Sau khi đã bày tỏ nhưng tuyệt nhiên chưa thể báo đáp trọn vẹn món nợ ân nghĩa gấp bội phần ấy, bước tiếp theo tôi xin phép được sơ lược lại lịch sử của tác phẩm hiện đang khoác lên mình tấm áo tiếng Anh, trước khi đi sâu bàn về bản chất và giá trị của nó.
Việc ấn hành các câu châm ngôn diễn ra vào giai đoạn sau, nghĩa là trong ba mươi năm cuối đời của Goethe; phần lớn chúng xuất hiện chỉ trong mười năm cuối, và một số ít được công bố sau khi ông qua đời.
Thật khó để xác định chính xác thời điểm ông bắt đầu ghi chép những quan sát mà sau này ra mắt công chúng dưới hình hài này; vấn đề ấy cũng chẳng có gì gọi là thú vị thực sự, ngoại trừ đối với những nhà nghiên cứu vụn vặt chuyên săm soi chuyện đó. Có lẽ, cũng như phần lớn các nhà văn khác, Goethe có thói quen ghi lại những suy tưởng thoáng qua của chính mình, cùng với quan điểm của những người khác khơi gợi nhiều điều hơn là ý nghĩa bề ngoài của chúng; đồng thời lưu giữ lại để dùng sau này những gì ông đã tự viết ra và thu lượm từ những nơi khác – theo cách gọi của chính ông là Eigenes và Angeeignetes. Các câu châm ngôn xuất phát từ một sưu tập mang tính chất như thế. Đó có lẽ là một thói quen hình thành từ thời trẻ, bởi vì đâu đó trong bộ Lehrjahre – một tác phẩm ngốn tới mười tám năm trời nhưng được khởi thảo khi ông mới hứa tuổi hứa hai mươi bảy – ông đã để nhân vật Wilhelm Meister nhắc đến giá trị của nó. Dù vậy, có những lý do để tin rằng hầu hết các châm ngôn, ở dạng thức hiện tại của chúng, không chỉ được ấn hành mà còn được sáng tác trong những năm tháng cuối đời ông. Sự thống nhất về ý nghĩa đóng ấn chúng với một mục đích chung; sự tương đồng trong thứ ngôn ngữ điềm tĩnh, vô tư mà chúng được viết nên; cùng giọng điệu giáo huấn phảng phất xuyên suốt, tất cả hòa quyện lại để cho thấy rằng chúng nằm trong số những thành quả cuối cùng và chín muồi nhất của thiên tài ông. Một số chắc chắn được sáng tác trong khoảng từ năm mươi đến sáu mươi tuổi; thậm chí nhiều hơn nữa giữa quãng đó cho đến tuổi bảy mươi; trong khi có cả những bằng chứng nội tại lẫn ngoại khách chứng minh rằng nhiều, và có lẽ là hầu hết, trong số đó chính là những suy ngẫm cuối đời của ông về cuộc đời và thế gian. Chính điều này đã làm tăng gấp bội sức hấp dẫn của chúng, bởi như chính ông đã phát biểu thật hay trong một câu châm ngôn cuối đời, rằng "trong một tâm hồn thanh thản, những tư tưởng nảy sinh ở buổi hoàng hôn của cuộc đời vốn dĩ trước đó không thể tưởng tượng nổi; tựa như những giọng nói phúc lành từ cõi thẳm sâu giáng xuống rực rỡ trên những đỉnh cao của quá khứ."
Nhưng dù toàn bộ hay bất kỳ phần nào trong số đó được viết ra vào lúc nào, và dẫu chúng có trải qua những lần sửa đổi ra sao, thì mãi đến năm 1809, khi Goethe bước sang tuổi sáu mươi, chẳng có bài nào được công bố cả. Ấy là lúc ông cho ra mắt tác phẩm Die Wahlverwandschaften. Một vài câu châm ngôn về Cuộc đời và Nhân cách đã được lồng ghép vào đó dưới dạng hai trích đoạn từ một cuốn nhật ký thường được nhắc đến ở phần đầu câu chuyện. "Vào khoảng thời gian này," Goethe viết khi giới thiệu trích đoạn đầu tiên trong số đó, "những sự kiện bên ngoài hiếm khi được ghi chép trong nhật ký của Ottilie, trong khi các câu châm ngôn và cách ngôn về cuộc sống nói chung, được rút ra từ chính cuộc sống ấy, lại xuất hiện ngày một nhiều hơn." Thế nhưng, ông nói thêm, "vì phần lớn chúng khó lòng xuất phát từ chính những suy ngẫm của cô ấy, nên có khả năng ai đó đã trao cho cô một cuốn sách hoặc tập tài liệu, từ đó cô chép lại bất cứ điều gì làm mình vừa ý." Vài châm ngôn nữa xuất hiện tám năm sau trên trang chí Kunst und Alterthum, một tạp chí do Goethe sáng lập vào năm 1816 chuyên bàn về các vấn đề nghệ thuật; và một số lượng lớn hơn lần đầu tiên ra mắt ánh sáng cũng trên ấn phẩm này vào các thời điểm khác nhau cho đến khi nó đình bản vào năm 1828. Trong khi đó, một số quan sát về Khoa học đã được hợp nhất vào hai chuyên luận về các lĩnh vực chuyên môn ấy.
