Huynh đệ tôi quỳ gối (lời Kabir rằng vậy)
Trước tượng đá, tượng đồng theo lối tà, nghèo,
Nhưng trong tiếng người huynh đệ ấy,
Tôi nghe nỗi thống khổ không lời của chính mình.
Chúa của huynh ấy tùy thuộc vào Định mệnh —
Lời cầu nguyện của huynh ấy là của cả thế gian — và của tôi.
KABIR.
Khi trăng mọc, đám phu khuân vác thận trọng lên đường. Vị lama, được giấc ngủ và chút rượu tiếp thêm sức lực, chẳng cần gì ngoài bờ vai của Kim để dìu đi—một con người trầm lặng, sải bước nhanh nhẹn. Họ bám theo thảm cỏ rải đầy đá phiến suốt một vòng liền, vòng qua sườn của một vách núi bất tử, rồi leo lên một vùng đất mới hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm nhìn xuống thung lũng Chini. Một bãi chăn thả rộng lớn mọc ngược lên hình rẻ quạt hướng về phía tuyết vĩnh cửu. Dưới chân bãi cỏ ấy có lẽ là khoảng nửa mẫu đất bằng phẳng, trên đó dựng vài căn lều làm bằng đất và gỗ. Phía sau những căn lều ấy—vì theo kiểu miền núi, chúng nằm chênh vênh bên bờ vực thẳm—mặt đất sụt thẳng đứng xuống hai nghìn feet tới bãi rác Shamlegh, nơi chưa từng có dấu chân người đặt lên.
Đám đàn ông chẳng màng chia chiến lợi phẩm cho đến khi họ thấy vị lama đã được sắp xếp chỗ nằm ổn thỏa trong căn phòng đẹp nhất ở đây, với Kim đang xoa bóp chân cho ngài theo đúng phong cách của người Hồi giáo.
“Chúng ta sẽ mang thức ăn đến,” người đàn ông tộc Ao-chung nói, “cùng chiếc túi vải đỏ kilta. Đến rạng sáng sẽ chẳng còn ai để làm chứng, dù theo cách này hay cách khác. Nếu có thứ gì trong chiếc kilta mà không cần dùng đến—thì hãy nhìn đây!”
Hắn chỉ tay qua ô cửa sổ—mở ra khoảng không mênh mông ngập tràn ánh trăng phản chiếu từ lớp tuyết—rồi vứt ra ngoài một vỏ chai whisky trống không.
“Chẳng cần phải lắng nghe tiếng nó rơi đâu. Đây là tận cùng thế giới rồi,” hắn nói và bước ra ngoài. Vị lama nhìn ra ngoài, hai tay chống lên bệ cửa sổ, với đôi mắt rực sáng như những viên ngọc mắt mèo vàng óng. Từ cái vực thẳm khổng lồ trước mặt, những đỉnh núi trắng xóa vươn lên khao khát ánh trăng. Phần còn lại tối tăm như khoảng không giữa các vì sao.
“Những nơi này,” ngài chậm rãi nói, “quả thực là Miền núi của ta. Một con người nên sống như thế này, chênh vênh trên đỉnh thế giới, tách biệt khỏi nhữngmối ham muốn, để suy ngẫm về những điều lớn lao.”
“Vâng; nếu ngài có một đệ tử để pha trà, để gấp chăn lót đầu, và để xua đuổi những con bò đang đến kỳ đẻ.”
Một ngọn đèn khói than hắt hiu cháy trong hốc tường, nhưng ánh trăng vẹn toàn đã át hẳn đi; và trong thứ ánh sáng nhập nhòa ấy, khom mình bên chiếc túi đựng thức ăn và những chiếc chén, Kim di chuyển trông như một bóng ma cao lớn.
“Ai! Nhưng giờ đây khi ta đã để máu huyết lắng xuống, đầu óc ta vẫn còn đập và trống dồn, lại có một sợi dây thắt quanh gáy ta nữa.”
“Cũng phải thôi. Đó là một cú đánh mạnh. Cầu mong kẻ đã ra tay—”
“Nhưng nếu không vì những dục vọng của chính ta thì đã chẳng có điều ác nào xảy ra.”
“Điều ác nào cơ chứ? Ngài đã cứu những người Sahib khỏi cái chết mà họ đáng phải chịu trăm lần.”
“Bài học vẫn chưa được thấu đáo đâu, hỡi đệ tử.” Vị lama nằm nghỉ trên một chiếc chăn gấp gọn, trong khi Kim bước tới để làm công việc thường nhật buổi tối. “Cú đánh ấy chỉ là cái bóng trên một chiếc bóng mà thôi. Bản thân điều ác—dạo gần đây đôi chân ta mỏi mệt quá nhanh!—nó đã gặp phải điều ác trong chính ta: sự giận dữ, cơn thịnh nộ, và lòng ham muốn trả đũa. Những thứ đó đã khuấy động trong huyết quản ta, làm dấy lên sự hỗn loạn trong dạ dày ta, và làm lóa đi đôi tai ta.” Đến đây, ngài uống một ngụm trà đen nóng rẫy theo nghi thức, nhận chiếc chén nóng từ tay Kim. “Nếu ta không vướng bận dục vọng, cú đánh độc ác ấy hẳn chỉ gây ra tổn hại về thể xác—một vết sẹo, hay một vết bầm—vốn dĩ chỉ là ảo ảnh. Nhưng tâm trí ta không hề định tĩnh, bởi vì lòng ham muốn để cho người Spiti ra tay giết chóc đã tràn thẳng vào. Trong cuộc chiến chống lại lòng ham muốn ấy, tâm hồn ta đã bị xé toạc và bóp nghẹt vượt qua cả ngàn nhát đánh. Chỉ cho đến khi ta niệm lại những Lời Chúc Phúc” (ngài ý chỉ các bài kinh Phúc Âm Phật giáo) “ta mới đạt được sự bình tâm. Nhưng mầm mớu tội lỗi do sự bất cẩn trong khoảnh khắc đó gieo rắc vào người ta vẫn đang dẫn đến tận cùng kết cục của nó. Bánh xe luân hồi thật công minh, không lệch đi dù chỉ một sợi tóc! Hãy học lấy bài học này, hỡi đệ tử.”
“Nó quá cao siêu đối với con,” Kim lẩm bẩm. “Con vẫn còn hoảng hốt lắm. Con rất vui vì đã đánh gã đó.”
“Ta đã cảm nhận được điều đó, khi ngủ trên đầu gối ngươi ở khu rừng phía dưới. Nó làm ta bất an trong những giấc mơ—điều ác trong tâm hồn ngươi đã len lỏi qua tâm hồn ta. Dẫu vậy, mặt khác”—ngài nới lỏng chuỗi tràng hạt—”ta đã tạo được công đức khi cứu mạng hai con người—mạng sống của những kẻ đã đối xử tệ bạc với ta. Giờ đây ta phải thấu suốt Nguyên nhân của vạn vật. Con thuyền tâm hồn ta đang chao đảo.”
“Hãy ngủ đi, và lấy lại sức mạnh. Đó là điều khôn ngoan nhất.”
