Suốt một khoảng thời gian dài — chắc phải đến hai tiếng đồng hồ — chúng tôi cứ ngồi lặng thấu trong căn lều, quá đỗi bàng hoàng trước những cảnh tượng hãi hùng vừa mục kích nên chẳng ai nói nên lời. Cuối cùng, khi chúng tôi đang toan đi nghỉ — bởi trời đêm đã ngả về sáng — thì bỗng nghe có tiếng bước chân. Tiếp đó là lời gác xách của một lính canh tại cổng khu trại, dường như đã được đáp lại dẫu không rõ tiếng, vì tiếng bước chân vẫn tiến lại gần; và chỉ một tích tắc sau, Infadoos đã bước vào lều, theo sau là khoảng nửa tá tù trưởng với dáng vẻ đường bệ.
“Thưa các ngài,” ông ta cất lời, “tôi đã đến theo lời hứa. Hỡi các ngài và Ignosi, vị vua hợp pháp của xứ Kukuanas, ta đã đưa theo đây những con người này,” vừa nói ông vừa chỉ về phía hàng tù trưởng, “họ là những nhân vật lớn trong tộc chúng ta, mỗi người nắm quyền chỉ huy ba ngàn chiến binh, những kẻ chỉ sống để tuân lệnh họ, dưới quyền của nhà vua. Ta đã kể cho họ nghe những gì mắt thấy tai nghe. Giờ đây, xin hãy để họ cũng được chiêm ngưỡng con rắn thiêng quanh ngài, và nghe câu chuyện của ngài, hỡi Ignosi, để họ có thể quyết định xem có cùng ta đứng lên chống lại vua Twala hay không.”
Đáp lại, Ignosi một lần nữa cởi thắt lưng, để lộ hình xăm con rắn quấn quanh người. Từng vị tù trưởng lần lượt bước lại gần, dưới ánh đèn mập mờ, họ quan sát dấu hiệu ấy rồi lầm lũi bước sang một bên mà không thốt nửa lời.
Đoạn, Ignosi mặc lại tấm moocha và cất lời thuật lại cho họ nghe câu chuyện mà anh đã kể vào buổi sáng.
“Giờ thì các vị đã nghe rồi đấy, các tù trưởng,” Infadoos nói sau khi Ignosi dứt lời, “các vị nghĩ sao: sẽ đứng về phía con người này và giúp ngài ấy giành lại ngai vàng của cha mình, hay không? Xương máu của đất nước đang oán thán Twala, máu của nhân dân tuôn chảy như dòng nước mùa xuân. Đêm nay các vị đã chứng kiến rồi đấy. Vẫn còn hai vị tù trưởng khác mà ta tính sẽ bàn bạc cùng, nhưng giờ họ đang ở đâu? Lũ linh cẩu đang tru lên trên những xác chết của họ. Chẳng mấy chốc các vị cũng sẽ thành ra như thế nếu không vùng lên. Vậy hãy chọn đi, hỡi những người anh em của ta.”
Người lớn tuổi nhất trong sáu vị, một chiến binh vạm vỡ, thấp người với mái tóc bạc phơ, bước lên một bước rồi đáp lời—
“Lời của ngươi quả thật chí lý, Infadoos; đất nước đang kêu gào oán thán. Chính anh ruột của ta cũng nằm trong số những kẻ đã bỏ mạng đêm nay; nhưng đây là một việc trọng đại, và thật khó mà tin nổi. Làm sao chúng ta biết chắc rằng nếu mình giơ giáo, thì đó không phải vì một kẻ trộm và một kẻ dối trá? Ta nhắc lại, đây là chuyện lớn, chẳng ai đoán trước được kết cục. Hãy nhớ cho kỹ điều này, máu sẽ chảy thành sông trước khi mọi việc hoàn thành; vẫn sẽ có nhiều kẻ trung thành với nhà vua, bởi con người ta thường sùng bái mặt trời đang tỏa rọi chói chang trên cao hơn là vầng thái dương chưa mọc. Những người da trắng đến từ Các Vì Sao ấy, phép thuật của họ thật cao cường, và Ignosi đang được đôi cánh của họ che chở. Nếu ngài ấy quả thực là vị vua hợp pháp, hãy để họ cho chúng ta một dấu hiệu, và hãy để người dân thấy được một dấu hiệu, để tất cả đều tường tận. Có thế thì người ta mới theo chúng ta, vì biết chắc rằng phép thuật của người da trắng đang đồng hành cùng họ.”
“Các người đã có dấu hiệu con rắn rồi còn gì,” tôi đáp.
“Thưa ngài, chừng đó hãy còn chưa đủ. Con rắn ấy hoàn toàn có thể được xăm từ khi người này còn nhỏ. Hãy cho chúng tôi thấy một dấu hiệu, thế là đủ. Bằng không, chúng tôi sẽ chẳng nhúc nhích nửa bước nếu không có dấu hiệu rõ ràng.”
Những người còn lại đều đồng tình quả quyết, và tôi đành bối rối quay sang Sir Henry cùng Good để giải thích tình hình.
“Tôi nghĩ là mình có cách rồi đây,” Good hớn hở nói; “hãy bảo họ cho chúng ta chút thời gian suy nghĩ.”
Tôi làm theo, và các tù trưởng liền cáo lui. Ngay khi họ vừa đi khuất, Good liền tiến đến chiếc hộp nhỏ đựng dụng cụ y tế, mở khóa và lấy ra một cuốn sổ tay, ở các trang lót có in một cuốn lịch thiên văn. “Nào các cậu, nhìn đây xem, chẳng phải ngày mai là mùng 4 tháng Sáu đó sao?” anh ta nói.