Eckermann kể một câu chuyện kỳ thú về cách thức mà Goethe sau đó tiếp tục công cuộc ấn hành các châm ngôn. Tác phẩm Wilhelm Meisters Wanderjahre từng ra mắt bản thảo đầu tiên vào năm 1821. Về sau, vào năm 1829, Goethe quyết định tái cấu trúc và kéo dài nó ra, biến hai tập thành phẩm từ một tập ban đầu. Viên thư ký của ông được giao nhiệm vụ chép lại bản thảo đã được tu chỉnh. Anh ta viết bằng một thứ chữ to, tạo ấn tượng rằng câu chuyện hoàn toàn có thể lấp đầy tới ba tập sách; và những chỉ dẫn theo hướng đó đã được gửi cho nhà xuất bản. Thế nhưng người ta sớm phát hiện ra rằng hai tập cuối sẽ vô cùng mỏng, và nhà xuất bản bèn đòi hỏi thêm bản thảo. Trong cơn bối rối, Goethe cho gọi Eckermann đến, đoạn mang ra hai bọc bản thảo chưa từng công bố, chứa đựng, theo lời ông, những điều vô cùng quan trọng – "những quan điểm về cuộc đời, văn học, khoa học và nghệ thuật, tất cả hòa quyện vào nhau," rồi đề nghị vị cộng sự kéo dài các tập sách bằng cách chèn vào đó những đoạn tuyển chọn từ đống giấy tờ ấy. "Anh có thể," ông gợi ý, "lắp đầy những khoảng trống trong Wanderjahre bằng cách biên tập chừng sáu hoặc tám tờ từ những mảnh rời rạc này. Nghiêm mà nói, chúng chẳng có dính dáng gì đến câu chuyện cả; nhưng chúng ta có thể biện minh cho việc làm này bằng thực tế là tôi có nhắc đến một kho lưu trữ trong nhà của Makarie, nơi những bài viết tạp lục như thế được gìn giữ. Bằng cách này, chúng ta không chỉ vượt qua được khó khăn trước mắt, mà còn tìm ra một phương tiện tuyệt vời để cống hiến cho đời nhiều nội dung thú vị." Eckermann tán thành kế hoạch ấy và chia phần tuyển chọn của mình thành hai ngả; và khi ấn bản mới của Wanderjahre xuất hiện, một phần được đặt tên là Aus Makariens Archiv, phần kia là Betrachtungen im Sinne der Wanderer: Kunst, Ethisches, Natur. Phần còn lại của các châm ngôn chưa từng công bố đã xuất hiện sau khi tác giả qua đời, hoặc nằm trong Nachgelassene Werke năm 1833, hoặc trong ấn bản khổ tứ năm 1836.
Eckermann từng nhận được chỉ thị thu thập toàn bộ các châm ngôn, sắp xếp chúng theo các đề mục khác nhau và đưa vào những tập sách tương ứng; thế nhưng ông lại quyết định làm trái chỉ thị ở mức độ gom tất cả lại xuất bản chung một chỗ; và sự thay đổi này quả thực đem lại ưu điểm rõ rệt. Một cuộc sắp xếp lại đôi chút đã được thực hiện bởi von Loeper – người vốn bị ngăn trở không dám tiến hành một cuộc đại tu triệt để hơn, dẫu ông nghĩ rằng điều đó có thể mang lại lợi ích, bởi quan niệm rằng khi một tác phẩm văn học mang hình thức ngẫu nhiên và không tính trước đã tồn tại qua ngần ấy năm dưới một hình hài nhất định, tự bản thân thực tế đó đã là một luận điểm nặng ký chống lại mọi đổi thay đối với nó. Có lẽ trong một bản dịch, nơi tác phẩm được giới thiệu lại và hướng đến một lượng độc giả hoàn toàn mới, sự thay đổi ấy có thể được châm chước; và tôi hẳn đã thực hiện nó, nếu như không có một lý do trầm trọng hơn, cũng được von Loeper viện dẫn, để phản đối bất kỳ mưu tính sắp xếp lại một cách có hệ thống nào: đó là thực tế sâu xa hơn rằng nhiều câu châm ngôn mang tính chất pha trộn, vượt lên trên các phân định khoa học và đạo đức của chúng ta, khiến việc quyết định xem chúng thuộc về đề mục nào trở nên vô cùng khó khăn. Do đó, tôi nhìn chung vẫn tuân theo trật tự truyền thống; ngoại trừ một điểm duy nhất là vì những lý do hiển nhiên, các châm ngôn bàn về Văn học được xếp chung lại với nhau ở đây; và vì chỉ có một số ít châm ngôn về Nghệ thuật xuất hiện trong những trang này, tôi đã gom chúng vào cùng một phân mục. Trong một hoặc hai trường hợp, tôi đã hợp nhất những châm ngôn có liên hệ mật thiết với nhau vốn bị tách rời trong bản gốc; và vì lợi ích của một tựa đề ngắn gọn, tôi đã thu hẹp nhẹ ý nghĩa của từ Spruch – vốn dùng để chỉ bất kỳ câu nói khôn ngoan nào, dù đó là một châm ngôn chính hiệu hay một cách ngôn. Một chút tự do kiểu này, tôi nghĩ, là điều một dịch giả khao khát đưa tác phẩm đến với công chúng của mình theo một hình thức ngăn nắp và thuận tiện hoàn toàn có quyền làm.
