Lời mỉa mai của người mẹ đã chạm đến tự ái của Gian Maria. Hắn bật dậy khỏi chiếc ghế công tước, bước xuống khỏi bệ cao, trong lòng hừng hực một cơn cuồng nộ khiến hắn không thể ngồi yên dù chỉ một giây.
“Tiếng lừa hí sao?” Hắn lẩm bẩm, mắt nhìn chằm chằm vào Caterina. Rồi hắn bật ra tiếng cười gằn cay nghiệt. “Này Nữ chúa, xương hàm lừa từng là thứ vũ khí tàn sát kinh hoàng trong quá khứ, và biết đâu nó sẽ lại làm nên chuyện. Cứ kiên nhẫn một chút, rồi bà sẽ được chứng kiến.” Ngay sau đó, với vẻ mặt xảo quyệt hơn, hắn quay sang bốn vị thần tử đang im lặng: “Các người nghe thấy rồi đấy,” hắn cất tiếng, “Nào, các người nói xem ta nên trừng trị kẻ phản bội này thế nào?” Hắn dừng lại vài giây chờ phản hồi, và việc không ai lên tiếng khiến hắn thêm phần tức giận. “Sao thế, các người không có kế sách gì cho ta ư?” Hắn hằn học hỏi.
“Thần tưởng rằng,” Lodi cứng cỏi lên tiếng, “đây không phải là việc mà Điện hạ cần đến lời khuyên. Ban đầu Điện hạ cho rằng Lãnh chúa Aquila là kẻ phản bội, nhưng qua những gì tất cả chúng ta vừa nghe, thiết nghĩ Điện hạ đã thấy rõ ngài ấy hoàn toàn trong sạch.”
“Ta phải thấy thế sao?” Công tước văng vẳng đáp trả, dừng bước và đăm đăm nhìn Fabrizio bằng đôi mắt lạnh lẽo như mắt rắn. “Messer da Lodi, lòng trung thành của ông dạo này có vẻ bắt đầu lay chuyển rồi đấy. Dù nhờ ơn Chúa và các thánh quan thầy, ta vốn là một quân vương nhân từ, đôi khi quá đỗi khoan hồng, nhưng ta khuyên ông đừng thử thách sự bao dung đó quá đà. Dù sao thì ta cũng chỉ là một con người.”
Hắn quay đi trước thái độ không chút sợ hãi của vị đại thần lão thành, hướng ánh mắt về phía những gương mặt đang hoang mang của những người còn lại.
“Sự im lặng của các người chứng tỏ trong chuyện này, phán đoán của các người cũng giống như ta. Và các người làm thế là khôn ngoan, bởi trong hoàn cảnh này chỉ có một cách giải quyết duy nhất. Hôm nay, người em họ của ta đã thốt ra những lời mà chưa một ai dám nói trước mặt một quân vương mà còn sống sót. Ta cũng sẽ không ngoại lệ cho trường hợp này. Cái đầu của Lãnh chúa Aquila phải trả giá cho sự xấc xược đó.”
“Con trai ta!” Caterina thốt lên một tiếng kêu kinh hoàng. Gian Maria quay lại nhìn bà, mặt nổi bộc những mảng tím tái vì tức giận.
“Ta đã quyết rồi,” hắn gầm lên. “Ta sẽ không ngủ cho đến khi nó chết.”
“Vậy thì có khi con sẽ chẳng bao giờ tỉnh lại nữa đâu,” bà đáp trả. Và mở đầu bằng lời cảnh cáo đó, bà trút xuống đầu hắn những lời chỉ trích gay gắt nhất mà hắn từng phải nghe. Bằng những từ ngữ nhạo báng và cay nghiệt, bà cố làm cho hắn hiểu ra sự điên rồ trong ý định của mình. Hắn đã chán làm chủ đất Babbiano rồi sao? Nếu đúng vậy, bà bảo hắn cứ việc ngồi chờ Caesar Borgia tới. Hắn không cần phải tự đẩy nhanh đà sụp đổ bằng một hành động chắc chắn sẽ dẫn đến nổi dậy, khi dân chúng đứng lên trả thù cho vị anh hùng trong lòng họ.