Chúng tôi vẫn ghi chép cẩn thận các ngày tháng nên có thể khẳng định chắc nịch là đúng vậy.
“Rất tốt; vậy thì ở đây có ghi — ‘Ngày 4 tháng 6, nguyệt thực toàn phần bắt đầu lúc 8 giờ 15 theo giờ Greenwich, có thể quan sát được ở Tenerife — Nam Phi, v.v.’ Đây rồi, dấu hiệu cho các cậu đây. Hãy bảo họ rằng chúng ta sẽ làm cho mặt trăng tối sầm lại vào tối ngày mai.”
Đó quả là một ý tưởng tuyệt vời; quả thực, điểm yếu duy nhất trong kế hoạch ấy là nỗi lo sợ rằng cuốn lịch của Good có thể tính sai. Nếu chúng tôi đưa ra một lời tiên tri sai lầm về một vấn đề tày trời như thế, uy tín của chúng tôi sẽ tiêu tan vĩnh viễn, và cơ hội giành ngai vàng xứ Kukuanas của Ignosi cũng chấm dứt luôn.
“Giả sử cuốn lịch tính sai thì sao?” Sir Henry lên tiếng gợi ý với Good, kẻ đang bận rộn tính toán thứ gì đó trên một trang giấy trắng của cuốn sổ.
“Tôi chẳng có lý do gì để nghi ngờ điều đó cả,” anh ta đáp. “Nhật thực và nguyệt thực bao giờ cũng diễn ra đúng giờ; ít nhất đó là kinh nghiệm của tôi, và cuốn lịch ghi rõ là hiện tượng này sẽ quan sát được ở Nam Phi. Tôi đã tính toán các khoảng thời gian chuẩn xác nhất có thể mà không cần biết tọa độ chính xác của chúng ta; và tôi tính ra nguyệt thực ở đây sẽ bắt đầu vào khoảng mười giờ tối mai, và kéo dài cho đến mười hai giờ rưỡi. Sẽ có khoảng một tiếng rưỡi tối đen như mực.”
“Thôi được,” Sir Henry nói, “tôi nghĩ chúng ta đành phải liều một phen.”
Tôi miễn cưỡng đồng tình, dẫu trong lòng vẫn hoài nghi, bởi nguyệt thực vốn là thứ khó đoán — ví dụ như đêm đó trời đổ mây, hoặc ngày tháng của chúng tôi tính sai thì sao — và tôi bèn sai Umbopa đi gọi các tù trưởng quay lại. Chẳng mấy chốc họ đã đến, và tôi cất lời với họ—
“Hỡi những nhân vật lớn của xứ Kukuanas, và cả ngươi nữa, Infadoos, hãy lắng nghe đây. Chúng ta vốn không thích phô trương quyền năng, bởi làm thế là can thiệp vào trật tự tự nhiên, gieo rắc sợ hãi và hỗn loạn cho trần gian. Nhưng vì đây là chuyện trọng đại, và vì chúng ta đang căm phẫn nhà vua trước những vụ tàn sát vừa chứng kiến, cùng với hành động của ả phù thủy Isanusi Gagool kẻ toan đem người bạn Ignosi của chúng ta ra xử tử, nên chúng ta quyết định phá lệ và ban ra một dấu hiệu mà tất cả mọi người đều có thể thấy được. Hãy lại đây”; và tôi dẫn họ ra cửa lều, chỉ tay lên quả cầu mặt trăng đỏ rực. “Các người thấy gì đằng kia?”
“Chúng tôi thấy vầng trăng đang lặn,” vị đại diện của nhóm đáp.
“Đúng vậy. Giờ thì nói cho ta hay, có kẻ phàm trần nào dập tắt được vầng trăng ấy trước giờ lặn của nó, và kéo bức màn đêm đen kịch xuống vùng đất này chăng?”
“Không, thưa ngài, chẳng ai làm được điều đó cả,” vị tù trưởng cười nhạt trước câu hỏi. “Mặt trăng mạnh mẽ hơn kẻ đang ngắm nhìn nó, và nó cũng chẳng thể chệch khỏi quỹ đạo của mình.”
“Các người nói thế. Nhưng ta bảo cho mà hay, vào tối mai, khoảng hai tiếng trước nửa đêm, chúng ta sẽ khiến cho mặt trăng bị nuốt chửng trong khoảng thời gian một tiếng rưỡi. Phải, bóng tối dày đặc sẽ bao trùm mặt đất, và đó sẽ là dấu hiệu chứng minh Ignosi đích thực là vua xứ Kukuanas. Nếu chúng ta làm được điều này, các người đã thỏa mãn chưa?”
“Vâng, thưa các ngài,” vị tù trưởng già đáp lại với một nụ cười, hiện rõ trên khuôn mặt những kẻ đồng hành; “nếu các ngài làm được điều này, chúng tôi thực sự thỏa mãn.”
“Việc đó sẽ được thực hiện; ba chúng ta, Incubu, Bougwan và Macumazahn, đã nói là làm. Ngươi có nghe rõ không, Infadoos?”
“Tôi nghe rõ, thưa ngài, nhưng việc các ngài hứa dập tắt mặt trăng, người mẹ của muôn loài, khi nó đang độ tròn đầy, quả là một điều kỳ diệu.”
“Nhưng chúng ta sẽ làm được điều đó, hỡi Infadoos.”