“Ta phải thiền định. Có một nhu cầu lớn lao hơn những gì ngươi biết.”
Cho đến tận rạng sáng, hết giờ này sang giờ khác, khi ánh trăng phai dần trên những đỉnh núi cao, và thứ từng là một dải đen kịt bọc lấy sườn những ngọn đồi xa xôi nay hiện ra thành những khu rừng xanh mướt dịu dàng, vị lama vẫn đăm đăm nhìn vào bức tường. Thỉnh thoảng ngài lại rên rỉ. Bên ngoài cánh cửa then cài, nơi những con bò cái chưng hửng đến tìm chuồng cũ của chúng, Shamlegh và đám phu khuân vác đắm chìm trong việc cướp bóc và sống trác táng. Người đàn ông tộc Ao-chung là thủ lĩnh của chúng, và một khi chúng đã mở đồ hộp của người Sahib ra và thấy rằng chúng rất ngon, chúng không dám quay đầu lại nữa. Bãi rác nhà bếp Shamlegh đã ôm trọn số hành lý.
Khi Kim, sau một đêm gặp những giấc mơ xấu, lén bước ra ngoài để đánh răng trong cái lạnh buổi sáng, một người phụ nữ mang khuôn mặt sáng sủa với chiếc khăn đội đầu nạm ngọc turquoise đã kéo anh sang một bên.
“Những kẻ khác đã đi rồi. Chúng để lại cho ngươi chiếc túi kilta này đúng như đã hứa. Ta không ưa người Sahib, nhưng đổi lại ngươi sẽ làm cho chúng ta một bùa hộ mệnh. Chúng ta không muốn Shamlegh nhỏ bé mang tiếng xấu vì cái—tai nạn đó. Ta chính là Người đàn bà Shamlegh.” Mụ nhìn anh bằng đôi mắt táo bạo, sáng rực, không giống cái liếc mắt lén lút thường thấy của những phụ nữ miền núi.
“Chắc chắn rồi. Nhưng phải làm trong bí mật.”
Mụ nhấc bổng chiếc túi kilta nặng trĩu lên như một thứ đồ chơi và vứt thẳng vào trong lều của mình.
“Ra ngoài và cài then cửa lại! Đừng để ai bén mảng tới cho đến khi xong việc,” Kim nói.
“Nhưng lát nữa—chúng ta có thể trò chuyện chứ?”
Kim lật úp chiếc túi kilta xuống sàn—một dòng thác các dụng cụ Đo đạc, sách vở, nhật ký, thư từ, bản đồ, và những bức thư từ kỳ lạ thơm phức của người bản địa. Ngay ở đáy túi là một chiếc túi thêu bọc một tài liệu được niêm phong, dát vàng và trang trí hoa văn lộng lẫy hệt như thứ mà một vị Vua gửi cho vị Vua khác. Kim nín thở vì sung sướng, và đánh giá tình hình theo quan điểm của một người Sahib.
“Sách thì ta không cần. Hơn nữa, đó là sách lô-ga-rít—chắc là về Đo đạc.” Anh đặt chúng sang một bên. “Thư từ thì ta không đọc được, nhưng Đại tá Creighton thì có. Tất cả phải được giữ lại. Bản đồ—họ vẽ bản đồ giỏi hơn ta—tất nhiên rồi. Tất cả các bức thư của người bản địa—ồ ho!—và đặc biệt là bức murasla.” Anh ngửi chiếc túi thêu. “Cái đó chắc là từ Hilás hoặc Bunár, và Hurree Babu đã nói đúng. Trơi đánh quỷ tha! Quả là một mẻ cá lớn. Ước gì Hurree có thể biết được... Mấy thứ còn lại phải vứt ra ngoài cửa sổ.” Anh sờ nắn một chiếc la bàn lăng kính tuyệt hảo và phần đỉnh lấp lánh của một chiếc máy kinh vĩ. Nhưng rốt cuộc, một người Sahib không thể cứ thế mà đi ăn trộm, và những thứ này có thể trở thành bằng chứng bất lợi sau này. Anh lọc ra từng mảnh bản thảo, từng tấm bản đồ, và những lá thư của người bản địa. Chúng gom thành một tập mềm mềm. Ba cuốn sách có gáy bọc sắt bị khóa lại, cùng năm cuốn sổ tay đã cũ, anh đặt sang một bên.
“Thư từ và bức murasla ta phải nhét vào bên trong áo và dưới thắt lưng, còn những cuốn sách viết tay ta phải bỏ vào túi đựng thức ăn. Nó sẽ nặng lắm đây. Không. Ta không nghĩ còn gì nữa đâu. Nếu có, lũ phu đã vứt nó xuống vực sâu rồi, nên thế là ổn. Giờ thì cô cũng đi đi.” Anh nhồi nhét lại vào chiếc túi kilta tất cả những thứ anh định tống khứ, rồi sức sào ném nó lên bệ cửa sổ. Cách đó một nghìn feet phía dưới là một dải sương mù dài, lười biếng, tròn trịa, vẫn chưa bị ánh nắng ban mai chạm tới. Cách đó một nghìn feet nữa là khu rừng thông trăm tuổi. Anh có thể thấy những ngọn cây xanh trông giống như một lớp rêu khi một cơn gió thốc làm loãng đám mây.
“Không! Ta không nghĩ sẽ có ai đi tìm ngươi đâu!”
Chiếc giỏ tròng trành nôn mửa toàn bộ đồ đạc bên trong khi rơi xuống. Chiếc máy kinh vĩ va phải một mỏm đá nhô ra và phát nổ như một quả đạn pháo; sách vở, lọ mực, hộp màu, la bàn, và thước kẻ hiện ra trong vài giây giống như một đàn ong. Rồi chúng biến mất; và mặc dù Kim, treo nửa người ra ngoài cửa sổ, căng hết đôi tai trẻ tuổi của mình, nhưng chẳng có một âm thanh nào vọng lên từ đáy vực.
“Năm trăm—một nghìn rupi cũng không mua nổi chúng,” anh đầy tiếc nuối nghĩ. “Thật là hoang phí quá đi, nhưng ta đã có tất cả những thứ khác của bọn họ—mọi thứ họ đã làm—hy vọng là thế. Giờ thì làm thế quái nào mà ta báo tin cho Hurree Babu đây, và phải làm quái gì bây giờ? Lại thêm ông già của ta đang ốm nữa. Ta phải bọc đám thư từ này vào vải dầu. Đó là việc đầu tiên phải làm—nếu không chúng sẽ bị ẩm mồ hôi mất... Mà ta lại lủi thủi có một mình!” Anh buộc chúng thành một gói gọn gàng, miết chặt lớp vải dầu cứng dính ở các góc, bởi cuộc đời lang bạt đã rèn cho anh tính ngăn nắp như một tay thợ săn kỳ cựu trong chuyện đường sá. Sau đó, anh cẩn trọng gấp đôi để xếp những cuốn sách xuống đáy túi đựng thức ăn.
Người phụ nữ gõ cửa.
“Nhưng ngươi có làm bùa hộ mệnh nào đâu,” mụ nói, đảo mắt nhìn xung quanh.
