Kim

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Phải, tiếng nói của mọi tâm hồn từng bám víu

Vào cuộc sống, từng bước leo lên qua mỗi bậc thang

Khi triều đại của Devadatta hãy còn non trẻ,

Ngọn gió ấm đem Kamakura tới.

Phía sau họ, một lão nông giận dữ đang lăm lăm cây gót tre trên tay. Lão làm nghề trồng trọt, thuộc đẳng cấp Arain, chuyên trồng rau củ và hoa quả cho thành phố Umballa, và Kim thừa biết cái giống người này.

– Một kẻ như thế, vị lạt-ma cất lời, phớt lờ bầy chó, vốn bất lịch sự với người lữ khách, cuồng ngôn và vô tình. Đệ hãy lấy cung cách của hắn làm bài học cảnh tỉnh, hỡi đệ tử của ta.

– Ồ, lũ ăn mày vô liêm sỉ! lão nông quát lớn. – Xéo mau! Biến đi cho khuất mắt!

– Chúng ta đi đây, vị lạt-ma đáp lại với vẻ uy nghiêm điềm tĩnh. – Chúng ta rời khỏi những thửa ruộng chưa được ban phước này.

– Cha chả, Kim hít một hơi dài lẩm bẩm. – Chữn rạ, nếu vụ mùa tới có thất bát, ngươi chỉ có thể tự trách cái lưỡi của mình mà thôi.

Lão đàn ông ngượng ngùng lê đôi dép lê trên đất. – Đất đai đầy rẫy những kẻ ăn xin, lão ngập ngừng mở lời, nửa như để thanh minh.

– Bằng dấu hiệu nào mà ngươi biết chúng ta sẽ đi xin ăn nhà ngươi hả, hỡi lão Mali? Kim đốp lại, cố tình dùng cái tên mà những kẻ trồng rau cút ghét nhất. – Tất cả những gì bọn ta tìm kiếm chỉ là ngắm nhìn con sông đằng kia qua khỏi thửa ruộng này thôi.

– Sông với ngòi, cái con khỉ khô! lão ta hừ mũi. – Từ cái xó xỉnh nào tới mà tụi bay lại không nhận ra một con mương dẫn nước hả? Nó chảy thẳng băng như tên bắn, và ta phải trả tiền nước cứ như thể đó là bạc nung chảy vậy. Suối hay sông thì có một nhánh ở đằng kia kìa. Nhưng nếu tụi bay cần nước, ta có thể cho nước—và cả sữa nữa.

– Không, chúng ta sẽ đi đến con sông, vị lạt-ma quả quyết cất bước.

– Cả sữa và một bữa ăn nữa, lão ta lắp bắp khi nhìn dáng người cao gầy kỳ lạ. – Ta—ta không muốn rước họa vào thân—hay mùa màng của mình. Nhưng dạo thời buổi khó khăn này người ăn xin đông quá.

– Hãy lưu tâm điều này. Vị lạt-ma quay sang bảo Kim. – Hắn đã bị Sương Mù Đỏ của cơn giận dắt dẫn thốt ra những lời cay nghiệt. Khi màn sương ấy tan khỏi mắt, hắn lại trở nên nhã nhặn và có một tấm lòng cởi mở. Cầu mong ruộng đồng của hắn được ban phước! Hãy nhớ đừng vội phán xét con người ta quá sớm, hỡi lão nông.

– Con từng gặp những bậc tu hành sẵn sàng nguyền rủa ngươi từ bếp lò cho đến chuồng gia súc đấy, Kim nói với kẻ đang bẽ mặt. – Ngài có phải là người uyên bác và thánh thiện không nào? Con chính là đệ tử của ngài đây.

Cậu hếch mũi lên trời đầy kiêu hãnh và bước qua những bờ ruộng hẹp với một vẻ uy nghiêm tột bậc.

– Chẳng có sự kiêu hãnh nào cả, vị lạt-ma cất lời sau một khoảng lặng, chẳng có sự kiêu hãnh nào ở những kẻ đi theo Con Đường Trung đạo cả.

– Nhưng chính ngài vừa bảo hắn thuộc hạ đẳng và vô lễ đó thôi.

– Hạ đẳng thì ta không nói, bởi vì cái không hiện hữu thì làm sao có được? Về sau hắn đã sửa đổi sự bất lịch sự của mình, và ta đã quên đi lỗi lầm ấy. Hơn nữa, hắn cũng giống như chúng ta, bị trói buộc trên Vòng Tròn Vạn Vật; chỉ là hắn không bước đi trên con đường giải thoát. Ngài dừng chân bên một rãnh nước nhỏ giữa các thửa ruộng, ngắm nhìn phần bờ bị khoét chi chít bởi những vết móng guốc.

– Giờ thì, làm sao ngài nhận ra Con Sông của mình đây? Kim hỏi, ngồi xổm trong bóng râm của những khóm mía cao.

– Khi ta tìm thấy nó, sự bừng ngộ chắc chắn sẽ đến. Ta cảm thấy nơi này không phải là chốn ấy. Ồ, nhỏ bé thay trong muôn dòng nước, ước gì ngươi có thể chỉ cho ta biết Con Sông của ta chảy về đâu! Nhưng mong ngươi được ban phước để nuôi dưỡng những cánh đồng này!

– Nhìn kìa! Nhìn kìa! Kim chồm dậy kéo thốc ngài lại. Một vệt vàng nâu lướt từ những thân mía tím xào xạc ra tới bờ sông, vươn cổ uống nước rồi nằm im lìm—một con hổ mang lớn với đôi mắt trân trân không mí.

– Con không có gậy—con không có gậy, Kim kêu lên. – Để con kiếm một cây đánh gãy lưng nó.

– Tại sao? Nó cũng đang chịu sự chi phối của Vòng Tròn như chúng ta—một sinh mệnh đang thăng hoa hay đọa đày—còn cách xa sự giải thoát lắm. Linh hồn nào bị đày đọa vào hình hài này chắc hẳn đã gây ra tội ác tày trời.

– Con ghét tất cả các loài rắn, Kim nói. Không một sự huấn luyện bản xứ nào có thể dập tắt được nỗi kinh hoàng của người da trắng trước loài Rắn.

– Hãy để nó sống trọn kiếp đời của mình. Sinh vật cuộn tròn phát ra tiếng xì xì và hé mở một nửa chiếc bành. – Cầu mong sự giải thoát sớm đến với ngươi, hỡi người anh em! vị lạt-ma điềm tĩnh tiếp lời. – Liệu ngươi có tình cờ biết chút gì về Con Sông của ta không?

– Chưa từng thấy một con người nào như ngài, Kim thì thầm, hoàn toàn choáng váng. – Ngay cả loài rắn cũng hiểu lời ngài nói ư?

– Ai mà biết được? Ngài bước qua chỉ cách chiếc đầu đang ngẩng cao của con hổ mang có một gang tay. Nó bẹp dí thân mình giữa những vòng cuộn đầy bụi.

– Lại đây, trò! ngài gọi với lại phía sau.

– Không đời nào, Kim đáp. – Con đi đường vòng.

– Lại đây. Nó không làm hại ai đâu.

Kim ngập ngừng giây lát. Vị lạt-ma bèn bồi thêm bằng một câu trích dẫn tiếng Trung đọc đều đều mà Kim cứ đinh ninh là một câu thần chú. Cậu đành tuân lệnh, nhảy phóc qua rãnh nước, và quả nhiên con rắn chẳng hề nhúc nhích.