“Bà chỉ càng cho ta thêm lý do mà thôi,” hắn bướng bỉnh đáp. “Trong Công quốc của ta không có chỗ cho một kẻ mà nếu ta muốn lấy mạng, dân chúng của chính ta lại đòi đứng lên trả thù cho nó.”
“Vậy thì hãy trục xuất hắn khỏi lãnh địa của con,” bà dồn ép. “Hãy đày hắn đi, rồi mọi chuyện sẽ êm đẹp. Nhưng nếu con giết hắn, ta e là tính mạng của con cũng chẳng giữ nổi được lấy một ngày.”
Lời khuyên này rất thỏa đáng, và cuối cùng họ cũng thuyết phục được hắn chấp thuận. Tuy nhiên, điều đó chỉ đạt được sau biết bao lời van xin của các thần tử, cùng sự miệt thị cay đắng và những lời tiên đoán của Caterina về số phận thảm khốc đang chờ đón hắn nếu hắn dám đụng đến cọng tóc của người được dân chúng yêu mến. Cuối cùng, dù cực kỳ miễn cưỡng, hắn cay đắng đồng ý rằng việc trục xuất người em họ là đủ. Hắn đưa ra lời hứa trong sự tức bực và tiếc nuối vô cùng, bởi lòng đố kỵ của hắn dữ dội đến mức chẳng gì ngoài cái chết của Francesco mới có thể làm hắn hả giận. Chắc chắn rằng nếu không có nỗi sợ hãi về hậu quả mà người mẹ đã gieo vào lòng, hắn đã chẳng đời nào chịu hài lòng với việc chỉ đày ải Bá tước Aquila.
Hắn sai người gọi Martino đến, lệnh cho y trả lại kiếm cho Bá tước, rồi giao thông điệp lưu tày cho Fabrizio da Lodi, chỉ thị ông thông báo cho Francesco rằng ngài có hai mươi tư giờ để rời khỏi toàn bộ lãnh địa của Gian Maria Sforza.
Xong xuôi mọi việc—với một thái độ vô cùng gượng gạo—Công tước quay ngoắt đi. Với gương mặt hầm hầm tức giận, hắn rời khỏi phòng triều và đi một mình về phòng riêng.
Vui mừng khôn xiết, Fabrizio da Lodi vội vã đi thực hiện nhiệm vụ. Ông đã truyền đạt mệnh lệnh kèm theo vài lời nhắn nhủ riêng mà nếu Gian Maria biết được thì ông chắc chắn sẽ bị mất đầu. Thực ra, ông đã nhân cơ hội này một lần nữa dâng ngai vàng Babbiano cho Francesco.
“Thời cơ đã rất chín mùi rồi,” ông khẩn khoản nói với Bá tước, “và dân chúng yêu mến ngài đến mức chưa một vị quân vương nào từng được yêu mến đến thế. Thần van xin ngài chính là vì lợi ích của họ. Ngài là niềm hy vọng duy nhất của họ. Ngài không thể đứng lên vì họ sao?”
Nếu Francesco có chút ngập ngừng trong giây lát, thì đó là vì cách thức mà chiếc vương miện được dâng lên, chứ không phải vì sự hấp dẫn của bản thân lời đề nghị. Đã có một lần—vào đêm nọ tại Sant' Angelo—ngài từng đối mặt với cám dỗ và trong khoảnh khắc đã lắng nghe tiếng gọi quyến rũ của quyền lực. Nhưng bây giờ thì không. Ngài dành một thoáng suy nghĩ cho những người dân đã gửi trọn niềm tin và dành cho ngài tình cảm sâu sắc đến thế, những người mà ngài luôn cầu chúc những điều tốt đẹp nhất và sẵn lòng phụng sự dưới bất kỳ vai trò nào ngoại trừ vương quyền. Ngài lắc đầu, mỉm cười tiếc nuối rồi từ chối lời đề nghị.
