Chính Ngọ Cố Sự 1 · Ngã Xuyên Tường Quá Khứ

Lượt đọc: 143 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Nhà thơ kể chuyện đi công tác

Kẻ nghiện rượu

Lời viết cho "Chính Ngọ"

Lời khuyên của tôi dành cho những người bạn trẻ muốn viết văn chính là: Rời khỏi nhà.

—— Paul Theroux

Con đường dẫn đến nghiệp viết

Tác giả: Hà Vĩ (Peter Hessler) — Dịch: Hoàng Hân Vũ

Một

Mùa xuân năm 1991, khi tôi đang học năm ba tại Đại học Princeton, tôi đã chọn một khóa học viết phi hư cấu do John McPhee giảng dạy. Hồi đó, tôi học ngành văn học Anh, mơ ước trở thành một tiểu thuyết gia, thế nên cũng từng tham gia vài lớp viết hư cấu. Trước đó, tôi chẳng có mấy hứng thú với phi hư cấu, và chưa từng đăng bất kỳ bài viết nào trên tạp chí của trường. Những điều tôi yêu thích trong việc viết lách — tính cách nhân vật, khiếu hài hước, việc tạo dựng bầu không khí cảnh tượng — dường như không có chỗ đứng trong phạm vi báo chí truyền thống. Nhưng John McPhee rất nổi tiếng, ông từng viết rất nhiều bài báo với các đề tài khác nhau trên tờ "The New Yorker", từ chủ nghĩa bảo vệ môi trường, thể thao cho đến địa chất địa lý, lĩnh vực nào ông cũng chạm đến. Hầu như năm nào ông cũng ra sách mới. Còn lớp học do ông mở tại Princeton lại có tiếng vang cực kỳ tốt và rất có sức ảnh hưởng đối với các nhà văn trẻ, thế nên tôi đã đăng ký.

Lớp học này giới hạn mười sáu người, mỗi tuần nộp một bài tập, McPhee sẽ trực tiếp sửa chữa. Trong suốt quãng đời học sinh sinh viên của mình, chưa bao giờ tôi nhận được những bài tập được sửa thế này. Ông dùng bút chì để phê chú, viết bằng tay trái, nét chữ rất dày; ông gạch bỏ những từ ngữ không phù hợp, khoanh tròn những đoạn cần tổ chức lại. Ông còn viết những lời nhận xét dài ở phần lề giấy. Ông không bao giờ cho điểm — khác với đại đa số các môn học ở Princeton, lớp của ông không hề có điểm số. Nhưng nếu bạn đã nhận được sự chú ý của McPhee, những điều đó không còn quan trọng nữa. Thường thì nộp một bản thảo dài một trang ba mươi tư dòng, một tuần sau phát về, có tới hai mươi dòng bị gạch chi chít lời phê. Có lần, tôi viết 350 chữ, trong đó có 80 chữ bị đánh dấu, phần lề trống còn xuất hiện thêm 90 chữ nhận xét khác.

Những lời nhận xét này cũng hoàn toàn khác biệt với những gì các giáo viên khác từng nói. "Từ thứ này thì không thể dệt nên gấm vóc đâu (You can’t make a silk purse out of this)." Bên cạnh một câu văn tệ đến mức hết thuốc chữa, McPhee đã viết như vậy. Lần khác, tôi dùng tính từ và mệnh đề phụ để chồng chất thành một đoạn văn, ông viết: "Nhổ hết mấy viên sỏi trong miệng ra rồi hãy nói chuyện." Trong một bài chân dung nhân vật, tôi dùng tên nhân vật chính bốn lần chỉ trong hai câu, McPhee viết: "Nghe kìa, tên của người này vang lên như tiếng móng ngựa vậy. Đổi đi, dùng đại từ nhiều vào." Thỉnh thoảng ông cực kỳ trực diện. Có bình luận là: "Loại nội dung này dài dòng đến phát bực." Bình luận khác thì rất đơn giản: "Sự thông minh vặt vãnh tồi tệ." Có lúc ông chỉ viết một từ in hoa ở phần lề, còn gạch chân bên dưới: "Newsweek."