– Chưa bao giờ con thấy một người như thế này. Kim lau mồ hôi trên trán. – Và giờ thì chúng ta đi đâu đây?

– Tùy đệ quyết định thôi. Ta đã già, lại là kẻ tha hương—cách xa quê quán. Chỉ tiếc là tiếng xe lửa cứ vang vọng trong đầu ta như tiếng trống của quỷ sứ, bằng không ta đã đáp xe đi Benares ngay lúc này rồi... Thế nhưng cứ đi như thế, rất có thể chúng ta sẽ bỏ lỡ Con Sông. Hãy đi tìm một con sông khác đi.

Nơi mảnh đất cày xới cẩn thận cho ba thậm chí bốn vụ mùa mỗi năm với những vạt mía, thuốc lá, củ cải trắng dài và su hào, suốt ngày hôm đó họ thong thả bước đi, rẽ sang bất cứ vòm nước nào lọt vào tầm mắt; làm bừng tỉnh những con chó làng và cả những ngôi làng đang say ngủ vào lúc ngọ thời; vị lạt-ma vẫn điềm nhiên đáp lại những câu hỏi dồn dập với một sự giản dị không gì lay chuyển nổi. Họ đi tìm một Con Sông: một Con Sông chữa lành kỳ diệu. Liệu có ai biết về một dòng suối như thế không?

Đôi khi người ta cười cợt, nhưng thường thì họ lắng nghe câu chuyện đến tận cùng rồi mời hai thầy trò ngồi nghỉ trong bóng râm, một bát sữa và một bữa ăn. Phụ nữ luôn tử tế, còn trẻ con thì cũng như trẻ con trên khắp thế giới này, lúc thì rụt rè, lúc lại bạo dạn.

Hoàng hôn buông xuống tìm thấy họ đang nghỉ ngơi dưới gốc cây đầu làng của một thôn xóm tường đất mái bùn, trò chuyện với vị trưởng thôn khi đàn gia súc từ bãi chăn thả trở về và phụ nữ đang chuẩn bị bữa ăn cuối ngày trong. Họ đã đi qua vành đai những khu vườn thị tứ quanh một vùng Umballa đói kém, và lọt vào giữa những thảm xanh rộng ngút ngàn dặm của các loại hoa màu chủ lực.

Lão là một cụ già râu tóc bạc phơ niềm nở, quen với việc tiếp đãi khách lữ hành. Lão lôi ra một chiếc giường dây cho vị lạt-ma, dọn thức ăn ấm nóng trước mặt ngài, châm cho ngài một điếu tẩu, và khi các nghi lễ buổi chiều tại ngôi đền làng vừa kết thúc, lão liền cho người gọi vị tư tế của làng tới.

Kim kể cho lũ trẻ lớn nghe những câu chuyện về sự rộng lớn và tráng lệ của Lahore, về những chuyến đi tàu hỏa và bao điều thị thành xôm tụ khác, trong lúc mấy người đàn ông trò chuyện chậm rãi hệt như cách đàn gia súc của họ đang nhai lại cỏ.

– Ta không tài nào hiểu nổi, cuối cùng vị trưởng thôn nói với vị tư tế. – Ngài luận sao về câu chuyện của người này? Vị lạt-ma, sau khi kể xong câu chuyện của mình, đang lặng lẽ lần tràng hạt.

– Hắn là một Kẻ Tìm Kiếm, vị tư tế đáp. – Cả xứ sở này đầy rẫy những kẻ như thế. Hãy nhớ lại kẻ chỉ mới đến vào tháng trước xem—gã khất sĩ mang theo con rùa ấy?

– Phải, nhưng lão đó có lý do chính đáng, vì chính Thần Krishna đã hiện ra trong một thị kiến hứa ban cho lão cõi Cực Lạc mà không cần qua giàn hỏa thiêu nếu lão hành hương đến Prayag. Còn người này thì đang tìm kiếm một vị Thần nào chẳng nằm trong sự hiểu biết của ta.

– Thôi đi, lão ta già rồi: lão đến từ phương xa, và lão ta điên rồ, vị tư tế cạo đầu nhẵn thín đáp. – Hãy nghe ta nói đây. Lão quay sang vị lạt-ma. – Cách đây ba kos (sáu dặm) về phía tây là con đường lớn dẫn tới Calcutta.

– Nhưng ta muốn đi Benares—đến Benares cơ.

– Và tới Benares nữa chứ. Nó cắt ngang qua mọi dòng suối ở phía này của xứ Hind. Giờ lời khuyên của ta dành cho ngài, Hô-lê Ôn, là hãy nghỉ ngơi ở đây cho đến ngày mai. Rồi hãy lên đường (ý lão là Con Đường Lớn) và thử qua từng dòng suối mà nó bắc ngang qua; bởi vì, theo như ta hiểu, sự linh thiêng của Con Sông nhà ngài không nằm ở một vũng nước hay một địa điểm cố định nào, mà trải dài suốt dọc theo dòng chảy của nó. Khi ấy, nếu các vị Thần của ngài cho phép, hãy tin chắc rằng ngài sẽ đạt được sự giải thoát.

– Lời ấy thật phải chăng. Vị lạt-ma vô cùng ấn tượng trước kế hoạch này. – Chúng ta sẽ bắt đầu vào ngày mai, và xin ban phước cho ngươi vì đã chỉ cho đôi chân già nua này một con đường gần đến thế. Một câu xướng bằng nửa lời ca mang âm điệu trầm bổng của người Trung Hoa đã khép lại câu nói. Ngay cả vị tư tế cũng thấy kính nể, còn vị trưởng thôn thì e sợ một thứ bùa ngắm độc địa nào đó; nhưng chẳng ai có thể nhìn vào gương mặt ngây thơ, đầy khao khát của vị lạt-ma mà nghi ngờ ngài lâu được.

– Đệ có thấy chela của ta không? ngài nói, thò tay vào túi đựng bột hít với một tiếng khịt mũi đầy vẻ quan trọng. Đó là bổn phận của ngài khi muốn đáp lễ sự tử tế.

– Ta thấy—và cả nghe nữa. Vị trưởng thôn liếc mắt về phía Kim đang tíu tít trò chuyện với một cô gái mặc áo xanh khi cô đang chất những cành gai nổ lách tách vào bếp lửa.

– Nó cũng mang một Cuộc Tìm Kiếm của riêng mình. Không phải một con sông, mà là một Con Bò Đực. Phải, một Con Bò Đực Đỏ trên nền cỏ xanh vào một ngày nào đó sẽ nâng nó lên hàng vinh hiển. Ta nghĩ, nó không hoàn toàn thuộc về thế giới này. Nó được phái đến một cách đột ngột để giúp ta trong cuộc tìm kiếm này, và tên của nó là Bè Bạn của Muôn Loài.

Vị tư tế mỉm cười. – Này chú em Bè Bạn của Muôn Loài, lão cất giọng gọi qua lớp khói có mùi hăng gắt, chú mày là cái thá gì thế?

– Là đệ tử của vị Hô-lê Ôn này, Kim đáp.

– Hắn bảo chú mày là một būt (yêu tinh đấy).

