
Vào ngày thứ tư, vị chiêm tinh gia từ tòa tháp cổ kính đang đổ nát trên đầu thung lũng liền tới, chắc hẳn là lão đã nghe ngóng được tin tức. Lão có cuộc trò chuyện riêng với chúng tôi, và chúng tôi kể lại những gì mình biết, bởi chúng tôi vô cùng sợ hãi lão. Lão ngồi đó trầm ngâm suy tính một mình hồi lâu; rồi hỏi:
“Các cậu vừa nói bao nhiêu đồng ducat nhỉ?”
“Thưa ngài, một nghìn một trăm linh bảy ạ.”
Rồi lão nói, như thể đang độc thoại: “Thật là vô cùng kỳ lạ. Phải... rất lạ lùng. Một sự trùng hợp kỳ thú.” Kế đến, lão bắt đầu gặng hỏi, dò lại toàn bộ sự việc từ đầu, còn chúng tôi thì trả lời. Chẳng mấy chốc lão nói: “Một nghìn một trăm linh sáu đồng ducat. Đó là một khoản lớn.”
“Bảy ạ,” Seppi lên tiếng đính chính.
“Ồ, bảy phải không? Dĩ nhiên hơn kém một đồng ducat chẳng có gì quan trọng, nhưng lúc trước các cậu đã nói là một nghìn một trăm linh sáu cơ mà.”
Sẽ chẳng an toàn chút nào nếu chúng tôi bảo lão đã nhầm, nhưng quả thực chúng tôi biết là lão nhầm. Nikolaus liền nói: “Chúng tôi xin lỗi vì sự nhầm lẫn, nhưng ý chúng tôi là bảy ạ.”
“Ồ, không hề gì, các cậu bé ạ; chẳng qua ta nhận thấy sự vênh nhau thôi. Đã mấy ngày trôi qua, và các cậu không thể buộc phải nhớ chính xác được. Người ta rất dễ nhầm lẫn khi không có tình tiết đặc biệt nào khắc sâu con số đó vào trí nhớ.”
“Nhưng thưa ngài, có một tình tiết như thế ạ,” Seppi sốắng xắng đáp.
“Đó là gì thế, con trai ta?” vị chiêm tinh gia dửng dưng hỏi.
“Đầu tiên, tất cả chúng tôi đều đếm từng chồng tiền, mỗi đứa một lượt, và ai cũng đếm ra từng ấy — một nghìn một trăm linh sáu. Nhưng khi bắt đầu đếm, cháu đã lén rút ra một đồng cho vui, và giờ cháu bỏ nó lại vào và nói, 'Tớ nghĩ có nhầm lẫn — có một nghìn một trăm linh bảy cơ; chúng ta đếm lại đi.' Chúng tôi đếm lại, và dĩ nhiên cháu đã đúng. Bọn họ ngạc nhiên; rồi cháu kể lại mọi chuyện diễn ra thế nào.”
Vị chiêm tinh gia hỏi chúng tôi có đúng vậy không, và chúng tôi đáp là đúng.
“Thế thì rõ rồi,” lão nói. “Ta đã biết kẻ trộm là ai. Này các cậu bé, số tiền đó đã bị đánh cắp.”
Rồi lão bỏ đi, để lại chúng tôi đầy âu lo và tự hỏi không biết lão có ý gì. Khoảng một tiếng sau thì chúng tôi rõ chuyện; bởi đến lúc đó cả làng đã râm ran chuyện Cha Peter bị bắt vì tội trộm một khoản tiền lớn của vị chiêm tinh gia. Miệng lưỡi mọi người đều tha hồ bàn tán xôn xao. Nhiều người bảo điều đó không phải phong cách của Cha Peter và chắc chắn có sự nhầm lẫn; nhưng số khác lại lắc đầu bảo cảnh khốn cùng và túng thiếu có thể đẩy một con người bất hạnh vào bất cứ chuyện gì. Về một chi tiết thì tất cả đều đồng lòng; ai nấy đều thống nhất rằng lời kể của Cha Peter về việc số tiền rơi vào tay ông nghe thật hoang đường khó lòng tin nổi — trông nó có vẻ phi lý làm sao. Họ bảo số tiền ấy có thể lọt vào tay vị chiêm tinh gia theo cách nào đó, chứ vào tay Cha Peter thì đời nào có chuyện đó! Uy tín của chúng tôi từ lúc này bắt đầu sứt mẻ. Chúng tôi là những nhân chứng duy nhất của Cha Peter; hẳn ông đã trả chúng tôi bao nhiêu tiền để hậu thuẫn cho câu chuyện hoang đường ấy? Người ta xì xào những điều như thế với chúng tôi khá cồng khai và suồng sã, đồng thời tỏ thái độ chế nhạo khi chúng tôi nài nỉ họ tin rằng thực sự chúng tôi chỉ nói sự thật. Cha mẹ chúng tôi còn khắt khe với chúng tôi hơn bất cứ ai. Cha chúng tôi bảo chúng tôi đang làm ô danh gia đình, và ra lệnh chúng tôi phải gột rửa lời dối trá của mình, rồi sự giận dữ của họ chẳng có giới hạn nào khi chúng tôi cứ khăng khăng mình nói thật. Mẹ chúng tôi thì ôm chúng tôi khóc lóc, nài nỉ chúng tôi hãy trả lại món tiền hối lộ để lấy lại danh dự trong sạch, cứu gia đình khỏi nỗi nhục nhã, và đứng ra thành khẩn thú nhận. Và cuối cùng chúng tôi bị làm cho kiệt sức và bấn loạn đến mức định kể hết mọi chuyện, cả chuyện về Satan — nhưng không, lời nói cứ nghẹn lại không sao thốt ra được. Chúng tôi cứ mòn mỏi hy vọng và ao ước Satan sẽ xuất hiện để cứu giúp chúng tôi qua cơn hoạn nạn, nhưng chẳng có lấy một bóng dáng hắn.
Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ sau cuộc nói chuyện của vị chiêm tinh gia với chúng tôi, Cha Peter đã bị tống giam còn số tiền thì được niêm phong cẩn thận giao vào tay nhà chức trách. Số tiền nằm trong một cái túi, và Solomon Isaacs khẳng định ông không hề chạm vào nó kể từ lúc đếm; lời thề của ông được ghi nhận rằng đó chính xác là số tiền cũ, và tổng số là một nghìn một trăm linh bảy đồng ducat. Cha Peter đòi được xét xử trước tòa án giáo hội, nhưng vị linh mục còn lại của chúng tôi là Cha Adolf lại bảo tòa án giáo hội không có thẩm quyền xử lý một vị linh mục đang bị đình chỉ chức vụ. Giám mục đã y án theo lời ông. Thế là định đoạt; vụ án sẽ được đưa ra xét xử trước tòa án dân sự. Tòa án sẽ chưa mở phiên xét xử trong một thời gian tới. Wilhelm Meidling sẽ làm luật sư cho Cha Peter và dĩ nhiên sẽ cố gắng hết sức, nhưng anh ta riêng với chúng tôi rằng thế trận nghiêng về phía bên kia với quyền lực và định kiến quá lớn khiến triển vọng vô cùng mờ mịt.
Thế là niềm hạnh phúc mới chớm của Marget đã lụi tàn nhanh chóng. Chẳng có người bạn nào đến chia buồn với cô, và cũng chẳng trông mong gì có ai; một bức thư không ký tên đã hủy lời mời tới bữa tiệc. Sẽ chẳng có học trò nào đến học đàn. Biết lấy gì trang trải cuộc sống đây? Cô vẫn có thể ở lại căn nhà, bởi khoản tiền thế chấp đã được trả xong, dẫu cho chính quyền chứ không phải tội nghiệp Solomon Isaacs mới là kẻ đang nắm giữ tiền thế chấp vào lúc này. Bà Ursula già, người làm đủ mọi việc từ nấu nướng, dọn phòng, quản gia, giặt giũ cho Cha Peter và từng là vú em của Marget những năm thơ ấu, quả quyết rằng Chúa sẽ lo liệu. Nhưng bà nói thế theo thói quen, bởi bà là một tín đạo Kitô tốt lành. Bà tự nhủ sẽ phụ giúp vào việc lo liệu cho chắc chắn, nếu tìm được cách nào đó.
Mấy đứa chúng tôi rất muốn đến thăm Marget và tỏ lòng thân thiện với cô, nhưng cha mẹ chúng tôi sợ làm mất lòng xóm giềng nên không cho phép. Vị chiêm tinh gia đang đi khắp nơi kích động mọi người chống lại Cha Peter, ra rả gã là một kẻ cắp khốn nạn đã vơ vét của lão một nghìn một trăm linh bảy đồng ducat vàng. Lão bảo lão biết chắc gã là kẻ trộm chính từ chi tiết đó, bởi đó đúng là số tiền lão đã bị mất mà Cha Peter lại giả vờ như đã “nhặt được”.