“Thật tốt quá, thưa các ngài. Hôm nay, hai giờ sau khi mặt trời lặn, Twala sẽ cho gọi các ngài đến dự lễ múa của các thiếu nữ, và một tiếng sau khi điệu múa bắt đầu, trinh nữ mà Twala cho là đẹp nhất sẽ bị Scragga, hoàng tử, sát hại như một vật tế dâng lên các Vị Thần Im Lặng, những kẻ đang ngồi canh gác bên những dãy núi kia,” và ông ta chỉ tay về phía ba ngọn núi kỳ lạ nơi con đường của Solomon được cho là chấm dứt. “Khi ấy, xin các ngài hãy làm cho mặt trăng tối sầm lại, cứu lấy mạng sống của thiếu nữ ấy, và khi ấy thần dân sẽ thực sự tin tưởng.”
“Đúng vậy,” vị tù trưởng già tiếp lời, vẫn mỉm cười kín đáo, “khi ấy nhân dân sẽ thực sự tin tưởng.”
“Cách Loo hai dặm,” Infadoos nói tiếp, “có một ngọn đồi cong như hình trăng lưỡi liềm, một cứ điểm mà trung đoàn của tôi cùng ba trung đoàn khác do các vị tù trưởng này chỉ huy đang đóng quân. Sáng nay chúng ta sẽ lên kế hoạch để điều động thêm hai ba trung đoàn khác đến đó. Sau đó, nếu quả thực các ngài có thể làm cho mặt trăng tối lại, trong bóng tối tôi sẽ nắm tay các ngài dẫn đi khỏi Loo đến nơi này, ở đó các ngài sẽ được an toàn, và từ đó chúng ta có thể phát động chiến tranh chống lại vua Twala.”
“Hay lắm,” tôi nói. “Bây giờ hãy để chúng tôi nghỉ ngơi đôi chút và chuẩn bị phép thuật của mình.”
Infadoos đứng dậy, chào chúng tôi rồi cùng các tù trưởng bước ra ngoài.
“Các bạn tôi ơi,” Ignosi cất lời ngay khi họ vừa khuất dạng, “các anh có làm được điều kỳ diệu ấy không, hay vừa rồi chỉ nói những lời khoác lác với các vị chỉ huy?”
“Chúng tôi tin là mình làm được, Umbopa — ý tôi là Ignosi.”
“Thật kỳ lạ,” anh ta đáp, “giá mà các anh không phải là người Anh thì tôi đã chẳng đời nào tin; nhưng tôi đã học được rằng ‘quý ông’ người Anh không bao giờ nói dối. Nếu chúng ta sống sót qua chuyện này, hãy tin là tôi sẽ đền ơn các anh.”
“Ignosi,” Sir Henry nói, “hứa với tôi một điều đi.”
“Tôi xin hứa, Incubu, bạn tôi ơi, dẫu chưa cần nghe đó là điều gì,” người đàn ông lực lưỡng đáp với một nụ cười. “Đó là gì nào?”
“Thế này: nếu có ngày cậu trở thành vua của xứ này, cậu phải dẹp bỏ tục lệ bói toán truy tìm phù thủy như chúng ta đã thấy tối qua; và việc tước đoạt mạng sống con người mà không qua xét xử sẽ không bao giờ được phép tái diễn trên mảnh đất này nữa.”
“Ignosi trầm ngâm giây lát sau khi tôi dịch lại thỉnh cầu đó, rồi đáp—
“Lối sống của người da đen không giống người da trắng, hỡi Incubu, và chúng tôi cũng không coi trọng sinh mạng đến thế. Dẫu vậy tôi xin hứa. Nếu có đủ khả năng ngăn chặn, những kẻ săn lùng phù thủy sẽ không còn được hành sự, và sẽ chẳng có ai phải chịu chết mà không qua xét xử hay phán quyết.”
“Thế là giao kèo xong nhé,” Sir Henry nói; “và giờ hãy chợp mắt một lát nào.”
Kiệt sức sau một ngày dài, chúng tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say và ngủ liền một mạch cho đến khi Ignosi đánh thức vào khoảng mười một giờ. Sau đó, chúng tôi đứng dậy, rửa mặt và thưởng thức một bữa sáng thịnh soạn. Ăn uống xong, chúng tôi bước ra ngoài lều dạo bước, tự khuây khỏa bằng cách quan sát kiến trúc của những ngôi nhà Kukuanas và ngắm nhìn sinh hoạt của phụ nữ nơi đây.
“Tôi chỉ mong cái vụ nguyệt thực ấy diễn ra suôn sẻ,” Sir Henry thoáng nói.
“Nếu nó không xảy ra thì chúng ta chuẩn bị tiêu đời là vừa,” tôi u sầu đáp; “bởi chắc chắn như chúng ta đang sống đây, một số vị tù trưởng sẽ đem toàn bộ câu chuyện kể lại cho nhà vua, và khi ấy sẽ lại có một dạng nguyệt thực khác, một thứ mà chắc chắn chúng ta chẳng thích thú gì cho cam.”
Trở lại trong lều, chúng tôi ăn chút cơm trưa và dành phần lớn thời gian còn lại để tiếp đón các vị khách đến thăm theo phép xã giao cũng như vì sự hiếu kỳ. Cuối cùng, mặt trời cũng lặn, và chúng tôi tận hưởng hai tiếng đồng hồ yên tĩnh hiếm hoi mà những linh cảm ảm đạm cho phép. Tới khoảng tám giờ rưỡi, một sứ giả từ chỗ Twala tới triệu tập chúng tôi đến dự buổi “lễ múa của các thiếu nữ” thường niên trọng đại sắp được cử hành.
