Chính Ngọ Cố Sự 1 · Ngã Xuyên Tường Quá Khứ

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Còn cách chuyến đi mấy tháng, cha Ngô Ưu là Ngô Hoành Tùng đổ bệnh. Đây là cơn trọng bệnh thứ hai của cha trong những năm gần đây, lần trước là năm năm trước, khi Ngô Hoành Tùng đang tắm thì bị đột quỵ, liệt nửa người nằm trên giường. Ông nắm lấy chai nước khoáng, tay trái túm lấy cổ tay phải, xoay thành vòng tròn trước ngực, chờ đợi hồi phục trong quá trình tập luyện. Có một hôm khi đang bệnh, ông lấy từ trong người ra một tờ giấy, trên đó là bài thơ do chính tay trái ông viết: "Vụ cỏ cây đồng ruộng khốn đốn vì mưa, cúc dại bờ đông tự mình chải chuốt. Làm sao mượn được gió thu mạnh mẽ, gột rửa sạch sầu lo một sắc vàng."

Ngô Hoành Tùng xấu hổ nói với con trai rằng mình muốn in ra, gửi đến một tạp chí thơ ca. Bấy giờ nhà văn A Ất mới nhớ đến bức tranh từng vẽ trên tủ quần áo của cha, cùng với tờ "Tạp chí Thơ" bị chuột cắn hỏng từ nhiều năm trước trong nhà, cuối cùng anh cũng tin chắc rằng, cha mình cũng từng là một "thanh niên văn nghệ cường tráng".

Hồi tiểu học, Ngô Quốc Trụ từng gửi một bài trích đoạn dài vài trăm chữ cho tờ "Báo Tiểu Chủ Nhân" ở Thượng Hải, nhan đề là "Hán tự biết bao nhiêu". Đây là niềm vui đầu tiên mà việc viết lách mang lại cho anh. Lần thứ hai là tám năm sau chớp mắt, Ngô Quốc Trụ làm cảnh sát viên ở sở công an Hồng Nhất, viết một bài thông tin phá án cho tờ báo huyện, sáu bảy trăm chữ, tiêu đề anh vẫn nhớ rõ đến tận bây giờ: "Sư ni miếu núi gặp nhục nhã kỳ lạ, cảnh sát nhân dân thần dũng phá án kỳ".

Hai người theo chủ nghĩa không tưởng

Văn_Lý Ngư

Một

Seth Roberts là con người đầu tiên tôi quen biết có trang Wikipedia, trang của anh ấy được cập nhật lần cuối vào ngày 26 tháng 4 năm nay (2015), bầu trời California quang mây tạnh ráo. Mãi cho đến khi anh ấy qua đời, tôi mới bắt đầu thực sự tìm hiểu về anh ấy. Học hàm giáo sư, trang blog, những cuốn sách bán chạy có tên trên bảng xếp hạng của tờ New York Times, cùng với đủ loại sự tích kỳ lạ, bất chấp đời thường.

Tôi lấy làm thắc mắc tại sao một nhà tâm lý học nghiên cứu về hạnh phúc của con người lại có thể sống một cuộc đời xa rời hạnh phúc nhất trong các giá trị truyền thống của xã hội — anh ấy độc thân suốt đời, không nuôi chó, hai ngày ăn một bữa chính. Trong đó điều cuối cùng này càng khiến tôi khó lòng chấp nhận. Rốt cuộc Ngũ Đạo Khẩu được mệnh danh là trung tâm vũ trụ, mỗi khi đèn giăng sáng bóng, cho dù là người cô đơn đến đâu cũng bị bầu không khí phàm trần làm cho lưu luyến.

Có thể thấy Seth quả thực là một đóa hoa lạ. Sự thật này không cần nhờ đến thuật đọc tâm mới có thể ngộ ra — anh đã qua tuổi trung niên, từ bỏ chức vụ giáo sư biên chế trọn đời tại UC Berkeley để chuyển đến Bắc Kinh, một mạch mua liền năm chiếc máy lọc khí. Sau đó cuộc sống cứ thế tiếp diễn bình thường, anh vô tình phát hiện ra sự thâm sâu rộng lớn của ẩm thực Trung Hoa, tình cảm này một mực sâu sắc. Nhưng trong gần năm năm theo sau đó, tiếng Trung của Seth vẫn không thể vượt qua nổi mức độ "mát cháo này bao nhiêu tiền". Với trình độ tiếng Trung thế này, e rằng chẳng có mấy cốt truyện kinh tâm động phách nào có thể diễn ra ở đế đô.