“Không cần thiết.” Kim đã hoàn toàn bỏ quên sự cần thiết của mấy lời tán gẫu kiểu phù thủy. Người phụ nữ cười trước sự bối rối của anh một cách suồng sã.
“Chẳng cần—cho ngươi. Ngươi có thể yểm bùa chỉ bằng một cái nháy mắt. Nhưng hãy nghĩ đến chúng ta, những con người khốn khổ khi ngươi đã đi rồi. Đêm qua bọn chúng say khướt cả nên chẳng nghe nổi lời một người phụ nữ. Ngươi không say chứ?”
“Ta là một tu sĩ.” Kim đã lấy lại được bình tĩnh, và vì mụ đàn bà chẳng có gì là không xinh đẹp, anh nghĩ tốt nhất là nên giữ oai phong của chức sắc.
“Ta đã cảnh báo bọn chúng rằng người Sahib sẽ nổi giận, sẽ tiến hành tra xét và làm báo cáo lên Tiểu vương. Ở đó còn có cả gã Babu đi cùng bọn họ. Lũ thư lại vốn dĩ lắm điều lắm.”
“Đó là tất cả nỗi phiền muộn của cô sao?” Kế hoạch hình thành trọn vẹn trong đầu Kim, và anh mỉm cười quyến rũ.
“Chưa hết đâu,” mụ ta nói, chìa ra một bàn tay nâu sần sùi chi chít những viên ngọc turquoise gắn trên bạc.
“Ta có thể giải quyết chuyện đó trong chớp mắt,” anh nhanh chóng nói tiếp. “Gã Babu chính là vị lương y (cô đã nghe nói về hắn chưa?) từng lang thang qua các vùng đồi núi ở Ziglaur. Ta biết hắn.”
“Hắn sẽ bán đứng vì tiền thưởng thôi. Người Sahib không thể phân biệt được người miền núi này với người miền núi khác, nhưng bọn Babu thì có mắt để nhìn đàn ông—và đàn bà.”
“Hãy mang cho hắn một lời nhắn từ ta.”
“Chẳng có gì là ta không làm vì ngươi cả.”
Anh thản nhiên đón nhận lời khen ngợi ấy, như những người đàn ông buộc phải thế ở những vùng đất mà phụ nữ là người chủ động tán tỉnh, bứt một trang từ cuốn sổ tay, và bằng một cây bút chì hóa học không phai, anh viết nguệch ngoạc bằng chữ Shikast—thứ chữ viết mà những đứa trẻ hư hay dùng để bậy bạ lên tường: “Tôi có tất cả những gì chúng đã viết: hình vẽ phong cảnh của chúng, và rất nhiều thư từ. Đặc biệt là bức murasla. Hãy bảo tôi phải làm gì. Tôi đang ở Shamlegh-dưới-Tuyết. Ông già đang ốm.”
“Mang cái này cho hắn. Nó sẽ ngậm chặt cái miệng hắn lại. Hắn không thể đi xa được đâu.”
“Thật đấy chứ. Bọn chúng vẫn đang ở trong khu rừng bên kia sườn núi. Bọn trẻ nhà chúng ta đã đi theo dõi từ lúc trời hửng sáng, và đã hô to tin tức khi chúng di chuyển.”
Kim lộ vẻ kinh ngạc; nhưng từ rìa bãi chăn cừu văng vẳng một tiếng reo cao vút như tiếng diều hâu. Một đứa trẻ chăn gia đình đã bắt được tín hiệu đó từ anh chị em ở phía bên kia sườn dốc dẫn đến thung lũng Chini.
“Chồng tôi cũng đang ở ngoài đó kiếm củi.” Mụ ta rút một nắm quả óc chó từ trong ngực áo, tách một quả thật khéo léo, rồi bắt đầu ăn. Kim giả vờ ngơ ngác hoàn toàn.
“Bộ ngươi không biết ý nghĩa của quả óc chó sao—hỡi thầy tu?” mụ thẹn thùng nói, và đưa cho anh những mảnh vỏ hạt.
“Nghĩ hay đấy.” Anh nhanh chóng nhét mảnh giấy vào giữa các mảnh vỏ.
“Cô có chút sáp nào để dán kín chúng lại trên bức thư này không?”
Người phụ nữ thở dài thành tiếng, và Kim dịu giọng.
“Sẽ không có tiền công cho đến khi việc được hoàn thành. Hãy mang cái này cho Babu, và nói rằng nó được gửi bởi Con trai của Bùa chú.”
“Ái! Thật đấy chứ! Thật đấy chứ! Bởi một pháp sư—người trông giống hệt như một Sahib.”
“Không, là Con trai của Bùa chú: và hãy hỏi xem có câu trả lời nào không.”
“Nhưng nhỡ hắn có ý định thô lỗ thì sao? Ta—ta sợ lắm.”
Kim cười lớn. “Hắn ta, ta dám chắc, đang rất mệt và rất đói. Miền núi là nơi ngủ chung lạnh lẽo lắm đấy. Này, hỡi mẹ của ta”—anh suýt thốt lên từ Mẹ, nhưng liền đổi thành Chị— “cô là một người phụ nữ khôn ngoan và sắc sảo. Đến lúc này thì tất cả các ngôi làng đều biết chuyện gì đã xảy ra với những người Sahib rồi chứ—hả?”
“Đúng vậy. Tin tức đã đến Ziglaur vào lúc nửa đêm, và đến ngày mai là tới Kotgarh. Các ngôi làng vừa sợ hãi vừa tức giận.”
“Không cần phải thế. Hãy bảo các làng cho những người Sahib ăn uống và để họ đi qua, trong bình yên. Chúng ta phải đưa họ rời khỏi thung lũng của chúng ta một cách êm thấm. Ăn cắp là một chuyện—giết người là chuyện khác. Gã Babu sẽ hiểu, và sẽ không có lời phàn nàn nào sau đó đâu. Mau lên. Ta phải chăm sóc sư phụ khi ngài thức dậy.”
“Đành vậy. Sau khi việc hoàn tất—ngươi đã nói thế phải không?—thì phần thưởng sẽ đến. Ta là Người đàn bà Shamlegh, và ta cai quản nơi này dưới sắc lệnh của Tiểu vương. Ta không phải kẻ rặn đẻ tầm thường đâu. Shamlegh là của ngươi: móng guốc, sừng và da, sữa và bơ. Lấy hay bỏ tùy ý.”
Mụ kiên quyết quay người leo lên dốc, những chiếc vòng cổ bằng bạc khua lanh lảnh trên bộ ngực nở nang, để đón ánh nắng mặt trời buổi sáng cách đó một nghìn rưỡi feet trên cao. Lần này Kim suy nghĩ bằng tiếng bản địa khi anh miết sáp vào các mép vải dầu của các gói đồ.
