Giấc ngủ không sao đến được. Nỗi trằn trọc ấy chẳng phải vì tôi lấy làm kiêu hãnh về những cuộc phiêu lưu của mình hay phấn khích vì từng bôn ba ra đến tận Trung Hoa rộng lớn, rồi đâm ra coi thường Bartel Sperling—kẻ tự xưng là “nhà thám hiểm” và luôn nhìn chúng tôi bằng nửa con mắt chỉ vì hắn từng đặt chân tới Viên một lần và là đứa trẻ duy nhất ở Eseldorf từng có một chuyến đi như thế để mục sở thị những kỳ quan của thế giới. Vào lúc khác, điều đó có lẽ đã khiến tôi thao thức, nhưng bây giờ thì không hề ảnh hưởng gì đến tôi nữa. Không, tâm trí tôi ngập tràn hình bóng Nikolaus; mọi suy nghĩ của tôi chỉ hướng về cậu ấy, về những ngày tháng tươi đẹp chúng tôi từng cùng nhau vui đùa, chạy nhảy trong rừng râm, ngoài đồng nội, bên dòng sông suốt những buổi hè dài đằng đẵng, rồi cùng nhau trượt băng vào mùa đông khi cha mẹ tưởng rằng chúng tôi đang ngồi ở trường học. Thế mà giờ đây, cậu ấy sắp sửa bước khỏi cuộc đời non trẻ này, những mùa hè và mùa đông rồi sẽ đến rồi đi, chúng tôi sẽ lại lang thang nô đùa như trước, nhưng chỗ của cậu ấy sẽ bỏ trống; chúng tôi sẽ chẳng còn được gặp lại cậu nữa. Ngày mai, cậu sẽ chẳng mảy may ngờ vực gì, vẫn sẽ hồn nhiên như mọi khi, và chắc tôi sẽ phải bàng hoàng biết mấy khi nghe tiếng cười của cậu, khi thấy cậu làm những việc nhẹ nhàng, vô tư lọi, bởi trong mắt tôi, cậu đã là một thây ma với đôi bàn tay sáp nguội ngắt và đôi mắt đục ngầu, và tôi sẽ chỉ nhìn thấy tấm vải liệm quanh khuôn mặt ấy; rồi ngày mốt cậu vẫn chẳng hề hay biết, và ngày kìa cũng thế, trong khi quỹ thời gian ngắn ngủi của cậu đang cạn kiệt đi từng phút và điều khủng khiếp kia cứ đến gần hơn, số phận đang siết chặt lấy cậu từng ngày mà chẳng một ai hay biết ngoài Seppi và tôi. Mười hai ngày—chỉ vỏn vẹn mười hai ngày. Thật khủng khiếp biết bao khi nghĩ đến điều đó. Tôi nhận ra rằng trong tâm trí, tôi không còn gọi những cái tên quen thuộc như Nick hay Nicky nữa, mà đang gọi cậu bằng cả họ tên đầy đủ, với một vẻ thành kính như người ta thường nhắc về người đã khuất. Thêm vào đó, khi từng sự việc trong tình bạn của chúng tôi cứ ào ạt ùa về từ quá khứ, tôi nhận ra đó phần lớn là những lần tôi đã đối xử tệ bạc hoặc làm tổn thương cậu; chúng quở trách tôi, dày vò tôi, và trái tim tôi quặn thắt vì ân hận, hệt như cảm giác mỗi khi ta nhớ lại những lỗi lầm vô tình với những người bạn đã đi qua bên kia màn sương sinh tử, để rồi ta ước gì có thể đưa họ trở lại dù chỉ trong khoảnh khắc, để được quỳ gối trước họ và cất lời: “Xin hãy rủ lòng thương và tha thứ.”
Có lần, khi chúng tôi lên chín tuổi, Nikolaus đã nhận chạy một quãng đường dài gần hai dặm cho người bán hoa quả, và lão đã thưởng cho cậu một quả táo to tuyệt đẹp. Cậu đang hí hửng chạy bay về nhà, gần như ngây ngất vì ngạc nhiên và sung sướng. Tôi tình cờ gặp cậu, và cậu hồn nhiên đưa quả táo cho tôi ngắm mà không mảy may nghi ngờ gì lòng dạ đen tối của tôi; thế là tôi cắm cổ chạy biến đi, vừa chạy vừa ngấu nghiến ăn. Cậu đuổi theo sau tôi, vừa chạy vừa nài nỉ; và khi tóm được tôi, tôi chỉ chìa cho cậu cái lõi táo—phần duy nhất còn sót lại—rồi cười hô hố. Lúc ấy, cậu quay đi, òa khóc và bảo rằng cậu vốn định đem tặng nó cho cô em gái nhỏ. Câu nói ấy cứa vào lòng tôi, bởi con bé đang dần bình phục sau trận ốm, và đó lẽ ra sẽ là khoảnh khắc kiêu hãnh biết bao của Nikolaus khi được nhìn thấy niềm vui, sự ngỡ ngàng cùng những cái ôm ấp nựng của em mình. Nhưng tôi lại quá ngượng ngùng để thừa nhận sự hổ thẹn của bản thên, nên chỉ thốt lên vài câu cộc lốc, ích kỷ cốt để ra vẻ mình chẳng hề bận tâm. Cậu không nói thêm lời nào, nhưng trên khuôn mặt lúc quay lưng bước về nhà lại thoáng hiện lên một nét tổn thương sâu sắc. Vẻ mặt ấy đã hiện về trong tâm trí tôi không biết bao nhiêu lần vào những đêm dài năm tháng sau này, chì chiết tôi và khiến tôi thêm một lần hổ thẹn. Theo thời gian, ký ức ấy dần phai mờ rồi biến mất hẳn; nhưng giờ đây, nó đã trở lại, và hoàn toàn rõ nét.
Có lần ở trường, khi chúng tôi lên mười một tuổi, tôi lỡ làm đổ mực hỏng bốn cuốn vở tập viết và có nguy cơ phải nhận một trận đòn chí mạng; thế mà tôi lại đổ vạ cho Nikolaus, để rồi chính cậu phải chịu trận đòn roi thay tôi.
Và mới năm ngoái thôi, tôi đã lừa gạt cậu trong một vụ đổi chác, đưa cho cậu một chiếc lưỡi câu lớn đã nứt gãy một phần để đổi lấy ba chiếc lưỡi câu nhỏ còn nguyên vẹn. Con cá đầu tiên cậu câu được đã làm gãy chiếc lưỡi câu ấy, thế nhưng cậu nào có biết tôi là kẻ phải chịu trách nhiệm, và cậu đã từ chối nhận lại một trong những chiếc lưỡi câu nhỏ mà lương tâm buộc tôi phải đưa cho cậu, lại còn bảo rằng: “Mua bán là mua bán; lưỡi câu dở thì đó chẳng phải lỗi của cậu.”
Không, tôi không tài nào chợp mắt được. Những lỗi lầm nhỏ nhặt, ti tiện ấy cứ quay sang trách cứ, tra tấn tôi, mang lại một nỗi đau đớn nhức nhối hơn nhiều so với khi ta gây tổn hại cho những người còn sống. Nikolaus vẫn đang sống đấy thôi, nhưng điều đó chẳng hề gì; đối với tôi, cậu đã là một kẻ chết rồi. Cơn gió vẫn đang rên rỉ ngoài mái hiên, tiếng mưa vẫn rả rích gõ lên ô cửa kính.
Sáng hôm đó, tôi tìm gặp Seppi và kể hết mọi chuyện. Chúng tôi gặp nhau ở bờ sông. Môi Seppi mấp máy nhưng chẳng thốt nên lời; cậu chỉ thừ người ra như kẻ mất hồn, sắc mặt trắng bệch. Cậu cứ đứng như thế suốt mấy phút liền, nước mắt rưng rưng trào mi, rồi quay lưng bước đi. Tôi luồn tay ôm chặt lấy cánh tay cậu, và chúng tôi cứ thế lặng lẽ lê bước, trong đầu đầy những suy nghĩ miên man chẳng cất nên lời. Chúng tôi qua cầu, thẫn thờ lang thang qua những cánh đồng cỏ, leo lên những ngọn đồi và dấn sâu vào những tán rừng. Cuối cùng, lời nói cũng bật ra và tuôn chảy tự nhiên, toàn bộ câu chuyện đều xoay quanh Nikolaus, là sự ôn lại những quãng đời chúng tôi từng gắn bó bên cậu. Và cứ chốc chốc, Seppi lại lẩm bẩm như nói với chính mình:
“Mười hai ngày!—chưa đầy mười hai ngày.”
