Trường An tràn ngập một bầu không khí mùa xuân.
Vào thời điểm này, lòng người trong thành vô cùng phơi phới.
Từ ngôi chùa Tây Minh Tự nơi Không Hải đang gửi gắm trọ cho đến khắp các thắng cảnh ngắm hoa, đúng là lúc hoa mẫu đơn đang nở rộ.
Mọi người thành đoàn thành đội, hôm nay ghé thăm Tây Minh Tự, ngày mai kéo nhau đến Đại Hưng Tự, dấu chân in hằn khắp các khu vườn mẫu đơn khoe sắc.
Y phục của những người đi ngắm hoa ấy cũng ngày một trở nên nhẹ nhàng và lộng lẫy hơn.
Cho dù không phải người Hồ, các thiếu nữ thời thượng cũng đi bốt dài, mang đậm phong tình nước Hồ mà rảo bước trên đại lộ.
Thời bấy giờ, người Hán mặc y phục Ba Tư, đeo trang sức Ba Tư là một kiểu ăn mặc thịnh hành và vô cùng thời thượng.
Lúc này, Không Hải và Quất Dật Thế đang đi giữa dòng người tấp nập.
Dật Thế vốn đang có chút u uất, nay tản bộ cùng Không Hải trên con đại lộ phồn hoa, tâm trạng hình như cũng phấn chấn hẳn lên.
"Không Hải này, chúng ta đang ở Trường An đấy." Dật Thế lầm bầm tự nói một mình: "So với cảnh tượng trước mắt, thì cùng là kinh thành, Kinh Đô lại trở nên quê mùa thô kệch quá nhiều." Dật Thế lại khôi phục lại giọng điệu nói chuyện như trước.
Không Hải và Dật Thế bước ra khỏi Diên Khang Phường của Tây Minh Tự, hướng về phía Tây Thị mà đi.
Họ đang chuẩn bị có cuộc gặp mặt với Liễu Tông Nguyên.
Bảy ngày trước, Lưu Vũ Tích đã đến bái kiến Không Hải.
Cậu ta mang theo bức thư tay của Liễu Tông Nguyên, hy vọng tối ngày thứ bảy sẽ gặp mặt.
Ba ngày trước, tín hiệu thông báo địa điểm gặp mặt đã được gửi đến.
Lưu Vũ Tích lại mang theo bức thư tay của Liễu Tông Nguyên.
Trong thư đề cập, hy vọng thời gian gặp mặt đổi từ buổi tối sang buổi trưa.
Nếu là gặp mặt vào buổi tối, bắt buộc phải sau khi tiếng trống chiều vang lên.
Một khi tiếng trống chiều vang lên, tất cả các cánh cửa của các phường sẽ đều đóng lại.
Cứ như vậy, hai người sẽ không thể di chuyển qua lại giữa các phường với nhau được nữa.
Vì phải đến nơi trước khi cửa phường đóng, nên bất cứ bên nào, hoặc cả hai bên đều phải xuất phát vào ban ngày.
Đáng lẽ ra, Không Hải nên là người đi đến phường mà Liễu Tông Nguyên đang bận rộn. Thế nhưng, làm như vậy thì sau khi gặp mặt Không Hải sẽ không thể quay về được nữa. Vì lý do đó, Liễu Tông Nguyên bắt buộc phải cung cấp chỗ ngủ lại ban đêm cho Không Hải. Chỉ là, lần này việc gặp mặt Không Hải vì bức thư của Triều Hành lại bị Liễu Tông Nguyên giấu kín không cho Vương Thúc Văn biết. Bởi vì bức thư vốn thuộc về Liễu Tông Nguyên này, rất có thể đã từng bị Vương Thúc Văn đánh cắp một lần.
Giả sử việc gặp mặt Không Hải mà còn phải cung cấp chỗ ở, vào thời điểm bận rộn thế này, anh ta sẽ phải giải thích lý do với Vương Thúc Văn.
Vì bắt buộc phải che giấu chuyện bức thư, anh ta đành phải nói dối rằng gặp mặt Không Hải là vì những việc khác.
Hoặc là việc anh ta gặp mặt Không Hải và Dật Thế, chi bằng cứ giữ bí mật đến cùng.
Phường mà Liễu Tông Nguyên đang ở lại không dễ để hành động bí mật. Bởi vì những kẻ quen biết Liễu Tông Nguyên nhiều vô kể. Cuộc gặp mặt tất yếu phải dời sang phường khác.
Thế nhưng, làm như vậy thì người không thể về nhà lại đổi thành Liễu Tông Nguyên.