“Hãy kiên nhẫn, người bạn già,” ngài nói thêm. “Tôi không có tố chất để làm một vị quân vương tốt như ông tưởng đâu. Đó là một gông cùm mà tôi không đời nào tự bán mình vào. Fabrizio à, tôi hợp với cuộc sống của một con người tự do hơn—một cuộc sống không bị gò bó bởi các cố vấn và không phụ thuộc vào sự phán xét của đám đông.”
Gương mặt Fabrizio chùng xuống đầy buồn bã. Ông thở dài ngao quán, nhưng vì biết rằng lưu lại quá lâu bên một kẻ bị Công tước xem là phản nghịch sẽ không tốt cho bản thân, ông không thể nán lại để tiếp tục thuyết phục—dù ông thừa hiểu mọi nỗ lực cuối cùng cũng sẽ vô ích.
“Sự cứu rỗi cho người dân Babbiano,” ông thở dài lẩm bẩm, “cũng chính là sự cứu rỗi cho Đức ngài, bởi nếu ngài chọn con đường thần thỉnh cầu, ngài đã không phải chịu cảnh lưu tày.”
“Chà, lệnh trục xuất này lại hợp ý tôi lắm đấy chứ,” Francesco đáp lại. “Tôi đã nhàn rỗi quá lâu rồi, và khát khao bôn tẩu lại đang cuộn chảy trong huyết quản. Tôi sẽ đi ngao du thiên hạ một lần nữa, và khi đã mệt mỏi với cuộc đời phiêu bạt, tôi có thể lui về vùng đất Aquila của mình. Ở góc nhỏ xứ Tuscany ấy, nơi quá khiêm nhường để lọt vào mắt xanh của những kẻ chinh phạt, sẽ chẳng ai quấy rầy và tôi sẽ được thơi thả. Bạn tôi ơi, sau đêm nay, Babbiano sẽ không còn thấy bóng dáng tôi nữa. Khi tôi đi rồi và dân chúng nhận ra họ không thể có được điều mình muốn, có lẽ họ sẽ đành hài lòng với những gì mình đang có.” Ngài xua tay về phía cánh cửa dẫn sang phòng triều công tước. Nói rồi, ngài từ biệt người bạn già, tay cầm thanh kiếm và dao găm mà Đại úy Armstadt vừa trả lại, nhanh bước trở về dãy nhà phía bắc của cung điện, nơi ngài lưu trú.
Tại phòng ngoài, ngài cho lui những người gia nhân vốn thuộc hạ cấp của Công tước, rồi bảo hai người tùng sự gốc Tuscany của mình là Zaccaria và Lanciotto thu xếp hành lý, chuẩn bị khởi hành trong vòng một giờ tới.
Ngài không phải kẻ hèn nhát, nhưng ngài cũng chẳng muốn chết sớm nếu có thể tránh được một cách danh chính ngôn thuận. Cuộc đời vẫn còn nhiều điều tươi đẹp dành cho Francesco del Falco, và điều đó thúc giục ngài phải nhanh chân, bởi ngài quá hiểu những thủ đoạn bất chấp của người em họ. Ngài biết Gian Maria bị ép phải thả ngài đi vì lý lẽ của người mẹ, và ngài đủ tinh khôn để lo sợ rằng nếu ngài còn nán lại, hắn có thể sẽ đổi ý, rồi thẳng tay trừ khử ngài ngay lập tức mà chẳng cần xin ý kiến ai hay lo ngại hậu quả.
Trong khi Lanciotto bận rộn thu dọn ở phòng ngoài, Bá tước bước vào phòng ngủ cùng Zaccaria để thay trang phục phù hợp cho chuyến đi. Nhưng ngài vừa mới bắt đầu thì Fanfulla degli Arcipreti xuất hiện, do Lanciotto dẫn vào. Gương mặt Francesco rạng rỡ khi thấy bạn mình, ngài đưa tay ra đón chào.