Mà sứ mệnh của tôi trong lễ truy điệu của anh, chính là thuật lại đoạn cuối cùng này trong cuộc đời của Seth Roberts.

Hai

Lễ truy điệu được tổ chức tại khách sạn Bancroft thành phố Berkeley, đại sảnh tiệc tùng cửa kính sáng bóng, trang hoàng những đóa hoa ly tươi thắm. Khách dự gồm có mẹ, em gái của Seth, cùng với bạn bè các giới. Người thì mặc Âu phục thắt cà vạt, người thì diện quần jean giày thể thao, tổng cộng ngồi kín sáu bàn tròn. Không có ai cố ý mặc đồ đen. Nhân viên phục vụ đứng cạnh cung cấp nước khoáng Perrier ướp lạnh hoặc rượu sâm banh, trên chiếc bàn dài cạnh lò sưởi được bày biện chu đáo giăm bông, phô mai và dâu tây tươi.

Tôi đến muộn, bước vào đại sảnh tiệc, mang theo tâm trạng nơm nớp lo sợ của đêm trước kỳ thi để bước lên bục phát biểu, dùng tiếng Anh chào hỏi. Khách dự lần lượt vỗ tay, tôi nhìn thấy bên khung cửa kính sát đất nguyên tấm, ánh nắng California rải đầy những cánh hoa ly.

Seth chuyển đến Bắc Kinh vào năm diễn ra Thế vận hội. Anh không có vợ con, hành lý chắc cũng không quá nhiều. Mùa thu cùng năm, anh chính thức gia nhập khoa tâm lý của một trường đại học nổi tiếng ở Trung Quốc. Trường đại học này vốn dĩ đã thành lập khoa tâm lý vào những năm 20 của thế kỷ trước, sau đó qua đợt điều chỉnh viện hệ (khoa viện), được sáp nhập vào trường anh em. Lại vì cuộc "Cách mạng Văn hóa" đả kích "chủ nghĩa duy tâm", nên trong chốc lát không thể khôi phục xây dựng lại. Trong khoảng thời gian này, giới tâm lý học quốc tế đã hình thành hệ thống nghiên cứu khoa học, bốn nhà tâm lý học đã vinh dự giành giải Nobel Kinh tế, Sinh lý học hoặc Y học.

Seth Roberts với tư cách là một học giả quốc tế nổi tiếng đã được mời tham gia xây dựng lại khoa tâm lý học. Ảnh của anh được treo trên bức tường xiên đối diện cửa thang máy, vô cùng nổi bật giữa các giáo viên khác — người da trắng, mắt xanh, chiếc áo sơ mi sọc ca rô hơi nhăn, ánh mắt sáng ngời. Hành lang chỉ có sáu căn phòng, phòng lớn nhất dùng làm phòng học, bên cạnh chính là phòng làm việc của Seth. Sau đó mọi người phát hiện anh hầu như không bao giờ đến phòng làm việc, thế là sau khi được sự đồng ý đã đổi thành nơi tổ chức họp nhóm thí nghiệm.

Seth giảng dạy môn "Tuyển giảng các vấn đề biên giới tâm lý học hiện đại" cho sinh viên năm nhất, bài tập đầu tiên yêu cầu tất cả mọi người tự làm một tấm danh thiếp ghi tên tiếng Trung và tiếng Anh, phiên âm Pinyin cùng sở thích. Về phần mục cuối cùng, phần lớn sinh viên điền tên các lớp học đào tạo cuối tuần mà họ từng được bố mẹ cho đi học hồi nhỏ, có "violin", "tranh thủy mặc", "Taekwondo"...

