Đạo đức học Nicomachean

Lượt đọc: 833 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Giờ đây, nếu Hạnh phúc là sự vận hành phù hợp với Đức hạnh, thì hiển nhiên Đức hạnh đó phải là mức độ cao nhất, tức là Đức hạnh của Nguyên lý ưu việt nhất. Do đó, dù Nguyên lý ưu việt này là Trí tuệ hay một năng lực nào khác vốn dĩ được coi là có bản chất cai quản, dẫn dắt và nhận thức về những điều cao cả, thiêng liêng — dẫu tự bản chất nó vốn thiêng liêng hay là phần thiêng liêng nhất trong số các nguyên lý nội tại của chúng ta — thì sự vận hành của nó tương ứng với Đức hạnh đích thực của chính nó sẽ tạo nên Hạnh phúc toàn vẹn.

Rằng hạnh phúc ấy mang tính Chiêm nghiệm đã được khẳng định trước đó; và điều này dường như hoàn toàn phù hợp với những gì chúng ta đã bàn luận từ trước cũng như với chân lý. Bởi vì, trước hết, sự vận hành này thuộc bậc cao nhất, vì Trí tuệ là nguyên lý cao cả nhất trong chúng ta và những đối tượng mà nó hướng đến cũng là những điều cao cả nhất trong phạm vi hiểu biết của con người.

Kế tiếp, đây cũng là hoạt động Bền bỉ nhất: chúng ta có khả năng chiêm nghiệm liên tục dễ dàng hơn bất kỳ việc nào khác.

Hơn nữa, chúng ta cho rằng Khoải lạc phải cách này hay cách khác là một phần cấu thành của Hạnh phúc; và trong tất cả các hoạt động phù hợp với Đức hạnh, hoạt động gắn với Khoa học được công nhận là mang lại nhiều khoải lạc nhất. Ít nhất, việc theo đuổi Khoa học được cho là chứa đựng những niềm khoải lạc đáng ngạc nhiên về độ tinh khiết và tính bền vững; và thật hợp lý khi cho rằng việc trải nghiệm này sẽ mang lại nhiều niềm vui hơn cho những ai đã làm chủ được nó so với những ai vẫn đang trên đường tìm kiếm.

Và tính Tự túc mà người ta thường ca tụng sẽ gắn liền trước hết với Hoạt động Chiêm nghiệm. Tất nhiên, những nhu cầu thiết yếu của đời sống là thứ mà cả nhà khoa học, người công chính, lẫn mọi kiểu người khác đều cần đến như nhau; nhưng giả sử tất cả đều đã được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu ấy, thì người công chính vẫn cần có những người đồng loại để hướng đến và cùng họ thực thi sự công chính của mình. Tương tự như vậy, người đã đạt đến sự tự chủ hoàn hảo, người dũng cảm, và những người khác cũng cần đến tha nhân; trong khi đó, nhà khoa học có thể chiêm nghiệm và suy tư ngay cả khi ở một mình hoàn toàn, và càng xứng đáng với danh hiệu ấy bao nhiêu, họ lại càng có khả năng làm điều đó bấy nhiêu. Có lẽ họ sẽ làm tốt hơn nếu có những người cộng sự, nhưng dù sao đi nữa, họ chắc chắn vẫn là người Tự túc nhất.

Hơn nữa, chỉ có hoạt động này dường như là được trân trọng vì chính bản thân nó, bởi chẳng có gì vụ lợi phát sinh từ đó ngoài việc bản thân quá trình chiêm nghiệm đã hoàn tất; trong khi từ mọi hành vi đạo đức, chúng ta đều mong mỏi đạt được một điều gì đó bên ngoài việc thực hiện hành vi ấy, dù ít hay nhiều.