“Chuyện gì vừa xảy ra thế?” Chàng công tử trẻ tuổi thốt lên, nhưng câu hỏi tiếp theo lại cho thấy anh đã biết tống khứ mọi chuyện, bởi Fabrizio da Lodi đã kể lại toàn bộ sự việc cho anh nghe. Anh ngồi xuống giường, hoàn toàn ngó lơ sự có mặt của Zaccaria—người mà anh biết rõ là rất mực trung thành—và cố thuyết phục Bá tước điều mà Fabrizio đã thất bại. Nhưng Paolo đã ngắt lời anh trước khi anh kịp đi quá xa.
“Thôi ngay đi,” ngài nói, và dù thốt ra bằng một tiếng cười, giọng điệu của ngài vẫn đĩnh đạc kiên quyết. “Tôi là một hiệp sĩ giang hồ chứ không phải một quân vương, và tôi sẽ không biến mình thành kẻ khác đâu. Làm vậy chẳng khác nào biến một người tự do thành nô lệ, và nếu anh thực sự thương tôi, Fanfulla, thì đừng nhắc lại chuyện này nữa. Anh nghĩ tôi đang đau buồn, sụp đổ trước viễn cảnh bị đuổi đi sao? Ôi anh bạn trẻ, máu trong người tôi đang chảy rần rật từ lúc nghe bản án đấy chứ! Nó giải thoát tôi khỏi Babbiano vào cái thời điểm mà đáng lẽ ra bổn phận—việc đáp lại tình cảm của dân chúng—có thể đã giữ chân tôi ở lại đây, và nó cho tôi sự tự do để ra đi, Fanfulla thân mến, để tìm kiếm những cuộc phêu lưu do chính tôi lựa chọn.” Ngài dang rộng hai tay, bật cười sảng khoái để lộ hàm răng trắng bóng.
Fanfulla nhìn ngài, bị lây nhiễm bởi niềm vui phấn khích đó.
“Thôi đúng rồi, thưa Đức ngài,” anh công nhận, “ngài là một chú chim quá kiêu hãnh để bị nhốt trong lồng. Nhưng còn việc làm hiệp sĩ lang thang…” Anh ngập ngừng, đưa hai tay ra tỏ vẻ phản đối. “Thời nay làm gì còn rồng giữ công chúa nữa đâu.”
“Thật tiếc là không. Nhưng người Venice đang đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh, và họ sẽ có việc cho đôi tay này của tôi. Tôi chẳng thiếu bạn bè ở đó đâu.”
Fanfulla thở dài.
“Vậy là chúng tôi mất ngài thật sao. Cánh tay đắc lực nhất của Babbiano lại phải rời bỏ chúng tôi trong giờ phút gian nguy, bị xua đuổi bởi gã Công tước thô bạo đó. Thề có hương hồn tôi, Ser Francesco, tôi ước gì có thể đi cùng ngài. Ở lại đây chẳng có việc gì để làm cả.”
Francesco dừng tay khi đang xỏ bốt, ngước mắt nhìn bạn mình một lúc.
“Nếu anh muốn, Fanfulla, tôi rất đỗi vui mừng khi có anh đồng hành.”
Và thế là ý nghĩ đó thực sự xâm chiếm tâm trí Fanfulla, dù ban đầu lời nói của anh chỉ mang tính bốc đồng. Nhưng đã được Francesco mời gọi, tại sao lại không cơ chứ?
Và thế là, vào canh ba của một đêm tháng Năm ấm áp, một đoàn gồm bốn người cưỡi ngựa và hai con lừa chở đồ đã rời khỏi Babbiano, đi theo con đường dẫn đến Vinamare, rồi từ đó tiến vào lãnh địa Urbino. Những người cưỡi ngựa ấy là Bá tước Aquila và Fanfulla degli Arcipreti, theo sau là Lanciotto dắt con lừa mang vũ khí của hai vị hiệp sĩ, cùng Zaccaria dắt con lừa còn lại chở hành lý chung.