Seth ngọng ngịu cố gắng điểm danh theo phiên âm Pinyin, mang lại một trận cười ồ thân thiện. Anh nói chuyện nhẹ nhàng và chậm rãi, khoảng thời gian dừng lại dường như đều dùng để thở dốc và suy nghĩ, thỉnh thoảng viết vài chữ lên bảng là hết một tiết học. Cuối mỗi buổi học, anh giống như xào bài mà rút ra hai ba người từ chồng danh thiếp để cùng ăn tối với mình, người được rút trúng luôn vừa phấn khích vừa căng thẳng.

Tôi là sinh viên khóa thứ ba của Seth, nghe nói từ khóa thứ tư trở đi anh đã không còn thỏa mãn với việc mời sinh viên gọi món tùy thích ở tầng thượng các nhà ăn lớn, mà chuyển sang xông pha đến Ngũ Đạo Khẩu để khai phá thiên địa rộng lớn.

Cho dù địa điểm mời khách của anh vẫn còn luân chuyển ở nhà ăn trường học, bữa tối này vẫn luôn rất đáng mong chờ. Trái ngược với dự đoán của chúng tôi, Seth mới là người liên tục đặt câu hỏi, ví dụ như "muốn ăn món gì", "tại sao lại học tâm lý học", "cảm giác lên đại học thế nào". Chúng tôi còn đang chờ anh phát biểu chân lý nhân sinh, thế nhưng anh chỉ muốn biết chúng tôi thích bánh hành hay cơm tẻ.

Người đầu tiên nói cơm tẻ, những người phía sau cứ thế hùa theo cơm tẻ. Chúng tôi chuyển sang câu hỏi khó hơn. Tại sao học tâm lý? Tôi không rõ giáo sư ở các lĩnh vực khác có thích thú đi thăm dò động lực hay không, nhưng khoa tâm lý thì vẫn luôn như vậy. Có lẽ họ tin rằng chí hướng học tâm lý sẽ kỳ lạ hơn so với học quản lý kinh tế hay kỹ thuật điện và tự động hóa, thế nên có sự cần thiết và niềm vui phải giải thích thêm.

Mãi sau này Seth mới biết, hơn một nửa sinh viên trong lớp là chấp nhận được điều chuyển nguyện vọng — dưới chế độ thi đại học ở Trung Quốc, muốn đảm bảo được tuyển vào trường đại học nổi tiếng này, trong năm nguyện vọng thế nào cũng phải có một nguyện vọng để lót dạ, mà tâm lý học đã gánh vác trọng trách này. Trong số những người còn lại, một số muốn làm bác sĩ tâm lý (chữa bệnh cho người khác hoặc cho chính mình), một số nhắm đến việc học thuật đọc tâm, một số khác thì quanh quẩn hồi lâu rốt cuộc thấy các chuyên ngành khác đều chẳng có ý nghĩa gì. Họ điền tâm lý học lên hàng đầu, không có gì bất ngờ khi được trúng tuyển.

Còn Seth thì sao, mọi người tự nhiên hỏi đến. Anh học đại học chuyên ngành tâm lý học tại Đại học Reed ở Portland, trở thành tiến sĩ Đại học Brown, cho đến khi làm giáo sư biên chế trọn đời tại Đại học California Berkeley — nơi có thứ hạng chuyên ngành đứng đầu toàn nước Mỹ, rồi ở lại đó suốt ba thập kỷ.

Câu trả lời của anh rất đơn giản: Vì từ nhỏ đã muốn làm nhà khoa học, mà tâm lý học là một trong những môn khoa học thú vị nhất.

Mọi người cùng bàn đang ăn cá nướng cay, đậu đũa xào khô và cơm trắng, mơ màng gật đầu đồng ý.

Trong lớp học của anh, sinh viên được yêu cầu quan sát các hiện tượng trong khuôn viên trường, sau đó tự thiết kế thí nghiệm của mình. Sau khi được cả lớp bỏ phiếu ẩn danh, một nghiên cứu về xu hướng a dua bầy đàn đã được triển khai bên trong thang máy của tòa nhà dạy học số 6. Giờ cao điểm trước giờ lên lớp, gần mười sinh viên chen vào thang máy, đồng loạt quay lưng về phía cửa thang máy, cố gắng kìm nén tiếng cười. Quan sát viên ở lại canh gác ngoài hành lang chịu trách nhiệm ghi chép xem người lạ bước vào thang máy có quay người lại hay không.