Thêm vào đó, người ta cho rằng Hạnh phúc nằm trong sự nghỉ ngơi trọn vẹn; bởi vì chúng ta lao nhọc để có được sự nghỉ ngơi, và chiến đấu để được sống trong hòa bình. Thế nhưng, tất cả các Đức hạnh Thực tiễn đều đòi hỏi phải có cộng đồng xã hội hoặc chiến tranh để vận hành, và những hành động liên quan đến các lĩnh vực này dường như loại trừ sự nghỉ ngơi. Hoạt động chiến tranh loại trừ điều đó một cách triệt để, bởi chẳng ai lại chọn chiến tranh, hay chuẩn bị cho chiến tranh, chỉ vì bản thân chiến tranh cả; người ta sẽ bị coi là một kẻ khát máu tàn độc nếu biến bạn bè thành kẻ thù cốt để có những trận chiến và cảnh đổ máu. Hoạt động của một chính trị gia cũng loại trừ ý niệm về sự nghỉ ngơi, bởi bên cạnh công việc điều hành chính sự thực tế, họ còn mưu cầu quyền lực, địa vị, hay ít nhất là hạnh phúc cho chính bản thân và những người đồng bào — một thứ hạnh phúc khác biệt với hạnh phúc quốc gia, thứ mà chúng ta rõ ràng tìm kiếm như một điều gì đó tách biệt và khác loại.

Do đó, nếu trong số mọi hành động phù hợp với các đức hạnh khác nhau, những hành động về chính trị và chiến tranh là nổi trội hơn cả về vinh quang lẫn sự vĩ đại, nhưng chúng lại không có sự nghỉ ngơi, luôn hướng đến một Mục đích xa xôi nào đó và không đáng được chọn vì chính bản thân chúng; trong khi hoạt động của Trí tuệ, vốn phù hợp với việc chiêm nghiệm, lại nổi bật ở sự nghiêm túc, không hướng đến bất kỳ Mục đích nào ngoài chính nó, đồng thời sở hữu niềm Khoải lạc riêng giúp bồi đắp cho chính hoạt động ấy; và nếu các đặc tính như tính Tự túc, khả năng nghỉ ngơi, sự bền bỉ không mệt mỏi (trong giới hạn mà sự yếu đuối của bản tính con người cho phép), cùng mọi thuộc tính khác của Hạnh phúc tối cao đều hiển nhiên thuộc về hoạt động này — thì đây chính là Hạnh phúc trọn vẹn, với điều kiện nó đạt được một khoảng thời gian sống trọn vẹn, một yếu tố được bổ sung bởi lẽ không có khía cạnh nào của Hạnh phúc được phép khiếm khuyết.

Nhưng một cuộc đời như vậy sẽ vượt lên trên bản tính thuần túy của con người, bởi vì con người sẽ sống như thế, không phải ở tư cách một con người, mà bởi vì bên trong anh ta có tồn tại một Nguyên lý thiêng liêng. Và chừng nào Nguyên lý này vượt trội hơn bản tính phức hợp của con người, thì chừng đó hoạt động của nó cũng vượt trội hơn hoạt động tương ứng với bất kỳ loại Đức hạnh nào khác. Do đó, nếu Trí tuệ thuần khiết mang tính thiêng liêng khi so sánh với bản tính con người, thì đời sống gắn liền với Trí tuệ ấy cũng sẽ mang tính thiêng liêng khi đặt lên bàn cân với cuộc sống bình thường của nhân loại.

Tuy nhiên, chúng ta không được phép lắng nghe những ai khuyên rằng, vì là con người, ta chỉ nên bận tâm đến những chuyện của con người, hay vì là kẻ phải chết, ta chỉ nên nghĩ đến những thứ thuộc về cõi trần gian; trái lại, trong giới hạn có thể, hãy vươn lên tầm vóc của những bậc bất tử và làm mọi cách để sống phù hợp với Nguyên lý cao cả nhất ngự trị bên trong chúng ta. Dù nó có vẻ nhỏ bé về mặt thể xác, nhưng về quyền năng và giá trị, nó vượt xa tất cả những phần còn lại.

Thực chất, Nguyên lý này dường như cấu thành nên “Bản ngã” của mỗi con người, bởi nó chiếm vị trí tối cao và vượt trội hơn mọi thứ khác về sự tốt lành. Do đó, sẽ thật ngớ ngẩn nếu một người không chọn sống cuộc đời của chính mình mà lại đi chọn cuộc đời của kẻ khác.