– Yêu tinh thì có ăn được không? Kim đáp với một tia nhìn tinh nghịch. – Vì con đang đói lắm đây.

– Đây không phải chuyện đùa, vị lạt-ma kêu lên. – Một nhà chiêm tinh nọ ở cái thành phố mà ta đã quên mất tên—

– Chẳng phải đâu xa ngoài thành phố Umballa nơi chúng ta ngủ qua đêm qua chứ gì nữa, Kim thì thầm với vị tư tế.

– Ờ, có phải Umballa không nhỉ? Lão ta đã lập lá số tử vi và tuyên bố rằng chela của ta sẽ tìm thấy điều khao khát của nó trong vòng hai ngày. Nhưng hắn đã nói gì về ý nghĩa của các vì sao hỡi Bè Bạn của Muôn Loài?

Kim hắng giọng, đưa mắt nhìn quanh những bô lão trong làng.

– Ý nghĩa Ngôi sao của tôi là Chiến tranh, cậu vương giả đáp.

Ai đó bật cười trước dáng người nhỏ bé rách rưới đang sải bước trên bệ gạch dưới vòm cây lớn. Nơi mà một người bản xứ đã ngả lưng nằm xuống, dòng máu da trắng trong người Kim lại thúc giục cậu đứng thẳng trên đôi chân mình.

– Phải, Chiến tranh, cậu đáp lại.

– Đó là một lời tiên tri chắc như đinh đóng cột, một giọng nói trầm đục vang lên. – Vì dọc theo Vùng Biên Giới lúc nào chẳng có chiến tranh—như ta đây thừa biết.

Đó là một lão già da nhăn nheo, từng phục vụ Chính phủ thời kỳ Nổi dậy với tư cách là một sĩ quan bản xứ trong một trung đoàn kỵ binh mới thành lập. Chính phủ đã ban cho lão một mảnh đất khấm khá trong làng, và dù những đòi hỏi từ đám con trai—giờ đây cũng đã là những sĩ quan râu tóc bạc phơ—đã khiến lão lâm vào cảnh túng thiếu, lão vẫn là một nhân vật có máu mặt. Các quan chức Anh—thậm chí cả các Phó Thống sứ—cũng thường ghé qua đường lớn để thăm lão, và vào những dịp đó, lão thường khoác lên mình bộ quân phục của những ngày xưa cũ, đứng thẳng người như một thân gậy cứng.

– Nhưng đây sẽ là một cuộc đại chiến—một cuộc chiến của tám ngàn quân. Giọng Kim lanh lảnh vang qua đám đông đang tụ tập mỗi lúc một đông, khiến chính cậu cũng phải kinh ngạc.

– Mặc áo đỏ hay các trung đoàn của chính chúng ta? lão già hằn học hỏi, hệt như đang nói chuyện với một kẻ ngang hàng. Giọng điệu của lão khiến mọi người phải nể nang Kim.

– Áo đỏ, Kim liều lĩnh đáp. – Áo đỏ và đại bác.

– Nhưng—nhưng nhà chiêm tinh đâu có nói một lời nào về điều này! vị lạt-ma kêu lên, hít hà một hơi thật lực vì quá đỗi phấn khích.

– Nhưng con thì biết. Tin tức đã truyền đến tai con, kẻ mang trọng trách là đệ tử của vị Hô-lê Ôn này. Sẽ có một cuộc chiến nổ ra—một cuộc chiến của tám ngàn quân áo đỏ. Họ sẽ được điều động từ Pindi và Peshawur. Điều này là chắc chắn.

– Thằng bé này chắc nghe lỏm được chuyện ở chợ búa đây mà, vị tư tế nói.

– Nhưng nó luôn ở bên cạnh ta cơ mà, vị lạt-ma nói. – Sao nó có thể biết được? Ngay cả ta còn chẳng biết nữa là.

– Khi ông già này chết đi, nó sẽ thành một gã ảo thuật gia cừ khôi đây, vị tư tế lầm bầm với vị trưởng thôn. – Lại trò bịp bợm mới nào nữa đây?

– Một điềm báo. Hãy cho ta một điềm báo, vị cựu sĩ quan đột ngột dõng dạc. – Nếu có chiến tranh thì mấy đứa con ta đã báo cho ta biết rồi chứ.

– Khi mọi thứ đã sẵn sàng, các con ngươi chắc chắn sẽ được báo tin. Nhưng từ chỗ các con ngươi cho đến kẻ đang nắm giữ những việc này là một chặng đường dài lắm đấy. Kim bắt đầu thấy hăng máu, bởi nó gợi cho cậu nhớ lại những trải nghiệm thời làm chân đưa thư, khi cốt chỉ vì vài đồng pice, cậu đã giả vờ như biết tuốt mọi chuyện. Nhưng giờ đây cậu đang chơi một ván bài lớn hơn—sự phấn khích tột độ và cảm giác nắm quyền lực trong tay. Cậu hít một hơi sâu hơn và nói tiếp.

– Hỡi lão già, hãy cho con một điềm báo. Lẽ nào đám lính tráng lại có thể tự ý định đoạt việc điều động tám ngàn quân áo đỏ—cùng với đại bác ư?

– Không. Lão già vẫn đáp lại như thể Kim là kẻ ngang hàng.

– Thế ngươi có biết kẻ ra lệnh đó là Ai không?

– Ta đã từng nhìn thấy Ngài.

– Liệu có nhận ra nếu gặp lại?

– Ta đã biết Ngài từ khi Ngài còn là một tên trung úy trong binh chủng top-khana (Pháo binh).

– Một người cao lớn. Một người cao lớn với mái tóc đen, đi đứng thế này phải không? Kim bước vài bước với dáng đi cứng ngắc, mộc mạc.

– Phải. Nhưng ai mà chẳng có thể nhìn thấy điều đó chứ. Đám đông nín thở—lặng ngắt trước mọi câu chuyện này.

– Điều đó đúng, Kim nói. – Nhưng con sẽ nói nhiều hơn thế. Nhìn đây. Đầu tiên vị đại nhân ấy bước đi thế này. Sau đó Ngài suy nghĩ thế này. (Kim dùng ngón trỏ kéo từ trán xuống cằm cho đến khi dừng lại ở góc hàm.) – Tiếp theo Ngài giật giật các ngón tay thế này. Kế đó Ngài nhét chiếc mũ của mình vào dưới nách trái. Kim minh họa động tác rồi đứng im như một con cò.

Lão già rên rỉ, không thốt nên lời vì kinh ngạc; và đám đông thì rùng mình run rẩy.

– Cứ thế—cứ thế—cứ thế. Nhưng Ngài làm gì khi chuẩn bị ban hành mệnh lệnh?

– Ngài chà xát vùng da sau gáy—thế này. Rồi một ngón tay đập xuống bàn và Ngài phát ra một tiếng hít mũi khe khẽ. Sau đó Ngài cất lời, bảo rằng: “Hãy điều động trung đoàn này nọ. Gọi đem đại bác ra.”

Lão già cứng ngắc đứng dậy và giơ tay chào.

– “Bởi vì,”—Kim dịch sang tiếng địa phương những câu chốt hạ mà cậu từng nghe thấy trong phòng thay đồ ở Umballa—“bởi vì, Ngài nói, “lẽ ra chúng ta phải làm điều này từ lâu lắm rồi. Đây không phải chiến tranh—đây là một sự trừng phạt. Hừm!”

