Tác giả EDWINA STANTON BABCOCK
Từ Tạp chí Harper's
Bức thư đến vào lúc ông Pawket đang chặt củi. Chiếc rìu của ông gác trên một gốc cây, và những đống dăm gỗ trắng tỏa hương ngào ngạt xung quanh khi ông đứng nhìn chiếc xe ngựa thưa của dịch vụ Phát thư Miễn phí Nông thôn đang chầm chậm đánh võng xuống con đường làng.
Dịch vụ Phát thư Miễn phí Nông thôn gồm có một con ngựa bạch, một chiếc xe ngựa cọc cạch, và một người phụ nữ trẻ tuổi có tác phong quyết đoán. Một chiếc mũ của lực lượng Rough Rider ngự trị với vẻ nghiêm nghị trên mái đầu tối màu của nữ nhân viên phát thư, cùng một đôi găng tay da hộ vệ của bác sĩ càng làm tăng thêm vẻ chính trực công vụ của cô.
Khi chiếc xe tiến lại gần cụm cây u-líp đối diện nhà ông Pawket, ông đẩy lùi chiếc mũ ra sau và kéo một chiếc khăn tay chấm xanh từ túi quần sau ra; vừa lướt khăn tay lau mặt, ông vừa chào nữ nhân viên phát thư:
"Trời đủ nóng đối với cô chưa?"
Thực ra trời không đến nỗi quá nóng, nhưng nếu ông Pawket không hỏi câu này, ông sẽ cảm thấy mình thiếu đi sự niềm nở. Tuy nhiên, ông không bước tới để đón nhận lá thư có thể có. Đã có chiếc hộp sắt nhỏ khắc tên ông được đóng đinh vào cây u-líp; đã có lá cờ đỏ chờ được gạt lên. Ông Pawket lấy làm hài lòng khi nhận ra rằng chính phủ đã trù tính mọi điều này vì sự tiện lợi đặc biệt của ông, và ông rất cẩn thận không làm xáo trộn thể lệ đó. Ông nhìn nữ nhân viên phát thư leo xuống khỏi xe, đi đến chiếc hộp nhỏ trên cây, bỏ vào một lá thư, khóa hộp lại và dựng cờ lên. Khi nghi thức hoàn tất, ông Pawket bước ra từ phía sau nhà kho. Vừa bước đi với dáng đi nặng nề, khụy gối của một người nông dân suốt đời dãi dầu sương gió, ông tự tì người lên hàng rào chắn cạnh chuồng bò.
"Hôm nay có nhiều người nhận được thư không hả cô?" ông hỏi thăm.
Nữ nhân viên phát thư trèo ngược lên xe; cô kéo đôi găng tay lên, đáp lại với vẻ kín đáo ánh lên từ đôi mắt đen:
Nhà ông Finn nhận được hai lá—một tờ quảng cáo thuốc hen suyễn và một bức thư từ đứa con trai mà họ từng tưởng là đã chết đuối. Bà Sweetser nhận được một tờ báo—tờ do cô con gái làm nghề chăm sóc móng tay gửi về. Và vẫn còn một bưu phẩm dành cho cô con gái nhà Grant—tôi đoán là chiếc váy tốt nghiệp của cô ta—có vẻ như cô ta quá kiêu kỳ nên chẳng thèm mặc đồ gì ngoài đồ may sẵn.
Nữ nhân viên phát thư quất roi thúc con ngựa bạch, và dáng vẻ nghiêm nghị của chiếc mũ Rough Rider khuất dạng trên con đường quanh co, rợp bóng râm. Cuối cùng, ông Pawket bừng tỉnh khỏi trạng thái thẫn thờ do tin tức về sự hồi sinh của con trai nhà Finn mang lại, liền tháo thanh chắn và băng qua đường tiến về phía hộp thư. Lục lọi trong túi ra một chùm chìa khóa nhà to tướng, ông tìm kiếm chiếc chìa khóa nhỏ xíu của hộp thư giữa đám chìa khóa ấy. Chiếc chìa khóa bé nhỏ này trông như đang đùa giỡn với ông Pawket—nó cứ khăng khăng nấp sau những chiếc chìa khóa lớn hơn và né tránh mọi nỗ lực muốn tách nó ra của ông; ông thấy nó thật lúng liếng, đầy nữ tính; và khi đứng đó tựa như một vị tế sư xứ Druid đang gọi hồn cây u-líp, ông cất lời trách móc chiếc chìa khóa nhỏ với vẻ mỉa mai nhân hậu.
"Mày chỉ là một con tép riu, đúng thế đấy," ông Pawket nói với chiếc chìa khóa. "Chẳng là cái thá gì ngoài một con tép riu... Sao quỷ sứ lại không làm một cái chìa khóa mà người ta có thể nhìn thấy được cơ chứ?... Ta mà làm mất mày trong một đêm tối trời thì đúng là khổ sở," ông nghiêm nghị liếc nhìn chiếc chìa khóa.
Nhưng dẫu sao thì chiếc chìa khóa tép riu ấy cũng hoàn thành nhiệm vụ của nó, và ông Pawket với nỗi kinh ngạc lẫn bận tâm không giấu giếm đã rút lá thư ra khỏi hộp. Đó là một bức thư lớn, trông có vẻ sang trọng. Phong bì mỏng và sột soạt, được dập nổi những họa tiết màu tím hình các loài bò sát quấn quýt quanh khuôn mặt một người phụ nữ, và ở một góc là những chữ cái nhỏ màu tím tạo thành dòng chữ "Khách sạn Medusa". Nét chữ trên phong bì đậm và cứng cáp, còn con dấu sẫm màu in hình một con côn trùng nhỏ có cánh mà ông Pawket đoán là con ong mật. Ông ngờ vực ngắm nghía bức thư, săm soi nó từ mọi góc độ khi bước qua cửa nhà bếp.
"Này mình ơi, có một thư này. Tôi phải làm gì với nó đây?"
Bà Pawket thở dài bước ra từ chỗ chậu giặt. Trán bà nhăn lại như thể một người đang bị quấy rầy bởi những đòi hỏi dồn dập của thế giới bên ngoài. Vừa lau tay vào chiếc tạp dề ướt, bà vừa nhận lấy bức thư và nhìn nó với vẻ khinh miệt.
"Cứ để nó trên lò sưởi phòng khách ấy," bà Pawket khuyên. "Hai đứa sinh đôi đang đi lên đường kìa. Tôi nghe tiếng chúng đang hò hét cái tiếng vang ở đầm lầy rồi. Cứ để đấy; chúng nó sẽ lo việc đó."
Ông Pawket, sau khi làm theo lời dặn dò ấy, liền đứng ngây ra ở cửa để tự hỏi liệu có đáng công quay lại tiếp tục chặt củi hay không. Mặt trời đã lên đến giữa đỉnh trời; ông hít hà mùi thức ăn từ nhà bếp tỏa ra và nhận ra cái hương thơm phong phú mà giác quan của ông vẫn gọi là "giờ ăn trưa".
"Đã vào đến đây rồi thì tôi ở lại luôn vậy," ông nói với vợ. Ông nặng nề ngồi xuống chiếc ghế bập bênh bọc vải đỏ Thổ Nhĩ Kỳ, vừa hóm hỉnh ngâm nga:
"Nếu mình chẳng muốn buồn phiền âu lo
Hãy tránh xa mọi vội vã, chần chừ."
"Cô phát thư bảo là nhà ông Finn vừa nhận được tin tức từ thằng bé từng bị chết đuối đấy."
Bà Pawket ngước gương mặt đầy vẻ không đồng tình lên khỏi nồi hầm thịt cừu nhỏ, nghiêm nghị nhận xét: "Cô phát thư thì biết cái quái gì cơ chứ. Chuyện của ai cô ta cũng nhúng mũi vào."
Ông Pawket phản bác. "Thì đấy, mang thư từ các thứ, cô ấy tất phải nắm bắt được khối chuyện chứ. Người ta bảo cô ấy vốn có khả năng tiên tri từ trước cơ mà. Chính cô phát thư đã báo trước trận bão tuyết mùa đông năm ngoái đấy thôi; cũng chính cô ấy phát hiện ra cháu trai của Hank Jellaby đã lấy vợ. Chẳng phải cô ấy là người biết rõ tỏng tòng tông ai là kẻ đã châm lửa đốt nhà kho của Mullins từ trước đến nay sao? Khối kẻ phải dựa vào cô phát thư để nắm bắt tình hình thiên hạ đấy."
Chẳng mấy chốc, ánh mặt trời đã chuyển thành một thứ ánh sáng xanh lấp lánh xuyên qua những tán cây u-líp; điều đó có nghĩa là đã mười hai giờ rưỡi, và cặp sinh đôi đã rầm rập chạy về. Cổ họng chúng khản đặc vì mải mê trò chuyện với tiếng vang ngoài đầm lầy; nhưng ngay khi vừa bước qua cổng (cố tình đẩy cánh cổng lệch hướng để luồn người lách vào), chúng đã bàn tán rôm rả về một bài toán đố hóc búa.
"Nếu bà Fenton cho con trai mình hai quả táo" (sụt sịt), "và cháu trai mình một quả táo" (sụt sịt), "và hai quả táo cho bạn của con trai bà, giữ lại một quả táo cho bản thân và dành dụm bốn quả táo cho gia đình, thì tổng số những quả táo được cho đó nhân với bốn sẽ bằng bao nhiêu?"
Vừa đọc oang oang bài ca dao khủng khiếp ấy, cặp sinh đôi vừa đối mặt với ông nội—người đang đặt chiếc mũ phớt rách rưới lên đầu gối, từ sâu thẳm chiếc bệ ngồi của ghế bành, ánh nhìn tự hào nhưng có phần dè dặt hướng về phía chúng.
"Nào ông, ông có giải được không?" cặp sinh đôi thách thức.
Đứng chắn ngay ngưỡng cửa nhà bếp trước mặt ông, đầu tóc xoăn tít, chúng vừa khua môi múa mép vừa cất giọng khàn khàn đồng thanh thách đố. Chúng cọ giày vào chiếc bàn chải đặt gần cửa; một đứa lén lút dòm ngó dưới chiếc đĩa đậy nắp trên bàn trong khi đứa kia rửa tay mặt ở cái chậu thiếc dưới giàn nho. Cả hai phát ra những tiếng "hè hè" kỳ lạ mang thứ nam tính bị nén lại, rồi vớ lấy dao nĩa từ chồng đĩa giữa bàn, chúng tì khủy tay lên mặt đĩa, tay khua khoắng những dụng cụ ăn uống giữa không trung.
"Ông có giải được không nào?"
Ông Pawket tìm cách thoái thác. Ông cũng kéo ghế lại gần bàn, dùng dao xiên một lát bánh mì rồi nheo cặp lông mày rậm lại.
"'Ông có giải được không?' Chà, câu hỏi hay thật đấy. Thầy giáo của tụi cháu có muốn ông giải hộ không? Không đâu. Nó là để cho tụi cháu học tập cơ mà, có phải cho ông đâu? Ông đã xong xuôi với mấy cái câu đố chữ đó từ lâu rồi. Dĩ nhiên," ông Pawket thong thả nói tiếp—"dĩ nhiên là hồi còn bằng tuổi tụi cháu, ông chẳng bao giờ làm mấy cái bài toán tính toán kiểu đó cả. Mấy quả táo ấy à. Ông nghĩ là nó còn tùy thuộc vào mùa màng nữa chứ. Nếu mụ đàn bà đó là một góa phụ, thì rất có thể mụ ta đã bị người ta lừa phỉnh rồi. Ông dám cá là mụ ta chẳng có chút kiến thức nào về táo đâu; có phải nông dân đâu mà mụ ta biết được rằng có những năm táo đắt như vàng, nhưng có những năm đem táo ra cho lợn ăn còn thấy bẽ mặt? Thế nhưng mà—nói về táo á—chà, xét cho cùng thì một quả táo ngon, dù là giống Northern Spy hay Harvest Moon đi chăng nữa..." Cứ thế, ông Pawket khéo léo lái câu chuyện sang những hướng quen thuộc hơn.
Cuối cùng thì cặp sinh đôi, với nhịp điệu nhai đồng bộ hoàn hảo, nâng những lát bánh mì phết bơ to tướng bằng lòng bàn tay, liếc nhìn ông bà, và sau khi nuốt khan một cách đầy khó nhọc ở cổ họng, đồng thanh lên tiếng:
"Willum sắp về nhà rồi."
Ông Pawket giật nảy mình. Ông với lấy cặp kính, thành kính lau chùi rồi đeo lên. Bà Pawket, đang bưng một chồng bánh kếp cao ngất hướng về phía bàn ăn, khựng lại như hóa đá.
Cặp sinh đôi cúi gằm xuống đĩa, rụt vai lại, lẩm bẩm: "Mấy người dưới Trung tâm ai cũng bảo thế."
"Ông Sykes nghe thấy thế ở cửa hàng thức ăn gia súc."
"Bà Badger cũng nói thế."
"Họ bàn tán rôm rả chuyện đó ở tiệm mai táng ấy."
"Nó định xây một ngôi nhà mới."
"Vợ nó nghĩ cô ta sẽ thích sống ở đây."
Ông Pawket tháo kính ra. Vợ nó ư! Willum mà lại có vợ cơ à?
