Chính Ngọ Cố Sự 1 · Ngã Xuyên Tường Quá Khứ

Lượt đọc: 181 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Lúc đó tôi vừa mới đậu vào Nhân Nghệ chưa lâu. Trước đó khi thi vào Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, mặc dù đã được chọn ngay tại chỗ trong phòng thi, cuối cùng tôi vẫn bị đánh trượt, họ bảo “ngoại hình của tôi bình thường” — khóa đó chẳng phải những người ngoại hình làng nhàng như tôi cũng vào được đấy thôi? Cho nên, có thể bước vào ngôi điện ảnh nghệ thuật Nhân Nghệ này, tôi vô cùng trân trọng.

Những năm đó là lúc giao lưu văn hóa Trung Tây diễn ra cực kỳ sôi nổi. Đối với nghệ thuật phương Tây, Trung Quốc đang trong quá trình chuyển biến từ sự mơ hồ, lúng túng sang dần dần tìm hiểu. Phái Grotowski là một trường phái biểu diễn nằm ngoài Stanislavski và Brecht. Đạo diễn Lâm Triệu Hoa sang châu Âu, tại Học viện Nghệ thuật Cao cấp Tây Berlin đã quen biết Giáo sư Mersin – người giảng dạy trường phái Grotowski. Ông cảm thấy trường phái này rất thú vị nên đã đề xuất với nhà hát mời Mersin đến Nhân Nghệ để giảng dạy cho chúng tôi. Giáo sư Mersin đến Bắc Kinh, Nhân Nghệ chỉ lo chi phí đi lại, chỗ ở và bữa sáng, bữa trưa mỗi ngày, còn bữa tối bà vẫn phải tự bỏ tiền túi ra ăn. Một người đến từ quốc gia tư bản mà lúc bấy giờ chúng ta vẫn tưởng là ham tiền nhất, không quản vạn dặm đến đây mà không đòi hỏi bất kỳ thù lao nào, đó là một chuyện thực sự rất cảm động.

Thầy trò Nhân Nghệ đều vô cùng thân thiện với Giáo sư Mersin. Nhưng đối với trường phái Grotowski, trong số các giáo viên Nhân Nghệ lúc bấy giờ vẫn tồn tại một số tranh cãi. Trong quá trình huấn luyện, Giáo sư Mersin sử dụng rất nhiều kỹ thuật thể hình để kích thích tiềm năng của diễn viên, khóa học kéo dài ba, bốn tiếng bao gồm các kỹ thuật vận động như lăn lộn, nhảy nhọt, rất vất vả, một số học sinh cũng tỏ ra kháng cự. Ngô Cương lớp chúng tôi (người đóng vai Lục Kiều Sơn trong phim "Tiềm Phục"), đã nói với Giáo sư Mersin rằng mình bị nấm chân để trốn học. Người phiên dịch đã dịch nấm chân thành "chân có bệnh", Giáo sư Mersin nghe xong tưởng anh ta bị gãy xương, liền lập tức phê chuẩn cho nghỉ phép.

Tôi đi học luôn cực kỳ nghiêm túc, không tiếc sức, khả năng lĩnh hội cũng nhanh, Giáo sư Mersin thường xuyên khen ngợi tôi.

Mỗi ngày huấn luyện xong, Giáo sư Mersin sẽ khoanh chân ngồi ở góc phòng tập, gọi từng người chúng tôi lại để trò chuyện nhỏ nhẹ. Khi nói về khuyết điểm, người khác không nghe thấy, điều đó bảo vệ lòng tự trọng của bạn; khi khích lệ, bạn sẽ có cảm giác vui mừng ngấm ngầm kiểu "không biết cô có phải đặc biệt thích mình không"; đó chính là nghệ thuật làm thầy.

Có một hôm, Giáo sư Mersin nói với tôi ở góc phòng: "Nếu năm sau em sang Đức, thi vào lớp của cô, cô sẽ là người đầu tiên nhận em." Người phiên dịch tưởng mình nghe nhầm, bèn xin bà nhắc lại lần nữa. Bà lại nói thêm một lần nữa. "Em có muốn không?" bà hỏi tôi. Tôi trả lời: "Em không muốn."

Sau khi lớp đào tạo kết thúc, Giáo sư Mersin bảo người phiên dịch gọi tôi đến chỗ ở của bà, chính thức mời tôi năm sau sang trường của bà thi tuyển. Tôi lại từ chối bà một lần nữa, Nhân Nghệ là nhà hát tốt nhất Trung Quốc, tôi không muốn vừa mới vào đã rời đi.

