Giảo Hoạt Thị Nhất Chủng Mạo Hiểm Đích Du Hí

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Ong làm mật, nhạn ngậm bùn, thú chạy bôn ba, đều là vì những việc đó có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh tồn của chúng. Vậy tại sao con người lại thường nhọc công làm những việc xa hoa lãng phí mà cũng chẳng thấy có gì quan trọng mấy? Con người ơi, sao chúng ta ở điểm này lại thấp kém hơn chúng? ...

Ngày nay, tri thức trẻ mặc áo vải đã ít đi, đảng viên mặc áo vải đã ít đi, cán bộ lãnh đạo Đảng mặc áo vải cũng ít đi. Bởi vì đã có vải dacron, vải kaki, vải pha và đủ thứ linh tinh khác. Đảng Cộng sản nếu trở thành đảng áo vải, trong những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi hôm nay, thì thật nực cười. Nhưng nếu Đảng Cộng sản trở thành đảng đánh mất "tinh thần áo vải", thì đó không còn là chuyện nực cười nữa, mà khiến lòng người nảy sinh một dư vị khác!

Đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta, do sự tích tụ của tâm lý dân tộc và nhiều nguồn gốc lịch sử khác nhau, vốn dĩ luôn sùng bái quyền lực lưỡng cực. Mà vương quyền phong kiến chính là lấy sự sùng bái này làm nền tảng xã hội của nó. Đây là mặt ngu muội của dân tộc chúng ta. Nhân loại không nên chịu sự thống trị của vương quyền, mà chỉ nên chịu sự thống trị của tri thức. Đó gọi là văn minh nhân loại. Hay còn gọi là "văn minh tinh thần". Có một thời kỳ xã hội chúng ta dường như có một khởi đầu tốt đẹp của phong trào sùng bái tri thức, nhưng nhanh chóng bị sự sùng bái tiền bạc gột sạch.

Tiền bạc, con quái vật đáng yêu này, đang nuốt chửng linh hồn của một số người Trung Quốc, nuốt chửng linh hồn của một số đảng viên Cộng sản Trung Quốc.

Chẳng phải đã nói là "cho phép một bộ phận người giàu lên trước" sao? Đáng lẽ phải là cho phép một bộ phận nhân dân giàu lên trước mới đúng chứ! Nếu như cán bộ Đảng chúng ta đều lợi dụng chức quyền, vội vã, tranh nhau giàu lên trước, thì còn tính là "Đảng phục vụ nhân dân hết lòng hết sức" nữa không?

Trung Quốc là Trung Quốc của nhân dân Trung Quốc. Mọi tài sản của Trung Quốc, dù lớn dù nhỏ, đều là do nhân dân Trung Quốc tạo ra. Bất kỳ hành vi chiếm đoạt, tiêu xài hoang phí, lãng phí tài sản của nhân dân nào đều không được là hành vi của cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, đều là hành vi xấu xa, đều nên bị pháp luật trừng trị. Nhân dân hy vọng là như vậy. Ngày nay nhân dân đối với Đảng cũng chỉ có hy vọng mà thôi. Hy vọng chính sách "mở cửa đối ngoại, cải hoạt kinh tế đối nội" không thay đổi; hy vọng tác phong của Đảng chuyển biến tốt đẹp hoàn toàn; hy vọng trong Đảng có vài vị "Bao Long Đồ", nhổ tận gốc cái ác, phò tá "triều cương"; hy vọng những cử chỉ cải cách đạt thành tích lớn hơn, đi đường vòng ít hơn.

Và hy vọng lớn nhất chính là - những kẻ tổn công béo mình, dùng quyền mưu lợi trong Đảng không tiếp tục nữa. Nhân dân vừa căm ghét họ, lại vừa không làm gì được họ. Bởi vì nhân dân đã giao quyền lực cho họ, giống như Vua Lear giao vương trượng cho những đứa con gái, con rể lúc đầu thì cung thuận, sau thì kiêu ngạo lộng hành với mình vậy.

Trăm họ có câu - "Quá tam ba bận". Đây cũng là hy vọng. Trăm họ Trung Quốc là những người nhân nghĩa, đôn hậu nhất thế giới. Họ rất thông tình đạt lý. Giang sơn là do những người Cộng sản thế hệ trước đánh xuống, những người đánh hạ được giang sơn có tư cách chìa tay xin lợi ích từ nhân dân. Nhân dân cho, và nhân dân đã cho rồi. Kể cả con cháu họ chìa tay xin nhân dân, hoặc là cứ lấy như lấy đồ trong nhà mình, đi vơ vét các loại lợi ích đặc biệt, nhân dân cũng có thể khoan dung mà im lặng. Trăm họ Trung Quốc quả thực quá nhân nghĩa quá đôn hậu. Nhưng Trung Quốc nghèo lắm! Đời sống trăm họ Trung Quốc phổ biến vẫn còn nghèo lắm! Để đạt đến mức tiểu khang, vẫn phải nỗ lực phấn đấu không ngừng! Nhân dân không cho được nhiều đến thế, nhân dân không gánh nổi. Việc gì cũng phải từ từ, cũng phải cho phép nhân dân từ từ cho. Đừng vơ vét quá vội. Ngay cả là quá tam ba bận, trăm họ cũng vẫn chỉ có hy vọng mà thôi. Đất nước nào có trăm họ nhân nghĩa hơn, đôn hậu hơn trăm họ Trung Quốc? Đất nước nào có trăm họ giỏi nhẫn nại hơn, giỏi nuôi dưỡng hy vọng không dứt trong sự nhẫn nại hơn trăm họ Trung Quốc? Những kẻ dùng quyền mưu tư, lòng chỉ nghĩ đến việc mình giàu lên trước, hoàn toàn không đặt lợi ích nhân dân trong lòng, là nên cảm thấy hổ thẹn.

Ngày nay, một người Trung Quốc có thể gọi một người nước ngoài là bạn của mình. Nếu người nước ngoài đó lại đến từ cái gọi là thế giới phương Tây, ví như một "quốc gia giàu có" như Thụy Điển, và còn là một tiến sĩ trẻ tuổi, thì dường như đó là một vinh dự không tầm thường của một số người Trung Quốc.

Một số người Trung Quốc, thật giống như "dán vỏ cây". Mục tiêu mà họ "dán" vào thay đổi theo sự tiến triển của thời đại. Nghiên cứu tầng nấc "dán" của họ, rất đáng suy ngẫm.

Trước hết là dán vào "quan".

"Cục trưởng nọ à? Tôi quen!" "Tư lệnh nọ à? Con trai ông ấy và tôi là anh em chí cốt!"

"Lãnh đạo nọ à? Em gái bạn học của con gái ông ấy là em vợ của chồng tôi!"

Vòng vo tam quốc, mười đời không liên quan, cũng luôn có thể kết nối được. Kết nối được rồi, thì "dán".

Đây mới là kẻ "dán" thật.

Còn có kẻ "dán" giả, tuy cũng muốn "dán", nhưng không có cơ hội, khó mà tiếp cận mục tiêu, chỉ biết nói lời kẻ "dán" trước mặt người khác thôi, để tỏ rõ bản thân đang "dán" vào cái gì đó.

Chúng ta trong cuộc sống, chẳng phải thường xuyên nhìn thấy một số người, vì muốn nịnh bợ thủ trưởng nào đó, hoặc con trai con gái hay thậm chí là thư ký của thủ trưởng nào đó, đã dốc hết khả năng a dua nịnh hót, luồn lách dâng mị, lấy lòng bán rẻ mình sao? Mưu cầu điều gì vậy? Trong đó không thiếu những kẻ thực sự có mưu đồ. Cũng có một số người, nịnh hót mà chẳng có mưu đồ gì, chỉ để đạt được sự an ủi tâm lý nào đó thôi. Dường như "dán" được vào ai đó, bản thân mình cũng không phải là hạng xoàng, thân phận được nâng cao rồi vậy.

Kẻ "dán" là nam giới, chẳng qua chỉ khiến người ta chán ghét; kẻ "dán" là nữ giới, thì quả thực càng khiến người ta buồn nôn. Nam giới "dán" dựa vào sự vô sỉ và kỹ xảo, nữ giới "dán" dựa vào sự vô sỉ và sắc tướng. Phàm là "dán", kỹ xảo hay sắc tướng, tóm lại đều là tộc vô sỉ. Giống như bánh màn thầu hay bánh hỏa thiêu, tóm lại đều không thể thiếu chút "men cái".

Tôi thường nghĩ, người Trung Quốc hiện nay rốt cuộc thiếu cái gì? Chẳng lẽ chỉ là tiền bạc sao? Tại sao mấy năm gần đây đời sống phổ biến đã nâng cao, mà người Trung Quốc trái lại trở nên đỏ mắt vì tiền đến mức cực điểm? Trong hơn một tỷ người Trung Quốc, rốt cuộc là bộ phận người Trung Quốc nào bị tiền bạc đánh gục đầu tiên?! Xã hội, hãy trả lời câu hỏi này đi!

Phong trào "dán" có tầng nấc, kẻ "dán" thì phân đẳng cấp.

Hạng nhất là "dán" người Mỹ, người Anh, người Pháp, người Nhật, người Canada, người Ý, người Thụy Điển...

Hạng nhì là "dán" người da đen.

Ở điểm này, khá thể hiện thái độ quốc tế của người Trung Quốc - không gây phân biệt chủng tộc.

Hạng ba là chỉ còn cách tiếp tục "dán" khách Hong Kong. Một mặt "dán" chặt không buông, một mặt lại không yên tâm sẽ vĩnh viễn bị rơi xuống hạng ba, có tục ngữ nói: "Cưỡi ngựa tìm ngựa".

Thế hệ chúng ta lớn lên bằng việc hát đội ca. Khăn quàng đỏ là niềm tự hào của chúng ta. Chào kiểu Đội thiếu niên tiền phong thể hiện sự kính trọng cao quý của chúng ta đối với những điều tốt đẹp. Trống Đội thiếu niên tiền phong khiến tâm hồn trẻ thơ của mọi người vô cùng kích động. Đa số chúng ta trong thế hệ này, suốt thời ấu thơ, thời thơ ấu cho đến thời thiếu niên không biết sô-cô-la là vật gì. Đồ chơi của năm mươi người cộng lại cũng không nhiều bằng đồ chơi của một đứa con trai. Một bộ quần áo mới sẽ khiến chúng ta vui mừng nhảy cẫng lên. Quần áo mới là bố hoặc mẹ mua, nhưng chúng ta đều phổ biến cho rằng người đáng cảm ơn nhất là Chủ tịch Mao và Đảng Cộng sản. Không có Chủ tịch Mao, không có Đảng Cộng sản. Không có Đảng Cộng sản, không có quần áo mới. Thời đại hết lần này đến lần khác đóng lên tim óc chúng ta loại "dấu bớt" này. Nó thúc ép chúng ta quên rằng chúng ta đến thế giới này và sinh tồn chỉ có một ý nghĩa duy nhất - biết ơn báo đáp - điều này thật đáng ghét! Quần áo mới là bố mẹ dùng tiền lương ít ỏi có được từ lao động khổ cực để mua cho chúng ta! Chúng ta chỉ nên cảm ơn bố mẹ!

Bi kịch thời bấy giờ của thế hệ chúng ta nằm ở chỗ nhiệt tình theo đuổi một loại "tư tưởng cách mạng" vượt quá nhiệt tình theo đuổi tri thức văn hóa. Mà bất kỳ "tư tưởng cách mạng" nào nếu không có tri thức văn hóa làm nền tảng, thì chẳng khác gì giáo lý tôn giáo. Chúng ta hiểu điều này, xã hội cũng hiểu điều này. Toàn bộ nội dung của "tư tưởng cách mạng" mà chúng ta tiếp nhận, thực ra chỉ cần dùng hai câu là đủ khái quát - Hãy yêu đi! Hãy cảm ơn đi! Trong giờ chính trị ở trường trung học, trong đầu óc chúng ta dần dần hình thành kết luận như thế này - Lãnh tụ tức là Đảng.

Thế là, tình yêu, lòng biết ơn của chúng ta, dồn hết vào một người. Rõ ràng và minh xác.

Thế là, trong "Đại cách mạng văn hóa", tình yêu, sự kính ngưỡng, sùng bái, phục tùng của thế hệ chúng ta đạt đến "đỉnh điểm" của "vô hạn". Đây là sự cuồng nhiệt của cả một thế hệ, sự mê loạn của cả một thế hệ. Mà sự mê loạn và cuồng nhiệt của cả một thế hệ thanh niên, đối với xã hội mà nói, là gió là lửa, là thủy triều, là cơn cuồng phong trào dâng, là sức mạnh xung kích mọi thứ! Khi tất cả những điều đó qua đi, chúng ta mệt mỏi. Khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, chúng ta mới bắt đầu suy ngẫm nghiêm túc. Khi chúng ta suy ngẫm, chúng ta mới bắt đầu thực sự trưởng thành.

Chúng ta không còn là nô lệ của lịch sử nữa. Chúng ta lấy lịch sử làm tấm gương. Chúng ta dùng tư tưởng của mình để làm đoạn kết cho lịch sử Trung Quốc giai đoạn này. Nó sẽ không chỉ là được viết bằng chữ trên các sách giáo khoa lịch sử hay chính trị. Nó được viết bằng hành vi xã hội của chúng ta hôm qua và ngày mai, trên lộ trình tâm lý và lộ trình tư tưởng của chúng ta.

Nhân loại có một loại tâm lý không tốt, chúng ta gọi nó là "báo thù". Lịch sử có một quy luật vô tình, bị các nhà sử học giải thích là "nghịch chuyển", bị các triết gia giải thích là "đi tới mặt đối lập", bị những kẻ mê tín giải thích là "luân hồi".

Sự sụp đổ của mê tín là bi kịch của thần linh. Sự mất đi uy quyền là bất hạnh của vĩ nhân. "Một câu bằng vạn câu" không thực hiện được chủ nghĩa cộng sản. Lòng tham lam đối với tiền bạc lại chắc chắn sẽ làm mê loạn tâm trí của một dân tộc. Xây dựng "chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc" là sự phản tư đối với "chủ nghĩa xã hội" lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh, nhưng văn minh vật chất không phải là anh em sinh đôi vốn dĩ gắn liền với văn minh tinh thần. Cho nên tôi phản cảm nhất với việc trên các loại báo chí của Đảng và Nhà nước ta tuyên truyền quan niệm "thời gian là tiền bạc".

Thời gian là lịch sử, là sinh mệnh, là ghi chép vô tận về thành công và thất bại nối tiếp nhau mãi mãi, là vận mệnh của một quốc gia, một dân tộc.

Thời gian mang ý nghĩa sự tồn tại của một người, một dân tộc, một quốc gia. Mà ý nghĩa thực sự của sự tồn tại của vế sau tuyệt đối không phải là phủ kín trái đất bằng tiền bạc.

Tôi cho rằng tình yêu dựa vào cơ duyên, dựa vào vận mệnh.

Lựa chọn những thứ có thuộc tính vật chất thì phải chú trọng chất lượng. Chỉ có khuôn mặt xinh đẹp và vóc dáng đẹp thì chẳng qua chỉ là "vẻ đẹp bao bì", không tính là ưu tú lắm. Lấy tiêu chuẩn như vậy để cân nhắc, theo vài ví dụ tôi biết, chẳng qua là những "bình hoa" để "xuất khẩu" mà thôi. Những thứ lấy thuộc tính vật chất làm chủ.

Tôi đang nghĩ: Tiền bạc, tiền bạc, tiền bạc, nó khiến bao nhiêu cô gái Trung Quốc, kể cả các thiếu nữ, đem thanh xuân và nhan sắc của mình hiến dâng rẻ mạt cho một số người nước ngoài! Hoặc là "đấu giá" một lần, hoặc là "bán lẻ". Họ trong những cuộc giao dịch này tỏ ra vội vã quá, không chờ đợi nổi quá, dường như "cơ hội không thể bỏ lỡ, thời cơ không đến lần hai". Họ gần như là: "không tiếc vốn liếng hy sinh lớn". Trong cuộc giao dịch này, thanh xuân và nhan sắc của họ là quả cân. Tình yêu, nếu có, cũng chẳng qua là vạch cân mà thôi. Vì tiền, diễn viên múa gả cho thương nhân Hong Kong thô bỉ đầy mùi đồng tiền. Vì tiền, minh tinh điện ảnh cam tâm làm "bà vợ bếp núc" cho gã nước ngoài. Có lẽ là tỷ lệ một trăm chọi một, xuất hiện một Tiểu Hồng. Giống như người nước ngoài đùa cợt các cô gái Trung Quốc, đùa cợt một người nước ngoài! Là có qua có lại sao? Nhưng nó lại rơi vào đầu bạn tôi là Shen Mike, thật bất công, cũng chẳng nhân nghĩa.

Ngay không lâu trước đây, có đồng chí yêu cầu tôi đến lớp nghiên cứu sinh của Trường Đảng Trung ương giảng chút gì đó về văn học. Vốn không muốn đi, đến Trường Đảng Trung ương, tôi là nhân vật gì cơ chứ? Đủ tư cách để giảng sao? Nhưng sự thành tâm đó thật khó từ chối. Từ chối thẳng thừng, lại không khỏi tỏ ra quá "cao ngạo". Trì hoãn vài lần, cuối cùng không thể trì hoãn được nữa, đành phải đi. Rồi đã giảng, kết quả liền sinh ra chuyện thị phi. Có người viết thư gửi một đồng chí lãnh đạo Trung ương nào đó, nói là Lương Hiểu Thanh bàn luận nhiều rằng mình không phải là một đảng viên Cộng sản, và vĩnh viễn không muốn gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc! Thế là đồng chí lãnh đạo Trung ương chỉ thị: Điều tra xem Lương Hiểu Thanh này biểu hiện bình thường thế nào? Điều tra xem là ai "mời" anh ta đến Trường Đảng? Nếu có việc đó, phải xử lý nghiêm túc. Thế là có nhân viên điều tra đến Trường Đảng Trung ương điều tra.

Có việc đó sao?!

Đảng ta dù sao cũng đang khôi phục tác phong cầu thị. Kết quả điều tra - "Bài phát biểu của Lương Hiểu Thanh về cơ bản vẫn là tiến bộ". Một nhà văn phi Đảng phát biểu tại Trường Đảng Trung ương, "về cơ bản" là "tiến bộ", vậy là được rồi chứ gì? Ngày nay ai dám nói lời mình từng câu từng chữ đều đúng đắn vô cùng?

Tác phong cầu thị của Đảng đã bảo vệ tôi.

Những việc bị nguyền rủa, con người thường lại càng làm đến cùng.

Phần thượng của "Thành Tuyết", cơ bản là viết xong trên cái bàn ăn tròn đường kính không quá một mét.

Phần hạ của "Thành Tuyết" gần sáu mươi vạn chữ, thì từng dòng từng chữ là nằm bò trên bộ tản nhiệt mà viết xong. Đó là bộ tản nhiệt kiểu cũ, khá dày. May mà khá dày, lót tấm ván ép rộng một thước rưỡi, dài không đến một mét - là khi bố ở Bắc Kinh, nhặt từ đống phế liệu - đó chính là "bàn chuyên dụng" của tôi.

Lúc đó tôi đã không thể viết lách trên bàn ăn tròn - khi viết, cạnh bàn của nó cứ vướng vào mạch máu cánh tay, lâu ngày chầy tháng, tôi mắc một loại bệnh nghề nghiệp ít gặp, gọi là cái gì mà "giãn tĩnh mạch thượng chi". Cầm bút hai khắc, mạch máu mu bàn tay liền sưng nổi lên. Và ngón tay tê dại, dần dần sưng đau...

Dù đóng cửa ẩn cư, tôi vẫn bản năng bằng sự nhạy cảm đặc biệt của tiểu thuyết gia, quan tâm đến tiến trình phù phiếm mà đau khổ của thời đại chúng ta.

Thành phố trong cải cách đang trải nghiệm đang suy nghĩ đang ưu tư đang hưng phấn đang lo lắng đang chần chừ đang dẫm đạp đang vui mừng đang phiền não đang đau khổ đang nhẫn nại đang thất bại đang cổ vũ đang trắc trở đang ra đời...

Đoạn câu dài trong chương một phần hạ của "Thành Tuyết", là cảm nhận của tôi về thành phố Trung Quốc đương đại. Cảm nhận này khiến tôi ngày đêm không yên. Câu cuối cùng kết thúc toàn bộ cuốn sách - "Trung Quốc, dường như muốn trong hai ba tháng cuối cùng của năm một chín tám sáu, nặn ra chút trò trống gì đó..." - chính là điều tôi đã trải qua vài ngày suy nghĩ mới xác định không thay đổi.

Tôi hài lòng với câu kết mà mình đã xác định như vậy.

Sự vận hành kiểu xoay vòng của thời đại hàng hóa, ở Trung Quốc, chắc chắn sẽ phải trả giá bằng việc chôn vùi ý thức ký thác vào đất đai của thế hệ nông dân tiếp theo. Hơn nữa, đối với cái giá này, trong nửa thế kỷ sau, Trung Quốc sẽ phải trả lãi cắt cổ. Thế hệ nông dân tiếp theo sẽ không còn luyến tiếc đất đai, mà ngày càng chán ghét nó. Cái gọi là hộ trồng lương thực lớn, có lẽ về tâm lý cũng không hề luyến tiếc đất đai. Lựa chọn của họ có lẽ chính là để con cháu họ cuối cùng từ bỏ đất đai. Giống như nuôi kỹ một con lợn, cuối cùng là để bán nó hoặc thịt nó. Nửa thế kỷ sau, vấn đề căn bản của Trung Quốc sẽ càng là vấn đề nông dân, không phải là vấn đề trồng trọt thế nào, mà là ai còn trồng trọt nữa. Từ nước nông nghiệp phát triển thành nước công nghiệp - đây là lý tưởng. Trung Quốc có hơn tám trăm triệu nông dân - đây là hiện thực. Lý tưởng trước hiện thực, trông thật nhợt nhạt làm sao! Nửa thế kỷ trước nông dân Trung Quốc cam tâm làm nông.

Nửa thế kỷ sau nông dân Trung Quốc rất có thể sẽ không cam tâm làm nông.

Thành phố đang bốc hơi diện rộng những chất dinh dưỡng quý giá trong tinh thần nhân loại, hình thành những luồng hơi dục vọng vật chất đang dũng động và sôi sục chưa từng có. Giống như loại ruột không màu không mùi, trôi nổi trên bầu trời thành phố, bị tất cả đàn ông và đàn bà hít vào phổi hàng ngày. Đó chính là một phần nhân tử của cuộc sống, từ bản thể cuộc sống bốc hơi ra, thay đổi thành phần kết cấu không khí của thành phố, thay đổi dung tích phổi của tất cả đàn ông và đàn bà. Khiến họ và các cô ấy trong trạng thái bị thay đổi, trên mặt đều có cái vẻ mặt trắc trắc mê ly đó. Trong vẻ mặt đó của họ và các cô ấy, bao hàm đủ loại tham lam hoạt bát, đủ loại tham lam sinh động đến cực điểm...

Tôi cho rằng con người không thể chỉ làm "việc có ý nghĩa đặc biệt". Huống chi trong đại đa số các trường hợp đại đa số thời điểm, đại đa số mọi người muốn làm việc "có ý nghĩa đặc biệt" cũng làm không nổi. Nếu mỗi người đều có thể không bỏ lỡ cơ hội mang đến cho người khác những sự giúp đỡ nhỏ, sự ủng hộ nhỏ, sự an ủi nhỏ, sự tiện lợi nhỏ, sự thỏa mãn nhỏ, sự thành toàn nhỏ, dùng lời bạn bè trêu chọc tôi, tóm lại một câu gọi là "lòng tốt nhỏ", thì hiện thực của chúng ta, chắc là sẽ tốt hơn chút. Hiện thực mà người Trung Quốc đang ở hiện nay quá không thoải mái, quá căng thẳng, quá không có cảm giác an toàn! Sự lợi dụng lẫn nhau quá nhiều, sự bán đứng lẫn nhau quá nhiều, sự kèn cựa lẫn nhau quá nhiều, sự áp bức tâm lý lẫn nhau quá nhiều, sự ám toán lẫn nhau quá nhiều. Hiện tượng loại này tôi gọi là "hiện tượng chuột chó".

Sự ổn định lấy sự ổn định làm nền tảng, sự ổn định của xã hội lấy sự ổn định của quần chúng làm nền tảng.

Sự ổn định của quần chúng lấy sự ổn định tâm lý và sự ổn định cảm xúc của quần chúng làm nền tảng.

Năm một chín tám tám, tâm lý và cảm xúc của đông đảo quần chúng sớm đã ở trong trạng thái tan rã cực kỳ không ổn định, cực kỳ phù phiếm, cực dễ bộc phát. Những bài hát pop than thở tình cảm mềm nhũn phổ biến thổi tới từ phương Nam, giống như thương nữxí đồ an ủi tâm linh mọi người. Từ thành phố này sang thành phố khác cuộn gói tiền bạc không ngừng. "Gió Tây Bắc" và "gió Đông Bắc" mạnh mẽ thổi từ hướng ngược lại dường như có khí thế quét sạch gió Nam hun hút mềm nhũn, các cuồng nhân không hát không chịu thôi. Cơn gió này và cơn gió kia cuối cùng cuộn gói đi đều là tiền bạc. Đèn neon cuộn sáng chế tạo ánh đỏ khí tía cho các ngôi sao ca nhạc trào lưu thế hệ này qua thế hệ khác. Quảng cáo buổi hòa nhạc và quảng cáo tiết kiệm có thưởng tranh giành địa bàn tuyên truyền. Khi chúng ta hôm nay ngoái nhìn năm Rồng, có phải đã cho chúng ta một cảm giác hư ảo "trường ca thay tiếng khóc"? Ở hôm nay, truy tìm tất cả những điều này, dường như hoàn toàn không còn ý nghĩa. Nhưng, nó đích xác thực sự nên trở thành bản ghi nhớ giai đoạn đầu khi cuồng phong nổi lên năm một chín tám chín. Giá cả leo thang vượt quá năng lực chịu đựng tâm lý của con người. Quan tham lại lộng hành hết lớp này đến lớp khác, giăng lưới tầng tầng lớp lớp vượt quá mức độ dung nhẫn của mọi người. Hiện tượng hủ bại khơi dậy dường như không còn là phẫn nộ mà là con mắt lạnh lùng gần như đã tê liệt, cờ bạc, mại dâm, vứt bỏ trẻ sơ sinh, trẻ em bỏ học, văn hóa rác rưởi... Tất cả mọi thứ, giải thích cuối cùng của chính quyền là "giai đoạn sơ cấp", logic thừa nhận của quần chúng thì chỉ có thể là - "Giai đoạn sơ cấp là cái giỏ, cái gì cũng có thể bỏ vào trong."