Chính vì thế, mới có chuyện đề xuất đổi lịch hẹn gặp vào buổi trưa.
Thêm vào đó, trong thư còn viết rằng ban đêm Liễu Tông Nguyên đột nhiên có việc gấp.
Bởi vì đã có hẹn trước với Không Hải, Liễu Tông Nguyên đành phải cố gắng hết sức sắp xếp lại, bớt chút thời gian buổi trưa để gặp Không Hải.
Mặt khác, bản thân Liễu Tông Nguyên cũng đang gặp rắc rối, nếu hôm nay không gặp Không Hải, thì chẳng biết đến khi nào mới lại có dịp.
Địa điểm được chọn là ở Tây Thị.
Cách chỗ ở của Liễu Tông Nguyên hơi xa một chút, nhưng như thế lại càng hay.
Ít nhất thì ở Tây Thị có đông người, người càng đông thì Liễu Tông Nguyên lại càng không bị chú ý.
Liễu Tông Nguyên viết trong thư rằng, chỉ cần vào buổi trưa Không Hải đi dạo quanh khu vực Tây Thị, tự nhiên sẽ có người bước tới chào hỏi anh.
Đã vậy, Không Hải và Dật Thế liền bàn bạc đi đến tiệm của Mahamudu xem thử trước, thế nên họ đã ra ngoài từ sớm khi ánh xuân đang tươi đẹp.
Ánh nắng khắp phố sá mặc sức rọi rôm rả.
Những cây hòe mọc ở hai bên đường đan xen những chiếc lá non xanh mướt tạo thành những mảng sáng tối vô cùng đẹp đẽ.
Đã lâu lắm rồi Dật Thế không hề lớn tiếng huyên náo như thế này.
"Cứ mãi nhốt mình trong nhà quả thực không ổn chút nào. Chỉ khiến thời gian trôi qua một cách vô ích mà thôi." Cậu ta đảo mắt nhìn quanh, bắt đầu trò chuyện với Không Hải: "Mặc dù vậy, đại nhân Liễu Tông Nguyên chắc cũng bận rộn lắm nhỉ. Hiện nay hoàng thượng long thể bất an, lại còn vướng phải chuyện bị yêu thuật nguyền rủa..." Nghe thấy tiếng kêu la đột ngột của Dật Thế, Không Hải liền phát ra một tiếng "Suỵt——" để cảnh cáo hành động ấy của cậu ta.
"Những chuyện thế này, không nên lớn tiếng la lối." "Tại sao chứ?" "Khó mà đảm bảo không có ai nghe thấy, nếu bị quan lại nghe được thì sẽ phiền phức lắm đấy." Không Hải nói.
"Yên tâm đi, ta còn phân biệt được đạo lý này cơ mà." Dật Thế cười ha hả nói: "Này, Không Hải." Thân hình Dật Thế áp sát lại Không Hải, nhỏ giọng nói: "Nói đi cũng phải nói lại, bây giờ trong cung chắc là đang lật trời lên rồi nhỉ." "Ừ." Không Hải gật gật đầu.
Điều mà Dật Thế đang nhắc đến chính là bức thư của Phượng Minh ở Thanh Long Tự.
Bức thư do Phượng Minh gửi đến là chuyện của ngày hôm qua.
Không Hải đã để Đại Hầu cầm thư đi hỏi Phượng Minh rằng bản thân muốn đến Thanh Long Tự bái kiến Huệ Quả A Cầm Lê thì phải làm thế nào? Bức thư đó chính là câu trả lời.
Những nét chữ ngay ngắn cẩn thận, y hệt như con người Phượng Minh vậy. Trong thư nói rằng Huệ Quả A Cầm Lê không có ở trong chùa: "Khi nào quay về, hoàn toàn không biết gì cả." Thậm chí còn đề cập thêm rằng, không tiện tiết lộ hành tung của ngài ấy, nếu A Cầm Lê quay về, sẽ giúp chuyển lời việc đến chùa bái phỏng.
Dật Thế cũng đã đọc bức thư đó.
Huệ Quả không có ở trong chùa.
Hành tung cũng không thể nói ra.
Từ những điều này, Phượng Minh ngược lại đã vô tình hé lộ hành tung của Huệ Quả.
Văn phong viết như vậy, Không Hải nhất định sẽ đoán ra được đáp án.
Hơn nữa, câu nói không biết chừng nào mới quay về kia, cũng ngầm ám chỉ rằng sự việc liên quan đến Huệ Quả vẫn chưa kết thúc.