Chúng tôi nhủ lòng rằng phải luôn túc trực bên cậu; phải tận hưởng mọi khoảnh khắc có thể ở bên cậu; quãng thời gian lúc này vô cùng trân quý. Thế nhưng, chúng tôi lại chẳng dám đi tìm cậu. Cảm giác ấy chẳng khác nào gặp lại người cõi âm, và chúng tôi mang một nỗi sợ hãi mơ hồ. Dù không ai nói ra, nhưng sâu thẳm trong lòng, cả hai đều cảm thấy thế. Thế nên, khi vừa quặt qua một khúc cua và chạm mặt Nikolaus ngay ở khoảng sân, chúng tôi không khỏi giật mình thon thót. Cậu hào hứng cất tiếng hô lớn:
“Hi-hi! Có chuyện gì thế hả? Hai cậu vừa thấy ma à?”
Chúng tôi nghẹn lời chẳng nói được câu nào, nhưng cũng chẳng cần thiết phải nói; bởi cậu sẵn sàng huyên thuyên thay cho cả phần chúng tôi, vì cậu vừa mới gặp Satan và đang vô cùng phấn khích về chuyện đó. Satan đã kể cho cậu nghe về chuyến đi Trung Hoa của chúng tôi, và cậu đã nài nỉ Satan cho mình đi theo một chuyến, để rồi được Satan hứa hẹn hẳn hoi. Đó sẽ là một chuyến đi xa xôi, vô cùng kì diệu và tuyệt đẹp; và Nikolaus đã nài nỉ gã cho cả chúng tôi đi cùng nữa, nhưng gã bảo không, có lẽ gã sẽ dẫn chúng tôi đi vào một ngày nào đó, nhưng không phải lúc này. Satan sẽ đến đón cậu vào ngày 13, và vì quá nôn nóng nên Nikolaus đã đếm từng giờ từng phút từ lúc nào rồi.
Đó chính là ngày định mệnh. Và chúng tôi cũng đang đếm từng giờ từng phút trôi qua.
Chúng tôi lang thang qua bao dặm đường, luôn bước đi trên những lối mòn từng là chốn quen thuộc từ thuở còn thơ bé, và miệng không ngớt ôn lại chuyện cũ. Mọi sự tươi vui đều thuộc về Nikolaus; còn chúng tôi, chẳng tài nào rũ bỏ nổi sự u uất đang đè nặng trong lòng. Cách chúng tôi đối xử với Nikolaus bỗng trở nên dịu dàng, ân cần và đong đầy nỗi xót xa đến lạ kỳ, khiến cậu nhận ra và lấy làm thích thú; chúng tôi liên tục làm những việc nhỏ nhặt thể hiện sự kính trọng và quan tâm dành cho cậu, miệng không ngớt nói: “Đợi đã, để tớ làm việc đó thay cho,” và điều đó cũng khiến cậu vô cùng vui thích. Tôi đưa cho cậu bảy chiếc lưỡi câu—tất cả những gì tôi có—và ép cậu phải nhận lấy; còn Seppi tặng cậu con dao mới của mình cùng một chiếc con quay sơn đỏ vàng—đó là những sự bù đắp cho những lần lừa lọc cậu trước kia mà mãi về sau tôi mới hay biết, và có lẽ giờ đây Nikolaus đã chẳng còn nhớ tới nữa. Những hành động ấy đã chạm đến trái tim cậu, khiến cậu không thể ngờ rằng chúng tôi lại yêu quý mình đến thế; và chính niềm kiêu hãnh cùng lòng biết ơn chân thành của cậu đã bóp nghẹt trái tim chúng tôi, bởi chúng tôi quá bất xứng với những tình cảm ấy. Đến khi từ biệt nhau ra về, cậu rạng rỡ hẳn lên và thưa rằng chưa bao giờ có được một ngày vui đến thế.
Trên đường lủi thủi bước về nhà, Seppi cất lời: “Chúng ta vẫn luôn quý trọng cậu ấy, nhưng chưa bao giờ sâu sắc nhường này, khi mà chúng ta sắp phải mất đi cậu ấy.”
Ngày hôm sau và suốt những ngày tiếp theo, chúng tôi dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi để ở bên Nikolaus; thậm chí còn khoét sâu thêm thời gian vốn dĩ dành cho công việc và những bổn phận khác để bù vào (cả chúng tôi lẫn cậu ấy), và hành động ấy đã khiến cả ba phải nhận không ít trận mắng mỏ gay gắt cùng những lời đe dọa trừng phạt. Sáng nào cũng vậy, hai chúng tôi lại bừng tỉnh trong cơn giật mình run rẩy, khi thời gian trôi vèo qua và thầm nhẩm: “Chỉ còn mười ngày nữa;” “chỉ còn chín ngày;” “chỉ còn tám;” “chỉ còn bảy.” Khoảng thời gian cứ thế thu hẹp lại từng chút một. Nikolaus thì vẫn luôn vui vẻ, hạnh phúc, và lúc nào cũng ngẩn ngơ thắc mắc chẳng hiểu vì sao chúng tôi lại ủ rũ đến thế. Cậu vắt óc suy nghĩ, tìm đủ mọi cách để vực dậy tinh thần cho chúng tôi, nhưng tất cả chỉ là những nỗ lực vô vọng; cậu có thể nhận ra rằng sự vui vẻ của chúng tôi hoàn toàn gượng gạo, và những tiếng cười bật ra cứ vấp phải chướng ngại vật nào đó rồi lụi tàn thành những tiếng thở dài ngao ngán. Cậu cố gắng dò hỏi xem rốt cuộc chúng tôi đang gặp rắc rối gì để có thể giúp đỡ hoặc san sẻ phần nào gánh nặng, thế nên chúng tôi đành phải bịa ra vô số lời dối trá để che đậy và xoa dịu cậu.
Nhưng điều đau lòng nhất là cậu cứ liên tục vạch ra những dự định tương lai, và thường thì chúng lại vượt qua cả cột mốc ngày 13! Mỗi lần như thế, lồng ngực chúng tôi lại quặn thắt lại trong nỗi u uất vô hình. Toàn bộ tâm trí cậu chỉ đinh ninh tìm cách phá tan bầu không khí ảm đạm của chúng tôi để đem lại niềm vui; và cuối cùng, khi chỉ còn đúng ba ngày nữa là đến lúc từ giã cõi đời, cậu chợt lóe lên một ý tưởng tuyệt vời và mừng rỡ khôn tả—một buổi tiệc tùng và khiêu vũ hoan hỉ dành cho đám trẻ trai gái trong khu rừng nọ, ngay chỗ chúng tôi lần đầu gặp Satan, và dự định này sẽ diễn ra vào ngày 14. Thật là một ý tưởng hãi hùng, bởi đó chính là ngày cử hành tang lễ của cậu. Chúng tôi chẳng dám hé môi phản đối; vì làm thế chỉ chuốc lấy câu hỏi “Tại sao?” mà chúng tôi chẳng tài nào đáp nổi. Cậu nài nỉ chúng tôi giúp mình đi mời khách, và chúng tôi đã làm theo—người ta chẳng thể từ chối bất cứ điều gì trước một người bạn sắp chết. Nhưng mọi thứ thật kinh hoàng, bởi suy cho cùng, chúng tôi đang đi mời họ đến dự đám tang của chính cậu.
Đó là mười một ngày đầy ám ảnh và đau đớn; thế nhưng, khi nhìn lại cả một quãng đời trải dài từ ngày hôm đó cho đến tận bây giờ, chúng vẫn là một ký ức vô cùng trân quý và đẹp đẽ đối với tôi. Thực chất, đó là những ngày tháng được đồng hành cùng những người thân yêu đã khuất, và tôi chưa từng biết đến một tình bạn nào khăng khít và thiêng liêng đến thế. Chúng tôi bám chặt lấy từng giờ từng phút, đếm từng khoảng khắc trôi đi trong vô vọng, dứt áo lìa xa chúng với nỗi đau đớn và tang tóc hệt như một kẻ keo kiệt tận mắt chứng kiến khối tài sản dành dụm bị bọn cướp vơ vét từng đồng một mà lực bất tòng tâm, chẳng thể nào ngăn cản nổi.