Kết quả thí nghiệm thật đáng thất vọng, họ đã không thể tái hiện lại kết quả kinh điển do Solomon E. Asch công bố vào năm 1956. Năm đó, nhà tâm lý học xã hội này đã mời 123 người đàn ông đến phòng thí nghiệm để thực hiện nhiệm vụ "phân biệt thị giác": chọn ra đoạn thẳng ngắn nhất từ ba đoạn thẳng. Câu trả lời là vô cùng rõ ràng, thế nhưng dưới ảnh hưởng của những "đồng bọn" do nhà tâm lý học giả trang — họ sẽ đưa ra câu trả lời sai trước, để lại người thử nghiệm (chú thích: người thử nghiệm, chỉ đối tượng chịu thí nghiệm trong thí nghiệm tâm lý) phát biểu cuối cùng, hơn một phần ba số người đã chọn a dua theo số đông, cũng đưa ra câu trả lời sai.

Thế nhưng trong thí nghiệm của sinh viên Seth, suốt gần nửa tiếng đồng hồ kiên trì chờ đợi, thậm chí không có lấy một người lạ vì "a dua" mà quay lưng lại với cửa thang máy — phần lớn mọi người ngay khoảnh khắc cửa mở liền mang vẻ mặt kinh ngạc, bước nhanh về phía lối cầu thang bộ. Sau đó khi sinh viên chia nhóm kiểm điểm lại thất bại của thí nghiệm, đã quy nguyên nhân là do mình "ngưỡng cười quá thấp, dọa chạy mất người thử nghiệm". Seth trầm ngâm một lát, chấp nhận lời giải thích này.

Học kỳ đi qua nửa chặng đường, tài liệu đọc mà anh giao là cuốn The Man WhoWouldBeQueen, giới thiệu nền tảng sinh lý của xu hướng đồng tính luyến ái. Trước đó Seth từng được những đồng nghiệp thân thiện nhắc nhở rằng, phần lớn người Trung Quốc vẫn có thái độ tiêu cực đối với người đồng tính luyến ái từ né tránh cho đến phản cảm, thế nên anh có phần bất ngờ khi cuốn sách này lại khơi dậy cuộc thảo luận khá sôi nổi trong sinh viên — đối với sinh viên năm nhất mà nói, yêu đương rành rành không nghi ngờ gì là đặc quyền mới mẻ, mà tình cảm đồng tính lại càng trở thành chủ đề thời thượng dưới sự công kích của một loạt từ ngữ lưu hành trên mạng. Thậm chí có sinh viên sau khi đọc sách xong còn đến quán bar ở Bắc lộ Công Nhân Thể Thao để tìm cảm giác lạ, đem bóng lưng người đàn ông mặc váy đỏ, vai choàng tóc dài cùng việc tài xế taxi dừng xe rồi lái đi như thế nào viết lại nguyên văn vào trong báo cáo. Đối với tài liệu đọc của anh, sinh viên không hề nhớ hoàn toàn gene, hormone và chất dẫn truyền thần kinh đã tạo nên xu hướng tính dục khác nhau của con người như thế nào, giống như ngoại hình khác nhau của mỗi người, nhưng phần lớn họ đều đồng tình rằng, việc chấp nhận con người thật của chính mình thuộc về hành vi dũng cảm, rất đáng ngưỡng mộ. Sau đó có người đã lấy đề tài này làm luận văn tốt nghiệp.

Ba

Cuộc thảo luận về trải nghiệm tình cảm cá nhân của Seth có lẽ cũng bắt đầu từ lúc đó. Nguyên nhân là do anh để lại địa chỉ email của mình trên bảng đen, các chữ cái đứng trước ký hiệu @ tách ra, hiện lên rành rành dòng chữ "Hai người theo chủ nghĩa không tưởng". Thế nhưng ngoài bản thân anh ra, người theo chủ nghĩa không tưởng còn lại đó là ai?