“Làm thế nào mà một người có thể tu hành theo Đạo hay theo Trò chơi Lớn khi cứ luôn bị phụ nữ quấy rầy thế này cơ chứ? Nào là cô gái ở bến phạn Akrola; nào là vợ của tay đầu bếp sau chuồng bồ câu—chưa kể đến những người khác—và giờ lại đến mụ này! Hồi còn là một đứa trẻ thì mọi chuyện còn ổn, nhưng giờ ta đã là một người đàn ông và họ vẫn không coi ta ra gì. Quả óc chó cơ đấy! Hô! Hô! Ở vùng Đồng bằng thì phải là quả hạnh nhân rồi!”
Anh bước ra ngoài để đi quyên góp từ dân làng—không phải bằng cái bát khất thực, vốn chỉ hợp với miền xuôi, mà theo phong cách của một vị vương tử. Dân số mùa hè của Shamlegh chỉ có ba gia đình—bốn phụ nữ và tám hoặc chín người đàn ông. Tất cả bọn họ đều đang say sưa với thịt hộp và đủ loại đồ uống pha tạp, từ thuốc quinine pha amoniac cho đến rượu vodka trắng, bởi vì họ đã húp trọn phần chiến lợi phẩm từ đêm hôm trước. Những chiếc lều kiểu lục địa tươm tất đã bị cắt xách và chia chác từ lâu, và khắp nơi bày la liệt những chiếc chảo nhôm cao cấp.
Nhưng họ coi sự hiện diện của vị lama là tấm khiên hoàn hảo chống lại mọi hậu quả, và không chút hối hận, họ mang đến cho Kim những thứ tốt nhất của mình—thậm chí cả một ly chang—thứ bia lúa mạch xuất phát từ vùng Ladakh. Rồi họ sưởi ấm dưới ánh mặt trời, ngồi thả chân lủng lẳng trên những vực thẳm vô tận, tán gẫu, cười đùa và hút thuốc. Họ đánh giá Ấn Độ và Chính phủ của nó hoàn toàn từ trải nghiệm về những vị Sahib lang thang từng thuê họ hoặc bạn bè họ làm thợ săn shikari. Kim nghe những câu chuyện về những phát súng trượt nhắm vào cừu ibex, sơn dương serow, hay linh dương markhor, bởi những tay Sahib đã chết từ hai mươi năm trước—mọi chi tiết đều sáng rực lên từ phía sau giống như nhữnghành cành cây ngọn cây nổi bật trên nền chớp sét. Họ kể cho anh nghe về những căn bệnh cỏn con của mình, và quan trọng hơn là bệnh dịch của đàn gia súc nhỏ bé, vững chân của họ; về những chuyến đi xa tận Kotgarh, nơi những nhà truyền giáo kỳ lạ sinh sống, và thậm chí vượt qua cả vùng Simla kỳ diệu, nơi đường phố được lát bằng bạc, và bất cứ ai, xin thưa, cũng có thể kiếm được việc làm với những người Sahib, những kẻ di chuyển trên những chiếc xe ngựa hai bánh và vung tiền như rác. Chẳng mấy chốc, với vẻ nghiêm nghị và xa cách, bước đi rất nặng nề, vị lama hòa mình vào buổi trò chuyện dưới mái hiên, và họ nhường cho ngài một khoảng trống lớn. Bầu không khí loãng làm ngài thấy sảng khoái, và ngài ngồi trên mép vực thẳm cùng với những người giỏi nhất trong số họ, và khi câu chuyện lắng xuống, ngài ném những hòn sỏi xuống vực sâu. Cách đó ba mươi dặm, theo đường chim bay, là dãy núi tiếp theo, bị cày xới, khoét rãnh và rỗ chằng chịt bởi những mảng rừng bụi nhỏ, mỗi mảng là một ngày hành quân tối tăm. Phía sau ngôi làng, ngọn đồi Shamlegh che khuất mọi tầm nhìn về phía nam. Cảm giác giống như đang ngồi trong cái tổ én dưới mái hiên của mái nhà thế giới.
Thỉnh thoảng vị lama lại đưa tay ra, và với vài lời gợi ý nhỏ nhẹ ngài chỉ ra con đường đến Spiti và hướng bắc băng qua đèo Parungla.
“Phía bên kia, nơi đồi núi tụ tập dày đặc nhất, chính là De-ch’en” (ngài ý chỉ Han-lé), “Tu viện lớn. s’Tag-stan-ras-ch’en đã xây dựng nó, và về ngài có câu chuyện này.” Thế rồi ngài kể lại: một câu chuyện hỗn độn, chồng chất về phép thuật và những điều kỳ diệu khiến Shamlegh phải há hốc mồm. Hơi dịch về phía tây một chút, ngài hướng tới những ngọn đồi xanh tươi của Kulu, và tìm kiếm Kailung dưới các dòng sông băng. “Bởi vì ta đã đến đó vào những ngày xửa ngày xưa. Ta từ Leh đến, vượt qua đèo Baralachi.”
“Vâng, vâng; chúng tôi biết chứ,” những người dân đi đây đi đó của Shamlegh nói.
“Và ta đã ngủ hai đêm với các tu sĩ ở Kailung. Đó là Miền núi của niềm vui đời ta! Những cái bóng được ban phước trên mọi cái bóng khác! Nơi đó mắt ta mở ra trước thế giới này; nơi đó mắt ta được khai sáng trước thế giới này; nơi đó ta tìm thấy Sự Giác ngộ; và nơi đó ta thắt lưng buộc bụng cho Cuộc Tìm kiếm của mình. Ta bước ra từ Miền núi—những ngọn đồi cao và những cơn gió mạnh. Ồ, Bánh xe thật công minh!” Ngài ban phước chi tiết cho từng thứ—những dòng sông băng vĩ đại, những khối đá trọc, những đống băng tích chồng chất và đá phiến lởm chởm; cao nguyên khô cằn, hồ muối ẩn giấu, gỗ ngàn năm và thung lũng nước ngọt phì nhiêu lần lượt từng thứ một, như một người sắp chết ban phước cho con cháu mình; và Kim kinh ngạc trước niềm đam mê của ngài.
“Vâng—vâng. Không có nơi nào bằng Miền núi của chúng ta,” người dân Shamlegh nói. Và họ đâm ra tự hỏi làm sao mà một con người có thể sống nổi ở vùng Đồng bằng nóng nực khủng khiếp nơi gia súc to lớn như voi, chẳng dùng được việc cày bừa trên sườn đồi; nơi làng nọ giáp làng kia, họ nghe nói, kéo dài cả trăm dặm; nơi người ta đi lại ăn cắp thành từng bầy, và những gì bọn cướp chừa lại thì Cảnh sát vơ vét sạch sành sanh.
Cứ thế buổi sáng tĩnh lặng trôi qua, và cuối cùng thì sứ giả của Kim từ dốc đá trượt xuống mà không hề hụt hơi chút nào so với lúc nàng xuất phát.
“Ta đã gửi một lời nhắn cho vị lương y,” Kim giải thích trong lúc nàng cúi đầu cung kính.
“Hắn ta đã nhập bọn với những kẻ thờ thần tượng sao? À phải, ta nhớ hắn đã chữa bệnh cho một kẻ trong số chúng. Hắn đã tạo được công đức, dẫu cho kẻ được chữa lành đã dùng sức mạnh của mình vào việc ác. Bánh xe luân hồi thật công minh! Còn vị lương y thì sao?”