Đến buổi tối của ngày cuối cùng, chúng tôi đã nán lại quá lâu; lỗi ấy hoàn toàn thuộc về Seppi và tôi, bởi chúng tôi chẳng thể nào nhẫn tâm rời xa Nikolaus; thế nên lúc đưa cậu về đến trước cửa nhà thì trời đã muộn lắm rồi. Chúng tôi đứng ngập ngừng ở quanh đó một lát để lắng nghe; và điều tồi tệ mà chúng tôi hằng lo sợ cuối cùng cũng đã xảy ra. Cha cậu đã giáng cho cậu trận đòn trừng phạt như đã hứa, và chúng tôi nghe thấy những tiếng thét xé lòng phát ra từ bên trong. Nhưng chúng tôi chỉ dám đứng nghe ngóng một thoáng rồi vội vã bỏ chạy, lòng tràn ngập ân hận vì chính mình là nguyên nhân gây ra nông nỗi này. Và chúng tôi cũng thấy thương cho người cha nữa; trong đầu cả hai chỉ văng vẳng ý nghĩ: “Giá như ông ấy biết rõ sự thật—giá như ông ấy biết rõ mọi chuyện!”
Sáng hôm sau, Nikolaus không ra điểm hẹn đón chúng tôi như thường lệ, thế nên cả hai liền tìm đến tận nhà để xem đã xảy ra chuyện gì. Mẹ cậu buồn rầu bảo:
“Cha nó đã hết kiên quyết với những trò chơi bời lêu lổng này rồi và nhất quyết không nhượng bộ nữa đâu. Cứ đến nửa thời gian cần việc thì chẳng thấy mặt mũi Nick đâu; rồi hóa ra toàn đi lang thang la cà cùng hai đứa đấy thôi. Tối hôm qua cha nó đã cho nó một trận đòn nên thân. Trước đây, mỗi lần như thế lòng tôi đau như cắt và không biết bao nhiêu lần tôi phải lên tiếng xin xỏ để cứu con, nhưng lần này mọi lời van xin đều vô ích, bởi chính bản thân tôi cũng đã cạn kiệt sự kiên nhẫn rồi.”
“Ước gì bác cứu nó dù chỉ lần này thôi,” tôi cất lời, giọng run run đôi chút; “điều đó sẽ làm dịu đi nỗi đau trong lòng bác vào một ngày nào đó sau này.”
Lúc ấy bà đang ủi đồ, lưng quay về phía tôi. Bà quay phắt lại với vẻ mặt ngạc nhiên hoặc sững sờ rồi hỏi: “Ý cậu là sao thế?”
Tôi hoàn toàn bị động và chẳng biết phải đáp thế nào; không khí bỗng trở nên ngượng ngùng khi bà cứ trân trân nhìn tôi; nhưng Seppi rất nhanh trí liền tiếp lời:
“Dạ, ý cháu là việc ấy chắc chắn sẽ mang lại những ký ức đẹp đẽ, chính vì nguyên nhân chúng cháu nán lại quá muộn tối qua là do Nikolaus cứ huyên thuyên kể về việc bác tốt với cậu ấy nhường nào, và rằng cậu ấy chưa từng bị đòn lần nào khi có bác đứng ra che chở; cậu ấy cứ hào hứng mãi về điều đó, còn chúng cháu thì mải mê lắng nghe đến mức chẳng ai để ý xem trời đã khuya đến nhường nào.”
“Thế nó nói vậy thật á? Nó nói thế thật sao?” và bà đưa tạp dề lên chùi đôi mắt đang hoe đỏ.
“Bác cứ hỏi Theodor mà xem—cậu ấy sẽ nói y như thế cho bác nghe.”
“Thằng bé Nick nhà tôi vốn ngoan ngoãn và đáng yêu lắm,” bà nghẹn ngào nói. “Tôi thấy hối hận vì đã để nó bị đòn; tôi sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Thử nghĩ xem—suốt khoảng thời gian tôi ngồi đây tối qua, cứ bực dọc và nổi giận với nó, thì ở bên ngoài nó lại đang yêu thương và ca tụng tôi! Trời ạ, giá như chúng ta biết trước mọi sự! Có thế thì chúng ta đã chẳng bao giờ lầm đường lạc lối; nhưng ngặt nỗi chúng ta chỉ là những kẻ u mê, khờ khạo cứ mò mẫm trong đêm tối rồi vấp phải sai lầm. Tôi sẽ chẳng bao giờ nhớ lại đêm hôm qua mà không thấy quặn thắt trong lòng.”
Bà cũng chẳng khác gì những người khác; dường như vào những ngày tháng khốn khổ này, chẳng ai có thể mở miệng nói một lời mà không vô tình thốt ra những câu khiến chúng tôi phải run rẩy. Họ chỉ đang “mò mẫm trong bóng tối”, hoàn toàn không hay biết những lời lẽ vô tình mang đầy vẻ chua chát và đúng đến nao lòng ấy lại xuất phát từ sự tình cờ.
Seppi rụt rè hỏi liệu Nikolaus có được phép ra ngoài cùng chúng tôi không.
“Bác rất tiếc,” bà đáp, “nhưng nó không đi được đâu. Để trừng phạt thêm, cha nó không cho phép nó bước chân ra khỏi nhà ngày hôm nay.”
Chúng tôi thắp lên một tia hy vọng lớn lao! Tôi đọc được niềm hy vọng ấy trong ánh mắt của Seppi. Chúng tôi thầm nghĩ: “Nếu nó không được ra khỏi nhà, chắc chắn nó sẽ không bị chết đuối.” Seppi bèn hỏi lại cho chắc chắn:
“Cậu ấy phải ở tù trong nhà cả ngày, hay chỉ buổi sáng thôi ạ?”
“Cả ngày luôn các cháu ạ. Thật đáng tiếc quá đi mất; hôm nay trời đẹp thế cơ mà, và nó thì có bao giờ quen bị giam hãm trong bốn bức tường đâu. Nhưng bù lại nó đang bận rộn lên kế hoạch cho bữa tiệc của mình, chắc việc đó cũng giúp nó khuây khỏa phần nào. Bác chỉ cầu mong nó đừng quá cô đơn.”
Nhận thấy vẻ mặt bà có phần cởi mở hơn, Seppi liền lấy hết can đảm ngỏ ý xin phép được lên lầu cùng vào chơi để giúp bạn giết thời gian.
“Các cháu cứ lên thoải mái!” bà hào sảng đáp. “Thế mới gọi là tình bạn chí thiết chứ, trong khi các cháu hoàn toàn có thể dong duổi ngoài đồng nội hay trong rừng sâu để tận hưởng những phút giây vui vẻ. Các cháu đều là những đứa trẻ ngoan, bác công nhận điều đó, dẫu rằng đôi lúc các cháu chẳng tìm ra những cách thức thật vừa ý để bồi dưỡng tình cảm ấy. Hãy cầm lấy số bánh ngọt này—cho riêng các cháu đấy—và nhớ mang chiếc này cho nó, quà của người mẹ gởi gắm.”
Điều đầu tiên chúng tôi chú ý khi bước vào phòng Nikolaus chính là chiếc đồng hồ—9 giờ 45 phút. Liệu có chính xác không nhỉ? Chỉ còn vài phút ngắn ngủi nữa thôi để được sống! Lồng ngực tôi bỗng thắt lại đau đớn. Nikolaus vùng đứng dậy nở nụ cười rạng rỡ chào đón chúng tôi. Tâm trạng cậu đang rất phấn chấn nhờ những dự định cho buổi tiệc tùng sắp tới và chẳng hề cảm thấy buồn chán chút nào.
“Ngồi xuống đây đi,” cậu hào hứng bảo, “và xem tớ vừa làm được những gì này. Tớ vừa hoàn thành một con diều mà đảm bảo các cậu nhìn vào phải trầm trồ khen đẹp cho mà xem. Nó đang phơi ngoài bếp; để tớ ra lấy cho.”
Cậu đã dành dụm từng xu tiền lẻ để mua những món đồ chơi vặt vãnh đủ màu sắc làm phần thưởng cho các trò chơi, và giờ chúng được bày biện ngay ngắn, bắt mắt trên mặt bàn. Cậu nói:
“Các cứ thong thả ngắm nghía nhé, để tớ chạy xuống nhờ mẹ lấy bàn ủi vuốt phẳng lại con diều xem nó đã khô hẳn chưa đã.”
Nói đoạn, cậu hớn hở bước ra ngoài, tiếng giày lộc cộc nện trên bậc thang kèm theo những tiếng huýt sáo vui tai.