Cặp sinh đôi, lúc này đang ngấu nghiến những chiếc bánh kếp, quay sang nhìn ông với vẻ mặt vô cảm.
"Đó sẽ là một căn nhà hoành tráng lắm đấy. Bác hàng thịt có thể kể cho ông nghe tất cả về nó—một cơ ngơi nguy nga chẳng khác nào cái nhà ga xe lửa lớn, toàn ống nước vàng với nước máy chảy róc rách."
Một đứa trong cặp sinh đôi dốc ngược chiếc bình đựng si-rô; liền sau đó là một màn giằng co nho nhỏ giữa hai đứa, đứa nào cũng tha thiết cố giữ chiếc đĩa của mình ngay dưới những giọt chất lỏng vàng óng đang nhỏ xuống.
"Chúng nó định mua tận năm chiếc ô tô, và một chiếc riêng cho người đầu bếp tự lái đi lại; sẽ có một phòng toàn chim hoàng yến, và sẽ có một cái gara vẽ tranh trên cửa sổ cùng với cái tháp nhọn trông như nhà thờ ấy."
Bà Pawket ngồi phịch xuống ghế. Bà dùng tạp dề quạt lấy quạt để.
"Lại đây ngồi vào bàn mà ăn đi mình," ông Pawket yếu ớt khuyên vợ.
Cặp sinh đôi vừa nhanh chóng vừa khoa học ngấu nghiến bánh kếp, quai hàm làm việc hết công suất, đôi mắt vô cảm quan sát phản ứng trước những lời chúng vừa thốt ra, lại tiếp tục:
"Chúng nó định xây nhà trên vùng Cedar Plains."
"Cô vợ là người có nhiều ý tưởng lắm."
"Còn cậu ta thì có tiền."
"Riêng cái tủ lạnh của chúng thôi đã tốn tới hai trăm đô-la rồi đấy."
Ông Pawket bỗng nổi giận đùng đùng: "Nào, nào, nào, thế thì không hợp lẽ thường chút nào, không đời nào có chuyện đó được. Lẽ ra Willum phải bàn bạc lại với tôi chứ. Tôi rất sẵn lòng phân tích phải quấy cho nó nghe. Tôi có thể đưa cho nó xem mấy cuốn ca-ta-lô cơ mà... Lại còn hai kẻ đó lại đi xây nhà ở vùng Cedar Plains nữa chứ—thật là vô lý hết chỗ nói. Khổ cho vợ nó thôi. Chẳng có hàng xóm láng giềng nào ở gần cả; thử nghĩ xem chúng sẽ phải đi xa đến thế nào mỗi khi có đám cưới hay đám tang hay khối thứ khác."
Bà Pawket bỗng sực nhớ ra điều gì, đứng dậy bước vào căn phòng "trước" hay còn gọi là phòng khách, nơi từ trên chiếc bệ lò sưởi lớn bày la liệt những chiếc bình trông như rắc đường nhồi đầy cỏ nhuộm màu sặc sỡ, bà rút lấy bức thư vừa mới đến. Vừa cầm ngược bức thư vừa tỏ vẻ dửng dưng không thèm đếm xỉa, bà đặt nó lên trước mặt cặp sinh đôi và ra lệnh:
Cứ làm theo lời bà ngoại dặn đi, đọc nó lên xem nào.
"Đúng thế," ông Pawket nói, vừa múc nước sốt lên ăn. Ông nhét lại chiếc khăn lau bát bếp vào cổ áo, gật gù tán thành: "Tôi thấy có khi chúng ta cũng nên đọc nó thật. Biết đâu trong đó lại có điều gì mà người ta muốn chúng ta phải biết thì sao."
Cặp sinh đôi thản nhiên cầm lấy bức thư; chúng lao vào phần địa chỉ người nhận với vẻ dửng dưng trôi chảy.
"Hot-hell Medusa," một đứa tự tin mở đầu.
Nó lập tức bị đứa kia chỉnh lại. "Ơ hay—không phải Hot-hell đâu—mà là Hotel Medusa, It'ly. Hả!"
"It'ly ư? It'ly là ở đâu nhỉ?" ông Pawket trầm ngâm. "Chà, hai chữ I T thì ta đọc được rồi. Lẽ ra ta phải đoán được phần còn lại chứ, vì It'ly vốn là một nơi ta quen thuộc cơ mà."
Cặp sinh đôi đang hội ý với nhau.
"Medusa—mụ ta là ai thì cháu biết thừa nhé," đứa lớn hơn sinh trước bốn giây lên tiếng.
"Không biết á, hử? Tóc hóa thành rắn—phải không nào? Nhìn vào mụ một cái là hóa thành đá luôn—phải không nào?"
"Câm đi! Không phải thế nhé!"
"Câm đi! Chứ còn gì nữa!"
Nhưng đứa kia đã cặm cụi bận tâm đến con dấu bưu điện.
"A. Malfi," nó đánh vần một cách đầy nhọc nhằn...
"Này ông ơi, Malfi là cái gì thế hả ông?"
Cậu anh vẫn dán mắt vào cái đầu dập nổi của Medusa.
"Tóc hóa thành rắn—biến bọn họ thành đá—bị chặt đầu," cậu ta ngâm nga trong niềm hồi tưởng đầy khoan khoái.
Ông Pawket với tay qua bàn, tóm lấy cổ áo của tên học trò này. "Nào, nào, nào! Mày định chặt đầu ai hả?"
"Đầu mụ ta," cậu nhóc hiếu chiến giải thích. "Mụ ta là một mụ đàn bà hư hỏng."
"Này! Này! Này!" ông Pawket quát lớn với vẻ nghiêm khắc bất thần. "Không có kiểu nói năng đó ở cái nhà này nhé! Lo mà lo chuyện của chúng mày đi, mấy thằng ranh con. Đừng có đem mấy cái giọng điệu đó ra đây mà lè nhè." Ông quay sang bà Pawket: "Tôi đã nói gì về cái cậu giáo viên trẻ mới đến dạy học cơ chứ? Cậu ta đến đây chẳng mang lại điều gì tốt lành đâu—tôi đã bảo thế mà!" Ông Pawket săm soi khuôn mặt in trên phong bì với một vẻ kinh hãi tò mò, và kết luận: "Nếu mụ ta đúng là thứ người như chúng mày nói, thì hãy coi chừng đấy, đừng có mà để ý đến mấy trò mèo của mụ ta nữa."
Cặp sinh đôi lúc này bày ra vẻ mặt ấm ức; chúng dùng mấy chiếc thìa gãi đầu gãi tai đầy bối rối. "Lịch sử của Medusa cơ mà." Chúng oang oang lên để thanh minh trong oan ức.
Sau một hồi bàn tán về hình dáng giải phẫu kỳ lạ của thứ được cho là con ong mật trên con dấu, cuối cùng bà Pawket cũng dùng con dao ăn rạch mở phong bì, và cặp sinh đôi cùng nhau cầm bức thư lên, đọc một cách đầy hào hứng dẫu có đôi chỗ chưa được chính xác lắm.
"Amalfi—It'ly—Hotel Medoosa.
"Kính gửi ông bà Pawket,—Bức thư này là từ William Folsom, cậu bé mồ côi tội nghiệp mà ông bà đã hết lòng cưu mang ngày trước. Ông bà đoán xem nào? Cậu bé từng trọ học nhà ông bà vào các dịp hè nay sắp trở về Mỹ cùng vợ cậu ấy, một quý bà người Ý mà chắc chắn cả hai ông bà sẽ hết mực yêu quý! Do những nhu cầu công việc bất khả kháng phát sinh, vợ chồng tôi buộc lòng phải từ bỏ ngôi nhà... biệt ... biệt thự ... bi-lờ..."
Đến đây thì một đứa vấp váp. Đứa kia liền ngó qua vai anh mình, thở hắt ra.
"Vanilla," nó vừa nhai trệu trạo vừa nhắc bài.
"Biệt thự vanilla thân yêu của chúng tôi, và do những sự việc mới phát-phát-phát-sinh gần đây, chúng tôi sẽ rời nước Ý ngay lập tức. Ông bà còn nhớ khu đất cũ tuyệt đẹp mà cha tôi từng sở hữu mang tên Cedar Plains chứ? Theo tôi nhớ thì nó không nằm quá xa nông trại của ông bà, nơi tôi đã trải qua biết bao mùa hè vui vẻ. Vợ chồng tôi dự định sẽ dựng xây tổ ấm mới ngay trên vùng đất Cedar Plains ấy, một ngôi nhà mang phong cách Y-ta-li-ên van ... bi-lờ ... v..."
"Vanilla." Lần này chính ông Pawket là người điềm đạm tiếp lời thay chúng.
Tôi sẽ trông cậy vào ông bà như những người bạn và người hàng xóm tốt bụng, và tôi rất nóng lòng muốn để vợ tôi được gặp gỡ ông bà. Chúng tôi đã giao phó công trình xây dựng tổ ấm mới cho một người bạn kiến trúc sư của tôi, người sẽ túc trực tại hiện trường cho đến khi hoàn tất. Đồ đạc gia đình yêu quý của chúng tôi đã được gửi sang Mỹ và hiện chúng tôi đang tạm trú tại khách sạn này. Chúng tôi sẽ trở về nhà theo một lộ trình có phần vòng vèo, và sẽ chỉ có mặt khi tổ ấm mới đã sẵn sàng đón chào. Hai vị ân nhân tốt bụng có thể đón ông Badgely đến trọ và nhường cho ông ấy căn phòng tuyệt đẹp ngày trước của tôi được không?
Gửi đến hai ông bà những lời chúc tốt đẹp nhất,
Đứa con của ông bà,
William Folsom.
Cặp sinh đôi, sau khi hoàn thành thứ mà đối với chúng là một sứ mệnh đầy táo bạo, lúc này liền ngó nghiêng tìm cách thoát khỏi bầu không khí vừa trở nên nhàm chán. Cậu anh sinh trước bốn giây liền tiến ra cửa, ra điều từng trải lắm, nhổ nước bọt ra ngoài thềm. Cậu em thì nhúng đầu vào thùng nước gần ống thoát nước, rút từ trong túi ra một chiếc lược nhỏ và dùng mặt nước gợn sóng của cái thùng làm gương, bắt đầu chải vuốt mái tóc đang chĩa ngược lên của mình vào nếp thật hoàn hảo.
Cậu anh thấy em quay lưng đi, bèn thọc tay vào túi và với vẻ tự hào kín đáo lôi ra một cuộn dây câu, một mẩu bánh gừng, một nhúm nhựa thông, một chiếc răng người, một mẩu xương người, một cái hộp sọ mèo con, một mẩu kẹo cao su đã nhai và một tấm thẻ trường Chủ Nhật dơ dáy đến khó tin. Từ trong đống bùa hộ mệnh đó, cậu móc ra một con ốc vít rỉ sét to tướng, giơ ra biếu bà ngoại và lẩm bẩm: "Cho cái Hũ Vạn Năng của bà đấy." Chợt cảm thấy xấu hổ vì bị bắt gặp đang tỏ lòng thông cảm với lợi ích của một phụ nữ, cậu nhóc liền vồ lấy chiếc mũ và vừa hò hét vừa chạy tút ra đường để đến trường, theo sau là người em—cậu nhóc đang cầm một mảnh thủy tinh đỏ nhỏ xíu che trước tầm mắt hướng về phía mặt trời, ngây ngất ngắm nhìn một vũ trụ đỏ rực một màu.
Bà Pawket, thu gom đống bát đĩa ăn trưa vào chậu rồi chế nước nóng từ ấm trà lên chúng, thở dài thườn thượt. Ông Pawket, sau khi lại lui về chiếc ghế bọc vải đỏ Thổ Nhĩ Kỳ, đẫn đờ nhìn vợ; ông vẫn đang suy nghĩ về nội dung trong bức thư của "Willum".
"Trở về nhà theo một lộ trình vòng vèo," ông độc thoại... "rồi lại còn sự việc phát sinh nữa chứ. Tôi đoán là nó biết nó đang làm gì, nhưng nghe sao vẫn cứ thấy mạo hiểm thế nào ấy. Thế mụ có hiểu cái A. Malfi gì gì đó là họ thời con gái của vợ nó không? Nghe cứ lướt qua tai giống mấy cô đào hát quá cơ chứ? Ta dám cá là một trong mấy ả ngoại kiều xấc láo, ranh mãnh nào đó rồi. Lại còn một cái vanilla—Willum ở cái tuổi ấy thì có lý do quái gì mà phải đi dựng một cái vanilla cơ chứ? Một dinh cơ bề thế thì may ra—tôi còn có thể hiểu được tại sao thằng bé lại thèm khát một dinh cơ—Willum vốn luôn có những tham vọng lớn lao mà—đằng này lại là một cái vanilla! Này, mình đã thấy cái quái gì gọi là vanilla ấy bao giờ chưa?"
Bà Pawket vừa rửa bát vừa treo chiếc lồng xà phòng lên, ngước mắt lên trần nhà như đang cố gắng vắt óc nhớ lại. Bà với lấy chiếc khăn lau bát, trả lời có phần lảng tránh: "Hồi tôi còn ở quê mẹ tôi thì tụi nó có đầy; trên phố nào mà chẳng có một cái."
Chồng bà nhìn vợ với vẻ kính trọng sâu sắc.
"Thế cơ à?"