Phần cuối cùng trong cuốn sách này đòi hỏi một vài lời giải thích. Đó là một tiểu luận nhỏ về Tự nhiên được tìm thấy cùng với vô vàn mảnh văn bản vụn vặt khác trong tập cuối cùng của toàn tập tác phẩm Goethe. Quá ngắn để có thể đứng độc lập một mình, nếu muốn xuất hiện thì nó buộc phải đi cùng những nội dung đồng loại; và như một chuỗi các câu cách ngôn, phơi bày một góc nhìn thơ mộng về Tự nhiên với sự kết hợp tuyệt đỉnh giữa vẻ đẹp và tuệ nhãn, nó hoàn toàn là một phần phụ lục không có gì gọi là lạc điệu đối với các châm ngôn về Khoa học. Nó ít được biết đến, nhưng lại rất xứng đáng được biết đến rộng rãi. Tôi mạn phép cho rằng ngay cả ở Đức, độc giả thông thường cũng không hề hay biết sự tồn tại của nó. Đối với chúng ta ở Anh quốc, có thể nói nó đã được "phát hiện" bởi Giáo sư Huxley – người từ nhiều năm trước từng cho ra mắt bản dịch của bài tiểu luận này như lời đề từ cho một san chí khoa học. Có lẽ lời đề từ ấy rồi đây cũng sẽ được vớt vát lại như một món đồ cứu sinh từ dòng nước lãng quên sớm muộn gì cũng nhấn chìm mọi tạp chí. Trong khi chờ đợi điều đó, tôi xin trân trọng gửi gắm bản dịch này.
Suốt sáu thập kỷ qua, bài tiểu luận này vẫn đứng vững một cách không tranh cãi trong các trước tác của Goethe; thế nhưng gần đây những hoài nghi đã bắt đầu ném vào quyền tác giả của ông. Những lý giải được đưa ra từ trước đến nay đều dựa trên nền tảng vững chắc từ chính tuyên bố của Goethe. Bài tiểu luận, theo đó, được viết vào khoảng năm 1780 và được dâng tặng cho Nữ công tước Amalia. Một thời gian sau khi bà qua đời, nó được tìm thấy giữa những trang giấy của bà và được gửi trả cho Goethe vào tháng 5 năm 1828; lúc bấy giờ, như ông đã viết thư giãi bày với người bạn là Tể tướng von Müller, ông hoàn toàn không thể nhớ mình từng sáng tác nó; dẫu ông vẫn nhận ra nét chữ là của một người từng phục vụ ông cách đó chừng bốn mươi năm. Việc một nhà văn sung sức sau ngần ấy khoảng thời gian đằng đẵng lại không thể hồi tưởng về sáng tác của một đoạn văn ngắn như thế quả thực không có gì là khó hiểu; nhưng Goethe tiếp tục nói thêm rằng nó hoàn toàn ăn rơ với những tư tưởng biếm thần giáo từng chiếm ngự tâm trí ông ở tuổi ba mươi, và tuệ nhãn của ông khi ấy có thể được gọi là sự so sánh, buộc lòng phải bộc lộ cuộc đấu tranh hướng tới một cấp so sánh hơn chưa từng vươn tới được. Bất chấp tuyên bố ấy, bài tiểu luận giờ đây lại bị tranh chấp quyền sở hữu bởi một người bạn người Thụy Sĩ nào đó của Goethe, mang tên Tobler, dựa trên những bằng chứng ngoại tại không cần phải khảo sát ở đây, cùng bằng chứng nội tại từ phong cách viết – vốn quả thực sắc sảo và mang tính đối chép nhiều hơn so với phong cách quen thuộc của Goethe. Tuy nhiên, một bậc thầy ngôn ngữ từng thử sức qua mọi thể loại sáng tác hoàn toàn có khả năng đã thử qua cách viết này; và ngay cả những kẻ gán cho một nhân vật vô danh tiểu tốt nào đó việc chấp bút thực thà thừa nhận rằng nó dựa trên những cuộc đàm đạo với Goethe. Nó mang đậm hơi thở thiên tài của ông đến mức khó lòng có thể bắt ông phải nhường lại vinh quang ấy cho một ai khác.