Marget loan báo sẽ tổ chức một buổi tiệc và mời bốn mươi khách; bảy ngày nữa tiệc sẽ diễn ra. Đây là một cơ hội tuyệt vời. Nhà của Marget nằm độc lập một mình, nên rất dễ theo dõi. Suốt cả tuần, ngôi nhà bị giám sát ngày đêm. Người nhà Marget vẫn ra vào bình thường, nhưng tay họ không xách gì, và cả họ lẫn người ngoài cũng chẳng mang thứ gì vào nhà. Điều này đã được xác thực. Rõ ràng là không có phần khẩu phần ăn nào cho bốn mươi người được mua về cả. Nếu họ được cung cấp bất kỳ thức ăn nào, thì tất cả phải được nấu nướng ngay tại chỗ. Quả thật Marget vẫn xách giỏ đi ra vào mỗi buổi chiều, nhưng những kẻ mật thám đã chắc chắn rằng lần nào cô cũng mang giỏ về tay không.
Đến trưa, các vị khách lục tục kéo đến chật cứng cả nhà. Cha xứ Adolf cũng đến; và lát sau, nhà chiêm tinh học không mời mà tới cũng xuất hiện. Bọn mật thám đã báo cho lão rằng chẳng có gói hàng nào được mang vào từ cửa trước lẫn cửa sau. Lão bước vào, thấy cảnh ăn uống đang diễn ra vô cùng tốt đẹp, mọi thứ náo nhiệt và vui vẻ tưng bừng. Lão đảo mắt quan sát và nhận ra nhiều món khai vị được nấu nướng cùng tất cả các loại trái cây nội ngoại địa đều là đồ dễ hỏng, đồng thời lão cũng nhận thấy chúng hãy còn tươi rói và hoàn hảo. Không có bóng ma nào, chẳng có lời nguyền chú nào, cũng chẳng có tiếng sấm sét nào cả. Thế là rõ. Đây chính là thuật phù thủy. Hơn thế nữa, đây lại là một loại phù thủy hoàn toàn mới—một loại chưa từng ai dám mơ tới. Đó là một quyền năng kỳ vĩ, một quyền năng hiển hách; lão hạ quyết tâm phải khám phá ra bí mật của nó. Tin tức về điều này sẽ vang dội khắp thế giới, lan đến những vùng đất xa xôi nhất, làm cho tất cả các quốc gia chết lặng trong kinh ngạc—và mang theo cả tên tuổi của lão, khiến lão trở nên nổi tiếng muôn đời. Thật là một vận may kỳ diệu, một vận may lẫy lừng; vinh quang của nó làm lão choáng váng cả người.
Mọi người trong nhà nhường chỗ cho lão; Marget lịch sự mời lão ngồi; Ursula liền ra lệnh cho Gottfried mang đến một chiếc bàn riêng cho lão. Sau đó, bà bày biện, dọn dẹp bàn tiệc và hỏi xem lão muốn dùng gì.
— Cứ mang cho tôi thứ gì cô thích đi, — lão đáp.
Hai người hầu liền mang thức ăn từ phòng chứa thức ăn ra, kèm theo cả rượu vang trắng và rượu vang đỏ—mỗi thứ một chai. Nhà chiêm tinh học, kẻ có lẽ chưa bao giờ được nhìn thấy những món ngon vật lạ như thế trong đời, liền rót một cốc rượu vang đỏ uống cạn, rồi lại rót cốc thứ hai, đoạn bắt đầu ăn với một sự thèm thuồng vô độ.
Tôi không hề mong đợi Satan xuất hiện, bởi đã hơn một tuần nay tôi chẳng hề thấy hay nghe gì về cậu ta, thế nhưng lúc ấy cậu ta lại bước vào—tôi nhận ra sự hiện diện của cậu qua cảm giác, dù có những người đứng chắn ngang nên tôi không nhìn thấy cậu. Tôi nghe thấy cậu đang cất lời xin lỗi vì đã đường đột làm phiền; cậu định quay đi, nhưng Marget nài nỉ cậu ở lại, thế là cậu cảm ơn cô rồi ở lại. Cô dẫn cậu đi cùng, giới thiệu cậu với mấy cô gái, với Meidling và một vài vị bô lão; và có những tiếng thì thầm xôn xao vang lên: “Chính là cậu thanh niên lạ mặt mà chúng ta nghe đồn rất nhiều nhưng chẳng tài nào gặp được, vì cậu ta vắng mặt suốt.” — “Trời ơi, cậu ấy đẹp trai quá—cậu ấy tên gì nhỉ?” — “Philip Traum.” — “À, nghe hợp với cậu ấy đấy chứ!” (Bạn thấy đấy, trong tiếng Đức “Traum” có nghĩa là “Giấc mơ”.) — “Cậu ấy làm nghề gì?” — “Người ta bảo đang tu học để làm linh mục.” — “Gương mặt chính là gia tài của cậu ấy—có ngày cậu ấy sẽ làm hồng y cho xem.” — “Nhà cậu ấy ở đâu?” — “Nghe nói tít tận vùng nhiệt đới nào đó—có một ông chú giàu sụ ở trển.” Cứ thế. Cậu ta lập tức tạo được ấn tượng; ai nấy đều sốt sắng muốn làm quen và trò chuyện với cậu. Mọi người đều nhận ra bầu không khí bỗng chốc trở nên mát mẻ và tươi mát lạ thường, rồi lấy làm kinh ngạc trước điều đó, bởi họ thừa sức nhìn thấy mặt trời bên ngoài vẫn đang đổ lửa gay gắt như trước và bầu trời không một bóng mây, dĩ nhiên là chẳng ai đoán được lý do vì sao.
Nhà chiêm tinh học đã nốc cạn cốc rượu thứ hai; lão rót tiếp cốc thứ ba. Lão đặt chai rượu xuống, nhưng vì sơ ý nên làm đổ nghếch. Lão chộp lấy chai trước khi rượu bị tràn ra ngoài nhiều, đưa lên ánh sáng ngắm nghía và kêu lên: “Thật uổng quá—đây là loại rượu hoàng gia.” Kế đó, khuôn mặt lão bừng sáng vì vui sướng, hoặc vì đắc thắng, hay vì điều gì đó tương tự, rồi lão thét lên: “Nhanh lên! Mang một cái thau tới đây.”
Cái thau được mang ra—loại thau dung tích bốn vạt. Lão cầm chai rượu hai pint đó lên bắt đầu rót; cứ rót mãi, dòng chất lỏng màu đỏ ừng ực chảy tràn vào chiếc thau trắng, dâng lên ngày một cao gần sát miệng thau, mọi người xung quanh đều trân trân nhìn theo đến nghẹt thở—và chẳng mấy chốc cái thau đã đầy tràn đến mép.