Bà Pawket với vẻ mặt đầy đăm chiêu vắt kiệt chiếc giẻ lau bát; bà liếc nhanh một cái đầy quyền uy về phía bếp lò, sập mạnh cửa lò lại một cái dứt khoát đến nỗi làm ông Pawket giật nẩy mình khi bà đanh giọng:
"Thế nhưng mà, cái xứ này chẳng phải là chỗ cho một cái vanilla. Dựng một cái vanilla ở vùng này chẳng khác nào việc ông đội cái mũ lụa đi lễ Chủ Nhật ra đồng cày cấy vậy. Hai vợ chồng chúng nó chẳng có chút khôn ngoan gì cả."
Ông lão nông dân đăm đăm nhìn vợ với vẻ chú tâm nghiêm túc. Ngậm tẩu thuốc vào miệng, ông ngả người ra sau chiếc ghế màu đỏ, im lặng nhả khói. Cuối cùng, ông đặt tẩu thuốc xuống, cặm cụi kéo đôi bốt ra khỏi chân và ngân nga một giai điệu có mô-típ duy nhất là câu ca dao đều đều đầy vẻ uể oải:
Rồi mai đây
Rồi mai đây
Rồi mai đây. Rồi mai đây. Rồi mai đây.
Cuối cùng thì tiếng đập thình thịch của đôi bàn chân đi tất cũng ngưng bặt cùng với giọng ngâm buồn ngủ; một tia nắng len lỏi xuyên qua những tán cây u-líp rồi qua khung cửa sổ bếp thấp nhỏ, chiếu vào người ông Pawket để lộ ra rằng ông đã chìm vào giấc ngủ từ lúc nào. Vợ ông nhìn ông với gương mặt vô cảm. Vắt khô đôi tay khỏi chậu nước rửa bát, bà bê cả cái chậu ra cửa; với những lời mắng mỏ khinh miệt buông ra để xua đuổi mấy con gà đang quanh quẩn gần đó, bà hấtmọi thứ nước bẩn ra thảm cỏ. Tiến sâu hơn vào khoảng sân trước, bà lôi ra vài món đồ giặt đã phơi bạc màu rồi nhồi tất cả vào chiếc giỏ đựng quần áo. Nhồi đầy than vào bếp lò, giật mạnh chiếc xẻng xúc than cho vào đúng khớp, bà vặn chiếc van điều tiết ở ống khói rồi kênh nhẹ các mặt bếp lên một chút. Sau đó, bà vớ lấy cái chậu rửa mặt bằng thiếc, dựng một chiếc gương nhỏ tựa vào khung cửa sổ, buông xõa mái tóc rồi cặm cụi thực hiện một cuộc tút tát nhan sắc đầy nghiêm ngặt mà mục đích ban đầu là sự duyên dáng thời trẻ nay đã phai mờ thành một thói quen giữ gìn ngăn nắp. Xong xuôi, bà Pawket khoác lên mình một chiếc tạp dề trắng tinh và quàng quanh cổ một chiếc cà-vạt len màu da cam được ghim lại bằng một chiếc trâm cài san hô đỏ rực.
Đã ăn diện tươm tất cho buổi chiều và cho cuộc viếng thăm vừa đáng sợ, vừa ao ước lại hiếm khi xảy ra mang tên "khách khứa", bà Pawket lấy từ trong túi ra chiếc ốc vít mà đứa cháu trai đã ban tặng cho mình. Bỗng nhiên, với vẻ mặt của một nghệ sĩ đang thực hiện những động tác nhào lộn nguy hiểm vì nghệ thuật, bà kéo một chiếc ghế lại đặt trước chiếc chậu tủ đựng bát đĩa. Trèo lên chiếc ghế với biết bao nỗi bất an lộ rõ, bà Pawket rướn cánh tay gầy guộc vào trong tủ, dò dẫm trên chiếc kệ cao nhất để tìm kiếm một vật mà các ngón tay bà run rẩy chạm tới. Vượt qua bao nỗi thận trọng, bà mang được vật đó xuống mặt đất và đặt nó lên bàn bếp. Đó là một cái bát hoặc cái hũ thấp lùn, trên bề mặt chi chít những cục u lồi lõm đủ mọi hình thù kỳ dị. Những khối u lồi ấy bao quanh chiếc hũ giống như cách mà nấm mọc quanh một cái bộng cây, tạo thành những hoa văn kỳ lạ và muôn hình muôn vẻ.
Bà Pawket, với ánh mắt đang sâu thẳm dần lên, lấy từ trong túi tạp dề ra chiếc ốc vít; cẩn thận kẹp nó giữa một bên bàn tay chai sần vì lao động, tay kia bà thọc sâu vào những ngóc ngách khác và lôi ra một cục đất sét lớn được gói trong một mẩu giấy báo dính đầy dầu mỡ.
Lúc bấy giờ, một nghi thức trang nghiêm bắt đầu. Ngắt một mẩu đất sét, bà Pawket đắp nó lên chiếc hũ ở sát cạnh những khối u lồi khác; trong khi đất sét hãy còn mềm, bà ấn chiếc ốc vít vào đó, sắp xếp cái dụng cụ ấy theo một phương pháp sao cho làm nổi bật được những đặc điểm ốc vít của nó nhất có thể. Khi ấy, đôi mắt bà Pawket càng thêm tối sẫm, một vệt đỏ ửng hiện lên trên đôi má nhăn nheo; bà vã mồ hôi trán trong một thứ cảm giác thống khổ của niềm vui sáng tạo. Hệt như một người đang cử hành một nghi lễ linh thiêng tách biệt hoàn toàn với thực tại và đạt đến độ tinh xảo cơ học, bà lục lọi với sự khẩn trương tuyệt vọng trên một chiếc kệ cao hơn nữa của tủ bếp, lần này lôi ra một lọ vec-ni mạ vàng siêu nhỏ cùng với một chiếc cọ vẽ nhỏ xíu tương ứng để quét nó lên. Bà Pawket chợt nhận ra tay mình đang run lẩy bẩy và liền nghiêm khắc tự mắng mình:
"Nhìn tôi kìa! Cứ thấy cái Hũ Vạn Năng này ngày càng trở nên xinh xắn là tôi lại đâm ra phấn khích. Nếu bây giờ mà tôi đã nổi da gà thế này rồi, thì không biết đến lúc cái Hũ Vạn Năng hoàn thành hẳn thì tôi sẽ ra sao đây?"
Thế nhưng cái Hũ Vạn Năng vẫn còn cách ngày hoàn thiện một quãng rất xa, và nỗi khao khát chưa được thỏa mãn của người nghệ sĩ sáng tạo khiến lồng ngực bà Pawket nặng trĩu. Bà ngắm nghía món đồ gốm sứ đang nửa như phun trào với một hỗn hợp gồm cúc áo, ốc vít, ghim băng, móc áo, núm cửa, tất cả đều được phủ một lớp mạ vàng biến hóa kỳ ảo, và cố tưởng tượng xem cảm giác khi nó được hoàn thành sẽ ra sao. Rồi nỗi lo âu tột cùng lại ập đến—khi hoàn thành rồi, liệu cái Hũ Vạn Năng này nên được ban phát cho gia đình ngài mục sư hay—đây là một ý tưởng táo bạo mới nảy sinh—liệu có nên trao tặng nó cho vợ của Willum, bà chủ tương lai của cái gọi là biệt thự vanilla kia? Bà Pawket hoàn toàn bị dằn vặt bởi sự bất định. Bà lay mạnh vai ông chồng đang ngủ gật.
Này, nhìn cái Hũ Vạn Năng xem nào. Tôi vừa mới gắn thêm con ốc vít cuối cùng vào đấy. Trông có đẹp không cơ chứ?
Khi ông nheo mắt nhìn chiếc hũ kỳ quái đang ánh lên thứ ánh sáng vàng rực của những khối u lồi, một cảm giác vể đẹp sâu sắc rung động trong lòng ông Pawket.
"Hừm, mình ơi," ông khúc khích cười. "Cái này là tuyệt nhất từ trước đến nay đấy. Cha chả! Sao mà đẹp thế cơ chứ? Nó đánh bại cả cái chụp đèn mà mình làm bằng giấy bạc bọc kẹo ấy chứ. Giờ vấn đề là mình định tặng nó cho ai cơ chứ?"
Đem biếu cái vanilla chứ ai vào đây," bà Pawket bình tĩnh đáp.
Ông Pawket đưa tay lên dụi dụi tai; ông cứ nghĩ là mình nghe nhầm; sự tự tin tột độ, cái vẻ quả quyết bạo dạnh ấy thật đúng là của vợ ông! Bộ râu xám của ông rung lên vì tò mò.
Cho cái vanilla," người nghệ sĩ kiên quyết nhắc lại.
"Tôi cho rằng vợ của Willum sẽ chẳng đến nỗi kiêu kỳ đến mức không dám nhận một hai món quà nhỏ cho phòng khách của nó đâu. Chắc gì cô ta, khi ở xứ người ngần ấy năm, đã có nhiều cơ hội lượn lờ qua các cửa hàng để mà chọn mua đồ trang trí búp-bê đâu cơ chứ. Tôi cứ nghĩ là biết đâu cô ta lại phải biết ơn khi nhận được một vài món đồ trang trí ấy chứ."
"Đồ trang trí ư?" Ông Pawket thành kính nhấm nháp từ đó. "Đồ trang trí ư? Tôi không biết là mình có nghĩ đúng không, chứ còn nếu là tôi thì đời nào tôi nghĩ ra được cái ý tưởng ấy." Ông nhoài người qua bàn để thỏa thích ngắm nghía chiếc hũ dát vàng. "Thường thì," ông đúc kết—"thường thì phụ nữ đúng là tài thật, chẳng kém gì đọc được suy nghĩ người khác. Mới vừa chân ướt chân ráo bước vào cảnh góa bụa lập gia đình là đã nghĩ ngay đến chuyện sắm sửa đồ trang trí rồi—thế nào cũng là thứ gì đó để đặt giữa bàn cho mà xem; đằng này mình đây, người mà cô ta chưa từng giáp mặt bao giờ, lại đã chuẩn bị sẵn sàng một cái Hũ Vạn Năng cho cô ta rồi cơ chứ!"
Vài ngày sau vụ náo động do bức thư của Willum gây ra, vị kiến trúc sư đã đến. Anh ta là một thanh niên có dáng người cao gầy, mang vẻ bận rộn của một kẻ đã đúc rút toàn bộ sự tồn tại của con người thành những biểu đồ chính xác sự sống. Tuy nhiên, anh ta lại tỏ ra say sưa một cách kỳ lạ trước sự yên tĩnh và vẻ đẹp của chốn thôn quê xung quanh. Ngay vào buổi tối hôm đến nơi, anh ta đã vui vẻ an vị trong căn phòng khách của nông trại nhà Pawket, hành xử theo cách khiến bà Pawket phải trầm trồ kinh ngạc là "trông cứ như thể chưa từng sống ở mấy cái lồng chim thành phố thượng lưu đó bao giờ."
Tuy nhiên, trong mắt vợ chồng người nông dân, anh Badgely lại tỏ ra phấn khích một cách bất thường trước những hiện tượng thông thường của vũ trụ vật chất. Anh ta có thể đứng hàng giờ để phóng tầm mắt ngắm nhìn vùng đồng quê lúc bình minh mờ ảo; anh ta thường thẫn thờ tựa người vào hàng rào gần chuồng bò, đăm đăm nhìn xuống con đường đất đỏ hay đắm chìm suy tư ngắm nhìn những nét kiến trúc cổ kính của nông trại nhà Pawket. Khi ông lão nông dân lê bước chân khòng khoeo vì thấp khớp tiến lại gần và hỏi: "Thế nào rồi, mọi việc ra sao rồi cậu?", vị kiến trúc sư liền đáp:
"Ôi, thật tuyệt diệu! Thật sâu lắng! Thật có chiều sâu! Thật thuần khiết làm sao!"
Khi ông Pawket, vì sợ những tổn thương não bộ nào đó mà ông không sao chẩn đoán nổi, thấy rằng những mỹ từ ấy đang được hướng thẳng về chính ngôi nhà của mình giữa lùm cây u-líp, ông liền sánh bước đứng cạnh vị kiến trúc sư, nheo mắt đánh giá căn nhà của mình một cách khắt khe rồi nhổ nước bọt tuyên bố:
"Nó cần được lợp lại mái rồi. Đến kỳ nghỉ là tôi sẽ bắt cặp sinh đôi cạo sạch đám rêu mốc đáng ghét trên mấy tấm ván lợp đó đi; rồi biết đâu tôi lại xuôi dòng thời gian sắm sửa cho mình một cái mái tôn sang chảnh ấy chứ."
Anh Badgely sẽ lướt qua ông bằng một ánh mắt vô hồn. Anh ta vươn năm ngón tay rất dài về phía mặt tiền của ngôi nhà nông trại, lẩm bẩm: "Dĩ nhiên là không được làm mấy cái cửa sổ mái nhô ra; tôi nghĩ chúng trông hơi chướng, và phong cách đó mang hơi hướng lai căng giả tạo. Chúng ta nên cố gắng phát triển một cái gì đó thuần túy kiểu Mỹ, ông có nghĩ vậy không? Nhưng còn mấy trụ ốp tường, mấy ô cửa thì đúng là mang phong cách Doric trong sự mộc mạc thanh thoát của chúng! Còn phần phát triển hướng đông kia; có lẽ đã từng có lý do cho độ nghiêng cực đoan về phía hướng đông đó—nó đón hướng Đông khá tốt, nhưng lại mang theo một chút chấn động..."