Chúng tôi vội vã khoác lên mình những chiếc áo giáp lưới mà nhà vua đã ban tặng, mang theo súng ống và đạn dược để sẵn sàng phòng thân trường hợp phải tháo chạy theo gợi ý của Infadoos, rồi bạo dạn bước đi dẫu trong lòng thấp thỏm sợ hãi. Khoảng sân rộng phía trước khu trại của nhà vua mang một diện mạo hoàn toàn khác so với buổi tối hôm trước. Thay vì những hàng chiến binh gươm giáo gầm tháo là từng tốp thiếu nữ Kukuanas, xiêm y không quá rườm rà, trên đầu mỗi người đội một vòng hoa tươi, tay cầm một nhánh cọ và một bông hoa huệ trắng muốt. Ngay giữa không gian lộng gió trăng thanh ấy là vua Twala ngồi ngự, với mụ già Gagool ở dưới chân, xung quanh có Infadoos, hoàng tử trẻ Scragga và mười hai cận vệ hầu cận. Buổi lễ còn có sự hiện diện của khoảng hai mươi vị tù trưởng, trong đó tôi nhận ra phần lớn những người bạn đã gặp đêm hôm trước.
“Chào mừng những người da trắng đến từ Các Vì Sao,” hắn cất lời, với vẻ ngoài tỏ ra vô cùng niềm nở, dẫu tôi tinh mắt thấy tròng mắt độc ác của hắn đảo nhanh về phía Umbopa; “cảnh tượng này khác hẳn với những gì mắt các ngươi đã chứng kiến dưới ánh trăng tối qua, nhưng ngắm thế này thì không thích bằng. Con gái thì dễ thương đấy, và nếu không nhờ có những người thế này,” hắn chỉ tay vòng quanh, “thì ngày nay chẳng ai trong chúng ta có mặt ở đây; nhưng đàn ông vẫn tuyệt hơn. Những nụ hôn và lời đường mật của đàn bà thì ngọt ngào thật, nhưng tiếng gươm giáo va chạm nơi chiến trận, cùng mùi máu tanh của đàn ông lại càng ngọt ngào hơn gấp bội! Các người có muốn chọn vợ trong số thần dân của ta không, hỡi những người da trắng? Nếu có, hãy chọn những cô nàng xinh đẹp nhất ở đây, các người sẽ được như ý, bao nhiêu tùy thích,” hắn dừng lời chờ đợi câu trả lời.
Vì viễn cảnh ấy có vẻ khá hấp dẫn đối với Good — một kẻ vốn mang bản tính đa cảm như phần lớn những gã thủy thủ khác — nhưng vốn là một người lớn tuổi và khôn ngoan, dự liệu được những rắc rối vô tận mà bất kỳ mối quan hệ nào kiểu đó mang lại, bởi phụ nữ mang rắc rối đến chắc chắn như đêm tiếp nối ngày, tôi vội vã chêm vào một câu trả lời—
“Tạ ơn ngài, tạ ơn đức vua, nhưng chúng tôi — những người da trắng — chỉ kết hôn với phụ nữ da trắng giống như mình thôi. Thiếu nữ xứ ngài rất xinh đẹp, nhưng không dành cho chúng tôi!”
“Được thôi.” Nhà vua cười lớn. “Xứ ta có câu tục ngữ rằng, ‘Mắt đàn bà lúc nào cũng sáng, bất kể màu da,’ và lại có câu, ‘Hãy yêu người đang ở trước mặt, bởi kẻ vắng mặt chắc chắn sẽ bội bạc với ngươi;’ nhưng có lẽ ở Các Vì Sao thì mọi chuyện không như vậy. Ở một nơi mà đàn ông da trắng thì chuyện gì mà chẳng khả thi. Thôi được rồi, hỡi những người da trắng; mấy cô nàng này chắc chắn sẽ chẳng phải ế chồng đâu! Chào mừng các ngươi lần nữa; và chào cả ngươi nữa, tên da đen kia; nếu Gagool ở đây được như ý, thì giờ này ngươi đã cứng đờ và lạnh ngắt rồi. Ngươi thật may mắn khi cũng đến từ Các Vì Sao đấy; ha! ha!”
“Ta có thể hạ sát ngươi trước khi ngươi kịp ra tay, hỡi đức vua,” Ignosi điềm tĩnh đáp, “và ngươi sẽ cứng đờ trước khi các khớp xương của ta kịp khuất phục.”
“Ngươi ăn nói gan góc thật đấy, nhóc con,” Twala giận dữ đáp lại; “đừng có mà làm càn quá trớn.”
“Kẻ nào thốt ra lời chân thật thì có quyền gan góc. Sự thật là một mũi giáo sắc bén phóng thẳng tới mục tiêu và chẳng bao giờ trượt. Đó là thông điệp từ ‘Các Vì Sao’, hỡi đức vua.”
“Twala tối sầm mặt mày, tròng mắt hung ác lóe lên tia giận dữ, nhưng hắn không nói thêm lời nào.”
“Bắt đầu điệu múa đi,” hắn thét lên, và ngay lập tức những thiếu nữ đội vòng hoa tung tăng tiến lên theo từng nhóm, cất tiếng hát vang khúc ca dịu ngọt, tay uyển chuyển vẫy những nhành cọ mềm mại cùng đóa huệ trắng. Họ múa lượn nhịp nhàng, trông thật mỏng manh và uy quyền dưới ánh trăng dịu buồn; lúc thì xoay tròn tít mù, khi lại sà vào nhau như trận chiến giả tưởng, uốn lượn, dập dềnh chỗ này chỗ khác, lúc tiến lúc lùi trong một sự hỗn độn có trật tự ngắm nhìn vô cùng thích mắt. Cuối cùng họ dừng lại, và một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp từ trong hàng bước vụt ra, bắt đầu nhảy múa uốn lượn trước mặt chúng tôi với vẻ duyên dáng cùng sự sung sức đủ sức làm hổ thẹn bất kỳ vũ công ba-lê nào. Cuối cùng, nàng lùi xuống trong tiếng thở dốc kiệt sức, nhường chỗ cho người khác, rồi cứ thế hết người này đến người khác, nhưng chẳng ai sánh kịp cô gái đầu tiên về độ uyển dáng, kỹ thuật hay nhan sắc trời phú.