Seth độc thân suốt đời, không có tin đồn tình ái nào được biết đến, cũng không giống như đang giấu giếm người tình bí mật. Vào giờ giải lao giữa hai tiết học lớn, sinh viên dùng tiếng Trung phỏng đoán, có lẽ anh từng yêu mà không có được, hoặc có được nhưng đã mất đi, cuối cùng trở thành kẻ cô độc một mình. Vẻ tiếc nuối đồng đều trên biểu cảm của mọi người, gần như giống như nhìn thấy thí nghiệm do chính mình dày công thiết kế nhưng lại thảm bại. Cô độc chưa chắc đã là chuyện đáng xấu hổ, nhưng hẳn là khá đáng thương — ẩn ý đằng sau là một quan điểm thế này: hai người cùng nhau già đi vẫn tốt hơn là một mình.

Sinh viên tò mò bèn kết bè kết phái đến thăm anh. Để biểu diễn thiết bị thí nghiệm rõ ràng hơn, Seth đã dời địa điểm tổ chức office hour (giờ tiếp sinh viên) đến nhà mình — căn hộ hai phòng ngủ ở tầng thượng ký túc xá giáo viên. Nhiệt độ trong phòng ấm áp hơn lối đi rất nhiều, sinh viên vừa leo sáu tầng lầu xong đang thở hồng hộc. Seth chỉ vào chiếc ghế mây trong phòng sách, ra hiệu bọn họ có thể treo áo khoác lên đó.

Trong phòng khách có ba bức tường trắng, còn một bức dán đầy các thẻ chữ Hán, chữ Tống phía trên có gắn phiên âm Pinyin, một số ít được anh ghi chú. Dựa vào tường đặt ba chiếc cân trọng lượng, hình thù lớn nhỏ khác nhau, đủ màu đủ sắc. Góc tường là một chiếc máy bước chân, giá đỡ dùng để cố định máy tính xách tay của anh, bệ cửa sổ phía sau còn bày máy làm sữa chua và chè để lên men dùng cho thí nghiệm. Vật trang trí duy nhất trong phòng là một chiếc nút thắt Trung Quốc màu đỏ nho nhỏ được cố định bằng băng dính trong suốt ở sườn hộp máy lọc nước, trông có vẻ là món quà do ai đó tặng. Seth đi tất dày đi lại trên sàn nhà — cảnh tượng trong căn hộ của anh cơ bản không thay đổi nhiều năm qua, ngoại trừ những chiếc máy lọc khí không ngừng được mua sắm thêm.

Sinh viên đã sớm đọc thuộc làu làu tác phẩm tiêu biểu của anh, một bài báo được xuất bản trên tạp chí "Hành vi và Khoa học Não bộ" (Behavioral and Brain Science) có tựa đề "Tự làm thí nghiệm như một nguồn cảm hứng nghiên cứu: Mười ví dụ về giấc ngủ, tâm trạng, sức khỏe và cân nặng" ("Self-experimentation as a source of new ideas: Ten examples about sleep, mood, health and weight"). Tạp chí này được công nhận rộng rãi trong giới học thuật, hệ số ảnh hưởng dao động quanh quẩn ở mức hai mươi trong nhiều năm liền, đứng đầu trong gần năm mươi tạp chí khoa học hành vi, và cũng lọt vào top ba trong số hơn hai trăm bốn mươi tạp chí khoa học thần kinh.

Trong thí nghiệm kéo dài mười hai năm của Seth, đối tượng thử nghiệm tổng cộng chỉ có một người. Anh tự đo trọng lượng cơ thể, chỉ số huyết áp đường huyết, tốc độ làm phép tính bốn tính của mình, ghi lại thời gian chìm vào giấc ngủ và thức dậy, đồng thời chấm điểm cho tâm trạng. Anh gửi một nhúm tóc của mình đến phòng thí nghiệm chuyên nghiệp mỗi năm để kiểm tra hàm lượng nguyên tố vi lượng. Trong một số giai đoạn thí nghiệm, anh chỉ ăn sushi, chỉ uống nước đường, hoặc cố ý nhìn chằm chằm vào khuôn mặt người trên màn hình TV vào buổi sáng, mỗi ngày đứng hơn sáu tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng anh đeo kính phân cực để lọc sạch ánh sáng xanh của toàn thế giới, thỉnh thoảng lại nhai ngấu nghiến thịt kho tàu — đây có lẽ là một loại thực phẩm giảm cân tiềm năng, nếu vận dụng điều kiện thích hợp.