Họ cưỡi ngựa suốt đêm dưới những vì sao, và tiếp tục đi cho đến khoảng ba giờ sau khi mặt trời mọc, khi họ dừng chân tại một thung lũng giữa các dãy núi cách không xa Fabriano. Họ buộc ngựa trong một bụi nguyệt quế yên bình và bóng dâu tằm che mát, ngay dưới chân một triền đồi trồng đầy những cây ô liu xám xịt, sần sùi và cong queo như những người già tàn tật, bên cạnh dòng sông Esino ở một đoạn hẹp đến mức một người nhanh nhẹn có thể nhảy qua. Tại đây, họ trải áo khoác ra, Zaccaria dọn đồ ăn thức uống, dâng lên họ một bữa ăn đơn sơ gồm bánh mì, rượu vang và gà quay—thứ mà lúc này đối với cái bụng đói của họ còn hấp dẫn hơn cả một yến tiệc sang trọng. Sau khi ăn xong, họ nằm xuống bên bờ suối, trò chuyện vui vẻ để giết thời gian cho đến khi chìm vào giấc ngủ. Họ nghỉ ngơi qua cái nóng oi ả của buổi trưa, và khi tỉnh dậy vào khoảng ba giờ chiều, Bá tước đứng dậy, bước vài mươi bước dọc theo dòng suối đến một nơi nước đổ vào một hồ nước nhỏ—một mặt nước sâu và xanh ngắt như khoảng trời không mây mà nó phản chiếu. Tại đây, ngài trút bỏ quần áo và lao mình xuống nước, để rồi một lúc sau ngoi lên, tinh thần và cơ thể đều tràn đầy sức sống mới.
Khi Fanfulla thức dậy, anh thấy một bóng hình đang tiến về phía mình, một vóc dáng uyển chuyển và vạm vỡ như một vị thần rừng, nước ánh lên trên làn da trắng như ngà và lấp lánh trên mái tóc đen nhánh mỗi khi ánh nắng chiếu vào.
“Nói cho tôi nghe xem, Fanfulla, trên đời này có ai đồi trụy đến mức thà chọn chiếc vương miện công tước thay vì sự tự do này không?”
Và người cận thần, khi nhìn thấy vẻ rạng rỡ của Francesco, có lẽ cuối cùng cũng hiểu được tham vọng quyền lực kia tầm thường đến nhường nào khi nó có thể dụ dỗ một con người rời bỏ sự tự do thần thánh cùng những niềm vui thuần khiết, tràn ngập tâm hồn mà nó mang lại. Suy nghĩ bắt đầu cuốn theo chiều hướng đó, họ vừa trò chuyện vừa nhìn Bá tước khoác lại trang phục—chiếc quần bó màu đỏ, đôi bốt da thô cao đến đầu gối, và chiếc áo giáp độn bông bằng vải thô màu nâu, nổi tiếng là đao thương bất nhập. Cuối cùng, ngài đứng dậy thắt chiếc thắt lưng bằng thép rèn, phía sau hông giắt một chiếc dao găm to bản và dài, vũ khí duy nhất ngài mang theo.
Theo lệnh ngài, ngựa được thắng yên và hàng hóa lại được chất lên lưng lừa. Lanciotto giữ bàn đạp cho ngài bước lên, Zaccaria cũng làm điều tương tự cho Fanfulla, và ngay sau đó họ phi nước kiệu rời khỏi bụi cây ngát hương để tiến vào thảm cỏ êm ái của những đồng cỏ xanh bao la. Họ băng qua sông ở một đoạn nước mở rộng, chiều sâu chỉ vừa chạm khớp chân ngựa; rồi ngoặt về hướng đông, họ rời xa những ngọn đồi chừng nửa dặm cho đến khi ra đến đường lớn. Tại đây, họ lại rẽ về hướng bắc, thẳng tiến về phía Cagli.