Khi các thiếu nữ được tuyển chọn đã múa xong, nhà vua giơ tay ra hiệu.
“Theo các ngươi, ai là kẻ đẹp nhất, hỡi những người da trắng?” hắn hỏi.
“Người đầu tiên,” tôi thốt lên ngớ ngẩn. Giây lát sau tôi vô cùng hối hận, bởi chợt nhớ ra Infadoos từng căn dặn người phụ nữ đẹp nhất phải được đem ra làm vật tế thần.
“Vậy là ý ta hợp với ý các ngươi, và mắt ta cũng giống mắt các ngươi rồi. Nàng ấy chính là người đẹp nhất! Và thật tiếc cho nàng ta, bởi nàng sẽ phải chết!”
“Phải, phải chết chứ!” ả Gagool rít lên, liếc nhanh đôi tròng mắt láo liên về phía tội nghiệp cô gái hãy còn ngây thơ chưa biết gì về số phận khủng khiếp đang chờ đợi phía trước, đang đứng cách đó chừng mười thước trước một hàng thiếu nữ, bồn chồn ngắt từng cánh hoa trên vòng hoa đội đầu.
“Tại sao vậy, hỡi đức vua?” tôi cất tiếng, chật vật kìm nén cơn thịnh nộ; “cô gái đã múa rất đẹp và làm chúng tôi hài lòng; nàng lại xinh đẹp nhường ấy; đền đáp nàng bằng cái chết thì thật quá nhẫn tâm.”
“Đó là tập tục của chúng tôi, và những hình nhân bằng đá đằng kia,” hắn chỉ tay về phía ba ngọn núi xa tắp, “phải nhận phần của chúng chứ. Nếu ta không đem trinh nữ đẹp nhất ra tế thần vào ngày hội múa của các thiếu nữ dâng lên các Vị Thần Cổ Xưa đang ngồi canh gác trên núi cao kia, thì tai họa sẽ giáng xuống ta và vương triều của ta. Lời tiên tri của dân tộc ta vẫn lưu truyền như vậy: ‘Nếu nhà vua không dâng vật tế là một trinh nữ đẹp vào ngày hội múa, cho các Vị Thần Cổ Xưa đang ngự trên núi, thì ngài và dòng tộc sẽ sụp đổ.’ Nhìn đây, hỡi những người da trắng, vị hoàng huynh trị vì trước ta đã không dâng vật tế vì những giọt nước mắt của đàn bà, và ông ấy đã ngã ngựa, cả dòng tộc sụp đổ, để rồi ta lên ngai vàng thay thế vị trí đó. Mọi chuyện đã định đoạt; nàng ta phải chết!” Đoạn hắn quay sang toán cận vệ — “Dẫn nó lại đây; Scragga, mài sắc mũi giáo của ngươi đi.”
“Hai tên lính bước lên, và khi chúng áp sát, cô gái bỗng nhận ra số phận cận kề, bèn thét lên kinh hãi rồi quay đầu toan bỏ chạy. Nhưng những bàn tay thô bạo đã túm chặt lấy nàng, kéo lê đến trước mặt chúng tôi trong tiếng khóc lóc và giãy giụa.”
“Tên ngươi là gì, hỡi cô gái?” Gagool rít lên. “Sao! Mày câm lặng không thèm đáp ư? Hay muốn hoàng tử tự tay ra tay trước nào?”
“Trước lời gợi ý đó, Scragga với bộ dạng càng thêm dữ tợn bước lên một bước, giơ cao ngọn giáo khổng lồ, và đúng khoảnh khắc ấy, tôi thấy tay Good luồn vào túi để nắm lấy khẩu súng lục. Tội nghiệp cô gái lướt qua ánh thép mập mờ qua làn nước mắt, dường như cơn hoảng loạn của nàng bỗng dịu lại. Nàng ngừng giãy giụa, hai tay đan chặt vào nhau đầy bất lực, đứng run lẩy bẩy từ đầu đến chân.”
“Nhìn kìa,” Scragga hớn hở hét lên, “nó run rẩy trước món đồ chơi nhỏ bé của ta ngay cả khi còn chưa nếm mùi vị của nó,” hắn vừa nói vừa vỗ vào phần lưỡi dao rộng của ngọn giáo.
“Nếu tao có cơ hội, mày sẽ phải trả giá cho điều đó, đồ khốn kiếp tập sự!” Tôi nghe thấy tiếng Good lẩm bẩm trong miệng.
“Giờ thì mày đã ngoan ngoãn rồi đấy, khai tên ra đi cưng. Nào, nói đi và đừng sợ hãi,” Gagool mỉa mai trêu chọc.
“Ôi lạy mẹ,” cô gái run rẩy đáp, “tên con là Foulata, thuộc dòng tộc Suko. Ôi lạy mẹ, tại sao con lại phải chết? Con đâu có làm gì sai trái!”