Lần đầu tiên nhìn thấy từ này, tôi không chắc ý nghĩa của nó là gì. "Newsweek" là tốt, hay không tốt? Dù sao thì bố mẹ tôi cũng đặt mua tạp chí này. Thế nên trong buổi gặp mặt riêng giữa giáo viên và học sinh diễn ra hai tuần một lần, tôi đã hỏi ông: "Ý của 'Newsweek' là câu đó hay, hay là câu đó dở?" Ông đáp rất rõ ràng — không tốt, "'Newsweek'" không phải là biểu tượng của câu văn xuất sắc. Trong thế giới của McPhee, việc viết báo truyền thống là thứ nên tránh chứ không phải để bắt chước.

Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng được khen ngợi, ông sẽ viết những câu như "Đúng vậy", "À há", hoặc "Một điểm sáng" bên cạnh vài câu văn trong bài tập của tôi. Lần đầu tiên tôi nhận thức được rằng, việc một người viết văn hoàn toàn có thể vừa có ưu điểm vừa có khuyết điểm, mấu chốt nằm ở việc tìm ra điểm yếu của bản thân và thử cải thiện chúng. Tôi vẫn luôn có xu hướng lặp lại từ vựng và cụm từ, nhưng trước đó chưa từng có giáo viên nào để ý đến điểm này. Cuối một bài tập nọ, McPhee đã viết: "Anh phải chú ý đến việc viết đoạn văn của mình, loại bỏ những sự lặp lại không cần thiết, làm cho lời văn chặt chẽ hơn. Anh phải đọc kỹ tác phẩm của mình, kiểm tra những sự lặp lại nằm rải rác ở các trang. Anh hoàn toàn có đủ khả năng để tự mình làm điều đó."

Trong lớp học đó, lần đầu tiên tôi nhận thức được rằng, viết văn thực sự là một thủ nghệ. Chúng ta luôn quen coi việc viết lách xuất sắc là một loại thiên bẩm, đôi khi mọi người sẽ nói rằng viết văn là thứ không thể dạy được. Nhưng trên thực tế, mỗi một nhà văn xuất sắc đều từng rất tồi tệ, đều từng viết ra những câu chữ tầm thường đầy rẫy khuyết điểm và hạt sạn phiền toái. Cuối cùng họ đạt được thành công là vì họ đã tìm ra phương pháp giúp bản thân tiến bộ. Sau khi lớp học của McPhee kết thúc, những lời nói của ông vẫn luôn đồng hành cùng tôi: "Anh hoàn toàn có đủ khả năng để tự mình làm điều đó." Là một người cầm bút, tôi buộc phải dựa vào chính mình; tôi không thể mong chờ biên tập viên hay bất kỳ ai khác đến giúp mình cải thiện tác phẩm.

Đặc biệt phải kể đến là, những lời bình của McPhee đã thúc đẩy tôi đọc to tác phẩm của mình lên khi viết, bởi vì điều này giúp tôi tránh được sự lặp lại. Nó cũng giúp tôi lắng nghe được nhịp điệu của câu văn: Khi nghe thấy những con chữ do chính mình đang viết ra, tôi có được sự thấu hiểu rõ ràng hơn về việc một câu văn tương tác với câu tiếp theo như thế nào, một đoạn văn chịu ảnh hưởng bởi các phần trước và sau ra sao. Thói quen đọc to vẫn được duy trì cho đến tận bây giờ — khi viết lách, thỉnh thoảng tôi lại cất tiếng đọc thành tiếng, và tiến hành sửa đổi dựa trên cơ sở đó. (Chính vì thế, tôi chỉ có thể làm việc một mình trong căn phòng đóng chặt cửa. Tôi không thể viết ở quán cà phê hay những chốn đông người khác, nếu không sẽ làm phiền người khác.)