Sau đó, Giáo sư Mersin trở về Đức. Tôi tiếp tục ở lại Nhân Nghệ.

Nửa cuối năm 1986, tôi được điều động từ lớp học viên về nhà hát để tập vở "Người Bắc Kinh", đóng vai Tăng Văn Thanh, coi như là vai chính rồi. Vào thời điểm đó, nhà hát lần thứ hai mời Giáo sư Mersin đến để giảng dạy cho chúng tôi. Bà lại một lần nữa trọng thị trò chuyện với tôi, hy vọng tôi sang Đức, và tôi lại một lần nữa từ chối bà. Chưa tốt nghiệp đã làm diễn viên chính, tương lai vô cùng tươi sáng, tại sao tôi phải sang Đức chứ? Khái niệm của tôi về Đức lúc đó chỉ là xe hơi Mercedes, máy ảnh Leica, cùng với Bức tường Berlin, nó chia cắt chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, bức tường ở phía bên chủ nghĩa tư bản còn bị vẽ bậy nham nhở, đáng sợ biết bao.

Mùa hè năm 1987, Giáo sư Mersin lần thứ ba đến Bắc Kinh, lần này nhà hát không mời bà, bà đến với danh nghĩa du lịch cá nhân. Bà mời tôi sang Đức lần thứ tư. Lúc đó tôi mới biết bà đã gửi cho tôi rất nhiều thư mời, chuyển đến Nhân Nghệ nhưng đều bị giữ lại. Tôi đã đi chơi cùng bà ở Bắc Kinh gần hai mươi ngày. Trước lúc chia tay, Mersin biết chắc là không còn hy vọng, bèn nói với tôi: "Nếu em thực sự không muốn sang Đức đi học, thì hãy sang ba tháng đi, để nhìn cho trọn vẹn việc giảng dạy của phái Grotowski". Lúc đó tôi đang yêu, bà còn mời cả tôi và bạn gái cùng đi, "Cô sẽ tổ chức đám cưới cho hai đứa ở Đức".

Một năm sau, tôi tốt nghiệp Nhân Nghệ. Cô bạn gái đang bàn chuyện cưới xin bỗng nhiên trở mặt hủy hôn, tôi chịu đả kích nặng nề, một lòng muốn rời khỏi Trung Quốc. Tôi viết thư cho Mersin, báo cho bà biết dự định sang Đức của mình, bà vô cùng vui mừng, lập tức gửi lại thư mời cho tôi — lần này gửi thẳng đến nhà tôi.

Tôi bắt đầu vừa liều mạng kiếm tiền vừa làm thủ tục. Tôi mua vé máy bay một chiều giá 8000 tệ, nhưng gần đến ngày mà visa vẫn chưa xuống, tôi đành phải trả lại vé. Khi visa xuống, tôi đi mua vé máy bay thì vé đã hết. Hồi đó các chuyến bay bay đi Đức một tuần mới có một chuyến. Người bán vé bảo tôi, tôi còn có thể đi tàu hỏa. Tàu hỏa từ Bắc Kinh đi Berlin mất 8 ngày. Tôi tính nhẩm, đi 8 ngày còn đến sớm hơn là đợi chuyến bay tiếp theo. Đó là thời kỳ biến động của Trung Quốc, đêm dài lắm mộng, tôi chỉ muốn đi thật nhanh. Mua thôi, khoang mềm hạng nhất mỗi người một phòng, 1490 tệ, tôi nhớ cực kỳ rõ ràng. Tôi mua vé khởi hành sau đó hai ngày.

Hơn một ngày tiếp theo đó, tôi điên cuồng vội vã tạm biệt tất cả mọi người. Bạn bè tụ tập chật nhà tôi, ai nấy đều cảm thấy, có lẽ đây là lần chia ly vĩnh viễn.

Hai

Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1989, tôi xuất phát từ ga Bắc Kinh cũ. Tàu hỏa sẽ đi qua Nhị Liên Hạo Thột để vào Mông Cổ, xuyên qua Liên Xô, và đến Tây Berlin vào rạng sáng ngày mùng 8. Đó là lần đầu tiên tôi xuất ngoại.

Rạng sáng ngày 7 tháng 11, đoàn tàu đến Moskva, dừng lại một ngày. Hôm đó đúng vào dịp Lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Đặt chân lên Quảng trường Đỏ, tôi phát hiện ra nó không lớn như tôi tưởng tượng. Trời rất lạnh, nhưng trên quảng trường vẫn rất nhiều người bày xô bán hoa tươi, các cặp đôi sẽ mua một nhành hoa để mừng lễ, còn có những đôi uyên ương mới cưới chụp ảnh kỷ niệm trước Đài tưởng niệm Liệt sĩ Vô danh. Rất nhiều bồ câu hòa bình bay lượn trên bầu trời Quảng trường Đỏ, tôi thầm nghĩ, nếu ở Trung Quốc, chắc chúng đã bị ăn thịt rồi.