"Chấn động ư? Tôi đoán là có đấy," ông Pawket sẽ đáp lời. "Nó bị sét đánh trúng, kéo sập đi khối thứ." Rồi ông Pawket sẽ nhớ ra rằng Willum đã dặn ông phải hết lòng giúp đỡ vị kiến trúc sư, thế nên ông sẽ ngước mắt lên trời ra điều tính toán hàng tá công việc bận rộn, nhận xét rằng: "Hay là thế này nhé, bây giờ chúng ta xuống Cedar Plains luôn nhỉ? Lảng vảng ở đó một lát. Đại loại là vạch ra toàn bộ cấu trúc của nó xem sao."
Đã có lần ông Pawket nói thêm rằng: "Nếu chẳng làm được việc gì khác, thì ít nhất cậu cũng có thể cho tôi biết cậu có muốn giữ lại cây nào trong số mấy cái cây ở đó không."
Vị kiến trúc sư đang chìm trong mộng mị bỗng quay phắt lại nhìn ông như thể vừa bị một luồng điện giật bất ngờ; anh ta tự xốc lại tinh thần để đạt đến sự tỉnh táo đến khó tin.
"Mấy cái—ờ—cây ư? Vẫn giữ lại nguyên vẹn á?"
Ông Pawket mỉm cười độ lượng. Ông quẹt một que diêm vào mông chiếc quần yếm rồi châm tẩu thuốc, vừa nhả khói vừa đáp: "Tôi đoán là cậu mới vào nghề nên còn chưa rành đúng không? Cậu không biết đấy thôi, chàng trai trẻ ạ, việc đầu tiên phải làm khi cậu định cất nhà là đốn hạ toàn bộ cây cối đi chứ? Có kẻ dùng thuốc nổ; có kẻ dùng la-mã cùng với những lời nguyền rủa—làm cách nào cũng được miễn là nhổ tận gốc mấy cái thứ đáng ghét đó lên."
Một vẻ kinh hoàng kỳ lạ thoáng quét qua khuôn mặt vị kiến trúc sư.
"Bị thần kinh rồi," ông Pawket thầm nhủ, "bị thần kinh! Mụ vợ nhà ta thế nào cũng phải tẩm bổ cho cậu ta bằng sữa bơ và nhỏ thuốc vào cà phê cho xem. Mấy kẻ ở thành phố lúc nào cũng bị stress đến mức thần kinh cả." Ông lão tiếp tục với giọng điệu của một người cha:
"Bây giờ thế này nhé, vì cậu muốn dọn dẹp sạch sẽ để chuẩn bị cho một công trình bề thế như cái vanilla, thì việc đầu tiên chúng ta làm là 'xóa sổ đám cây cối đi'. Tôi có thể kiếm cho cậu khối gã thợ lành nghề với rìu với cưa, nhưng đến khi đụng độ với đám rễ quái ác kia, thì ừ đấy, cậu thế nào cũng phải cầu viện đến thuốc nổ thôi."
Vị kiến trúc sư trầm ngâm cúi đầu. Khi cả hai bước đi trên lối mòn nhuộm màu đồng dẫn đến khu rừng tự nhiên tối sẫm với những hàng thông đen nhọn hoắt, anh ta đưa mắt nhìn ông lão nông dân đầy khó hiểu. Cuối cùng, anh ta dường như chợt lóe lên một ý tưởng và chầm chậm cất lời:
"Ông Pawket này, ngài có biết là tụi tôi—những kiến trúc sư—thường hay mơ hồ lắm không; chúng tôi rất cần phải—ờ—bàn bạc—và—ờ—hèm!—tham khảo ý kiến. Thực ra, tôi rất lấy làm quan tâm. Chính xác thì sở thích cá nhân của ngài đối với việc xây dựng một ngôi biệt thự kiểu Ý là gì vậy?"
Ông Pawket thoạt đầu có chút ngẩn người. Ông phỏng đoán rằng câu hỏi này đặt ông vào thế hơi bất lợi; dẫu vậy, không hiểu sao ông vẫn thấy mình hiểu biết khá nhiều về những ngôi biệt thự kiểu Ý. Tổng hợp lại một vài ấn tượng thu nhặt được từ câu chuyện của cặp sinh đôi, từ một bức tranh nhìn thấy trên lịch, từ bộ phim chớp nhoáng duy nhất trong đời, và từ những mô tả giàu có về việc xây dựng Lều Tạm, ông cảm thấy mình có chút ít hiểu biết về các loài kiến trúc huyền bí này. Ông không chút khiêm tốn trình bày những ý tưởng của mình.
"Tôi cho rằng"—vừa lội bì bõm qua vũng nước vừa ngẫm nghĩ—"tôi cho rằng cái ý tưởng về vanilla ấy nó hơi phức tạp một chút, phải không nào?—kiểu như thứ gì đó hoa mỹ và tráng lệ tựa như một lâu đài ấy? Dĩ nhiên là phải có hai hoặc ba cái chòi vọng lâu, rồi xung quanh bao bọc bởi hiên nhà và ban công; bên trong thì có cầu thang cẩm thạch." Ông Pawket nói thêm câu này một cách dảnh dang hệt như một kẻ quen quản lý những chi tiết lớn lao. "Những chiếc tủ đựng bát đĩa cao đặt đầy đồ bạc trong phòng ăn—một chiếc máy hát dĩa thật đẹp ở phòng khách và những bức tượng đặt trên trụ cổng."
Thấy vị kiến trúc sư tiếp thu bản phác thảo sơ bộ này với một sự tôn trọng im lặng đến vậy, ông Pawket liền được đà lấn tới và tiếp tục:
"Giấy dán tường thì tôi không chắc lắm." Ông lão nông dân rút ra một con dao nhấp lớn, vừa gọt móng tay cái vừa tiếp tục với giọng điệu có phần cao ngạo: "Tôi đoán là việc đó tùy thuộc vào mệnh lệnh của bà chủ nhà thôi. Có người chuộng màu xanh, nhưng cũng có khối kẻ chết mê chết mệt màu đỏ. Tôi đã từng thấy một ngôi nhà dán đầy hình thú chết, cá tuyết nhồi bông và vịt dính đạn khắp trên giấy dán tường trong phòng ăn; trông thượng lưu phết đấy chứ! Còn về phần sân vườn—chà, tôi nghi là Willum, vốn là kẻ cởi mở và luôn thích không gian ngoài trời, sẽ muốn có những chiếc ghế tròn vây quanh bất kỳ cái cây nào còn sót lại. Cậu biết đấy, ta có thể sơn chúng thành màu đỏ, trắng và xanh. Và có lẽ nó cũng thích một cái ao, với một con thiên nga trắng bơi qua bơi lại nữa."
Cuối cùng thì ngày đó cũng đến, khi những chiếc xe tải chở đầy công nhân nhập cư kéo đến và bắt đầu tiến hành việc san lấp mặt bằng thật nhanh chóng cùng với việc đặt nền móng tại khu Cedar Plains. Những bộ phận của hệ thống sưởi hiện đại tối tân—việc lắp đặt hệ thống này là mối quan tâm đặc biệt của kiến trúc sư, cùng vô số những chiếc bồn tắm màu trắng—tất cả những thứ đó được bày la liệt trước mắt ông Pawket đầy phấn khích, người mà trong vắng bóng của chủ nhân ngôi biệt thự dự kiến, cảm thấy mình cần phải vô cùng cảnh giác trong việc giám sát. Ngày nào ông lão cũng xuất hiện ở Cedar Plains, bốt dính đầy bùn đất, quần yếm vấy mỡ và đất sét, đưa ra những lời góp ý đầy lo âu cho vị kiến trúc sư—người tiếp nhận chúng một cách trầm ngâm, ra điều đang đưa mọi gợi ý đó vào thực thi ngay lập tức.
Cứ thế, việc xây dựng "vanilla" được tiến hành, nhưng nó tiến hành dưới sự đàm tiếu của cả một vùng nông thôn đang vô cùng phẫn nộ. "Nơi chốn hoa lệ" mà người ta từng tự tin tiên đoán dường như chẳng hề hiện hình; ngoài những khoản chi tiêu điên rồ cho hệ thống sưởi ấm, bồn tắm và việc giữ gìn vệ sinh cho thực phẩm cùng đồ giặt giũ, chẳng có mấy dấu hiệu cho thấy ngôi biệt thự này sẽ mang tầm vóc tráng lệ. Hết bất ngờ này đến bất ngờ khác không chỉ khiến những người nông dân lân cận thấy khó hiểu mà còn làm họ nổi giận. Những gã đàn ông lái xe ngang qua "vanilla của Willum" đều bĩu môi chê bai bằng những nhát roi mỉa mai; phụ nữ nhà họ thì che mặt trùm kín, im lặng rướn người về phía trước với sự tò mò đầy kinh ngạc để thầm lặng phán xét. Những gã nông dân mãn nguyện nào sở hữu "ô tô" thậm chí còn lái xe từ cách đó cả dặm để đến ngắm nghía cơ ngơi này; chúng cho xe dừng phắt lại bên vệ đường rồi từng nhóm kéo nhau qua hàng thông nhọn hoắt để tới nơi những bức tường trắng vuông vức đang từ từ mọc lên, đứng chằm chằm vào đó bằng những tràng cười ha hả trịch thượng. Giới trẻ ở Brook Center có một thói quen thời thượng là dành những buổi chiều Chủ Nhật để tụ tập xuống vùng Cedar Plains, nơi giữa những tán cây tối sẫm, chúng tìm thấy dấu vết hồng rực của hoa arbutus; nơi những trái dâu tây lấp ló trong đám cỏ xanh rậm rạp, và nơi vào những ngày thu, khi lang thang trên những gốc rạ ngọt ngào, chúng thổ lộ với nhau về những nỗi u sầu ngây thơ của những sinh vật chưa từng biết đến đau khổ.
Ngay bên rìa vùng đồng bằng, nơi con đường mòn màu nâu đỏ giao cắt với đường cao tốc, có một cái giếng cổ. Nơi đây, những thiếu niên nam nữ đang mang nặng tâm sự thường tụ tập để hẹn hò và cãi vã; tại đây, họ kéo gàu nước từ độ sâu đen ngòm lấp lánh lên, tưới nước lên những bó hoa anemone, dương xỉ và quần đùi Hà Lan đang bó chặt, uống những ngụm nước đồng quê mát rượi đến nghẹn cổ, và đùa nghịch đủ mọi trò mà tuổi trẻ vẫn thường làm khi được thả lỏng bên cạnh người đồng minh tinh tế đầy tiếng cười của mình—nước. Khi mặt trời ngày Chủ Nhật lặn xuống, đám thanh thiếu niên lại bàn tán về hiện tượng kỳ lạ của ngôi nhà mới với những bức tường đầy bí ẩn đang lấp lánh qua những cánh đồng mà trước kia chúng vẫn tự do lang thang. Chúng truyền tai nhau những lời đồn thổi đầy ám muội: "Mấy người bảo hai kẻ đó bị điên đấy; thế nên chúng mới bị đuổi cổ khỏi Ý đấy." Cặp sinh đôi, đang chơi trò dao phóng trên thảm cỏ mềm ven đường, bèn lên tiếng phản bác thẳng thừng:
"Chúng nó chẳng điên gì sất, chúng nó cũng bình thường như các người thôi."
"Thế nếu không điên thì sao chúng lại định làm sàn nhà bằng đá? Sao chúng lại tha về mấy cái hũ đá to tướng hôm qua thế? Sao chúng lại không lắp thảm cầu thang? Sao chúng lại không treo rèm cửa sổ?"
"Điên chứ lị, và chúng đã rước cái vanilla quái quỷ đó xây ngay lên chỗ tụi mình hay hái quả checkerberries, và hắn ta còn định dựng một cái chóp kiểu Dago quái dị ngay lên cái giếng này nữa chứ, cái kiểu chóp giống như tụi nó hay làm ở Ý ấy, nơi mà ai nấy toàn mặc đồ rách rưới và ăn vỏ chanh."
"Đố thằng nào cấm được tao uống nước cái giếng này nếu nó có dựng cái chóp Dago lên đấy."
"Đố bố thằng nào ngăn được tao bén mảng tới Cedar Plains nếu tao thích. Tao có quyền ngang ngửa với chúng nó chứ bộ."
"Tao sẵn sàng ném một hòn đá vào cái vanilla đó ngay bây giờ đây này. Tao chẳng thèm sợ nó. Chẳng ngán mẻ cái bọn công tử bột người Ý mặt sắt nào hết."
Cuối cùng thì một bức thư cũng được gửi đến thông báo về thời điểm dự kiến cập bến của đồ đạc trong biệt thự. Chiếc xe ngựa cọc cạch với con ngựa bạch lại dừng bánh dưới tán cây u-líp, và lần này ông Pawket với một sự nôn nóng khác thường đã chặn đầu lá thư lại. Nữ nhân viên phát thư—người lúc này đã bỏ chiếc mũ Rough Rider để thay bằng chiếc mũ beret nhung đen trang trí bằng một bông hoa hồng phồng hồng phóo đầy lúng liếng—đã cứng nhắc trao nó vào đôi bàn tay đang háo hức của ông.