— Nhìn cái chai kìa, — lão vừa nói vừa giơ cao chai rượu lên; — nó vẫn còn đầy nguyên đấy thôi! Tôi liếc nhìn Satan, và đúng khoảnh khắc ấy, cậu ta biến mất. Ngay đoạn ấy, cha xứ Adolf đứng phắt dậy, mặt đỏ tía tai vì giận dữ và kích động, làm dấu thánh giá và bắt đầu gầm lên bằng chất giọng vang dội của mình: “Ngôi nhà này đã bị phù phép và nguyền rủa!” Mọi người bắt đầu khóc thét lên và chen chúc xô đẩy nhau chạy ra cửa. “Ta triệu tập cái đám người bị phát giác trong ngôi nhà này đến—”
Lời nói của ông bị cắt đứt ngang xương. Khuôn mặt ông chuyển sang đỏ rực, rồi tím ngắt, nhưng ông chẳng thể thốt ra thêm được nửa tiếng nào nữa. Rồi tôi thấy Satan, giống như một lớp màng trong suốt, tan hòa vào trong cơ thể nhà chiêm tinh học; tiếp đó nhà chiêm tinh học giơ tay lên, và dường như bằng chính giọng nói của mình, lão cất tiếng: “Khoan đã—hãy đứng yên tại chỗ.” Tất cả đều khựng lại ở vị trí họ đang đứng. “Mang phễu ra đây!” Ursula run lẩy bẩy vì sợ hãi liền mang phễu tới, lão cắm nó vào chai rượu rồi nhấc cái thau lớn lên bắt đầu rót trả rượu ngược lại vào chai, đám đông ngẩn ngơ ngây dại nhìn theo trong sự kinh ngạc tột cùng, bởi họ thừa biết cái chai đã đầy từ trước khi lão bắt đầu rót. Lão trút toàn bộ số rượu trong thau vào lại trong chai, rồi cười mỉm hướng ra cả phòng, khúc khích cười và thốt lên vẻ dửng dưng: “Có gì ghê gớm đâu—ai mà chẳng làm được! Với năng lực của ta, ta thậm chí còn làm được nhiều hơn thế nữa.”

Một tiếng thét kinh hoàng bùng lên từ khắp mọi nơi. “Ôi Chúa ơi, hắn bị quỷ ám rồi!” và một cuộc xô đẩy hỗn loạn nhào ra cửa diễn ra, nhanh chóng tống khứ tất cả những kẻ không thuộc về ngôi nhà này ra ngoài, ngoại trừ đám trẻ chúng tôi và Meidling. Mấy đứa chúng tôi thừa biết bí mật này, và nếu được thì chúng tôi đã nói ra rồi, khổ nỗi chúng tôi lại không thể. Chúng tôi vô cùng biết ơn Satan vì đã ra tay cứu giúp đúng lúc đúng chỗ như vậy.
Marget tái mét mặt mày, nước mắt đầm đìa; Meidling trông đờ đẫn như hóa đá; Ursula cũng chẳng khá hơn; nhưng tồi tệ nhất là Gottfried—ông đứng không vững vì quá yếu và khiếp sợ. Phải biết rằng ông vốn sinh ra trong một gia đình phù thủy, nên nếu bị nghi ngờ thì đời ông coi như tiêu tơi. Agnes thung thăng bước vào, ra vẻ ngoan đạo ngây thơ, định cọ quẫy vào người Ursula để được vuốt ve nựng nịu, thế nhưng Ursula lại sợ con mèo ấy nên lùi ra xa, miệng vẫn cố ra điều mình chẳng hề có ý bất lịch sự tẹo nào, bởi cô thừa biết việc gây gân cốt mâu thuẫn với cái loại miêu tinh ấy chẳng mang lại kết quả tốt đẹp gì. Nhưng đám trẻ chúng tôi thì đón lấy Agnes và vuốt ve nó, vì Satan sẽ chẳng bao giờ thèm đối xử tốt với nó nếu cậu không có thiện cảm với nó, và chừng đó sự chứng thực thôi là quá đủ đối với chúng tôi. Cậu có vẻ tin tưởng bất cứ thứ gì không có cái gọi là Ý thức Đạo đức.
Bên ngoài, các vị khách vì quá hoảng loạn đã tản đi tứ phía, tháo chạy trong tâm trạng kinh hoàng đáng thương hại; và tiếng la hét, sụt sùi, gào thét cùng tiếng chân chạy thình thịch do họ gây ra náo loạn đến mức chẳng mấy chốc toàn bộ dân làng lũ lượt kéo nhau từ nhà ra xem chuyện gì đã xảy ra, họ chen chúc chật kín đường cái, vai kề vai xô đẩy nhau trong nỗi sợ hãi và kích động; rồi cha xứ Adolf xuất hiện, đám đông dạt ra thành hai bên vách như rẽ đôi Biển Đỏ, và chẳng mấy chốc, lững thững bước giữa con đường hẹp ấy là nhà chiêm tinh học đang lầm bầm lầu bầu, lão đi tới đâu đám đông lại dồn tụ khít rịt lại tới đó trong sự kinh hãi im bặt, mắt trân trân nhìn theo, ngực phập phồng thở dốc, và có tới mấy người phụ nữ ngất xỉu; khi lão đi khuất, đám đông lại túm tụm lại với nhau rồi bám theo sau ở một khoảng cách nhất định, vừa bàn tán rôm rả vừa hỏi han nhau để tìm hiểu sự thật. Tìm hiểu sự thật rồi truyền tai nhau kèm theo những lời thêu dệt—những sự thêu dệt chẳng mấy chốc đã phóng đại cái thau đựng rượu thành cả một cái thùng phi, và biến chiếc chai nhỏ thành vật chứa trọn toàn bộ số rượu ấy mà đến cuối cùng chai vẫn trống không.
Khi nhà chiêm tinh học ra tới quảng trường chợ, lão tiến thẳng đến chỗ một tên tung hứng ăn mặc sặc sỡ đang tung tung ba quả bóng đồng lên không trung, giật lấy chúng từ tay tên đó rồi quay phắt lại đối mặt với đám đông đang kéo tới và cất giọng: “Tên hề dốt nát này chẳng biết mẹ gì về nghệ thuật của hắn cả. Lại đây mà xem một bậc thầy biểu diễn này.”