Và tại đây, một nhận định đã nêu từ trước sẽ phát huy tác dụng: bất cứ điều gì thuộc về bản chất của ai thì cũng là thứ tự nhiên tốt nhất và mang lại nhiều niềm vui nhất cho kẻ đó. Đối với Con người, cuộc đời phù hợp với Trí tuệ thuần khiết chính là như vậy (vì Nguyên lý này mới thực sự là Con người đích thực), và nếu đúng là thế, thì đó cũng là cuộc đời hạnh phúc nhất.

Xếp ở vị trí thứ hai về mức độ Hạnh phúc sẽ là Cuộc đời phù hợp với loại Đức hạnh còn lại, bởi các hoạt động gắn liền với đức hạnh này vốn thuộc về con người. Ý tôi là, chúng ta thực hiện các hành động công chính, dũng cảm và các đức hạnh khác đối với nhau trong các giao dịch, trong các hình thức giúp đỡ khác nhau, và trong mọi loại hành động cũng như cảm xúc bằng cách tuân theo những gì phù hợp với phép ứng xử của từng trường hợp; và tất cả những điều này rõ ràng đều rất gần gũi với con người. Hơn nữa, Đức hạnh thuộc về tính cách đạo đức dường như bắt nguồn từ một số khía cạnh của hoàn cảnh thể xác, và trong nhiều trường hợp, gắn bó mật thiết với các xúc cảm.

Mặt khác, Sự khôn ngoan thực tiễn và Đức hạnh của tính cách đạo đức có mối liên kết vô cùng chặt chẽ; bởi vì các nguyên lý của Sự khôn ngoan thực tiễn đồng điệu với các Đức hạnh đạo đức, và các Đức hạnh này chỉ thực sự đúng đắn khi chúng hòa hợp với Sự khôn ngoan thực tiễn.

Hơn nữa, vì gắn liền với các xúc cảm, những đức hạnh này ắt phải thuộc về bản tính phức hợp của con người, và các Đức hạnh của bản tính phức hợp ấy chính là những gì thuộc về con người; do đó, đời sống và Hạnh phúc tương ứng với chúng cũng sẽ mang tính chất ấy. Nhưng Hạnh phúc của Trí tuệ Thuần khiết thì tách biệt và độc lập; và hãy để điều này làm điểm kết cho chủ đề ấy, bởi việc đi sâu vào chi tiết tường tận vượt quá mục đích của chúng ta.

Hơn nữa, đời sống trí tuệ ấy dường như chỉ cần đến sự hỗ trợ của những ân huệ bên ngoài ở mức độ tối thiểu, hoặc chắc chắn là ít hơn so với Hạnh phúc Đạo đức. Bởi vì, xét về các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, chúng ta có thể giả định rằng cả hai mẫu người đều cần đến chúng như nhau (mặc dù trên thực tế, người sống giữa cộng đồng xã hội thường chăm chút nhiều hơn cho bề ngoài và những thứ tương tự, tạo ra một chút khác biệt nhỏ); nhưng khi chúng ta xét đến các hoạt động của họ, một khoảng cách lớn sẽ lộ diện.

Ý tôi là, người rộng rãi phải có tiền tài để thực hiện những hành động phóng khoáng của mình, người công chính cần có điều kiện để thực hiện các cam kết (vì những dự định suông vốn bấp bênh, và ngay cả những kẻ bất công cũng giả vờ là họ muốn sống công chính), người dũng cảm phải có quyền lực nếu muốn thi hành bất kỳ hành động nào thuộc về Đức hạnh đặc thù của mình, và người đạt đến sự tự chủ hoàn hảo phải có cơ hội đối mặt với sự cám dỗ, nếu không thì dựa vào đâu mà anh ta hay bất kỳ ai khác có thể phô bày bản chất thực sự của mình?