Vào buổi chiều của ngày thứ tư sau thảm họa, bà Ursula già xuất hiện ở nhà chúng tôi xin nhận quần áo về giặt, và khẩn nài mẹ tôi giữ bí mật chuyện này để bảo vệ sĩ diện cho Marget, vì nếu biết chuyện chắc chắn Marget sẽ ngăn cản, trong khi cô hiện chẳng có đủ cái ăn và đang ngày một kiệt sức. Bản thân bà Ursula cũng đang suy kiệt và điều đó thể hiện rõ; bà ngấu nghiến đồ ăn được cho như một kẻ chết đói, nhưng nhất quyết không chịu mang chút gì về nhà bởi Marget không chịu ăn đồ bố thí. Bà mang quần áo xuống bờ suối để giặt, nhưng nhìn từ cửa sổ chúng tôi thấy việc đập đồ giặt quá sức chịu đựng của bà; thế là bà được gọi giật ngược lên và cho một ít tiền lẻ, món tiền mà bà sợ chẳng dám nhận vì sợ Marget nghi ngờ; rồi bà cũng cầm lấy, bảo rằng sẽ giải thích là nhặt được ngoài đường. Để khỏi thành kẻ nói dối và đày đọa tâm hồn mình, bà nhờ tôi thả đồng tiền xuống khi bà chú ý quan sát; rồi bà đi ngang qua đó, kêu lên đầy ngạc nhiên và vui sướng, nhặt nó lên và tiếp tục cất bước. Giống như bao người khác trong làng, bà có thể thốt ra những lời nói dối vụn vặt hằng ngày nhanh gọn lẹ mà chẳng màng mẩu may lo sợ lửa diêm sinh địa ngục trừng phạt vì tội ấy; nhưng đây là một loại dối trá hoàn toàn mới, và nó mang vẻ đáng sợ vì bà chưa hề có kinh nghiệm với nó. Sau một tuần thực hành thì chắc bà sẽ chẳng thấy phiền hà gì nữa. Bản tính con người chúng ta vốn là thế.
Tôi vô cùng phiền muộn, tự hỏi rồi Marget sẽ sống ra sao? Ursula đâu thể ngày nào cũng nhặt được một đồng tiền ngoài đường — có lẽ thậm chí chẳng có đồng thứ hai. Và tôi cũng thấy hổ thẹn vì đã chẳng thèm lui tới chỗ Marget, trong khi cô đang rất cần những người bạn; nhưng đó là lỗi của cha mẹ tôi chứ chẳng phải tôi, và tôi chẳng thể làm gì khác.
Tôi đang thui thủi bước đi trên lối mòn với tâm trạng vô cùng ủ rũ, thì bỗng một cảm giác tươi mát sảng khoái và phấn chấn trào dâng lan tỏa khắp người tôi, khiến tôi vui sướng không thốt nên lời, bởi tôi nhận ra dấu hiệu ấy cho thấy Satan đang ở quanh đây. Tôi từng nhận ra điều này trước kia rồi. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn đã sánh bước bên tôi và tôi tuôn trào kể lể với hắn mọi nỗi muộn phiền cũng như những gì đã xảy ra với Marget và người bác của cô. Đang trò chuyện, chúng tôi rẽ qua một khúc cua và trông thấy bà Ursula già đang ngồi nghỉ mát dưới bóng cây, trên đùi bà là một con mèo hoang gầy giơ xương đang được vuốt ve. Tôi hỏi bà kiếm đâu ra nó, và bà bảo nó từ trong rừng chạy ra bám theo; và rằng chắc nó chẳng có mẹ hay bạn bè gì nên bà định mang về nhà chăm sóc. Satan cất tiếng:
“Tôi nghe nói bà nghèo lắm cơ mà. Sao lại muốn rước thêm một cái miệng ăn nữa làm gì? Sao không đem cho người giàu nào đó?”
Ursula hếch mặt lên đáp: “Chắc cậu muốn nhận nó lắm nhỉ. Ăn vận sang trọng với cái vẻ quý tộc thế kia thì hẳn cậu giàu lắm.” Rồi bà khịt mũi bảo: “Đem cho người giàu — rõ ngớ ngẩn! Người giàu chẳng bận tâm đến ai ngoài bản thân họ; chỉ có người nghèo mới có lòng trắc ẩn với người nghèo và giúp đỡ họ. Người nghèo và Chúa. Chúa sẽ lo liệu cho con mèo này.”
“Sao bà lại nghĩ thế?”
Mắt Ursula lóe lên giận dữ. “Bởi vì tôi biết chắc!” bà gắt lên. “Đến một con chim sẻ rơi xuống đất mà Người còn thấy cơ mà.”
“Nhưng dẫu sao thì nó vẫn rơi xuống đấy thôi. Thấy nó rơi thì có ích gì chứ?”