“Con sợ rằng ngài đã bị bầm dập và—và con biết ngài rất khôn ngoan.” Kim cầm lấy vỏ quả óc chó được bịt sáp và đọc phần tiếng Anh ở mặt sau tờ ghi chú: Đã nhận được thư của ngài. Hiện không thể rời khỏi nhóm người hiện tại, nhưng sẽ đưa họ vào Simla. Sau đó, hy vọng được tái ngộ cùng ngài. Không tiện bám theo những quý ông đang nổi giận. Hãy quay về bằng con đường cũ ngài đã đi, và tôi sẽ đuổi theo kịp. Vô cùng thỏa mãn về vụ thư từ nhờ sự trù tính trước của tôi. “Ngài ấy nói, Hỡi Bậc Tôn Nghiêm, rằng ngài ấy sẽ trốn khỏi đám người thờ tượng và sẽ quay lại với chúng ta. Vậy chúng ta có nên đợi ở Shamlegh một lát không?”
Vị lama đăm đăm nhìn những ngọn đồi với vẻ trìu mến rồi lắc đầu.
“Không thể thế được, hỡi đệ tử. Từ tận xương tủy, ta thực sự khao khát điều đó, nhưng nó đã bị cấm đoán. Ta đã nhìn thấu Nguyên nhân của vạn vật.”
“Tại sao? Khi mà Miền núi ngày ngày ban lại cho ngài sức mạnh? Hãy nhớ rằng chúng ta đã từng yếu đuối và kiệt sức ở tận dưới vùng Doon kia mà.”
“Ta đã trở nên mạnh mẽ để làm điều ác và để quên đi. Ta từng là một kẻ gây sự và một tên côn đồ trên sườn đồi.” Kim cố cắn môi để không mỉm cười. “Bánh xe luân hồi thật công minh và hoàn hảo, không lệch đi dù chỉ một sợi tóc. Khi ta còn là một người đàn ông—từ rất lâu về trước—ta đã hành hương đến chỗ Guru Ch’wan giữa hàng cây dương” (ngài chỉ hướng Bhutan), “nơi họ giữ con Ngựa Thần.”
“Im đi, im đi nào!” đám người Shamlegh đồng thanh nói. “Ngài đang nhắc đến Jam-lin-nin-k’or, con Ngựa Có Thể Đi Vòng Quanh Thế Giới Trong Một Ngày.”
“Ta chỉ nói chuyện với đệ tử của ta mà thôi,” vị lama dịu dàng quở trách, và họ tản ra như lớp sương giá trên hiên nhà phía nam vào buổi sáng. “Ta không tìm kiếm chân lý trong những ngày tháng đó, mà chỉ tìm kiếm những cuộc tranh luận về giáo lý. Toàn là ảo ảnh! Ta đã uống bia và ăn bánh mì của Guru Ch’wan. Hôm sau có người nói: ‘Chúng ta đi ra ngoài để chiến đấu với Sangor Gutok ở phía dưới thung lũng nhằm khám phá’ (lại hãy chú ý xem Lòng ham muốn gắn liền với Sự giận dữ như thế nào!) ‘xem vị Trụ trì nào sẽ nắm quyền cai trị trong thung lũng và thu lấy lợi nhuận từ những lời kinh mà họ in ấn tại Sangor Gutok.’ Ta đã đi, và chúng ta đã chiến đấu suốt một ngày.”
“Nhưng bằng cách nào, hỡi Bậc Tôn Nghiêm?”
“Bằng những chiếc ống đựng bút dài của chúng ta như ta có thể cho ngươi thấy... Ta nói rằng, chúng ta đã chiến đấu dưới bóng những hàng cây dương, cả các Trụ trì và tất cả các tu sĩ, và có kẻ đã rạch trán ta đến tận xương. Nhìn này!” Ngài hất ngược chiếc mũ của mình ra và lộ ra một vết sẹo nhăn nheo, bạc phếch. “Bánh xe luân hồi thật công minh và hoàn hảo! Hôm qua vết sẹo cứ ngứa ngáy, và sau năm mươi năm, ta đã nhớ lại cách nó bị gây ra và khuôn mặt của kẻ đã ra tay; chìm đắm một chút trong ảo ảnh. Tiếp theo đó là những gì ngươi đã chứng kiến—sự tranh chấp và ngu muội. Bánh xe luân hồi thật công minh! Cú đánh của kẻ thờ tượng đã giáng trúng vào vết sẹo. Khi đó tâm hồn ta bị chấn động: tâm hồn ta trở nên tối tăm, và con thuyền tâm hồn ta chao đảo trên dòng nước của ảo ảnh. Cho đến khi ta đến được Shamlegh ta mới có thể thiền định về Nguyên nhân của vạn vật, hay truy tìm tận gốc rễ cỏ lan của Điều ác. Ta đã đấu tranh suốt cả đêm dài.”
“Nhưng, hỡi Bậc Tôn Nghiêm, ngài vô can trước mọi điều ác. Cầu mong con được làm vật hy sinh thay cho ngài!”
Kim thực sự đau buồn trước nỗi sầu khổ của ông lão, và câu cửa miệng của Mahbub Ali bất giác thốt ra.
“Vào lúc rạng đông,” vị lama nói tiếp với giọng trầm ngâm hơn, chuỗi tràng hạt trên tay lách cách kêu giữa những câu nói chậm rãi, “sự bừng ngộ đã đến. Nó ở ngay đây... Ta là một kẻ già nua... sinh ra ở núi, lớn lên bằng thức ăn của núi, mà lại không thể yên vị giữa Miền núi của mình. Ba năm ta bôn ba khắp đất Hind, nhưng—liệu đất đai có thể mạnh mẽ hơn Đất Mẹ sao? Cái thân xác ngu ngốc của ta khao khát Miền núi và những đỉnh tuyết của Miền núi, từ tận dưới kia. Ta đã nói, và điều đó là sự thật, Cuộc Tìm kiếm của ta là chắc chắn. Thế là, tại nhà của người phụ nữ Kulu, ta quay đầu hướng về núi, bị chính bản thân mình thuyết phục quá mức. Không có lỗi lầm gì ở vị lương y cả. Hắn—khi chạy theo Dục vọng—đã tiên đoán rằng Miền núi sẽ làm ta mạnh mẽ. Chúng đã tiếp thêm sức mạnh cho ta để làm điều ác, để quên đi Cuộc Tìm kiếm của mình. Ta đã đắm chìm trong sự sống và lòng ham muốn sống. Ta khao khát những con dốc hiểm trở để leo trèo. Ta bôn ba tìm kiếm chúng. Ta đem sức mạnh của thể xác vốn dĩ đầy tội lỗi của mình ra so kè với Miền núi cao ngất, ta chế nhạo ngươi khi hơi thở của ngươi đứt quãng dưới chân Jamnotri. Ta cười cợt khi ngươi không dám đối mặt với tuyết trên đỉnh đèo.”
“Nhưng có hại gì đâu? Con đã sợ hãi mà. Đó là điều công bằng. Con không phải người miền núi; và con yêu quý ngài vì sức mạnh mới của ngài.”