Người Trung Quốc, người Trung Quốc, chúng ta đáng thương quá! Chúng ta ngày ngày tháng tháng năm năm không biết nhẫn nhịn bao nhiêu hơi, nuốt bao nhiêu tiếng, bao nhiêu lần che giấu chính mình, bao nhiêu lần vặn vẹo chính mình! Mà khi chúng ta nhẫn nhịn lâu ngày bùng phát, lại thường khó tránh khỏi vì những chuyện thị phi nhỏ nhặt không đáng nói, mà thường thường vì thế phải trả cái giá hối hận không kịp. Người Trung Quốc, người Trung Quốc, có lẽ chỉ có mỗi chúng ta trong thâm tâm tự mình mới biết, mới rõ, mới hiểu rốt cuộc chúng ta đang giận vì điều gì? Chúng ta nén một bụng khí khó tránh khỏi sẽ trút lên người khác, người khác chịu khí của chúng ta khó tránh khỏi không lại đi làm khí những người khác. Những người khác đó thì rất có thể là người bán thịt, người thu tiền điện nước, nhân viên soát vé xe buýt, người đổi ga, thợ cắt tóc, cảnh sát giao thông, cảnh sát công an, thậm chí rất có thể chính là cấp trên, đồng nghiệp, cấp dưới của chúng ta... Thế là khí của họ lại trực tiếp hoặc vòng vo tam quốc trút lên chính chúng ta, thế là mỗi một người chúng ta gần như mỗi một ngày đều không hiểu sao nén một bụng khí.

Dường như mỗi bộ phận người Trung Quốc nhìn bộ phận người Trung Quốc khác đều không thuận mắt, đều thấy khí.

Sự khinh miệt và căm ghét, lan tràn giữa người Trung Quốc với nhau, đến mức người Trung Quốc phổ biến đều ít nhiều có chút khinh miệt và căm ghét chính chúng ta. Chúng ta dường như những đứa trẻ không được giáo dục tốt, chơi trò chơi tâm lý chơi xấu lẫn nhau đùa giỡn lẫn nhau, chúng ta không muốn chơi loại trò chơi cấp thấp này, nhưng chúng ta đã mắc "chứng bệnh trò chơi" chơi loại trò chơi này. Chúng ta khao khát nhận được sự giáo dưỡng xã hội tốt.

Mê tín, bao vây thành phố từ nông thôn. Mạt chược, xoay từ trong Đảng ra ngoài Đảng. Bóng đá, liên tiếp bại trận trong các giải quốc tế, mà trên quan trường lại xuất hiện vô số "cầu thủ quốc gia". Bi-a là giải trí văn minh, một khi sau khi có "đặc sắc Trung Quốc", liền trở thành phương thức đánh bạc của đám tiểu lưu manh đầu đường xó chợ... Trung Quốc, Trung Quốc, con thuyền kỷ nguyên mới vừa mới giương buồm nhổ neo, đồng bào phổ biến của chúng ta dường như đều lây nhiễm vi khuẩn "tâm thái cuối thế kỷ".

Từ Trần Thắng, Ngô Quảng đến Hồng Tú Toàn đến Tôn Trung Sơn đến Mao Trạch Đông, trong lịch sử Trung Quốc mấy thế kỷ, tiền phó hậu kế, đổ máu rơi đầu, oanh oanh liệt liệt sống chết, những người "dưới đất ba tấc" của Trung Quốc rốt cuộc vì một việc - chờ phú quý, chia ruộng đất. Đúng như Mao Chủ tịch thơ từ đã tả - "Thu dọn một mảnh kim âu, chia ruộng chia đất thật bận!" Ý thức bình đẳng thuần túy nông dân này do Trung Quốc vẫn là một nước nông nghiệp lớn, thống trị đầu óc của hầu hết đại đa số người Trung Quốc. Mà hiện thực dường như khiến người ta cảm thấy - bình đẳng càng tranh càng ít, càng tranh càng thấy rõ trở thành không thể. Trăm họ phổ biến cảm thấy hiện thực đùa giỡn họ. Chỉ đơn thuần là ti vi, tủ lạnh, máy giặt xuất hiện trong gia đình họ, không thể khiến cảm giác mất mát của họ đi đến cân bằng. "Nghèo đói tương đối" khiến vết nứt bất bình đẳng phân minh ngày càng sâu rộng. Các loại hiện tượng bất bình đẳng hiện ra vẻ mặt nanh ác đáng sợ. Lòng dân tan rã như đồ cát thành cát, nhưng chúng ta sớm đã nên hiểu thế giới này chưa bao giờ thực sự bình đẳng! Về cái gọi là thuyết "sự mất mát của văn học", đến nay đi sâu điều tra suy nghĩ kỹ, e rằng chưa hẳn. Văn học một thời kỳ nào đó tương đối trầm lắng. Dùng hai chữ "mất mát" để hình dung đã không còn chính xác. Văn học là một loại vitamin tinh thần của nhân loại. Giống như người để ý tình trạng sức khỏe của mình thiếu loại vitamin nào đó không cần người khác gợi ý cũng sẽ vào hiệu thuốc, người để ý nội dung tinh thần của mình cũng không cần người khác gợi ý cũng sẽ đi tìm văn học. Thứ hai văn học không chỉ tương đương với tiểu thuyết. Thường thấy một số sạp sách, trên đó bày là đồi trụy hung sát, sách nghiêm chỉnh trái lại là đặt dưới sạp. Phải nhìn ra đối phương là người đọc sách nghiêm chỉnh mới giới thiệu. Giống như cửa hàng binh khí thời cổ đại, đao bén bảo kiếm là có chỗ để khác, không triển lãm.

Sự chân thành của tôi nằm ở chỗ, hoặc sự nông cạn của tôi nằm ở chỗ - tôi từng cố chấp cho rằng, người từng làm thanh niên trí thức, đặc biệt là người từng làm thanh niên trí thức Bắc Đại Hoang của chúng ta, đàn ông đều là hán tử, đàn bà đều là đàn bà tốt. Dường như toàn xã hội đều trở nên xấu xa. Người người đều bắt đầu lừa dối lẫn nhau, giữa các thanh niên trí thức Bắc Đại Hoang, vẫn sẽ có một loại tình cảm ấm áp duy trì, vẫn sẽ có một loại tính đáng tin cậy đặc biệt tồn tại.

Sự mất mát lớn lao của tôi, chính là nằm ở đây.

Cuộc sống hiện thực thay đổi con người là quy luật cực kỳ tự nhiên. Giống như gió phong hóa đá thành hình thái kỳ quái. Thành thực mà nói, lời răn đe mà hiện thực đưa ra cho tôi, đâu chỉ vỏn vẹn hai chuyện nhỏ! Giữa tôi và những "chiến hữu thanh niên trí thức" xung quanh tôi, sự xa lạ đó, sự biến đổi của mối quan hệ đó, càng sâu sắc càng nanh ác lại càng bức người. Chỉ có điều trước khi tôi không bị tấn công và hãm hại quá mức hèn hạ, tôi ước gì, nó tốt đẹp như lúc đầu mà thôi. Người ta cố chấp vào sự chân thành niết bàn giả tạo nào đó, cảm giác tự thân thường là tốt.

Trưởng thành sớm là đáng thông cảm, đáng thương.

Quá trưởng thành là đáng ghét, đáng sợ, không thể tin cậy.

Gốc rễ của chân thành là ngây thơ.

Ngây thơ rất đáng yêu, nên chúng ta dùng "lãng mạn" để hình dung. Nhưng ngây thơ tuyệt đối nông cạn, nên chân thành tuyệt đối gần như tất yếu dẫn đến cố chấp.

Con người ơi, chúng ta lựa chọn giữa chân thành và trưởng thành, thật là lưỡng nan biết bao! Bạn đã từng thấy một người quá trưởng thành lại là chân thành chưa?

Bạn đã từng thấy một người ôm ấp chân thành lại có thể ôm ấp mãi mãi không?

Nhưng tôi có thể khẳng định, bạn chắc chắn là đã thấy kết cục của những người bị chân thành lừa dối, hãm hại...

Người Trung Quốc chúng ta ngày nay nhiệt tình khởi xướng "hội đồng môn", "hội cựu học sinh", "hội đồng hương", "hội thanh niên trí thức", dường như càng hy vọng có cái "hội" này hoặc cái "hội" kia chìa ra cho mình một bàn tay "dắt dìu", người cần hoặc muốn có được cái gì đó quá nhiều quá nhiều rồi. Người chịu hoặc cam tâm bỏ ra cái gì đó quá ít quá ít rồi. Cho nên bất kỳ hình thức hội nhóm nào của người Trung Quốc ngày nay, đều bôi lên màu sắc công lợi cực đoan. Cho nên bất kỳ hội nhóm nào của người Trung Quốc ngày nay, đều không thể lâu dài, và đều tất yếu sẽ khiến người ôm một phần chân thành gia nhập cuối cùng rơi vào một sự thất vọng lớn. Tôi thậm chí nghi ngờ ngay cả giáo hội trên mảnh đất Trung Quốc hôm nay cũng khó mà tránh tục.

Cho nên tôi bằng sự chân thành, thành thực và tâm huyết mười hai phần khuyên bảo những thanh niên trí thức Bắc Đại Hoang năm xưa của tôi:

Nhớ mình năm xưa từng là một thanh niên trí thức Bắc Đại Hoang, nhớ hầu như cả một thế hệ năm xưa đều từng là thanh niên trí thức khắp nơi - chỉ cần nhớ điểm này là đủ. Bởi vì điều này biểu thị bạn vĩnh viễn nhớ chính mình là ai. Trải nghiệm đó dù sao cũng là một lần rửa tội mà mỗi người chúng ta trải qua. Nhưng, đừng tìm kiếm nó - hình thức quần chúng "thanh niên trí thức Bắc Đại Hoang" trong thành phố ngày nay.

Dù nó tồn tại, cũng đừng tin nó. Đừng đem thực tiễn về việc bạn hy vọng mình trở thành người như thế nào và có thể trở thành người như thế nào liên hệ với nó, càng đừng coi nó là một phần nội dung cuộc sống và ý nghĩa cuộc sống của bạn.

Rắn dùng thân thể để đi. Hoa dùng nở tàn để đi. Đá dùng cứng mềm để đi. Đồ vật dùng mới cũ để đi. Sống dùng chết để đi. Nóng dùng lạnh để đi. Lạnh dùng băng để đi. Có dùng không để đi. Động dùng tĩnh để đi. Âm dùng dương để đi. Lửa dùng cháy để đi. Tinh cầu dùng lực hấp dẫn để đi. Lịch sử dùng quá khứ để đi.

Còn con người, chỉ có con người, dùng hai chân để đi.

Ngoài chính bạn ra, không có người thứ hai có thể kéo bạn lên cao - bởi vì bạn sẽ không nắm chặt được dây thừng.

Trong tất cả các loài động vật quần tụ, chỉ có đàn voi là cao quý nhất, không mất tôn nghiêm nhất, hòa mục nhất cũng hòa bình nhất.

Con người ngoài đại não phát triển hơn voi ra các khía cạnh khác đều không bằng voi.

Con người quá giống khỉ.

Mà đàn khỉ là quần thể động vật đáng ghét nhất. Bởi vì chúng quá giống người nhưng lại hoàn toàn không phải là người.

Năm một chín tám tám, tôi từng bước bước vào vương quốc độc lập của đàn ông. Tôi cuối cùng hiểu ra, trong vương quốc độc lập như vậy, chỉ có trong vương quốc độc lập như vậy, tôi mới có dũng khí thoát khỏi mọi áp chế của thị tục đối với tôi, thiết kế chính mình trở thành một người đàn ông độc lập, tạo hình tình cảm, phẩm cách, cá tính của đàn ông.

Khi bạn bước vào vương quốc tinh thần độc lập của bạn, bạn mới thực sự về phương diện tình cảm, phẩm cách và cá tính đều là vị vua có uy quyền thực sự của chính mình! Bạn sẽ không vì độc lập mà cô lập.

Bạn lúc đó giống như đứng trên một tinh cầu chỉ thuộc về chính mình, bạn sẽ phát hiện ra một số người khác cũng giống như bạn, cũng đứng trên tinh cầu chỉ thuộc về chính họ, họ sẽ gật đầu chào bạn. Lúc đó, bạn, người đàn ông độc lập về tinh thần, và bạn, người đàn bà độc lập về tinh thần, mới thâm cảm mình không thẹn làm người một kiếp. Lúc đó, chỉ có lúc đó, quan hệ của bạn và nhân loại - tức là xã hội, cái gọi là xã giao, cái gọi là tình bạn, cái gọi là đạo nghĩa và cái gọi là lương tâm v.v., mới là bình thường. Mới là đáng quý.

Tôi đối với những hiệp sĩ hiệp nữ thời cổ đại, ví dụ như Bạch Ngọc Đường, Lữ Tứ Nương, Tiêu Anh v.v., yêu thích đến chết đi sống lại. Đương nhiên, cũng yêu thích những người đàn ông cứng rắn Trung Quốc mặt lạnh do Lý Tiểu Long đóng. Tôi không yêu thích Thành Long lắm. Bởi vì tôi không yêu thích người mép mép môi môi. Hơn nữa bởi vì Thành Long trong các bộ phim anh ta đóng chưa bao giờ chết. Tôi rất coi trọng một người, đặc biệt là thái độ đối với cái chết của một người đàn ông. Tôi khâm phục và sùng bái người đàn ông đối mặt với hiểm nguy mà coi cái chết như về nhà.

Xã hội đương đại văn minh, con người đương đại văn minh, và tất cả văn minh của nhân loại đương đại, phải bóp chết sự ra đời của thế lực ác và mạnh, phải diệt tuyệt sự sinh trưởng của nó, phải phá hủy sự hình thành của nó, phải giống như phòng ngừa ung thư mà phòng ngừa nó.

Nếu không, chúng ta chỉ có thể chịu đựng...

Mọi người, vì chính chúng ta, vì con cháu chúng ta tránh khỏi sự sỉ nhục của kẻ ác, tránh khỏi sự áp bức của thế lực ác, tránh khỏi sự thao túng của thống trị ác, chúng ta đều khiến mình mạnh lên đi! Cái thiện mạnh mẽ, là cái thiện tột cùng. Lấy cái thiện tột cùng mạnh mẽ, chống lại cái ác cực đoan mạnh bạo ở ngoài thời đại chúng ta ở ngoài thế kỷ chúng ta ở ngoài văn minh nhân loại chúng ta! ...

Mỗi người đương đại đều nên có phần trách nhiệm này.

Tôi đối với cơ thể mình từ lâu đã không tin tưởng.

Việc tôi ghét nhất, chính là đến bệnh viện kiểm tra cơ thể hoặc chữa bệnh.

Thậm chí có thể nói, tôi đối với cơ thể mình mang ác ý - nó không cho tôi sự khỏe mạnh, vậy thì tôi dứt khoát không coi nó ra cái gì cả. Cái gọi là có qua có lại. Cùng lắm là, đồng quy vu tận mà thôi. Tôi hút thuốc là vì tôi căn bản không cai được thuốc. Tôi viết văn giống như tôi hút thuốc vậy. Nicotine văn tự từ lâu đã "độc hại" tôi, hòa vào máu tôi, hình thành sự cân bằng thể chất bất thường nào đó. Một số người cai thuốc trái lại chết sớm. Dừng viết văn tôi cũng bằng tự sát chậm.

Đối với tiểu thuyết gia mà nói, sinh mệnh của anh ta là một trang giấy không bao giờ viết kín chữ. Cho nên sinh mệnh của họ chỉ có thể chấm dứt ở dấu phẩy hoặc dấu chấm lửng. Đại khái là như vậy. Đây đối với họ đều là lựa chọn không còn cách nào khác cũng gần như đều là cam tâm tình nguyện.

Ở Trung Quốc, tất cả những người được gọi là "người tốt", mười phần tám chín đều là những người tự mình sống sờ sờ bóp chết "cái tôi". Vấn đề càng khiến người ta thất vọng nằm ở chỗ, nếu chúng ta làm một "kẻ quái đản", "kẻ ác" tuyệt đỉnh, hiện thực liệu có chịu trả lại chúng ta cái tôi tốt hơn không? Nếu chúng ta cự tuyệt người ngoài ngàn dặm, tình hình liệu có tốt hơn một chút không? Nếu chúng ta giam mình trong phương tấc, tự do cá tính liệu có lớn hơn một chút không? Tôi không tin. Cho nên tôi thường trong hoàn cảnh ủy khuất chính mình mà trải nghiệm nhân sinh, lặng lẽ thừa nhận cái "tôi" biến dị đó e rằng chính là cái "tôi" thuộc về danh nghĩa Lương Hiểu Thanh đã được định sẵn.

Người phương Tây khi gặp mặt, chưa bao giờ hỏi "Bạn ăn cơm chưa?"

Người Trung Quốc cực ít có người vì bảo vệ cái tôi mà lớn tiếng nói - "Không!" Cũng như người Trung Quốc ngay cả ở trong nhà vệ sinh gặp mặt cũng phải hỏi "Ăn chưa?"

Mỗi người gánh vác thường xuyên nhất thực ra là gánh nặng do tính cách của anh ta gây ra.

Tuy nhiên không bị ô nhiễm là căn bản không thể. Chúng ta mỗi người bất kể nam nữ sớm muộn gì cũng sẽ bị ô nhiễm, sớm muộn mà thôi, mức độ khác nhau mà thôi. Chúng ta không trốn thoát được, mỗi một người chúng ta. Tất cả những điều tốt đẹp của nhân loại đều là nhân loại làm cho. Tất cả những điều xấu xa của nhân loại cũng đều là nhân loại làm cho. Thế giới vật chất chỉ có thể ô nhiễm cơ thể vật chất của chúng ta. Sự xấu xa chúng ta tự mình làm cho mới ô nhiễm linh hồn chúng ta. Thực tế khi chúng ta từ biệt nhân thế không có một linh hồn của ai hoàn mỹ như cũ. Thực tế cái gọi là linh hồn cao thượng có lẽ chính là những linh hồn bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất bị ăn mòn nghiêm trọng nhất. Sự khác biệt nằm ở chỗ nó có thể bị ô nhiễm có thể bị ăn mòn nhưng không thể bị thay đổi hình dạng vốn dĩ. Trừ khi đập nát nó. Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ đó, chỉ nằm ở chỗ đó...

Người Thượng Hải rất tinh khôn. Sự tinh khôn của người Thượng Hải, là một loại sự tinh khôn thân thân mật mật lẫn nhau. Mối quan hệ nhân tế thân mật mà tinh khôn này, khiến người Thượng Hải trong giao tiếp không chịu thiệt thòi mà lại cùng có lợi. Lịch sử Thượng Hải, huấn luyện người Thượng Hải bằng một loại tinh khôn như vậy. Nó không đáng ghét. Tuy nhiên nó cũng không đáng tin cậy lắm. Người Thượng Hải quen với điều này, thích ứng với điều này, thậm chí có thể còn có chút tự thưởng thức.

Người Quảng Châu cũng rất tinh khôn. Sự tinh khôn của người Quảng Châu là một loại sự tinh khôn ngầm hiểu lẫn nhau. Trong mối quan hệ này, họ kiểm tra mình có phải là người tinh khôn nhất đồng thời cũng dường như kiểm tra người khác có phải là kẻ đại ngốc không. Người Thượng Hải vì sự tinh khôn phổ biến, có lẽ rất tôn trọng sự đôn hậu. Người Quảng Châu vì đều quá muốn trở thành người tinh khôn nhất, có lẽ khinh miệt sự đôn hậu chăng? Người Quảng Châu nếu giao thiệp với người ngoại tỉnh cáo già, một khi chịu thiệt, có lẽ chính là nằm ở điểm khinh miệt sự đôn hậu này. Người ta hơi không quá coi đối thủ mà mình khinh miệt là đối thủ. Người Quảng Châu, cảnh giác người ngoại tỉnh cáo già ở điểm này khoét lỗ hổng của các bạn đấy!

Tôi chân thành hy vọng văn đàn ổn định, đoàn kết, hòa mục. Tôi cho rằng bảo vệ điều này là một trong những nghĩa vụ của mỗi nhà văn. Tôi dựa theo nguyên tắc như vậy, giữa các bạn bè nhà văn không dưới một lần đã làm nghĩa vụ nhỏ bé của mình. Có một số người, luôn mong văn đàn xảy ra chuyện gì đó, họ cho rằng khi xảy ra chuyện gì đó, họ liền vui sướng đến cực điểm. Họ liền hả hê đến cực điểm. Lâu không xảy ra chuyện gì, họ liền cảm thấy cô đơn nhàm chán, cảm thấy trống rỗng, họ liền câu kết, bới móc chút thị phi, truyền bá chút lời đồn thổi. Nhân tạo khiêu khích và tạo ra chút mâu thuẫn, tranh chấp.

Họ đại khái là những kẻ trà trộn lâu năm trong văn đàn mà lại không dốc sức vào sáng tác văn học. Tôi chán ghét họ đến tận cùng!

Một số chính trị gia giống như loại sách lớn như vậy - từng bộ từng bộ "kinh điển" cực kỳ dày nặng.

Còn đối với những người như chúng ta, chẳng qua chỉ là những người liên quan đến điện ảnh. Điện ảnh không phải là việc lớn của Trung Quốc. Hiện nay đặc biệt tỏ ra không phải. Dù nhấn mạnh thế nào cũng không phải. Dù miêu tả nó là thế nào, tưởng tượng nó là thế nào, tóm lại nó vẫn không phải. Trong một số trường hợp, nó thậm chí, thường xuyên, chẳng qua chỉ là việc liên quan đến danh lợi của những người như chúng ta. Thậm chí, chẳng qua chỉ là "đạo kiếm cơm" của chúng ta mà thôi.

Ảnh hưởng sâu sắc của lịch sử đối với tâm lý của một dân tộc, là hoàn toàn có thể thay đổi cùng với sự thay đổi của hiện thực. Trung Quốc thực ra không phải là một quốc gia dễ dàng bị kích động cảm xúc dân tộc cực đoan.

Hong Kong "đứa trẻ bị bắt cóc" một trăm năm trước này, ngày nay với một tư thế trưởng thành trở về vòng tay của mẹ tổ quốc, kết quả này là điều người Trung Quốc hài lòng. Hài lòng mới có thể khiến con người bình hòa. Bình hòa mới có thể khiến con người khoan hậu. Khoan hậu mới có thể khiến một dân tộc hiểu được sự cần thiết của chừng mực trong quan hệ quốc tế.

Một trăm năm mươi năm trước nước Anh không phải là nước Anh hiện nay.

Một trăm năm mươi năm sau Trung Quốc không phải là Trung Quốc trước kia.

Cho nên một trăm năm mươi năm trước xảy ra là tất nhiên phải xảy ra.

Cho nên một trăm năm mươi năm sau kết thúc là tất nhiên phải kết thúc.

Đối với "cải cách mở cửa" của Trung Quốc, tôi từng là một quân cờxí đồ tự mình nhảy từ hộp cờ lên bàn cờ cố làm con tốt đi trước.

Ngày nay một chân của Trung Quốc đã bước vào thời đại thương mại. Nó giống như sau thủy triều, lại một vùng đại lục trồi lên từ đáy biển.

Tôi không cho rằng chỉ cần mang màu sắc thương mại, nghệ thuật liền không còn là nghệ thuật nữa. Văn học liền không còn là văn học nữa.

Xã hội thương mại trưởng thành, cần một sự đảm bảo về quan hệ hòa bình hữu nghị giữa một quốc gia với các quốc gia xung quanh. Cần sự đảm bảo về ổn định chính trị trong nước.

Tôi nhìn chằm chằm vào thời đại thương mại, dần ngộ ra bản chất của nó thực ra là cô đơn. Là một loại cô đơn lớn.

Những quyết sách kinh thiên động địa của thời đại thương mại, hầu như không cái nào không liên quan đến thương mại.

Có tiền bắt đầu có nhàn, có nhàn mới dễ nảy sinh cảm giác cô đơn. Thiếu tiền bận rộn chạy vạy kiếm tiền, cũng không rảnh mà cô đơn.

Văn học thời đại thương mại cũng sẽ là cô đơn. Bởi vì thời đại thương mại trưởng thành sẽ giỏi điều tiết và xử lý rất nhiều vấn đề xã hội mâu thuẫn xã hội. Những "phụ phẩm" của "đề tài xã hội" để lại cho văn học. Văn học không thèm nhai những "phụ phẩm" này, do đó quy về tâm linh con người. Nhưng đối mặt với tâm linh cô đơn của con người, văn học còn chưa hình thành văn học, đã tự cảm thấy cô đơn. Thời đại thương mại trưởng thành là thời đại tuyệt đối khó sản sinh văn học sử thi...