Tối đến quay lại tàu hỏa, phát hiện vì đông khách, khoang hạng nhất đã biến thành phòng đôi. Người ở chung phòng với tôi là một phụ nữ Nga vạm vỡ, cao khoảng một mét bảy xấp xỉ, lại còn đi giày cao gót, khiến tôi trông giống như một đứa trẻ chưa trổ mã. Phát hiện ra phải ở chung phòng với một người đàn ông, người phụ nữ vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng nói với tôi, bà ấy là phu nhân tham tán tại đại sứ quán ở Tiệp Khắc.

Phu nhân tham tán đề nghị, bảo tôi đổi giường với nữ lưu học sinh Trung Quốc ở khoang thường, tôi suy nghĩ rồi đồng ý. Kết quả là cả ba nữ lưu học sinh đều đang bận tán tỉnh yêu đương trên tàu, không một ai chịu đổi cả. Thế thì không thể trách tôi được.

Phu nhân tham tán xị mặt ngồi trong khoang. "Đinh đong!" Phu nhân bấm chuông gọi người. Nhân viên phục vụ bước vào, nói bằng tiếng Nga, một cốc hồng trà có đế bạc được dâng lên cung kính. Tôi nằm giường trên chán chường không có việc gì làm, bóc kẹo mềm "Bất Lão Lâm" ra ăn, vừa ăn vừa ném vỏ kẹo xuống cái gạt tàn ở dưới, bèn phát hiện phu nhân tham tán cứ dán mắt vào tờ vỏ kẹo không rời.

Phu nhân nhặt tờ vỏ kẹo tôi vừa ném lên, cẩn thận miết phẳng, kẹp vào trong sổ tay.

Thế là, tôi bốc một nắm kẹo đặt lên bàn, nói với bà ấy: "For You." "For me?" Bà ấy lập tức hớ hở ra mặt, liên mồm nói "Thank you! Thank you!" vừa gom kẹo bỏ vào túi xách. Tôi nói: "Eat, eat!" Bà ấy lắc đầu, "For my husband", ý là để dành cho chồng mình. Khoảnh khắc đó, tôi thấy mình đỉnh quá — tôi lại bốc một nắm kẹo nữa, "For you!" Phu nhân ngây người — "Đinh đong!", nhân viên phục vụ bước vào, nói bằng tiếng Nga, hai cốc hồng trà có đế bạc được dâng lên cung kính.

Phu nhân chỉ vào cốc hồng trà, "For you!"

Tôi tiếp tục lục túi. Lục ra chiếc vòng khắc sơn mài chuẩn bị mang sang Đức làm quà, tìm chiếc to nhất, "For you!" Bà ấy đeo vào cổ tay, kích động đến phát khóc — "Đinh đong!" Đồ ăn nhẹ được dâng lên cung kính.

Tiếp theo đó, chính là tôi không ngừng lục túi, "For you!", bà ấy không ngừng "Đinh đong!". Bà ấy dùng tiếng Nga cộng tiếng Anh nói với tôi rất nhiều điều, hầu như tôi chẳng nghe hiểu câu nào. Tàu đến Đông Berlin, rất nhiều lưu học sinh lục đục xách đồ xuống tàu, tôi vừa định khiêng hành lý, bà ấy thốt lên một tiếng "Stop!" rồi lại "Đinh đong!", gọi nhân viên phục vụ đến, cùng nhau đè tôi lại. Chờ một lúc sau, đến Tây Berlin, bà ấy mới cho tôi xuống xe.

Thực ra Tây Berlin mới là nơi nên xuống xe. Rất nhiều lưu học sinh không biết, đến Đông Berlin là đã xuống rồi. Lúc bấy giờ biên giới Đông Tây Đức vẫn chưa mở cửa, họ phải qua một cửa kiểm tra nghiêm ngặt, hành lý bị lục soát, còn bị khám người, lại còn có cả vòi vĩnh hối lộ. Những thứ này tôi đều không gặp phải. Trên sân ga, phu nhân tham tán nhiệt tình ôm chầm lấy tôi, hai bầu ngực lớn ép chặt mặt tôi vào giữa, mùi hôi nách dán sát vào mặt tôi, giống như bị bịt kín lại, tôi vừa giãy ra là há hốc mồm thở hổn hển.