“Hơn một lần ta nhớ rằng”—ngài chống cằm với vẻ đau khổ—“ta đã tìm kiếm lời khen ngợi từ ngươi và vị lương y chỉ vì sức mạnh đơn thuần của đôi chân mình. Cứ thế điều ác nối tiếp điều ác cho đến khi cái chén đã tràn đầy. Bánh xe luân hồi thật công minh! Cả xứ Hind trong ba năm đã dành cho ta mọi sự tôn kính. Từ Suối nguồn Trí tuệ trong Ngôi nhà Kỳ diệu cho đến”—ngài mỉm cười—“một đứa trẻ đang chơi đùa bên khẩu đại bác lớn—thế giới đã dọn đường cho ta. Và tại sao?”
“Bởi vì chúng con yêu quý ngài. Đó chỉ là cơn sốt do cú đánh thôi. Chính con đây cũng vẫn còn mệt mỏi và hoảng hốt.”
“Không! Đó là bởi vì ta đang ở trên Con đường—được hòa nhịp như những chiếc ti-nen (chũm chọe) với mục đích của Luật pháp. Ta đã đi chệch khỏi quy chuẩn đó. Giai điệu đã bị đứt đoạn: và hình phạt theo sau. Ngay trên Miền núi của ta, bên bờ cõi quê hương ta, ngay tại nơi chốn của lòng ham muốn tội lỗi ta, cú giáng búa giáng xuống—ở đây!” (Ngài chạm tay lên trán.) “Giống như một chú tiểu bị đánh đòn khi đặt nhầm chén, ta cũng bị trừng phạt, ta—kẻ từng là Trụ trì của Such-zen. Ngươi thấy đấy, không một lời nói, chỉ là một cú đánh thôi, hỡi đệ tử.”
“Nhưng những người Sahib đâu có biết ngài, hỡi Bậc Tôn Nghiêm?”
“Chúng ta rất xứng đôi vừa lứa. Sự Vô minh và Lòng ham muốn đã gặp gỡ Sự Vô minh và Lòng ham muốn trên đường đi, và chúng sinh ra Sự giận dữ. Cú đánh là một dấu hiệu đối với ta—kẻ chẳng khác gì một con yak đi lạc—rằng chỗ của ta không ở đây. Kẻ nào đọc được Nguyên nhân của một hành động thì đã đi được nửa đường đến Giải thoát! ‘Hãy quay lại con đường,’ cú đánh lên tiếng. ‘Miền núi không dành cho ngươi. Ngươi không thể chọn Sự giải thoát mà lại đi làm nô lệ cho sự ham muốn của đời sống.’”
“Ước gì chúng ta chưa từng gặp gỡ tên Nga ngố chết tiệt đó!”
“Chính Đức Bản Sư của chúng ta cũng không thể làm cho Bánh xe quay ngược lại. Và vì công đức mà ta đã tạo dựng, ta lại nhận thêm được một dấu hiệu nữa.” Ngài thọc tay vào trong áo, rút ra Bánh xe Cuộc đời. “Nhìn kìa! Ta đã ngẫm nghĩ về điều này sau khi thiền định. Không còn lại gì ngoài bề rộng một móng tay của ta là chưa bị kẻ thờ tượng xé rách.”
“Con hiểu rồi.”
“Khoảng thời gian tồn tại của ta trong thân xác này chỉ có thế. Ta đã phụng sự Bánh xe suốt những ngày qua. Giờ đây Bánh xe đang phụng sự ta. Nhưng nếu không vì công đức ta đã tích lũy được trong việc dẫn dắt ngươi trên Con đường, ta hẳn đã phải chịu thêm một kiếp sống nữa trước khi tìm thấy Dòng sông của mình. Ngươi có thấy rõ điều đó không, hỡi đệ tử?”
Kim trân trân nhìn tấm biểu đồ bị xé rách một cách tàn nhẫn. Vết rách chạy xéo từ trái sang phải—từ Ngôi nhà thứ Mười một nơi Dục vọng sinh ra Đứa trẻ (như cách vẽ của người Tây Tạng)—bắt qua thế giới loài người và loài vật, đến Ngôi nhà thứ Năm—Ngôi nhà trống rỗng của Lục giác quan. Lập luận đó hoàn toàn không thể chối cãi.
“Trước khi Đức Bản Sư của chúng ta đạt được Sự Giác ngộ”—vị lama cung kính cuộn tất cả lại—“Ngài đã bị cám dỗ. Ta cũng đã bị cám dỗ, nhưng mọi chuyện đã chấm dứt. Mũi tên đã rơi xuống ở vùng Đồng bằng—chứ không phải ở Miền núi. Thế thì, chúng ta còn làm gì ở đây nữa?”
“Ít nhất chúng ta có nên đợi vị lương y không?”
“Ta biết mình sẽ sống trong thân xác này bao lâu nữa. Vị lương y có thể làm gì chứ?”
“Nhưng ngài đang mệt mỏi và hoảng hốt thế kia. Ngài không thể đi bộ được đâu.”
“Làm sao ta có thể bệnh tật khi ta nhìn thấy Sự giải thoát?” Ngài lảo đảo đứng dậy.
“Vậy con phải lấy thức ăn từ trong làng. Ôi, Con đường mệt mỏi này!” Kim cảm thấy chính bản thân anh cũng cần được nghỉ ngơi.
“Điều đó là hợp lẽ. Hãy ăn rồi đi thôi. Mũi tên đã rơi xuống ở vùng Đồng bằng... nhưng ta đã khuất phục trước Dục vọng. Hãy chuẩn bị đi, hỡi đệ tử.”
Kim quay sang người phụ nữ đội chiếc mũ nạm ngọc turquoise, nãy giờ vẫn đang thơ thẩn ném những hòn sỏi qua vách đá. Mụ mỉm cười rất đỗi dịu dàng.
“Ta tìm thấy hắn ta như một con trâu đi lạc trong ruộng ngô—gã Babu ấy; đang khịt mũi và hắt hơi vì lạnh. Hắn đói đến nỗi quên sạch cả sĩ diện và nói với ta những lời ngọt ngào. Người Sahib chẳng có gì cả.” Mụ xòe một bàn tay trống không. “Có kẻ bị đau bụng nặng lắm. Việc của ngươi đấy à?”
Kim gật đầu, ánh mắt sáng ngời.
“Ta đã nói chuyện với gã người Bengal trước—rồi sau đó mới nói với người của một ngôi làng gần đây. Người Sahib sẽ được cho ăn tùy theo nhu cầu của họ—và dân làng cũng sẽ không đòi tiền đâu. Chiến lợi phẩm đã được chia xong xuôi rồi. Gã Babu đang nói dối những người Sahib đó thôi. Sao hắn không chịu rời bỏ họ nhỉ?”
“Vì sự vĩ đại trong trái tim hắn.”
“Chưa từng có gã người Bengal nào có trái tim to hơn một quả óc chó khô cả. Nhưng không sao... Giờ nói đến chuyện quả óc chó. Sau khi làm dịch vụ thì phải có phần thưởng. Ta đã nói ngôi làng này là của ngươi rồi mà.”