Đối với tất cả những thí nghiệm này, sinh viên xem náo nhiệt nhiều hơn là đi tìm chân lý. Rốt cuộc cấu hình mặc định của tâm lý học khoa học là thống kê xác suất trên cơ sở mẫu lớn, sự khác biệt giữa nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng có đạt đến mức có ý nghĩa hay không, cần rất nhiều điều kiện khắc nghiệt mới có thể rút ra mối quan hệ nhân quả. Kết quả nghiên cứu của một người sao có thể đáng tin cậy hơn giá trị trung bình của một trăm người hoặc một nghìn người chứ?

Bài báo này trong suốt mười năm tổng cộng được trích dẫn ba mươi mốt lần, giống như một thứ hoa văn trang trí cho tạp chí học thuật, còn không bằng một phần hai mươi số lần trích dẫn các bài báo lấy chuột bạch làm đối tượng thí nghiệm thời kỳ tiến sĩ của anh.

Seth vẫn hiếu khách mời mọi người nếm thử sữa chua tự ủ không đường và trà nấm (một loại đồ uống trà lên men, vị kỳ quái) của mình, còn cho xem đậu phụ thối đóng hộp, natto trong tủ lạnh. Thí nghiệm trong mười năm gần đây của anh yêu cầu anh kiểm soát nghiêm ngặt lượng thức ăn và chủng loại thức ăn, mỗi ngày chỉ ăn một bữa chính (sau đó tần suất này giảm xuống còn hai ngày một lần).

“Thế bữa này của anh chắc chắn là ăn cực kỳ thịnh soạn rồi nhỉ?” Tôi hỏi anh, lại hỏi thêm một số vấn đề về thí nghiệm, anh lần lượt trả lời. Kỳ nghỉ đông sau khi học kỳ kết thúc, đột nhiên có một hôm Seth gọi điện cho tôi. Hai người bạn trên blog của anh đến Bắc Kinh họp, anh dự định mời họ ăn vịt quay, ở Vương Phủ Tỉnh, hỏi tôi có muốn đi cùng không.

Tôi đoán đại khái là bài tập cuối kỳ của tôi đã để lại cho anh ấn tượng sâu sắc, cho nên ngay cả lúc dịch thực đơn tôi cũng ngực ưỡn đầu cao đặc biệt. Anh vô cùng yêu thích mọi món ăn Trung Hoa, nên đối với đồ ăn vặt ở quê nhà mình thì đành chịu không nhắc tới nữa. Sau khi hỏi thăm lẫn nhau về tiến độ thí nghiệm, những vị khách lần đầu đến Trung Quốc bắt đầu thấy tò mò cảm giác lên lớp cho sinh viên đại học Trung Quốc ra sao. Seth bình luận ngắn gọn: “Họ thông minh một cách đáng kinh ngạc.”

Bạn bè của anh trông cũng ngạc nhiên không kém — điều này khác với những gì họ đọc được trên các bản tin. Sinh viên Trung Quốc đáng lẽ phải bị việc dùi mài kinh sử ngày này qua tháng khác làm cho thừng chột bản tính rồi chứ, huống chi là thông minh? Seth bèn bổ sung thêm một câu: “Sinh viên Mỹ ngày càng lười biếng hơn.”

Sau bữa tối, bốn người đứng trong cơn gió đêm dễ chịu bắt đầu vẫy xe, những con đường lớn ở Bắc Kinh dường như chưa bao giờ vắng vẻ đến thế. Không biết đã qua bao lâu, vẫn cứ đứng chết cóng bên lề đường, tôi không nhịn được hỏi Seth tại sao lại nhớ đến việc gọi tôi đi ăn cơm. Anh đang bận phóng tầm mắt nhìn dòng xe cộ ngoài đèn giao thông tiếp theo, tiện miệng trả lời: “Tôi cứ tưởng cô là người Bắc Kinh, biết cách bắt xe ở Bắc Kinh chứ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.