Đánh giá ưu liệt của một thời đại nào đó, chủ yếu nên lấy cảm giác của nhân dân chứ không phải của các nhà văn để phán đoán. So với nhân dân, thời đại thậm chí có thể hoàn toàn bỏ qua cảm giác của các nhà văn không thèm đoái hoài tới, mà không làm mất đi nguyên tắc cơ bản gì của nó...

Một quốc gia và dân tộc trưởng thành, trước hết nên là một quốc gia và dân tộc tin tưởng chính trị gia và nhà ngoại giao của mình.

"Già" cũng là một từ khiến ý niệm thất vọng tâm lý hoang mang. Một cảm giác toàn thân bị thứ gì đó lông bông dính chặt, kéo không ra vứt không bỏ.

Tôi là một người trong thế hệ chúng ta, tuổi tác không tính là lớn nhất cũng không tính là nhỏ nhất. Thế hệ chúng ta, phổ biến đều bắt đầu trí nhớ rõ ràng giảm sút. Mặc dù chúng ta đang ở độ tuổi cái gọi là "tráng niên". Chúng ta quá sớm bị chữ "già" dính vào. Chúng ta tự mình đôi khi không muốn thừa nhận, nhưng trong lòng ai cũng rõ. Chúng ta thà rằng sự "già" này trước hết bắt đầu từ thể phách. Nhưng nó lại cứ bắt đầu từ trí tuệ tấn công chúng ta liên tục. Là do thiếu dinh dưỡng thời kỳ "ba năm thiên tai" gây ra? Hay là do hao tổn quá lớn trong mười năm "lên núi xuống nông thôn" gây ra? Hay là hiện nay trên có già dưới có trẻ bản thân trách nhiệm nhiều, do đó đều sớm mắc kết quả của "chứng mệt mỏi tổng hợp tuổi trung niên"?

Thế hệ chúng ta tụ tập lại, so với mười năm trước vài năm trước tụ tập lại lời nói đều rõ ràng ít đi. Đều đại khái có một ý vị muốn nói lại thôi rồi nhỉ!

Ở nhiều thành phố của Trung Quốc, đều có nhiều người Trung Quốc cỡ như Đại và Nhị Tiểu. Số lượng của họ, ít nhất là nhiều hơn những người Trung Quốc "giàu lên trước". Họ - và các cô ấy, rất nhiều đồng bào anh chị em của chúng ta cỡ như Đại và Nhị Tiểu đang hàng ngày hàng ngày tiến hành, "trận chiến trường kỳ" kiên cường chống lại sự đọa lạc và phạm tội, ai nói chỉ là "cuộc chiến" cá nhân của họ chứ? Ít nhất, nên tính là một trận trong "cuộc chiến" chiến thắng nghèo nàn lạc hậu của dân tộc Trung Hoa nhỉ! Đây cũng là một trong những tiền đề ổn định của Trung Quốc đấy! Nhưng vấn đề của con người đương đại là mức sống vật chất càng nâng cao tâm tình càng u buồn. Nội dung đời sống tinh thần càng phong phú tinh thần càng trống rỗng. Càng không có mấy chuyện đáng cảm thương càng cảm thương chưa từng có. Đây là một loại thời thượng. Một loại mốt. Một loại bệnh. Một loại bệnh lây nhiễm lẫn nhau mà không có thuốc đặc hiệu nào chữa được. Mọi người đều cảm thấy mình cũng đang ở vào lúc lâm chung vậy, kể cả những nam nữ đang trẻ tuổi.

Sự ra đời của nhiều loại cái đẹp là cái giá của sự hủy diệt nhiều loại cái đẹp khác.

Mà trong quá trình này và sau đó, liền sẽ có nhiều chuyện nhàm chán không có ý nghĩa đi kèm...

Sự khác biệt giữa dục và dục vọng, giống như sự khác biệt giữa tính và tình yêu. Tốt hơn giống như sự khác biệt giữa tắm rửa và bơi lội nghệ thuật.

Nhân loại dừng lại ở việc thỏa mãn dục vọng, thì sự thay đổi của thế giới này cũng dừng lại hẳn.

Một gia đình cũng có dục vọng. Một xã hội cũng có dục vọng. Một dân tộc cũng có dục vọng. Một quốc gia cũng có dục vọng. Nhân loại không thể không có dục vọng, bởi vì con người cụ thể đều có dục vọng. Nhân loại không thể không có dục vọng, bởi vì nhân loại cũng nhờ vào dục vọng của chính mình mà tiến hóa, tiến bộ và văn minh lên. Một gia đình, một xã hội, chỉ có dựa vào sự nhất quán dục vọng của các thành viên mà ngưng tụ và mỗi người tận khả năng của mình, mới có thể thực hiện mục tiêu theo đuổi. Một dân tộc cũng là như vậy. Một quốc gia cũng là như vậy.

Dục vọng đương nhiên có sự phân biệt tốt xấu. Dục vọng tốt thực ra chính là lý tưởng. Dục vọng xấu thực ra chính là dã tâm. Một người nảy sinh dục vọng xấu, cực kỳ dễ trượt vào con đường phạm tội. Một gia đình nồng nặc một mảnh các loại dục vọng xấu, cực kỳ dễ khiến gia đình chốn ấm áp này biến thành ổ tội ác. Một xã hội bị ngưng tụ bởi dục vọng xấu, sẽ gây nguy hại cho xã hội. Một dân tộc một quốc gia bị cai trị bởi dục vọng xấu, thì tất sẽ nguy hại hòa bình toàn nhân loại.

Do đó dục vọng của một người cụ thể, là cần phải tự giác dùng lý trí thường xuyên thẩm xét, phán đoán và khống chế. Một người nảy sinh dục vọng vừa xấu vừa mãnh liệt, một người như vậy mà không thể thẩm xét, phán đoán tốt xấu của dục vọng mình, và không thể khống chế nó, thì người này là người nguy hiểm đối với người khác. Một xã hội, một dân tộc, một quốc gia, cũng đều là như vậy.

Sự đạt được của mỗi loại dục vọng, hầu như đều là cái giá của việc từ bỏ một loại hoặc vài loại dục vọng khác.

Đa số trẻ em là "nhà lý tưởng" triệt để. Chúngxí đồ thực hiện hoặc đạt được, điều một lòng theo đuổi thường là toàn bộ. Cho nên trẻ em thường sẽ rơi vào tình thế lưỡng nan loại này - khi chúng đưa tay vào bình gốm cổ hẹp lấy cái gì đó, tay chúng hầu như đều tham lam vơ đầy. Kết quả chúng đến tay mình cũng bị kẹt không rút ra được. Chúng hoặc sẽ vội đến bật khóc, hoặc sẽ nổi giận đập vỡ bình gốm. Khóc là vô ích. Rơi bao nhiêu nước mắt cũng không bằng buông xuống một chút thứ muốn đạt được.

Nhà lý tưởng chân chính, là người giỏi khống chế dục vọng.

Đại nhảy vọt là không lý trí. Là dục vọng kiểu trẻ em.

Thời kỳ đầu của thời đại thương mại, các loại dục vọng của con người đều bị kích thích chưa từng có. Thời kỳ này dục vọng nhân loại, có mang màu sắc cực kỳ tham lam. Làm thế nào để dục vọng cá nhân đang bành trướng mãnh liệt, ngưng tụ thành lý tưởng chung của dân tộc và quốc gia, là sứ mệnh gian nan của thời đại. Thời đại không hoàn thành sứ mệnh này, thời đại sẽ đi tới mặt đối lập.

Nếu "tinh thần gia viên" chẳng qua chỉ là thư phòng lớn nhỏ của văn nhân, "theo đuổi tinh thần" chẳng qua chỉ là đọc kinh, đọc sử, đọc triết, đọc chư tử, đọc thánh hiền, ngâm thơ tự nói, viết văn tự thưởng, tự tôn sùng, vậy thì thực ra chẳng có ai bước vào "tinh thần gia viên" của văn nhân, làm ra vẻ chống cự dũng cảm là nực cười.

Văn nhân hoàn toàn có thể thủ giữ phương thức sống mình thích, nhưng nếu tự khen ngợi quá mức, thì liền không chỉ là làm bộ, mà còn hơi đáng ghét. Tóm lại, "gia viên" của văn nhân, cũng trước hết là sự kết hợp vật chất. Sau đó mới là chất lượng tinh thần. Chất lượng tinh thần này xây dựng trên nền tảng vật chất của "gia viên" văn nhân.

Tôi chưa bao giờ viết gì về bốn chữ "tinh thần gia viên" của văn nhân, thực sự không muốn đặt mình vào tình cảnh bị đáng ghét.

Những người nông dân Trung Quốc bẩm sinh thực ra đều không gian xảo. Nếu nói họ hiện tại hơi gian xảo rồi, đó cũng là học được sau này.

Một thời đại như vậy đang ép sát trước mặt người Trung Quốc chúng ta - bánh xe của nó chỉ lo ầm ầm tiến về phía trước, tuyệt đối không vì bất kỳ người hành động chậm chạp nào mà giảm tốc độ hoặc dừng lại chờ đợi một lát. Bạn hoặc là ngồi trong toa xe của nó. Đẳng cấp toa xe của nó được phân ngày càng chi tiết càng nhiều. Bạn hoặc là theo bánh xe của nó bay chạy vất vả mưu sinh, đợi nó đến trạm nào "thêm nước" thì nhảy lên xe. Bạn hoặc là có cơ sở kinh tế và tố chất tâm lý căn bản không đếm xỉa nó chạy đến đâu, có tư cách và cam tâm làm một người bàng quan người ngoài cuộc của sự phát triển thời đại. Mà bất hạnh nhất là bạn đối với tính đa biến tính lạnh lùng của nó dự đoán không tới ước tính không đủ, bị nghiền dưới bánh xe của nó...

Chỉ cần người lưu tâm quan tâm thời đại, thì nó trước khi sắp vứt bỏ một số người, luôn sẽ hiện ra chút dấu hiệu. Bỏ qua sự xảy ra của những dấu hiệu này, không còn là lỗi của thời đại, mà chỉ có thể thừa nhận mình đối với mình không làm tròn trách nhiệm. Đối với người có sự chuẩn bị, từ lối sống tốt rơi vào lối sống xấu, thực ra không có nghĩa là cảnh ngộ tuyệt vọng, cũng không thực sự đáng sợ đến thế. Chỉ cần sự kiên nhẫn và năng lực chịu đựng, lòng tự trọng chịu được ném quăng và sự tự tin làm lại từ đầu mà thôi.

Người có sự chuẩn bị, tất có thể từ lối sống xấu chuyển tiếp lại sang một lối sống tốt khác, tránh bị thời đại nghiền dưới bánh xe của nó.

Nếu bạn muốn dấn thân vào một con đường đầy rẫy chông gai trắc trở, có một người lính bầu bạn, bạn sẽ thầm cảm thấy may mắn. Bởi bạn tin chắc rằng, dù trong bất cứ tình huống nào, anh ta cũng sẽ không bỏ mặc bạn. Nếu có hai người lính bầu bạn, bạn sẽ vô tư lự. Nếu có ba người lính bầu bạn, bạn hoàn toàn có thể vừa hát vừa lên đường. Cho dù họ chỉ mới mười tám, mười chín, hai mươi tuổi đầu, cho dù về tuổi tác bạn có thể làm anh, thậm chí làm cha của họ...

Bộ đội Trung Quốc là những người lính con em nhân dân đúng nghĩa.

Quảng cáo là gì? — Chẳng qua chỉ là một cách thức thông báo rộng rãi mà thôi. Từ các chính lệnh quốc gia cho đến sản phẩm thương mại, không gì là không cần nhờ đến phương thức quảng cáo để truyền bá.

Đừng so sánh với Lý Bạch. Lý Bạch say thì thi hứng bùng phát, để lại cho hậu thế nhiều báu vật thi ca. Còn phần lớn hậu thế chúng ta, thực ra say chỉ biết nôn mửa, chỉ biết làm loạn khi say. Chỉ khiến con cái, cha mẹ và vợ của chúng ta đau lòng rơi lệ mà lại tuyệt vọng về chúng ta.

Trung Quốc hiện nay đã sản sinh ra không ít "doanh nhân tư nhân". Quốc sách đã cung cấp cơ hội cho một số người. Nhưng trong số họ, có người là danh xứng với thực. Có kẻ là lừa đảo. Có kẻ đã bị chứng minh là lừa đảo. Có kẻ sẽ bị chứng minh là lừa đảo. Tầng lớp trung lưu và tầng lớp tư sản Trung Quốc, cộng lại số lượng cũng cực kỳ nhỏ.

Nhưng lại mang đầy đủ những đặc trưng nổi bật của tầng lớp mới trong lịch sử nhân loại luôn tự thấy ưu việt về mặt địa vị kinh tế — ví như lòng hư vinh tiêu dùng mãnh liệt, ví như quan niệm sùng bái tiền bạc, ví như lối hưởng lạc buông thả không chút ý thức tự kỷ luật, ví như sự bám víu lẫn nhau với tầng lớp quyền quý, ví như sự nhiệt tình với văn hóa nhàn nhã, vân vân.

Phẩm chất của họ không cao. Không thể tránh khỏi việc thường xuyên bộc lộ vẻ đắc ý của kẻ mới phất và tâm lý ghét nghèo yêu giàu, thậm chí là làm giàu bất nhân. Hình ảnh xã hội của họ thường rất tệ. Thậm chí là rất xấu xí. Cảm giác ưu việt của họ thường bị đông đảo quần chúng Trung Quốc chán ghét.

Tầng lớp tư sản mới nổi của Trung Quốc quá đỗi tự mãn. Trên mảnh đất Trung Quốc này, lối hưởng thụ và cách hưởng lạc của họ cũng khó tránh khỏi vẻ quá xa xỉ. Tầng lớp trung lưu mới nổi của Trung Quốc quá nũng nịu, quá điệu đà, quá sến súa, quá giả tạo. Hơn nữa, lại quá hư vinh.

Kể từ khi lập quốc đến nay, Bắc Kinh đã hình thành nên một số vòng tròn ảnh hưởng quyền lực sân đình lớn nhỏ. Đây là một trong những đặc sắc của Trung Quốc.

Trong mắt tôi, logic nội tại và quán tính của chính trị cực kỳ đơn giản. Thậm chí có thể nói là đơn giản đến mức vô vị. Tôi cho rằng đó là một trong những thứ vô vị nhất trong thế thái nhân tình. Vì vậy, phần lớn thời gian, điều tôi thích nhất là hướng mắt nhìn ra chúng sinh. Chen thân vào giữa chúng sinh, điều này sẽ mang lại cho tôi vô vàn cảm hứng sáng tác, khơi dậy trong tôi vô vàn xung động sáng tác.

Trong trạng thái chính trị ngày càng trưởng thành, xã hội ngày càng ổn định, sự tự do của tiểu thuyết gia mới ngày càng lớn. Rất nhiều điểm vĩ đại, điểm cao quý, cũng như nền văn minh huy hoàng tính đến nay của nhân loại, có thể nói đều là kết quả của sự so sánh giữa con người với nhau. So sánh không ngừng kích thích tâm lý đuổi kịp và vượt lên của con người. So sánh là một hoạt động tư duy cực kỳ cao cấp.

Con người luôn phải so sánh. Ý thức so sánh hầu như đi theo suốt cả cuộc đời con người. Người già rồi vẫn cứ phải so sánh. Người ta sống đến già, so đến già. So sánh là bài học của cuộc đời. Muốn học tốt bài học này chẳng dễ dàng gì.

Một số quan chức của chúng ta, mỗi khi giải quyết mâu thuẫn, nan đề và cục diện bế tắc thì không thiếu khả năng tuân theo "nguyên tắc". Về phương diện này, Đảng ta có truyền thống rất tốt đẹp đáng được phát huy rộng rãi. Thế nhưng, họ thường quá thiếu những phương pháp giải quyết mâu thuẫn, nan đề và cục diện bế tắc một cách thông tuệ.

Về vấn đề phương pháp, có thêm một chút kinh nghiệm, bớt đi một chút giáo điều, dù thế nào đi nữa cũng luôn là tốt...

Xã hội hiện đại, cách thức "cầu yêu" đủ kiểu muôn màu muôn vẻ, thế nhưng dư vị cổ điển thì hầu như chẳng còn lại chút nào. Đây là điều đáng tiếc của xã hội hiện đại, cũng là nỗi bi ai của con người hiện đại.

Trong tình yêu đã thiếu đi yếu tố cổ điển. Cũng giống như trong âm nhạc thiếu đi đoạn nhạc dịu dàng lãng mạn vậy...

Thiếu nữ đã đánh mất bản năng thẹn thùng, thực chất là đã đánh mất bản sắc tuổi thanh xuân đẹp nhất, đẹp nhất của mình.

"Ái tâm" là một tâm cảnh cao thượng và vĩ đại. "Ái tâm" thường trực không phai nhạt trong tâm linh nhân loại, thì con người mới không đến nỗi thoái hóa trở về thế giới động vật.

Lương thiện là nền tảng của "ái tâm".

Từ "ái tâm" này, chính là từ có thể cấu thành nên từ ngữ đáng để chúng ta kính trọng từ tận đáy lòng nhất khi chữ "ái" đứng ở vị trí chủ ngữ. Từ này, được giới văn nhân và trí thức chúng ta bàn luận nhiều nhất, viết nhiều nhất, ứng dụng nhiều nhất, nhưng chưa chắc trong tâm linh chúng ta lại cũng nhiều tương tự như vậy.

Nhưng ngay từ đầu đã bài xích yếu tố "tình yêu" vì mục đích "hôn nhân" thì thật đáng ngờ. Ít nhất là mập mờ. Thậm chí, có thể ngay từ đầu bản chất đã là giả dối.

Mối quan hệ nam nữ không có tiền đề trách nhiệm, đó không phải là "tình yêu". Cùng lắm chỉ là "ái" (sự ưa thích). Thậm chí có thể chỉ đơn thuần là "tình dục".

Thế giới ngày nay, "ái" đang tràn lan. Khiến cho "tình yêu" càng cần phải thận trọng, càng đối mặt với khủng hoảng, và càng xứng đáng được bảo vệ bằng trách nhiệm chung của đàn ông và đàn bà.

Mỗi tấm bằng khen, mỗi lần được giải, đối với tôi đều là một sự thôi thúc, một sự khích lệ, lại còn là một sự an ủi. Thật lòng mà nói, tôi thừa nhận mình là một người cần sự khích lệ và thôi thúc, tôi thừa nhận mình là một người hy vọng cảm nhận được sự an ủi rốt cuộc là như thế nào.

Sức khỏe thực ra là thứ mà ai cũng đang đánh mất. Số tuổi tăng dần theo từng năm, mà sống càng ngày càng khỏe mạnh hơn so với năm trước, chung quy vẫn là số ít. Con người cũng giống như một chiếc máy tiện, vận hành là sẽ bị hao mòn. Không vận hành để sản xuất ra cái gì, thì chẳng khác nào đồ bỏ đi. Thà chịu hao mòn mà sản xuất ra cái gì đó, còn hơn là cứ bảo dưỡng hàng ngày như đồ bỏ đi, đây mới là cách sống của đại đa số mọi người.

Có lẽ nỗi ưu tư chính là một đặc quyền của người trung niên chăng? Đặc quyền này thường khiến ánh mắt người trung niên trở nên sầu muộn. Chẳng còn vẻ hăng hái tràn trề của tuổi trẻ, cũng chẳng đạt đến cảnh giới trí tuệ sống một cách thái nhiên tự tại của các bậc lão giả. Thế là người trung niên cảm nhận được sự lúng túng của tuổi trung niên.

Hai người đàn ông trung niên sau khi nâng ly cười lớn một tràng, hoặc hai người phụ nữ trung niên đang trò chuyện thắm thiết với nhau, bỗng chốc ánh mắt đăm đắm nhìn nhau, bỗng chốc đều nhìn thấy từ trong mắt đối phương cái nỗi ưu tư và sầu muộn mà mình cố gắng giấu kín phía sau con ngươi nhưng không cách nào làm được, tôi cảm thấy khoảnh khắc đó là một trong những tình cảnh rất đáng buồn trong cuộc sống.

Nỗi ưu tư và sầu muộn của người trung niên, làm tôn thêm vẻ thuần khiết trong sáng của các thiếu nữ, tôn thêm vẻ nỗ lực tiến lên của các thiếu niên, tôn thêm vẻ sinh động đa tình của nam nữ thanh niên, tôn thêm vẻ thanh tâm quả dục, nhàn nhã đạm bạc của những người già. Sự tự vui trong cảnh của các thiếu nữ, thiếu niên, người trẻ và người già, suy cho cùng đều là do người trung niên dùng nỗi ưu tư và sầu muộn để đánh đổi lấy đấy!

Cảm giác làm cha trong thời đại này càng lúc càng trở nên thô ráp và mập mờ rồi!

Đại đa số người trên trái đất này, thực ra đều đang sống cuộc sống của những người dân thường ở các quốc gia khác nhau, trên các mức sống khác nhau. Thứ không thể thiếu nhất trong cuộc sống, tôi nghĩ chính là hai chữ ấm áp. Cuộc sống mà thiếu đi sự ấm áp thì còn gọi là cuộc sống ư? Ấm áp là một loại thoải mái, nhưng lại không chỉ là thoải mái. Rất nhiều kiểu cuộc sống rất thoải mái, nhưng lại không hề ấm áp. Ấm áp là một tình cảnh cuộc sống rời xa sự xa hoa lớn lao. Một ngôi biệt thự thường chỉ có thể liên quan đến sự phú quý.

Phú quý không phải là ấm áp.

Sự co thắt, hay nói thẳng ra là cơn đau đẻ của cuộc cải cách Trung Quốc, đang được hàng chục triệu giai cấp công nhân Trung Quốc cúi mình gánh chịu. Đây là điều cải cách không mong muốn, lại cũng là bước đi mà cải cách bắt buộc phải trải qua.

Với tư cách là một quốc gia, nhất định phải dốc hết khả năng quan tâm và thấu hiểu những thần dân bình thường của mình. Quốc gia không làm như vậy, những người nắm giữ vận mệnh lớn lao của quốc gia, chính là đã nghiêm trọng thất trách.

Một thời đại đang đứng ở bước ngoặt chuyển mình, dù là chuyển mình theo hướng tiến bộ hay chuyển mình theo hướng thụt lùi, đều luôn phải trả giá. Cái giá này đôi khi thê thảm, chính là vì cái được trả giá thường là vận mệnh của cả một thế hệ, thậm chí vài thế hệ. Thế hệ nào, vài thế hệ nào bị lấy làm cái giá phải trả, thì cũng chỉ đành cúi mình gánh chịu, không còn cách nào khác.

Tuổi thơ và tuổi thiếu niên của một người, vô cùng hạnh phúc, không âu không lo, được cuộc sống giàu sang cưng chiều, tất nhiên là điều đáng ghen tị. Tất nhiên là một điều may mắn. Tôi chúc mọi thế hệ tương lai đều có được tuổi thơ và tuổi thiếu niên như vậy.

Thế nhưng, nếu tuổi thơ và tuổi thiếu niên của một người không được như thế, cũng không cần phải xem đó là một việc rất bất hạnh. Không cần phải cho rằng mình là người bất hạnh nhất thế gian. Càng không cần phải đắm chìm trong sự tự thương tự xót. Tuổi thơ và tuổi thiếu niên của tôi dạy tôi sớm hiểu ra nhiều điều mà những đứa trẻ khác còn chưa hiểu được — sự thấu cảm với cha mẹ, tình yêu thương đối với anh chị em, sự đồng cảm đối với tất cả những người bị khốn khó bủa vây, chứ không phải kỳ thị họ, khả năng chịu đựng những khổ nạn mà cuộc sống giáng xuống, vô vàn ý thức trách nhiệm mà bản thân yêu cầu chính mình, cũng như khao khát bản năng đối với tất cả những gì tốt đẹp trong cuộc sống, và sự trân trọng đối với mọi tình cảm tốt đẹp trên thế gian này...

Có thể coi đó là sự đền bù mà cuộc sống ban tặng cho một người khi giáng xuống họ sự khốn cùng chăng? Nếu con người không dùng tâm hồn để hấp thụ những điều này, thì sự khốn cùng ngoài việc là xấu xa, chẳng còn có tác dụng thúc đẩy gì cho nhân sinh cả...

Từng có một người bạn nước ngoài hỏi tôi: "Trong số những người Trung Quốc đang ở giai đoạn 'chuyển mình', những ai có gánh nặng tâm lý lớn nhất?"

Tôi không cần suy nghĩ trả lời ngay: "Trước tiên tất nhiên phải là các thành viên Bộ Chính trị. Cái bài toán khó mà Stephens Trung Quốc này giao cho họ quá nhiều."

Cô ấy lại hỏi: "Thứ nhì thì sao?"

Tôi nói: "Thì phải kể đến con cái của thế hệ chúng tôi."

Cô ấy lập tức tỏ ra "kinh ngạc kiểu đồng minh", bối rối khó hiểu: "Chẳng phải các anh luôn bàn luận, cho rằng thế hệ tương lai của các anh cứ như những 'tiểu hoàng đế', đứa nào đứa nấy hạnh phúc đến mức sắp chết đuối trong hũ mật rồi hay sao?"

Tôi nói: "Những đứa trẻ như vậy là có, nhưng thuộc số cực kỳ ít. Trung Quốc vẫn còn rất nhiều trẻ em nghèo đến mức không thể đi học, nên chúng tôi mới có 'Dự án Hy vọng'. So sánh mà nói, vận mệnh của những đứa trẻ ở các đô thị lớn tốt hơn nhiều. Nhưng chúng đều như những con thỏ rừng, đã nhanh chóng bị con chó săn hung dữ mang tên điểm số kia đuổi cắn đến mức phải chạy đôn chạy đáo, chết gục trên con đường học vấn rồi!"