Quan trọng hơn nữa, lớp học của John McPhee đã dạy tôi cầm bút với thái độ và phương thức chuyên nghiệp — việc viết lách không còn là một bài tập học đường nữa, mà thực sự trở thành phương thức mưu sinh và niềm đam mê của tôi. Tôi còn lĩnh hội được rằng, từng mắt xích của việc viết phi hư cấu đều mê hoặc và thú vị y như viết tiểu thuyết. Khi lớp học của McPhee kết thúc, tôi vẫn cho rằng sau này mình sẽ trở thành một tiểu thuyết gia, nhưng một vài điểm hứng thú của tôi đã bắt đầu dịch chuyển. Năm cuối đại học, tôi bắt đầu viết một số bài phi hư cấu với tư cách là cây bút tự do, và tiếp tục duy trì điều đó đến tận bậc cao học, tiền nhuận bút kiếm được vừa đủ để chi trả cho các chuyến du lịch của tôi. Trước khi gia nhập Đoàn Hòa bình (Peace Corps) để đến Trung Quốc, tôi đã đăng bài trên tờ "The New York Times" cùng năm sáu tờ báo và tạp chí khác, tôi cũng vì thế mà nhận ra rằng, tương lai của mình có lẽ nằm ở mảng viết phi hư cấu. Kỳ thực, lần cuối cùng tôi viết tác phẩm hư cấu là vào học kỳ đầu tiên làm giáo viên ở Phù Lăng. Tôi viết một câu chuyện ngắn, và lấy bối cảnh ở quê nhà Missouri của mình, kỳ thực tôi cảm thấy đó là một tác phẩm đủ tử tế. Nhưng vừa viết xong, tôi liền nhận thức được rằng: Cớ sao mình đang ở Phù Lăng, lại đi bịa đặt những câu chuyện về Missouri chứ? Hiện thực của Trung Quốc thú vị và hấp dẫn hơn bất cứ thứ gì do tôi hư cấu ra nhiều. Kể từ lúc đó, con đường của tôi đã được định đoạt — tôi quyết định tập trung vào việc viết phi hư cấu.

Hai

Đưa ra lời khuyên cho những người cầm bút trẻ tuổi chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Con đường trưởng thành của các nhà văn muôn hình muôn vẻ, mọi người bước vào lĩnh vực này từ những hướng đi khác nhau; nó không giống như học y, bước vào trường y là một con đường phát triển sự nghiệp rõ ràng. Là một người Mỹ, việc đưa ra lời khuyên cho những người cầm bút trẻ tuổi ở Trung Quốc lại càng khó hơn. Điều tôi muốn nhấn mạnh là, những phương pháp hữu dụng với tôi chưa chắc đã hữu dụng với người khác, bất kỳ người cầm bút nào đang trong quá trình học hỏi cũng phải tìm ra con đường trưởng thành độc nhất của riêng mình. Khi tôi nhắc đến lớp văn của John McPhee, tôi dĩ nhiên hiểu rõ rằng đại đa số những người cầm bút có hoài bão đều không có cơ hội như vậy. Nhưng mấu chốt nằm ở chỗ, rất nhiều người có thể tìm được người thay thế. Nếu ở đại học, bạn có cơ hội học tập cùng một giáo viên dạy viết xuất sắc, hoặc nếu bạn gặp được một biên tập viên tuyệt vời, hãy lắng nghe thật kỹ lời khuyên của họ, nắm bắt mọi cơ hội. Hãy trò chuyện nhiều hơn với những nhà văn mà bạn quen biết về tác phẩm của họ. Nếu bạn không thể tìm được một người thầy, vậy hãy học hỏi từ những bài báo hạng nhất mà bạn từng đọc. Đây cũng là một phần mấu chốt khác trong quá trình giáo dục viết lách của tôi — tôi thường xuyên mua các tập sách tổng hợp của những nhà văn mà mình ngưỡng mộ, nghiên cứu bài viết của họ, tìm hiểu xem những câu chuyện đó được cấu trúc như thế nào, họ nắm bắt giọng văn, âm điệu và nhịp điệu tường thuật ra sao. John McPhee có một vài tuyển tập rất xuất sắc ("The John McPhee Reader" có lẽ là cuốn hữu ích nhất trong số đó), các tập tùy bút của Joan Didion cũng rất tuyệt ("Slouching Toward Bethlehem", "The White Album"). Tôi còn gợi ý các tập sách của Truman Capote, Joseph Mitchell và Susan Orlean.

