắn lại.

– Ông ấy muốn biết là bao nhiêu? – Kim thản nhiên hỏi.

– Hai hoặc ba trăm rupee một năm. – Cha Victor đã qua khỏi cái thời ngạc nhiên từ lâu rồi. Bennett, vì số nóng ruột nên chẳng hiểu gì cả.

– Ông ấy nói: «Hãy viết cái tên đó và số tiền lên một tờ giấy rồi đưa cho tôi». Và ông ấy nói các ông phải viết tên mình ở phía bên dưới, bởi vì mấy ngày nữa ông ấy sẽ viết thư cho các ông. Ông ấy nói các ông là người tốt. Ông ấy nói gã kia là kẻ ngốc. Ông ấy đang đi đây.

Vị lạt-ma đột ngột đứng dậy. – Ta đi tìm Cuộc tìm kiếm của mình đây – ông kêu lên, rồi biến mất.

– Lão sẽ đâm bổ thẳng vào chỗ lính canh cho mà xem – Cha Victor hét lên, vùng đứng dậy khi vị lạt-ma sải bước đi ra; – nhưng tôi không thể bỏ mặc đứa nhóc được. – Kim có động tác nhanh chóng muốn đuổi theo, nhưng lại tự kiềm chế bản thân. Bên ngoài chẳng có tiếng hô thách thức nào cả. Vị lạt-ma đã biến mất.

Kim bình thản ổn định chỗ ngồi trên chiếc giường gấp của vị Tuyên úy. Ít nhất vị lạt-ma cũng đã hứa rằng ông sẽ ở lại với người phụ nữ Rajput từ Kulu, và những chuyện còn lại thì chẳng mấy quan trọng. Cậu lấy làm thích thú vì hai vị cha xứ tỏ ra kích động thấy rõ. Họ thì thầm to nhỏ với nhau một hồi lâu, Cha Victor thúc giục một kế hoạch nào đó với ông Bennett, người có vẻ hoài nghi. Tất cả những điều này vô cùng mới mẻ và hấp dẫn, nhưng Kim bắt đầu thấy buồn ngủ. Họ gọi mọi người vào lều — một trong số đó chắc chắn là Ngài Đại tá, hệt như lời cha cậu đã tiên tri — và họ hỏi cậu vô số câu hỏi, chủ yếu là về người phụ nữ chăm sóc cậu, tất cả đều được Kim trả lời một cách thành thật. Họ có vẻ không cho rằng người phụ nữ đó là một người giám hộ tốt.

Rốt cuộc thì đây vẫn là trải nghiệm mới mẻ nhất của cậu. Sớm muộn gì, nếu muốn, cậu cũng có thể trốn thoát vào thế giới Ấn Độ rộng lớn, xám xịt, vô định hình, vượt ra ngoài những chiếc lều, các vị cha xứ và đại tá. Trong lúc này, nếu các Sahib đã ấn tượng, cậu sẽ làm hết sức mình để gây ấn tượng với họ. Cậu cũng là một người đàn ông da trắng cơ mà.

Sau rất nhiều cuộc trò chuyện mà cậu chẳng thể hiểu nổi, họ bàn giao cậu cho một trung sĩ, người có chỉ thị nghiêm ngặt là không được để cậu trốn thoát. Trung đoàn sẽ tiếp tục tiến về Umballa, và Kim sẽ được gửi lên phía trên, một phần bằng kinh phí của Lô-gi và một phần bằng tiền quyên góp, đến một nơi gọi là Sanawar.