Chúng tôi chẳng màng liếc mắt đến đống đồ chơi trên bàn; tâm trí đâu còn chút bận tâm nào ngoài chiếc đồng hồ treo tường. Cả hai cứ ngồi trân trân dán mắt vào nó trong im lặng, lắng nghe từng nhịp tích tắc đều đặn, và cứ mỗi lần kim phút nhích lên là chúng tôi lại khẽ gật đầu xác nhận—bớt đi một phút trên đường đua giữa sự sống và cái chết. Cuối cùng, Seppi trút một tiếng thở dài sâu thẳm và thốt lên:
“10 giờ kém hai phút. Còn đúng bảy phút nữa là cậu ấy vượt qua cột mốc tử thần. Theodor, cậu ấy sắp được cứu rồi! Cậu ấy sắp—”
“Suỵt! Tớ đang như ngồi trên đống lửa đây. Nhìn chằm chằm vào đồng hồ và giữ im lặng đi.”
Thêm năm phút nữa trôi qua. Chúng tôi thở dốc vì căng thẳng và hồi hộp. Thêm ba phút nữa, và có tiếng bước chân vang lên ngoài cầu thang.
“Được cứu rồi!” Cả hai vùng đứng dậy hướng thẳng về phía cửa.
Bà mẹ già bước vào, trên tay cầm theo con diều. “Các cậu thấy nó có đẹp không nào?” bà phấn khởi khoe. “Và ôi chao, nó đã phải vắt kiệt sức lực vì con diều này đấy—tôi nghĩ từ lúc rạng sáng cơ, và chỉ mới hoàn thành xong trước lúc các cháu đến chừng nào.” Bà dựng con diều vào góc tường rồi lùi lại ngắm nghía. “Nó tự tay vẽ mấy bức hình đấy, và tôi nghĩ chúng rất đẹp. Bức hình nhà thờ thì chưa được khéo lắm, tôi phải công nhận điều đó, nhưng các cháu hãy nhìn chiếc cầu xem—bất cứ ai nhìn vào cũng nhận ra ngay chiếc cầu trong tích tắc. Nó cứ nài nỉ tôi mang lên đây khoe... Trời đất ơi! Đã 10 giờ 7 phút rồi cơ à, và tôi—”
“Nhưng cậu ấy đâu rồi ạ?”
“Nó á? Ồ, nó sẽ lên đây ngay thôi; nó vừa chạy ra ngoài có một lát.”
“Ra ngoài ạ?”
“Ừ. Ngay lúc nó vừa chạy xuống lầu thì mẹ con bé Lisa bước vào bảo rằng con bé đi lạc đâu mất tơ, và vì lo lắng nên tôi bảo Nikolaus đừng bận tâm đến mệnh lệnh của cha nữa—cứ đi tìm con bé đi... Ơ hay, sao sắc mặt hai đứa tái mét đi thế kia? Chắc là hai đứa bị mệt rồi. Ngồi xuống đi; tôi đi lấy cái này cho uống. Chắc tại miếng bánh ngọt hồi nãy không hợp với bụng hai đứa đấy thôi. Nó hơi đặc một chút, nhưng tôi cứ nghĩ—”
Bà biến mất hút mà chưa kịp nói hết câu, còn chúng tôi thì ba chân bốn cẳng lao ngay ra cửa sổ phía sau phóng tầm mắt về phía dòng sông. Ở đầu bên kia chiếc cầu, một đám đông đang tụ tập đông nghịt, và mọi người từ khắp các ngả đường đang hối hả chạy túa về hướng đó.
“Ôi, mọi chuyện chấm hết rồi—tội nghiệp Nikolaus thay! Tại sao, tại sao bác ấy lại để cậu ấy ra khỏi nhà cơ chứ!”
“Đi thôi,” Seppi nghẹn ngào thốt lên, giọng nấc nghẹn nửa phần— “chạy mau lên—chúng ta không thể đối mặt với bác ấy đâu; chỉ năm phút nữa thôi là bác ấy sẽ hay tin.”
Nhưng chúng tôi nào có trốn thoát được. Bà đã chạm mặt chúng tôi ngay chân cầu thang, trên tay cầm sẵn ly nước thuốc bổ và bắt chúng tôi vào nhà ngồi xuống để uống cho bằng được. Sau đó bà đứng chăm chú quan sát phản ứng của chúng tôi, và dường như vẫn chưa vừa lòng; thế nên bà lại bắt chúng tôi nán lại lâu hơn, miệng không ngớt tự trách cứ bản thân vì đã cho chúng tôi ăn món bánh khó tiêu đó.
Chẳng mấy chốc, điều kinh hoàng mà chúng tôi hằng nơm nớp lo sợ cuối cùng cũng đã đến. Vẳng lên những tiếng bước chân thình thịch cùng tiếng lê giày nặng nề ngoài hiên, và một đám đông với vẻ mặt trang nghiêm, đầu trần lặng lẽ bước vào, đặt hai cái xác chết đuối lên chiếc giường.

“Ôi, lạy Chúa tôi!” người mẹ bất hạnh ấy thét lên một tiếng xé lòng, ngã quỵ xuống đất, vòng tay ôm lấy đứa con trai đã chết rồi bắt đầu phủ kín khuôn mặt ướt đẫm ấy bằng những nụ hôn. “Chính tôi... chính tôi là kẻ đã sai khiến nó đi, và tôi đã gián tiếp giết chết con mình. Giá như tôi chịu vâng lời, giữ chặt nó trong nhà, thì thảm kịch này đã chẳng xảy ra. Và tôi hoàn toàn đáng bị trừng phạt; tối hôm qua tôi đã quá tàn nhẫn với nó, trong khi chính nó—đứa con ruột thịt của tôi—lại đang van xin tôi hãy làm bạn với nó.”
Bà cứ thế gào khóc miên man, những người phụ nữ xung quanh cũng sụt sùi rơi lệ, tìm mọi cách an ủi nhưng bà chẳng thể nào tha thứ cho chính mình và cũng chẳng tài nào nguôi ngoai nổi, miệng cứ lẩm bẩm rằng nếu không sai con ra ngoài thì giờ này nó vẫn đang sống rành rành ra đấy, và chính bà là thủ phạm cướp đi mạng sống của con mình.
Điều đó cho thấy con người ta thật ngốc nghếch biết bao khi cứ ôm lấy sự dằn vặt, tự trách cứ bản thân về những chuyện đã rồi. Satan hiểu rõ điều đó, và gã từng nói rằng chẳng có chuyện gì xảy ra mà không được định đoạt sẵn từ hành động đầu tiên của bạn để rồi trở thành điều tất yếu; thế nên, bằng chính ý muốn của mình, bạn chẳng bao giờ có thể xoay chuyển được cục diện hay làm thay đổi dù chỉ một mắt xích. Tiếp theo đó, chúng tôi nghe thấy những tiếng thét gào, và bà Brandt lách qua đám đông với dáng vẻ bơ phờ, tóc tai rũ rượi, quần áo xộc xệch, lao bổ vào đứa con đã khuất trong tiếng rên siết, những nụ hôn và lời van nài khẩn khoản; để rồi chẳng bao lâu sau, bà chồm dậy, kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần sau những cảm xúc dâng trào tột độ, hai bàn tay siết chặt lại giơ lên hướng về bầu trời, khuôn mặt đẫm lệ bỗng trở nên đanh lại đầy căm hờn, rồi bà rít lên:
“Gần hai tuần nay, tôi liên tục mang những giấc mơ, điềm báo và lời cảnh tỉnh rằng thần chết sắp giáng xuống cướp đi thứ trân quý nhất đời tôi, và suốt ngày đêm tôi đã phải quỵ lạy trong bụi đất trước Ngài, van xin Ngài rủ lòng thương xót đứa con vô tội của tôi và che chở nó khỏi tai ương—và đây chính là câu trả lời của Ngài đấy ư!”
Chao ôi, Ngài thực ra đã cứu đứa trẻ khỏi tai họa—nhưng ngặt nỗi bà lại chẳng hề hay biết.
Bà đưa tay lau khô dòng lệ trên mắt và gò má, đứng thẫn thờ một lúc nhìn chằm chằm vào đứa trẻ, dịu dàng vuốt ve khuôn mặt và mái tóc nó; rồi bà lại cất lên giọng điệu cay đắng ấy: “Nhưng trong trái tim băng giá của Ngài chẳng hề có chút lòng trắc ẩn nào. Ta sẽ chẳng bao giờ cầu nguyện thêm một lần nào nữa.”