Hàm Ursula bặm lại, tức tưởi đến mức chốc lát chẳng thốt nên lời vì quá kinh hãi. Khi lấy lại được giọng, bà quát to: “Cút đi lo chuyện của cậu đi, đồ ranh con, bằng không tôi cho một gậy bây giờ!”
Tôi sợ đến mức chẳng nói nên lời. Tôi biết rằng với quan niệm của Satan về loài người, hắn sẽ chẳng màng đến chuyện đập chết tươi bà, bởi “còn khối kẻ khác”; thế nhưng lưỡi tôi cứng đờ, chẳng thể cất lời cảnh báo nào. Nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra cả; Satan vẫn điềm nhiên — điềm nhiên và dửng dưng. Tôi đoán Ursula có lăng mạ hắn thì cũng chẳng khác gì một con bọ hung dám xúc phạm nhà vua cả. Mải cáu kỉnh, bà cụ liền đứng phắt dậy, động tác thoăn thoắt chẳng khác gì một thiếu nữ. Đã bao năm nay bà chưa từng làm được động tác nào nhanh nhẹn như thế. Đó chính là ma lực của Satan; hắn mang lại luồng gió tươi mới cho những kẻ yếu đuối và bệnh tật bất cứ nơi nào hắn đặt chân tới. Sự hiện diện của hắn thậm chí tác động cả đến con mèo hoang gầy gò, khiến nó thoăn thoắt nhảy tót xuống đất rượt đuổi theo một chiếc lá. Ursula ngạc nhiên đứng sững nhìn con vật và gật đầu đầy kinh ngạc, cơn giận dữ đã bay biến đi đâu mất.
“Chuyện gì xảy ra với nó thế này?” bà thốt lên. “Lúc nãy nó còn đi đứng chẳng nổi cơ mà.”
“Bà chưa từng thấy giống mèo nào thế này bao giờ phải không,” Satan nói.
Ursula chẳng định tỏ ra thân thiện với kẻ xa lạ thích châm chọc này, bà lườm hắn một cái sắc lẻm rồi đáp trả: “Ai mướn cậu tới đây lải nhải làm phiền tôi hả? Mà cậu thì biết gì về những thứ tôi từng thấy hay chưa thấy chứ?”
“Cậu chưa từng thấy con mèo nào có gai trên lưỡi tua tủa hướng về đằng trước bao giờ phải không?”
“Không — mà cậu cũng đời nào thấy.”
“Thế thì cứ kiểm tra con này xem thế nào.”
Ursula vốn đã khá nhanh nhẹn, nhưng con mèo còn lanh lẹ hơn nhiều, kết quả là bà không sao chộp được nó và đành chịu thua. Satan bèn gợi ý:
“Hãy đặt cho nó một cái tên, biết đâu nó sẽ chịu tới.”
Ursula thử gọi mấy cái tên liền, nhưng con mèo hoàn toàn phớt lờ.
“Hãy gọi nó là Agnes. Thử xem sao.”
Con vật liền đáp lại tiếng gọi và chạy đến. Ursula kiểm tra lưỡi nó. “Ôi trời ạ, đúng thế thật!” bà thốt lên. “Tôi chưa từng thấy giống mèo nào như thế này bao giờ. Của cậu à?”
“Không.”
“Thế sao cậu lại biết vanh vách tên nó thế?”
“Bởi vì mọi con mèo thuộc giống này đều tên là Agnes; chúng sẽ chẳng đời nào đáp lại cái tên nào khác.”
Ursula vô cùng ấn tượng. “Thật là chuyện kỳ diệu nhất trên đời!” Rồi bóng mây lo lắng thoáng hiện trên nét mặt bà, nỗi sợ mê tín dị đoan trỗi dậy, bà miễn cưỡng đặt con vật xuống, lẩm bẩm: “Chắc tôi phải để nó đi thôi; tôi không sợ đâu — không, không hẳn thế, dẫu cho vị linh mục... chà, tôi từng nghe người ta... quả thực, rất nhiều người... Và vả lại, bây giờ nó đã khỏe hẳn và có thể tự lo cho mình rồi.” Bà thở dài, quay người bước đi, miệng lẩm bẩm: “Nó đáng yêu làm sao, có nó bầu bạn thì vui biết mấy — mà ngôi nhà dạo này bao chuyện ruối rắm nên quạnh hiu buồn tủi quá... Cô Marget thì ủ rũ tiều tụy như cái bóng, còn ông chủ già thì bị giam trong ngục.”
“Thật đáng tiếc nếu không giữ nó lại,” Satan nói.
Ursula quay phắt lại — hệt như thể đang hy vọng có ai đó khích lệ mình.