Từ cấp hai lên cấp ba cũng vậy, từ cấp ba lên đại học cũng vậy, đề thi năm sau kỳ quái hơn năm trước, hiểm hóc hơn, xảo quyệt hơn! Những người ra đề, rõ ràng là đang coi những câu hỏi vốn đã đi ngược lại mục đích thi cử là "hung khí" để "giết chết" trí tuệ bình thường của thí sinh, lấy việc thí sinh "thương vong thảm trọng" làm niềm vui, làm việc vinh hiển, làm việc sung sướng.

Bởi vì, ở Trung Quốc, hiện tại, dường như chỉ có thể lấy sự "thương vong thảm trọng" của thí sinh để tạm hoãn tình trạng "quá tải" của các trường đại học.

Đây là điều rất bất đắc dĩ. Dân số nước ta cũng đông, thế hệ sau cũng nhiều. Mặc dù đều đã là con một.

Tình trạng khốn đốn về giáo dục này của Trung Quốc, theo tôi thấy, rất nhanh sẽ tiếp nối vấn đề "thất nghiệp", trở thành vấn đề lớn thứ hai gây nhức nhối cho Trung Quốc. Nó sẽ trực tiếp thể hiện thành một phần của vấn đề thất nghiệp. Hơn nữa lại là bộ phận có xu hướng tiềm tàng hung hăng hơn. Bởi vì, con đường mưu sinh bị chặn đứng của thế hệ sau, còn khiến chúng nản lòng hơn cả việc cha mẹ chúng bị "xuống tàu" (mất việc). Kiểu nản lòng này, có lẽ sẽ hun đúc trong tâm hồn quá non trẻ của chúng thành một bầu không khí bi quan, thiếu tin tưởng, thậm chí là thù địch đối với thời đại và xã hội.

Ở Trung Quốc hiện nay, những bậc cha mẹ nói lời cay nghiệt mắng nhiếc con cái thi trượt cấp ba, đại học, là những bậc cha mẹ thiếu sự thấu cảm nhất, là những bậc cha mẹ phi nhân tính nhất, là những bậc cha mẹ đáng ghét nhất.

Kiểm soát chặt chẽ sự thất thoát tài sản quốc gia. Thất thoát dù hữu ý hay vô ý, chảy ra nước ngoài, chảy vào túi cá nhân, là tội ác không thể tha thứ đối với các thế hệ sau của Trung Quốc.

Phân phối dường như càng lúc càng có ý nghĩa là "miếng bánh cuối cùng", là vấn đề khá hóc búa.

Sự nôn nóng lớn của tâm trạng xã hội và sự chao đảo lớn của tâm lý xã hội, ở mức độ khá chủ yếu đều bắt nguồn từ đây. Thế là một mệnh đề chính trị đương đại mà các nhà chính trị phải đối mặt chính là — chính trị của sự phân phối.

Trong tâm trí tôi, do sự giáo hóa của thời đại, niềm tin tư tưởng "Cộng sản chủ nghĩa" vốn đã khá thâm căn cố đế. Theo suy nghĩ của tôi, nguyên tắc phân phối của "Cộng sản chủ nghĩa" dường như là đơn giản khả thi nhất, dễ thể hiện sự công bằng nhất. Tôi tận tâm tận trách vì quốc gia, quốc gia bao cấp trọn gói cho lợi ích cá nhân của tôi. Dường như cũng không mất đi một loại mô hình xã hội. Sau một lần làm ủy viên phân nhà, tôi cảm khái rất nhiều. Cuối cùng hoàn toàn ngộ ra — một ngôi làng có thể thực hiện nguyên tắc phân phối của "Cộng sản chủ nghĩa". Một xã cũng có thể. Một huyện, nếu kinh tế phát triển chưa từng có, vật chất cực kỳ phong phú, cũng hoàn toàn có thể. Nhưng một tỉnh thì còn có thể không? Một quốc gia lớn có gần mười ba tỷ dân, thì căn bản đừng hòng.

Điểm quý giá trong tinh thần nhân loại, thể hiện ở những người tàn tật nhưng chí vẫn kiên cường, tâm hồn tươi đẹp, và là những người không ngừng theo đuổi, kẻ quý giá thì đặc biệt quý giá, kẻ kiên nghị thì đặc biệt kiên nghị, kẻ tươi đẹp thì đặc biệt tươi đẹp, kẻ cảm động thì đặc biệt cảm động!

Một người hoàn toàn không bị khuyết tật, thực ra rất khó trải nghiệm sự phá hoại to lớn mà khuyết tật gây ra đối với sức sống của sinh mệnh. Không sai, tôi tin rằng, hầu như mỗi người đều từng giống như tôi, giả định bản thân nếu cũng là một người khuyết tật. Nhưng cũng chỉ là giả định ngẫu hứng mà thôi. Khi thực hiện những giả định đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình thật may mắn. Thậm chí sẽ tạm thời loại bỏ ra khỏi tâm trí rất nhiều phiền não của người bình thường, cảm thấy mình sinh ra là một người hoàn hảo, thực sự là một loại hạnh phúc, chỉ có thế thôi. Phải, vì chúng ta trên thực tế không khuyết tật, chúng ta rất khó thực sự thấu hiểu thế giới nội tâm của người khuyết tật. Trong thế giới nội tâm của họ, lòng tự tôn, sự tự cường, sự tự tin, ý chí kiên nhẫn không gì lay chuyển nổi và tinh thần bách chiết bất nạo (không chịu khuất phục), đôi khi càng thể hiện một cách khiến chúng ta, những người bình thường phải tự thấy hổ thẹn mà sinh lòng kính trọng.

Trên thế giới có một số việc, là những việc vô cùng gian nan. Là những việc mà người bình thường phải bỏ ra nỗ lực to lớn mới có thể làm thành công. Những việc này được người khuyết tật làm thành công, ý nghĩa liền không hề tầm thường. Bởi vì người khuyết tật lựa chọn làm những việc gian nan này, thường chẳng liên quan gì đến hai chữ công lợi. Thường càng xuất phát từ sự thách thức đối với khuyết tật. Trong quá trình thách thức, khả năng chiến thắng gian nan của nhân loại, cùng với lòng kiên trì tất thắng, chính là đã được người khuyết tật, chứ không phải được những người thể phách hoàn hảo như chúng ta, phát huy lên đến cảnh giới cao nhất.

Trong cái thời đại dường như tiền bạc là vạn năng này, trong cái thời đại tràn ngập trào lưu sùng bái tiền bạc khắp mọi nơi này, thường xuyên có những người bình thường, vì muốn bớt tiêu tiền của mình, vì muốn kiếm nhiều tiền của người khác, mà coi mạng sống của đồng bào như trò đùa. Cái giá của sự tham lam của họ, thường là mắt, tai, tay, chân, cánh tay, cẳng chân, thậm chí là mạng sống của biết bao người khác.

Trong một thời đại tham lam, người khuyết tật không những sẽ bất hạnh, mà còn sẽ cô độc không nơi nương tựa.

Đối diện với cái gọi là số mệnh, tôi từ khi còn thiếu niên, đã là một người chủ nghĩa hiện thực cực kỳ bình tĩnh. Mục tiêu đối với sự va chạm của nhân sinh, tôi luôn đặt rất gần, rất thấp, rất thực tế. Trí tưởng tượng đôi khi cũng thích, nhưng đó cũng chỉ là một loại "hoạt động sáng tác" tinh thần thời kỳ đầu, quay đầu lại là sẽ đối diện với thực tế, làm tốt việc mình nên làm nhất trong thực tế, dù là việc trong mắt người khác là tẻ nhạt nhất, không đáng để nghiêm túc đối xử nhất.

Lỗ Tấn tiên sinh năm xưa từng nói những người gia đạo sa sút càng hiểu được thái độ lạnh nhạt của thế nhân. Tôi cho rằng, đối với cái gọi là "nghịch cảnh" mà nói, cũng dường như chỉ có một số người từng vạn sự thuận lợi, cứ như tiền đồ xán lạn, một sớm đột nhiên ngã vào vận rủi, trong lúc ngơ ngác mới cảm nhận sâu sắc, cũng như thái độ nhân sinh đã điều chỉnh, mới càng là kinh nghiệm chăng? Giống như công tử một khi lâm nạn, liền có kịch có sách. Còn một người sinh ra ở vùng quê nghèo khó, từ trong nghèo khó mà lọt lòng, cho đến khi chết trong nghèo khó, trước khi chết hỏi người đó về cảm nhận và tư tưởng đối với "nghịch cảnh", người đó ngược lại rất có thể sẽ bối rối không biết trả lời thế nào đấy!

Tôi nhớ đến một việc mà một người bạn kể với tôi — khi họ ăn cơm tại một nhà hàng nhỏ ở phương Nam, bỗng nghe thấy một tràng tiếng kêu đáng sợ. Lần theo tiếng kêu tìm xuống bếp, hóa ra trong lồng hấp đang sống sượng một con cá khổng lồ (kỳ giông). Mà những vị khách điểm món này, từng người một trong tiếng kêu đáng sợ đó vẫn nhả khói nuốt mây, cười nói vui vẻ.

Người bạn của tôi lại không thể ăn tiếp được nữa, anh ấy không nhẫn tâm nghe thêm, đã rời khỏi nhà hàng nhỏ đó.

Tôi nghi ngờ hỏi: "Theo tôi biết, cá khổng lồ là không kêu đúng không?"

Anh ấy nói: "Tôi không biết rốt cuộc nó có kêu hay không. Có lẽ trong điều kiện bình thường là không kêu, nhưng bị hấp sống, thì không phải là trường hợp bình thường. Còn nghe thấy nó nhảy, giãy giụa, đập vào lồng hấp trong lồng, phát ra tiếng động rất lớn, cho nên trên lồng hấp đè cả cái bát nặng cân tiểu ly..."

Một lão nhiếp ảnh gia của Bắc Ảnh (Hãng phim Bắc Kinh) kể với tôi — cũng là ở phương Nam, một "đại gia" mời họ ăn cơm. Trong bữa tiệc có một chú khỉ con đáng yêu hoạt bát, làm đủ trò ngộ nghĩnh chọc cho họ vui vẻ. Thế nhưng một lát sau nó đã bị cố định dưới bàn ăn, chỉ lộ cái đỉnh đầu ra lỗ bàn. Thế là người hầu cầm dao thành thục lột da đầu nó, còn dội nước sôi lên hộp sọ trắng tuyết của nó để khử trùng, tiếp đó dùng búa nhỏ đập vỡ hộp sọ của nó...

Đó chính là cách hưởng thụ món óc khỉ sống.

Lão nhiếp ảnh gia bịt miệng chạy ra khỏi nhà hàng. Vừa ra khỏi cửa liền nôn mửa.

Ông ấy nói ông ấy đến nay vẫn không quên được đôi mắt của chú khỉ đó. Ông ấy nói người ta trước khi sống ăn óc nó, còn phải bắt nó làm trò cho vui một lúc, "Quá tội lỗi! Quá tội lỗi!..."

Ông ấy liên tục nói "tội lỗi" không thôi.

Người Trung Quốc về phương diện ăn uống dục vọng quá mãnh liệt. Một khi có tiền, dục vọng này liền vô bờ bến. Cho nên cái gọi là "gan rồng mật phượng" mà người Trung Quốc chúng ta nói, là thứ mà đàn ông đàn bà có tiền thời cổ đại muốn ăn nhất. Quả thực nếu có rồng có phượng, "đại gia" và phụ nữ của họ thời nay, nếu không động tí là ăn một bữa thịnh soạn mới là lạ! Có lẽ sớm đã bị ăn đến mức chẳng còn lại bao nhiêu.

Ăn uống sao mà tàn nhẫn đến thế.

Lòng tham của con người đối với tiền bạc và dục vọng đối với ăn uống, quá mức đều xấu xa như nhau.

Tình thú nhân tính trong du lịch rất thú vị — đàn ông yêu núi, phụ nữ quyến luyến nước. Không ai truyền bá vào ý thức của chúng ta, chúng ta lại đương nhiên cảm thấy, núi là biểu tượng của sự dương cương, nước là sự ý hóa của âm nhu. Núi đến mức tú lệ (đẹp đẽ) liền dịu dàng, nước đến mức dữ dội liền cuồng loạn. Đàn ông đến nơi núi tú lệ cũng thấy sự âm nhu, phụ nữ đến nơi nước dữ dội cũng thấy sự dương cương. Đàn ông và đàn bà, từ núi và nước, không chỉ thấy bản thân, mà còn thấy mặt đối lập của bản thân. Nhân loại là loài động vật chiêm ngưỡng hình ảnh của chính mình nhất. Thiên nhiên là tấm gương của nhân loại. Đàn ông yêu núi thực ra là tự luyến, phụ nữ quyến luyến nước thực ra là tự tán. Đàn ông đàn bà, đều bắt đầu từ việc thưởng thức chính mình mà yêu người khác giới. Người phụ nữ trong núi kiên nhẫn, người đàn ông chốn sông nước đa tình. Nơi không có nước không giữ chân được phụ nữ, nơi không có núi không giữ chân được đàn ông. Cho nên thắng cảnh du lịch tất phải có núi có nước, núi nước dựa vào nhau, nước quấn quanh núi. Ở nơi như vậy, đàn ông mới càng giống Adam, phụ nữ mới càng giống Eve. Ngành du lịch không phải phát triển vì những nhà du lịch, mà phát triển vì những nam nữ thế tục. Còn nhà du lịch lại là những người lánh xa ngành du lịch.

Đàn ông luôn là người tiên phong trèo lên đỉnh núi hiểm trở. Nếu có bạn đồng hành nữ nhìn theo phía sau, đặc biệt là tinh thần phấn chấn.

Phụ nữ luôn là người tiên phong lao ra bên bờ nước, làm ướt khăn tay của mình. Lúc này, cô ấy rõ ràng biết đàn ông đang nhìn mình.

Trong du lịch, bộ mặt thật của con người là cực kỳ khó ngụy trang.

Trong du lịch, đàn ông thấy phụ nữ trở nên đáng yêu hơn, phụ nữ thấy đàn ông trở nên đa tình hơn.

Điều này, có lẽ chính là nội dung quan trọng của du lịch vậy —

Mỗi quốc gia ở các thời kỳ lịch sử khác nhau, đều có những nhân vật kiểu Hercules không hề quay đầu lại của họ. Họ chưa chắc đã là anh hùng. Càng không thể là thần linh hay nhân vật bán thần. Nhưng họ, ít nhất đều là những nhân vật muốn giải quyết hoặc giải quyết một phần những nan đề ở một phương diện nào đó cho đất nước, đều là những nhân vật mang trong mình trách nhiệm và sứ mệnh đối với đất nước, dũng cảm mở toang cửa "chuồng bò Augeas". Sự nhiệt tình kiên trì và khí phách xông pha vượt qua muôn vàn trắc trở của họ, lúc bấy giờ có thể không được công chúng thấu hiểu, sau này thậm chí rất lâu sau đó mới đạt được sự thấu hiểu. Hoặc lúc bấy giờ rất may mắn đạt được sự thấu hiểu phổ biến của công chúng, nhưng cảnh tượng hỗn loạn khi tất cả mọi thứ "bẩn thỉu" trong "chuồng bò" lao ra khỏi cửa, vạn vó ngựa đạp lên xông xáo lung tung, lại tất yếu sẽ khiến ý nguyện ban đầu của họ bị bóp méo, khiến việc làm của họ bị nghi ngờ dữ dội.

Hầu như có thể khẳng định, kể từ khi Trung Quốc "cải cách mở cửa", những nhân vật kiểu Hercules xuất hiện liên tiếp, là số lượng đếm theo giai đoạn nhiều nhất trong sự phát triển xã hội đương đại của nhân loại.

Tiền bạc đại khái chỉ có thể khiến con người biến thành hai loại — vì thoát khỏi nghèo đói, cuối cùng chiếm hữu được một lượng tiền bạc lớn mà trở nên văn minh hơn, và tích cực nhiệt tình tham gia vào công cuộc xây dựng văn minh cao thượng cho xã hội; hoặc ngược lại hoàn toàn, trở nên xấu xí hơn cả khi nghèo khó.

Theo tôi thấy, một số "đại gia" hào nhoáng tục tĩu, mắc phải chứng "hội chứng cưỡng hiếp tâm lý". Theo cách nói dân gian, có thể giải thích là "bệnh mộng tưởng hoang dâm". Đặt vào phòng khám lớn Trung Quốc này để phân tích, cũng có thể định danh là "hội chứng Trung Quốc". Bệnh lý là do tôi phân tích ra, đặt tên là "hội chứng Trung Quốc kiểu Lương", tôi cảm thấy cũng không tính là tham công trạng trời làm của riêng...

Sự hào nhoáng tục tĩu của một số "đại gia", phân tích từ bản chất tâm lý, có nghĩa là một loại cưỡng hiếp và chà đạp đối với tiền bạc. Mọi người không biết rằng, chà đạp tiền bạc, cưỡng hiếp tiền bạc, có thể đạt được khoái cảm kích thích tương đương với chà đạp phụ nữ cưỡng hiếp phụ nữ. Mà khác biệt ở chỗ, chỉ là ở chỗ, cưỡng hiếp phụ nữ là tội ác. Còn tiền bạc đã bị chính mình chiếm hữu, tiền bạc không những sẽ không trở thành nguyên cáo (trường hợp cướp được, trộm được, lừa được, nhận hối lộ được, tham ô được thì không tính), mà ngay cả tiếng rên rỉ cũng không phát ra được một chút nào.

Phân tích sâu hơn, một số "đại gia" hào nhoáng tục tĩu trong lúc chà đạp tiền bạc, cưỡng hiếp tiền bạc, không những đủ để đạt được khoái cảm mạnh mẽ đầy kích thích mà người thường không thể trải nghiệm, mà còn đủ để đạt được khoái cảm trả thù của "một bộ phận người giàu lên trước" đối với xã hội nhìn chung vẫn đang trong trạng thái nghèo khó.

Một số "đại gia" hào nhoáng tục tĩu, trong tiềm thức của họ, là những bệnh nhân có khuynh hướng tâm lý chà đạp đối với người đàn ông khác, có khuynh hướng tâm lý cưỡng hiếp đối với tất cả phụ nữ, có khuynh hướng tâm lý trả thù đối với toàn xã hội...

Thời đại thương mại đang xóa nhòa trên diện rộng và nhanh chóng nhiều sự vật thuộc về quá khứ trên thế giới. Bao gồm cả việc xóa nhòa một số phẩm chất quý giá nhất trong tinh thần nhân loại.

Nhưng thời đại thương mại lại là lựa chọn lý trí nhất của nhân loại chúng ta hiện nay. Một thời đại thương mại hòa bình, ổn định, kinh tế phồn vinh, trưởng thành, tốt hơn gấp trăm lần một thời đại chiến loạn liên miên, cơ cấu chính trị cực đoan, khắp nơi giữa các quốc gia đều tiến hành chiến tranh lạnh chính trị! Mặc dù, tinh thần "Olympic" vẫn là tinh thần thể thao thuần túy nhất, nhưng tôi tin rằng, khi con trai tôi ở tầm tuổi tôi xem truyền hình trực tiếp "Olympic", nó nhất định sẽ thừa nhận, đó là "vở kịch lớn" mang dư vị cổ điển nhất được các thế hệ lưu giữ để tinh thần nhân loại có nơi gửi gắm. Nó chỉ là để thông qua sự thi đấu thể lực của nhân loại để chứng minh sự hào hùng của tinh thần nhân loại. Ngoài ra không còn ý nghĩa nào khác. Ngoài ra không còn mang bất cứ ý nghĩa nào khác.

Tiểu thuyết hay trong quan niệm của tôi là tiểu thuyết bình dị gần gũi. Có thể viết được bình dị gần gũi không phải là tiêu chuẩn thấp, mà là tiêu chuẩn khá cao. Các bậc đại sư là khác nhau, Joyce cũng là đại sư, "Ulysses" của ông không phải là phần lớn mọi người đều có thể đọc hiểu được. Joyce có thể là đại sư được người khác sùng bái, nhưng ông ấy và "Ulysses" của ông ấy đều không phải là thứ tôi thích. Hạng đại sư này, vĩnh viễn sẽ không gây ảnh hưởng đến sự sáng tác của tôi.

Dưới tấm kính trên bàn viết của tôi, đè bài "Tương tiến tửu" của Lý Bạch do một người bạn chép tay bằng chữ chính khải cho tôi, đó là bài thơ tôi vô cùng yêu thích. Từng câu từng chữ bình dị đến gần như bạch thoại. Nhà thơ vĩ đại nhất, có tài tình nhất, viết ra bài thơ bình dị gần gũi nhất, hào sảng phóng khoáng nhất, cái tinh túy bên trong đó, đủ để tôi lĩnh ngộ suốt đời.

Nhà văn rất dễ bị tầng lớp trung lưu mới nổi hấp thụ về mặt tâm thái và tinh thần. Một khi đã bị hấp thụ, tác phẩm thường sẽ bắt đầu mang hơi hướng của tầng lớp trung lưu.

Những nơi tôi ghét, một là nhà vệ sinh không sạch sẽ, hai là những kiểu "xào xáo" quá tinh anh ủy mị.

Cách cảm thụ cuộc sống có rất nhiều, trực tiếp nhúng tay vào phiền muộn, khốn cảnh, bất lực và vận mệnh của người khác, chẳng phải là cách hay ho gì.

Trong hầu hết các trường hợp, tôi viết dựa trên "lương tri" của nhà văn.

Có người sẽ vặn hỏi — "lương tri" là gì?

Tôi cũng không thể đưa ra một định nghĩa cho nó.

Nhưng tôi tin chắc rằng nó đích thực là có tồn tại. Đối với nhà văn, có một chút, còn hơn là không có chút nào...

Thời đại thương mại khiến mọi thứ đều đóng dấu ấn thương mại. Văn học không có bất kỳ lý do gì để yêu cầu được miễn trừ.

Tiểu thuyết gia không thể nào "không đời nào qua lại" với một thời đại đã thương mại hóa.

Suy cho cùng thời đại là mạnh mẽ, ý chí của bản thân tiểu thuyết gia là yếu ớt. Ví dụ như tôi không thích những việc ngoài sáng tác như ký tặng sách, đóng gói, tự quảng cáo, "xào xáo" v.v., nhưng tôi thường xuyên thỏa hiệp, miễn cưỡng đi tuân theo. Trước đây rất tức giận vì điều này, bây giờ vẫn không quen. Một khi bị yêu cầu phối hợp thế này thế kia cho sự phát hành một cuốn sách nào đó của mình, cảm giác khó chịu trong lòng thật không thể nói hết. Nhưng tôi đã bắt đầu cố gắng thỏa mãn yêu cầu của nhà xuất bản. Không quá đáng, thì tôi làm theo.

Chẳng có gì đáng xấu hổ cả.

Nếu có cái gọi là "điện đường văn học" nào đó, hoặc thậm chí có hai cái — một cái xây cho cái gọi là "quý tộc tinh thần", một cái xây cho đại chúng thế tục, những người về mặt tinh thần hầu như vĩnh viễn không thể "quý tộc" nổi, thì tôi sẽ không chút do dự bước vào cái sau.

Đàn ông đến hơn bốn mươi tuổi, những thay đổi của họ, tuyệt đối không ít hơn phụ nữ đến hơn bốn mươi tuổi đâu nhỉ? Tôi cho rằng "bút điệu" (văn phong) đồng thời cũng là sự bộc lộ tự nhiên tình điệu nội tâm của bản thân tác giả. Đi ngược lại tình điệu chân thực trong lòng mình, che giấu đi sự "chân thực" trong lòng, hoặc bóp méo sự "chân thực" trong lòng, thậm chí trong lòng vốn chẳng có cái gọi là "tình", nhưng lại cứ ép ngòi bút mình phải tuôn trào ngàn vạn sợi tơ tình, thì bài viết đó chắc chắn là giả tạo. Trong lòng không có, chữ nghĩa không giúp được gì. Càng đừng nói đến việc có thể hình thành một loại "bút điệu" trong tác phẩm.

Người trọn đời không mất tư cách nhà văn, có lẽ chính là người trọn đời giữ được một tấm lòng son (xích tử chi tâm) đối với cuộc sống.

Lo lắng là không cần thiết. Theo như hiện tại mà xét, đủ để dự đoán, Trung Quốc sẽ không mất nước. Văn đàn Trung Quốc cũng sẽ không mất đi văn đàn Trung Quốc. Chẳng những không mất đi, sự hưng thịnh đang nằm ngay trong đó.

Sự thân thiện và yêu thương sâu sắc đã triệt tiêu sự sâu sắc của chính họ.

Một người cứ luôn thao thao bất tuyệt nói về thành phố mà anh ta hoặc cô ta quen thuộc, và cho rằng đó chính là đang nói về đất nước của anh ta hoặc cô ta. Tự nhiên thì rất đáng yêu, nhưng khó tránh khỏi nông cạn.

Cái gọi là "văn thể dịch thuật", tất nhiên là chỉ lao động tinh thần của những dịch giả có trình độ và nghiêm túc, là một loại tái sáng tạo ngôn ngữ văn học của nhân loại. Tất phải tự hình thành phẩm cách thẩm mỹ.

Nó vừa khác với văn tự tiếng mẹ đẻ của nguyên tác, cũng khác với văn tự khách thể mà người dịch sử dụng. Nó tất phải là sự kết hợp của cả hai.