Nói đoạn, lão tung từng quả bóng lên không trung rồi cho chúng quay tít thành một vòng bầu dục mỏng manh rực rỡ, rồi lão lại nhét thêm một quả nữa, rồi lại thêm quả nữa, quả nữa, và chẳng mấy chốc—chẳng ai thấy lão lấy chúng từ đâu ra—cứ thế thêm vào, thêm vào, thêm vào, vòng bầu dục cứ thế kéo dài mãi ra, đôi tay lão chuyển động nhanh đến mức nhòe đi thành một mảng tơ giăng hoặc một vệt mờ ảo chẳng thể phân biệt nổi đâu là tay nữa; và những ai đếm được thì bảo rằng lúc bấy giờ có tới cả trăm quả bóng đang bay lượn trên không trung. Vòng bầu dục khổng lồ đang xoay tít vươn cao tận hai mươi thước trên không, trông vô cùng lấp lánh, rực rỡ và ngoạn mục. Rồi lão khoanh tay lại và ra lệnh cho đám bóng tiếp tục tự quay mà không cần sự trợ giúp của lão—và chúng làm thật. Sau tầm vài phút, lão bảo: “Được rồi, thế là đủ,” và vòng bầu dục vỡ tung rơi ào xuống đất, đám bóng tản mác tung tóe lăn đi khắp mọi ngả. Và hễ quả bóng nào lăn đến đâu là người dân lại hoảng sợ lùi xa đến đấy, chẳng một ai dám chạm vào nó. Điều đó khiến lão cười lớn, mỉa mai đám đông và gọi họ là lũ hèn nhát với đám đàn bà đanh đá. Kế đó, lão quay đi nhìn thấy sợi dây thung đi trên cao, liền bĩu môi bảo rằng bọn người ngốc nghếch ngày nào cũng phí tiền đi xem một tên hề vụng về dốt nát bôi nhọ cái bộ môn nghệ thuật tuyệt mỹ ấy; giờ thì họ sẽ được tận mắt chứng kiến tác phẩm của một bậc thầy thực thụ. Dứt lời, lão nhún chân bay vút lên không trung và đáp gọn gàng vững chãi bằng hai chân lên sợi dây thung. Tiếp đó, lão nhảy lò cò bằng một chân suốt cả chiều dài sợi dây đi qua đi lại, hai tay đan chéo che kín mắt; rồi lão bắt đầu nhào lộn, cả lộn ngược lẫn lộn xuôi, và thực hiện liền một mạch hai mươi bảy vòng.
Đám đông xì xào bàn tán, bởi nhà chiêm tinh học đã già, trước giờ di chuyển vẫn luôn cà thọt thậm chí có lúc còn bị thọt chân, thế nhưng giờ đây lão lại cực kỳ linh hoạt và tiếp tục thực hiện những trò hề của mình một cách hoạt bát nhất. Cuối cùng, lão nhẹ nhàng nhảy phốc xuống đất rồi lững thững bước đi, rẽ lên con đường nhỏ vòng qua góc phố và biến mất. Lúc bấy giờ, đám đông khổng lồ đông nghịt, tái mét, im phăng phắc và rắn chắc ấy mới thở phào một hơi thật sâu rồi nhìn thẳng vào mặt nhau như muốn nói: “Có thật là thế không? Anh có thấy không, hay chỉ mình tôi—và tôi đang mơ đấy phỏng?” Rồi họ bắt đầu bật ra những tiếng xì xào nhỏ to bàn tán, tản ra thành từng đôi một, rảo bước về nhà, miệng vẫn tiếp tục bàn tán với vẻ đầy kinh sợ, ghé sát mặt vào nhau, tay đặt lên vai đối phương cùng những cử chỉ thường thấy của những kẻ vừa bị chấn động sâu sắc bởi một điều gì đó.
Đám trẻ chúng tôi lẽo đẽo đi theo sau lưng mấy ông bố, lắng nghe và chộp lấy mọi điều có thể nghe được trong câu chuyện của họ; và khi họ ngồi xuống trong nhà chúng tôi rồi tiếp tục cuộc trò chuyện, chúng tôi vẫn được ở lại hầu chuyện họ. Họ đang ở trong tâm trạng ảm đạm, bởi họ bảo rằng thảm họa cho cả ngôi làng là điều chắc chắn sẽ xảy ra sau chuyến viếng thăm khủng khiếp của lũ phù thủy và ma quỷ này. Rồi bố tôi chợt nhớ ra việc cha xứ Adolf đã bị đánh cho câm lặng ngay đúng khoảnh khắc ông cất lời nguyền rủa.
— Trước nay bọn chúng chưa từng dám động tay động chân vào một kẻ được xức dầu của Chúa, — bố nói; — và tôi không tài nào hiểu nổi sao lần này chúng lại dám làm thế, bởi ngài có mang theo cây thánh giá bên mình. Chẳng phải vậy sao?
— Đúng thế, — những người khác đáp, — chúng tôi đều nhìn thấy mà.
— Thật là nghiêm trọng, các bạn ạ, vô cùng nghiêm trọng. Trước nay chúng ta luôn có sự bảo vệ. Nhưng nó đã thất bại rồi.
Những người còn lại run rẩy, tựa như đang bị những cơn lạnh thấu xương cào xé, và lẩm bẩm đi lẩm bẩm lại những từ ấy —“Nó đã thất bại rồi.” — “Chúa đã ruồng bỏ chúng ta.”
— Đúng vậy, — bố của Seppi Wohlmeyer lên tiếng; — chẳng còn nơi nào để bấu víu tìm sự giúp đỡ nữa rồi.
— Người dân sẽ nhận ra điều này, — cha của Nikolaus, vị thẩm phán, tiếp lời, — và sự tuyệt vọng sẽ tước đoạt đi lòng can đảm lẫn sinh lực của họ. Quả thực chúng ta đã rơi vào thời buổi đen tối rồi.
Ông thở dài, và Wohlmeyer cất giọng buồn bã: — Tin tức về chuyện này sẽ lan đi khắp xứ, và ngôi làng của chúng ta sẽ bị hắt hủi như một nơi đangứng chịu cơn thịnh nộ của Chúa. Quán Hươu Vàng sắp phải đối mặt với những ngày tháng khốn đốn rồi đây.
— Quả đúng thế, hàng xóm ạ, — bố tôi nói; — tất cả chúng ta đều sẽ phải gánh chịu—tất cả sẽ tổn hại về danh tiếng, và nhiều người sẽ khánh kiệt sản nghiệp. Và, lạy Chúa nhân từ!—
— Chuyện gì thế?
— Thảm họa ấy có thể giáng xuống—để kết liễu đời chúng ta!
— Nói tên nó ra xem nào—vì Chúa nhân từ chớ!—
— Lệnh Tuyệt Phạt!
Nó giáng xuống tựa một tiếng sét đánh ngang tai, khiến họ suýt ngất lịm đi vì kinh hoàng khiếp đảm. Thế rồi nỗi sợ hãi trước thảm họa này lại đánh thức nguồn sinh lực của họ, khiến họ ngừng chìm đắm trong u sầu mà bắt đầu bàn tính các phương kế để ngăn chặn nó. Họ bàn thảo cách này, cách nọ, hết phương án này đến phương án khác, trò chuyện cho đến tận xế chiều muộn, để rồi cuối cùng phải thú nhận rằng hiện tại họ chẳng thể đi đến bất kỳ quyết định nào. Thế là họ buồn bã từ biệt nhau, mang theo những trái tim nặng trĩu đầy rẫy những dự cảm chẳng lành.
Lúc họ đang nói những lời từ giã, tôi liền lẻn ra ngoài và hướng thẳng đến nhà Marget để xem ở trẩy trôi ra sao. Tôi gặp rất nhiều người, nhưng chẳng một ai chào hỏi tôi cả. Lẽ ra điều đó phải đáng ngạc nhiên mới phải, nhưng không, bởi họ đang bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi và kinh hoàng đến mức tâm trí không còn bình tĩnh nổi nữa, tôi nghĩ vậy; mặt ai nấy đều tái mét, hốc hác, bước đi tựa như những kẻ đang mộng du, mắt mở trừng trừng nhưng chẳng nhìn thấy gì, môi mấp máy không thành tiếng, đôi bàn tay cứ bồn chồn bóp chặt rồi buông lơi lúc nào không hay.