Bậc làm cha như ông Pawket, dẫu bận tâm đến đâu đi nữa, cũng không thể làm ngơ trước bông hoa hồng phớt ấy; ông nhanh chóng nắm bắt được ý nghĩa của nó và đưa ra kết luận quen thuộc.
"Khi nào thì đám cưới diễn ra thế hả cô?" ông hóm hỉnh hỏi.
Sự cứng nhắc quanh khóe miệng của nữ nhân viên phát thư không hề giảm bớt khi cô ta đáp lại bằng cái kiểu né tránh mà người dân Brook Center cho là vô cùng thú vị: "Ngày sau ngày Không-bao-giờ."
Sau khi đã thành công trong việc gạt bỏ mọi câu hỏi về kế hoạch cá nhân, nữ nhân viên phát thư liền quay trở lại với đặc quyền chính đáng của một kẻ buôn chuyện, cô ta hách dịch hỏi:
"Cái Hũ Vạn Năng của bà Pawket tiến triển đến đâu rồi hả ông? Tôi vừa kiếm được đôi khúc cúc giày cho bà ấy đấy. Tốt nhất là bà ấy nên mau chóng hoàn thành nó đi; tôi nghe nói ở thị trấn có thêm tận bốn kẻ nữa đang bắt đầu làm Hũ Vạn Năng rồi kìa. Có vẻ như đang có một cuộc cạnh tranh xem ai sẽ là người đầu tiên mang được một cái Hũ Vạn Năng vào trong cái vanilla đấy."
Một vẻ sầm sì như tai họa thoáng qua khuôn mặt ông Pawket, nhưng ông vẫn đón nhận hai chiếc cúc giày với vẻ điềm tĩnh đầy trang nghiêm.
"Thứ bà ấy cần bây giờ chỉ là một chiếc khóa dây cương với vài vỏ đậu phộng nữa là đủ," ông thản nhiên giải thích. "Tôi có thể kiếm mấy thứ đó cho bà ấy dễ ợt; cặp sinh đôi dạo này cũng giúp bà ấy khối việc, đứa thì kiếm cho cái chì chìm, đứa thì kiếm cái móc với khuyên. Chẳng đời nào có kẻ nào mang hũ của chúng vào trước hũ của bà nhà tôi được đâu. Tôi khuyên là mấy người đừng có mà dại dột lên tinh thần làm gì. Có tin đồn rằng," ông Pawket nghiêm trọng bổ sung—"có tin đồn là có kẻ đang tính làm một hòn non bộ cho cái vanilla đấy. Mà nói thật nhé, tôi khuyên họ là đừng có dại. Bà chủ nhà chắc chắn sẽ muốn tự tay mình mày mò mấy thứ đó thôi. Nhưng nếu ai nấy đều ngứa ngáy muốn giúp một tay, thì sao họ không quyên góp một bộ sưu tập thật đẹp gồm mấy cái núm cửa bằng sứ trắng để viền quanh mấy lối đi trong vườn nhỉ?"
Nữ nhân viên phát thư nở một nụ cười khinh miệt; đôi mắt đen láy của cô ta hằn lên thứ cặn bã của sự cự tuyệt.
"Chà, núm cửa á!"—cô ta khinh bỉ. "Lại đi dâng hiến mấy món đồ cổ với quà lưu niệm của mình cho cái loại người đó làm gì cơ chứ? Chúng nó có biết thưởng thức đéo đâu cơ chứ! Tôi có khối việc tốt hơn để dùng mấy cái núm cửa của tôi. Hai vợ chồng nhà đó kỳ quặc lắm, chẳng biết cái quái gì sất. Chắc ông nghe tin đồn về mấy cái phòng ngủ rồi chứ?"
Ông Pawket với vẻ mặt lo âu hiện rõ trên gương mặt hiền hậu, ngước nhìn lên nữ nhân viên phát thư; ông cất chiếc mũ phớt rồi dùng nó để quạt lấy quạt để.
"Phòng ngủ á?" ông ngập ngừng hỏi. "Ý cô là cái lồng kỳ cục dùng để ngủ lộ thiên ngoài trời ấy hả?"
Nữ nhân viên phát thư cười khẩy; cô ta kiêu kỳ chỉnh lại bông hoa hồng phớt bằng một bàn tay đeo găng đầy vẻ bề trên.
"Ý tôi là tường ấy," cô ta cụt lủn đáp. "Tường trát vữa. Vâng, thưa ông, chính xác là thế đấy, và tôi biết rõ tôi đang nói gì—tường nhám, trát vữa, y như trong tầng hầm ấy. Tôi biết rõ tôi đang nói gì, bởi vì người yêu của tôi là kẻ nhận thầu công trình đó; anh ấy sắp phát điên lên vì nó rồi đấy, người yêu của tôi ấy, chuyện này đồn rùm cả cái Trung tâm lên và ai nấy đều cười chê, trêu chọc anh ấy suốt thôi... Chính mụ ta đã viết nó ra trong một bức thư có đóng cái con dấu con ong mật y hệt thế này trên phong bì đấy. 'Tôi muốn tường phòng ngủ phải là tường trát vữa nhám,' mụ ta đã viết thế đấy, 'với một tông màu vàng nhạt do anh Badgely lựa chọn. Xin hãy để anh ấy tự tay pha màu' (ghê chưa cơ chứ?) 'và trát nó thật nhám vào' (mụ ta bảo thế). 'Tôi muốn thớ vữa phải thật thô và đậm đà' (mụ ta bảo thế). 'Thô và đậm đà'!" Nữ nhân viên phát thư trợn tròn đôi mắt đầy kịch tính, lại cất tiếng hỏi: "Thế có khủng khiếp không cơ chứ?"
Ông Pawket chần chừ. Một ý niệm về sự trung thành trỗi dậy trong ông; ông cố gắng một cách yếu ớt nhằm tỏ ra ủng hộ gu thẩm mỹ của người phụ nữ xa lạ kia.
"Dĩ nhiên là, theo cái cách mà tôi nhìn nhận về mấy cái vanilla—" ông ngập ngừng mở lời.
Nhưng nữ nhân viên phát thư đã ngắt lời ông bằng một cú bặm môi sắc lẹm và đầy ác ý. "Vanilla á?" với giọng điệu đầy khinh miệt. "Vanilla á?" Cô ta quất roi thúc con ngựa bạch chồm lên lảo đảo khi gắt gỏng: "Mụ ta chẳng biết khỉ gì về mấy cái vanilla sất!" rồi dõng dạc xóc nảy xe phóng đi mất, không quên ngoái lại hét vọng lên đầy khinh bỉ: "Mụ ta chẳng biết cái quái gì cả; mụ ta chưa từng được giáo dục ngày nào; mụ ta chẳng thèm nhận thức được rằng trên đời này còn có cái gọi là giấy dán tường. 'Thô và đậm đà' chứ lị," nữ nhân viên phát thư nhếch mép cười khẩy. Cô ta ngó ngược lại qua cái bờ vai gọn gàng trẻ trung của mình, nói thêm: "Họ bảo là đồ đạc của chúng đến nơi rồi đấy. Mọi người đang tụ tập đông nghịt dưới ngã ba để săm soi kìa. May mà đống đấy không phải của tôi đấy."
Quả thực là đồ đạc đã cập bến. Bất chấp những thăng trầm của các hải trình; dẫu bị gửi gắm tồi tàn bởi một kho bãi ở Ý và bị bốc vác thô bạo tại một cảng biển nước Mỹ, thế nhưng đồ đạc cuối cùng cũng đã đến nơi. Chúng bị đổ đống ra khỏi những thùng tàu tại nhà ga Brook Center nhỏ bé. Đối với những người yêu thích nghệ thuật chạm khắc xứ Vlaanderen và Tây Ban Nha, đối với những nhà sành sỏi về tủ kính Genova và đồ khảm gỗ Ý, đối với những người nghiên cứu về các kiểu dáng và hình khối nhuốm màu thời gian, sự xuất hiện của đống đồ đạc này quả thực là một sự kiện lớn; bởi vì do một sự trớ trêu của định mệnh, trên sân ga nhỏ bé của một ngã ba vùng quê hẻo lánh lại hội tụ cả kho tàng của nhiều thế kỷ truyền thống, là những gia bảo được tôn sùng của một dòng dõi quý tộc lâu đời. Một chiếc rương khổng lồ bị vỡ một nửa lấp lánh sắc đồng Florence; một chiếc khác được đóng thùng và bọc thừng thì hé lộ tấm thảm gấm Genova đã phai màu; những chiếc chân bàn mảnh khảnh gãy rời cùng phần rìa của những chiếc cánh tủ chạm trổ chìa ra khỏi lớp vỏ bọc tả tơi. Trong tâm trí một số người, tất cả những thứ này có thể mang ý nghĩa của một thứ thơ ca nào đó; nhưng đối với đám đông tò mò tụ tập tại ngã ba, nó mang ý nghĩa của sự kỳ dị và tệ hơn thế, đó là một sự nghèo túng cố hữu và vô luân của tồn tại!
Nhân viên nhà ga chỉ cho mọi người xem một chiếc bàn mới chỉ đóng thùng một nửa đang đứng chơ vơ một mình; nó trông cũ kỹ đến khó tin và làm từ một loại gỗ mà người dân Brook Center chưa từng thấy bao giờ. Bốn chiếc chân lỏng lẻo của nó, được bọc riêng biệt từng chiếc, thon dần về phía dưới thành những đường chạm trổ hình các nữ thần phong phú và những khuôn mặt cười hoang dã của thần rừng và thần đồng cỏ—những chiếc chân bàn này bị đám đông tò mò tại ngã ba nhận xét là đã mòn vẹt tơi tả và thủng lỗ chỗ vì mọt ăn.
Rằng "Cho cái vanilla đấy," người nọ thì thầm tai người kia; nhân viên nhà ga lấy tay che miệng, cười ngả nghiêng ngả ngửa ra đằng sau vì khoái chí. "Họ bảo tất cả là từ nhà của mụ ta mang sang đấy, và đây chính là chiếc bàn ăn đấy. Cha chả! Cha chả! Cha chả! Khủng khiếp làm sao cơ chứ, toàn mấy cái thứ cổ lỗ sĩ từ thời xửa thời xưa thế này cơ chứ?"
Ông Pawket, ra điều sành sỏi bắt chước một cách vô thức vị kiến trúc sư, cúi người lên chiếc bàn săm soi nó; với một nỗi bơ vơ mơ hồ, ông lướt bàn tay lên bề mặt bị cắt gọt và băm vằm của nó—bề mặt mà hàng trăm tu sĩ từ thời Giáo hoàng Clement III từng mài giũa những con dao bồn chồn của họ.
"Tôi không tài nào hiểu nổi; tôi không thể nào hiểu nổi"—ông lão nông dân yếu ớt lắc đầu—"trừ phi là mụ ta chưa từng quen dùng thứ gì tốt hơn thế và cậu ta thì ngậm miệng im thin thít. Đúng là cái tính của Willum, cứ làm ra vẻ như mình chẳng thèm quan tâm; nó vốn luôn là đứa dễ bảo mà. Vợ tôi cho nó ăn cái gì cũng được, từ phô mai bắp cho đến thịt lợn muối; nó từ xưa đã nổi tiếng là đứa giỏi giữ hòa khí cơ mà."
Trưởng ga tàu trân trối nhìn trong im lặng khi bộ sưu tập đồ đạc mỏng manh dễ vỡ được bốc lên xe chở hàng. "Chà, tôi đoán là tôi mừng vì mình không phải là kẻ sắp làm hàng xóm với chúng đấy," anh ta đầy cảm xúc nhận xét. "Chúng nó thể nào cũng sẽ bấu víu vào ông dài dài cho mà xem, hết chuyện này đến chuyện khác; túi tiền của chúng thì cạn sạch rồi—ai nhìn vào cũng thấy rõ mười mươi."
Ông Pawket mang theo nỗi thất vọng câm lặng trèo lên xe ngựa của mình và cúi người nắm lấy dây cương. Chỉ trong chốc lát, ông nhai ngấu nghiến bằng mấy cái răng cửa trước trước khi bực dọc nhổ một bãi nước bọt xuống bồn hoa phong lữ của nhà ga, dõng dạc tuyên bố với vẻ đầy kiêu hãnh:
"Ồ, tôi đoán là cậu chẳng có lý do gì phải lo lắng đâu. Có phải chúng không có bạn bè ở cái đất nước này đâu cơ chứ. Willum đối với tôi chẳng khác nào con đẻ, đứa con ruột của tôi thì đã mất từ đời thủa nào rồi. Nếu tình hình có tồi tệ đến mức không cứu vãn được nữa thì tôi cũng chẳng biết chừng tôi sẽ xoay sở để giúp nó một tay đấy. Nào, đứng lại đó xem nào!" Ông Pawket chồm người dậy trên ghế ngồi, hiếu chiến giật lùi cỗ xe lại. "Nếu cần bất cứ thứ gì," ông nhận xét với vẻ hào sảng bậc nhất, "tôi sẽ tự mình lo liệu tất cả—chẳng mấy chốc mà tôi mua nổi cho nó một cái bàn ăn với dăm ba món đồ lặt vặt để nó ngẩng cao đầu với thiên hạ ấy chứ."