– Đủ rồi. Ta tin. Ta đã từng nhìn thấy Ngài như thế trong làn khói lửa của chiến trận. Tận mắt thấy và tận tai nghe. Chính là Ngài!

– Con chẳng thấy làn khói nào cả—giọng Kim chuyển sang nhịp điệu xướng ca đều đều đầy mê hoặc của một thầy bói bên đường. – Con nhìn thấy điều này trong bóng tối. Đầu tiên xuất hiện một người đến để làm sáng tỏ mọi chuyện. Sau đó là những kỵ sĩ. Tiếp đến là Ngài xuất hiện, đứng giữa một vòng tròn ánh sáng. Phần còn lại diễn ra đúng như con đã nói. Hỡi lão già, con đã nói sự thật chưa?

– Chính là Ngài. Vượt lên trên mọi nghi ngờ, đó chính là Ngài.

Đám đông hít một hơi dài ngập ngừng, luân phiên nhìn vị lão niên vẫn đang đứng nghiêm và cậu Kim rách rưới nổi bật giữa khung cảnh chạng vạng tím sẫm.

– Ta đã bảo gì nào—ta đã bảo ngài ngài ấy đến từ thế giới khác mà lại! vị lạt-ma kiêu hãnh kêu lên. – Nó chính là Bè Bạn của Muôn Loài. Nó là Bè Bạn của Các Vì Sao!

– Ít ra thì điều đó cũng chẳng liên quan gì đến chúng ta, một kẻ cất giọng. – Này chú em thầy bói, nếu cái tài năng ấy lúc nào cũng ở bên chú mày, ta đang có một con bò cái đốm đỏ. Biêt đâu nó lại là chị em với Con Bò Đực của chú mày cũng nên—

– Hoặc ta thèm quan tâm chắc, Kim đáp. – Ngôi Sao của tôi chẳng buồn bận tâm đến đám gia súc nhà ngươi đâu.

– Không, nhưng nó đang ốm rất nặng cơ, một người phụ nữ chen ngang. – Chồng tôi đúng là một con trâu, bằng không ông ấy đã chọn từ ngữ khôn ngoan hơn rồi. Hãy nói cho tôi biết nó có qua khỏi không nào?

Nếu Kim là một đứa trẻ bình thường, cậu đã tiếp tục trò chơi này; nhưng chẳng thể nào sống ở thành phố Lahore tới mười ba năm, và nhất là hiểu về đám khất sĩ ở cổng Taksali, mà lại không mảy may thấu hiểu bản chất con người.

Vị tư tế liếc nhìn cậu ngang mắt, mang theo chút cay đắng—một nụ cười khô khốc và đầy sát thương.

– Thế trong làng này không có lấy một vị tư tế nào sao? Ta cứ tưởng mình vừa nhìn thấy một vị rất đáng kính ngay lúc này chứ, Kim kêu lên.

– Ờ—nhưng mà—người phụ nữ bắt đầu ú ớ.

– Nhưng cô và chồng cô lại ôm mộng chữa khỏi bệnh cho con bò mà chỉ muốn trả công bằng vài câu cảm ơn suông. Mũi tên đã trúng đích: ai cũng biết vợ chồng họ là cặp đôi keo kiệt nhất cái làng này. – Quỵt nợ các đền thờ là điều không hay ho gì đâu. Hãy dâng một chú bê con cho vị tư tế của làng mình, và trừ phi các vị Thần của cô giận đến mức không thể vãn hồi, bằng không nó sẽ có sữa trở lại trong vòng một tháng.

– Chú mày đúng là một tay ăn mày lão luyện, vị tư tế mỉm cười tán thưởng. – Mưu mẹo của bốn mươi năm chưa chắc đã làm tốt hơn thế. Chắc chắn là chú mày đã vơ vét được khối thứ từ ông già này rồi chứ?

– Chút bột mỳ, chút bơ và một nhúm bạch đậu khấu, Kim đáp lại, mặt phừng phừng vì được khen nhưng vẫn đầy cảnh giác.—Làm sao mà giàu lên từ ngần ấy thứ được chứ? Hơn nữa, như ngài có thể thấy đấy, ông ấy điên rồi. Nhưng ít ra ngài ấy cũng hữu dụng cho con trong lúc con đang dò đường.

Cậu thừa biết đám khất sĩ ở cổng Taksali nói chuyện với nhau ra sao, và bèn sao chép y chang ngữ điệu của những kẻ đệ tử lếu láo ấy.

– Thế Cuộc Tìm Kiếm của lão là thật hay chỉ là cái vỏ bọc cho những mục đích khác? Biết đâu đó là kho báu thì sao.

– Lão ta điên—điên nặng ấy chứ. Chẳng có gì khác đâu.

Đến lúc này thì lão cựu sĩ quan lật đật đứng phắt dậy, hỏi xem Kim có muốn nhận sự hiếu khách của lão cho đêm nay hay không. Vị tư tế khuyên cậu nên đồng ý, nhưng khăng khăng đòi rằng vinh dự tiếp đón vị lạt-ma phải thuộc về ngôi đền—khiến vị lạt-ma mỉm cười vô tư lự. Kim liếc nhìn từ khuôn mặt này sang khuôn mặt khác, tự rút ra kết luận cho riêng mình.

– Tiền đâu? cậu thì thầm, vẫy tay gọi lão già tách ra bóng tối.

– Trong ngực áo ta chứ đâu.

– Đưa đây cho con. Mau chóng đưa đây nào.

– Nhưng để làm gì? Có vé xe nào phải mua đâu.

– Con có phải là chela của ngài hay không hả? Chẳng lẽ con không chăm sóc cho đôi chân già nua của ngài trên mọi nẻo đường sao? Đưa tiền đây, sáng mai con sẽ trả lại.

Cậu luồn tay qua thắt lưng vị lạt-ma và nhanh chóng lấy đi chiếc túi đựng tiền.

– Thôi được—tùy đệ vậy. Lão già gật đầu. – Thế giới này thật lớn lao và đáng sợ. Ta chưa từng nghĩ trên đời lại có nhiều người đến thế.

Sáng hôm sau, vị tư tế tỏ ra vô cùng cáu kỉnh, nhưng vị lạt-ma lại vô cùng hạnh phúc; còn Kim thì đã có một buổi tối vô cùng thú vị bên lão cựu sĩ quan—người đã lôi thanh gươm kỵ binh ra, đặt lên đôi đầu gối khô khốc của mình và kể những câu chuyện về thời kỳ Nổi dậy cùng những vị đại úy trẻ tuổi đã khuất núi từ ba mươi năm trước, cho đến khi Kim thiếp đi lúc nào không hay.

– Quả thật không khí ở xứ sở này thật tốt lành, vị lạt-ma nói. – Ta ngủ rất chập chờn, như mọi ông già khác; thế mà tối qua ta đã ngủ một mạch đến tận sáng bạch. Ngay lúc này ta vẫn còn cảm thấy ngái ngủ đây.

– Uống một ngụm sữa nóng đi ngài, Kim nói, tay từng mang không ít những phương thuốc kiểu này cho mấy con nghiện thuốc phiện mà cậu quen biết. – Đã đến lúc chúng ta lại lên đường rồi.