Cảnh tượng ở nhà Marget hệt như một đám tang. Cô và Wilhelm ngồi cạnh nhau trên ghế sô-pha, nhưng chẳng nói năng gì, thậm chí còn chẳng buồn nắm tay nhau. Cả hai chìm đẫm trong sự u tối, và đôi mắt Marget thì sưng đỏ vì khóc lóc nãy giờ. Cô nói:
— Em vẫn đang nài nỉ anh ấy đi đi, đừng quay lại đây nữa, để giữ lấy mạng sống cho mình. Em không tài nào chịu nổi việc trở thành kẻ sát nhân hại chết anh ấy. Ngôi nhà này đã bị phù phép, và chẳng kẻ nào ở đây trốn thoát được ngọn lửa thiêu đốt đâu. Thế nhưng anh ấy nhất quyết không chịu đi, và rồi sẽ phải bỏ mạng cùng với tất cả mọi người thôi.
Wilhelm khẳng định anh sẽ không đi đâu cả; nếu nơi đây có hiểm nguy cho cô, thì vị trí của anh là ở cạnh cô, và anh sẽ ở lại đó. Thế rồi cô lại bắt đầu khóc nức nở, mọi thứ bi thảm đến mức tôi ước gì từ đầu mình đừng đến đây thì hơn. Bỗng có tiếng gõ cửa, và Satan bước vào, tươi tắn, rạng rỡ, xinh đẹp, mang theo cái bầu không khí sực nức mùi rượu của cậu để rồi thổi bay toàn bộ bầu u ám ấy đi. Cậu không hề đả động nửa lời về những chuyện vừa xảy ra, cũng chẳng nhắc gì đến những nỗi sợ hãi kinh hoàng đang đóng băng huyết dịch trong tim dân làng, mà bắt đầu huyên thuyên trò chuyện về đủ mọi thứ vui tươi thú vị; rồi sau đó chuyển sang chuyện âm nhạc—một đòn tung tẩy tài tình quét sạch phần tàn dư của sự trầm uất nơi Marget và làm dấy lên nguồn hứng khởi cùng sự quan tâm bừng tỉnh của cô. Cô chưa từng nghe ai nói về chủ đề đó một cách uyên bác và thấu đáo nhường ấy trước đây, và cô cảm thấy vô cùng thăng hoa, mê mẩn đến mức tất cả những cảm xúc trong lòng đều ánh lên trên gương mặt và bộc lộ qua từng lời nói; Wilhelm nhận ra điều đó và trông có vẻ không được vừa lòng cho lắm. Rồi Satan lại rẽ hướng sang thơ ca, ngâm nga vài đoạn, và làm việc đó cực kỳ xuất sắc, thế là Marget lại bị hớp hồn; và một lần nữa Wilhelm lại tỏ ra không mấy hài lòng, để rồi lần này Marget đã nhận ra điều đó và cảm thấy vô cùng áy náy.
Tôi chìm vào giấc ngủ trong tiếng nhạc êm đềm đêm hôm ấy—tiếng mưa tí tách gõ vào khung cửa kính và tiếng gầm gừ đục ngầu của những tiếng sấm xa xôi. Giữa đêm khuya, Satan đột ngột ghé qua đánh thức tôi dậy và bảo: — Đi với tôi nào. Chúng ta sẽ đi đâu đây?
— Đi đâu cũng được—miễn là đi cùng cậu.
Rồi một luồng ánh sáng mặt trời chói chang lóe lên, và cậu bảo: — Đây là Trung Quốc.
Đó là một bất ngờ lớn lao, khiến tôi ngỡ ngàng ngây ngất trong niềm kiêu hãnh và sung sướng khi nghĩ rằng mình đã đi được một quãng đường xa đến thế—xa hơn rất nhiều, rất nhiều so với bất kỳ ai trong làng, kể cả Bartel Sperling, kẻ vẫn luôn tự đắc về những chuyến đi xa của mình. Chúng tôi bay lượn vòng quanh đế chế đó hơn nửa tiếng đồng hồ, và ngắm nhìn toàn bộ lãnh thổ. Thật kỳ diệu, những cảnh tượng chúng tôi được chứng kiến; có những cảnh vô cùng đẹp đẽ, nhưng cũng có những cảnh quá ư hãi hùng không dám nghĩ đến. Chẳng hạn như—Thôi được, tôi sẽ kể chi tiết về chuyện đó sau, và cả lý do tại sao Satan lại chọn Trung Quốc cho chuyến du ngoạn này thay vì một nơi nào khác; việc đó sẽ làm gián đoạn câu chuyện của tôi lúc này mất. Cuối cùng, chúng tôi ngừng bay và hạ xuống.
Chúng tôi ngồi trên một sườn núi bao quát cả một không gian phong phú gồm dãy núi, hẻm vực, thung lũng, đồng bằng và dòng sông, với những thành phố và ngôi làng đang ngủ vùi trong ánh nắng, cùng một góc biển xanh le lói ở tận chân trời xa tít tắp. Đó là một khung cảnh thanh bình và mộng mơ, đẹp đẽ đối với mắt nhìn và vô cùng thư thái cho tâm hồn. Giá như chúng ta có thể tạo ra một sự thay đổi như thế bất cứ khi nào mình muốn, thì trần gian này sẽ dễ sống hơn biết bao, bởi sự thay đổi phong cảnh sẽ giúp trút bỏ những gánh nặng của tâm trí sang vai bên kia và xua đi những mệt mỏi cũ kỹ, mòn mỏi của cả thể xác lẫn tinh thần.
Chúng tôi trò chuyện cùng nhau, và tôi chợt nảy ra ý định thử cải tạo Satan, thuyết phục cậu ta sống một cuộc đời lương thiện hơn. Tôi kể cho cậu nghe về tất cả những việc cậu đã làm, và nài nỉ cậu hãy sống chu đáo hơn, đừng làm cho mọi người khổ sở nữa. Tôi bảo rằng tôi thừa biết cậu chẳng có ý hại ai, nhưng lẽ ra cậu nên dừng lại và suy ngẫm về những hậu quả có thể xảy ra trước khi phóng tay thực hiện mọi việc theo cái cách bốc đồng và ngẫu hứng ấy của mình; có thế thì cậu đã chẳng gây ra lắm phiền toái đến thế. Cậu không hề tỏ ra tổn thương trước lời nói thẳng thừng này; cậu chỉ trông có vẻ buồn cười và ngạc nhiên, rồi đáp:
— Sao cơ? Tôi làm việc ngẫu hứng ư? Thật lòng mà nói, tôi chẳng bao giờ làm thế cả. Tôi dừng lại và suy ngẫm về những hậu quả có thể xảy ra ư? Cần quái gì chứ? Tôi luôn biết trước những hậu quả sẽ ra sao—luôn luôn là thế.
— Ôi Satan, thế thì sao cậu lại làm những chuyện đó?