Tàu rời ga, phu nhân tham tán vẫn đang vẫy tay với tôi ở khung cửa sổ đang dần lùi xa.

Một giờ sáng giờ Tây Berlin, tôi cùng một số lưu học sinh Trung Quốc chờ trời sáng ở ga tàu hỏa Vườn thú Berlin. Ngày hôm sau, họ sắp sửa chuyển tàu để đi Bonn, Köln hoặc Hamburg, ở lại Berlin chỉ có một mình tôi. Một đám người bèo nước gặp nhau ba hoa nói rất nhiều chuyện, những người này, sau đó đều mất liên lạc.

Tôi vẫn nhớ bức tường đi xuyên qua trong đêm tối đó: trước khi qua tường, Đông Berlin tối đen như mực, sau khi qua tường, Tây Berlin sáng rực, đâu đâu cũng là đèn. Tôi nghĩ, chủ nghĩa tư bản sao mà sáng thế không biết, những ô cửa kính trưng bày kia sẽ tốn bao nhiêu là điện chứ? Thế mà, đẹp thật.

Mấy tiếng tiếp theo, tôi cùng một lưu học sinh khác đi mua thuốc lá, đi nhầm vào khu đèn đỏ tư bản đang sáng những bóng đèn màu rực rỡ. Tôi tưởng mình sẽ bị bảo vệ da đen đánh đuổi cho đến khi chỉ nhìn thấy mỗi hàm răng trắng, nhưng không có. Sáng hôm sau, tôi lại gặp một tài xế taxi tư bản đầy phấn khích, anh ta huyên thuyên nói tiếng Đức với tôi. Vào lúc 7 giờ sáng ngày 8 tháng 11 năm 1989, cuối cùng tôi cũng gõ cửa nhà Mersin.

Lúc Mersin ra mở cửa vẫn còn mặc áo ngủ, vừa nhìn thấy tôi là bà ngây người sửng sốt — bức thư tôi gửi từ Bắc Kinh cho bà còn chưa đến, mà người đã đến rồi. Ngồi bên bàn ăn nhà bà, lần đầu tiên tôi được ăn sữa lạnh ngâm ngũ cốc và bánh mỳ đen phết mứt trái cây, chúng cứa rát cổ họng tôi một cách thô ráp, nhưng tôi buộc phải nuốt hết vào bụng.

Cuối cùng tôi đã đến được xã hội tư bản.

Ba

Ngày đến Tây Berlin, Mersin mời tôi ăn tối tại một nhà hàng kiểu Ý. Ăn xong, Mersin lái xe chở tôi đi tiếp, tôi vẫn chưa biết nói tiếng Đức, không thể giao tiếp với cô ấy, đang thầm đoán chúng ta sắp đi đâu, thì tôi nhìn thấy Bức tường Berlin.

Ánh đèn không quá sáng, nhưng tôi có thể nhìn thấy những hình vẽ bậy đó — hình như cũng không đáng sợ đến thế.

Mersin dùng tay vẽ một vòng tròn, ra hiệu cho tôi, Tây Berlin nằm trong vòng tròn, xung quanh toàn là tường. Cô ấy dẫn tôi lên tháp canh, tôi nhìn thấy một khu vực cách ly rộng năm sáu trăm mét dưới chân tường, nó trống hoác, chỉ có lưới điện và trạm gác, Mersin lại ra hiệu cho tôi, nếu có ai chạy qua đó, lính canh sẽ nổ súng.

Đó là lần đầu tiên tôi chạm vào Bức tường Berlin, đó cũng là ngày cuối cùng nó còn giữ nguyên vẹn hình thái. Sáu giờ sáng hôm sau, tôi đang ngủ thì Mersin đập cửa gọi tôi dậy. Trên màn hình tivi, rất nhiều người cầm hoa tươi nước mắt đầm đìa — biên giới Đông Tây Đức đã mở cửa.

Toàn dân Tây Berlin được nghỉ phép, vô số người đổ xô ra đường, đâu đâu cũng là cờ hoa phấp phới. Xe cộ ùn tắc khắp nơi, Mersin và tôi đi tàu điện ngầm đến cổng Brandenburg, trèo lên bức tường cao 3 mét, rộng 2 mét ấy nhìn xuống. Người Tây Berlin ném bia, coca sang phía bên kia tường, chất thành núi nhỏ, cảnh sát và quân nhân vẫn chắp tay đứng đó, không hề nhúc nhích. Người trên tường quá đông, có người bị chen lấn rơi xuống phía bên kia, cảnh sát cẩn thận từng chút một đỡ họ trèo lại lên tường.