“Tại sao chứ?” bà hỏi với giọng thèm thuồng.
“Bởi vì giống mèo này mang lại vận may.”
“Thật á? Có thật thế không? Cậu thanh niên, cậu biết chắc là thật chứ? Nó mang lại vận may kiểu gì cơ chứ?”
“Thì, dù sao đi nữa nó cũng mang lại tiền bạc.”
Vẻ mặt Ursula lộ rõ vẻ thất vọng. “Tiền bạc? Mèo mang lại tiền ư? Rõ ngớ ngẩn! Cậu chẳng thể bán nó ở cái làng này đâu; ở đây chẳng ai mua mèo cả; thậm chí cho không chẳng ai thèm lấy.” Bà quay lưng định bước đi.
“Ý tôi không phải là bán nó. Ý tôi là có thu nhập từ nó cơ. Giống này được gọi là Mèo May Mắn. Chủ nhân của nó sẽ tìm thấy bốn đồng bạc groschen trong túi mình vào mỗi buổi sáng.”
Tôi thấy cơn phẫn nộ đang dâng trào trên nét mặt bà cụ. Bà bị xúc phạm. Cậu thanh niên này đang giễu cợt bà. Bà nghĩ thế. Bà thọc hai tay vào túi quần và ưỡn người lên định cho hắn một trận ra ngô ra khoai. Cơn thịnh nộ bùng lên hừng hực. Miệng bà há ra định thốt lên ba từ cay đắng,... rồi bỗng khựng lại im bặt, sự giận dữ trên mặt biến thành vẻ ngạc nhiên hay kinh hãi, hay một thứ gì đó đại loại thế, và bà từ từ rút tay ra khỏi túi, mở tung hai bàn tay rồi cứ thế giơ ra. Trong một tay là đồng tiền của tôi, tay kia nằm bốn đồng bạc groschen. Bà ngẩn người trân trân nhìn một lúc lâu, có lẽ để xem số bạc groschen ấy có biến mất hay không; rồi bà xúc động thốt lên:
“Đúng là thật — thật rồi — tôi thật đáng trách, xin ngài tha thứ, ôi vị chủ nhân và ân nhân kính yêu!” Và bà chạy lao đến chỗ Satan, hết lần này đến lần khác hôn lên tay hắn, đúng theo phong tục xứ Áo.
Sâu thẳm trong lòng, có lẽ bà vẫn tin đó là một con mèo phù thủy và là tay sai của Quỷ dữ; nhưng điều đó chẳng hề gì, vì như vậy càng chắc chắn hơn việc nó có thể giữ đúng giao ước và mang lại cuộc sống đầy đủ sung túc hằng ngày cho gia đình, bởi trong chuyện tiền nong thì dẫu cho những nông dân đạo đức nhất làng chúng ta cũng đặt niềm tin vào một giao ước với Quỷ dữ nhiều hơn là với một vị tổng lãnh thiên thần. Ursula hớt hải quay về nhà, ôm con Agnes trong tay, còn tôi thì bày tỏ ước gì mình cũng có đặc quyền được đến thăm Marget.
Rồi tôi nín thở, bởi chúng tôi đã ở đó tự bao giờ. Ngay trong phòng khách, và Marget đang đứng nhìn chúng tôi với vẻ kinh ngạc. Trông cô xanh xao và yếu ớt, nhưng tôi biết những triệu chứng đó sẽ chẳng thể trụ lại lâu trong bầu không khí của Satan, và quả thực đúng là như vậy. Tôi giới thiệu Satan — à chính là Philip Traum — rồi chúng tôi ngồi xuống trò chuyện. Chẳng có chút khách sáo gò bó nào cả. Dân làng chúng tôi vốn là những con người bình dị, và khi một vị khách là người dễ mến thì chẳng mấy chốc chúng tôi đã thành bạn bè. Marget ngạc nhiên tự hỏi sao chúng tôi vào nhà mà cô không hề nghe thấy tiếng động nào. Traum bảo cửa mở sẵn, thế là chúng tôi cứ thế bước vào rồi ngồi đợi cô quay lại chào hỏi. Điều này hoàn toàn bịa đặt; chẳng có cánh cửa nào mở cả; chúng tôi chui qua tường, qua mái nhà, hoặc tuột qua ống khói, hay bằng cách nào đó không rõ; nhưng chẳng hề gì, bất cứ điều gì Satan muốn người khác tin thì người đó nhất định sẽ tin, thế nên Marget hoàn toàn thỏa mãn với lời giải thích đó. Hơn nữa, tâm trí cô lúc ấy chủ yếu hướng về Traum mất rồi; cô cứ dán mắt vào hắn không rời bởi hắn quá ư đẹp đẽ. Điều đó khiến tôi vô cùng thỏa mãn và tự hào. Tôi cứ mong hắn thể hiện chút tài nghệ nào đó, nhưng hắn chẳng làm thế. Hắn dường như chỉ hứng thú với việc làm thân và nói dối. Hắn bảo mình là trẻ mồ côi. Điều đó khiến Marget xiết bao thương cảm. Khóe mắt cô rưng rưng. Hắn bảo chưa bao giờ biết mặt mẹ; bà qua đời khi hắn còn là một đứa bé thơ; còn bố thì sức khỏe suy sụp, chẳng có tài sản gì đáng kể — thực ra là chẳng có giá trị trần thế nào — nhưng hắn có một người bác làm ăn buôn bán tít tận miền nhiệt đới, rất giàu có và nắm giữ độc quyền, và hắn sống nhờ vào sự trợ cấp của người bác này. Chỉ cần nhắc đến một người bác tốt bụng là đủ để Marget nhớ đến người bác của chính mình, và đôi mắt cô lại ngấn lệ. Cô bảo hy vọng hai người bác của họ sẽ có ngày gặp nhau. Nghe vậy tôi rùng mình. Philip bảo hắn cũng hy vọng thế; và điều đó lại làm tôi rùng mình lần nữa.