— Thôi được, tôi sẽ kể cho cậu nghe, và cậu hãy cố mà hiểu nếu có thể nhé. Các cậu thuộc về một chủng tộc kỳ lạ. Mỗi con người vừa là một cỗ máy đau khổ lại vừa là một cỗ máy hạnh phúc kết hợp lại. Hai chức năng ấy hoạt động hài hòa với nhau, với độ chính xác tinh tế tuyệt vời, dựa trên nguyên tắc có qua có lại. Cứ mỗi đơn vị hạnh phúc được sản sinh ra ở bộ phận này thì bộ phận kia sẵn sàng điều chỉnh lại bằng một nỗi buồn hoặc nỗi đau—có khi là cả tá. Trong phần lớn các trường hợp, cuộc đời của một con người được chia đều khoảng bằng nhau giữa hạnh phúc và bất hạnh. Khi không phải như vậy thì sự bất hạnh sẽ chiếm ưu thế—luôn luôn là thế; chưa bao giờ có chiều ngược lại. Thỉnh thoảng, cấu tạo và bản tính của một người lại khiến cho cái cỗ máy đau khổ của họ gánh vác gần như toàn bộ mọi việc. Một kẻ như thế đi xuyên suốt cuộc đời mà gần như chẳng hề biết hạnh phúc là gì. Mọi thứ họ chạm vào, mọi việc họ làm đều mang lại tai họa cho họ. Cậu từng thấy những người như thế chưa? Đối với kiểu người đó, sự sống không phải là một đặc ân, phải không nào? Nó chỉ là một thảm họa mà thôi. Đôi khi để đổi lấy một giờ hạnh phúc, cỗ máy của một người bắt buộc họ phải trả giá bằng cả năm trời đau khổ. Cậu không biết điều đó sao? Chuyện ấy vẫn xảy ra luôn miệng đấy thôi. Chốc nữa tôi sẽ đưa ra cho cậu một vài dẫn chứng. Giờ thì, người dân trong làng của cậu chẳng là cái thá gì đối với tôi cả—cậu biết điều đó chứ, phải không?
Tôi không thích nói toẹt ra một cách phũ phàng quá mức, nên đành bảo rằng tôi có láng mang nghi ngờ điều đó.
— Ừm, đúng là họ chẳng là gì đối với tôi cả. Chẳng có cách nào để họ có thể là gì được cả. Khoảng cách giữa họ và tôi sâu thẳm và vô tận như vực thẳm. Họ không có trí tuệ.
— Không có trí tuệ ư?
— Chẳng có thứ gì giống với nó cả. Tương lai tôi sẽ mổ xẻ thứ mà con người gọi là tâm trí ấy và cung cấp cho cậu chi tiết về cái mớ hỗn độn đó, lúc bấy giờ cậu sẽ thấy và hiểu. Loài người chẳng có điểm gì chung với tôi cả—chẳng có một điểm chạm nào hết; họ mang trong mình những cảm xúc nhỏ nhoi ngớ ngẩn, những thói hư vinh nhỏ nhoi ngớ ngẩn, những sự xấc láo và tham vọng ngớ ngẩn; cuộc đời nhỏ nhoi ngớ ngẩn của họ chẳng qua chỉ là một tiếng cười, một tiếng thở dài, rồi tan biến vào hư vô; và họ chẳng có chút ý thức nào cả. Trừ cái Ý thức Đạo đức. Tôi sẽ cho cậu thấy ý tôi là gì nhé. Kìa có một con nhện đỏ, kích thước còn chưa bằng đầu một cây kim. Cậu có thể tưởng tượng ra cảnh một con voi lại đi quan tâm đến nó không—quan tâm xem nó hạnh phúc hay bất hạnh, nó giàu sang hay nghèo hèn, người yêu của nó có đáp lại tình cảm hay không, mẹ nó đang ốm hay khỏe, nó có được xã hội nể trọng hay không, kẻ thù có đánh đập nó hay bạn bè có ruồng bỏ nó, những hy vọng của nó có bị lụi tàn hay hoài bão chính trị có thất bại, hay nó sẽ chết trong vòng tay gia đình hay bị bỏ mặc và khinh bỉ ở một xứ sở xa lạ? Những điều đó chẳng bao giờ có thể trở nên quan trọng đối với con voi cả; chúng chẳng nghĩa lý gì với nó; nó không thể thu nhỏ sự đồng cảm của mình xuống kích thước vi mô bằng với chúng được. Con người đối với tôi cũng giống như con nhện đỏ đối với con voi vậy. Con voi chẳng có thù hằn gì với con nhện—nó không thể hạ mình xuống cái mức độ xa xôi đó được; tôi cũng chẳng có thù oán gì với con người. Con voi dửng dưng; tôi cũng dửng dưng. Con voi sẽ chẳng thèm nhọc công làm hại con nhện; nếu nổi hứng lên có lẽ nó sẽ làm một việc tốt cho con nhện, nếu việc đó tiện đường và chẳng tốn kém gì. Tôi từng làm nhiều việc tốt cho con người, nhưng chưa bao giờ làm việc ác nào.
Con voi sống một thế kỷ, con nhện đỏ sống một ngày; về sức mạnh, trí tuệ và phẩm giá, sinh vật này cách biệt sinh vật kia một khoảng cách chỉ đơn giản là mang tầm vóc thiên văn. Thế nhưng trong những khía cạnh đó, cũng như trong mọi phẩm chất khác, con người còn ở mức thấp hơn tôi một cách không thể đo lường nổi, xa hơn nhiều so với việc con nhện nhỏ xíu đứng dưới con voi.
Tâm trí con người một cách vụng về, tẻ nhạt và nhọc nhằn chắp vá những thứn lặt vặt tẻ nhạt lại với nhau để cho ra một kết quả—dẫu cho nó có thế nào đi chăng nữa. Còn tâm trí tôi thì sáng tạo! Cậu có nhận ra sức nặng của từ đó không? Sáng tạo bất cứ thứ gì nó muốn—và chỉ trong chớp mắt. Sáng tạo không cần nguyên liệu. Sáng tạo ra chất lỏng, chất rắn, màu sắc—bất cứ thứ gì, mọi thứ—từ cái hư không phù phiếm được gọi là Tư duy. Con người tưởng tượng ra một sợi tơ, tưởng tượng ra cái máy để dệt nó ra, tưởng tượng ra một bức tranh, rồi mất hàng tuần trời lao động để thêu nó lên tấm vải canvas bằng sợi tơ đó. Còn tôi, tôi chỉ cần nghĩ đến toàn bộ sự việc ấy, và ngay lập tức nó đã hiển hiện ngay trước mắt cậu—được tạo ra rồi.