Mặc dù mỗi người cầm bút đều phải tìm ra con đường của riêng mình, nhưng cũng có một số kinh nghiệm có thể phổ dụng. Đầu tiên, thời kỳ trưởng thành của nhà văn thường rất dài. Khi còn trẻ, rất khó để bạn nhận thức được điều này, nhưng đối với những người cầm bút, đây có lẽ là điều quan trọng nhất phải khắc ghi. Lĩnh vực này đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ. Luôn có những người thành công nhanh chóng, mới hai mươi mấy tuổi đã là những nhà văn vô cùng chín chắn: John Updike, Truman Capote, Ernest Hemingway, F. Scott Fitzgerald. Nhưng những ví dụ như vậy rất ít. Tình huống phổ biến hơn là, một nhà văn phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài, có rất nhiều nhà văn xuất sắc, thoạt đầu thậm chí còn trải qua vô số lần thất bại và phủ định. Nói chung, một nhà văn phải đến tầm ba bốn mươi tuổi thậm chí là lớn tuổi hơn, mới viết ra được những tác phẩm thực sự có giá trị. John McPhee vì muốn viết bài cho "The New Yorker" mà đã nỗ lực suốt ròng rã mười năm trời, nhưng liên tục bị từ chối, mãi cho đến năm ông 31 tuổi. Trước năm 34 tuổi, ông chưa từng xuất bản cuốn sách nào. Ông từng nói với tôi rằng, đây không phải do biên tập viên hay nhà xuất bản nhìn nhận sai lầm, mà là vì lúc đó thực sự ông vẫn chưa đủ giỏi. "Đừng dùng chiếc kính viễn vọng đảo ngược để nhìn lại sự nghiệp của tôi." Ông từng bảo tôi như vậy. Đây là lỗi sai thường gặp — mọi người chỉ nhìn thấy sự thành công, chứ không nhìn thấy tất cả những trắc trở đã trải qua trên con đường này.

Thế nên, đối với những người cầm bút trẻ tuổi, sự kiên trì là điều không thể thiếu, anh ta còn phải có được khả năng chịu đựng cực kỳ mạnh mẽ. Anh ta không thể vì thất bại mà chịu đả kích quá lớn. Tôi đến Đại học Princeton học tập, một phần là vì nơi đây có các khóa học viết lách hàng đầu, nhưng khi tôi nộp đơn vào lớp vỡ lòng viết hư cấu, tôi đã liên tục bị từ chối suốt ba học kỳ. Đa số những người cầm bút có triển vọng đều được nhận ngay ở lần nộp đơn đầu tiên, hoặc có thể là lần thứ hai; một người coi trọng nghệ thuật viết lách mà bị từ chối liền ba lần thì quả là điều bất thường. Nền tảng trung học của tôi không quá mạnh, hơn nữa, tác phẩm của tôi quả thực chưa đủ xuất sắc. May mắn thay, hồi đó tôi rất kiên trì — tôi cứ nộp đơn mãi cho đến khi cuối cùng được nhận. Khoảng thời gian này có lẽ là một điều tốt đối với tôi, bởi vì khi tôi rời khỏi khuôn viên trường để gửi bài cho các loại báo chí định kỳ, phần lớn đều bị trả về, tôi vẫn duy trì được sự kiên nhẫn. Tôi chưa từng kỳ vọng con đường này sẽ dễ dàng đi qua, rằng tôi có thể đạt được thành công tương xứng và một ít tiền bạc.