Trên thế giới này có biết bao nhiêu người không thể làm công việc mình yêu thích. Thậm chí cả đời khao khát mà cả đời vẫn vô duyên với công việc mình yêu thích.

Rất nhiều lúc, đối với rất nhiều việc, tôi vẫn lấy phương pháp tư duy thế tục làm chuẩn mực. Có thể bằng cách thức thế tục để báo đáp những người đáng báo đáp, đối với tôi thế là đủ an ủi rồi.

Người nước ngoài từng đưa ra câu hỏi này với người Trung Quốc — "Bè lũ bốn tên" chỉ có bốn người, mà mười tỷ dân Trung Quốc các bạn, trong những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi, vì sao lại có thể bị chuyên chế suốt mười năm dài?

Trong đó vốn có nguyên nhân đặc định của chính trị Trung Quốc, nhưng cũng nhìn ra mặt đáng buồn, đáng than, đáng ghét, đáng giận nào đó trong tố chất quốc dân của chúng ta. Cho nên đại đa số mười tỷ người thực ra đều giống như tín đồ của "giáo phái Ngôi Đền" (Peoples Temple) ở Mỹ. Cho nên Trương Chí Tân, nữ sinh viên quê Hà Nam ở khoa vật lý trường đại học Phúc Đán của chúng tôi lúc đó, rất giống với Thu Cẩn những năm bảy mươi của thế kỷ mười chín.

Người Trung Quốc dưới ba mươi lăm tuổi, có lẽ không biết lắm, Trung Quốc năm xưa từng tiến hành giáo dục phổ cập triết học mang tính toàn dân, tôi nhớ có một cuốn tạp chí gọi là "Triết học Đại chúng". Cán bộ mở miệng là "triết học", học sinh mở miệng là "triết học", công nhân cũng "triết học", nông dân cũng "triết học", bộ đội cũng "triết học"... từng xây dựng nên một thời đại triết học. Suy cho cùng, đó là trót lọt thời thượng của quá khứ. Và những cái sau này, và vô số thời thượng hiện nay, chẳng có khác biệt bản chất gì cả. Một khi ai nấy đều khá giống triết gia, bản thân triết học liền trở nên lúng túng.

Nắm vững một chút triết học, mọi sự thế gian đều có lời giải thích hợp lý!

Kỹ thuật cũng vậy, tài tình cũng vậy, trong mắt tôi, vĩnh viễn không phải là thứ đứng ở vị trí hàng đầu, thứ đứng ở vị trí hàng đầu là chữ "chân". Không có chữ "chân" này, mọi thứ văn học dưới ngòi bút nhà văn đều không có hồn. Văn học không hồn, cũng liền không bàn đến việc nâng cao lên cảnh giới nào được. "Vi phú tân từ thiên thuyết sầu" (Vì muốn viết bài thơ mới nên cố nói là sầu), đó hẳn là điều đại kỵ của nhà văn, cũng là một thói xấu.

Thứ quyết định vận mệnh của chúng ta, không phải là hoàn cảnh của chúng ta, mà là cách nhìn của chúng ta đối với hoàn cảnh trong quá khứ.

Nhìn phẩm cách của một người thế nào, càng phải xem người này đối với những người không có lợi ích gì với anh ta sẽ có thái độ ra sao.

Chỉ cần bản thân chúng ta không tục tĩu, thì giao tiếp giữa người với người sẽ không đến nỗi bị cái tục tĩu làm vấy bẩn.

Những kẻ "con buôn" chỉ nhất nhất tâm niệm làm giàu, ngay cả khi muốn giải trí cũng không đọc tiểu thuyết, thậm chí chẳng mấy khi đọc chữ — ném bowling, chơi điện tử, nhảy disco, bị AIDS, tắm xông hơi, họ không có thời gian. Họ có cách nói của họ — "Cưỡi mô tô đeo bàn cân, theo ông Cộng làm cách mạng" — thế là "Quốc tế ca" của họ nhất định phải thực hiện...

Tôi sẽ không đi con đường sáng tác "quay lưng lại với cuộc sống, hướng vào nội tâm". Tôi hiểu rõ nội tâm mình không phong phú đến thế, trong đó trống trải lắm. Tôi nghĩ, nhà văn có kiến thức phong phú, tích lũy cuộc sống phong phú, thế giới nội tâm của họ tất nhiên cũng phong phú. Thế giới nội tâm phong phú, thực ra là bao hàm cả những "yếu tố" cuộc sống phong phú, nhà văn nhờ đó mới có thể sản sinh ra trí tưởng tượng nghệ thuật phong phú. Nhà văn có thế giới nội tâm hùng vĩ và phong phú, tuyệt đối không thể "quay lưng lại với cuộc sống". Tôi cảm thấy văn học Nga là một hiện tượng kỳ lạ trong lịch sử văn học thế giới. Sau thế kỷ mười hai, nó hầu như chìm vào tĩnh lặng suốt năm trăm năm trời. Đến thế kỷ mười chín, lại danh gia xuất hiện lớp lớp, quần tinh rực rỡ. Sau Gorki hoặc nhà văn cùng thời với Gorki, như Fadeyev, Sholokhov, Mayakovsky v.v., cũng khiến tôi cảm thấy đặc biệt thân thiết. Càng không cần phải nói đến Ostrovsky — "Thép đã tôi thế đấy", hầu như chính là cuốn sách giáo khoa cuộc đời của thế hệ thanh niên Trung Quốc chúng tôi năm nào đó!

Điều tồn tại trong lòng, là sẽ không đánh mất.

Viết lách đối với tôi đôi khi không hoàn toàn là viết cho người khác xem. Đôi khi lại càng là để thông qua việc viết, khơi dậy ký ức, ôn lại những sự việc tôi từng trải qua, thẩm định lại những người tôi từng quen biết, loại bỏ một số sự việc và một số người ra khỏi tâm linh, hoặc xác định lại vị trí trân trọng chúng và họ trong tâm linh. Như vậy, sẽ vì bản thân có thể loại bỏ điều gì đó ra khỏi tâm linh mà thấy vui vẻ, mà cảm thấy hài lòng về bản thân, mà tin tưởng bản thân. Thậm chí, thích chính mình.

Bối cảnh cuộc sống tình yêu tươi đẹp mà tôi khao khát, cho đến tận ngày nay, hầu như luôn ở nông thôn.

Tôi không phải là một người phủ định triệt để văn minh đô thị. Do đó trong một thời gian khá dài, ngay cả bản thân cũng không giải thích rõ được chính mình.

Trở về nhà liền nghĩ đến — tình yêu là một việc cần không gian biết bao! Đô thị quá chật chội, tình yêu chẳng còn nơi nào để trốn khỏi tầm mắt người đời. Những năm gần đây đô thị nổi lên các quán cà phê, khách ghé thăm đại đa số là các đôi nam nữ đang yêu. Quán cà phê thay các cặp nam nữ này tạo dựng bầu không khí tình tứ nhất có thể.

Ban ngày ban mặt phải buông rèm cửa, buổi tối không bật đèn mà thắp nến. Lại có một số rạp chiếu phim thiết kế ghế đôi, mặc dù không công khai gọi là "ghế tình nhân", thực tế chính là — nhưng tôi rất nghi ngờ đó là cung cấp cho các cặp tình nhân thật sự...

Tình yêu, hay nói ngược lại là tình ái, như gã lang thang, muốn tìm được một nơi hoàn toàn thuộc về mình không phải dễ dàng gì. Ban ngày chỉ có một nơi truyền thống là công viên, hoặc rạp chiếu phim; buổi tối là quán cà phê, hoặc sàn nhảy. Không thì cứ tay trong tay đi dạo phố phường. Người phương Bắc lại gọi là "ép đường", Hong Kong gọi là "cán đường". Đều là ý nói chuyện yêu đương.

Thế là lựa chọn không kiêng dè nhất của các cặp tình nhân vẫn là nhà. Nhưng đã gọi là tình nhân, không phải vợ chồng, thì cái nhà đó cũng không chỉ là của riêng họ. Phải tranh thủ thời gian các thành viên gia đình khác không có ở nhà để chiếm dụng, thế là không tránh khỏi có chút lén lút vụng trộm...

Tất nhiên, người Trung Quốc có tiền ngày nay nhiều hơn rồi. Cách họ học được từ phương Tây là bao phòng trong các khách sạn lớn. Cách này cao cấp hơn nhiều, nhưng theo tôi thấy, vẫn có phần giống vụng trộm. Tạm thời chưa bàn đến đó là tình yêu trước hôn nhân hay là tình ngoài hôn nhân không dám quang minh chính đại...

Tình ái đặt trong bối cảnh rộng lớn của nông thôn, dường như mới hồi phục lại chút mỹ cảm. Dường như mới có thi ý và họa ý. Thanh niên nam nữ sống ở nông thôn tất nhiên vĩnh viễn sẽ không cảm thấy như vậy. Mà cho rằng nếu nam mặc như quý ông, nữ mặc rất thời thượng, cùng nhau ngồi trên băng ghế công viên, kề tai thì thầm; hoặc trong quán cà phê, dưới ánh đèn mờ ảo mắt nhìn mắt, tay nắm tay, đó mới có cái dư vị của chuyện yêu đương nha!

Nhưng một sự thật là — nhiếp ảnh, hội họa, thơ ca, văn học, điện ảnh truyền hình, chức năng nghệ thuật mỹ hóa tình ái của chúng, xưa nay đều phải ở nông thôn, trong bối cảnh và môi trường tự nhiên có núi có nước có cầu có đường mòn trong rừng có cánh đồng mới có thể phát huy sức quyến rũ một cách đầy đủ.

Dù là "Anna Karenina", hay "Chiến tranh và Hòa bình", hay hầu như tất cả các tiểu thuyết kinh điển phương Tây khác, khi những nam nữ nhân vật chính đang yêu rời xa thành phố để đến chốn thôn quê, hoặc tạm thời ẩn cư trong trang viên riêng của họ, gần như đều thay đổi tâm trạng bị đè nén, tình ái cũng chỉ có trong những lúc đó mới lộ ra đôi chút mỹ cảm tự nhiên.

Nụ hôn đầu của nam nữ thanh niên nông thôn sau đống rơm, theo tôi thấy, đích thực là "đẹp mắt" hơn cặp đôi đang ôm ấp trong góc tối cầu thang kia...

Dưới ánh trăng, bên dòng sông nhỏ ngoài làng, bóng hình nương tựa vào nhau, theo tôi thấy, so với những cuộc hẹn hò trong phòng bao khách sạn lớn còn đáng khao khát hơn nhiều...

Tình yêu hay gọi là tình ái chính là biểu hiện cổ xưa nhất của nhân loại. Tôi cảm thấy nó là cái "thứ" một khi bị đóng khung trong cái khung của hiện đại thì sẽ trở nên không ra cái gì, giống cái này nhưng lại không phải cái này. Đô thị càng ngày càng là cái "khung" khiến nó trở nên không ra cái gì. Nó càng ở gần thiên nhiên mới càng khớp với thiên tính con người. Rượu đựng trong chén vàng ít nhất vẫn là rượu. Quần áo in nhãn hiệu ít nhất vẫn là quần áo. Còn tình ái một khi đã qua đóng gói và định giá, mỹ cảm cổ điển tự nhiên của nó liền bị vấy bẩn. Trên bối cảnh hỗn loạn của đô thị, ngày ngày trôi chảy bao dục vọng mãnh liệt, tình ái đôi khi cần phải làm nổi bật nó là không gian thời gian có ý nghĩa duy nhất. Cần một bối cảnh vô cùng đơn giản và tĩnh lặng. Cần cơ hội để hai người giống như cây sồi, giống như chim chóc, giống như dòng sông, giống như ráng chiều, hoàn toàn quay về với thiên nhiên và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Đối với tình ái, đô thị không cung cấp không gian thời gian, bối cảnh và cơ hội như vậy. Nơi duy nhất đô thị cung cấp cho tình ái không bị quấy rầy gọi là "trong nhà". Mà chúng ta đều biết cánh cửa "trong nhà" vừa khép lại, tình ái thường không thể chờ đợi được nữa mà tiến triển thành cái gì.

Ở trong thành phố, đối với nhiều cặp thanh niên nam nữ đang yêu, cái giá của "trong nhà", dù thuê hay mua, đều vô cùng đắt đỏ. Cầu "trong nhà" mà không được, cầu "ngoài trời" mà tất phải đi xa, thế là tình ái khá giống những "dân mù" (người nhập cư không đăng ký) trong thành phố.

Tình ái của nhân loại không còn lay động lòng người nữa, còn là vì tình ái đã bị tính hiện đại của "hậu công nghiệp" tách rời triệt để khỏi lao động.

Hầu như chỉ trong lao động nông nghiệp, giữa đàn ông và đàn bà còn truyền tải ra một thứ tình cảm lay động lòng người nào đó. Thứ tình cảm đó quả thực là đẹp. Vừa bình thường lại vừa đẹp.

Tôi ở trong thành phố luôn cố gắng phát hiện sự bộc lộ của thứ tình yêu vừa bình thường vừa đẹp đẽ đó giữa đàn ông và đàn bà, nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện ra.

Ở Trung Quốc, trong thời đương đại, tình yêu hay gọi là tình ái sở dĩ không còn lay động lòng người, cũng còn vì cái gọi là "duyên" mà chúng ta thường nói, chính là thứ tiền định nhân quả dường như dẫn dắt hai trái tim tìm kiếm lẫn nhau trong cõi mịt mù đã tiêu tan. Thế là tình yêu không những trở nên đơn giản, dễ dàng, mà còn biến thành sự việc có nội dung nông cạn nhất, không chút ý nghĩa nào để nói đến. Đôi khi nông cạn đến mức ngay cả đánh giá "phù phiếm" cũng không xứng nữa. "Phù phiếm" dù không đáng lấy, dù sao cũng còn chút dư vị đấy!

Cái "duyên" có bản chất tương tự, ở Trung Quốc đang mọc lên nhan nhản. Còn nhiều hơn những vỏ kẹo que kem và tàn thuốc vứt bừa bãi khắp nơi. Có thể gọi là hiện tượng "bong bóng" của "duyên".

Mà cái "duyên" của tình ái mà tôi nói, chính là thứ "quy định" về mệnh số của một người đàn ông và một người đàn bà — một khi đã kết hợp, không những từ đó chấm dứt mọi ưu tư và oán than của nam nữ về tình về ái, mà còn nhận thức được dường như có ý trời đang thành toàn, thế là thỏa mãn một cách kính cẩn, hạnh phúc một cách cảm kích; dù cho chưa thành quyến thuộc, cũng suốt đời suốt kiếp nhớ mãi, không bao giờ quên, thế là tình đó ái đó khắc cốt ghi tâm, thăng hoa thành sự sở hữu những tình cảm đến tận lúc đất bằng trời lở, vài chục năm như một ngày sâu sắc cảm động chính bản thân bạn. Đẹp một cách ai oán.

Loại "duyên" này, không chỉ ở Trung Quốc, mà ở đương đại toàn thế giới, gần như đã tuyệt diệt rồi.

Tình ái đối với con người hiện đại, càng lúc càng trở nên gần giống với việc làm ăn. Mà làm ăn là thứ việc ngày nào giờ nào nơi nào trên thế giới này cũng đang tất bật làm. Càng giống cổ phiếu, giống kỳ hạn, giống trái phiếu, giống buôn bán lề đường, giống đấu giá tại nhà đấu giá, tính đầu cơ, tính mua bán, tính ăn xổi càng lúc càng công khai, càng lúc càng phổ biến, càng lúc càng như cơm bữa. Hơn nữa, dường như cũng càng lúc càng tương đương với chính bản thân tình ái. Thế là cái "duyên" lay động lòng người, cảm động, đẹp đẽ, dường như ý trời trong tình ái đó, cũng càng lúc càng được hiểu bởi không ít trái tim đàn ông trái tim phụ nữ như việc trúng xổ số, trúng độc đắc, đào được mạch vàng, cùng một loại tạo hóa mà thôi.

Trong tình yêu hay gọi là tình ái của con người hiện đại, sớm đã thiếu đi cái trọng lượng này, cho nên sớm đã đích thị là "sự không thể chịu đựng nổi của sự nhẹ nhàng trong tình yêu" rồi. Hoặc nói ngược lại là "sự không thể chịu đựng nổi của sức nặng trong tình yêu". Tình đó ái đó trộn lẫn quá nhiều quá nhiều công lợi quy đổi tức thì, tất nhiên cũng trở nên nặng nề theo.

Thuận theo tính hiện thực của hiện đại, vẻ đẹp của "duyên" và vẻ đẹp của "nghĩa" trong tình yêu hay gọi là tình ái, cũng chỉ có thể an ủi niềm khao khát "diệp công hiếu long" (giả vờ thích điều mình sợ) của con người hiện đại trong cổ điển mà thôi.

Cho nên từ khi nhân loại bước vào thế kỷ hai mươi, xét trên phạm vi toàn thế giới, ngoại trừ trường hợp Công tước Windsor vì yêu mà bỏ vương miện, bất kể là trong kịch nghệ, điện ảnh, văn học, các tác phẩm về tình yêu thực sự cảm động lòng người đều hiếm như lá mùa thu.

Chữ ái, trong ngôn ngữ, đôi khi ở vị trí vị ngữ. Đôi khi ở vị trí chủ ngữ. Phía trước thêm "làm", thêm "cầu", thêm "tỏ", thêm "xin", thì "ái" liền ở vị trí vị ngữ. "Làm tình", "cầu yêu", "tỏ tình", "xin tình", đều là động từ hành vi cả.

"Làm tình" là niềm vui thú thiên luân. Là quyền lợi phổ biến nhất mà Thượng đế ban cho mọi nam nữ. Là hành vi trần trụi nhất của đàn ông và đàn bà. Khoảnh khắc đó, tôn ti quý tiện, không có sự phân biệt. Bản chất hành vi, không có sự khác biệt. Rất khó nói nhà vua quyền lực vô biên, với hoàng hậu khuynh quốc khuynh thành của ngài, hay tổng thống và phu nhân tổng thống ở khoảnh khắc đó, nhất định khoái hoạt hơn khoảnh khắc người nông dân khỏe mạnh trẻ tuổi, với người vợ trẻ khỏe mạnh của anh ta trên chiếc giường đất trong ngôi nhà đổ nát của họ. Có lẽ là giống nhau. Có lẽ ngược lại hoàn toàn.

"Cầu yêu" là một loại thủ đoạn, mục đích của nó là vì hôn nhân, đôi khi là vì sự cho phép của một lần hay vài lần "làm tình". Theo truyền thống là vì hôn nhân. Ở những nam nữ phản truyền thống, thường là vì sự cho phép của việc làm tình. Tất nhiên, giấy phép đó, thường là do đàn ông cầu xin, là do phụ nữ "ký phát". Dù vì mục đích hôn nhân, hay vì mục đích của một lần hay vài lần "làm tình", quá trình này đều là không thể thiếu. Lược bớt đi, hôn nhân liền thành việc có tính chất khác. Ví dụ có thể bị pháp luật phán định là cưỡng hôn. "Làm tình" cũng có thể là việc có tính chất khác. Ví dụ có thể bị pháp luật phán định là cưỡng hiếp.

Đối với nam nữ trưởng thành, "tỏ tình" đã mang tính kinh nghiệm, đã không còn bao nhiêu mỹ cảm để nói đến, chẳng qua chỉ là sự dò xét lẫn nhau mà thôi. Lấy hàm súc làm đắc thể, lấy không mất chừng mực làm nguyên tắc. Hàm súc cũng thể hiện một sự tự trọng, chỉ có cực ít đàn ông sẽ nảy sinh hảo cảm đối với người phụ nữ không tự trọng. Không mất chừng mực mới không khiến đối phương chán ghét. Ngược lại, đàn ông đối với phụ nữ cũng vậy. Bất chấp tất cả, không đạt mục đích không bỏ cuộc, một mực tỏ lòng săn đón, thực ra tương đương với một sự đeo bám, một sự quấy rầy, một sự xâm phạm. Đừng hiểu nhầm phản ứng lạnh nhạt của đối phương là không hiểu, hoặc là một tư thái cố làm ra vẻ. Hai tình huống này tất nhiên cũng có. Nhưng số lượng thực sự cực ít. Thay vì suy đoán đối phương không hiểu, chi bằng phân tích bản thân tại sao lại giả vờ hồ đồ? Thay vì nghi ngờ đối phương cố làm ra vẻ, chi bằng tự hỏi mình có phải quá đơn phương cưỡng cầu duyên phận?

Trong tất cả mọi hành vi mà chữ "ái" đứng ở vị trí vị ngữ, theo tôi thấy — "xin tình" là hành vi kém cỏi nhất. Đối với đàn ông là hèn hạ, đối với phụ nữ là ti tiện.

Ở phía sau chữ ái, thêm "tình", thêm "tâm", thêm "ý", thì ái liền ở vị trí chủ ngữ rồi. "Ái ý" (tình ý) là loại tình cảm ấm áp nhất trong tất cả tình ý thế gian. Khiến người ta cảm thấy, đó chính là tình ý ở mức giới hạn cuối cùng mà đối phương có thể dành cho mình trong một thời điểm, một địa điểm, một tình huống nào đó. Cho thêm một chút nữa thôi, liền vượt qua giới hạn. Vượt qua giới hạn, liền là một chuyện khác. Chính vì nằm trên giới hạn, cho nên mới mang ý nghĩa và dư vị khiến chúng ta vô cùng sâu sắc cảm động.

Ánh mắt đầy ắp "ái ý", chính là sự bộc lộ tự nhiên từ lòng ái tâm lương thiện tột cùng của người phụ nữ. Nó có chứa thành phần mẫu tính. Hiểu nhầm đây là sự biểu đạt liên quan đến "ái" hay đến "tình yêu", không phải lỗi của phụ nữ, là lỗi của đàn ông. Dựa vào đó mà tiếp tục nảy sinh ý nghĩ không chính đáng, đàn ông đó liền sai chồng thêm sai, sai lầm hoàn toàn rồi!

Người tôi tôn sùng nhất, chính là người tràn đầy lòng bác ái. Trước mặt người như thế, tôi thấy xấu hổ đến mức không dám nói gì. Tôi từng gặp những người như vậy. Không phải trong giới văn nhân hay trí thức, mà là trong tầng lớp bình dân. Tôi thường không nhịn được mà tưởng tượng, những người như vậy, chính là những "đại ẩn sĩ" ẩn mình nơi thị thành, hoặc là bồ tát hóa thân.

"Lòng yêu thương" có sức ảnh hưởng tự nhiên. Trừ khi con người từ chối sự ảnh hưởng đó, bài xích sự ảnh hưởng đó, chống đối sự ảnh hưởng đó.

Chỉ cần chúng ta chịu khó tìm kiếm thì không khó để nhận ra, và phải thừa nhận rằng, thường từ những con người bình thường nhất, tức là những người dân thường, hào quang cảm động của "lòng yêu thương" lại tỏa sáng. Trong tầng lớp bình dân, những câu chuyện tràn đầy "lòng yêu thương" xuất hiện nhiều hơn bất kỳ tầng lớp nào khác.

"Tình yêu" cũng giống như "lòng yêu thương", tồn tại phổ biến trong tầng lớp bình dân. Một số văn nhân và trí thức không thể nào dung thứ cho quan điểm này của tôi. Họ nhất định cho rằng cái tôi đề cập hoàn toàn không phải là "tình yêu", mà chỉ là "hôn nhân".

Nhưng tôi lại cố chấp cho rằng, đối với dân thường mà nói, "tình yêu" nếu không tiến tới "hôn nhân" thì chắc chắn không phải là "tình yêu" hoàn hảo. Dân thường là những người thực tế.

Khi Anna rơi vào lưới tình, cô kiên quyết đề nghị ly hôn với chồng mình là Karenin. Bất chấp sự lên án của tầng lớp thượng lưu, cô kiên quyết quyết định kết hôn với Vronsky. Lúc này, "tình" trong lòng Anna đã thăng hoa thành "tình yêu". Cô mong đợi anh ta gánh vác trách nhiệm "hôn nhân" cho "tình yêu" của họ. Những gì cô có thể làm, cô đều đã làm rồi. Nhưng Vronsky không hề có ý định thực sự gánh vác trách nhiệm gì cả. Thứ anh ta muốn chỉ là "tình", và anh ta đã đạt được rồi. Trách nhiệm làm anh ta chán ghét đến tột cùng, vì thế họ xảy ra những cuộc cãi vã kịch liệt, và rồi Anna tuyệt vọng chỉ còn cách nằm lên đường ray tự sát...

Vronsky "yêu" Anna là thật. Anna dành "tình yêu" cho anh ta cũng là thật. Bi kịch được tạo ra bởi vì thứ mà hai người yêu cầu về bản chất là khác nhau - Anna muốn một tình yêu có trách nhiệm, nó tất nhiên phải gắn liền với "hôn nhân", trở thành một đòi hỏi trọn vẹn. Vronsky chỉ muốn "tình" không kèm theo bất cứ tiền đề trách nhiệm nào. Anh ta cho rằng có tình yêu là đủ rồi. Thậm chí việc Anna kiên quyết ly hôn vì "tình" của họ, trong mắt anh ta cũng đều là ngu xuẩn, không sáng suốt.

Một hiện tượng là - một số nam giới cứ mở miệng là tôn thờ "tình yêu" lên trên hết, thực ra ý định ban đầu chỉ là muốn "tình".

Nhưng một hiện tượng khác là - ngày càng nhiều phụ nữ cũng bắt đầu giăng bẫy cho đàn ông. Họ lấy chính mình làm mồi nhử để câu tiền tài của đàn ông.