– Con Đường Dài dẫn qua tất cả các dòng sông xứ Hind, vị lạt-ma vui vẻ cất lời. – Đi thôi. Nhưng theo đệ nghĩ, làm thế nào chúng ta có thể đền đáp những con người này, đặc biệt là vị tư tế, vì sự tử tế to lớn của họ đây? Quả thật họ là những kẻ būt-parast, nhưng biết đâu trong những kiếp sống khác, họ sẽ đạt được sự giác ngộ. Một đồng rupee dâng cho đền thờ chăng? Thứ ở bên trong ấy chẳng qua chỉ là đá và sơn đỏ, nhưng tấm lòng của con người thì chúng ta phải ghi nhận khi nào và ở đâu nó tốt đẹp.

– Hô-lê Ôn, ngài đã bao giờ một mình bước đi trên con đường ấy chưa? Kim ngước nhìn lên đầy sắc sảo, hệt như loài quạ Ấn Độ đang bận rộn quanh các thửa ruộng.

– Chắc chắn rồi, đứa trẻ của ta ạ: từ Kulu đến Pathânkot—từ Kulu, nơi người chela đầu tiên của ta qua đời. Khi người ta tử tế với chúng ta, chúng ta dâng vật cúng dường, và khắp chốn miền Núi đâu đâu người ta cũng đối xử rất tốt.

– Ở xứ Hind thì khác lắm, Kim khô khan đáp. – Các vị Thần của họ nhiều tay và vô cùng hiểm độc. Cứ mặc kệ họ đi.

– Ta muốn tiễn đệ một đoạn đường, hỡi Bè Bạn của Muôn Loài, cả đệ và người áo vàng của đệ nữa. Lão cựu sĩ quan thong thả cưỡi con ngựa lùn chân khoèo, lững thững đi lên con đường làng mờ ảo trong sương sớm. – Tối qua những mạch nguồn ký ức trong trái tim đã khô cạn từ lâu của ta như được khơi thông, đó thực sự là một phúc lành đối với ta. Quả thật có chiến tranh đang nấp bóng trong không trung. Ta ngửi thấy mùi của nó. Nhìn kìa! Ta đã mang theo thanh gươm của mình rồi đây.

Lão ngồi dạng chân trên con ngựa nhỏ, thanh gươm lớn giắt bên hông—bàn tay đặt hững hờ trên chuôi—đăm đăm nhìn qua những vùng đất bằng phẳng về phía Bắc. – Hãy kể cho ta nghe lại cách Ngài hiện ra trong thị kiến của đệ xem nào. Lại đây ngồi phía sau ta. Con vật này chở được hai người đấy.

– Con là đệ tử của vị Hô-lê Ôn này, Kim đáp khi họ vừa qua khỏi cổng làng. Dân làng có vẻ như chẳng mủi lòng mấy khi tống khứ được họ đi, nhưng lời từ biệt của vị tư tế thì lạnh lùng và xa cách. Lão ta đã phí phạm một ít thuốc phiện cho một kẻ chẳng có nổi một xu dính túi.

– Nói hay lắm. Ta không quen giao du với các bậc tu hành lắm, nhưng sự tôn kính lúc nào cũng là điều tốt đẹp. Thời buổi này chẳng còn ai biết tôn kính nữa—thậm chí ngay cả khi một vị Phó Thống sứ Sahib đến thăm ta cũng vậy. Nhưng sao một kẻ có Ngôi Sao dẫn dắt đến chiến tranh lại đi theo một vị tu hành cơ chứ?

– Nhưng ngài ấy là một vị tu hành chân chính, Kim thành khẩn đáp. – Cả trong suy nghĩ, lời nói và hành động, ngài đều vô cùng thánh thiện. Ngài không giống những kẻ khác. Con chưa từng thấy một người nào như thế. Bọn con không phải là thầy bói, không phải ảo thuật gia, cũng chẳng phải kẻ ăn xin.

– Chú mày thì không. Ta có thể thấy điều đó. Nhưng ta không rõ về người kia. Dù vậy, lão ta sải bước rất vững chãi.

Sự tươi mát của buổi sớm mai giúp vị lạt-ma tiến bước với những sải chân dài, thoải mái và vững chãi hệt như loài lạc đà. Ngài chìm đắm trong thiền định, đôi tay máy móc lần từng hạt tràng hạt.

Họ đi theo con đường nông thôn lún phún ổ gà và mòn vẹt, uốn lượn qua vùng đồng bằng giữa những rặng xoài xanh ngắt vươn cao, với dãy Himalaya phủ tuyết trắng mờ ảo ở phía đông. Cả xứ Ấn Độ đang bận rộn làm việc trên các cánh đồng, giữa tiếng kẽo kẹt của những bánh xe nước, tiếng hò hét của những người thợ cày đằng sau bầy gia súc, và tiếng kêu náo động của lũ quạ. Ngay cả con ngựa lùn cũng cảm nhận được bầu không khí tốt lành ấy và suýt chồm lên cất vó kiệu khi Kim đặt tay lên dây cương.

– Ta thấy hối hận vì đã không dâng một đồng rupee cho ngôi đền, vị lạt-ma nói ở hạt tràng hạt thứ tám mươi mốt.

Lão cựu sĩ quan gầm gừ trong lồng ngực, khiến lần đầu tiên vị lạt-ma nhận ra sự hiện diện của lão.

– Ngài cũng đang đi tìm Con Sông đó sao? lão cất tiếng hỏi, quay đầu lại.

– Ngày hãy còn sớm mà, câu trả lời vang lên. – Cần gì phải tìm sông ngòi chi cho mệt, trừ phi để cho ngựa uống nước trước khi mặt trời lặn chứ? Ta đến để chỉ cho các vị một lối tắt dẫn ra Con Đường Lớn.

– Đó là một sự tử tế đáng ghi nhớ, hỡi con người thiện lương. Nhưng sao lại mang theo gươm giáo làm gì?

Lão cựu sĩ quan trông bẽn lẽn như một đứa trẻ bị bắt quả tang đang chơi trò chơi giả vờ.

– Thanh gươm này, lão nói, vừa lúng túng sờ vào nó. – Ồ, đó chỉ là một sở thích của ta thôi—sở thích của một ông già. Thật ra lệnh cấm của cảnh sát là không ai được phép mang theo vũ khí trên khắp xứ Hind, nhưng—lão phấn chấn hẳn lên và vỗ vào chuôi kiếm—tất cả đám cảnh sát quanh vùng này đều nhẵn mặt ta cả.

– Đó không phải là một sở thích hay ho gì, vị lạt-ma nói. – Giết người thì có ích lợi gì chứ?

– Rất ít—như ta thừa biết; nhưng nếu những kẻ ác thỉnh thoảng không bị tiêu diệt thì thế giới này sẽ chẳng còn là một nơi an toàn cho những kẻ mộng mơ tay không tấc sắt nữa. Ta nói điều này không phải không có cơ sở, khi chính mắt ta đã từng chứng kiến cả miền đất từ Delhi trở về Nam ngập chìm trong biển máu.

– Thứ điên rồ gì thế hả?

– Chỉ có các vị Thần, những đấng đã giáng nó xuống như một tai họa, mới biết được. Sự điên rồ đã gặm nhấm toàn bộ quân đội, và họ quay gươm chống lại các sĩ quan của mình. Đó là tội ác đầu tiên, nhưng vẫn chưa đến nỗi không thể cứu vãn nếu lúc đó họ dừng tay. Thế nhưng họ lại chọn cách sát hại cả vợ con của các Sahib. Thế rồi những người Sahib từ bên kia đại dương kéo sang và bắt họ phải trả giá một cách vô cùng nghiêm khắc.