Khi tiếng chuông nhà thờ vang lên báo giờ cầu nguyện Ave Maria, đoàn người dừng lại trước Palazzo Valdicampo, nơi hai đêm trước Gian Maria từng được tiếp đón. Giờ đây, cánh cổng của nó lại rộng mở để đón chào vị Bá tước Aquila lừng lẫy và hiển hách, người được Messer Valdicampo kính trọng không kém gì gã em họ quyền thế của ngài. Các phòng ở được chuẩn bị cho ngài và Fanfulla; người tùng sự được lệnh đến hầu hạ; trang phục mới được sửa sang sẵn sàng, và một bữa tối sang trọng được sửa soạn để vinh danh Francesco. Thái độ của Valdicampo hào hào cũng không hề giảm đi khi biết rằng Francesco đang bị thất sủng tại triều đình Babbiano và bị trục xuất khỏi lãnh địa của Công tước Gian Maria. Ông bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc trước một tai họa bất ngờ như vậy và khéo léo không đưa ra bất kỳ bình luận nào về sự việc.
Tuy nhiên về sau, trong bữa ăn tối, khi những ly rượu hảo hạng đã làm giảm bớt sự dè dặt, ông đã tự cho phép mình nói về những hành vi của Gian Maria bằng những từ ngữ chẳng mấy gì làm khen ngợi.
“Ngay tại đây, trong ngôi nhà này của tôi,” ông kể với họ, “hắn đã thực hiện một hành vi tàn bạo đối với một kẻ tội nghiệp bất hạnh, một hành vi mà có lẽ tôi sẽ phải gánh trách nhiệm—bởi sự việc xảy ra ngay dưới mái nhà của tôi, dù tôi hoàn toàn không hay biết gì.”
Được Paolo gạn hỏi thêm, ông mới tiết lộ rằng kẻ bất hạnh được nhắc đến chính là Peppe, gã hề của Urbino. Nghe đến đó, ánh mắt Paolo trở nên chăm chú hơn. Ký ức về cuộc gặp gỡ với gã hề và người cô chủ của hắn trong rừng một tháng trước bất giác hiện lên trong tâm trí ngài, và ngài nhận ra mình có thể đoán chính xác nguồn gốc thông tin mà gã em họ đã dùng để bắt giữ và đày ải ngài.
“Hành vi tàn bạo đó là gì vậy?” Ngài truy hỏi.
“Từ những gì chính Peppe kể lại, có vẻ như gã hề nắm giữ một bí mật mà Gian Maria muốn biết, nhưng Peppe lại bị ràng buộc bởi lời thề phải giữ kín. Gian Maria đã cho người lén lút bắt giữ và áp giải gã từ Urbino về đây. Lũ tay sai của hắn đưa gã đến đây, và để ép gã khai ra, Công tước đã dựng ngay trong phòng ngủ của mình một dụng cụ tra tấn kéo giãn khớp xương, và việc đó đã đạt được kết quả hắn muốn.”
Gương mặt Bá tước đanh lại vì tức giận. “Đồ hèn hạ!” Ngài lẩm bẩm. “Đồ đê tiện vô liêm xỉ!”
“Nhưng xin Bá tước hãy nghĩ lại,” Valdicampo thốt lên, “Peppe tội nghiệp đó là một sinh linh yếu ớt và dị dạng, không có sức vóc của một người bình thường, xin ngài đừng phán xét gã quá khắc nghiệt.”
“Tôi không nói về gã,” Francesco đáp, “mà là về tên em họ của tôi, gã bạo chúa hèn hạ Gian Maria Sforza. Nói cho tôi biết, Messer Valdicampo—gã Peppe đó giờ ra sao rồi?”