Suốt dọc đường về nhà, người bạn của Willum cứ trăn trở mãi về chuyện đó. Có một bận, khi bầy ngựa dừng lại uống nước ở chiếc máng ven đường, ông đét mạnh tay lên đùi mình một cái thật kêu và nói: "Trúng phóc rồi đấy! Vâng, thưa ông, đích thị là thế đấy!" Lúc ăn trưa, sau khi cặp sinh đôi đã rời đi, ông liền gợi ý kế hoạch của mình cho vợ; điều khiến ông vô cùng nhẹ nhõm là bà đã đón nhận ý tưởng ấy bằng chính tinh thần của ông.
"Dẫu sao thì cũng phải là một chiếc bàn ăn bằng gỗ sồi vàng," ông Pawket biện luận. "Một hai món đồ trang trí sang chảnh để chúng còn ngẩng cao đầu với thiên hạ chứ."
"Và để bịt cái miệng thiên hạ lại nữa chứ," vợ ông đồng tình. "Cái con nhỏ con gái ông chủ khách sạn ấy, chà, chưa thấy ai xấc láo bằng—nó có cái Hũ Vạn Năng mới làm được một nửa mà cứ tru tréo lên rằng nó sẽ là đứa đầu tiên tống được một cái vào cái vanilla, thế mà sau lưng thì cứ tru tréo nói xấu vợ chồng nhà người ta với đống đồ đạc kinh khủng."
"Cái Hũ Vạn Năng của mình thế nào rồi?" ông Pawket bất chợt hỏi; một sự quyết tâm cứng cỏi lóe lên trong đôi mắt ẩn dưới hàng lông mày rậm rạp.
Đáp lại, vợ ông đứng dậy. Vừa gỡ bỏ lớp lưới muỗi trắng, bà vừa trưng bày ra trước mắt một vật thể to lớn, tròn ủng được vây quanh bởi những khối u lồi, mọc đầy những cục u dát vàng—vật thể có phần dính dớp kỳ lạ này tỏa ra mùi hương thoảng giống như chuối; đó chính là cái Hũ Vạn Năng, đã hoàn thiện và được vén màn. Vợ chồng ông Pawket ngắm nghía nó trong sự im lặng đầy ngưỡng mộ. Khi họ đang mải mê chìm đắm trong việc chiêm ngưỡng sắc vàng hỗn hợp của nó, bỗng có tiếng huýt sáo lanh lảnh cùng những bước chân nhẹ nhàng vang lên, và vị kiến trúc sư xuất hiện ở ngưỡng cửa.
Đến lúc này, anh Badgely đã thực sự trở thành một thành viên thân thiết trong gia đình nông trại. Hai ông bà già rạng rỡ chào đón anh; ông Pawket hớn hở ra hiệu cho anh tiến về phía chiếc bàn, dõng dạc thông báo:
"Này cậu, nó xong xuôi rồi đấy. Muốn chê hay khen thì tùy; tôi đố cậu tìm được cái nào đẹp hơn thế này đấy."
Anh Badgely giật mình kịch tính. Anh ta diện chiếc áo sơ mi lụa trắng và bộ đồ vải flan trắng; chiếc cà-vạt màu nâu vàng tệp màu với ánh nâu rực cháy trong đôi mắt mơ màng, và trên đôi bàn chân mang bốt da bê bọc tất lụa nâu. Vợ chồng ông Pawket, dẫu đang mải mê tập trung, vẫn nhận ra rằng dẫu không còn trẻ trung thực sự, vị kiến trúc sư vẫn phảng phất thứ gì đó rất giống tuổi trẻ. Dáng người bảnh bao của anh lúc này đang cúi mình thành kính over chiếc bàn bếp trên tấm khăn trải bàn kẻ sọc đỏ trắng đang ngự trị cái hũ vàng; anh hít một hơi thật sâu.
"Cái—ờ—Hũ Vạn Năng!" anh thì thầm. Sau một hồi săm soi thật lâu và cẩn thận đối với vật thể dát vàng, anh quay sang ông Pawket.
"Thực sự mà nói—nó—nó vượt qua mọi ngôn từ miêu tả—nó quá là—ờ—thuần chất! Tôi thú nhận là chưa từng thấy cái nào tương tự như thế này ở bất cứ đâu cả. Thưa bà Pawket, tôi xin gửi lời chúc mừng chân thành đến bà."
Giờ đây người ta đang phát cuồng vì chúng," ông Pawket tự hào giải thích, "nhưng chính bà nhà tôi mới là kẻ khơi mào chiếc đầu tiên đấy. Bà ấy bắt đầu toàn bộ cơ sự này; chúng tôi trót dại nhắc đến hũ của mình với con gái ông chủ khách sạn, và giờ thì, theo như tôi thu thập được, có tận sáu cái Hũ Vạn Năng đang được khởi công ngay tại Brook Center này rồi đấy."
Anh Badgely lộ rõ vẻ xúc động sâu sắc. "Thật ư, tận sáu cái Hũ Vạn Năng cơ á? Làm tôi ngạc nhiên thật đấy. Tôi không hề nghĩ rằng cộng đồng này lại sở hữu một thứ—ờ—cảm xúc sáng tạo mạnh mẽ đến thế."
Ông lão nông dân nhìn chàng thanh niên, rồi lại nhìn vợ mình. "Kìa, nói cho cậu ấy nghe điều mình định làm đi chứ," ông ra lệnh. Tuy nhiên, bà Pawket lại bứt rứt vặn vẹo phần mép của tấm lưới muỗi trắng, thẹn thùng nói rằng bà thấy ngại quá. Ông Pawket với sự quyết đoán của đấng nam nhi liền gánh vác phần giải thích thay vợ.
Có vẻ như bà ấy đã ấp ủ ý định hoàn thành cái Hũ Vạn Năng đó cho kịp để trưng bày lên chiếc bàn giữa phòng khách trong cái vanilla," ông nói; "và giờ thì bà ấy làm tôi hứng thú đến độ tôi cũng phải nhúng tay vào cuộc. Đơn cử như vụ đồ đạc chẳng hạn..." Ông lão nhích người lại gần vị kiến trúc sư hơn, thì thầm bằng giọng điệu âm u của một bậc phụ huynh đầy lo âu: "Không phải là tôi muốn xía vào chuyện nhà người ta, nhưng tôi đã tận mắt thấy đống đồ đó rồi. Tôi đã xuống ngã ba và tận mắt mục sở thị những gì chúng có. Này nhé, chà, chẳng phải là đáng thương lắm sao, toàn bộ đống đồ đạc cổ lỗ sĩ ấy chứ?"
Anh Badgely gật đầu với một nỗi bận tâm mang sắc thái khác. "Đúng là sự cẩu thả hoàn toàn đáng vứt đi. Nhưng tôi đã sai người lên thị trấn tìm một chuyên gia cừ khôi chuyên xử lý mấy món đồ này; ngày mai cậu ta sẽ mang theo đội ngũ xuống đây. Xét cho cùng, nó chỉ là vấn đề thấu hiểu các thời kỳ lịch sử thôi, và nghệ thuật phục dựng kiểu Mỹ thì khéo léo đến mức quỷ quái."
Thế nhưng ông lão nông dân lại phất tay một cách hào sảng để gạt chàng thanh niên ra. "Thế nào cũng được; sao cũng được thôi," ông hấp tấp nói. "Cứ tống nó xuống bếp hay vứt xó gara cũng được—tôi không phải là kẻ xúi giục lãng phí đâu; nhưng nghe đây, chàng trai trẻ"—ông trân trối nhìn sâu vào mắt vị kiến trúc sư—"tôi từng quen biết gia đình nhà Willum. Tôi biết nó quen dùng những gì và nó có quyền mong đợi điều gì. Nó có mất tiền đi chăng nữa thì đó cũng chẳng phải việc của tôi, và nếu nó lấy một ả người Ý thì đó cũng chẳng phải điều gì bôi nhọ mụ ta. Theo như tôi thấy, ở Ý thì ai nấy đều nghèo túng bấn cùng cả, và có vẻ như họ đã quen với cảnh không biết gì hơn thế. Nhưng tôi từng quen biết gia đình nhà Willum. Tôi biết nó phải ngẩng cao đầu ở chính quê hương mình."
Một vệt màu phớt nhẹ thoắt ẩn thoắt hiện trên gương mặt chớm râu xám của ông Pawket. Đôi mắt bà Pawket đăm đăm nhìn chồng với vẻ đầy ngưỡng mộ. Anh Badgely cúi đầu lắng nghe một cách đầy cung kính. Ông Pawket tạo dáng đứng sát ngay bên cạnh chiếc Hũ Vạn Năng. Ông thầm thấy may mắn vì cặp sinh đôi với cái thói quen phân tích sắc sảo không có mặt ở đây khi ông dõng dạc tuyên bố:
Tôi chẳng giàu có gì cho cam—nhưng," kèm theo một tiếng ho đầy hàm ý, "tôi không phải là kẻ đứng nhìn trơ mắt để cả cái Trung tâm này chĩa ngón tay nhục nhã vào Willum và đống đồ đạc của nó. Còn cái vanilla... chà, chuyện nào đã rồi thì thôi, không tài nào cứu vãn được nữa: có vẻ như đó là thứ chúng đã tâm huyết đặt gấm vóc vào và một số kẻ thì thích ra vẻ kỳ quặc, nhưng còn đống đồ đạc kia—chà, nó không hợp, thế thôi! Willum là kiểu người phải được dùng những thứ đang thời thượng nhất—nhung lụa rồi sa tanh với vải tua rua." Ông lão nông dân nhìn vị kiến trúc sư đầy ẩn ý; ông bỗng cảm thấy mình như một kẻ từng trải phong trần; ông đứng thẳng người lên trong đôi bốt nhăn nheo, hung dữ đảo mắt nhìn quanh căn phòng bếp nhỏ và gầm lên: "Gỗ sồi vàng hoặc gỗ thích mắt chim! Tôi có ca-ta-lô đây. Không cần tiếc tiền đâu. Cứ sắm cho nó những gì nó cần. Tôi sẽ chống lưng cho cậu!"
Đó là một khoảnh khắc đầy sức nặng ý nghĩa. Vị kiến trúc sư, một con người có vô vàn sự nhạy cảm tinh tế, hoàn toàn nhận thức rõ điều đó. Bản thân anh cũng từng lo lắng về thái độ chung của cộng đồng nông thôn đối với ngôi biệt thự—mà anh thừa hiểu đã để lại sự thất vọng và tủi hổ sâu sắc trong lòng mọi người kỳ vọng. Những lời đồn đại đã bay đến tai anh rằng chòm xóm không chỉ khước từ công trình mới với lý do chung là không hợp nhãn, mà một phong trào cô lập đã nhen nhóm nhằm cản trở và phá hỏng mọi ý đồ cũng như mục đích của những cư dân trong biệt thự. Brook Center, theo như anh Badgely đã linh cảm, rất hào hứng muốn ban ơn cho vị phu nhân người Ý mới đến bằng những món quà là ống cắm ô trang trí, chụp đèn và thảm chùi chân; thế nhưng mặt khác, họ lại kiên quyết từ chối việc được ban ơn bởi những chủ nhân tương lai của ngôi nhà. Nguồn cung cấp sữa tươi và kem không thể hứa hẹn; trứng tươi hóa ra cũng cần để phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nhà; những trò nghịch ngợm đã được đám thanh niên lên kế hoạch nhằm làm nhục thêm nữa cái kẻ Willum bị cho là đang lầm than và khánh kiệt về tài chính kia. Thậm chí còn có những lời bàn tán về việc lấp kín cái giếng—nay đã được che đậy bằng một mái vòm kiểu Ý duy dáng—bằng bùn đất và đá; và một kẻ đầy gan dạ nào đó đã tiện tay nguệch ngoạc lên chiếc gàu múc nước dòng chữ: "Tụi tao không cần bất kỳ tên Dago nào ở Brook Center này hết." Tóm lại, đối với vị kiến trúc sư, bầu không khí trước mắt dường như vô cùng bất lợi cho một cuộc trở về bình yên. Giờ đây, khi đối mặt với ông lão nông dân đầy nhiệt huyết, một lối thoát dường như đang lóe lên trong đầu anh.
"Ờ—chi phí"—vị kiến trúc sư lặp lại lời của ông Pawket—"ờ—có phải ý ngài là, bên cạnh tác phẩm vô cùng quý hiếm và (hèm!) đầy ấn tượng của bà Pawket đây—cái Hũ Vạn Năng này—có phải ý ngài muốn nói rằng ngài rất đỗi hào phóng khi ngỏ ý muốn hỗ trợ cho việc—ờ—sắm sửa nội thất bên trong không?"
Ông lão nông dân vui mừng khôn xiết nhìn anh.