(Nhân tiện đây, một câu hỏi đôi khi được đặt ra: liệu sự lựa chọn đạo đức hay hành động mới là yếu tố quyết định phần lớn đến Đức hạnh, vì Đức hạnh được cấu thành từ cả hai yếu tố đó? Rõ ràng là sự hoàn mỹ của một hành động đức hạnh đòi hỏi cả hai; nhưng đối với hành động, rất nhiều điều kiện được đặt ra, và chúng càng lớn lao, càng nhiều bao nhiêu thì càng đòi hỏi lắm bấy nhiêu). Nhưng đối với con người dấn thân vào sự Nghiêm cứu Chiêm nghiệm, những thứ như vậy không những không cần thiết cho hoạt động của họ, mà nói đúng hơn, chúng còn là những vật cản trở — ít nhất là đối với việc Chiêm nghiệm. Tất nhiên, chừng nào còn là con người và sống giữa cộng đồng, anh ta vẫn chọn làm những gì Đức hạnh đòi hỏi, và do đó anh ta sẽ cần những điều kiện ấy để duy trì tư cách con người của mình, chứ không phải với tư cách một triết gia chuyên về chiêm nghiệm.

Và việc Hạnh phúc trọn vẹn phải là một dạng Hoạt động Chiêm nghiệm cũng có thể được minh họa qua suy ngẫm sau đây: quan niệm của chúng ta về các vị thần là họ là những đấng tối phúc và hạnh phúc hơn tất cả; vậy thì chúng ta phải gán cho họ những loại hành động đạo đức nào đây? Hành động công chính chăng? Không đâu, há họ lại chẳng trở thành những kẻ nực cười nếu bị miêu tả là đang lập hợp đồng, hoàn trả những món đồ được gửi gắm, và vân vân sao? Thế thì, phải chăng chúng ta sẽ hình dung họ thực hiện những hành động dũng cảm, chống lại nỗi sợ hãi và đối mặt với hiểm nguy vì làm thế là cao thượng? Hay là những hành động hào phóng? Nhưng họ sẽ ban phát cho ai? Hơn nữa, thật ngớ ngẩn khi nghĩ rằng họ có tiền bạc hay bất cứ thứ gì tương tự. Còn về các hành động tự chủ hoàn hảo, chúng có thể là gì đây? Chẳng phải đó sẽ là một lời ca ngợi hạ thấp họ khi cho rằng họ không có những ham muốn xấu xa hay sao? Tóm lại, nếu ai đó mổ xẻ vấn đề đến từng chi tiết, mọi hoàn cảnh liên quan đến các hành động đạo đức đều sẽ trở nên tầm thường và không xứng tầm với các vị thần.

Mặc dù vậy, ai nấy đều tin rằng họ đang sống, và do đó họ có Hoạt động, bởi người ta không thể cho rằng họ cứ ngủ vùi qua thời gian giống như Endymion. Giờ đây, nếu từ một sinh thể có sự sống mà bạn tước đi Hành động, và tệ hơn nữa là tước đi sự Sáng tạo, thì điều gì còn lại ngoài Chiêm nghiệm? Do đó, hoạt động của các vị thần, những đấng nổi trội về sự có phước, ắt phải là hoạt động thích hợp cho sự Suy tư Chiêm nghiệm; và trong tất cả các hoạt động của con người, cái nào gần gũi nhất với điều này sẽ có năng lực chứa đựng Hạnh phúc lớn nhất.

Một minh chứng cho lập luận này là thực tế rằng các loài động vật khác không hề có phần trong Hạnh phúc, vì chúng hoàn toàn bị loại trừ khỏi bất kỳ hoạt động nào như thế.

Do đó, đối với các vị thần, toàn bộ cuộc đời họ đều tràn đầy hồng phúc; đối với con người, hạnh phúc tồn tại chừng nào cuộc đời họ có được một phần bóng dáng của hoạt động ấy; còn trong số các loài động vật khác, không một loài nào hạnh phúc bởi chúng hoàn toàn không có chút chia sẻ nào trong sự Suy tư Chiêm nghiệm.

Như vậy, phạm vi của Hạnh phúc đồng hành với phạm vi của sự Suy tư Chiêm nghiệm này, và con người có được bản chất hạnh phúc đến mức nào là tùy thuộc vào việc họ có thực 3hành hoạt động chiêm nghiệm ấy đến mức độ đó — không phải theo kiểu ngẫu nhiên, mà theo phương thức Chiêm nghiệm, bởi tự bản chất hoạt động ấy vô cùng trân quý.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Aristotle

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.