Tôi nghĩ ra một bài thơ, một bản nhạc, biên bản của một ván cờ—bất cứ thứ gì—và nó đã ở ngay đó rồi. Đó chính là tâm trí bất tử—không có gì là vượt quá tầm với của nó cả. Không gì có thể che khuất tầm nhìn của tôi; những khối đá cũng phải trong suốt đối với tôi, và bóng tối cũng rực rỡ như ban ngày. Tôi chẳng cần phải mở một cuốn sách nào ra; tôi thu trọn toàn bộ nội dung của nó vào tâm trí chỉ trong một cái liếc nhìn duy nhất, xuyên qua cả bìa sách; và dù có qua một triệu năm đi chăng nữa tôi cũng chẳng thể quên nổi dù chỉ một từ duy nhất của nó, hay vị trí của từ đó nằm ở trang nào trong cuốn sách. Không có bất kỳ điều gì diễn ra trong hộp sọ của con người, loài chim, loài cá, côn trùng hay bất kỳ sinh vật nào khác mà có thể che giấu được khỏi tôi. Tôi thấu suốt bộ óc của một kẻ uyên bác chỉ bằng một cái liếc nhìn, và những kho báu tốn của hắn sáu mươi năm cuộc đời để tích lũy nay đã thuộc về tôi; hắn có thể quên, và hắn thực sự đã quên, nhưng tôi thì vẫn ghi nhớ mãi.
Thế thì, qua những suy nghĩ của cậu, tôi nhận ra rằng cậu đang hiểu tôi khá rõ đấy chứ. Hãy tiếp tục nào. Hoàn cảnh có thể xô đẩy sao đó để con người có thể quý mến con nhện—giả sử như nó nhìn thấy con nhện—nhưng nó không thể yêu con nhện được. Tình yêu của nó dành cho đồng loại của mình—cho những kẻ ngang hàng với nó. Tình yêu của một vị thiên thần thật siêu việt, đáng kính, thần thánh, vượt ngoài sức tưởng tượng của con người—vượt xa một cách vô tận! Nhưng nó chỉ giới hạn trong cái trật tự uy nghi của riêng ngài mà thôi. Nếu tình yêu ấy rơi xuống một kẻ thuộc chủng tộc của cậu dẫu chỉ trong một khoảnh khắc thôi, nó cũng sẽ thiêu rụi đối tượng đó thành tro bụi. Không, chúng ta không thể yêu con người, nhưng chúng ta có thể dửng dưng vô hại với họ; đôi khi chúng ta cũng có thể quý mến họ. Tôi quý mến cậu và lũ trẻ, tôi quý mến cha Peter, và vì lợi ích của các cậu, tôi đang làm tất cả những việc này cho dân làng đấy.
Cậu ta nhận ra tôi đang nghĩ đến một lời mỉa mai, liền giải thích lập trường của mình.
— Tôi đã hành động rất tốt cho dân làng, dù thoạt nhìn có vẻ không phải vậy. Chủng tộc của các cậu chẳng bao giờ phân biệt được vận may hay tai họa. Họ luôn nhầm lẫn cái này với cái kia. Đó là vì họ không thể nhìn thấu tương lai. Những gì tôi đang làm cho dân làng sẽ trổ sinh hoa trái tốt tươi vào một ngày nào đó; trong một số trường hợp là cho chính họ; ở những trường hợp khác, là cho các thế hệ con cháu mai sau của loài người. Sẽ chẳng có ai đời nào biết được tôi chính là nguyên nhân, nhưng điều đó vẫn cứ đúng sự thật bất chấp điều đó. Giữa đám trẻ các cậu có một trò chơi: các cậu xếp một hàng gạch dựng đứng cách nhau vài inch; các cậu đẩy một viên gạch, nó sẽ húc ngã viên bên cạnh, viên bên cạnh lại húc ngã viên tiếp theo—cứ thế cho đến khi toàn bộ hàng gạch đều đổ rạp xuống. Đó chính là cuộc đời con người. Hành động đầu tiên của một đứa trẻ sẽ húc ngã viên gạch khởi đầu, và những viên còn lại sẽ nối tiếp theo một cách không thể cưỡng lại được. Nếu cậu có thể nhìn thấu tương lai như tôi, cậu sẽ thấy tất cả những gì sắp xảy ra với sinh vật đó; bởi chẳng có gì có thể thay đổi được trật tự cuộc đời nó một khi sự kiện đầu tiên đã định đoạt nó rồi. Nghĩa là, sẽ chẳng có gì thay đổi được nó, bởi mỗi hành động sẽ sinh ra một hành động khác một cách không trượt phát nào, hành động đó lại sinh ra hành động tiếp theo, cứ thế cho đến tận cùng, và kẻ thấu thị có thể nhìn xuôi theo dòng thời gian để thấy chính xác thời điểm mà mỗi hành động sắp sửa chào đời, từ nôi cho đến mồ.
— Chúa có định đoạt sự nghiệp ấy không?
— Tiền định nó ư? Không. Hoàn cảnh và môi trường sống của con người định đoạt nó. Hành động đầu tiên của hắn quyết định hành động thứ hai và tất cả những gì diễn ra sau đó. Nhưng giả sử, để tranh luận, rằng con người bỏ qua một trong những hành động này; chẳng hạn như một hành động thoạt nhìn có vẻ vô thưởng vô phạt; giả sử người ta đã định đoạt rằng vào một ngày nọ, vào một giờ, một phút, một giây và một phân tắc của một giây nào đó hắn sẽ ra giếng nước, nhưng hắn lại không đi. Cuộc đời của kẻ đó sẽ thay đổi hoàn toàn, bắt đầu từ khoảnh khắc ấy; từ đó cho đến mồ mả nó sẽ hoàn toàn khác biệt so với cái lộ trình cuộc đời mà hành động đầu tiên thưở nhỏ đã an bài sẵn cho hắn. Quả thực, rất có thể là nếu hắn chịu ra giếng, hắn sẽ kết thúc sự nghiệp của mình trên ngai vàng, và việc bỏ lỡ không đi sẽ đẩy hắn vào một con đường dẫn đến cảnh ăn mày và cái chết nơi nấm mồ vô danh của kẻ cơ hàn. Chẳng hạn như: nếu vào bất kỳ thời điểm nào—giả sử như thời thơ ấu—Columbus bỏ lỡ dẫu chỉ là một mắt xích nhỏ nhặt nhất trong chuỗi các hành động đã được hoạch định và làm cho trở thành tất yếu bởi hành động thời thơ ấu đầu tiên của hắn, thì nó sẽ thay đổi toàn bộ cuộc đời sau đó của hắn, và hắn sẽ trở thành một tu sĩ rồi chết trong sự vô danh tại một ngôi làng Ý, và châu Mỹ đã chẳng được phát hiện ra trong suốt hai thế kỷ sau đó. Tôi biết rõ điều này. Việc bỏ qua bất kỳ một mắt xích nào trong hàng tỷ mắt xích thuộc chuỗi hành động của Columbus sẽ làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời hắn. Tôi đã nghiên cứu hàng tỷ khả năng về sự nghiệp của hắn, và chỉ có đúng một trong số đó là xảy ra sự kiện phát hiện ra châu Mỹ. Các cậu không hề mảy may nghi ngờ rằng tất cả các hành động của các cậu đều có cùng một kích cỡ và tầm quan trọng ngang nhau, nhưng đó là sự thật; việc chộp lấy một con ruồi đã được định sẵn cũng mang định mệnh to tát đối với các cậu chẳng kém gì bất kỳ hành động nào khác được định sẵn—
— Chẳng hạn như việc chinh phục cả một châu lục ư?