Tại cổng Brandenburg, tôi gặp những người Trung Quốc ở Đức, họ kể cho tôi nghe rốt cuộc chuyện này là thế nào, tôi vô cùng cảm động, muốn khóc.

Từ sau đó, tôi liên tục nghe thấy tiếng máy khoan tường. Người Đông Đức từ đó có thể tự do vào Tây Berlin, xếp hàng tại bất kỳ ngân hàng nào, chỉ cần có chứng minh thư là có thể lĩnh một khoản "tiền chào mừng", tôi nhớ là 20 mác Tây Đức. Người Tây Đức đương nhiên cũng có thể sang phía Đông. Hồi đó, tất cả những người Trung Quốc mời khách đều sang Đông Berlin. Vật giá Đông Berlin quá rẻ, 20 mác Tây Đức có thể mời mấy người ăn một bữa thịnh soạn, lại còn bo cho nhân viên một khoản tiền típ hậu hĩnh.

Sang Đông Berlin không phiền phức lắm, chỉ là thỉnh thoảng phải lục soát người, bởi vì giới chức Đông Berlin biết người Tây Berlin sang đó sẽ mang giấu ít "hàng tư" — giới chức ra lệnh mác Đông và mác Tây đổi ngang giá, nhưng ở chợ đen Đông Đức, 1 mác Tây đổi được 10 mác Đông, chênh lệch quá lớn, rất nhiều người lén lút mang tiền vào. Một người bạn Thượng Hải của tôi khi qua trạm kiểm soát đã cầm hộ chiếu Trung Quốc nói với cảnh sát Đông Berlin rằng "Brother, brother", ý là "Chúng ta đều là anh em trong trận doanh xã hội chủ nghĩa, đừng lục soát tôi nữa" — anh ta lập tức bị lôi vào căn phòng tối lật tung lên kiểm tra sạch sành sanh. Sau đó anh ta khôn ra, tìm một cái cây ở Đông Berlin, giấu tiền dưới gốc cây, mỗi lần nhập cảnh xong, "Ê, các cậu chờ tôi một chút nhé", lại lén lút chạy ra dưới gốc cây tìm tiền. Tôi cũng giấu một ít, cuộn tiền giấy nhét vào đường viền của quai balo, bóp mềm ra, lúc qua trạm kiểm tra sờ không thấy. Dạo đó, rất nhiều người Trung Quốc không đi làm thêm cũng chẳng mở quán ăn, chỉ dựa vào việc buôn đi bán lại mác Đông mác Tây mà phát tài.

Những ngày tháng như thế kéo dài gần một năm, cho đến ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Tây Đức thống nhất.

Bốn

Chuyện buôn bán tiền mác tôi không tham gia. Bốn tháng đầu đến Đức, tôi vẫn luôn lo lắng về vấn đề ngôn ngữ.

Tôi là học sinh do Mersin giới thiệu, theo quy định, có thể không cần qua kỳ thi chuyên môn, chỉ cần trong vòng bốn tháng vượt qua phần giao tiếp ngôn ngữ là có thể nhập học. Điều kiện này thực ra khá rộng rãi, nhưng yêu cầu bốn tháng đó phải nói được tiếng Đức thực sự khiến tôi lo cháy ruột cháy gan. Mersin bỏ tiền đăng ký cho tôi một trường dạy tiếng, tôi ngày nào cũng đến lớp, ngày nào cũng ngẫm nghĩ tại sao trên đời lại có kiểu phát âm thế này cơ chứ. Tôi biến thành một đứa trẻ biết suy nghĩ nhưng hoàn toàn không thể mở miệng, muốn nói một câu với Mersin, tôi phải cúi đầu học thuộc lòng trước mấy lần ở căn phòng trên lầu, xuống lầu nói xong với bà ấy, bà ấy vừa tiếp lời là tôi lại cứng họng ngay.

Mersin nổi giận. Người Đức rất thành khẩn, lúc mời bạn sang rất thành khẩn, mà lúc bày tỏ sự bực bội cũng rất thành khẩn. Mersin gọi điện cho một người bạn Trung Quốc, bảo anh ấy dùng tiếng Trung hỏi tôi tại sao vẫn chưa vượt qua ải ngôn ngữ. Người bạn này trước khi sang Đức đã học tiếng Đức bốn năm ở Trung Quốc, lúc mới sang vẫn không biết gọi lấy nổi một cốc bia. Tôi kể lể một hồi với anh ấy, anh ấy quay sang giải thích với Mersin: Tên này quả thực rất nghiêm túc học tiếng Đức, học đến mức ngủ không nổi, đau đầu khó hiểu, cậu ấy còn muốn về Trung Quốc kìa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.