“Đó là sự tổn thất cho con,” Kim bắt đầu. “Ngay từ lúc này con đã lên những kế hoạch vô cùng vừa ý trong lòng mà”—chẳng cần phải trải qua những lời xã giao thông thường trong những dịp này. Anh thở dài một hơi thật sâu... “Nhưng sư phụ con, bị dẫn dắt bởi một khải thị—”
“Hừ! Mắt kẻ già thì thấy được gì ngoài cái bát khất thực đầy ắp chứ?”
“—đang quay lưng khỏi ngôi làng này để trở lại vùng Đồng bằng.”
“Hãy bảo ngài ấy ở lại đi.”
Kim lắc đầu. “Ta hiểu Bậc Tôn Nghiêm của ta, và cơn thịnh nộ của ngài nếu bị trái ý,” anh đáp với giọng đầy vẻ ấn tượng. “Những lời nguyền của ngài có thể làm rung chuyển cả Miền núi.”
“Tiếc là chúng đã không cứu ngài ấy khỏi một cái đầu mẻ! Ta nghe nói ngươi chính là kẻ mang trái tim hổ báo đã đánh người Sahib đó. Cứ để ngài ấy mơ mộng thêm một lát đi. Ở lại đi!”
“Hỡi người đàn bà miền núi,” Kim nói, với vẻ trang nghiêm không thể che lấp những đường nét trên khuôn mặt bầu bĩnh tuổi trẻ của anh, “những vấn đề này quá cao siêu đối với cô.”
“Xin các vị thần phù hộ chúng ta! Từ khi nào mà đàn ông và đàn bà lại khác với đàn ông và đàn bà cơ chứ?”
“Một tu sĩ vẫn là một tu sĩ. Ngài ấy nói ngài ấy sẽ lên đường ngay giờ phút này. Ta là đệ tử của ngài, và ta đi cùng ngài. Chúng ta cần thức ăn cho Đường đi. Ngài ấy là một vị khách quý ở tất cả các ngôi làng, nhưng”—anh phì cười một nụ cười rạng rỡ đúng chất thiếu niên— “đồ ăn ở đây rất ngon. Cho ta một ít đi.”
“Nhỡ ta không cho ngươi thì sao? Ta là chủ nhân của ngôi làng này đấy.”
“Thế thì ta nguyền rủa cô—một chút thôi—không nhiều lắm, nhưng đủ để cô phải nhớ.” Anh không kìm được nụ cười.
“Ngươi vừa nguyền rủa ta bằng cái chớp mắt cụp xuống và cái cằm hếch lên rồi đấy. Lời nguyền ư? Ta thèm quan tâm gì đến dăm ba cái lời nói suông chứ?” Mụ siết chặt hai bàn tay trước ngực... “Nhưng ta không muốn ngươi ra đi trong giận dữ, mà mang theo ấn tượng xấu về ta—một kẻ đi nhặt phân bò và cỏ ở Shamlegh, nhưng vẫn là một người phụ nữ có gia thế.”
“Ta chẳng nghĩ gì cả,” Kim nói, “ngoại trừ việc ta buồn rầu vì phải đi, bởi ta rất mệt mỏi; và rằng chúng ta cần thức ăn. Đâu là chiếc túi?”
Người phụ nữ giật lấy nó với vẻ tức giận. “Ta thật ngốc nghếch,” mụ lẩm bẩm. “Người phụ nữ của ngươi ở vùng Đồng bằng là ai thế? Da trắng hay da đen? Ta từng trắng trẻo lắm đấy. Ngươi cười cái gì? Ngày xửa ngày xưa, nếu ngươi có thể tin được, một người Sahib từng nhìn ta bằng ánh mắt ưu ái. Ngày xửa ngày xưa, ta từng mặc âu phục ở ngôi nhà truyền giáo đằng kia.” Mụ chỉ về phía Kotgarh. “Ngày xửa ngày xưa. Ta từng là người Ki-tô và nói tiếng Anh—hệt như cách người Sahib nói vậy. Phải. Người Sahib của ta nói ông ấy sẽ quay lại và cưới ta—phải, cưới ta. Ông ấy đi mất—ta từng chăm sóc khi ông ấy ốm đau—nhưng ông ấy không bao giờ quay lại nữa. Khi đó ta nhận ra rằng các vị thần của người Ki-tô chỉ là dối trá, và ta quay trở về với người của mình... Ta chưa từng nhìn thấy một người Sahib nào kể từ đó. (Đừng cười ta. Cơn cuồng nộ đã qua rồi, tiểu tu sĩ ạ.) Khuôn mặt, dáng đi và cách nói chuyện của ngươi làm ta nhớ đến người Sahib của mình, dù ngươi chỉ là một kẻ khất thực lang thang mà ta bố thí cho chút quà. Nguyền rủa ta ư? Ngươi chẳng thể nguyền rủa hay ban phước cho ai được đâu!” Mụ chống tay lên hông và cười một cách cay đắng. “Các vị thần của ngươi là dối trá; việc làm của ngươi là dối trá; lời nói của ngươi là dối trá. Chẳng có vị thần nào dưới các tầng trời này cả. Ta biết điều đó... Nhưng có lúc ta đã tưởng đó là người Sahib của ta quay về, và ông ấy chính là vị thần của ta. Phải, có lần ta đã tấu một bản nhạc trên cây đàn piano ở ngôi nhà truyền giáo tại Kotgarh. Giờ thì ta đi bố thí cho những vị tu sĩ thờ thần tà.” Mụ kết thúc bằng một từ tiếng Anh, rồi thắt miệng chiếc túi đang căng phồng lại.
“Ta đợi ngươi đấy, hỡi đệ tử,” vị lama lên tiếng, dựa người vào khung cửa.
Người phụ nữ quét ánh mắt nhìn dọc thân hình cao lớn. “Hắn đi bộ á? Hắn không đi nổi nửa dặm đâu. Những chiếc xương già nua này định đi về đâu chứ?”
Đến lúc này Kim, vốn đã bối rối trước sự suy sụp của vị lama và tiên liệu được sức nặng của chiếc túi, liền thực sự nổi giận.
“Việc đó có can hệ gì đến cô, người đàn bà mang điềm gở, ngài đi đâu chứ?”
“Chẳng có gì—nhưng có can hệ với ngươi đấy, hỡi tu sĩ có khuôn mặt của người Sahib. Ngươi sẽ cõng ngài ấy trên vai chắc?”
“Ta đi về vùng Đồng bằng. Không ai được cản đường ta quay về. Ta đã đấu tranh với tâm hồn mình cho đến khi kiệt quệ. Thân xác ngu ngốc này đã rã rời, và chúng ta thì còn cách xa vùng Đồng bằng lắm.”
“Nhìn đây!” mụ nói một cách đơn giản, rồi bước tránh sang một bên để Kim thấy rõ sự bất lực hoàn toàn của mình. “Ngươi cứ nguyền rủa ta đi. Biết đâu nó lại cho ngài ấy sức mạnh. Hãy làm phép đi! Cầu xin vị thần vĩ đại của ngươi đi. Ngươi là tu sĩ cơ mà.” Mụ quay lưng bỏ đi.