“Hãy bình tĩnh nào,” mụ già tiếp tục với giọng điệu nhạo báng căm ghét. “Ngươi quả thực phải chết, như một vật tế dâng lên các Vị Thần Cổ Xưa đang ngự đằng kia,” mụ chỉ tay về phía những ngọn núi; “nhưng ngủ vùi trong đêm tối còn hơn nhọc nhằn ban ngày; chết đi còn hơn sống, và ngươi sẽ được chính tay hoàng tử con trai nhà vua kết liễu.”
“Cô gái Foulata vặn vẹo hai tay trong tuyệt vọng và cất tiếng gào thét, “Ôi tàn nhẫn làm sao! Mà con lại hãy còn quá trẻ! Con đã làm gì nên tội để rồi chẳng bao giờ còn được thấy mặt trời mọc từ màn đêm, hay ngững vì sao nối đuôi nhau trên bầu trời lúc chạng vạng, để chẳng bao giờ được hái hoa khi giọt sương còn đọng nặng, hay lắng nghe khúc ca của dòng nước nữa? Thân phận con sao mà cay đắng, chẳng bao giờ được trở lại mái tranh của cha, chẳng bao giờ được cảm nhận nụ hôn của mẹ, hay chăm sóc chú cừu non đang đau ốm! Thân phận con sao mà khốn khổ, chẳng một bóng người tình nào ôm lấy con vào lòng rồi nhìn sâu vào đôi mắt ấy, chẳng có đứa con nào được sinh ra từ cơ thể này! Ôi tàn nhẫn, tàn nhẫn thay!”
“Và nàng lại quằn quại đôi tay, ngước khuôn mặt đẫm lệ điểm tô vòng hoa lên bầu trời, trông đẹp đến nao lòng trong cơn tuyệt vọng — bởi nàng đích thực là một người phụ nữ tuyệt sắc — đến nỗi cảnh tượng ấy chắc chắn sẽ làm rung động trái tim bất kỳ kẻ nào ít tàn nhẫn hơn ba con ác quỷ đang đứng trước mặt chúng ta. Lời kêu xin của Hoàng tử Arthur trước đám lưu manh đến để chọc mù mắt chàng cũng chẳng thể thảm thiết hơn lời của cô gái man rợ này.”
“Nhưng nó chẳng thể lay chuyển được Gagool hay chủ nhân của ả, dẫu tôi nhìn thấy những dấu hiệu thương cảm hiện lên trên nét mặt của toán cận vệ phía sau và các vị tù trưởng; còn về phần Good, hắn hầm hừ phẫn nộ và ra hiệu như muốn xông đến giải cứu cho nàng. Nhanh nhạy như bất kỳ người phụ nữ nào, cô gái bất hạnh liền thấu hiểu tâm can hắn, và bằng một động tác bất ngờ, nàng lao mình quỳ sụp xuống trước mặt Good, hai tay ôm chầm lấy “đôi chân trắng ngần tuyệt đẹp” của hắn.”
“Ôi người cha da trắng đến từ Các Vì Sao!” nàng khẩn thiết kêu lên, “xin hãy khoác lên người con tấm áo choàng bảo vệ của ngài; cho phép con được ẩn mình dưới bóng râm sức mạnh của ngài để được cứu rỗi. Ôi, xin hãy che chở con khỏi những con người tàn độc này và cả sự tàn nhẫn của ả Gagool!”
“Được rồi cô gái can trường, tôi sẽ bảo vệ cô,” Good cất giọng trấn an bằng thứ tiếng Saxon đầy bối rối. “Nào, đứng lên đi cô bé ngoan,” và hắn cúi xuống nắm lấy bàn tay nàng.
“Twala quay phắt lại ra hiệu cho con trai, gã hoàng tử liền bước lên với ngọn giáo giơ cao.”
“Đến lúc rồi đấy,” Sir Henry thì thầm vào tai tôi; “cậu còn chần chừ gì nữa?”
“Tôi đang chờ vụ nguyệt thực đấy,” tôi đáp; “tôi đã dán mắt vào mặt trăng suốt nửa tiếng nay rồi, và chưa thấy nó khỏe mạnh thế bao giờ.”
“Thế thì cậu phải liều thôi, bằng không cô bé sẽ bị giết mất. Twala đang dần mất kiên nhẫn rồi đấy.”
“Nhận thức được sức nặng của lời thúc giục, và liếc thêm một cái nhìn đầy tuyệt vọng lên khuôn mặt sáng ngời của vầng trăng, bởi chưa từng có nhà thiên văn học nhiệt thành nào ôm ấp một giả thuyết lại chờ đợi một sự kiện thiên văn với nỗi lo âu đến thế, tôi bước ra giữa cô gái đang quỵ ngã và mũi giáo đang lao tới của Scragga với tất cả dáng vẻ uy nghi mà tôi có thể tập trung.”
“Tâu đức vua,” tôi nói, “sẽ không có chuyện đó xảy ra đâu; chúng tôi không đời nào dung thứ cho việc này; hãy để cô gái được bình an ra đi.”
“Twala giận dữ và kinh ngạc đứng phắt dậy, từ phía các tù trưởng cùng những hàng thiếu nữ đang từ từ khép chặt vòng vây quanh chúng ta để chờ xem thảm kịch vang lên một tiếng lầm rầm kinh ngạc.”
“Không có chuyện đó sao! Đồ chó da trắng dám sủa gầm trước mặt sư tử trong hang của nó; không có chuyện đó ư? Mày điên rồi chắc? Cẩn thận đấy, kẻo cái kết của con gà này lại giáng xuống đầu mày và đồng bọn. Mày cứu nó hay cứu lấy cái mạng của mình bằng cách nào hả? Mày là cái thá gì mà dám chõ vào ý muốn của ta? Lùi lại, ta bảo thế. Scragga, kết liễu nó đi! Này lính đâu! Bắt giữ đám người này lại.”