Tuy nhiên, tôi quả thực kỳ vọng con đường viết lách có thể đưa mình rời xa quê nhà. Khi còn là một sinh viên đại học, tôi có cảm giác mãnh liệt rằng bản thân thiếu hụt tư liệu phong phú để phát triển thành một nhà văn. Ở một mức độ nào đó, điều này là vì tôi đến từ bang Missouri, nằm sâu trong vùng Trung Tây nước Mỹ, nơi chẳng mấy ai quan tâm, đương nhiên cũng vì lúc ấy tôi còn trẻ tuổi. Cuộc đời tôi vẫn chưa có gì thú vị. Thỉnh thoảng tôi sẽ thấy nản lòng; trải nghiệm của một số bạn học cùng lớp dường như thú vị và huyền thoại hơn tôi rất nhiều. Nhưng theo thời gian trôi qua, tôi dần nhận ra rằng đây kỳ thực là điều bản thân có thể nắm bắt. Tôi không thể thay đổi cách mà biên tập viên và độc giả cảm nhận tác phẩm của mình, tôi cũng không thể trở thành một nhà văn chín chắn chỉ sau một đêm, nhưng tôi có thể đi trải nghiệm cuộc đời đặc sắc. Tôi có thể đi du lịch, quen biết đủ mọi người; tôi có thể thay đổi nơi ở, việc mà mình đang làm. Đến cuối cùng, điều này đã mang lại cho tôi sự tự tin — tôi biết rằng bản thân sẵn sàng đặt mình vào những hoàn cảnh đầy thử thách, những nơi trông có vẻ xa lạ kỳ quặc, thậm chí là hơi đáng sợ, nhưng tôi lại chẳng hề lo lắng. Tôi cũng không sợ những trắc trở hay sự bất tiện. Kỳ thực môi trường lớn lên của tôi không hề giàu có, điều này rất có thể đã trở thành một lợi thế của tôi, bởi vì tôi không khao khát trở nên giàu có. Bố mẹ tôi cũng không phải kiểu người hiếu thắng, điều này ở một mức độ nào đó cũng giúp ích cho tôi, họ chưa từng gây áp lực cho tôi, không ép tôi bước lên con đường phát triển sự nghiệp truyền thống.

Paul Theroux, một nhà văn từng tham gia Đoàn Hòa bình, từng viết rằng: "Lời khuyên của tôi dành cho những người bạn trẻ muốn viết văn chính là: Rời khỏi nhà." Tôi cũng cảm thấy câu nói này rất đúng — rời khỏi nhà sẽ ép bạn phải trở nên nhạy bén hơn, những suy nghĩ, những quan niệm tư duy đã sớm hình thành của bạn đều sẽ đón nhận thử thách. Tất cả những điều này sẽ giúp bạn trở thành một nhà văn. Trong cuộc đời tôi, giai đoạn lột xác trưởng thành về mặt cảm xúc và trí tuệ không phải ở Đại học Princeton hay Đại học Oxford. Dĩ nhiên chúng đều là những trường đại học tuyệt vời, đặc biệt tôi còn may mắn gặp được giáo viên dạy viết xuất sắc như McPhee. Nhưng đó vẫn chưa phải là phần quan trọng nhất trong quá trình rèn luyện nhà văn của tôi. Nơi mang lại cho tôi nhiều thu hoạch nhất chính là Phù Lăng. Khi tôi lần đầu tiên ngồi thuyền từ Trùng Khánh đến Phù Lăng, tôi mới hai mươi bảy tuổi, tôi biết bản thân vẫn chưa phải là một người cầm bút chín chắn. Lúc đó tôi chưa có ý định viết những trải nghiệm ở Trung Quốc thành một cuốn sách, tôi biết mình vẫn chưa sẵn sàng. Nhưng những chuyện xảy ra trong hai năm sau đó đã thay đổi năng lực của tôi một cách đầy kịch tính. Giờ đây tôi vẫn nhớ rõ mồn một khoảnh khắc bắt đầu đặt bút miêu tả Phù Lăng, lúc ấy hành trình ở Đoàn Hòa bình của tôi sắp kết thúc. Giống như mọi khi, tôi vừa viết vừa đọc to lên, lắng nghe nhịp điệu của lời văn. Đột nhiên, tôi như nghe thấy giọng nói của một người khác. Âm điệu viết lách của tôi đã thay đổi hoàn toàn — cảm giác rất trầm sâu, lại càng thêm phần kiên định; những câu chữ trên trang giấy tựa như được thổi bô một sinh mệnh mới. Phần vì cuối cùng tôi đã có được tư liệu viết lách vô cùng tuyệt vời — những trải nghiệm của tôi ở Phù Lăng thật là đặc biệt và mê hoặc, tôi cũng vô cùng yêu mến những con người, vùng đất mà mình đang miêu tả. Nhưng nguyên nhân chủ yếu hơn là tôi đã trưởng thành. Là một người ngoại quốc, sống ở Phù Lăng vào giữa thập niên 1990 không hề dễ dàng, có rất nhiều khoảnh khắc khiến người ta cảm thấy vô cùng nản lòng hoặc xấu hổ. Nhưng may mắn thay, cũng có rất nhiều khoảnh khắc kích thích và vui vẻ. Đến cuối cùng, trải nghiệm này đã tác động mạnh mẽ đến mức hai năm sau, tôi đã biến thành một con người hoàn toàn khác.