Vị lama đã ngồi sụp xuống một cách mềm nhũn, vẫn bấu lấy khung cửa. Người ta không thể đánh gục một ông lão để rồi bắt ông ấy hồi phục lại nhanh chóng như một cậu thiếu niên chỉ sau một đêm. Sự yếu đuối đã quật ngã ngài xuống đất, nhưng đôi mắt dán chặt vào Kim vẫn tràn đầy sự sống và khẩn cầu.
“Mọi chuyện đều ổn cả,” Kim nói. “Chính bầu không khí loãng đã làm ngài suy yếu đấy thôi. Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ đi! Đó là chứng bệnh say độ cao. Chính con đây cũng thấy hơi khó chịu ở dạ dày mà,”—và anh quỳ xuống, an ủi bằng những lời lẽ vụng về thốt ra đầu tiên trong tâm trí. Rồi người phụ nữ quay lại, dáng người trông còn thẳng thớm hơn trước.
“Các vị thần của ngươi vô dụng lắm phải không? Thử thần của ta xem sao. Ta là Người đàn bà Shamlegh đây.” Mụ hô lên một tiếng khàn khàn, và từ trong chuồng bò bước ra hai người chồng của mụ cùng ba người khác mang theo một chiếc dooli, một thứ cáng thô sơ bản địa của miền núi, chuyên dùng để khiêng người bệnh và trong những chuyến viếng thăm trọng thể. “Mấy con trâu nước này”—mụ chẳng thèm liếc nhìn bọn họ—”cứ để cho ngươi dùng chừng nào còn cần thiết.”
“Nhưng chúng ta sẽ không đi đường Simla đâu. Chúng ta sẽ không đến gần người Sahib đâu,” người chồng thứ nhất kêu lên.
“Họ sẽ không bỏ chạy như những kẻ khác đã làm, cũng không ăn cắp hành lý đâu. Hai người kia ta biết là tay chân yếu đuối. Ra đứng ở cán cáng phía sau đi, Sonoo và Taree.” Bọn họ tuân lệnh một cách nhanh chóng. “Hạ xuống nào, rồi khiêng vị thánh nhân đó vào. Ta sẽ trông nom ngôi làng và những người vợ ngoan hiền của các ngươi cho đến khi các ngươi trở về.”
“Khi nào thì bọn tôi về?”
“Đi mà hỏi các tu sĩ ấy. Đừng có làm phiền ta nữa. Đặt túi thức ăn ở phía chân ấy, để vậy sẽ thăng bằng hơn.”
“Ôi, Bậc Tôn Nghiêm, Miền núi của ngài còn nhân hậu hơn cả vùng Đồng bằng của chúng ta!” Kim kêu lên với vẻ nhẹ nhõm, khi vị lama lảo đảo bước lên chiếc cáng. “Đó đúng là một chiếc giường của nhà vua—một nơi đầy danh dự và thoải mái. Và chúng ta nợ điều đó—”
“Một người đàn bà mang điềm gở. Ta cần những lời chúc phúc của ngươi cũng nhiều như những lời nguyền rủa vậy. Đó là lệnh của ta chứ chẳng phải của ngươi. Khiêng lên và đi đi! Này! Ngươi có tiền tiêu dọc đường không?”
Mụ vẫy gọi Kim đến túp lều của mình, rồi cúi người xuống lục lọi chiếc hộp đựng tiền bằng thiếc đã móp méo đặt dưới chiếc giường chõng của mụ.
“Ta không cần gì cả,” Kim nói, vừa tức giận vừa cảm thấy lẽ ra mình phải biết ơn.
“Ta đã mang trên mình quá nhiều ân huệ rồi.”
Mụ ngước lên với một nụ cười kỳ lạ và đặt một tay lên vai anh. “Ít nhất, hãy cảm ơn ta đi. Ta mặt mộc kém sắc và là một phụ nữ miền núi, nhưng theo cách nói của các người, ta đã tích lũy được chút công đức. Ta có thể cho ngươi thấy cách người Sahib nói lời cảm ơn không?” và đôi mắt sắc lạnh của mụ dịu lại.
“Ta chỉ là một tu sĩ lang thang,” Kim nói, đôi mắt ánh lên vẻ đáp lời. “Cô chẳng cần lời chúc phúc hay lời nguyền rủa nào của ta cả.”
“Không. Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc nhỏ—ngươi có thể đuổi kịp chiếc cáng chỉ trong mười bước chân—nếu ngươi là một Sahib, ta có nên cho ngươi thấy ngươi sẽ làm gì không?”
“Nhưng nhỡ ta đoán trúng thì sao nhỉ?” Kim nói, rồi vòng tay ôm lấy eo mụ, hôn lên má mụ và nói thêm bằng tiếng Anh: “Cảm ơn rất nhiều nhé, người yêu của tôi.”
Hôn hít là một hành động gần như không có người châu Á nào thực hiện, có lẽ đó là lý do khiến mụ ngả người ra sau với đôi mắt mở lớn và khuôn mặt đầy vẻ hoảng loạn.
“Lần tới,” Kim nói tiếp, “cô không được phép quá tin tưởng vào những vị tu sĩ thờ thần tà của mình đâu đấy. Giờ thì ta nói lời tạm biệt.” Anh chìa tay ra theo phong cách Anh quốc. Mụ máy móc đón lấy. “Tạm biệt nhé.”
“Tạm biệt, và—và”—mụ đang cố nhớ lại từng từ tiếng Anh một—”ngươi sẽ quay lại chứ? Tạm biệt, và—Chúa phù hộ cho ngươi.”
Nửa giờ sau, khi chiếc cáng kẽo kẹt xóc nảy trên con đường mòn trên núi dẫn về phía đông nam từ Shamlegh, Kim nhìn thấy một bóng người nhỏ xíu ở cửa lều đang vẫy vẫy một mảnh khăn trắng.
“Mụ ấy đã tích lũy được công đức vượt trên tất cả mọi người,” vị lama nói. “Bởi vì việc đưa một người bước lên con đường dẫn đến Sự giải thoát cũng lớn lao bằng một nửa so với việc chính mụ tự mình tìm thấy nó.”
“Ừm,” Kim trầm ngâm nói, nghĩ về quá khứ. “Biết đâu ta cũng tích lũy được chút công đức... Ít nhất thì mụ ấy không đối xử với ta như một đứa trẻ.” Anh xốc lại vạt áo trước, nơi cất giấu tập tài liệu và bản đồ, cất lại chiếc túi đựng thức ăn quý giá vào dưới chân vị lama, đặt tay lên thành cáng, rồi lê bước theo nhịp điệu chậm chạp của những người đàn ông đang cse thở phì phò.
“Bọn họ cũng đang tích lũy công đức đấy,” vị lama nói sau khi đi được ba dặm.
“Hơn thế nữa, họ sẽ được trả bằng bạc,” Kim đáp. Người đàn bà Shamlegh đã đưa nó cho anh; và anh lý luận rằng, việc những người đàn ông của mụ kiếm lại được số tiền đó là hoàn toàn công bằng.