"Trúng phóc rồi đấy," ông gầm lên. "Cậu hiểu ý tôi lắm; cậu đúng là người tôi đang cần." Ông tạo một dáng đứng thỏa mãn đến mức ngây ngất, lại tiếp tục gầm lên: "Gỗ sồi vàng chứ còn gì nữa; chẳng có gì là quá tốt đối với kẻ như nó cả. Cứ sắm cho nó những thứ nó vẫn quen dùng ấy. Lại còn mang cái đống đồ đạc cổ lỗ sĩ kia về cơ chứ!" Ông Pawket dúi một xấp tiền giấy một đô-la đã bạc phếch vào tay vị kiến trúc sư, vừa lặp lại: "Một bộ bàn ghế gỗ sồi vàng cho phòng ăn. Tôi biết chỗ nào bán loại vừa mượt vừa bóng lộn cơ. Cứ cầm ca-ta-lô của cậu đi mà lựa chọn đi. Chi phí á! Lạy ông ngỗng vĩ đại! Tôi thèm chấp cái quỷ quái gì chuyện chi phí chứ?" Một sự cuồng nhiệt tựa như những đạo sĩ xoay tồng tọc bỗng chiếm lấy ông lão nông dân. "Gỗ sồi vàng!" ông gầm lên. "Bộ phòng khách bọc nhung đỏ." Ánh mắt ông, khi rơi xuống chiếc Hũ Vạn Năng, bỗng trở nên rạng ngời. Ông xốc lại dây quần yếm với vẻ hiên ngang ngút ngàn, lặp lại một lần nữa: "Đó là thứ nó quen dùng và những gì tốt nhất thì cũng không quá xa xỉ đối với cách mà nó được nuôi dưỡng trưởng thành."
Cuối cùng thì buổi sáng của cái ngày mà người ta mong đợi chủ nhân ngôi biệt thự trở về cũng đến, và nó đặt vị kiến trúc sư vào một tâm trạng pha trộn kỳ lạ giữa sự sợ hãi, buồn cười, hoài nghi và háo hức. Ngôi biệt thự, với phần mái ngói hòa quyện mềm mại qua những ngọn thông đen chót vót, theo anh biết, chính là những gì nó nên thế. Anh rảo bước dọc theo những lối đi uốn lượn, ánh mắt dừng lại trên những cụm cây bách ngoại nhập và những giống cây ăn quả quý hiếm, cái nhìn tán thưởng lướt qua những khung cảnh được thiết kế bởi chính nghệ thuật của anh—một nghệ thuật khéo léo đã bố trí những chiếc ghế đá trong những thung lũng nhỏ xinh xắn hoặc bên những hồ nước nơi một nàng tiên suối rêu phong phun nước tưới mát đám dương xỉ xung quanh.
Mọi thứ đều hoàn hảo như nó vốn thế. Tường của ngôi biệt thự trắng sẽ sớm được làm mềm mại bởi những dây leo non đang đâm chồi nảy lộc; các bậc thềm sở hữu những khoảng sân có mái vòm và hoa lá; những chiếc chậu đất nung lớn đựng đầy hoa keo và hoa trúc đào đan xen hài hòa với màu trắng của bậc thềm cùng sắc xanh của bầu trời thôn quê. Toàn bộ khung cảnh gần như mang đậm chất Ý—đầy nắng, duy dáng, thư thái. Vị kiến trúc sư mỉm cười mãn nguyện và biết rằng công sức của mình đã được đền đáp xứng đáng.
Thế nhưng ở bên trong—bên trong, nơi mà anh hằng mơ về sự đằm thắm—nơi mà anh khao khát nhất cảm giác của một không gian chín muồi và hài hòa? Ồ, mọi thứ thật quá ư kinh khủng, quá ư trớ trêu! Liệu họ có thể hiểu nổi không? Liệu William Folsom và người vợ người Ý này có bao giờ thấu hiểu được tại sao mọi chuyện lại là điều không thể tránh khỏi, là định mệnh không thể đảo ngược hay không? Badgely, lo lắng cắn môi dưới, lắc đầu nguầy nguậy. "Mình thật ngốc nghếch," anh lẩm bẩm; "và dẫu vậy tôi vẫn thề là mình chẳng biết còn cách nào khác. Cứ nói về mấy vụ thù hận đi! Ở đây bọn chúng kỳ quặc lắm, thực sự kỳ quặc đấy—nếu người ta làm chúng nổi giận đến mức độ đủ lớn!..."
Vị kiến trúc sư rảo bước hướng về phía nhà để xe bằng vữa lớn, trông vẫn còn khá thô ráp với những khung cửa sổ và mái ngói màu xanh; tại đây anh chạm trán với người trưởng nhóm công nhân đang bận rộn phục dựng lại đống đồ đạc khốn khổ của biệt thự. Người đàn ông mặc đồ xám lanh lợi đón lấy anh ở cửa và ngao ngán lắc đầu.
"Đừng có hỏi tôi về mấy món đồ tuyệt diệu đó!" Anh ta xua tay tuyệt vọng. "Chúng quá đỗi kiều diễm. Tôi vừa mới ngâm thơ Tasso cho cái tiểu thư bàn viết nhỏ xíu ấy nghe xong đấy. Nhưng thưa người anh em yêu quý, chúng ta không đời nào có thể lắp đặt bất kỳ món nào trong số đó trong vòng ít nhất là một tháng nữa đâu. Những thứ này tinh xảo lắm, vô giá đấy, nhưng chúng quá cổ xưa nên phải được nâng niu chăm bẵm như trẻ sơ sinh vậy. Mấy cái rương là những thứ duy nhất còn ở trong tình trạng tạm ổn, thế mà chúng lại bị mất bản lề và tôi buộc phải cho người đúc sao chép lại bộ khóa đồng xinh xắn của chúng."
Bước lên chiếc xe hơi được lót đệm sang trọng, anh Badgely ngồi phịch xuống. Anh thẫn thờ ra lệnh. Với một biểu cảm vừa bối rối vừa bất khuất, anh ngả người ra phần đệm êm ái, ngẩng lên ngắm nhìn tán lá xanh cuồn cuộn của hàng cây khi chiếc xe lao vút đi dọc theo con đường quê.
Mọi thứ đều tùy thuộc vào cô ấy—thực sự hoàn toàn tùy thuộc vào cô ấy. Nếu cô ấy là một kẻ thực thụ, cô ấy sẽ hiểu và nhập vai; còn nếu không phải..." Anh lắc đầu, vắt chân chữ ngũ này lên chân kia và rên rỉ.
Tuy nhiên, khi đoàn tàu dừng lại tại ngã ba Brook Center và William Folsom đang cười lớn vẫy vẫy chiếc mũ trên tay, anh Badgely liền thở phào nhẹ nhõm, bởi vì sát bên Folsom là một phụ nữ cao ráo, duy dáng mang tầm vóc cosmopolitan, một sinh linh với đôi mắt tối màu đầy táo bạo cùng gương mặt sắc sảo, đáng yêu của một bậc quý tộc tâm hồn—nói tóm lại, đó là hiện thân hoàn hảo của sự thấu cảm nữ tính trong những bộ cánh may đo vô cùng chuẩn mực.
"Cô ấy sẽ làm được việc," tự nhủ với bản thân. Lời chào hỏi của anh rất nhã nhặn và khoan thai, nhưng điều tất yếu là ngay khi chiếc xe vừa chồm khỏi ngã ba, anh đã bắt đầu giải thích về những gì đang nặng trĩu trong tâm trí mình. William Folsom ngả người ra sau ghế xe, đôi mắt sáng rực đắm chìm vào những thắng cảnh quen thuộc; anh khúc khích cười khi lắng nghe.
"Thưa quý cô thân mến, cô sắp nhận được sự chào đón từ chính những người dân nơi đây—những người bản xứ—tôi tự hỏi liệu mình có thể giúp cô hiểu kịp trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà chúng ta có hay không? Toàn bộ dân làng hiện đang có mặt tại biệt thự đấy—họ đều bảo tôi rằng họ sắp đến để chào đón cô—vậy nên"—anh liếc nhanh về phía Folsom—"tôi đã mời họ luôn rồi."
Chủ nhân của cái vanilla phát ra một tiếng réo gọi chiến trận nhè nhẹ. "Ôi trời ơi, nghe mê ly thật đấy! Badgely cậu bạn già ơi, tôi hoàn toàn hình dung được những nỗi thống khổ của cậu." Rồi với một ánh mắt tinh nghịch nhìn vợ: "Cô ấy hiểu mà, ơn trời cho cô ấy! Cô ấy đâu phải là thần tượng của thị trấn mình chỉ để làm cảnh đâu cơ chứ!" Folsom quay sang miêu tả lại sự hoảng hốt của vị kiến trúc sư cho vợ mình nghe.
"Xin hãy có nhã ý nhắc đến cái—ờ—Hũ Vạn Năng nhé," anh Badgely kiên quyết nhắc nhở với giọng nghiêm trọng. "Cậu từng thấy cái nào chưa? Chưa à? Thế thì cậu chẳng việc gì phải cười cợt sất." Anh tuyệt vọng bổ sung: "Chúng đang ở trỏng đấy, đang sắp xếp cái—ờ—bộ gỗ sồi vàng và (hèm!) bộ salon nhung đỏ đấy." Anh rùng mình, lặp lại: "Thật lòng đấy Billy, tình thế bắt buộc phải thế thôi. Tôi không dám từ chối. Cậu không thể hình dung nổi những người dân ở đây căm ghét một ngôi biệt thự kiểu Ý đến nhường nào đâu. Họ coi nó như một sự sỉ nhục vậy. Họ tức sôi máu lên đấy chứ. Này nhé, nếu tôi không khéo léo ứng xử thì thế nào cậu cũng rước họa thù hận rồi băng đảng Mafia cùng đủ thứ quái quỷ khác lên đầu rồi."
Bà Folsom cố gắng lĩnh hội. "Những Người Nhỏ Bé tội nghiệp!" Bà sở hữu một giọng nói tuyệt vời đầy những âm thanh xào xạc tựa chim chóc. Sau đó, bà đăm đăm nhìn vị kiến trúc sư với vẻ suy tư. "Nhưng chúng ta sẽ bảo họ là 'Quên nó đi thôi,'" bà nói thêm với chút kiêu hãnh nhỏ: "Tôi đang học đám tiếng lóng của William đấy."
Đồ ngốc đáng yêu của anh ơi, em quên mất là anh lớn lên ngay chính cái vùng này sao." Folsom trấn an vị kiến trúc sư đang tuyệt vọng, nhưng anh cười lớn không thể kiềm chế nổi. "Mấy cái cảm giác thẩm mỹ nghệ thuật trân quý của cậu ta đang nổi đóa lên kìa," anh hét lớn. "Cậu ta đang phát điên lên như một con gà ướt mưa rồi kìa."
Nhưng bà Folsom ngả người ra sau, hít những luồng không khí trong lành tươi mới. "Đây là một vùng đất xanh tươi," bà tuyên bố, "và anh có một con suối nhỏ màu nâu uốn lượn, cùng những rặng cây lớn tựa như các thánh đường. Anh có nghĩ rằng với tất cả những thứ này vây quanh mình, em sẽ cứ ngồi mãi ở phòng khách để lải nhải không dứt về cái Hũ Vạn Năng kia hay sao?"
Cả hai người đàn ông cùng bật cười và vị kiến trúc sư cúi xuống hôn lên tay bà.
Khi chiếc xe rẽ vòng qua lối đi rải vỏ sò trắng và dừng bánh cạnh khoảng sân thượng phía dưới, Folsom liền nhảy tót ra ngoài với tiếng hò reo vang dội như một đứa trẻ; anh hân hoan chạy tới trước, bởi vì ở đó đang đứng cặp vợ chồng già—những gương mặt mà trong tâm thức người con xa quê mang lại cảm giác thân thuộc như cha mẹ. Ông Pawket khẽ run rẩy; ông đứng thẳng người với chiếc cổ áo cao ngất và vạt áo đuôi tôm, ngự trị trên những bậc thềm lấp lánh. Bà Pawket, diện chiếc váy lụa đen, sát cánh ôm chặt tay ông. Cặp sinh đôi, đang oằn mình trong sự khốn khổ bức bối của những bộ đồ đi lễ Chủ Nhật, bước lên phía trước, và vì lợi ích của thứ tình cảm sướt mướt, chúng giơ ra hai bó hoa hồng phớt được buộc chặt cứng. Nữ nhân viên phát thư, đang đỏ bừng mặt trong bộ trang phục màu xanh lam rực rỡ, mang găng tay dài đến khuỷu tay và cầm một chiếc quạt lông vũ màu hồng, liền giới thiệu một anh chàng trẻ tuổi có mùi thơm phức là "người yêu của tôi".
Đứng giữa những nhóm nhỏ hàng xóm đang rình mò tò mò và phấn khích có cả ông Fripp, nhân viên trưởng ga.
"Có vẻ như bầu không khí có khá nhiều sự phấn khích nhỉ. Tụi mình đã không cùng nhau kéo ra đông đủ thế này kể từ dạo con chó dại bị bắn hạ ở nhà Galloway." Khi người đàn ông này được giới thiệu với bà Folsom, ông ta đứng thẳng người lên, nhìn bà với vẻ ngờ vực rồi nói: "Rất vui được gặp bà." Ông ta đảo đôi mắt sành sõi của kẻ từng trải qua bộ trang phục du lịch giản dị của bà rồi lùi lại để huých cùi chỏ vào nữ nhân viên phát thư và thì thầm: "Chà, tao thấy tiền mua đồ đạc hình như không được đầu tư lên người mụ ta rồi."
Nữ chủ nhân của cái vanilla đưa mắt nhìn xung quanh với niềm hạnh phúc thuần khiết. Bà rạng rỡ đón nhận mọi lời giới thiệu, ngây ngất hít hà bó hoa hồng của cặp sinh đôi, lần lượt nâng niu từng bó một lên.