Cho nên đây là lời khuyên cuối cùng của tôi dành cho các tác giả trẻ. Rời khỏi nhà. Rời khỏi gia đình của bạn, rời khỏi nếp sống quen thuộc hàng ngày của bạn, rời khỏi vòng tròn xã giao thoải mái của bạn. Dành thời gian ở bên những con người khác biệt với bạn. Học cách quan sát, suy ngẫm và miêu tả những người khác, chứ không chỉ viết về mỗi bản thân mình. Đừng sợ hãi thử thách. Thỉnh thoảng khả năng khiến người ta e sợ nhất lại mang đến cho bạn phần thưởng hậu hĩnh nhất. Khi tôi nhìn lại con đường làm nhà văn thuở đầu của mình, có hai quyết định vô cùng khó khăn. Đầu tiên là tham gia Đoàn Hòa bình, điều đó đồng nghĩa với việc tôi sẽ biến mất suốt hai năm ròng, hơn nữa mỗi tháng chỉ kiếm được 120 đô la. Quyết định khó khăn thứ hai là vào năm 1999, tôi kết thúc sự nghiệp ở Đoàn Hòa bình, quay trở lại Mỹ tìm kiếm công việc liên quan đến báo chí. Tôi đã nộp hồ sơ xin việc cho hơn chục tờ báo và tạp chí, nhưng đều bị từ chối sạch trơn. Thế nên tôi quyết định tự mình quay lại Bắc Kinh, thử xem bản thân có thể trở thành một cây bút tự do hay không. Lúc bấy giờ, quyết định này khá là đáng sợ, bởi vì tôi không quen bất kỳ phóng viên nào ở Trung Quốc, cũng không chắc rốt cuộc bản thân có thể duy trì sinh kế hay không. Nhưng kết quả chứng minh rằng, điều này tốt hơn gấp nhiều lần so với việc ở lại Mỹ nhận lấy một công việc, bởi vì nó đặt tôi vào một vị trí có thể nhanh chóng thu thập được những tư liệu sống động. Hơn nữa tôi còn có được sự tự do — tôi có thể tự mình quyết định chủ đề viết lách, còn có thể viết theo cách của mình, mà không phải nghe theo lời khuyên của một biên tập viên nào đó. Giống như những gì John McPhee từng nói với tôi: "Anh hoàn toàn có đủ khả năng để tự mình làm điều đó." Đây là một kinh nghiệm đối với bất kỳ người cầm bút nào, bất kể anh ta ở Mỹ hay Trung Quốc — một người cầm bút có thể nhận được sự trợ giúp từ nhiều phía như giáo viên, biên tập viên hoặc đồng nghiệp, nhưng những gì họ có thể làm là luôn có hạn. Cuối cùng, một nhà văn được tạo nên bởi nỗ lực của chính mình, cũng được tạo nên bởi những thất bại và phủ định trên suốt chặng đường. Thế nên, hãy đưa ra quyết định một cách thận trọng, và nhận thức được rằng bạn đang được kiểm soát bởi chính mình, bạn có khả năng thay đổi cuộc đời của chính mình. Suy cho cùng, bạn mới là kẻ viết nên câu chuyện của chính bạn.

Chân dung

Con đường duy nhất có thể hiểu được chính là tạo ra một thế giới của riêng mình.

—— Stevens

Punk khỏa thân

Tác giả: Diệp Tam

Một

Năm 1994, Ngô Duy mười chín tuổi. Năm này, hai người bạn của anh ta đã chết, một kẻ nhập băng đảng chết trên đường phố, kẻ còn lại chết trên lưng của anh ta.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.