“Có lẽ họ sẽ gặp nhau đấy,” Marget nói. “Bác của anh có hay đi đây đi đó không?”
“À có chứ, bác ấy đi khắp nơi; chỗ nào cũng có việc làm ăn cả.”
Cứ thế họ trò chuyện rôm rả, và dẫu sao thì ít ra Marget tội nghiệp cũng quên đi nỗi buồn phiền trong chốc lát. Đó có lẽ là khoảng thời gian tươi sáng và vui vẻ thực sự duy nhất mà cô được trải qua trong thời gian gần đây. Tôi nhận ra cô có thiện cảm với Philip, và tôi biết chắc là thế. Và khi hắn hứa sẽ xin cho cô vào nhà giam để thăm người bác, đó chính là đỉnh điểm. Hắn bảo sẽ biếu lính canh một chút quà nhỏ, và cô cứ việc đi vào buổi tối sau khi trời tối hẳn, không cần nói gì cả, “mà chỉ cần đưa tờ giấy này rồi đi qua, lúc ra cũng đưa lại như thế” — rồi hắn nguệch ngoạc vài nét kỳ lạ lên tờ giấy và đưa cho cô, Marget vô cùng biết ơn, lập tức nôn nóng ngóng trời mau tối; bởi trong thời đại tàn nhẫn và cổ xưa ấy, tù nhân không được phép gặp gỡ người thân bạn bè, và đôi khi họ bị giam cầm ròng rã nhiều năm trời trong ngục tối mà chẳng bao giờ được nhìn thấy một khuôn mặt thân thiện nào. Tôi đoán những nét vẽ trên giấy là một thứ phép thuật, khiến đám lính canh không biết mình đang làm gì và sau đó chẳng còn chút ký ức nào về việc ấy; và quả thực sự việc diễn ra đúng là như vậy. Lúc này Ursula thò đầu vào cửa nói:
“Dọn cơm rồi thưa cô.” Rồi bà nhìn thấy chúng tôi liền giật mình hoảng hốt, ra hiệu kêu tôi ra ngoài, tôi liền bước ra và bà hỏi chúng tôi có lỡ miệng kể chuyện con mèo không. Tôi bảo không, bà thở phào nhẹ nhõm, dặn dò tuyệt đối đừng kể nhé; bởi nếu cô Marget biết, cô sẽ nghĩ đó là một con mèo quỷ quái rồi cho gọi linh mục đến trừ khử sạch mọi phép thuật của nó, thế là chẳng còn cổ tức nào nữa cả. Thế nên tôi hứa sẽ giữ kín miệng và bà mới yên tâm. Lúc đó tôi đang định chào từ biệt Marget thì Satan xen vào, hết sức lịch sự — chà, tôi không nhớ chính xác từng câu chữ, nhưng đại loại là hắn tự ý mời luôn cả hắn lẫn tôi ở lại ăn tối. Dĩ nhiên Marget vô cùng bối rối ngượng ngùng, bởi cô vốn chẳng có nổi dăm lấy mẩu thức ăn đủ cho một con chim sẻ ốm. Ursula nghe thấy thế liền xồng xộc bước thẳng vào phòng, nét mặt chẳng lấy gì làm vui vẻ cho cam. Ban đầu bà vô cùng ngạc nhiên khi thấy Marget trông tươi tắn hồng hào đến thế, và cất lời thốt lên; rồi bà buông một tràng bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Bohemia — như tôi được biết sau này — với nội dung: “Đuổi hắn đi đi cô Marget; chẳng có đủ thức ăn đâu.”