Bà ôm chặt đứa con bất động vào lồng ngực rồi sải bước rảo đi, đám đông tự động dạt ra nhường đường, chết lặng trước những lời lẽ đầy nguyền rủa mà họ vừa tai nghe mắt thấy. Ôi, người đàn bà khốn khổ ấy! Đúng như lời Satan đã nói, chúng ta chẳng thể phân định đâu là may mắn đâu là rủi ro, và cứ mãi nhầm lẫn cái này với cái kia. Kể từ dạo ấy, không biết bao nhiêu lần tôi chứng kiến người ta cầu nguyện Chúa ban ơn phước tha mạng cho những kẻ ngã bệnh, nhưng tôi thì chẳng bao giờ làm thế.
Cả hai đám tang đều được cử hành cùng một thời điểm tại ngôi nhà thờ nhỏ của chúng tôi vào ngày hôm sau. Mọi người đều có mặt đầy đủ, kể cả những vị khách được mời dự tiệc. Satan cũng có mặt ở đó; điều đó hoàn toàn hợp lẽ, bởi chính những sắp đặt của gã đã dẫn đến cục diện tang thương này. Nikolaus rời cõi thế mà chưa kịp chịu phép xá tội, thế nên một buổi quyên góp đã được tổ chức nhằm làm lễ cầu hồn, giúp cậu sớm thoát khỏi chốn luyện ngục. Số tiền thu về chỉ mới đạt hai phần ba, và cha mẹ cậu định bụng sẽ đi vay mượn phần còn lại, nhưng chính Satan đã tài trợ nốt chỗ thiếu. Gã thì thầm nói với chúng tôi rằng chẳng có chốn luyện ngục nào sất, sở dĩ gã đóng góp là để cha mẹ Nikolaus cùng bạn bè họ được thảnh thơi, đỡ phải bận tâm lo lắng. Chúng tôi thầm nghĩ gã thật tốt tính làm sao, nhưng gã lại bảo tiền bạc đối với gã chẳng đáng là bao.
Tại nghĩa trang, thi hài của bé Lisa bất ngờ bị một thợ mộc xiết nợ—người mà người mẹ còn thiếu năm mươi groschen tiền công thợ từ năm ngoái. Bà chưa bao giờ có khả năng trả món tiền ấy, và hiện tại cũng thế. Lão thợ mộc liền khiêng cái xác về nhà cất giấu dưới tầng hầm suốt bốn ngày trời, trong khi người mẹ cứ đứng khóc lóc, van xin thảm thiết xung quanh nhà lão; rồi sau đó lão đem chôn nó ở bãi chăn gia súc của nhà người anh trai mà chẳng thèm cử hành bất kỳ nghi thức tôn giáo nào. Hành động tàn nhẫn ấy đẩy người mẹ đến bờ vực điên dại vì đau đớn và nhục nhã; bà bỏ bê công việc, ngày ngày lang thang khắp các con phố nguyền rủa lão thợ mộc cùng những luật lệ của hoàng đế lẫn giáo hội, trông vô cùng thảm hại. Seppi bèn nài nỉ Satan nhúng tay can thiệp, nhưng gã bảo rằng lão thợ mộc cùng những kẻ khác đều là thành viên của loài người và chúng đang hành xử rất đúng với bản chất của loài động vật ấy. Gã bảo sẽ chỉ can thiệp nếu bắt gặp một con ngựa có hành vi tương tự, và chúng tôi phải báo ngay cho gã nếu tình cờ nhìn thấy loài ngựa nào làm những chuyện mang tính chất loài người như thế, để gã có thể ra tay ngăn chặn. Chúng tôi thừa hiểu đó chỉ là một lời châm chọc cay độc, bởi làm gì có con ngựa nào dở hơi đến thế.
Nhưng chỉ sau vài ngày, chúng tôi nhận ra mình không tài nào chịu đựng nổi nỗi thống khổ của người đàn bà khốn khổ ấy, thế nên chúng tôi lại nài nỉ Satan xem xét các ngả đường tương lai có thể xảy ra của bà, xem có cách nào xoay chuyển để mang lại lợi lộc hay một cuộc đời mới cho bà hay không. Gã bảo rằng quãng đời dài nhất trong các tương lai hiện tại của bà còn lại là bốn mươi hai năm, và ngắn nhất là hai mươi chín năm, nhưng cả hai con đường ấy đều ngập tràn đau thương, đói khát, lạnh lẽo và đớn đau. Cải thiện duy nhất mà gã có thể làm là giúp bà bỏ qua đúng ba phút kể từ thời điểm này; và gã hỏi chúng tôi có nên làm thế không. Quyết định quá gấp gáp trong khoảng thời gian ngắn ngủi khiến chúng tôi suy sụp hoàn toàn vì căng thẳng thần kinh, và trước khi chúng tôi kịp trấn tĩnh lại để hỏi cho ra ngô ra khoai, gã đã bảo rằng thời gian chỉ còn tính bằng vài giây ngắn ngủi; thế là chúng tôi hớt hải thốt lên: “Cứ làm đi!”
“Xong rồi,” gã đáp; “bà ta đang đi vòng qua một góc phố; ta vừa quay ngược hướng đi của bà ta; số mệnh đã được định đoạt lại.”
“Thế chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo hả Satan?”
“Nó đang diễn ra ngay lúc này đây. Bà ta đang đôi co với Fischer, người thợ dệt. Trong cơn thịnh nộ, Fischer sẽ lập tức làm điều mà hắn sẽ chẳng đời nào làm nếu không có sự cố này. Hắn từng có mặt khi bà ta đứng trước thi thể đứa con và thốt lên những lời lộng ngôn ấy.”
“Hắn sẽ làm gì cơ chứ?”
“Hắn đang làm đấy—tố giác bà ta. Ba ngày nữa, bà ta sẽ bị đem lên giàn thiêu.”
Chúng tôi chết lặng chẳng thốt nên lời; cảm giác lạnh sống lưng vì kinh hãi, bởi giá như chúng tôi đừng nhúng tay vào số mệnh của bà thì bà đã tránh được kết cục bi thảm này. Satan nhận ra những suy nghĩ ấy của chúng tôi, liền cất lời:
“Những gì các cậu đang suy nghĩ mang đậm chất loài người—nói cách khác, là cực kỳ ngốc nghếch. Người phụ nữ ấy đang được hưởng lợi đấy chứ. Dù có chết vào bất cứ lúc nào đi nữa, bà ta kiểu gì cũng được lên thiên đường. Nhờ cái chết sớm này, bà ta nhận thêm được hai9 năm ở thiên đường mà lẽ ra bản thân không được hưởng, lại còn né tránh được chừng ấy năm khổ ải ở trần gian.”
Mới một thoáng trước, chúng tôi còn đang cay đắng tự nhủ sẽ chẳng bao giờ thỉnh cầu bất kỳ ân huệ nào từ Satan cho những người bạn của mình nữa, bởi gã chẳng có nổi một cách tử tế nào để giúp người ngoài việc đem họ ra mà tước đoạt sự sống; thế nhưng toàn bộ cục diện giờ đây đã xoay chiều, và chúng tôi lại cảm thấy mừng rỡ vì những gì mình vừa làm cùng nỗi hạnh phúc ngập tràn khi nghĩ đến điều đó.
Chỉ một lát sau, tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng cho Fischer, bèn rụt rè lên tiếng: “Liệu tình tiết này có làm thay đổi quỹ đạo cuộc đời của Fischer không hả Satan?”
“Thay đổi á? Chà, dĩ nhiên rồi. Và thay đổi một cách tận gốc rễ nữa là đằng khác. Nếu hắn không chạm mặt bà Brandt hồi nãy, hắn sẽ chết vào năm sau khi mới bước sang tuổi ba mươi tư. Còn giờ đây, hắn sẽ sống thọ đến chín mươi tuổi, với một cuộc đời tương đối sung túc và thoải mái, theo tiêu chuẩn của một đời người.”
Chúng tôi cảm thấy vô cùng vui mừng và kiêu hãnh vì những gì mình vừa mang lại cho Fischer, cứ đinh ninh Satan sẽ đồng cảm với cảm xúc ấy; thế nhưng gã lại chẳng biểu lộ chút thái độ nào, điều đó khiến chúng tôi đâm ra bất an. Chúng tôi đợi gã cất lời, nhưng gã vẫn im lặng; thế nên, để xoa dịu sự thấp thỏm trong lòng, chúng tôi đành phải cất lời hỏi xem liệu vận may của Fischer có đi kèm khiếm khuyết nào không. Satan trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi ngập ngừng đáp:
“Chà, thực ra thì, đây là một vấn đề khá tế nhị. Theo những ngả đường tương lai có thể xảy ra trước đây của hắn, lẽ ra hắn sẽ được lên thiên đường.”