Những cặp vợ chồng kiểu Ngưu Lang Chức Nữ trong dân thường vẫn còn rất nhiều. Trong cuộc sống của họ không thể thiếu việc sinh con đẻ cái, không thể thiếu củ cải rau xanh, không thể thiếu cãi vã to tiếng, nhưng cũng không thể thiếu cảm giác trách nhiệm. Trách nhiệm là lời hứa thiêng liêng nhất của họ dành cho nhau trước khi thành gia lập thất. Ai lo việc trong, ai lo việc ngoài, chi tiêu lớn rút cuộc ai là người quyết, chi tiêu nhỏ ai có quyền tự chủ, những nội dung kiểu như vậy mà một số nam nữ coi khinh, đối với họ đều là những điều phải cân nhắc. Nhưng theo tôi thấy, những điều tục tĩu này chẳng ảnh hưởng chút nào đến tình cảm mặn nồng của họ.

Trong "tình yêu" không có hôn nhân làm vật mang, đến cuối cùng, người chịu tổn thương toàn thân hầu như đã định sẵn là phụ nữ. Những niềm vui, hạnh phúc mà họ từng có được, thường bị nỗi buồn cuối cùng xóa sạch không còn dấu vết.

Trong "tình yêu" không có hôn lễ làm vật mang, phụ nữ chỉ có thể đóng vai "tình nhân".

Mà xưa nay ở khắp mọi nơi, vai diễn này chính là vai mà phụ nữ không cam tâm nhất. Cũng là vai diễn không phù hợp nhất với mối quan hệ tự nhiên giữa nam và nữ. Dù là những phụ nữ chuyên lấy việc săn tìm người nổi tiếng, bám víu quyền quý, dựa hơi "đại gia" làm sở trường, một khi cảm thấy đã củng cố được vị trí "tình nhân", vẫn cứ muốn nảy sinh dã tâm lật đổ gia đình hiện có của "tình nhân" để thay thế vị trí người vợ. Lúc này đàn ông dùng chiêu bài "tình yêu là trên hết" của họ để dỗ dành những người phụ nữ đó là hoàn toàn vô ích. Cái gọi là dỗ được nhất thời, không dỗ được một đời. Kết quả đàn ông đại đa số chỉ có ba lựa chọn - hoặc là ly hôn, thừa nhận sự phá sản của luận điệu "tình yêu là trên hết", đối mặt với thực tế rằng dù đã "yêu" rồi thì vẫn không thể miễn cưỡng chuyện kết hôn "là trên hết". Hoặc là đưa cho họ thật nhiều tiền, nhiều đến mức họ thỏa mãn và không định "nổi loạn có lý" nữa. Hoặc là bị ép đến đường cùng, chó cùng rứt giậu, giết chết họ, hoặc ngược lại bị họ giết.

Vì vậy, theo tôi nghĩ, dù là ở nước ngoài hay ở Trung Quốc, "Ngày lễ tình nhân" sẽ không bao giờ là một ngày đáng để được đối xử nghiêm túc. Đây là một ngày mơ hồ và xám xịt. Trên thế giới này không có mấy người thực sự thích ngày này. Những đôi nam nữ thực sự đang trong mối quan hệ yêu đương nồng cháy bình thường, thì mỗi ngày đều có thể là "Ngày lễ tình nhân" của họ. Những cái ôm và nụ hôn của họ vào ngày đó, chưa chắc đã ân cần hay nồng nhiệt hơn những ngày khác. Còn những đôi nam nữ vừa là "tình nhân" lại vừa là vợ chồng của người khác, chắc chắn chính là những người rất tránh né ngày đó.

Cho dù có lén lút bên nhau được, cảm giác và suy nghĩ trong lòng mỗi người cũng sẽ rất đắng cay.

Tôi nghĩ, thực ra, một nhà văn rất khó giao lưu với "các" độc giả của mình.

Tôi tin rằng hầu hết các nhà văn đều giống tôi, nguyện vọng chân thật nhất trong lòng chính là có được khoảng thời gian độc lập đầy đủ. Rốt cuộc có thể sở hữu bao nhiêu khoảng thời gian như vậy, đối với nhà văn là vô cùng quan trọng. Nếu loại thời gian này bị ép đến mức tối thiểu một cách tự nguyện hay không tự nguyện, thì theo tôi là rất đáng thương.

Xin hỏi ở Trung Quốc, hiện nay, nhà phê bình kiệt xuất tên là gì? Những người gần đủ tầm nhà phê bình, tôi hầu như đều đã đọc bài của họ, trực tiếp đối mặt nghe họ phát biểu. Trong số đó có những người tôi rất kính trọng, nhưng tôi không thấy ai là kiệt xuất. Cũng giống như tôi nhìn các nhà văn đương đại bao gồm cả chính mình, chẳng có ai đủ tư cách gánh hai chữ "kiệt xuất" cả.

Phê bình cũng như sáng tác, theo tôi trước hết là nghề nghiệp. Là người hành nghề, là "cách kiếm cơm".

Từ thiên tính, tôi thích tĩnh. Thích độc hành.

Độc hành là khoảng thời gian tốt nhất, tốt nhất, tốt nhất đối với tôi.

Lỗ Tấn ở thời đại ông ấy, là một nhà văn bị tổn thương rất nhiều, nên mới nói ra những lời gay gắt như thế. Lỗ Tấn còn nói - vào ngày đi theo thần chết, "không khoan dung một ai". Lời của Lỗ Tấn thường làm tôi lạnh sống lưng. Tôi có thể hiểu được cảm giác trong lòng một người buộc phải "đứng ngang" là như thế nào.

Tôi cơ bản đồng ý với lời của Lỗ Tấn.

Nhưng chỉ giới hạn so với Lỗ Tấn mà nói.

Những người phụ nữ quá theo đuổi hư vinh mà lại không có chút lòng đồng cảm nào, tôi không giao du.

Phụ nữ mà không chút hư vinh thì đó là nữ thần.

Mà nữ thần thì hoàn toàn không có.

Tôi sẽ không chủ động giao du với bất kỳ người phụ nữ nào.

Ở Trung Quốc, trong thực tế, phụ nữ có khuyết điểm "lấy mình làm trung tâm" kiểu Lâm Đại Ngọc thì nhiều vô kể; phụ nữ có kiểu "đạm bạc công danh" như Lâm Đại Ngọc thì lông phượng sừng lân, tôi chưa từng gặp.

Ở đô thị, tôi nghĩ cũng không còn khả năng có nữa.

Bảo Ngọc luôn bị các văn nhân Trung Quốc gọi là điển hình của sự "phản nghịch", thực ra là sự dẫn dắt sai lệch cố ý của các văn nhân Trung Quốc. Trên người Bảo Ngọc, gửi gắm "nơi quy tụ tình cảm" của những văn nhân phong kiến Trung Quốc thất chí trên con đường làm quan. Nói toạc ra là, lấy tình cảm nhi nữ để thay thế tâm tư của sĩ đại phu. Miệng thì tán dương Bảo Ngọc, nhưng trong cốt tủy vẫn muốn làm quan. Nếu không làm được quan, tốt nhất là được như Bảo Ngọc, bên cạnh có một đám đông những hồng nhan từ tôn quý đến thấp hèn bầu bạn để giết thời gian cô độc. Cuộc sống của Bảo Ngọc, là niềm mơ ước trước khi "phục vụ quan trường" của các văn nhân phong kiến cũ, cũng là giấc mơ đẹp sau khi không làm nổi quan.

Cốt khí của các văn nhân phong kiến Trung Quốc, đại đa số là biểu hiện sau khi không làm nổi quan. Trước đó thì rất ít. Cái mà Bảo Ngọc có hoàn toàn chẳng phải là cốt khí gì, chỉ là cái "nữ tính" được nuông chiều từ nhỏ trong đám đàn bà mà thôi. Bảo Ngọc không phải là điển hình của sự "phản nghịch", mà là điển hình của sự đồi trụy.

Trong tâm lý của đàn ông, không chỉ có "tâm lý luyến mẫu", mà còn có "phức cảm luyến muội". Người đàn ông không có em gái để yêu trong tâm lý cũng bị phức cảm này quấn lấy. Đàn ông mệt mỏi, liền muốn biến thành đứa trẻ, thế là tìm sự an ủi từ "tâm lý luyến mẫu"; đàn ông cảm thấy bản thân khá hơn một chút, liền muốn làm "sứ giả hộ hoa", thế là "phức cảm luyến muội" thỏa mãn tâm lý quan tâm của đàn ông. Sự vĩ đại của Tào Tuyết Cần, nằm ở chỗ đã tạo hình thành công nhân vật Lâm Đại Ngọc - "cô em thế kỷ" của cánh đàn ông, đặc biệt là các văn nhân nam. Cô ấy đẹp, bệnh tật, là trẻ mồ côi, sống nhờ nhà người khác, có tài hoa, đa sầu đa cảm, tùy hứng, thích giở chút tính khí trẻ con, nhưng bản chất không xấu, lúc vui hay không vui, lời lẽ tranh luận luôn sắc bén thông minh nhưng không mất đi vẻ tinh nghịch... Tất cả những điều này đều vô cùng phù hợp với các điều kiện để đàn ông nâng niu trân trọng. Sự vĩ đại của Tào Tuyết Cần còn nằm ở chỗ, dù chưa đọc Freud, nhưng cũng xứng danh là bậc thầy phân tích tâm lý nam giới. Một cuốn "Hồng Lâu Mộng", nhân vật sống động, tinh tế, tự nhiên đứng đầu phải kể đến Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa. Theo tôi thấy, Bảo Thoa là người bình thường; Đại Ngọc là bệnh hoạn, thể chất như vậy, tâm lý thực ra cũng như vậy. Căn bệnh sinh lý đáng thương, còn tâm lý u ám âm u đáng ghét. Là thiếu nữ thì nên cảm thông, là phụ nữ thì cần phê bình. Trên người này thể hiện ra "vẻ đẹp bệnh hoạn", các văn nhân truyền thống Trung Quốc từ trước đến nay đều thích điều này. Tâm lý thưởng thức phụ nữ của các văn nhân truyền thống Trung Quốc, thực ra từ trước đến nay cũng đều có vài phần bệnh hoạn.

Còn về Bảo Ngọc, thật quá mức làm người ta chán ngán. Trò chơi "tình yêu" "bắt cá hai tay" của cậu ta, chẳng chút nào lay động được tôi. Con trai tôi sau này nếu có chút nào giống cậu ta, tôi nhất định sẽ dùng bàn tay kèm theo roi da để dạy dỗ lại cho nên người.

Cái gã Carnegie này thuần túy là nói nhảm.

Những cô nàng PR, thư ký xã giao, quan lại tầm thường, nhân viên bán hàng trực tiếp cùng tất cả những người không có tiền đồ trong chuyên môn, mới đem 85% thời gian và tinh lực đi làm quan hệ xã hội.

Mỗi người đều nên có năng lực như thế này - ở trường học, ở cơ quan, ở cộng đồng, cố gắng khiến sự tồn tại của mình không làm người khác chán ghét. Theo tôi, không ai cần phải cố ý đạt được sự yêu thích của người khác, không làm người khác chán ghét là đủ rồi.

Một người không thể và cũng không cần thiết ngày nào cũng ở đó thay đổi bản thân theo ý thích của người khác, còn phải làm nhiều việc khác nữa. Vì vậy, đạt được tu dưỡng tối thiểu là được rồi. Bởi vì mục đích, ý nghĩa và giá trị sống của hầu hết chúng ta không phải là làm quân tử, mà là trước hết tránh làm tiểu nhân.

Tôi không chủ trương người trẻ tuổi bồi dưỡng năng lực "xã giao" gì đó. Tuổi còn trẻ, thời gian và tinh lực không dùng vào việc chính đáng, thì "giao" cái "tế" gì? Đời người có được một tri kỷ đã là ít rồi. Có được "một đám" thì không gọi là tri kỷ nữa, mà thành "hội anh em" rồi. Ba năm tri kỷ là được rồi.

Tôi chỉ biết trên đời có một loại tình bạn như rượu cũ ủ lâu - tôi trân trọng loại tình bạn này. Nguyên tắc của tôi đối với loại tình bạn này là - tuyệt đối không lợi dụng nó để áp đặt khó khăn của bản thân lên người khác.

Mối quan hệ giữa người với người được thương mại hóa, con người vẫn có thể giữ lại một phần "quyền tự chủ". Bạn không muốn đối xử với người khác như thế, bạn có thể không làm vậy. Bạn không muốn người khác quấy nhiễu mình như thế, bạn có thể tránh xa những người như vậy.

Thời đại thương mại không thể áp đặt mục đích công lợi của nó lên bất kỳ ai.

Nhìn kỹ mà xem, cái gọi là thương mại hóa mối quan hệ giữa người với người, không gì khác đều là sự tự nguyện giữa người với người.

Còn trong thời đại chính trị, con người không có lấy một chút "quyền tự chủ". Sự áp đặt của chính trị lên con người mang tính không thể kháng cự. Mỗi một người đều không thể đứng ngoài cuộc. Bạn không muốn đối xử với người khác như thế, bạn đã phạm vào chính trị. Người khác đối xử với bạn như thế, cũng có yêu cầu chính trị làm lý do chính đáng.

Trong thời đại thương mại, con người ít nhất sở hữu một loại tự do này - sự tự do tự cách ly. Tự nhốt mình trong lồng như một con khỉ, lạnh lùng nhìn thế giới bên ngoài dù đặc sắc hay bất lực.

Trong thời đại chính trị, tất cả mọi người đều không ngoại lệ, đều là những con khỉ bị chính trị nhốt trong lồng. Trong lồng chỉ có một mối quan hệ là chính trị. Chính trị lại đang thực hiện sự giám sát nghiêm khắc nhất ở bên ngoài lồng.

Tự mình nhốt mình trong lồng (nếu có ai thực sự không chịu nổi thời đại thương mại) vẫn tốt hơn là bị người khác nhốt trong lồng.

Sự lợi dụng lẫn nhau dường như cũng luôn phù hợp với nhân tính tích cực hơn là sự gây hại lẫn nhau...

Những người Trung Quốc đại lục ra nước ngoài những năm gần đây, hầu như đều có học thức và chuyên môn, tố chất cá nhân khá cao. Vì vậy đã vứt bỏ ý thức đặt chân sinh tồn theo bầy đàn, theo đuổi cơ hội vị kỷ để hiện thực hóa mục tiêu cá nhân. Nói từ mặt tích cực, năng lực cạnh tranh của cá nhân người Trung Quốc ở nước ngoài phổ biến đã mạnh hơn, thể hiện ra một loại khí chất long hổ của cá nhân người Trung Quốc; nói từ mặt tiêu cực, sự bài xích, cản trở, chèn ép lẫn nhau giữa đồng bào, vẫn luôn là bộ mặt xấu xí đầy tính "khỉ" di truyền của dân tộc...

Giữa những người dân thường tầng lớp dưới ở Trung Quốc, sự cảm thông và giận dữ lẫn nhau năm đó quý giá biết bao!

Nhưng mối quan hệ này, dường như đã vì "nhị ca" năm đó của họ trở thành một người viết tiểu thuyết, mà có sự biến đổi về chất lượng. Tôi đoán sự xuất hiện của Đại Tiểu, chắc chắn lại giống như sự xuất hiện của Nhị Tiểu, là có việc khó muốn nhờ vả. Và cũng đoán ra được có thể là việc về mấy phương diện nào.

Có lẽ, chính vì có việc khó muốn nhờ, Đại Tiểu và Nhị Tiểu mới cùng e dè như vậy trước mặt tôi chăng? Đồng thời nghĩ rằng, ngoài việc nói những lời cảm thông, tôi chắc chắn vẫn không giúp được gì cả. Và đây, mới chính là lý do khiến trong lòng tôi có chút khó chịu.

Trong tình cảnh công nhân thất nghiệp xuống dốc ngày càng nhiều, một người viết tiểu thuyết như tôi, dù bức thư có tha thiết đến đâu thì còn hy vọng thực sự có tác dụng gì chứ? Khi đó chẳng qua chỉ là lừa mình dối người mà mang đến cho Nhị Tiểu một vài "hy vọng bong bóng". Giống như đưa cho người đi chợ một xấp tiền giả.

Cuộc sống thực tế, khiến họ tin tưởng không nghi ngờ một logic không thể phá vỡ, đó là - chỉ cần một số quan lại chịu nể mặt, thì mọi khó khăn của dân thường nhỏ bé đều sẽ được giải quyết dễ dàng.

Đại Tiểu và Nhị Tiểu, từ nhỏ đã là con nhà dân thường nghèo khó. Hơn bốn mươi tuổi, một người đã có gia đình nhỏ của riêng mình, nhưng chất lượng cuộc sống của gia đình nhỏ đó, gần như mỗi ngày đều dao động trên đường nghèo đói theo chuẩn Trung Quốc, gần như mỗi ngày đều có khả năng to lớn chìm xuống dưới đường nghèo đói đó. Tâm lý và ý thức tư tưởng, gần như mỗi ngày đều chịu sự đè nén của khả năng to lớn đó. Một người đến nay vẫn chưa có gia đình nhỏ của riêng mình. Thậm chí đến cả một nơi ở tối thiểu là một chiếc giường thuộc về mình cũng không có. Hơn nữa không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định. Hơn nữa tương lai vận mệnh của bản thân, tạm thời vẫn chưa nhìn thấy chút ánh sáng hy vọng nào. Giống như một linh hồn cô độc mà ai ai trong thành phố này cũng làm ngơ. Mà bản thân thành phố, lại đang thay đổi từng ngày. Những người khác, lại đang đèn đỏ rượu xanh, ca hát nhảy múa cuồng nhiệt, theo đuổi xa hoa trụy lạc, tiêu xài cao cấp ném tiền qua cửa sổ - bạn khó mà phủ nhận họ cũng sẽ bị cám dỗ mạnh mẽ. Nhưng họ không trộm, không cướp, không chịu dứt khoát biến thành kẻ nghiện rượu và con bạc, không chịu đọa lạc thành kẻ ác người xấu. Cũng không mang trong lòng mối thâm thù đại hận với xã hội và thời đại. Trong linh hồn họ, dường như có một sự kháng cự bẩm sinh với sự đọa lạc và tội ác, mà đến bất cứ lúc nào, trong bất cứ tình huống nào cũng không mất đi. Trong quá trình kháng cự này, họ đôi khi thực sự biểu hiện ra sự kiên cường như một chiến sĩ vậy! Hy vọng của họ, chính là thể hiện ở sự kiên cường của họ trong việc chống lại sự đọa lạc và tội ác đó.

Có một sự thật là, từ những năm tám mươi đến nay, chúng ta không thể kể ra bất kỳ thương hiệu hàng hóa trong nước nào là công lao của bất kỳ ngôi sao nào. Và một sự thật khác là, chúng ta cũng hầu như không thể kể ra bất kỳ vài doanh nhân tư nhân nào, tùy tiện vung tay vài triệu để mời ngôi sao nào đó làm quảng cáo. Người làm tư nhân, là tiền của chính mình. Tiền của chính mình, vung ra vài triệu có đáng hay không, ai cũng đều sẽ âm thầm đếm ngón tay tính toán rõ ràng. Sự thật thứ ba là, chính là một số "ông chủ" của các doanh nghiệp nhà nước, hào phóng cực kỳ, rộng rãi cực kỳ. Tâm thế tranh nhau thuê ngôi sao với giá cao để làm quảng cáo rầm rộ, cũng cực kỳ đầy đủ.

Viện thông tin kinh tế quốc gia Hoa Kỳ, năm 1992 đã từng làm một cuộc thí nghiệm, sắp xếp một ngôi sao, một người bình thường và một con khỉ cùng làm một mẩu quảng cáo hàng hóa, kết quả cho thấy - con khỉ nhận được nhiều phiếu nhất, vượt gấp đôi ngôi sao. Tiếp theo là người bình thường. Thứ ba mới là ngôi sao.

Đáng lẽ, đa số các doanh nghiệp vừa và lớn của nhà nước Trung Quốc, đều đang vật lộn trong cảnh khốn cùng kinh tế. Hiệu quả kinh tế tốt, dù không có năng lực viện trợ cùng ngành, cũng luôn có thể làm ra những tấm gương tốt cho cùng ngành chứ? Nhưng chúng ta chỉ từ ý thức và hành vi quảng cáo, cũng đã tận mắt nhìn thấy khuynh hướng bất lương khiến người ta cảm thấy sâu sắc lo âu. Hiện tượng tặng biệt thự, tặng xe, vung tiền vài triệu như không, thực sự giống như muốn dấy lên một cuộc "Đại nhảy vọt" của phong trào "so, học, đuổi, vượt"!

Khỉ cũng được, ngôi sao cũng được, người bình thường cũng được, máy tính cũng được - ai mới mẻ, ai thành tín, ai có ý tưởng hay, ai giải thích và giới thiệu sản phẩm rõ ràng minh bạch hơn, thì chúng ta tin người đó. Nếu không, tôi thà chịu ảnh hưởng của quảng cáo do khỉ làm còn hơn.

Tôi cuối cùng đã hiểu ra một đạo lý như thế này - khi thời đại tuyên bố thay đổi rồi, đại đa số mọi người chỉ có thể thay đổi theo. Nếu thời đại thay đổi mà người không đổi, thì phải có tư bản cực kỳ hùng hậu và tư cách khác thường. Nếu bạn có ý định siêu thoát ra ngoài thời đại thương mại, thì bạn tất phải có sản nghiệp tổ truyền đủ để nuôi sống bạn và gia đình bạn. Nếu quả thực có, cách thức bạn tiêu dùng gia sản tổ tiên, cũng tất phải là cách thức của thời đại thương mại. Khuynh hướng tiêu dùng của bạn, cũng tất phải chịu ảnh hưởng của thời đại thương mại. Nếu bạn buộc phải mưu sinh theo các quy tắc của thời đại thương mại, bất kể trong tư tưởng kháng cự nó với thái độ kịch liệt đến mức nào, bạn thực tế đã khuất phục trước nó rồi.

Nhìn khắp thế giới, văn học và nghệ thuật không mang màu sắc thương mại đã thuộc hàng hiếm. Tôi không muốn tuyên bố mình nhất định gia nhập hàng ngũ hiếm hoi đó. Bởi vì tôi không làm được, còn bởi vì tôi không cho rằng chỉ cần mang màu sắc thương mại, nghệ thuật liền không còn là nghệ thuật, văn học liền không còn là văn học. Người thanh cao như Trịnh Bản Kiều, cũng từng niêm yết giá rõ ràng cho tranh của mình. Hơn nữa vì tôi bắt đầu nhận ra, một tiểu thuyết gia trong thời đại thương mại, dựa vào tiền nhuận bút để gánh vác trách nhiệm kinh tế gia đình, mà lại có thể tiến hành sáng tác một cách tương đối nghiêm túc lâu dài, chính là một trong những kiểu "lao động chân chính". So với việc không thể làm như vậy, mà buộc phải ngửa tay đòi hỏi nhà nước, đòi không được liền cằn nhằn đầy bụng oán trời trách đất thì tốt hơn nhiều.

Đặc trưng của xã hội thương mại, thực sự chính là đặc trưng của việc tiền bạc chi phối vận mệnh của nhiều người ở nhiều phương diện xã hội. Nó đôi khi quá đáng ghét. Nhưng suy nghĩ kỹ lại, cũng chưa chắc đã không chịu nổi hơn việc chính trị chi phối vận mệnh của nhiều người ở nhiều phương diện xã hội. Chính trị hóa toàn dân là chính trị dung tục, thương mại hóa toàn dân lại chính là dấu hiệu của thời đại thương mại trưởng thành.

Cải cách không chỉ là hành động con người cải tạo thời đại, cũng là biện pháp thời đại cải tạo con người. Đối với dự đoán thời đại, con người thực ra chỉ chia làm bốn loại - thúc đẩy nó, thuận theo nó, kháng cự nó hoặc bị nó vứt bỏ. Người thúc đẩy nó không chỉ có Prometheus, mà còn có "thương nhân Venice" - họ là hai hàng bánh xe của cỗ xe lớn thời đại. Thời đại không phải, chưa bao giờ là đoàn tàu đơn độc...

Kẻ kết thúc thời đại cũ là anh hùng. Kẻ kháng cự thời đại mới là kẻ điên. Kẻ đặt mình giữa hai bên là người lý tưởng. Số lượng anh hùng và kẻ điên mà thời đại sinh ra đại khái bằng nhau. Mà số lượng người lý tưởng chưa bao giờ vượt quá tổng số của hai loại người trước...

Những người bị thời đại vứt bỏ thường là những người đã đem bản thân thế chấp hoàn toàn cho ngày hôm qua, và mất hẳn nguyện vọng chuộc lại chính mình. Thời đại vứt bỏ họ giống như lữ khách không chút do dự vứt bỏ đôi giày đã đi rách...

Ngược lại, bất kỳ thời đại nào cũng không thể vứt bỏ những người biết tận dụng nó một cách đầy đủ nhất - cho dù họ là những kẻ cực kỳ tham lam. Tầng lớp trung gian dù bị vứt bỏ thường xuyên đến mấy cũng không thể đuổi sạch những con trâu nhặng có ý định bám chặt lấy nó để hút máu...

Cải cách không phải là đi xuân du hay tham quan tập thể, trong quá trình đó niềm vui chắc chắn ít hơn sự phù phiếm.

Công việc "chính thức" - câu nói điển hình nhất của Trung Quốc. Năm đó một người Trung Quốc không có công việc "chính thức", dù đầu óc có thông minh hơn, cơ thể có tráng kiện hơn, cũng giống như không phải là một người có tư cách hoàn bị tối thiểu. Hầu như không có đôi cha mẹ Trung Quốc nào, tâm cam tình nguyện đồng ý gả con gái mình cho một người đàn ông không có công việc chính thức. Các cô gái ngày nay một trong những điều kiện chọn bạn đời là chiều cao trên 1m70. Đàn ông dưới 1m70 nghe nói bị họ gọi đùa là kẻ tàn tật một nửa. Năm đó một người đàn ông không có công việc "chính thức", cũng tương đương với một người đàn ông tàn tật một nửa. Đâu chỉ là tàn tật một nửa mà thôi!