– Dường như có một lời đồn đại kiểu như vậy từng đến tai ta từ rất lâu rồi. Hình như họ gọi đó là Năm Đen tối thì phải.

– Các người sống kiểu gì mà lại không biết đến Năm đó cơ chứ? Đồn đại ư? Cả mặt đất này đã rung chuyển và khiếp sợ!

– Trái đất của chúng ta chưa từng rung chuyển, trừ một lần duy nhất—vào ngày mà Đấng Tối Cao đắc đạo.

– Hừ! Ít nhất thì ta đã tận mắt thấy Delhi rung chuyển—và Delhi chính là rốn của thế giới.

– Vậy ra họ đã quay sang sát hại cả phụ nữ và trẻ em ư? Đó là một hành động tội lỗi, và hình phạt cho nó là điều không thể trốn tránh.

– Rất nhiều kẻ đã cố gắng thoát tội, nhưng chẳng thu được ích lợi gì. Khi ấy ta đang ở trong một trung đoàn kỵ binh. Nó đã tan rã. Trong tổng số sáu trăm tám mươi thanh gươm, có bao nhiêu kẻ vẫn trung thành với lời thề, ngươi đoán xem? Ba người. Trong đó có ta.

– Công đức thật lớn lao.

– Công đức! Thời đó tụi ta chẳng ai nghĩ đến công đức. Đồng bào ta, bạn bè ta, anh em ta đều lần lượt quay lưng. Họ nói: “Thời của người Anh đã chấm dứt rồi. Hãy tự kiếm cho mình một mảnh đất nhỏ đi.” Nhưng ta từng trò chuyện với những người lính trong trận Sobraon, Chilianwallah, Moodkee và Ferozeshah. Ta nói: “Hãy chờ đợi thêm một chút rồi gió sẽ đổi chiều. Chẳng có phước lành nào từ việc làm này đâu.” Những ngày đó, ta đã phi ngựa suốt bảy mươi dặm với một vị Memsahib người Anh và đứa con nhỏ ngồi trên yên ngựa của ta. (Chà! Đó mới thực sự là con ngựa dành cho một người đàn ông!) Ta đưa họ đến nơi an toàn, rồi quay trở lại với viên sĩ quan của mình—người duy nhất may mắn sống sót trong số năm vị chỉ huy. “Hãy giao việc cho tôi,” ta nói, “vì tôi giờ là kẻ lạc loài giữa đồng bào mình, và máu của anh em họ hàng vẫn còn ươn ướt trên gươm tôi kìa.” “Hãy yên tâm,” ông ấy nói. “Sắp có việc lớn để làm đấy. Khi cơn điên rồ này qua đi, sẽ có sự đền đáp xứng đáng.”

– Phải, khi cơn điên rồ qua đi thì chắc chắn sẽ có sự đền đáp nhỉ? vị lạt-ma lầm bầm một mình.

– Thời đó người ta chẳng thèm phát huân chương cho bất cứ kẻ nào tình cờ nghe thấy tiếng súng nổ đâu. Không! Ta đã trải qua mười chín trận chiến lớn; bốn mươi sáu trận giao tranh kỵ binh; cùng vô số những cuộc chạm trán nhỏ lẻ khác. Ta mang trên mình chín vết thương; một huy chương kèm bốn thanh cài cùng huy chương của một Huân chương Hoàng gia, bởi vì các vị đại úy của ta, giờ đã lên chức tướng, vẫn nhớ đến ta khi Nữ hoàng Kaisar-i-Hind kỷ niệm năm mươi năm trị vì và toàn cõi đất nước hân hoan mừng lễ. Họ nói: “Hãy trao cho lão Huân chương Ấn Độ Anh.” Ta vẫn đeo nó trên cổ mình cho đến tận ngày nay. Ta còn có cả jaghir (khu đất được ban cấp) từ tay Nhà nước—một món quà vô điều kiện dành cho ta và con cháu. Những người của thời xưa cũ—giờ đã là các Phó Thống sứ—cưỡi ngựa băng qua các cánh đồng đến thăm ta—ngồi cao trên lưng ngựa để mọi người trong làng đều trông thấy—và chúng ta cùng nhau ôn lại những trận chiến cũ, cái tên của người đã khuất này lại dẫn dắt đến người đã khuất khác.

– Và sau đó thì sao? vị lạt-ma hỏi.

– Ồ, sau đó họ ra về, nhưng không quên để cho dân làng ta được chứng kiến.

– Và đến cuối cùng thì ông sẽ làm gì?

– Đến cuối cùng thì ta sẽ chết.

– Và sau đó?

– Hãy để các vị Thần định đoạt. Ta chưa từng làm phiền Ngài bằng những lời cầu nguyện. Ta không nghĩ các Ngài sẽ làm phiền ta đâu. Ngươi thấy đấy, trong suốt cuộc đời dài đằng đẵng của mình, ta nhận ra rằng những kẻ cứ mãi quấy rầy Các Đấng Bề Trên bằng những lời phàn nàn, báo cáo, gào thét và khóc lóc sẽ sớm bị triệu tập gấp, hệt như cách Đại tá của chúng ta từng gọi giật đám lính hạ đẳng quê mùa nói nhiều vậy. Không, ta chưa từng làm phiền các vị Thần. Các Ngài sẽ ghi nhớ điều này, và ban cho ta một góc yên tĩnh nơi ta có thể cắm ngọn giáo của mình trong bóng râm, và chờ đợi để chào đón những đứa con trai của ta: ta có không dưới ba đứa con đều mang hàm Rissaldar-major cả đấy—trong các trung đoàn.

– Và chúng cũng vậy, bị trói buộc trên Vòng Tròn, dắt díu nhau từ kiếp sống này sang kiếp sống khác—từ tuyệt vọng này đến tuyệt vọng khác, vị lạt-ma thì thầm, nóng nảy, bất an, vồ vập.

– Phải, lão cựu sĩ quan cười khùng khục. – Ba đứa con trai mang hàm Rissaldar-major trong ba trung đoàn. Dù có hơi máu cờ bạc một chút, nhưng ta cũng thế thôi. Chúng phải được trang bị ngựa tốt; và đâu thể lấy ngựa như cách người ta từng cướp phụ nữ thời xưa được. Thà rằng, mảnh đất của ta có thể cáng đáng tất cả. Ngươi nghĩ sao? Đó là một dải đất tươi tốt, nhưng đám nông dân dưới quyền lại hay qua mặt ta. Ta chẳng biết đòi hỏi thế nào nếu không dùng đến đầu mũi giáo cả. Hừm! Ta nổi giận và nguyền rủa chúng, tụi nó ra điều hối hận, nhưng sau lưng thì ta thừa biết chúng gọi ta là một lão khỉ già rụng hết răng.

– Ông chưa từng khao khát điều gì khác nữa sao?

– Có chứ—có chứ—cả ngàn lần! Một lần nữa lại được thẳng lưng và kẹp chặt đầu gối vào mạn sườn ngựa; một cổ tay linh hoạt và một ánh nhìn tinh anh; cùng với tủy sống cường tráng của một người đàn ông. Ôi, những ngày xưa cũ—những ngày tươi đẹp của sức mạnh thời trẻ!