— Đúng thế. Thế thì, chưa từng có kẻ nào bỏ lỡ một mắt xích nào cả—chuyện đó chưa bao giờ xảy ra! Ngay cả khi hắn đang cố gắng hạ quyết tâm xem mình có nên làm một việc gì đó hay không, bản thân điều đó cũng đã là một mắt xích, một hành động, và có vị trí thích hợp của nó trong chuỗi hành động của hắn; và khi cuối cùng hắn quyết định thực hiện một hành động, thì đó cũng chính là điều mà hắn chắc chắn tuyệt đối sẽ làm. Cậu thấy đấy, con người sẽ không bao giờ bỏ lỡ một mắt xích nào trong chuỗi của mình cả. Hắn không thể. Nếu hắn hạ quyết tâm cố gắng, thì bản thân dự án đó cũng sẽ là một mắt xích không thể tránh khỏi—một ý nghĩ chắc chắn sẽ xuất hiện trong đầu hắn vào đúng khoảnh khắc chính xác đó, và được ấn định chắc chắn bởi hành động đầu đời của hắn.
Nghe ảm đạm làm sao!
— Hắn là một tù nhân chung thân, — tôi buồn bã nói, — và chẳng thể nào thoát ra được.
— Không, tự bản thân hắn thì không thể thoát khỏi những hậu quả từ hành động thời thơ ấu đầu tiên của mình. Nhưng tôi có thể giải thoát cho hắn.
Tôi ngước nhìn lên với ánh mắt đầy hy vọng.
— Tôi đã thay đổi sự nghiệp của một vài người trong làng của cậu rồi đấy.
Tôi cố gắng cảm ơn cậu ta, nhưng thấy khó khăn quá nên đành bỏ dở.
— Tôi sẽ thực hiện thêm vài thay đổi nữa. Cậu có biết con bé Lisa Brandt đó không?
— Ôi có chứ, ai mà chẳng biết. Mẹ tôi bảo con bé ngọt ngào và đang yêu đến mức chẳng giống bất kỳ đứa trẻ nào khác. Mẹ bảo khi lớn lên nó sẽ là niềm kiêu hãnh của cả làng; và cũng là thần tượng nữa, hệt như bây giờ vậy.
— Tôi sẽ thay đổi tương lai của nó.
— Làm cho nó tốt hơn chứ? — tôi hỏi.
— Đúng thế. Và tôi cũng sẽ thay đổi tương lai của Nikolaus nữa.
Lần này thì tôi mừng rỡ khôn xiết, liền thốt lên: — Tôi chẳng cần phải hỏi về trường hợp của cậu ấy đâu; chắc chắn cậu sẽ đối xử hào phóng với cậu ấy mà.
— Đó là ý định của tôi.
Ngay lập tức, tôi bắt đầu mường tượng ra cái tương lai vĩ đại đó của Nicky trong trí tưởng tượng của mình, và đã kịp vẽ ra viễn cảnh cậu ấy trở thành một vị tướng lừng danh cùng chức tước hofmeister chốn hoàng cung, thì tôi nhận ra Satan đang đợi tôi chuẩn bị để tiếp tục lắng nghe. Tôi cảm thấy xấu hổ vì đã phơi bày những mường tượng rẻ tiền của mình trước mặt cậu, và cứ đinh ninh sẽ phải hứng chịu mấy lời mỉa mai, thế nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Cậu tiếp tục câu chuyện của mình:
— Cuộc đời được định đoạt sẵn của Nicky là sáu mươi hai năm.
— Tuyệt quá chứ lị! — tôi thốt lên.
— Còn của Lisa là ba mươi sáu. Nhưng, như tôi đã nói với cậu, tôi sẽ thay đổi cuộc đời và những độ tuổi ấy. Hai phút mười lăm giây nữa, Nikolaus sẽ tỉnh giấc sau giấc ngủ và phát hiện ra trời đang mưa hắt vào. Lẽ ra cậu ấy sẽ phải trở mình và ngủ tiếp. Nhưng tôi đã an bài để cậu ấy phải đứng dậy đóng cửa sổ lại trước đã. Sự việc nhỏ nhặt đó sẽ thay đổi hoàn toàn sự nghiệp của cậu ấy. Sáng mai cậu ấy sẽ thức dậy trễ hơn hai phút so với mốc thời gian mà chuỗi cuộc đời đã định sẵn cho cậu ấy. Hệ quả là, từ đó về sau sẽ chẳng có bất kỳ chuyện gì xảy ra với cậu ấy đúng theo những chi tiết của chuỗi cũ nữa cả. Cậu ta rút đồng hồ ra ngắm nghía vài giây, rồi nói: — Nikolaus đã đứng dậy đóng cửa sổ rồi. Cuộc đời của cậu ấy đã thay đổi, sự nghiệp mới của cậu ấy đã bắt đầu. Sẽ có những hệ quả xảy ra đấy.
Nó làm tôi thấy nổi da gà; thật là kỳ quái.
— Nếu không có sự thay đổi này thì mười hai ngày nữa một số chuyện nhất định sẽ xảy ra. Chẳng hạn như, Nikolaus sẽ cứu Lisa khỏi chết đuối. Cậu ấy sẽ có mặt tại hiện trường vào đúng khoảnh khắc chính xác—bốn phút quá mười giờ, khoảng thời gian đã được định đoạt từ lâu lắm rồi—và lúc ấy nước sẽ nông, việc cứu hộ sẽ dễ dàng và chắc chắn thành công. Nhưng giờ thì cậu ấy sẽ đến trễ hơn vài giây; Lisa lúc đó đã quẫy đạp trôi ra vùng nước sâu hơn. Cậu ấy sẽ cố hết sức, nhưng cả hai sẽ chết đuối.
— Ôi Satan! Ôi Satan kính yêu! — tôi kêu lên, nước mắt rưng rưng chực trào, — hãy cứu lấy họ đi! Đừng để chuyện đó xảy ra. Tôi không tài nào chịu nổi cảnh mất đi Nikolaus đâu, cậu ấy là người bạn chơi đùa thân thiết của tôi; và hãy nghĩ đến người mẹ tội nghiệp của Lisa chứ!
Tôi níu lấy cậu và nài nỉ van xin, nhưng cậu chẳng hề mảy may động lòng. Cậu bắt tôi phải ngồi xuống lại, và bảo tôi phải nghe cho hết câu chuyện.
— Tôi đã thay đổi cuộc đời của Nikolaus, và việc này đã làm thay đổi cả cuộc đời của Lisa. Nếu tôi không làm thế, Nikolaus sẽ cứu Lisa, rồi cậu ấy sẽ bị nhiễm lạnh vì ngâm nước quá lâu; một trong những căn bệnh sốt đỏ quánh tàn khốc và kỳ quái của chủng tộc các cậu sẽ giáng xuống, kèm theo những di chứng thảm thương; trong suốt bốn mươi sáu năm trời cậu ấy sẽ phải nằm liệt giường bất động như một khúc gỗ, điếc, câm, mù, và cầu nguyện ngày lẫn đêm để mong được ơn phước chết đi cho nhẹ nợ. Tôi có nên đổi lại cuộc đời cậu ấy như cũ không?