“Theo tiếng thét của hắn, những tên lính vũ trang rầm rập lao ra từ phía sau lều, nơi rõ ràng chúng đã được bố trí sẵn từ trước.”
“Sir Henry, Good và Umbopa liền dàn hàng sát bên tôi, đồng thời giương súng lên.”
“Dừng lại!” tôi lớn tiếng thét lên, dẫu lúc đó tim tôi như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. “Dừng lại! Chúng ta, những người da trắng đến từ Các Vì Sao, tuyên bố rằng chuyện này không được phép xảy ra. Chỉ cần bước thêm một bước nữa, chúng ta sẽ dập tắt vầng trăng như một ngọn đèn trước gió, đúng như những cư dân ngự trị trong Cung Điện của nó có thể làm, và nhấn chìm vùng đất này vào màn đêm u tối. Dám chống lệnh, các ngươi sẽ phải nếm mùi phép thuật của chúng ta.”
“Lời đe dọa của tôi đã phát huy tác dụng; toán lính khựng lại, và Scragga đứng sững trước mặt chúng tôi, ngọn giáo vẫn giơ cao.”
“Nghe hắn kìa! Nghe hắn kìa!” Gagool rít lên; “nghe cái tên gian dối dám khoác lác rằng sẽ dập tắt mặt trăng như ngọn đèn đi. Hãy để hắn làm thử xem, nếu không thì con bé kia sẽ được tha mạng. Phải, hãy để hắn làm đi, bằng không hắn và đồng bọn sẽ phải chết cùng con bé này.”
“Tôi tuyệt vọng ngước lên nhìn mặt trăng, và giờ đây, đến nỗi mừng vui khôn tả và thở phào nhẹ nhõm, tôi nhận ra chúng tôi — hay chính xác là cuốn lịch — đã không tính toán sai. Trên vành của vầng cầu vĩ đại ấy đã xuất hiện một vành bóng tối mờ nhạt, trong khi một sắc thái mờ đục đang lớn dần và phủ lên bề mặt sáng ngời của nó. Chẳng bao giờ tôi quên được khoảnh khắc giải thoát tột cùng và tuyệt vời đến thế.”
“Đoạn tôi trang nghiêm giơ tay lên bầu trời, hành động được Sir Henry và Good làm theo, và trích dẫn vài câu thơ trong “Truyền thuyết Ingoldsby” hướng về phía nó bằng giọng điệu trang nghiêm nhất có thể. Sir Henry tiếp lời bằng một câu thơ trong Cựu Ước, kèm theo đôi câu bằng tiếng Latinh nói về việc Balbus xây tường, trong khi Good cất lời cầu khấn Nữ Hoàng Ban Đêm bằng một tràng những lời nguyền rủa cổ điển khó nghe nhất mà anh ta có thể nghĩ ra.”
“Bóng bán nguyệt, cái bóng của chiếc bóng, từ từ bò lan trên bề mặt sáng ngời, và khi nó tiến tới, tôi nghe thấy những tiếng thở dốc đầy sợ hãi dâng lên từ đám đông xung quanh.”
“Nhìn kìa, hỡi đức vua!” tôi hét lên; “nhìn kìa, Gagool! Nhìn đi hỡi các tù trưởng, thần dân và phụ nữ, xem những người da trắng đến từ Các Vì Sao có giữ đúng lời hứa hay họ chỉ là những kẻ khoác lác rỗng tuếch!”
“Mặt trăng đang tối dần trước mắt các người; chẳng mấy chốc bóng tối sẽ bao trùm — phải, bóng tối giữa lúc trăng tròn vành vạnh. Các người đã đòi hỏi một dấu hiệu; nó đã được ban cho rồi. Hãy tối sầm lại đi, hỡi Mặt Trăng! Hãy rút lui ánh sáng của ngươi, hỡi Đấng Tinh Khôi và Thánh Thiện; hãy nghiền nát tâm địa kiêu ngạo của những kẻ cướp ngôi mưu mô xuống bụi trần, và nuốt chửng thế gian trong bóng tối.”
“Một tiếng rên rỉ kinh hoàng bật ra từ những kẻ đang chứng kiến. Kẻ thì đứng chết trân vì sợ hãi, người thì quỵ sụp xuống đất gào khóc thảm thiết. Về phần nhà vua, hắn vẫn ngồi im và tái mặt dưới lớp da ngăm đen. Chỉ có Gagool vẫn giữ được vẻ gan lỳ.”
“Nó sẽ qua đi thôi,” ả thét lên; “ta từng chứng kiến cảnh này nhiều lần trước đây; chẳng ai có thể dập tắt nổi mặt trăng đâu; đừng mất tinh thần; cứ ngồi yên đi — bóng tối sẽ qua mau thôi.”
“Đợi mà xem,” tôi đáp, nhảy cẫng lên vì phấn khích. “Hỡi Mặt Trăng! Mặt Trăng! Mặt Trăng! Cớ sao ngươi lại lạnh lùng và thay lòng đổi dạ đến thế?” Câu trích dẫn vô cùng phù hợp này lấy từ trang sách của một cuốn tiểu thuyết lãng mạn bình dân mà tôi tình cờ đọc gần đây, dẫu ngẫm lại thì thật vô ơn khi dám trách móc Nữ Thần của Bầu Trời, người đang chứng tỏ mình là một người bạn chân thành nhất của chúng tôi, bất kể bà có đối xử thế nào với gã nhân vật tình si trong tiểu thuyết đi nữa. Rồi tôi nói thêm: “Cố giữ nhịp điệu đó đi Good, tôi chẳng nhớ thêm được câu thơ nào nữa rồi. Cứ chửi thề đi, anh bạn hiền.”