Năm đó Trung Quốc về phương diện kinh nghiệm phân loại học đủ để khiến thế giới phải kiêu hãnh. Người xưa của chúng ta từng nói câu "ba trăm sáu mươi nghề, nghề nào cũng có trạng nguyên". Đồng bào từ khi lập quốc đến nay phát hiện bản thân không hề đối mặt với nhiều nghề nghiệp có thể lựa chọn đến thế. Thậm chí thu nhỏ mười lần - nói ba mươi sáu nghề vẫn còn dư dả. Giáo viên tiểu học không ngoại lệ đều giảng giải trên lớp - "ba trăm sáu mươi nghề là một cách ví von cường điệu..." Mà đồng thời, trên thế giới đặc biệt là ở một số nước phát triển, người hiện đại lại đối mặt với sự do dự và bối rối khi phân công nghề nghiệp ngày càng tinh vi và phong phú. Một người nước ngoài trong suốt cuộc đời có thể đã thay đổi ít nhất vài loại nghề nghiệp. Còn ở Trung Quốc trước cải cách mở cửa, nếu bạn đối mặt với một người từng điều động công việc, bạn liền không nhịn được mà nhìn họ bằng con mắt khác. Bởi vì điều đó có nghĩa là anh ta "rất có đường dây" và "rất có năng lực". Đại khái không phải là một "kẻ tầm thường".

Thể chế kinh tế truyền thống của Trung Quốc, với tính khái niệm hóa, giáo điều hóa trong lý luận và tính nghịch đảo với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu tức là sự hình thành thị trường hóa thế giới, với tính đơn giản hóa, ý chí hóa trong thực tiễn, khiến các nhà kinh tế học đương đại giàu khả năng thấu hiểu phải gãi đầu bối rối.

Ngoài nông dân ra, mặc dù cứ vài trăm người Trung Quốc chỉ có một hai người dưới sự dẫn dắt của quan niệm giá trị con người "kiểu Trung Quốc" mà thành công hoặc tự cho là thành công đi hết cuộc đời họ, nhưng không ai có thể phản bác, hầu như hơn 90% người Trung Quốc, khi nhìn bóng dáng một vị cục trưởng hoặc chiếc xe con ông ta ngồi, sẽ cho rằng đó là cuộc đời tốt nhất...

Nếu bắc cầu giữa tín ngưỡng của con người và quyền chiếm hữu lợi ích thực tế của con người, thì giống như trải thảm đỏ giữa nhà thờ và quốc hội. Sự đơn nhất trong định hướng giá trị quan của con người, dù là tinh thần hay vật chất, đối với một quốc gia, một dân tộc, một thế hệ mà nói, đều là nguyên thủy.

Bất kể là ai, khi bản thân là người có tính điển hình, suy cho cùng, có nghĩa là đã "trộm" được những đặc trưng điển hình của thời đại. Chichikov là quái thai do chế độ nông nô thời Sa Nga sản sinh ra. Edison là con trai của thời đại công nghệ chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ thời thơ ấu. Iacocca lại là đứa con cưng trong sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường phương Tây đương đại. Cho nên Iacocca mới nói: "Tất cả đều là đất nước này đã cho tôi cơ hội như vậy!" Mà sự bất hạnh của Aesop lại nằm ở chỗ, thời đại chưa bao giờ ban cho ông sự tự do mà ông khao khát...

Chúng ta chỉ cần nghiên cứu một chút về thời đại, sẽ phát hiện thời đại hóa ra có tính cách như thế này - nó từ trước đến nay chỉ ngưỡng mộ hai loại người - người cam tâm tình nguyện sống theo yêu cầu của nó và người trái ngược với nguyện vọng của nó và cuối cùng trở thành kẻ thách thức nó. Nó vì ngưỡng mộ người trước mà ban thưởng họ, nó ban thưởng họ là để khiến họ càng phù hợp với yêu cầu của nó hơn, đối với giới hạn của nó càng không dám bước qua nửa bước. Nó đối với người sau theo lệ thường là không ban thưởng. Không những không ban, mà còn thường treo hình phạt trên đầu họ. Nó ngưỡng mộ họ đại khái là lúc nó thực sự cảm thấy cần họ. Tức là lúc chúng ta gọi là "bước ngoặt". Những lúc như vậy sự phản nghịch và dũng khí thách thức của họ cùng tinh thần của họ, là chất xúc tác thúc đẩy nó biến hóa và là lực đẩy thúc đẩy nó "bước ngoặt". Giống như con rắn đôi khi cần kẹp cơ thể giữa các nhánh cây để hoàn thành việc lột xác. Không có những kẻ phản nghịch và thách thức nó, một thời đại không thể thoát khỏi cái xác cũ của nó mà đồng thời có được sự sống mới. Vì vậy nó mới hào phóng ban thưởng họ. Sự ban thưởng này thường là một lần, là vô cùng phong phú. Sau đó nó không còn ban ơn cho họ nữa, bởi vì nó đã ban thưởng cho họ thời cơ ngàn năm có một vô cùng quan trọng đối với con người, hơn nữa kèm theo cả ngày mai. Sự thật đúng là như vậy, những người nắm bắt được thời cơ tại thời điểm "bước ngoặt" của thời đại, và từ đó đạt được thành công, thành công sẽ có tính liên tục khiến người ta đầy tự tin, bởi vì họ chính là những người được sinh ra cùng với một thời đại mới, mà thọ mệnh của một thời đại mới, thường là tính theo thế kỷ. Thời đại mới cần những người thúc đẩy nó đồng hành. Còn về những người từng được nó ngưỡng mộ, ưu ái thậm chí sủng ái. Hoặc bị nó để lại trên lớp da cũ, hoặc trong lúc nó hoàn thành "bước ngoặt" đau đớn, chia sẻ nỗi đau của nó và cùng nó biến hóa. Điều nó không ngưỡng mộ nhất có lẽ là những người như vậy - hôm qua chưa từng được nó coi trọng như tấm gương, hôm nay đối với "bước ngoặt" của nó lại thờ ơ. Nó hôm nay không gợi ý cho họ bất kỳ cơ hội nào, nó cũng không để lại cho họ gì trong ngày mai. Nó đối với họ không có cách nào cũng không có cách gì, cũng như họ đối với nó cũng là như vậy... Không chỉ hôm nay, muôn đời vẫn vậy!

Giáo dục tổng hợp của xã hội truyền thống chúng ta, hầu như có thể nói là lấy việc hạn chế ý thức "tự thể hiện", "tự chứng minh" của con người làm trách nhiệm. Truy ngược dòng lịch sử Trung Quốc xa xôi, có thể phát hiện điều này trong văn hóa cổ điển đặc biệt là đạo mạo trang nghiêm. Trong "Lão Tử" đã nhiều lần nói mấy lời kiểu như "tự tiến cử thì không sáng suốt", ý nói ai "tự thể hiện", thì không đáng kính cũng không thông minh. Trong "Lễ Ký · Trung Dung" nói: "Không gì rõ bằng cái ẩn, không gì hiển bằng cái vi, cho nên người quân tử thận trọng khi ở một mình." Ý nói ở những việc nhỏ nhặt nhất, khi một mình không có người, cũng phải hành vi quy củ không vượt khuôn khổ. Làm được đến thế nào mới tính là tấm gương? - "Trời cao che phủ, không dám không cúi; đất dày nâng đỡ, không dám không đi." Ý nói trời cao nhường nào, nhưng một nhân vật kiểu mẫu đứng đó không dám không cúi người khom lưng; đất dày nhường nào, nhưng một người hy vọng nhận được sự tôn trọng của người khác, không dám không đi từng bước chậm rãi. Mà Lão Tử thì dứt khoát đắc ý nói "Ta có ba báu vật" - "Thứ ba là không dám làm người đứng đầu thiên hạ".

Thế là "Cách mạng văn hóa" trở thành lần duy nhất thế hệ chúng tôi được phổ biến phê chuẩn, có thể đường hoàng thể hiện bản thân chứng minh bản thân. Cách thức thể hiện là diễn tập "cách mạng". Nội dung chứng minh là "trung thành vô hạn". Cơ sở lý luận là "nổi loạn có lý". Đây là sự giải phóng và xả hơi lớn một lần cho năng lượng tâm lý của cả một thế hệ. Nó tiêu hao đi loại nhiệt huyết "tự thể hiện" mà mỗi người cần dùng ít nhất 1/3 cuộc đời để dự trữ. Đồng thời làm tổn thương nghiêm trọng một thế hệ người biến loại nhiệt huyết này thành sự thôi thúc tự hiện thực hóa, mười năm sau đó họ chỉ có thể mặc cho thời đại sai khiến.

Một quốc gia, đặc biệt là một quốc gia đông dân, nếu muốn phát triển nhanh chóng về kinh tế, sự phân công nghề nghiệp của các thành viên xã hội nên là như thế này - cứ một nghìn người, nhiều nhất có mười quan chức là đủ, trong đó bao gồm cả người vừa là chuyên gia một phương diện nào đó vừa là quan chức. Nên có khoảng hai trăm công nhân doanh nghiệp trọng điểm quốc gia. Nên có khoảng ba trăm công nhân doanh nghiệp vừa và nhỏ không thuộc quốc gia. Nên có khoảng bốn trăm người dựa vào nghề nghiệp cá nhân có thể cơm no áo ấm. Khác thuộc về bác sĩ, luật sư, người làm công tác giáo dục...

Người Trung Quốc hôm nay dù sao cũng đã khôi phục được bản năng tìm kiếm thời cơ, nhưng thời cơ đã định là không thuộc về hai loại người sau đây: một loại người mong đợi một sáng thức dậy, thời đại giống như người dì cưng chiều mình, nhẹ nhàng bế mình lên, để mình cưỡi trên cổ thời đại mà diễu võ dương oai...

Một loại người mong đợi một sáng thức dậy, bằng cái tên nào đó nghe rất chính đáng, đánh gục người vốn trước đây giống mình, mà giờ đây đã thành công không giống mình nữa xuống đất...

Những người cùng thế hệ của tôi ơi, anh chị em của tôi, tôi mong trong số bạn, tôi, anh ấy, cô ấy, loại người thứ nhất ít đi, ít đi nữa. Tôi mong trong số bạn, tôi, anh ấy, cô ấy, loại người thứ hai ít đi, ít đi nữa!

Đối với người phạm tội quá thất, với những kẻ lưu manh, côn đồ, giết người, cưỡng hiếp, tội phạm gây hại cho xã hội bằng hành vi khủng bố, tôi luôn giữ thái độ đối xử khác biệt. Còn đối với người phạm tội kinh tế, tham ô, hối lộ, tống tiền, lừa gạt tiền bạc dân thường, trong đó tôi đặc biệt ghét những kẻ lừa gạt tiền bạc dân thường.

Mà tôi thường nghĩ, đoạn để lại cho tôi kia, liệu có phải bị tôi tình cảm hóa quá nồng đậm rồi không? Có lẽ chỉ là những mảnh vụn tình bạn như chó mèo nhỏ mà ai cũng từng trải qua, bị tôi - một tiểu thuyết gia này lý tưởng hóa quá mức, thi vị hóa quá mức. Tuy nhiên tôi lại không nỡ nhẹ nhàng bình luận về đoạn để lại cho tôi này. Bởi vì tôi luôn cảm thấy mình phải bảo tồn cho bản thân một vài thứ dù là bị chính mình lý tưởng hóa, thi vị hóa. Thực tế đã không còn khả năng cung cấp cho tôi những thứ này nữa. Tôi chỉ có thể tìm thấy từ quá khứ, và vô cùng coi trọng nó. Tôi tìm cách không lấy nhân nghĩa đối xử với nó. Tuy nhiên tôi lại rất rõ ràng, nhân nghĩa này tuyệt đối không được kéo dài vào giai đoạn thứ ba. Nếu không, chính bản thân tôi cũng sẽ đi ngược lại. Vậy thì cái gọi là nhân nghĩa cũng nên đứng trên hàng ghế bị cáo mà đồng thời đi ngược lại với chính nó...

Bồn cầu nhà hắn là loại mấy chục ngàn tệ. Loại có chương trình điều khiển điện tử. Có chức năng sấy khô. Tôi không nghĩ thông tại sao người ta nhất định cần bồn cầu đắt đỏ như vậy. Cũng không nghĩ thông nhà sản xuất có gì cần thiết phải sản xuất loại bồn cầu phức tạp như vậy. Người Trung Quốc hiện nay, mặc dù bắt đầu coi trọng sự phân biệt giàu nghèo sang hèn, nhưng bài tiết dù sao đối với ai cũng chỉ là bài tiết, dù cầu kỳ đến mấy cũng không tới mức là nghi thức. Dù có thực sự cầu kỳ đến mức gần như nghi thức, phiền phức chẳng phải là chính mình sao? ...

Vâng, tôi cho rằng, đến lượt thế hệ chúng tôi phạm sai lầm - không, là đến lượt thế hệ chúng tôi liên tiếp phạm tội rồi.

Một loại tội nào đó, muốn phạm, trước tiên phải có điều kiện phạm và tư cách phạm. Không phải ai muốn phạm là có thể phạm. Ví dụ như tham ô, hối lộ, lợi dụng quyền lực mưu cầu lợi ích cá nhân, giao dịch quyền tiền các loại.

Hôm nay, trong khi đông đảo thế hệ của tôi phải đối mặt với thử thách nhân sinh nghiêm trọng là "xuống dốc" và thất nghiệp lần hai, thời đại cũng vì nhu cầu mà đẩy một số rất ít trong chúng tôi lên vị trí quan chức.

Tôi trả lời anh ta - lời của anh ta khác xa với tình hình thực tế. Tôi nói trước hết anh ta nên hiểu, không phải thế hệ thanh niên tri thức bắt đầu chen chân vào tầng lớp quyền lực của Trung Quốc, mà là người trung niên của Trung Quốc bắt đầu như thế. Và đây thường là quy luật của thời đại. Xưa nay, trung lão kế tiếp, lịch sử luôn như vậy. Toàn thế giới luôn như vậy. Quét nhìn cục diện xã hội nước ngoài, độ tuổi trung bình của tầng lớp quyền lực, đại khái còn nhỏ hơn Trung Quốc mười tuổi. Thời đại tiến nhanh, sự vật đổi mới, tầng lớp quyền lực của toàn thế giới, chính là xu hướng ngày càng trẻ hóa. Nếu anh ta có hoài bão trên con đường quan lộ, ngày dài tháng rộng, hoàn toàn không cần vì tình hình trước mắt mà buồn phiền. Thứ hai, do chính anh ta cũng ở trong tầng lớp quyền lực, cả ngày nhìn thấy toàn là quan lớn quan nhỏ. Ngửa đầu nhìn lên, trùng trùng điệp điệp, nên mới nảy sinh ra sự lo âu đường cùng không lối thoát. Nhưng, chỉ cần hơn mười năm nữa, những người khiến anh ta cảm thấy áp bức trực tiếp nhất, cũng chính là những cấp trên trực tiếp trong "thế hệ tri thanh" mà anh ta nói, sẽ cả thế hệ cúi mình rút lui, tất cả theo một trang lịch sử lật qua, để trống một khoảng lớn. Khi đó anh ta mới chỉ hơn bốn mươi tuổi, như rồng như hổ, thỏa sức thể hiện, chứng minh đầy đủ tài năng và năng lực của mình là được. So đo công khai hay ngấm ngầm với những cấp trên xuất thân tri thanh của anh ta, đó là rất không có chí khí, cũng rất không có tiền đồ. Họ chẳng qua chỉ là một nhóm người quá độ mà thời đại tạm thời lựa chọn. Ưu điểm của họ là trải nghiệm cuộc sống, nhược điểm của họ là cấu trúc tri thức. Họ từ trải nghiệm cuộc sống đúc kết ra kinh nghiệm nhân sinh, đây là thứ có được nhờ hậu thiên. Mà sự lạc hậu phổ biến của cấu trúc tri thức, lại là khiếm khuyết nghiêm trọng từ tiên thiên. Kinh nghiệm nhân sinh ai cũng có thể đúc kết từ cuộc đời mình. Lợi ích của việc có loại kinh nghiệm này là, thiện chí thực thi quyền lực một cách tương đối tự nhiên, cũng thiện chí phục tùng quyền lực một cách tương đối khéo léo. Cấu trúc tri thức lại chỉ có thể xây dựng từ tri thức, nó khó có được hơn kinh nghiệm nhân sinh.

Xin anh từ nay về sau đừng bao giờ đứng trước mặt tôi mà động chút là các anh "thế hệ tri thanh" này thế này thế kia. Thế hệ này nhìn chung hiện nay vẫn là những người đáng được đối xử bằng sự cảm thông nhất ở Trung Quốc.

Trong gần chục triệu người "xuống dốc" thất nghiệp ở Trung Quốc, họ chiếm sáu bảy phần mười. Đây mới là một sự thật không thể chối cãi. Một nhóm trưởng khoa, trưởng phòng, một vài cán bộ cấp phó cục, cấp cục, trong "thế hệ tri thanh" thực ra ít đến mức không có đại diện gì để nói...

Giao dịch quyền tiền giống như thủ dâm, khó nhất là bắt đầu từ một mà dừng lại ở một.

Giai đoạn quá độ từ vô trật tự đến có trật tự của thời đại thương mại, chính là "thời kỳ phát tình" hưng phấn nhất của hai chữ lợi ích. Giống như độ tuổi hoa niên mười sáu mười bảy là thời kỳ bồng bột thanh xuân mà con người tất phải trải qua. Giai đoạn này, tiền bạc tỏa ra mùi hormone đầy lả lơi hơn. Mỗi mục pháp luật cưỡng chế đưa thương mại vào quy phạm được ban hành, đều dự báo việc muốn lách lỗ hổng của thời đại càng khó khăn hơn, mục đích tham lam tiền bạc của con người càng không dễ thực hiện hơn. Chịu sự kích thích của dự báo loại này, mối quan hệ lợi ích giữa muôn hình vạn trạng con người, càng triển khai thường xuyên hơn, thiết lập càng thuần túy hơn, trao đổi càng cấp bách hơn và càng trần trụi hơn.

Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng cầm quyền. Các cán bộ các cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, kiểm soát chặt chẽ quốc gia gần 1,3 tỷ dân này. Trong đảng cầm quyền nếu xuất hiện một cán bộ xấu, chúng ta có thể gọi là "cái gậy", gọi là "lại ác". Nếu xuất hiện một nhóm, chúng ta có thể gọi là "bang", gọi là "thế lực quan liêu" hoặc "thế lực hủ bại". Dù cấu thành thế lực, cũng vẫn có thể coi là "một nhúm nhỏ".

Tuy nhiên, "một nhúm nhỏ" này nếu thông đồng làm bậy, cậy thế bắt nạt người khác, vì liên minh giữ lợi ích, thân thiết như cá mè một lứa, và từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên kiểm soát một phương chính quyền. Ví dụ như của một thôn, một xã, một huyện, một thành phố, một khu vực, thì, bản chất chính quyền một phương thực ra đã diễn biến rồi. Hoặc xảy ra nguy hiểm của sự diễn biến triệt để. Các "công bộc" một khi muốn làm gì thì làm, bộ mặt cũng chẳng khác gì "Hoàng Thế Nhân" năm nào. Các "chủ nhân" nếu không chịu thuần phục, kết cục cũng đều gần giống như "Dương Bạch Lao" thôi!

Thời kỳ "Cách mạng văn hóa", Mao Trạch Đông gọi bốn "cái gậy đảng" do Giang Thanh đứng đầu là "Tứ nhân bang", hơn nữa chỉ rõ thêm "các người làm 'Tứ nhân bang' là không được lòng dân đâu!"

Hiện nay, Trung Quốc có rất nhiều "quan bang", "lại bang", ít thì vài người, nhiều thì hơn chục người, đông nữa thì vài chục, hàng trăm người. Có người đã bị vạch trần, chịu sự trừng trị của pháp luật, có người vẫn chưa bị vạch trần, vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Chỉ cần phân tích một chút liền có thể hiểu, sự hình thành của những "bang" quyền lực kiểu này hay kiểu khác đó, suy cho cùng đều là do mối quan hệ lợi ích quyết định. Vì vậy tôi cho rằng, chống tham nhũng, trước hết phải bắt đầu từ việc cán bộ cao cấp làm gương. Quan lớn lại lớn, ít nhất phải nhắc nhở bản thân mọi lúc, tuyệt đối đừng vì tiền bạc, mà dễ dàng lên con tàu giặc của bọn tham quan ô lại. Con tàu giặc đó lên được mà xuống không được. Bởi vì một khi đã lên rồi, thì chỉ có thể đồng cam cộng khổ với bọn tham quan ô lại. Cái đuôi của họ một khi bị túm được, thì cũng giống như túm được cái đuôi của bạn vậy. Bạn không nói giúp, không che chở, không giải cứu, thì là không được...

Lòng dân có thể lừa, lòng dân không thể nhục. Họ nhìn vào trong mắt, trong lòng tự có một cán cân.

Trải nghiệm nghèo khó chỉ khi có ý nghĩa "giáo hóa" đối với con người ở trên, nó mới được coi là một "tài sản". Nếu không, nghèo khó chỉ có thể là tội ác. Và hầu như chỉ có thể nảy sinh tội ác.

Câu nói "Chính trị là nỗi đau phi thường" này, lại như một con cá quái dị nằm dưới đáy nước, do bãi bùn chết của ký ức bị khuấy động dữ dội, há cái miệng đáng sợ, phun ra từng chuỗi bọt nước đục ngầu, rợn người nổi lên mặt nước.

Tôi lại từ câu nói "Chính trị là nỗi đau phi thường" này, liên tưởng đến Lưu Thiếu Kỳ. Đường đường là chủ tịch nước, cuối cùng lại bị trói vào một chiếc ghế dài trong một nhà giam bí ẩn mà sống tạm bợ suốt nhiều ngày. Đến cả quyền tối thiểu là được chết với cái tên thật của mình cũng bị tước đoạt...

Đương nhiên, còn liên tưởng đến Bành Đức Hoài, Hạ Long, La Thụy Khanh từng bị đánh gãy một chân, cùng vô số kết cục đáng buồn của các nhân vật lãnh đạo cao cấp Đảng Cộng sản Trung Quốc...

Liên tưởng đến cuộc đại thanh trừng chính trị thời "Stalin" của Liên Xô cũ. Liên tưởng đến hai vị tổng thống bị ám sát trong lịch sử Hoa Kỳ - Lincoln và Kennedy.

Thật sự, trong dòng sông cuồn cuộn của sự tiến hóa lịch sử nhân loại, hai chữ "chính trị" thường đi kèm với mùi máu tanh. Theo tôi thấy, sự gây hại tiêu cực của nó đối với nhân loại, là lớn hơn hai chữ "chiến tranh". Bởi vì suy cho cùng, chiến tranh cũng là một loại thủ đoạn đặc biệt của "chính trị".

Chỉ có điều, không biết tại sao, trong một giai đoạn, Trung Quốc nói về việc "cho phép một bộ phận người giàu lên trước" quá nhiều quá lâu rồi, nói về nguyên tắc cuối cùng của "cải cách mở cửa" quá ít quá không đủ.

Nói về phương pháp nhiều rồi, nói về mục đích ít đi, phương pháp liền dễ tạo cho người ta một loại ảo giác, dường như đã thực tế trở thành bản thân mục đích. Mục đích thực sự, cũng khó mà được lòng người tin tưởng sâu sắc. Khi người ta bắt đầu nghi ngờ mục đích, sức thuyết phục của phương pháp cũng theo đó mà mất đi.

Tôi cho rằng, cái gọi là "người hậu Marx", thực ra là một loại tư tưởng gia hiện thực hơn về tư tưởng, khắc phục khuynh hướng "không tưởng", nhưng vẫn ôm ấp theo đuổi lý tưởng đối với sự tiến bộ của xã hội, không thỏa mãn với hiện trạng, đặc biệt là không thỏa hiệp với các hiện tượng bất công bất hợp lý trong thực tế.

Một quốc gia trong quá trình phát triển xã hội của mình, hoàn toàn áp dụng thái độ phó mặc là không nên, vẫn nên ít nhiều rót thêm một số thành phần mục tiêu lý tưởng thì tốt hơn. Mà thành phần mục tiêu lý tưởng đó, suy cho cùng, lại hầu như có thể khái quát thành một điều - xuất phát từ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân.

Một người viết tiểu thuyết như tôi, giữa một số quan chức chính phủ, nếu bàn về tình bạn, thì tình bạn đó cũng càng là sự tiếp nối của một loại tình cảm đặc biệt nào đó từ trước. Có thể tiếp nối đến tận bây giờ, đã quá mang tính ngoại lệ rồi. Nền tảng của loại tình bạn này trong thực tế, thực ra là tương đối mỏng manh, do đó càng cần phải trân trọng.

Em gái à, để sống tốt một cuộc sống của dân thường, hãy mãi mãi vực dậy tinh thần! Cuộc sống của dân thường là cuộc sống ngay trước mắt, giơ tay là chạm tới được. Chính loại cuộc sống này mới thuộc về chúng ta.

Sự phát triển của một thời đại, thể hiện ở một thành phố, thường là rõ ràng. Trong năm sáu năm, có thêm mấy khu lầu, mấy cây cầu vượt, mấy tòa nhà chọc trời, mọi người đều sẽ thừa nhận, đã phát triển, đã thay đổi. Nhưng thể hiện ở phương diện cuộc sống thực tế của dân thường, thì thường lại không rõ ràng như vậy. Nếu không so sánh với tình trạng cuộc sống mười hai mươi năm trước hay của đời cha chú, thì không dễ gì được chính mình thừa nhận.