"Nhưng tất cả các bạn đều tốt quá!" Giọng nói trong trẻo gợn sóng bởi sự mới mẻ và phấn khích mang lại một cảm giác rung động mãnh liệt cho sự kiện. Nữ chủ nhân của cái vanilla nắm lấy bàn tay đang đẫm mồ hôi của bà Pawket.
Được làm quen với người phụ nữ này—tựa như mẹ của Weeliam—và ông Pawket, người Mỹ gốc nông dân đầu tiên của tôi thuộc những bộ lạc lừng danh!"
Sự bấp bênh trong tiếng Anh của người phụ nữ xa lạ lập tức mang lại cho bà một chiến thắng vang dội. Cứ tưởng rằng bà sẽ líu lo tiếng Ý hệt như một gã quay đàn dạo chuyên nghiệp, thế nhưng người ta lại quây quần xung quanh nét hồn nhiên đẹp đẽ ấy hệt như cách họ vây quanh một đứa trẻ lạc đường. Jessica Folsom đắc ý liếc nhìn ánh mắt của vị kiến trúc sư, nhưng anh đã lách người sang bên cạnh cô, cúi xuống ngửi bó hoa và lẩm bẩm: "Phần tồi tệ nhất vẫn còn ở phía trước cơ."
Tuy nhiên, dáng người mảnh dẻ của bà Folsom cứ thế lướt từ người này sang người khác trong số những vị khách chào đón mình, không chút ngượng ngùng, thân thiện và đầy sức hút. Bà lập tức giúp họ trút bỏ mọi sự gượng gạo khi tuyên bố:
Chúng ta sẽ dùng trà ngay bây giờ nhé. Trên sân thượng—buổi liên hoan nhỏ của tôi! Tôi, người tìm thấy mái nhà của tổ tiên mình ngay tại vùng đất xanh tươi mới mẻ này của các bạn." Một sắc màu đáng yêu ửng lên trên gương mặt sẫm màu của bà, bà thốt lên một tràng tiếng Ý dập dờn. "Câu tiếng Dago đầu tiên mụ ta thốt ra từ lúc đặt chân đến đây đấy," ông Fripp thầm thì bình luận. Một lần nữa, ông lại lạch bạch bước tới gần nữ chủ nhân ngôi biệt thự, lớn tiếng nói:
"Tiếc cho đống đồ đạc quá nhỉ!"
Người phụ nữ mới đến chớp chớp đôi mắt long lanh với hàng lông mi dài rợp bóng nhìn ông trưởng ga. "Ái chà, những món đồ trang hoàng của Bella Fortuna, chúng đã bị—anh nói thế nào nhỉ, Weeliam?—bị trật khớp, bị đập nát bét trong chuyến hành trình vượt qua những con sóng lớn." Bà lo âu cầu cứu nhân viên trưởng ga. "Tôi sợ rằng chúng đã bị hư hại nặng nề trong cảnh đổ vỡ, nhưng"—một ánh sáng bừng lên trong đôi mắt sẫm màu đầy khẩn cầu—"nhưng chẳng lẽ trong một đất nước thực tế như các bạn, chúng ta lại không thể tìm thấy những món đồ mới hay sao?"
Bà Pawket nghe thấy thế liền vội vã huých tay chồng, và ông Pawket nhận thức được rằng thời khắc của ông đã điểm. Ông bước lên phía trước một hai bước nặng nề, lau trán rồi hắng giọng. Trong cái đầu đang ù đi của mình, ông cảm nhận được một sự kiện lớn lao, chẳng khác nào đám cưới hay đám tang. Ông thoáng thấy bà Pawket đang sốắng xắng gật đầu lia lịa và mấp máy nhại theo từng lời ông khi ông dõng dạc gầm lên:
Thế nào cũng được; sao cũng được thôi." Lại một lần nữa ông Pawket hắng giọng. Ông có cảm giác, hệt như sau này ông từng diễn tả, "giống như đang quay một chiếc cối xay ngô mà bên trong chẳng có hột ngô nào." Bất chợt, ánh mắt ông rơi vào Willum—cậu con trai của ông, giờ đây đã là một người đàn ông tràn ngập vẻ hân hoan với ánh mắt dịu dàng và vòng tay đang ôm lấy người vợ mắt đen của mình. Điều này, ông Pawket cảm thấy, chính là những gì nó nên thế. Nó mang lại cho ông sự hùng biện đột ngột.
"Tôi không biết nữa," ông nói, và ông ném một cái nhìn nghiêm nghị về phía ông Fripp, nữ nhân viên phát thư và con gái ông chủ khách sạn—"tôi không biết là có phải chúng ta đã trở nên cay nghiệt hơn một chút hay không, ngay tại cái vùng Brook Center này. Đã có một vài sự thù hằn và khối những lời ăn tiếng nói hẹp hòi—khỏi cần phải nêu đích danh ai. Thứ mà chúng ta không có chính là những cảm xúc lớn lao. Ai nấy đều ra điều ta đây lịch sự, tinh tế và tưởng rằng mình biết tuốt mọi thứ; thế nhưng hóa ra rốt cuộc thì chúng ta chẳng biết gì sất về mấy cái vanilla hay việc chúng lại có thể hóa ra đẹp đẽ đến thế này cho đến khi cái vanilla này thực sự mọc lên."
William Folsom huých cùi chỏ vào mạn sườn vị kiến trúc sư. "Hay lắm! Quá chuẩn!" anh thì thầm bằng một giọng nhỏ nhẹ.
Ông Pawket hiền từ đợi cho những tiếng bàn tán rì rầm ấy ngưng hẳn rồi mới tiếp tục: "Dẫu sao đi nữa, có vẻ như một người rất đỗi thân thiết với chúng ta"—ông dán mắt vào Willum, nhưng bất chấp ý chí của mình, ánh mắt ông lại lướt sang người phụ nữ của Willum—"một người thân thiết với chúng ta đã trở về từ chốn xứ người xa xôi và dựng lên một cái vanilla." Ông lão nông dân quay sang bà Folsom với một tràng hùng biện tuôn trào. "Kể từ khi chuyện đó xảy ra, thề có chúa tôi! Toàn bộ cuộc sống của chúng ta đã thay đổi và chúng ta hiểu biết về nước Ý nhiều hơn những gì tôi từng nghĩ; và bởi thế, liên quan đến cái ngôi nhà vanilla mới toanh này cùng với dăm ba món quà nhỏ cùng khối thứ linh tinh khác, chà, tất cả những gì tôi có thể nói là, thưa bà Folsom, chúng tôi đã làm đúng như những gì chúng tôi muốn người ta đối xử với chính mình."
Có một thứ âm thanh rất giống tiếng hoan hô cất lên khi những lời phát biểu này kết thúc. Ngay lúc đó, theo hiệu lệnh của vị kiến trúc sư, những cánh cửa chạm trổ lớn của ngôi biệt thự bật mở và nhóm người ùa vào trong.
Họ bước vào khoảng sân mát mẻ, mờ ảo với những khoảng sàn lát đá và những bậc thang được đan cài tinh tế. Bà Folsom chắp tay sung sướng trước một chiếc ghế dài bên cửa sổ rộng mở ra sườn dốc phía tây, nơi ánh mặt trời vàng óng bị xuyên thủng bởi những hàng cây đen cao vút. Nhưng Folsom, người vừa nhận được một tín hiệu đầy căng thẳng từ vị kiến trúc sư, liền vội vã tiến về phía phòng ăn (sala da mangiare), và giật phăng tấm rèm gấm Genova sang trọng của nó ra.
Nơi đó, dưới chiếc đèn chùm bằng sắt của gia tộc Medicis, ngự trị một chiếc bàn sáng bóng lấp lánh vẻ lộng lẫy của lớp vec-ni; trên bàn, như thể đang cố gắng làm dịu bớt đi thứ ánh sáng phô trương hung hăng của nó, là một dải ren Paduan kỳ diệu, vây quanh sự mới cóng thô kệch của nó là sáu chiếc ghế tự mãn mang chất liệu "gỗ sồi vàng" vô cùng rõ mồn một. Folsom vung tay lên trong sự ngạc nhiên và vui sướng biểu cảm.
Lạy chúa vĩ đại!" Giọng nói của chàng thanh niên mang một sự phấn khích tột độ. Anh cúi người xuống, thành kính dùng tay chạm vào bề mặt được đánh vec-ni bóng loáng. "Một chiếc bàn ăn hoàn toàn mới tinh—một món quà—một bộ ghế hoàn toàn chưa từng được sử dụng! Ồ, thôi nào! Thế này thì không được đâu—thật là vô lý hết chỗ nói! Chắc chắn có kẻ nào đó đang giở trò đùa cợt đây." Chàng thanh niên thoạt đầu liếc nhìn vị kiến trúc sư đầy ngờ vực, sau đó quay người lại và với ánh mắt nghiêm khắc săm soi niềm hạnh phúc đang ngượng ngùng của lão nông dân Pawket.
"Thế ra là tại ông đấy, thưa ngài," anh nói. "Nào, nhìn đây!" Folsom sải bước tới đặt bàn tay cứng cáp lên ngực ông lão. "Xốc lại tinh thần và khai mau những gì ông biết về chuyện này đi. Nhìn thẳng vào mắt tôi và thú nhận đi rằng không phải chính ông đã nhúng tay vào việc này đi nào. Không, ông đừng có mà hòng trốn sau lưng Mẹ Pawket." Ánh mắt nghiêm túc của Folsom khiến bà Pawket rơi vào trạng thái bối rối hoàn toàn. "Chắc chắn là bà ấy đã xúi giục ông rồi; bà ấy đúng là một mụ đàn bà đầy mưu mô." Folsom hào hứng tiến về phía người phụ nữ Ý mắt đen. "Jessica yêu dấu, hãy nhìn tất cả những thứ này xem. Gỗ sồi vàng đấy. Đồ đạc mua ở cửa hàng chính hiệu luôn, hỡi chúa tôi! Món quà mà ông Pawket dành cho vợ chồng chúng ta đấy."
Nữ chủ nhân của cái vanilla không hề làm phản lại niềm hy vọng mà anh Badgely đã đặt nơi bà. Tròn xoe đôi mắt đáng yêu ngắm nhìn những khối vật chất vững chãi, giàu sang trước mặt, bà uyển chuyển lướt đến bên cạnh ông lão và chộp lấy đôi bàn tay ông. Một thứ cảm giác sương mù kỳ lạ bao trùm lấy ông Pawket; ông lén lút liếc xéo sang phía nữ nhân viên phát thư với vẻ sợ sệt.
"Tất cả là dành cho tôi," giọng nói vang dội khăng khăng khẳng định. "Weeliam này là người được cưng chiều—anh ấy nghĩ rằng cả thế giới này đều là món quà dành cho mình; nhưng vị Signor Pawket tử tế này lại chỉ nghĩ đến tôi; anh ấy biết"—với một sự sắp đặt nhịp điệu chậm rãi tuyệt mỹ—"tôi sẽ cảm thấy vô cùng hứng thú và hạnh phúc biết bao khi được thấu hiểu ngay lập tức những phương thức thực tế kiểu Mỹ—và anh ấy biết rằng, với sự thấu hiểu đó, tôi phải biết trân quý và gìn giữ những món đồ đạc khốn khổ bị tàn phá—anh gọi chúng là gì ấy nhỉ?—của chính đồng bào tôi."
"Nào, nào, nào!" ông Pawket yếu ớt phản kháng.
Tuy nhiên, ông Fripp lại gật đầu ra chiều hiểu ý với nữ nhân viên phát thư. "Chà, có vẻ như mụ ta biết thừa từ đời thủa nào là đống đồ đạc đó chẳng có tích sự gì sất."
Cuối cùng, trước lời thỉnh cầu có phần tuyệt vọng của vị kiến trúc sư, tất cả bọn họ đều quay bước hướng về phòng khách (salon). Anh Badgely, với những cử chỉ điệu bộ thảm thương không nói nên lời, kéo William Folsom ra phía sau.
"Xốc lại tinh thần đi," anh thì thầm, "hãy vững vàng tâm lý vào. Tôi e là mọi chuyện còn tồi tệ hơn cả những gì tôi hằng sợ hãi đấy. Có vẻ như thực sự có tận sáu cái—chỉ là có một cái chưa hoàn thành hẳn thôi. Cuộc cạnh tranh diễn ra vô cùng căng thẳng—và tất cả chúng đều kéo đến trong lúc tôi vắng mặt. Cậu bạn già ơi, đỡ tôi lấy cái! Tôi sắp gục đến nơi rồi đây!"
Mr. Folsom, với sự quan tâm thích đáng, choàng tay ôm lấy người bạn của mình. Cả hai cùng nhau chuẩn bị tinh thần để đối mặt với mọi cú sốc. Khi cuối cùng họ cũng ngước mắt lên thì chỉ biết đứng sững sờ vì kinh ngạc và thán phục. Nhìn qua vai của nhóm người đứng trước, họ có thể nhìn thấu vào bên trong phòng khách. Nó được trang bị một chiếc ghế sofa và sáu chiếc ghế bọc nhung màu đỏ rực. Ở đó cũng có một chiếc bàn giữa trải tấm vải nhung đỏ. Trên chiếc bàn đó, mỗi chiếc đều được buộc một tấm danh thiếp thắt nơ ruy-băng ghi tên người tạo ra nó, sáu chiếc "Hũ Vạn Năng" bằng vàng được xếp hàng ngay ngắn trong vẻ huy hoàng vững chãi.