— Ôi không! Ôi tuyệt đối không vì bất cứ giá gì! Vì lòng nhân từ và thương xót, xin hãy cứ để nguyên như vậy đi.
— Thế là tốt nhất. Tôi không thể thay đổi bất kỳ mắt xích nào khác trong cuộc đời cậu ấy mà lại làm cho cậu ấy một ơn huệ lớn nhường ấy được. Cậu ấy có hàng tỷ khả năng sự nghiệp, nhưng chẳng có nổi một cái nào là đáng sống cả; chúng ngập tràn những khốn khổ và thảm họa. Nếu không có sự can thiệp của tôi, cậu ấy sẽ thực hiện hành động anh hùng đó vào mười hai ngày tới—một hành động bắt đầu và kết thúc trong vỏn vẹn sáu phút—để rồi nhận lại phần thưởng duy nhất là bốn mươi sáu năm đau khổ đày ải mà tôi vừa kể cho cậu nghe đấy. Đó chính là một trong những trường hợp mà tôi vừa nhắc đến hồi nãy khi nói rằng đôi khi một hành động mang lại cho kẻ thực hiện một giờ hạnh phúc và sự tự mãn sẽ phải trả giá bằng—hoặc bị trừng phạt bằng—nhiều năm trời đau khổ.
Tôi tự hỏi cái chết sớm của con bé Lisa tội nghiệp sẽ giúp nó tránh được điều gì. Cậu liền đáp lại suy nghĩ đó:
— Khỏi mười năm đau đớn và quá trình hồi phục chậm chạp sau một tai nạn, rồi sau đó là mười chín năm ô nhục, xấu hổ, trụy lạc, phạm tội, để rồi kết thúc bằng cái chết dưới lưỡi đao của đao phủ. Mười hai ngày nữa nó sẽ chết; mẹ nó hẳn sẽ cứu mạng nó nếu bà có thể làm được. Tôi chẳng lẽ lại không nhân từ hơn mẹ nó sao?
— Có chứ—ôi thực sự là có; và còn khôn ngoan hơn nữa.
— Trường hợp của cha Peter sắp sửa diễn ra tới nơi rồi. Ngài sẽ được tha bổng, nhờ vào những bằng chứng không thể chối cãi về sự vô tội của mình.
— Chà, Satan, sao lại có chuyện đó được chứ? Cậu có thực sự nghĩ thế không?
— Thật lòng mà nói, tôi biết chắc điều đó. Danh dự của ngài sẽ được khôi phục, và phần đời còn lại của ngài sẽ sống trong hạnh phúc.
— Tôi có thể tin được chứ. Khôi phục lại danh dự cho ngài sẽ mang lại kết quả đó mà.
— Hạnh phúc của ngài sẽ không bắt nguồn từ nguyên nhân đó đâu. Tôi sẽ thay đổi cuộc đời ngài vào ngày hôm đó, vì lợi ích của ngài. Ngài sẽ chẳng bao giờ hay biết rằng danh dự của mình đã được khôi phục đâu.
Trong tâm trí—và một cách đầy khiêm nhường—tôi gặng hỏi chi tiết, nhưng Satan hoàn toàn phớt lờ suy nghĩ của tôi. Kế đó, tâm trí tôi lan man sang nhà chiêm tinh học, và tôi tự hỏi không biết giờ này lão đang trôi dạt ở xó xỉnh nào.
— Dưới mặt trăng, — Satan đáp, với một âm thanh lướt qua mà tôi tin là tiếng cười khúc khích. — Tôi tống cổ lão lên cái mặt lạnh ngắt của nó rồi. Lão chẳng biết mình đang ở xó nào đâu, và đương nhiên là đang có một khoảng thời gian vô cùng tồi tệ; dẫu vậy, thế vẫn còn quá hiền chán đối với lão, một địa điểm tuyệt vời cho những nghiên cứu về tinh tú của lão đấy chứ. Chốc nữa tôi sẽ cần đến lão; khi đó tôi sẽ lôi lão về lại và tiếp tục nhập hồn vào lão. Lão ta còn cả một cuộc đời dài đằng đẵng, tàn độc và gớm ghiếc ở phía trước, nhưng tôi sẽ thay đổi điều đó, bởi tôi chẳng có hiềm khích gì với lão và hoàn toàn sẵn lòng làm một việc tốt cho lão. Tôi nghĩ mình sẽ đem lão đi hỏa thiêu.
Cậu ta có những khái niệm kỳ lạ thật đấy về lòng tốt! Nhưng các vị thiên thần được tạo ra vốn dĩ là thế, và chẳng biết gì hơn được đâu. Lối hành xử của họ không giống lối hành xử của chúng ta; và vả lại, con người chẳng là cái thá gì đối với họ cả; họ nghĩ loài người chỉ là những dị dạng mà thôi. Tôi thấy thật kỳ lạ khi cậu ta lại tống nhà chiêm tinh học đi xa đến thế; cậu ta hoàn toàn có thể quăng lão quách sang nước Đức cho gọn, ở đó thì tiện tay biết mấy.
— Xa ư? — Satan nói. — Đối với tôi chẳng có nơi nào là xa cả; khoảng cách không hề tồn tại đối với tôi. Mặt trời cách chúng ta chưa đầy một trăm triệu dặm, và ánh sáng đang chiếu xuống chúng ta đã mất tám phút để bay tới đây; nhưng tôi có thể thực hiện chuyến bay đó, hoặc bất kỳ chuyến bay nào khác, trong một khoảnh khắc nhỏ bé đến mức chẳng chiếc đồng hồ nào đo nổi. Tôi chỉ cần nghĩ đến hành trình đó, và nó đã được hoàn thành rồi.
Tôi đưa tay ra và bảo: — Ánh sáng đang rọi lên nó kìa; hãy biến nó thành một ly rượu vang đi, Satan.
Cậu làm thật. Tôi uống ly rượu đó.
— Đập vỡ cái ly đi, — cậu nói.
Tôi đập vỡ nó.
— Đấy—cậu thấy chưa, nó là thật đấy chứ. Dân làng cứ tưởng đám bóng đồng là mấy thứ phép thuật và mỏng manh như khói. Họ sợ chẳng dám chạm vào chúng. Các cậu đúng là một lũ tò mò—chủng tộc của các cậu ấy. Thôi đi nào; tôi còn có việc bận. Tôi sẽ cho cậu đi ngủ đây.
Nói là làm. Thế là cậu biến mất; nhưng giọng nói của cậu vẫn văng vẳng bên tai tôi xuyên qua màn mưa và bóng tối: — Đúng thế, hãy kể cho Seppi nghe, nhưng đừng nói với ai khác nhé.
Đó chính là câu trả lời cho suy nghĩ của tôi.