Chưa để Marget kịp mở lời, Satan đã cướp lời và đối đáp lại Ursula bằng chính thứ tiếng của bà — điều khiến bà sững sờ ngạc nhiên, và cô chủ của bà cũng vậy. Hắn bảo: “Hồi nãy chẳng phải tôi vừa gặp bà ngoài đường sao?”
“Vâng, thưa cậu.”
“À, tôi rất vui; thấy bà vẫn nhớ ra tôi.” Hắn bước đến sát bên và thì thầm: “Tôi đã bảo đó là con Mèo May Mắn mà. Đừng lo lắng; nó sẽ lo liệu đầy đủ.”
Câu nói đó đã quét sạch mọi lo âu phiền muộn trong lòng Ursula, và một thứ niềm vui tài chính sâu sắc bừng sáng trong đôi mắt bà. Giá trị của con mèo lại càng tăng lên gấp bội. Đã đến lúc Marget cần phải đáp lại lời mời của Satan, và cô đã xử lý theo cách tuyệt vời nhất, cách chân thành vốn có trong bản tính của cô. Cô bày tỏ rằng mình chẳng có mấy thứ để đãi khách, nhưng nếu chúng tôi sẵn lòng chia sẻ thì luôn nhiệt liệt chào đón.
Chúng tôi ăn tối trong bếp, và Ursula đứng hầu bàn. Một con cá nhỏ đang xèo xèo trong chảo rán, giòn rụm, vàng ươm và vô cùng hấp dẫn, và ai nhìn vào cũng biết Marget chẳng hề mong đợi một bữa ăn tươm tắp đến thế này. Ursula mang dĩa cá ra, và Marget chia đôi phần cho Satan và tôi, nhất quyết từ chối không ăn miếng nào; cô vừa định mở lời bảo hôm nay mình không thích ăn cá, nhưng rồi câu nói bị bỏ lửng giữa chừng. Lý do là vì cô nhận thấy trong chảo lại vừa xuất hiện một con cá khác. Cô ngạc nhiên đưa mắt nhìn nhưng chẳng nói gì. Chắc cô định bụng lát nữa sẽ gặng hỏi Ursula về chuyện này. Lại còn những điều bất ngờ khác: thịt quay, thú rừng, rượu vang và hoa quả — những thứ từ lâu đã trở thành khách lạ trong ngôi nhà này; nhưng Marget không hề thốt lên lời cảm thán nào, thậm chí lúc này trông cô còn có vẻ hết sức bình thản không ngạc nhiên, và đó dĩ nhiên lại là ma lực của Satan. Satan cứ thế trò chuyện liên hồi, vô cùng thú vị và khiến thời gian trôi qua thật vui vẻ phấn chấn; và dẫu cho hắn bịa đặt không ít chuyện, điều đó chẳng hề tổn hại gì, bởi hắn vốn chỉ là một thiên thần và chẳng biết phân biệt phải trái. Bọn họ nào biết thế nào là đúng với sai; tôi biết điều này, bởi tôi nhớ những gì hắn từng nói về chuyện đó. Hắn tranh thủ lấy lòng Ursula. Hắn khen ngợi bà với Marget bằng vẻ bí mật, nhưng cố tình nói đủ lớn để Ursula nghe thấy. Hắn bảo bà là một phụ nữ tuyệt vời, và hy vọng có ngày sẽ làm mối đưa bà gặp gỡ người bác của mình. Chẳng mấy chốc Ursula đã uốn éo làm nũng theo cái vẻ thiếu nữ lố bịch, vuốt ve váy áo và chải chuốt điệu đà hệt như một mụ gà mái già ngốc nghếch, miệng vẫn ra điều ta đây không nghe thấy Satan đang tán dương gì mình. Tôi thấy ngượng ngùng thay, bởi điều đó phơi bày đúng bản chất của chúng ta qua cái nhìn của Satan: một giống loài ngốc nghếch và phù phiếm. Satan bảo người bác của hắn thường xuyên tổ chức tiệc tùng tiếp đãi khách khôn xiết, và nếu có một người phụ nữ tháo vát chủ trì các buổi tiệc tùng ấy thì sức hấp dẫn của nơi đó sẽ tăng lên gấp đôi.
“Nhưng bác của anh là một quý tộc phải không?” Marget hỏi.