“Gã vẫn ở đây. Tôi đã cho người chăm sóc gã, và tình trạng của gã đã cải thiện nhiều. Chẳng bao lâu nữa gã sẽ hồi phục, nhưng trong vài ngày tới hai cánh tay gã vẫn gần như không thể cử động được. Chúng gần như đã bị xé rời khỏi cơ thể gã.”
Khi bữa ăn kết thúc, Francesco ngỏ ý nhờ chủ nhà dẫn ngài đến phòng của Peppe. Valdicampo đồng ý, để Fanfulla ở lại trò chuyện với các phu nhân trong gia đình, rồi dẫn Bá tước đến căn phòng nơi gã gù tàn tật tội nghiệp đang nằm trên giường, được một người phụ nữ trong gia nhân của Valdicampo chăm sóc.
“Có khách đến thăm ngươi này, Ser Peppe,” vị ngài lão thành lên tiếng, đặt cây nến xuống bàn cạnh giường. Gã hề quay cái đầu lớn về phía người mới vào, đôi mắt buồn rượi tìm kiếm gương mặt vị khách. Khi nhìn thấy ngài, một vẻ hoảng sợ dâng lên trên nét mặt gã.
“Đức ngài,” gã gào lên, gồng mình ngồi dậy, “Đức ngài cao quý, nhân từ, xin hãy rủ lòng thương tôi. Tôi chỉ muốn tự cắt đứt cái lưỡi hèn nhát này đi. Nhưng nếu ngài biết tôi đã phải chịu đựng những đau đớn thế nào, và họ đã dùng hình phạt tàn khốc ra sao để bắt tôi phản bội, có lẽ chính ngài cũng sẽ rủ lòng thương hại tôi.”
“Chà, ta thương ngươi thật mà,” Francesco nhẹ nhàng đáp. “Thực ra, nếu ta biết trước lời thề đó mang lại hậu quả thế này cho ngươi, ta đã chẳng bắt ngươi phải thề.”
Nỗi sợ hãi trên mặt Peppe nhường chỗ cho sự ngỡ ngàng.
“Và ngài tha thứ cho tôi sao, Đức ngài?” Gã kêu lên. “Khi ngài bước vào, tôi đã sợ rằng ngài đến để trừng phạt tôi vì những sai lầm tôi gây ra khi khai báo. Nhưng nếu ngài tha thứ cho tôi, có lẽ Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho tôi, và tôi sẽ không bị đày xuống địa ngục. Điều đó thì tiếc quá, bởi thưa ngài, tôi biết làm gì dưới địa ngục cơ chứ?”
“Nhiễu hại những đau đớn của Gian Maria chứ sao,” Francesco đáp bằng một tiếng cười.
“Điều đó thì đáng để bị thiêu rụi đấy chứ,” Peppe trầm ngâm, đưa một bàn tay ra với cổ tay sưng tấy, chằng chịt vết thương—bằng chứng cho sự tra tấn dã mạn gã đã trải qua. Nhìn thấy cảnh đó, Bá tước thốt lên một tiếng giận dữ phẫn nộ, rồi vội vàng hỏi thăm tình hình của gã hề tội nghiệp.
“Bây giờ thì không còn tệ lắm đâu,” Peppe đáp, “và chỉ vì Messer Valdicampo khăng khăng bắt tôi nằm yên nên tôi mới phải ở trên giường thôi. Đúng là tôi khó dùng hai tay, nhưng chúng đang khá lên rồi. Ngày mai tôi sẽ dậy được, và tôi hy vọng sẽ lên đường về Urbino, nơi người cô chủ kính yêu của tôi chắc hẳn đang lo lắng tột cùng vì sự mất tích của tôi, bởi cô ấy là một phu nhân rất mực dịu dàng và nhân hậu.”
Quyết định này của Peppe khiến Bá tước ngỏ ý muốn đưa gã cùng về Urbino vào ngày mai, vì chính ngài cũng sẽ đi theo hướng đó—một lời đề nghị mà gã hề tiếp nhận không chút ngần ngừ cùng sự biết ơn sâu sắc.