– Sức mạnh ấy chính là sự yếu mềm.

– Nó đã trở thành như thế; nhưng năm mươi năm về trước thì ta có thể chứng minh điều ngược lại, lão cựu sĩ quan đáp trả, ấn mạnh mép bàn đạp vào mạn sườn gầy guộc của con ngựa lùn.

– Nhưng ta biết một Con Sông có khả năng chữa lành tuyệt vời.

– Ta đã uống nước sông Gunga đến mức phù cả người lên rồi. Tất cả những gì nó cho ta chỉ là một trận chảy máu ruột, chứ chẳng có tí sức lực nào sất.

– Đó không phải là Gunga. Con Sông mà ta biết gột rửa mọi vết nhơ của tội lỗi. Bước lên bờ bên kia, con người sẽ được đảm bảo về Sự Giải Thoát. Ta không rõ cuộc đời ngươi ra sao, nhưng gương mặt ngươi là gương mặt của một kẻ đáng kính và nhã nhặn. Ngươi đã bám trụ lấy Con Đường của mình, tỏ lòng trung thành ngay cả khi rất khó để thể hiện, vào Năm Đen Tối mà giờ đây ta lại nhớ thêm những câu chuyện khác. Giờ hãy bước lên Con Đường Trung đạo, chính là con đường dẫn đến Sự Giải Thoát. Hãy lắng nghe Giáo Pháp Tối Cao, và đừng đắm chìm trong những giấc mơ nữa.

– Hãy nói đi vậy, cụ già, người lính mỉm cười, nửa như chào kính. – Ở tuổi này ai mà chẳng lẩm cẩm nói nhiều.

Vị lạt-ma ngồi xổm dưới bóng râm của một tán cây xoài, nơi bóng lá hắt những vệt loang lổ lên khuôn mặt ngài; người lính ngồi cứng ngắc trên lưng ngựa; còn Kim, sau khi chắc chắn chẳng có con rắn nào quanh đây, bèn ngả lưng vào chạc của những rễ cây xoắn xuýt.

Có một thứ âm thanh vo ve ngái ngủ của muôn loài nhỏ bé dưới cái nắng oi ả, tiếng cu gù, và tiếng dồn dập buồn ngủ của những chiếc bánh xe nước ngoài đồng xa. Chầm chậm và đầy uy nghiêm, vị lạt-ma cất tiếng. Chỉ mười phút sau, lão cựu sĩ quan đã trượt khỏi lưng ngựa để nghe cho rõ hơn như lời lão nói, và ngồi với phần dây cương quấn quanh cổ tay. Giọng vị lạt-ma chùng xuống, những nhịp ngắt câu kéo dài hơn. Kim đang bận theo dõi một chú sóc xám. Khi chùm lông láu cá cứ áp chặt vào cành cây ấy biến mất, cả người giảng lẫn người nghe đều đã chìm sâu vào giấc ngủ, cái đầu góc cạnh của vị cựu sĩ quan gối lên cánh tay, còn đầu vị lạt-ma ngả ra sau tựa vào thân cây, trông chẳng khác nào một khối ngà voi ngả màu vàng úa. Một đứa trẻ trần truồng chập chững bước tới, trân trân nhìn, rồi bị thúc đẩy bởi một xung động tôn kính nào đó, liền cúi đầu vái chào vị lạt-ma một cách trang nghiêm—chỉ vì đứa trẻ quá lùn và bụ bẫm nên đã ngã nhào sang một bên, khiến Kim phải phì cười trước đôi chân mập mạp đang khua khoắng lung tung. Đứa trẻ hoảng sợ và tức tối, liền tru tréo lên.

– Này! Này! người lính vừa hét lên vừaồm chồm dậy. – Chuyện gì thế? Mệnh lệnh gì thế?... Lão tưởng là... một đứa trẻ! Ta cứ ngỡ có báo động cơ chứ. Nhóc con—nhóc con—đừng khóc nữa. Ta đã ngủ quên ư? Thật là bất lịch sự quá đi mất!

– Con sợ lắm! Con sợ lắm! đứa trẻ gào lên.

– Có gì mà phải sợ? Hai ông già và một đứa nhóc ư? Làm sao mà ngươi có thể trở thành một người lính được hỡi Tiểu vương tử?

Vị lạt-ma cũng đã tỉnh giấc, nhưng không thèm đếm xỉa gì đến đứa trẻ, ngài tiếp tục lần chuỗi tràng hạt.

– Cái gì thế kia? đứa trẻ hỏi, nấc cụt giữa chừng tiếng hét. – Ta chưa từng thấy thứ này bao giờ. Đưa nó cho ta đi.

– A ha, vị lạt-ma mỉm cười, vừa kéo lê một vòng tràng hạt trên thảm cỏ:

Đây là một nắm bạch đậu khấu,

Đây là một cục bơ ghi:

Đây là kê, ớt và cơm tẻ,

Một bữa tối ngon cho cả ngươi và ta!

Đứa trẻ reo lên thích thú, đưa tay chộp lấy những hạt tràng hạt tối màu đang lấp lánh.

– Ồ ho! lão cựu sĩ quan thốt lên. – Ngươi học được bài hát đó từ đâu thế, hỡi kẻ chối bỏ thế gian này?

– Ta học nó ở Pathânkot—khi đang ngồi trên bậc cửa, vị lạt-ma ngượng ngùng đáp. – Tử tế với trẻ nhỏ là một điều tốt.

– Theo như ta nhớ trước khi cơn buồn ngủ kéo đến, ngươi vừa bảo rằng hôn nhân và sinh nở là những thứ làm che mờ ánh sáng chân thực, là những vật cản trên Con Đường kia mà. Trẻ con từ trên Trời rơi xuống xứ của ngươi chắc? Hát hò cho chúng nghe cũng là một phần của Con Đường ấy sao?

– Chẳng có ai là hoàn hảo cả, vị lạt-ma nghiêm nghị đáp, vừa cuộn tròn lại chuỗi tràng hạt. – Giờ thì chạy về với mẹ đi cháu.

– Nghe ngài ấy nói kìa! người lính quay sang bảo Kim. – Ngài ấy đang xấu hổ vì vừa làm cho một đứa trẻ vui cười đấy. Chắc chắn đã có một người chủ gia đình tuyệt vời bị bỏ quên trong con người ngài mất rồi, người anh em ạ. Này nhóc! Lão tung cho nó một đồng pice. – Kẹo bánh lúc nào chẳng ngọt ngào. Và khi bóng dáng nhỏ bé ấy tung tăng chạy đi dưới ánh nắng: – Chúng lớn lên và trở thành những người đàn ông. Hô-lê Ôn, ta lấy làm tiếc vì đã ngủ quên giữa lúc ngài đang giảng đạo. Xin hãy tha thứ cho ta.

– Chúng ta đều là hai ông già, vị lạt-ma nói. – Lỗi là ở ta. Ta đã lắng nghe câu chuyện của ông về thế gian và những sự điên rồ của nó, để rồi lỗi này nối tiếp lỗi kia.

– Nghe ngài ấy kìa! Các vị Thần của ngài bị tổn hại gì khi chơi đùa với một đứa trẻ chứ? Và bài hát vừa rồi được hát rất hay đấy chứ. Lên đường thôi, ta sẽ hát cho ngài nghe bài hát về Nikal Seyn trước cổng Delhi—bài ca cổ ấy.