Chúng tôi sững sờ kinh hãi. “Ôi, Satan! Thế còn theo con đường này—”
“Thôi nào, đừng có mà rối rít lên thế chứ. Các cậu thực lòng muốn làm một việc tốt cho hắn mà; cứ lấy điều đó làm sự an ủi đi.”
“Ôi trời ơi, điều đó chẳng thể nào an ủi nổi chúng tôi đâu. Lẽ ra ngã phải cho chúng tôi biết trước chúng tôi đang làm gì, thì chúng tôi đã chẳng hành động dại dột như thế.”
Nhưng những lời ấy chẳng mảy may tác động gì đến gã. Gã chưa từng trải qua đau đớn hay sầu khổ bao giờ, và cũng chẳng tài nào thấu hiểu chúng thực chất là gì dưới bất kỳ góc độ thực tế nào. Gã chẳng hề có chút kiến thức nào về chúng ngoại trừ mặt lý thuyết—nói cách khác, là trên phương diện trí tuệ. Và dĩ nhiên điều đó hoàn toàn vô tích sự. Người ta chẳng bao giờ có thể nắm bắt được chút khái niệm mơ hồ hay ngu muội nào về những chuyện đó nếu không trực tiếp trải nghiệm. Chúng tôi đã cố hết sức để gã hiểu được thảm họa khủng khiếp vừa gây ra và việc chúng tôi đang vướng vào vòng lao lý vì nó thế nào, nhưng gã có vẻ chẳng tài nào lĩnh hội nổi. Gã bảo rằng chẳng quan trọng việc Fischer sẽ đi về đâu; ở thiên đường thì chẳng ai thèm nhớ đến hắn đâu, vì trên đó “có khối kẻ”. Chúng tôi cố gắng chỉ cho gã thấy rằng gã đã hoàn toàn lạc đề; rằng Fischer, chứ không phải ai khác, mới là người có quyền định đoạt tầm quan trọng của vấn đề; nhưng mọi nỗ lực đều đổ sông đổ bể; gã phẩy tay bảo chẳng thèm bận tâm đến Fischer—ngoài kia còn khối những thằng Fischer khác cơ mà.
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, Fischer đi ngang qua phía bên kia đường, và cảnh tượng ấy khiến chúng tôi cảm thấy buồn nôn và xây xẩm mặt mày khi nhớ đến số phận nghiệt ngã đang chực chờ giáng xuống đầu hắn, mà nguyên nhân sâu xa lại xuất phát từ chính chúng tôi. Và kìa, hắn mới vô tư làm sao khi chẳng hề hay biết bất kỳ tai hoạ nào vừa giáng xuống đời mình! Nhìn bước chân thoăn thoắt cùng tác phong lanh lẹ của hắn là đủ hiểu hắn đang vô cùng mãn nguyện về bản thân vì đã vừa làm một việc nghĩa hiệp cho tội nghiệp bà Brandt. Hắn cứ ngoái cổ nhìn lại phía sau với vẻ đầy mong đợi. Và quả nhiên, chẳng mấy chốc bà Brandt đã theo sau, trên người bị cùm những sợi xích khua leng keng do đám cảnh sát áp giải. Bám sát đằng sau là một đám đông hò reo, chế nhạo: “Đứa lộng ngôn và kẻ dị giáo!” trong số đó có cả những người hàng xóm và bạn bè từng sống trong những ngày tháng hạnh phúc của bà. Vài kẻ trong đám đông còn chực lao vào thượng chân hạ cẳng với bà, và đám cảnh sát thì chẳng mảy mảy tốn chút công sức nào để ngăn chặn hành vi bạo lực ấy.
“Ôi, ngăn chúng lại đi, Satan!” Câu nói vừa thốt ra trước khi chúng tôi kịp nhớ rằng gã không thể nhúng tay ngắt quãng dẫu chỉ một giây nếu không muốn làm đảo lộn toàn bộ phần đời còn lại của họ. Gã khẽ phả một hơi nhẹ bẫng bằng môi về phía đám đông, và lập tức họ bắt đầu loạng choạng, lảo đảo rồi chới với vồ lấy khoảng không vô định; rồi họ tản ra tứ phía, thét gào hệt như đang phải chịu đựng nỗi đau đớn thấu xương thấu tủy. Chỉ bằng một hơi thở nhẹ ấy, gã đã tiện tay bóp nát một chiếc xương sườn của từng kẻ một trong số chúng. Chúng tôi không kìm được thắc mắc liệu biểu đồ sinh mệnh của đám người đó có bị thay đổi hay không.
“Có chứ, thay đổi hoàn toàn. Vài kẻ được cộng thêm vài năm tuổi thọ, số khác lại bị tước bớt. Một vài người sẽ thu được chút ít lợi lộc từ sự thay đổi này, nhưng số đó rất ít.”
Chúng tôi không dám hỏi liệu vận may của tội nghiệp Fischer có mang lại tai họa cho ai trong số họ không. Chúng tôi chẳng mảy may muốn biết thêm điều gì nữa. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào mong muốn làm việc thiện của Satan, nhưng lòng tin vào khả năng phán đoán của gã thì đang vơi dần. Cũng chính vào thời điểm ấy, niềm khao khát sục sôi ban đầu muốn nhờ gã xem giúp biểu đồ sinh mệnh và gợi ý những điểm cải thiện cứ thế phai nhạt dần rồi nhường chỗ cho những mối bận tâm khác.
Suốt một hai ngày liền, toàn bộ ngôi làng náo loạn bởi những lời bàn tán rôm rả xung quanh vụ án của bà Brandt cùng tai ương kỳ bí vừa giáng xuống đám đông nguyên đơn, và phòng xét xử chật cứng người trong phiên tòa hôm ấy. Bà dễ dàng bị kết tội lộng ngôn, bởi bà dõng dạc thốt lại những lời lẽ khủng khiếp đó một lần nữa và tuyên bố sẽ không đời nào rút lại. Khi được cảnh báo rằng bản thân đang tự đặt tính mạng vào ngã ba đường, bà thản nhiên đáp rằng họ cứ việc lấy đi, bà chẳng thiết tha gì cuộc đời này nữa, thà rằng được sống chung với những ác quỷ chuyên nghiệp ở chốn luyện ngục còn hơn phải chung đụng với đám đạo đức giả đội lốt người trong cái làng này. Họ buông lời buộc tội bà dùng tà thuật để bẻ gãy hàng loạt xương sườn của bao người, và hách dịch truy vấn xem bà có phải là phù thủy hay không. Bà khinh bỉ đáp trả:
“Không. Nếu ta có năng lực đó thì liệu có tên đạo đức giả nào trong đám tụi bây còn sống sót nổi dăm phút nữa không? Không đời nào; ta sẽ ếm cho tụi bây chết tươi hết lượt. Tuyên án mau lên rồi cút xéo cho ta nhờ; ta phát ngấy cái xã hội của tụi bây lắm rồi.”
Thế là họ tuyên án bà có tội, phán quyết trục xuất bà khỏi giáo hội, tước bỏ mọi đặc quyền chốn thiên đường và đày đọa bà xuống ngọn lửa địa ngục thiêu đốt; sau đó bà được tròng lên người một tấm áo thụng thô kệch rồi giao nộp cho thế quyền, và được áp giải ra quảng trường trong tiếng chuông nhà thờ gióng lên hồi buồn thảm. Chúng tôi tận mắt chứng kiến cảnh bà bị xiết chặt vào chiếc cọc gỗ, thấy làn khói xanh đầu tiên mịt mờ bay lên trong bầu không khí tĩnh mịch. Khi ấy, nét mặt đanh lại của bà bỗng trở nên dịu hẳn đi, bà đưa mắt nhìn bao quát đám đông đang đứng chật như nêm cối trước mặt rồi cất lời, giọng vô cùng ôn tồn:
“Chúng ta từng có những khoảng thời gian vui đùa cùng nhau, trong những năm tháng xa xưa khi cả bọn vẫn còn là những sinh linh ngây thơ vô số tội. Vì tình nghĩa thuở ấy, ta tha thứ cho tất cả tụi bây.”
Nói xong, chúng tôi lặng lẽ bỏ đi, chẳng dám mục sở thị ngọn lửa thiêu rụi con người bà, nhưng văng vẳng bên tai vẫn là những tiếng thét xé lòng dẫu cho hai ngón tay đã bịt chặt lại. Đến khi âm thanh ấy lịm tắt, chúng tôi thầm hiểu rằng bà đã đặt chân lên chốn thiên đường, dẫu cho có bị giáo hội truất quyền; và chúng tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì cái chết ấy, chẳng mảy may hối hận vì chính mình là kẻ dắt mối cho kết cục này.