Đối với khó khăn càng phải giữ sự lạc quan. Quan trọng là, định vị tiêu chuẩn theo đuổi cuộc sống của chúng ta ở tầng lớp rộng lớn dân thường, dù trước mắt đối mặt với cảnh thất nghiệp khốn cùng, cũng phải lạc quan hơn tự tin hơn mà không ngừng phấn đấu để thực hiện cuộc sống tiểu khang của dân thường.

Tạp văn giống như một bộ trang phục mà văn nhân tự chọn và mặc vào - loại chỉ dành cho đấu sĩ bò tót, còn tản văn lại giống như bộ đồ mặc ở nhà không bao giờ lỗi mốt. Tôi cho rằng hôm nay đáng lẽ nên là một thời đại tạp văn hoạt động. Mà đạo lý rành rành ra đó, hôm nay lại hoàn toàn không thể là một thời đại tạp văn hoạt động. Tóm lại một câu, tạp văn trước hết là "ý kiến" mà người viết nó dùng để phát biểu về các hiện tượng xã hội. Trong các thể loại văn, tạp văn giống "văn bản ý kiến" công khai nhất. Hơn nữa thường là loại "văn bản ý kiến" sắc bén, thậm chí khắc nghiệt. Dù hài hước, thì sự hài hước đó cũng thường thuộc loại đen tối, lạnh lẽo, cay độc. Cho nên giữa "đáng lẽ nên" và "hoàn toàn không thể", nguyên nhân là tự nhiên rõ ràng. Tôi phát hiện tạp văn trên nhiều tờ báo ngày càng ít. Tạp văn rõ ràng ngày càng không làm người ta thích. Trước hết là không được lòng những người giám sát báo chí với đôi mắt như có móc câu, tự nhiên cũng không được lòng những người biên tập báo chí thích. Hoặc họ chỉ có thể âm thầm thích trong lòng, về nguyên tắc thì lại phải kính nhi viễn chi.

Tác giả tạp văn, do những gì quan sát thường là hiện tượng xấu xa của xã hội, do thường coi tạp văn là "bạt thủ" và "đầu thương", nên lại thường trở thành người gọi là phẫn thế tật tục. Những người như vậy, hiện nay ngày càng "không hợp thời". "Không hợp thời" thì cô độc. Cô độc mà vẫn phải giữ thái độ của một "đấu sĩ", thì không tránh khỏi thường nảy sinh nhiều bi khái. Mà bi khái lâu ngày, là tổn thương trí tuệ. Mỗi khi bị chế giễu là "Don Quixote" đương đại, nỗi bi khái đó lại càng nặng nề, sẽ ăn mòn thẳng vào trong linh hồn.

Trong lịch sử đương đại Trung Quốc, địa vị vĩ nhân của Mao Trạch Đông mãi mãi không thể lay chuyển. Tiếp sau Tôn Trung Sơn, không ai có thể sánh bằng. Nói rộng ra, trong lịch sử văn minh hơn năm ngàn năm của Trung Quốc, cái tên Mao Trạch Đông này, làm cho đế vương tướng lĩnh cùng các nhân vật chính trị kiệt xuất qua các thời đại đều lu mờ. Quyền uy nhiếp chính của ông vượt qua tất cả đế vương Trung Quốc; mưu lược quân sự của ông xứng đáng là một bộ "Binh pháp Tôn Tử" khác của Trung Quốc; tư tưởng của ông trong hôm nay hai mươi năm sau khi ông qua đời, vẫn đối với một bộ phận không nhỏ người Trung Quốc, đặc biệt là trí não của người Trung Quốc trên bốn mươi lăm tuổi, gây ra ảnh hưởng tiên nhập vi chủ, đồng thời lại là sự phụ thuộc khó bỏ.

Vĩ nhân đã mất, theo thời gian trôi qua, liền dần trở thành "nhân vật lịch sử". Tên của vĩ nhân một khi đã lịch sử hóa hoàn toàn, thì cũng không còn bất kỳ "quyền công dân" tối thiểu nào mà người sống hiện tại được hưởng như quyền chân dung, quyền riêng tư, quyền danh dự, thường bị coi là "thực đơn một món" của "tự do xuất bản".

"Trí não" của lịch sử ghi nhớ, vĩnh viễn là những vĩ nhân và người nổi tiếng có khuyết điểm, bao gồm cả những vết nhơ và điểm xấu, mà gạt bỏ hoàn toàn tên của những người bình thường "hoàn hảo".

Đối với lịch sử mà nói, "khuyết điểm" lớn nhất của con người chính là sự bình thường.

Đối với người bình thường mà nói, "khuyết điểm" lớn nhất của những bậc vĩ nhân và người nổi tiếng chính là sự không "hoàn mỹ".

Thế nhưng trong từ điển chuyên dụng của lịch sử, chưa bao giờ thu nạp mục từ "hoàn mỹ".

Là một người cùng thế hệ với nước Cộng hòa, tôi khao khát biết bao việc Trung Quốc có thể xuất bản một cuốn sách về Mao Trạch Đông, với giá trị nhận thức đạt tới độ chuẩn xác như cuốn sách viết về vấn đề "Chiến tranh Việt Nam" mà MacArthur đã viết vào những năm cuối đời!

Tôi cho rằng hy vọng của tôi cũng đại diện cho suy nghĩ của nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là nhiều trí thức Trung Quốc.

Đồng thời tôi cũng hiểu rằng, trong vòng năm sáu năm tới, hy vọng chỉ có thể là hy vọng.

Một người Trung Quốc, nếu có thể suy ngẫm cho thông suốt dù chỉ một chút về "hiện tượng Mao Trạch Đông", thì đối với những sự vụ ở Trung Quốc, có lẽ cũng sẽ nhìn nhận rõ ràng hơn được đôi phần.

Giờ đây chúng ta biết rằng, chính bản thân Marx cũng không tự quảng bá mình là cái gọi là người theo chủ nghĩa Marx. Nói rõ ràng hơn, bản thân Marx không phải là người tích cực khởi xướng và cổ súy cho "cách mạng bạo lực". Trái lại, ông là một nhà xã hội học không hề mong muốn nhìn thấy "cách mạng bạo lực" thực sự xảy ra.

Mao Trạch Đông là một trong những tín đồ trung thành nhất của phần tư tưởng "cách mạng" trong học thuyết Marx. Ông cũng là một trong những người thực hiện kiên định nhất.

Hiện nay, một số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc cảm thấy kinh ngạc khi cho rằng—chủ nghĩa Marx dường như đã sai ở những quan điểm cơ bản nhất. Bởi vì chủ nghĩa tư bản không những không chết đi, mà ngược lại còn phồn vinh thịnh vượng chưa từng có.

Thực ra chủ nghĩa Marx lại không hề sai ở điểm này. Bởi vì tiền đề cho sự tiên đoán của Marx là—nếu chủ nghĩa tư bản không tìm được phương thức hữu hiệu để làm dịu đi mâu thuẫn giai cấp, thì nó sẽ có khả năng bị chôn vùi bởi những cuộc "cách mạng bạo lực" đang nổi lên khắp nơi của giai cấp vô sản.

Chủ nghĩa tư bản đã tìm ra phương thức hữu hiệu đó—dân chủ cộng với nền kinh tế phát triển tốc độ cao.

Điều sai lầm chính là một số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đấu tranh giai cấp có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với lịch sử.

Nhưng đấu tranh giai cấp cũng gây ra sự phá hoại và hủy diệt to lớn đối với lịch sử. Nếu không, chúng ta sẽ không thể giải thích được—tại sao chính trong những thời đại lịch sử không xảy ra đấu tranh giai cấp kịch liệt, lực lượng sản xuất và văn minh nhân loại lại có thể tiến những bước dài như vậy? Mao Trạch Đông đã mang theo "hứng thú" của "tinh thần cách mạng" để nghiên cứu lịch sử Trung Quốc. Cả cuộc đời ông, việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc chưa bao giờ thoát khỏi loại "hứng thú" đó. Càng không bao giờ vượt qua được loại "hứng thú" đó. Càng về những năm cuối đời, loại "hứng thú" đó càng thể hiện rõ rệt, càng bảo thủ cố chấp trên người ông.

Một sự thật không thể tranh cãi là—Mao Trạch Đông là người có tài hùng biện nhất và cũng có khả năng tư duy mạnh mẽ nhất trong số các đồng chí cách mạng của ông.

Có một hiện tượng vô cùng thú vị, đó là, hầu như lãnh tụ đời thứ nhất, đời thứ hai của các nước xã hội chủ nghĩa, phần lớn đồng thời cũng là những "nhà lý luận cách mạng". Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông là không cần phải bàn cãi, Tito cũng vậy.

Mao Trạch Đông là người duy nhất kể từ lịch sử cận đại Trung Quốc hội tụ cả hai yếu tố lãnh tụ cộng nhà lý luận cách mạng. Hơn nữa, khi ông còn sống, ông là người hội tụ một cách khăng khít, chặt chẽ nhất.

Việc ban hành một chính sách kinh tế hoặc sắc lệnh sản xuất ở nước ngoài, mỗi lần đều lấy hàng triệu chữ điều tra nghiên cứu làm căn cứ, mỗi lần đều trải qua hàng chục lần luận chứng. Phương thức "cách mạng", đặc biệt là phương thức cách mạng nông dân Trung Quốc, về cơ bản không nên được phép dùng để thao túng các sự vụ lớn liên quan đến quốc kế dân sinh. Mà khi chúng ta nhìn lại "Cải cách mở cửa", trong đó những hiện tượng kiểu "cách mạng" nông dân, làm việc ồn ào náo động, nhiều không kể xiết.

Thời đại của Mao Trạch Đông, ngoài tư tưởng triết học cách mạng "một hoa độc phóng" của chính ông ra, Trung Quốc không còn bất kỳ loại triết học nào khác. Tất nhiên cũng không còn bất kỳ sự tranh luận triết học nào trên bất cứ phương diện nào. Những học giả, giáo sư làm nghề triết học, hoặc trở thành những người "nhàn rỗi vô dụng", hoặc trở thành đối tượng lâu dài của việc "cải tạo tư tưởng". Trong trường đại học, chỉ giảng triết học chủ nghĩa Marx. Giống như khoa văn học chỉ cho phép giảng một lý thuyết văn học—nguyên tắc "tam đột xuất" trong sáng tác "kịch mẫu".

Chúng ta chỉ cần đọc lại một cách nghiêm túc những luận thuật và bài phát biểu của Mao Trạch Đông về dân chủ, sẽ tự nhiên rút ra được kết luận này—dân chủ trong tư tưởng của Mao Trạch Đông, dường như chủ yếu là một tác phong làm việc tốt, một kinh nghiệm quý báu để đoàn kết đại đa số nhân dân, một truyền thống bảo đảm và khuyến khích đại đa số nhân dân phát biểu đầy đủ ý kiến.

Trong tất cả các luận thuật và bài phát biểu về dân chủ của Mao Trạch Đông, ông luôn nhấn mạnh, dân chủ là tương đối so với tập trung. Giữa dân chủ và tập trung, điều mà tư tưởng Mao Trạch Đông cuối cùng bảo vệ chính là tập trung.

Tập trung là sự thể hiện đầy đủ chức năng của quyền uy.

Còn sứ mệnh đặc biệt của dân chủ, chính là sự hạn chế hợp pháp đối với quyền uy cá nhân.

Quyền uy cá nhân không chịu sự hạn chế hợp pháp, gần như không thể không biến chất thành "quyền uy tuyệt đối".

"Quyền uy tuyệt đối" tức là quyền uy đế vương. Hoặc xấp xỉ bằng quyền uy đế vương.

Nó hoàn toàn đi ngược lại với nguyên tắc "cộng hòa".

Theo bài viết hồi ức của con gái Chu Đức là Chu Mẫn ghi lại—sau khi Chu Đức với tư cách là Tổng tư lệnh toàn quân được phong quân hàm "Nguyên soái đầu tiên" trong "thập đại nguyên soái" một cách danh chính ngôn thuận, khi trở về nhà tỏ ra đặc biệt vui vẻ, hưng phấn và xúc động.

Là Mao Trạch Đông đích thân trao quân hàm cho ông.

Lại theo các bài viết hồi ức liên quan giới thiệu—Mao Trạch Đông trong suốt quá trình trao quân hàm, trên mặt không hề lộ ra một nụ cười thân thiết nhân hậu như thường thấy. Biểu cảm tỏ ra nghiêm nghị đến mức khác thường. Sau khi Mao Trạch Đông trở về nơi ở, đã từng một mình chìm đắm trong suy tư rất lâu...

Mao Trạch Đông lúc đó trong đầu đang nghĩ gì? Ngoài bản thân Mao Trạch Đông ra, không một ai có thể nói cho chúng ta biết điều này.

Trong hội nghị Lư Sơn lần đó, uy tín của Mao Trạch Đông, người đã giành thắng lợi trọn vẹn, rốt cuộc là được nâng cao hay là bị hạ thấp? Câu trả lời là khẳng định—đã bị hạ thấp.

Bởi vì quyền uy và uy tín là không giống nhau.

Quyền uy là sức mạnh răn đe.

Uy tín là mị lực tổng hợp. Bao gồm cả quyền uy, nhưng nội dung phong phú hơn quyền uy rất nhiều.

Trong uy tín của một người nếu chỉ còn lại quyền uy đang nổi bật rõ rệt, thì người đó cũng chẳng còn mị lực gì nữa.

Mao Trạch Đông vào năm 1959, tại Lư Sơn đã thể hiện tiềm năng quyền uy mạnh mẽ của mình, nhưng lại phải trả giá bằng việc làm tổn hại đến uy tín của chính mình.

Mao Trạch Đông khi đó đã sáu mươi sáu tuổi chưa chắc đã muốn nghĩ như vậy. Sai lầm không thể tha thứ nhất của ông thực ra không phải là "phản hữu" và "Đại nhảy vọt", mà là ở độ tuổi sáu mươi sáu, ông vẫn cứ tin tưởng một cách khó tin vào quyền uy cá nhân mà ông từng sở hữu, đã trải qua vô số lần kiểm chứng, khiến ông trở thành "Đại cứu tinh" được xướng ca khắp Trung Quốc.

Mỗi khi suy ngẫm về Mao Trạch Đông, lại nghĩ đến năm bộ tác phẩm tư tưởng huy hoàng của ông. Trong thế kỷ sau này, khó có khả năng sản sinh ra một chính trị gia như Mao Trạch Đông nữa. Bởi vì, một hiện tượng đã không thể tranh cãi, chính trị gia và nhà lý luận tư tưởng ngày càng trở thành hai loại người có tác dụng xã hội không giống nhau. Trong các tác phẩm của Mao Trạch Đông, vẫn có một phần không nhỏ chứa đựng kinh nghiệm trị quốc của các chính trị gia đương đại. Ngày nay, dù chỉ xuất phát từ "thưởng thức văn chương", các tác phẩm của Mao Trạch Đông vẫn có tính đọc rất lớn...

Mao Trạch Đông đích thực có sự vĩ đại.

Công tâm mà nói, Mỹ đã từng ủng hộ cuộc chiến tranh kháng Nhật của Trung Quốc. Hơn nữa, sự ủng hộ này vào lúc đó đối với Trung Quốc là vô cùng quan trọng.

Công tâm mà nói, viện trợ vũ khí của Mỹ (không chỉ giới hạn ở vũ khí, mà còn có các chuyên gia quân sự và đội chiến đấu không quân), tất nhiên không thể trực tiếp gửi đến tay "Hồng quân". Một là quốc hội Mỹ lúc đó sẽ không thông qua cách làm như vậy. Cách làm như vậy vi phạm thông lệ viện trợ quân sự quốc tế.

Nó chỉ có thể thực hiện theo phương thức quốc gia đối với quốc gia.

Còn việc Tưởng Giới Thạch dùng những vũ khí đó để tiễu trừ "Hồng quân", hoàn toàn là tội lỗi của Tưởng Giới Thạch, không phải tội lỗi của Mỹ.

Công tâm mà nói, nước Mỹ dưới thời Tổng thống Roosevelt cầm quyền lúc bấy giờ, không hề có động cơ tạo ra nội chiến Trung Quốc. Khoản viện trợ quân sự mà ông phê duyệt, mục đích nằm ở việc ủng hộ cuộc chiến tranh kháng Nhật của Trung Quốc.

Công tâm mà nói, Mao Trạch Đông lúc đó với tư cách là lãnh tụ của "Hồng quân", đối với những điểm trên đều có nhận thức đúng đắn. Nhận thức này, bao gồm cả việc thấu hiểu về nước Mỹ.

Rõ ràng, Mao Trạch Đông không phải vì mình là lãnh tụ của "Đảng Cộng sản", muốn xây dựng một Trung Quốc mới "xã hội chủ nghĩa", mà nhất định phải chống Mỹ, kiên quyết phải chống Mỹ.

Rõ ràng, Mao Trạch Đông sẵn lòng đối thoại với Mỹ, sẵn lòng để Đảng Cộng sản Trung Quốc do mình lãnh đạo duy trì quan hệ quốc tế bình thường, thậm chí là tốt đẹp với Mỹ.

Rõ ràng, Mao Trạch Đông cho rằng giữa mình với những vị Tổng thống Mỹ như Roosevelt, hoặc nói ngược lại, cho rằng những vị Tổng thống Mỹ như Roosevelt với mình, tuyệt đối không đến mức trở thành kẻ thù chính trị quốc tế không đội trời chung.

Rõ ràng, việc Mao Trạch Đông bắt đầu chống Mỹ và về sau chống Mỹ đến cùng, là do Mỹ từng bước ép sát, bức bách.

Chống Mỹ không phải lỗi của Mao Trạch Đông.

Là lỗi của chính nước Mỹ.

Nếu không phải vì chính phủ Mỹ năm đó một mực cố chấp, không đội trời chung với chính sách đối với Trung Quốc, sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, Mao Trạch Đông có lẽ sẽ bất chấp sự can thiệp và phản đối của Liên Xô, chủ động duy trì tiếp xúc ngoại giao với Mỹ.

Chính chính phủ Mỹ năm đó đã khiến cho mọi kỳ vọng mà Mao Trạch Đông dành cho nó trong đầu hoàn toàn tan biến và dập tắt.

Chính chính phủ Mỹ đã từng bước ép buộc Mao Trạch Đông trở thành chính trị gia chống Mỹ kiên quyết nhất sau năm 1949.

"Kháng Mỹ viện Triều" không những là "thấy việc nghĩa hăng hái làm", mà còn là tình cảnh môi hở răng lạnh bị dồn vào đường cùng.

Người Trung Quốc ngày nay, hoàn toàn không cần phải suy nghĩ lại về điều này.

Điều đáng để suy ngẫm sâu sắc, vẫn cứ là nước Mỹ.

Khi người Trung Quốc ngồi trong rạp chiếu phim, nhìn thấy cảnh Khrushchev và Nixon ôm nhau trên phim tài liệu thời sự, tâm lý vô cùng phức tạp.

Hầu như tất cả người Trung Quốc đều từng nghĩ như vậy—đất nước chúng ta trên thế giới này thật cô độc và không có sự giúp đỡ làm sao! Thế là Mao Trạch Đông đưa ra khẩu hiệu "Phản đế tất phản tu".

Việc "phản đế" bị ép buộc, đã khiến Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc buộc phải đối mặt với kẻ thù hùng mạnh như Mỹ để bày ra tư thế "một mất một còn", sau khi bổ sung thêm sứ mệnh quốc tế "phản tu", Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc đơn giản là lâm vào tình thế tả hữu thọ địch, lưng tựa vào sông quyết chiến.

Một số quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh tất nhiên là sẵn lòng đoàn kết nhất trí với nhân dân Trung Quốc để đánh đổ "đế quốc Mỹ và tay sai của chúng", nhưng họ trước hết đưa hai tay ra đòi hỏi Trung Quốc viện trợ.

Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc, buộc phải trong thời đại vật chất vô cùng khan hiếm, thắt lưng buộc bụng, sống cuộc sống tiết kiệm đến cực điểm, để thực hiện nghĩa vụ viện trợ.

Lúc này Mao Trạch Đông, trong lòng chưa chắc đã không có chút cảm giác địch ta chênh lệch, thế cô sức yếu.

Nhưng ông với tư cách là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và toàn thể nhân dân Trung Quốc, lại phải thể hiện khí phách anh hùng không sợ hãi trước toàn thế giới.

Ông là người duy nhất ở Trung Quốc buộc phải như vậy.

Ông là người duy nhất ở Trung Quốc không có lý do, không có quyền được dao động niềm tin.

Bởi vì ông đã đang đóng vai người cha tinh thần của Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc rồi.

Bởi vì ông đã được không ít quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh và nhân dân của họ tôn sùng là "chiến sĩ chống Mỹ" vĩ đại có lập trường kiên định nhất thế giới.

Người Trung Quốc ngày nay có thể chỉ trích Mao Trạch Đông từ nhiều phương diện, nhưng lại nên chân thành cảm ơn ông vì điểm ông đã gánh vác áp lực mang tính thế giới cho Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc mà kiên định không khuất phục năm xưa.

Trung Quốc có câu—"Người mở chuông cũng phải là người buộc chuông".

Chiếc chuông hung hiểm của quan hệ Trung-Mỹ, là do Mỹ buộc vào. Truman, Eisenhower, Kennedy khiến chiếc chuông đó rung lên hung hiểm không ngừng; Nixon đã tháo gỡ nút thắt của sợi dây buộc "chiếc chuông" đó. Chữ "Tùng" trong tên của ông, dường như mang ý nghĩa là chữ cát tường trong quan hệ Trung-Mỹ.

Ông là vị Tổng thống Mỹ đầu tiên chủ động đến gõ cửa Trung Quốc. Dù ông bị đánh giá là một vị Tổng thống như thế nào, tác dụng của ông đối với việc làm dịu quan hệ Trung-Mỹ là vô cùng to lớn.

Sự phê bình của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với lý luận "đấu tranh giai cấp không được buông lỏng dù chỉ một khắc" trong tư tưởng Mao Trạch Đông là đúng.

Sự phê bình của họ đối với loại lý luận cực kỳ cứng rắn như thể một vạn năm không thay đổi của Mao Trạch Đông trong quan hệ Trung-Mỹ cũng là đúng.

Nhưng sự phê bình này dường như nên đồng thời nhắm vào nước Mỹ mới công bằng. Bởi vì trong quan hệ Trung-Mỹ, vào năm đó, trước hết là Mỹ từ chối "chung sống hòa bình" với Trung Quốc.

Trong số người Trung Quốc, đặc biệt là trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, hiện nay vẫn tồn tại một quan điểm—đó là cho rằng sự tan rã của Liên Xô, hoàn toàn là do năm xưa bắt đầu trượt quá xa trên con đường "chủ nghĩa xét lại". Đây là một quan điểm cực kỳ sai lầm. Bởi vì trước hết, việc chỉ trích Liên Xô năm xưa là "chủ nghĩa xét lại", đã được chứng minh là sự đơn giản hóa và dung tục hóa về tư tưởng lý luận; thứ hai, sự tan rã của Liên Xô là chuyện ba mươi năm sau, nguyên nhân trực tiếp không phải là "dân chủ hóa cực đoan", mà là một cuộc chính biến dùng vũ lực bắt giữ Tổng thống; không phải là kết quả của mâu thuẫn giai cấp bị kích động, mà là kết quả của việc mâu thuẫn dân tộc tranh thủ tập hợp lực lượng trong trạng thái vô chính phủ sau chính biến. Cuộc chính biến đó lại chính do những người tự cho mình là "Bolshevik" nhất thực hiện.

Vào thời thanh niên của Mao Trạch Đông, tất cả các trí thức nhỏ bước ra từ nông thôn, nếu tư tưởng "nguy thế cứu quốc" trong đầu họ thực sự rất mạnh mẽ, thì trong đầu nhất định đồng thời cũng dựng lên những tấm gương văn nhân lớn. Bởi vì hầu như tất cả các lý luận "nguy thế cứu quốc" của Trung Quốc, đều đúc kết từ tư tưởng của văn nhân.

Văn nhân qua các triều đại Trung Quốc, từ xưa đến thời thanh niên Mao Trạch Đông, đều có hai loại "ngạo" và "ưu". Các văn nhân loại "ngạo", luôn được các văn nhân trẻ và trí thức trẻ Trung Quốc tôn sùng. Bởi vì thực sự lo âu tất phải dốc lòng ra. Đa số họ thực ra không làm được. "Ngạo" thì không tốn chút sức lực nào, đối với thời đại, đối với xã hội, đối với người khác, vừa có thể làm mũi thương về tư thế, cũng có thể làm lá chắn về tâm lý. Hơn nữa, có thể hình dung được, có thể tạo tác được.

Mặc dù bản thân Mao Trạch Đông tán thưởng văn nhân kiểu Lý Bạch, hay nói rộng ra là trí thức, nhưng sau khi Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ vĩ đại của người Trung Quốc, những văn nhân lớn nhỏ, trí thức lớn nhỏ kiểu Lý Bạch, khí phách ngạo nghễ trong xương, liền hầu như không còn quyền sinh tồn. Bởi vì trong thời đại của Mao, "cốt cách ngạo nghễ" hầu như đồng nghĩa với "xương phản nghịch".

Ở Trung Quốc, do khuyết điểm bẩm sinh của thể chế chính trị năm xưa, lãnh tụ cho dù không phải là Mao Trạch Đông, mà là bất kỳ người nào khác, cũng chắc chắn sẽ trải qua nỗi bất hạnh tương tự.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.