Và họ rời khỏi bóng râm của lùm xoài, giọng lão già cao vút, lanh lảnh vang lên khắp cánh đồng khi lão cất tiếng hát não nề kéo dài để thuật lại câu chuyện về Nikal Seyn [Nicholson]—bài hát mà người dân vùng Punjab vẫn còn truyền tụng cho đến ngày nay. Kim vô cùng thích thú, còn vị lạt-ma thì lắng nghe với một sự quan tâm sâu sắc.

– Ahi! Nikal Seyn đã chết—ông ấy chết trước khi đến Delhi! Hỡi những ngọn giáo phương Bắc, hãy trả thù cho Nikal Seyn. Lão ngân nga câu hát đến tận câu cuối cùng, dằn nhịp bằng chính phần sống kiếm đập vào mông con ngựa lùn.

– Và giờ thì chúng ta đã đến Con Đường Lớn, lão nói sau khi đón nhận những lời khen ngợi từ Kim; bởi vì vị lạt-ma vẫn giữ sự im lặng đáng chú ý. – Lâu lắm rồi ta không cưỡi ngựa qua đây, nhưng những lời nói của thằng bé đã khơi gợi lại trong ta bao cảm xúc. Nhìn kìa, Hô-lê Ôn—Con Đường Lớn chính là xương sống của toàn bộ xứ Hind. Phần lớn nó được che bóng mát, như ở đây này, bởi bốn hàng cây; phần đường ở giữa—toàn đá cứng—dành cho dòng giao thông hối hả. Những ngày trước khi có xe lửa, các Sahib thường di chuyển ngược xuôi qua đây với hàng trăm người. Giờ thì chỉ còn lại những chiếc xe bò nhà nông và những thứ tương tự thế. Bên trái và bên phải là phần đường gồ ghề hơn dành cho những cỗ xe nặng—chở ngũ cốc, bông vải, gỗ, cỏ khô, vôi và da thuộc. Đi lại ở đây rất an toàn vì cứ cách vài kos lại có một đồn cảnh sát. Lực lượng cảnh sát toàn là lũ ăn cướp và tống tiền (chính ta sẽ tuần tra nơi này bằng kỵ binh—những tân binh dưới sự chỉ huy của một viên đại sĩ quan cứng cỏi), nhưng ít ra chúng không dung túng cho bất kỳ kẻ cạnh tranh nào. Đủ mọi đẳng cấp và thành phần con người đều di chuyển ở đây.

– Nhìn kìa! Bà-la-môn và thợ da, chủ ngân hàng và thợ hàn, thợ cạo và dân buôn bán bunnia, hành hương và thợ gốm—tất cả muôn dân thiên hạ đều đổ về xuôi ngược. Đối với ta, nó giống như một dòng sông mà ta bị vớt ra hệt như một khúc gỗ sau trận lũ vậy.

Và quả thực Con Đường Lớn Grand Trunk Road là một cảnh tượng kỳ diệu. Nó chạy thẳng tắp, gánh vác không chút chen chúc lượng giao thông của cả xứ Ấn Độ suốt một nghìn rưỡi dặm—một dòng sông sự sống không nơi nào trên thế giới này sánh được. Họ ngắm nhìn đoạn đường được vòm lá xanh che phủ, lấm tấm bóng râm, với bề ngang màu trắng lấm tấm bóng người thong thả bước đi; và đồn cảnh sát hai gian nằm ở phía đối diện.

– Kẻ nào mang vũ khí chống lại luật pháp thế hả? một viên cảnh sát cất giọng cười lớn khi bắt gặp thanh gươm của lão cựu sĩ quan. – Chẳng lẽ lực lượng cảnh sát không đủ sức tiêu diệt lũ gian tà hay sao?

– Chính vì cảnh sát nên ta mới mua nó đấy, câu trả lời vang lên. – Mọi chuyện ở xứ Hind vẫn ổn cả chứ?

– Thưa Rissaldar Sahib, mọi thứ đều ổn.

– Ta giống như một cụ rùa già, ngươi thấy đấy, thò đầu ra khỏi bờ rồi lại rụt vào. Phải, đây chính là Con Đường của Hindustan. Mọi người đều đi qua con đường này...

– Đồ con heo, cái phần đường êm ái ấy là để cho mày nằm cào lưng chắc? Đứa con của mọi ả đàn bà đĩ thoã và là chồng của muôn vàn kẻ không biết liêm sỉ, mẹ mày đã dâng hiến cho quỷ sứ vì bị chính mẹ đẻ ả ta xúi giục. Mấy đời cô dì của mày chẳng ai có nổi một chiếc mũi tử tế! Còn con em gái mày—Cái thứ đầu óc đần độn của loài cú mèo nào đã xui mày đánh xe chắn ngang đường thế hả? Gãy bánh xe à? Thế thì nhận lấy một cú vỡ đầu rồi tự đem hai thứ đó về nhà mà thong thả gá lại với nhau nhé!

Giọng nói kèm theo tiếng quất roi hiểm độc phát ra từ một cột bụi cách đó năm mươi thước, nơi một cỗ xe bò vừa bị gãy trục. Một con ngựa cái Kathiawar cao gầy, với đôi mắt và lổ mũi bốc hỏa, lao vút ra từ đám đông đang kẹt cứng, khịt mũi và lùi lại khi người nài thúc nó phi nước đại dọc con đường để rượt đuổi một kẻ đang lớn tiếng la hét. Đó là một lão già cao lớn, râu tóc bạc phơ, ngồi trên lưng con thú hung hãn hệt như một phần cơ thể của nó, và liên tục quất những roi mang tính kỹ thuật vào người nạn nhân giữa những cú chồm lên.

Khuôn mặt lão cựu sĩ quan bừng sáng niềm tự hào. – Con trai ta đấy! lão ngắn gọn thốt lên, và cố gắng kéo cương để uốn cong cổ con ngựa cho thật đẹp mắt.

– Ta có phải là kẻ bị đánh trước mặt cảnh sát không hả? kẻ đánh xe khóc thét. – Công lý! Ta đòi Công lý—

– Ta có phải là kẻ bị chặn đường bởi một tên khờ lớn tiếng làm lật tung hàng vạn bao tải ngay dưới mõm một con ngựa tơ không hả? Đó là cách hủy hoại một con ngựa cái đấy.

– Hắn nói đúng. Hắn nói đúng. Nhưng lão ta bám theo mục tiêu sát sao thật đấy, lão cựu sĩ quan lẩm bẩm. Kẻ đánh xe chạy nhào vào gầm xe của mình và từ đó bắt đầu đe dọa đủ thứ kiểu trả thù.

– Bọn chúng đều là những gã đàn ông lực lưỡng, mấy đứa con trai của ông đấy chứ, viên cảnh sát điềm tĩnh nói, vừa dùng tăm xỉa răng.

Kẻ kỵ mã bồi thêm một nhát roi hiểm hóc cuối cùng rồi tiếp tục phi nước đại tiến lại gần.

– Cha ơi! Hắn kìm cương dừng lại cách đó mười thước rồi xuống ngựa.

Lão già phóng khỏi lưng ngựa trong chớp mắt, và họ ôm chầm lấy nhau hệt như tình cha con ở phương Đông.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.