– Thật là kỳ diệu vượt ngoài sức tưởng tượng, Đại tá ạ – Cha Victor nói sau khi đã huyên thuyên không ngừng nghỉ suốt mười phút. – Người bạn Phật giáo của lão đã chuồn mất sau khi lấy tên và địa chỉ của tôi. Tôi không thể đoán chắc liệu lão sẽ trả tiền cho việc học của đứa nhóc hay lão đang chuẩn bị một thứ phù thủy nào đó theo ý riêng của lão nữa. – Đoạn ông quay sang Kim: – Cháu sẽ sống để mà biết ơn người bạn Bò mộng Đỏ của cháu đấy nhé. Bọn ta sẽ nhào nặn cháu thành một người đàn ông ở Sanawar — dù có phải trả giá bằng việc biến cháu thành một tín đồ Tin Lành.

– Chắc chắn rồi — rất chắc chắn là thế – Bennett nói.

– Nhưng các ông sẽ không đến Sanawar đâu – Kim nói.

– Nhưng bọn ta sẽ đến Sanawar, nhóc con ạ. Đó là lệnh của Tổng tư lệnh, người có trọng lượng hơn con trai của O’Hara một chút đấy.

– Các ông sẽ không đến Sanawar đâu. Các ông sẽ đi ra Trận chiến.

Một tràng cười vang lên từ khắp lều.

– Khi nào mày hiểu rõ Trung đoàn của mình hơn một chút thì mày sẽ không nhầm lẫn giữa đường hành quân với tuyến chiến đấu nữa đâu, Kim ạ. Bọn ta hy vọng sẽ được đi ra «Trận chiến» vào một lúc nào đó.

– Dạ, con biết tất cả những chuyện đó mà. – Kim lại đánh cược đoán mò một phen. Nếu họ không ra trận, ít nhất thì họ cũng chẳng biết những gì cậu biết về cuộc trò chuyện ở hiên nhà tại Umballa.

– Con biết các ông hiện không ra trận; nhưng con nói cho các ông hay, ngay khi các ông đến Umballa, các ông sẽ được điều đi ra trận — cuộc chiến tranh mới. Đó là một cuộc chiến của tám ngàn quân, ngoài các khẩu đại bác ra đấy.

– Rõ ràng thật đấy. Cậu còn thêm cả tài tiên tri vào những năng khiếu khác của mình nữa cơ à? Hãy dẫn nó đi đi, trung sĩ. Lấy cho nó một bộ quần áo từ ban trống kỷ, và cẩn thận đừng để nó sổng mất đấy. Ai bảo thời đại của phép lạ đã qua rồi cơ chứ? Tôi nghĩ mình đi ngủ đây. Trí óc tội nghiệp của tôi đang yếu dần đi rồi.

Ở tận đầu kia khu trại, im lặng như một con thú hoang, một tiếng đồng hồ sau, Kim đang ngồi đó, vừa được tắm rửa sạch sẽ toàn thân trong bộ đồng phục cứng nhắc khủng khiếp cứ cọ xát vào tay và chân cậu.

– Một chú chim non vô cùng kinh ngạc – viên trung sĩ nói. – Nó xuất hiện dưới sự dẫn dắt của một gã thầy tu đầu trọc mặc áo vàng, với mấy tờ giấy chứng nhận Lô-gi của cha nó đeo quanh cổ, lải nhải cái quái gì không biết về một con bò mộng đỏ. Gã thầy tu đầu trọc biến mất không một lời giải thích, còn thằng bé thì ngồi khoét chân chữ ngũ trên giường của Mục sư tiên tri về một cuộc chiến đẫm máu cho toàn quân nghe. Ấn Độ đúng là một vùng đất hoang dã cho một kẻ kính sợ Chúa. Ta cứ trói chân nó vào cột lều cho chắc ăn, nhỡ nó lại trèo qua nóc chuồn mất thì khổ. Mày vừa nói gì về chiến tranh thế nhỉ?

– Tám ngàn quân, chưa tính đại bác – Kim nói. – Rất nhanh thôi các ông sẽ thấy.

– Mày đúng là một con quỷ nhỏ biết cách an ủi người khác đấy. Nằm xuống giữa mấy cái trống kỷ rồi ngủ khì đi. Hai nhóc kia sẽ canh gác giấc ngủ cho mày.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.