Vài ngày sau đó, Satan lại xuất hiện. Chúng tôi lúc nào cũng rình rập để ngóng chờ gã, bởi cuộc đời này chưa bao giờ buồn tẻ khi có mặt gã bên cạnh. Gã bắt gặp chúng tôi ngay khoảng rừng quen thuộc nơi lần đầu tiên cả bọn chạm mặt. Vốn bản tính trẻ con hiếu kỳ, chúng tôi nài nỉ gã biểu diễn cho xem một màn trò vui.
“Được thôi,” gã thản nhiên đáp; “các cậu có muốn chiêm ngưỡng tiến trình lịch sử tiến hóa của loài người—sự phát triển của cái thứ sản phẩm mà chúng gọi là nền văn minh hay không?”
Chúng tôi nhao nhao gật đầu đồng ý.
Chỉ trong một ý nghĩ thoáng qua, gã biến khung cảnh xung quanh thành Vườn Địa Đàng, và chúng tôi tận mắt chứng kiến Abel đang thành kính cầu nguyện bên bệ thờ; rồi Cain lầm lũi tiến về phía anh mình với cây gậy nặng trịch trên tay, dường như chẳng hề nhìn thấy sự hiện diện của chúng tôi, và suýt nữa đã giẫm phải chân tôi nếu tôi không kịp rụt lại. Hắn cất lời nói với người em bằng một thứ ngôn ngữ mà chúng tôi chẳng tài nào hiểu nổi; rồi gân cổ lên đe dọa đầy hung hãn, thừa hiểu kịch bản tiếp theo sẽ là gì nên chúng tôi vội quay mặt đi khoảnh khắc ấy; nhưng bên tai vẫn vang lên những tiếng gậy đập khô khốc cùng tiếng thét gào, rên siết; rồi tất cả chìm vào tĩnh mịch, trước mắt chúng tôi là Abel nằm sõng soài trong vũng máu, thều thào hơi thở cuối cùng, còn Cain thì đứng sừng sững bên trên, ánh mắt đằng đẵng vẻ hằn học và chẳng mảy may hối hận.
Rồi viễn cảnh ấy vụt tắt, nhường chỗ cho hàng loạt chuỗi ngày chiến tranh, những vụ ám sát và thảm sát đẫm máu không rõ tên tuổi. Tiếp đến là trận Đại Hồng Thủy, con tàu Nô-ê tròng trành trôi dạt giữa biển nước cuồn cuộn cuồng phong, xa xa ẩn hiện những dãy núi cao mờ ảo sau màn mưa trắng xóa. Satan cất lời:
“Tiến trình tiến hóa của giống loài các cậu quả thực chẳng có gì đáng khích lệ. Và giờ đây chúng sẽ lại được trao cho một cơ hội khác.”
Khung cảnh đột ngột thay đổi, trước mắt chúng tôi là hình ảnh Nô-ê say mèm vì men rượu.
Tiếp đến, chúng tôi chứng kiến thành Sodom và Gomorrah, cùng “nỗ lực truy lùng cho bằng được hai hoặc ba cá thể lương thiện ở đó,” đúng như cách Satan mô tả. Ngay sau đó là Lot và hai cô con gái trốn trong hang đá.
Tiếp nối là những cuộc chiến tranh của người Hê-bơ-rơ, chúng tôi chứng kiến cảnh phe chiến thắng tàn sát không tiếc thương những kẻ sống sót cùng bầy gia súc, đồng thời bắt sống những thiếu nữ trẻ tuổi về chia chác với nhau.
Kế đến là Jael; chúng tôi tận mắt nhìn thấy mụ ta rón rén lẻn vào lều rồi cắm phăng chiếc đinh nhọn vào thái dương người vị khách đang say giấc; cảnh tượng cận kề đến mức khi dòng máu tuôn trào thành một tia đỏ rực chảy dài dưới chân, chúng tôi thừa sức nhúng ngón tay mình vào đó nếu muốn.
Rồi những cuộc chiến tranh Ai Cập, Hy Lạp, La Mã cứ thế tiếp nối, mặt đất ngập ngụa trong biển máu tanh hôi; chúng tôi chứng kiến những mưu mô phản trắc của người La Mã đối với dân thành Carthage, cùng thảm kịch kinh hoàng tàn sát những con người quả cảm ấy. Không những thế, chúng tôi còn thấy Julius Caesar xâm lược nước Anh—“chẳng phải vì đám dã nhân đó đã gây tổn hại gì cho hắn, mà vì hắn thèm khát lãnh thổ của họ, và muốn ban phát những phúc lành của nền văn minh đến cho những góa phụ và trẻ mồ côi nơi đây,” đúng như lời giải thích của Satan.
Rồi Thiên Chúa Giáo ra đời. Tiếp theo đó là những thế kỷ u tối của châu Âu lần lượt diễu hành trước mắt, chứng kiến Thiên Chúa Giáo và Nền Văn Minh dắt tay nhau sánh bước qua các thời kỳ, “để lại sau lưng nạn đói, cái chết cùng sự hoang tàn đổ nát, cùng những minh chứng rõ nét khác cho bước tiến của nhân loại,” như nhận định châm biếm của Satan.
Và xuyên suốt quãng thời gian ấy chỉ có chiến tranh, chiến tranh liên miên, rồi lại chiến tranh—lan rộng khắp châu Âu, lan ra toàn thế giới. “Đôi khi vì lợi ích ích kỷ riêng tư của các hoàng tộc,” Satan nói, “đôi khi để đàn áp một quốc gia yếu kém; nhưng chưa từng có một cuộc chiến nào do phía kẻ hiếu chiến khơi mào lại xuất phát từ một mục đích thanh cao nào cả—chẳng hề tồn tại một cuộc chiến như thế trong suốt dòng lịch sử loài người.”
“Và giờ thì,” Satan thong thả cất lời, “các cậu vừa chứng kiến chặng đường tiến hóa của mình cho đến tận ngày nay, và phải thừa nhận rằng nó thật vĩ đại—theo cách riêng của nó. Giờ là lúc chúng ta sẽ trưng bày tương lai.”
Gã cho chúng tôi chiêm ngưỡng những cuộc tàn sát còn thảm khốc hơn bội phần về mức độ hủy diệt sự sống, tàn phá ghê gớm hơn bởi những cỗ máy chiến tranh tân tiến hơn bất cứ thứ gì từng thấy trước đây.
“Các cậu nhận ra đấy,” gã nói, “rằng loài người vẫn không ngừng tiến bộ. Cain giết người bằng một chiếc gậy; người Hê-bơ-rơ dùng lao giáo và gươm giáo; người Hy Lạp và La Mã thì bổ sung thêm giáp bảo hộ cùng những chiến thuật nghệ thuật quân sự tinh vi của giới tướng lĩnh; còn người Cơ Đốc giáo thì trang bị thêm súng ống và thuốc súng; và chỉ vài thế kỷ nữa thôi, họ sẽ nâng cấp tính sát thương chết người của thứ vũ khí chiến tranh lên một tầm cao mới đến mức tất cả mọi người sẽ phải thừa nhận rằng nếu thiếu đi nền văn minh Cơ Đốc giáo, chiến tranh từ thuở khai thiên lập địa cho đến tận cùng thời gian chắc vẫn chỉ là một trò tiêu khiển nghèo nàn và vô vị mà thôi.”
Nói đoạn, gã cất tiếng cười phá lên với vẻ nhẫn tâm tột độ, buông lời chế giễu nhân loại dù thừa biết những gì vừa thốt ra đủ sức xát muối và làm tổn thương lòng tự trọng của chúng tôi. Chẳng có ai ngoài một ác quỷ mới có thể hành xử trơ trẽn đến thế; nhưng đối với họ, nỗi đau chẳng là gì cả; họ vốn chẳng tài nào hiểu được cảm giác ấy thực chất ra sao nếu chưa từng trải nghiệm thực tế.
Đã không dưới một lần Seppi và tôi tìm cách cảm hóa gã bằng thái độ rụt rè, khiêm nhường, và vì gã vẫn giữ im lặng nên chúng tôi ngộ nhận sự thinh lặng đó như một hình thức khích lệ; hệ quả là màn luận bàn này của gã đã giáng một đòn chí mạng vào hy vọng của chúng tôi, phơi bày thực tế phũ phàng rằng chúng tôi chẳng hề để lại bất kỳ ấn tượng sâu sắc nào trong lòng gã. Ý nghĩ ấy khiến lòng nặng trĩu nỗi buồn, và giờ đây chúng tôi mới thấu hiểu cảm giác của những nhà truyền giáo khi ấp ủ một niềm hy vọng tràn trề để rồi tận mắt chứng kiến nó lụi tàn. Chúng tôi nuốt trọn nỗi đau vào trong lòng, thừa hiểu rằng đây chưa phải là thời điểm thích hợp để tiếp tục công cuộc cảm hóa.