“Vâng,” Satan dửng dưng đáp; “một số người thậm chí còn gọi ngài là Hoàng tử để tôn sông, nhưng ngài chẳng hề cố chấp; đối với ngài, phẩm giá cá nhân là tất cả, địa vị chẳng là gì cả.”
Bàn tay tôi đang thả lỏng bên chiếc ghế; con Agnes bước đến liếm nhẹ; hành động đó vô tình làm lộ tẩy một bí mật. Tôi định thốt lên, “Tất cả chỉ là hiểu lầm; đây chỉ là một con mèo bình thường tầm thường thôi; những chiếc gai trên lưỡi nó hướng vào trong chứ không phải ra ngoài.” Nhưng từ ngữ chẳng thể thốt ra, bởi chúng bị nghẹn lại. Satan mỉm cười nhìn tôi, và tôi chợt hiểu ra.
Khi trời tối hẳn, Marget gói ghém thức ăn, rượu vang và hoa quả vào một chiếc giỏ rồi vội vã rảo bước đến nhà giam, còn Satan và tôi thong thả đi về hướng nhà tôi. Tôi đang thầm nghĩ không biết bên trong nhà giam trông như thế nào; Satan đọc được suy nghĩ đó, và ngay khoảnh khắc tiếp theo chúng tôi đã đứng ngay trong ngục tối. Satan bảo chúng tôi đang ở trong phòng tra tấn. Giá tra tấn đặt ở đó, cùng với các dụng cụ khác, và trên tường có treo một vài ngọn đèn dầu hun khói mập mờ khiến khung cảnh thêm phần u ám và đáng sợ. Có những kẻ ở đó — cùng với đám đao phủ — nhưng vì chúng chẳng màng đếm xỉa gì đến sự hiện diện của chúng tôi, điều đó có nghĩa là chúng tôi đang ở dạng tàng hình. Một thanh niên đang bị trói ngặt, và Satan bảo anh ta đang bị tình nghi là kẻ dị giáo, đám đao phủ chuẩn bị khảo cung. Chúng gặng ép anh ta thú nhận tội danh, và anh ta đáp không thể nhận, vì đó là sự việc không có thật. Thế là chúng đóng từng chiếc nêm gỗ sắc nhọn ngập vào dưới móng tay anh ta, khiến nạn nhân hét lên thảm thiết vì đau đớn. Satan vẫn điềm nhiên không mảy may động lòng, nhưng tôi thì không sao chịu nổi, đành phải được hắn búng tay đưa đi nơi khác ngay lập tức. Tôi buồn nôn và lả đi, nhưng luồng không khí trong lành đã vực tôi tỉnh lại, và chúng tôi tiếp tục rảo bước về nhà. Tôi thốt lên đó là một hành động tàn bạo dã man.
“Không, đó là một hành động mang tính con người. Cậu không nên xúc phạm loài vật bằng cách lạm dụng từ ngữ đó; chúng không đáng bị như vậy,” và hắn lại tiếp tục triết lý kiểu đó. “Nó hệt như cái giống loài nhỏ mọn của các cậu — luôn luôn nói dối, luôn vỗ ngực tự nhận những đức tính mà bản thân chẳng hề có, luôn tước đoạt những đức tính ấy ở loài động vật bậc cao, những sinh vật duy nhất sở hữu chúng. Chẳng có con thú nào làm điều tàn ác bao giờ — đó là đặc quyền độc tôn của những kẻ sở hữu Giác quan Đạo đức. Khi một con thú gây ra đau đớn, nó làm thế một cách ngây thơ vô số tội; chẳng có gì là sai trái cả; đối với chúng chẳng có khái niệm sai trái. Và chúng đâu có gây đau đớn vì niềm vui được tra tấn — chỉ con người mới làm thế thôi. Được truyền cảm hứng bởi cái Giác quan Đạo đức lai căng tạp nham của chính mình! Một cái giác quan có chức năng phân biệt phải trái, kèm theo quyền tự do lựa chọn hành động theo bên nào. Thế thì hắn thu được lợi lộc gì từ thứ đó chứ? Hắn cứ loay hoay lựa chọn hoài, và mười lần như một thì hắn lại chuộng điều sai trái hơn. Lẽ ra chẳng nên có điều sai trái nào cả; và nếu không có Giác quan Đạo đức thì cũng chẳng thể có bất kỳ cái sai nào. Thế mà hắn lại là một sinh vật u mê đần độn đến mức chẳng thể nhận thức nổi rằng Giác quan Đạo đức đã kéo tụt hắn xuống tận tầng đáy của các loài sinh vật có linh hồn và đó thực sự là một đặc ân đáng xấu hổ. Cậu thấy khá hơn chưa? Để tôi cho cậu xem cái này.”