“Good đã đáp lại một cách xuất sắc lời thử thách đối với khả năng ứng biến của anh ta. Chưa bao giờ tôi lại hình dung được độ rộng, độ sâu và chiều cao của khả năng chửi thề từ một sĩ quan hải quân đến thế. Suốt mười phút liền, anh ta tuôn ra hàng tràng bằng đủ thứ ngôn ngữ mà chẳng hề dừng lại, và hiếm khi nào lặp lại từ ngữ.”
“Trong khi đó, vành đai đen tối cứ thế lấn tới, trong khi toàn bộ đám đông vĩ đại ấy dán chặt mắt lên bầu trời, trân trân nhìn không chớp mắt trong bầu không khí im lặng đầy ám ảnh. Những cái bóng kỳ lạ và u ám xâm lấn ánh trăng, một sự tĩnh lặng điềm gở bao trùm không gian. Mọi vật trở nên tĩnh lặng như tờ. Chầm chậm giữa sự tĩnh mịch vô cùng trang nghiêm ấy, từng phút trôi qua, và khi chúng trôi đi, vầng trăng tròn vành vạnh càng lúc càng lún sâu vào chiếc bóng của Trái Đất, khi phân đoạn màu mực đen thẳm của vòng tròn ấy trượt đi trong sự oai nghiêm đáng sợ băng qua các miệng núi lửa trên mặt trăng. Vầng cầu vĩ đại nhợt nhạt dường như đang xích lại gần hơn và phình to ra. Nó chuyển sang sắc màu đồng thau, rồi phần bề mặt chưa bị che khuất bắt đầu xám xịt như tro tàn, và cuối cùng, khi hiện tượng toàn phần đến gần, các dãy núi và thung lũng của nó hiện lên rực rỡ một cách ma quái qua màn sương mù đỏ rực.”
“Vòng tròn bóng tối cứ thế tiến mãi, tiến mãi; giờ đây nó đã lấn qua hơn nửa quả cầu đỏ như máu. Không khí trở nên đặc quánh, ngập tràn sắc đỏ tía u tối hơn nữa. Tiến lên, tiến mãi, cho đến khi chúng tôi hầu như chẳng thể nhìn rõ những gương mặt dữ tợn của nhóm người đang đứng trước mặt. Chẳng còn âm thanh nào phát ra từ đám đông khán giả nữa, và cuối cùng Good cũng ngừng chửi thề.”
“Mặt trăng đang chết dần — những pháp sư da trắng đã giết chết mặt trăng,” hoàng tử Scragga cuối cùng cũng gào thét. “Tất cả chúng ta sẽ bỏ mạng trong bóng tối,” và bị thôi thúc bởi sự hoảng sợ hoặc cơn thịnh nộ, hoặc cả hai, hắn giơ cao ngọn giáo và đâm thẳng hết sức lực vào ngực Sir Henry. Nhưng hắn đã quên mất những chiếc áo giáp lưới mà nhà vua đã ban tặng và chúng tôi đang mặc bên trong lớp quần áo. Lưỡi thép bật ngược vô hại, và trước khi hắn kịp bồi thêm cú đánh thứ hai, Curtis đã giật phăng ngọn giáo khỏi tay hắn và phóng thẳng xuyên qua người hắn.”
“Scragga ngã gục xuống chết tươi.”
“Trước cảnh tượng đó, và bị nỗi sợ hãi tột cùng về bóng tối đang bao trùm cùng chiếc bóng ma quái mà họ tin là đang nuốt chửng mặt trăng làm cho phát điên, các tốp thiếu nữ vỡ trận trong sự hỗn loạn điên cuồng, thét gào chạy tháo thân về phía cổng. Sự hoảng loạn không dừng lại ở đó. Chính nhà vua, theo sau là đoàn cận vệ, một số tù trưởng và Gagool — mụ ta khập khiễng lê bước theo sau với tốc độ kinh ngạc — đã tháo chạy vào các căn lều, để rồi chỉ một phút sau, chính chúng tôi, nàng thiếu nữ Foulata chuẩn bị chịu tế, Infadoos và hầu hết các vị tù trưởng từng gặp chúng tôi đêm hôm trước lại đứng trơ trọi một mình giữa khung cảnh ấy, bên cạnh cái xác lạnh ngắt của Scragga, đứa con trai của Twala.”
“Hỡi các tù trưởng,” tôi nói, “chúng tôi đã trao cho các người dấu hiệu rồi đấy. Nếu đã thỏa mãn, hãy nhanh chóng tháo chạy đến nơi mà các người vừa nhắc đến. Phép thuật bây giờ không thể dừng lại được nữa. Nó sẽ phát huy tác dụng trong vòng một tiếng rưỡi. Hãy cùng ẩn mình trong bóng tối nào.”
“Đi thôi,” Infadoos nói, quay người dẫn đường, hành động được làm theo bởi những vị thủ lĩnh đầy kính sợ, nhóm chúng tôi và cô gái Foulata, người được Good nắm chặt lấy cánh tay.”
“Trước khi chúng tôi kịp đến cổng khu trại, mặt trăng vụt tắt hoàn toàn, và từ mọi góc của bầu trời, các vì sao túa ra rực rỡ trên khoảng không đen đặc.”
“Nắm chặt tay nhau, chúng tôi chập choạng bước đi giữa màn đêm mịt mùng.”