Satan cười cợt đến bến thứ âm thanh cay nghiệt ấy; rồi gã phán: “Đó thực sự là một bước tiến phi thường. Trải qua năm sáu ngàn năm lịch sử, năm sáu nền văn minh đỉnh cao đã trỗi dậy, hưng thịnh, khiến cả thế giới phải ngả mũ trầm trồ ngưỡng mộ, để rồi lụi tàn và biến mất vĩnh viễn; và ngoại trừ kẻ đến sau cùng này, chẳng có bất kỳ ai trong số họ từng phát minh ra một phương thức tiêu diệt đồng loại nào vừa triệt để lại vừa quy mô đến thế. Tất cả đều đã cố gắng hết sức—bởi giết chóc chính là tham vọng tối thượng của nhân loại và là sự kiện xuất hiện sớm nhất trong lịch sử của chúng—nhưng chỉ có nền văn minh Cơ Đốc giáo mới lập nên một chiến tích đáng để tự hào. Vài ba thế kỷ nữa thôi, người ta sẽ công nhận rằng tất cả những kẻ sát nhân cừ khôi đều là người theo đạo Cơ Đốc; để rồi thế giới ngoại giáo sẽ phải lếch thếch đến xin học hỏi từ người Cơ Đốc—không phải để lĩnh hội tôn giáo của họ, mà là để tậu những khẩu súng. Người Thổ Nhĩ Kỳ và người Trung Hoa sẽ đổ xô mua chúng để tiêu diệt các nhà truyền giáo cùng những kẻ cải đạo.”
Ngay lúc ấy, sân khấu ảo ảnh của gã lại bắt đầu hoạt động, và trước mắt chúng tôi, từng quốc gia nối đuôi nhau trôi qua trong suốt hai ba thế kỷ, một đoàn người hùng vĩ, một dòng người bất tận đang gào thét, giãy giụa, lăn lộn giữa những biển máu tanh hôi, chìm nghỉm trong làn khói chiến trận mịt mờ, nơi những lá cờ lấp lánh tung bay và những tia chớp đỏ rực từ các cỗ đại bác phóng ra; và bên tai chúng tôi không dứt tiếng sấm sét của pháo đài cùng tiếng kêu gào thảm thiết của những kẻ hấp hối.
“Và rốt cuộc thì tất cả những thứ đó mang lại ý nghĩa gì?” Satan vừa cất tiếng cười khúc khích ma quái vừa phán. “Chẳng có gì sất. Các cậu chẳng thu về được gì; mọi thứ quay đi quẩn lại rồi vẫn hoàn không. Suốt hàng triệu năm qua, giống loài này cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu việc duy trì nòi giống và ngu ngốc trình diễn lại cái trò hề tẻ nhạt này—nhằm mục đích gì cơ chứ? Chẳng có bộ óc thông thái nào đoán nổi! Kẻ nào thực sự húp trọn lợi lộc từ đó? Chẳng có ai ngoài một nhúm các vị vua chúa và quý tộc truất phái tự phong hằng khinh miệt các cậu; cảm thấy bị vấy bẩn nếu các cậu vô tình chạm vào người họ; sẽ đóng sập cửa ngay trước mặt nếu các cậu ngỏ ý muốn ghé thăm; những kẻ mà các cậu phải cúi đầu làm tôi mọi, chiến đấu, hy sinh mạng sống và chẳng hề cảm thấy nhục nhã mà lại vô cùng tự hào; những kẻ mà sự tồn tại của họ chính là sự sỉ nhục vĩnh viễn giáng xuống đầu các cậu nhưng chẳng dám hé răng oán hận; những kẻ ăn mày mặc áo hoàng bào sống nhờ vào lòng bố thí của các cậu, thế nhưng lại nghênh ngang ra oai ban ơn như bề trên đối với kẻ khất thực; những kẻ dùng ngôn từ của chủ nhân để sai khiến các cậu, và nhận lại những lời râm rấp vângạ của kẻ nô lệ; những kẻ được các cậu tôn thờ bằng chót lưỡi đầu môi, trong khi tận sâu đáy lòng—nếu các cậu thực sự có một trái tim—lại tự khinh bỉ chính mình vì điều đó. Con người đầu tiên chính là một kẻ đạo đức giả và hèn nhát, những phẩm chất ấy cho đến nay vẫn chưa hề mai một trong dòng dõi của hắn; đó chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng nên mọi nền văn minh. Hãy nâng ly vì sự trường tồn của chúng! Hãy nâng ly vì sự bành trướng của chúng! Hãy nâng ly vì—” Bỗng nhiên gã nhận ra qua biểu cảm gương mặt rằng chúng tôi đang bị tổn thương sâu sắc đến nhường nào, liền vội vã nuốt nghẹn câu nói dang dở, thôi không khúc khích cười cợt nữa, và thái độ cũng trở nên ôn hòa hẳn. Gã dịu dàng bảo: “Không, chúng ta sẽ cùng nâng ly chúc sức khỏe cho nhau, và tống khứ cái nền văn minh ấy ra khỏi đầu đi. Ly rượu vừa tự bay vào tay chúng ta từ khoảng không bao la theo tiếng gọi vốn thuộc về trần gian, và nó hoàn toàn đủ tốt để dành cho lời chúc nhảm nhí kia; nhưng hãy quăng những chiếc ly ấy đi; chúng ta sẽ cạn ly này bằng thứ rượu chưa từng đặt chân đến thế giới này bao giờ.”
Chúng tôi răm rắp tuân lệnh, giơ tay đón lấy những chiếc cốc mới vừa từ trên không trung hạ xuống. Đó là những chiếc cốc có kiểu dáng vô cùng tinh xảo và đẹp mắt, nhưng chúng chẳng được làm từ bất kỳ chất liệu quen thuộc nào mà chúng tôi từng biết. Chúng dường như đang chuyển động, dường như có sự sống thực thụ; và chắc chắn những sắc màu bên trong cũng đang uyển chuyển trôi chảy. Chúng vô cùng rực rỡ, lấp lánh muôn màu muôn vẻ, chẳng bao giờ đứng yên một chỗ mà cứ cuộn trào qua lại thành những dòng thủy triều phong phú, xô vào nhau vỡ òa thành những chùm pháo hoa lộng lẫy đầy mê hoặc. Tôi nghĩ chúng trông giống hệt như những viên ngọc mắt mèo đang sóng sánh trôi dạt trong những ngọn sóng và phát ra thứ ánh lửa huy hoàng. Nhưng chẳng có ngôn từ nào đủ sức để so sánh với hương vị của thứ rượu ấy. Chúng tôi uống cạn, cảm nhận một niềm đê mê kỳ lạ và ma mị hệt như chốn thiên đường đang lan tỏa khắp từng thớ thịt, và đôi mắt Seppi ngấn lệ, thành kính thốt lên:
“Rồi sẽ có ngày chúng ta được đặt chân đến đó, và khi ấy—”
Cậu liếc trộm sang Satan, và tôi đoán chắc trong thâm tâm cậu đang hy vọng Satan sẽ đáp lời: “Đúng vậy, các cậu sẽ được đến đó vào một ngày nào đó,” nhưng có vẻ Satan đang bận tậm suy nghĩ mông lung đi đâu mất và chẳng thưa thớt gì. Cảm giác ấy khiến tôi rợn cả tóc gáy, bởi tôi biết chắc gã đã nghe thấy; chẳng có bất kỳ điều gì, dù được thốt ra hay chôn giấu trong tâm tưởng, có thể qua mặt được gã. Tội nghiệp Seppi mang vẻ mặt thất thần, ngậm ngùi bỏ dở câu nói. Những chiếc cốc bỗng bay vút lên, xé rách bầu trời để hòa mình vào khoảng không bao la, hóa thành một bộ ba mặt trời giả rực rỡ rồi biến mất hút. Tại sao chúng lại không ở lại cơ chứ? Đó dường như là một điềm gở, khiến tâm trạng tôi trĩu nặng u sầu. Liệu có bao giờ tôi được nhìn thấy lại chiếc cốc của mình nữa không? Liệu Seppi có bao giờ được gặp lại chiếc của cậu ấy không cơ chứ?