Nói tóm lại, chuyến đi lần này của Huệ Quả chắc là để vào cung tìm cách giải quyết chuyện hoàng thượng bị yểm bới.
Ngài ấy cứ thế vào cung mà không hề quay trở lại chùa nữa.
Từ việc Huệ Quả không biết khi nào mới quay về có thể thấy được, pháp thuật mà hoàng thượng phải chịu đựng vô cùng thâm hậu, tuyệt đối không phải dạng vừa.
Huệ Quả là một trụ cột trọng yếu của Mật giáo — cao tăng của Thanh Long Tự, bàn về pháp lực của ngài, dù là ở Trường An cũng đứng hàng top.
Mang theo pháp lực bậc này, thế mà Huệ Quả lại hoàn toàn bó tay trước chuyện hoàng thượng bị yểm bới — Dật Thế dựa vào điểm này mà suy đoán: "Bây giờ trong cung chắc là đang lật trời lên rồi nhỉ." "Ừ." Không Hải gật gật đầu.
Phượng Minh có nhắc đến ở cuối bức thư rằng, nếu muốn gặp mặt Huệ Quả A Cầm Lê thì phải hành động nhanh chóng một chút.
Từ đó cũng có thể thấy được, không chỉ hoàng thượng, mà ngay cả sức khỏe của Huệ Quả cũng không mấy khả quan.
Phượng Minh mới dặn dò Không Hải: "Phải hành động nhanh chóng một chút." "Cuộc đấu pháp lần này, có lẽ sẽ tổn hại đến tuổi thọ của Huệ Quả A Cầm Lê." Không Hải nói.
Dù thắng thua trong cuộc đấu pháp với đối thủ ra sao, khi sự việc kết thúc, tinh thần và thể xác của Huệ Quả e rằng sẽ phải chịu tổn thương nặng nề.
Kẻ sở hữu pháp thuật mà muốn hãm hại người khác, bản thân cũng sẽ bị tổn thọ.
Kẻ đối kháng với pháp thuật, cũng sẽ vì thế mà tổn hại sinh mạng.
Pháp thuật liên quan đến sinh mệnh, bất luận là kẻ thi triển hay người gánh chịu, xét theo một ý nghĩa nào đó, đều là một cuộc chiến của sinh lực.
Thể lực đòi hỏi cho việc đó, liệu Huệ Quả có chịu đựng nổi không?
Vừa đi vừa trò chuyện, hai người đã đến khu vực trung tâm náo nhiệt của Tây Thị.
Lồng tre.
Vải vóc.
Lụa là.
Còn có cả nơi bán thịt thà, rau xanh và các loại quả khô.
Không chỉ có cá, nồi, ấm cũng đều có bán cả.
Có thể nói rằng, những thứ mua được ở nhà Đại Đường, thì ở đây cái gì cũng có đủ.
Bút, mực, giấy, nghiên.
Những chú gà nhảy nhót tưng bừng.
Ngựa.
Dê.
Bò.
Tất cả mọi thứ, đều được giao dịch ở nơi này.
Cốc, bát lưu ly vận chuyển từ Tây Vực tới.
Trang sức.
Còn có cả thảm, bốt dài.
Tiếng rao hàng, tiếng trả giá vang lên inh ỏi khắp nơi, náo nhiệt vô cùng.
"Cảm giác nơi này náo nhiệt hơn mọi ngày thì phải." Dật Thế lên tiếng.
Quả thực đúng như lời Dật Thế nói.
Sau khi hoàng vị đổi chủ, quyền lực chính trị rơi vào tay Vương Thúc Văn, chốn thị thành bỗng trở nên tràn đầy sức sống sinh khí.
Bởi vì đám trẻ con Ngũ Phường từng hoành hành ngang ngược ở chốn thị thành, chuyên cướp bóc áp bức bách tính, dưới sự quét sạch của Vương Thúc Văn, nay đã hoàn toàn biệt tích.
Trên quảng trường đầu người nhốn nháo.
"Kia là cái gì vậy?" Dật Thế rẽ đám đông nhìn ra, hóa ra là nghệ nhân đường phố đang biểu diễn nuốt lửa, và nhận được những tràng pháo tay cổ vũ nhiệt liệt.
Vừa phun mạnh lượng nhiên liệu trong miệng ra ngoài, vừa châm ng lửa trên tay.
Thế là, ngọn lửa mãnh liệt ấy tựa như phun ra ào ào từ trong miệng vậy.
"Này, Dật Thế." Không Hải từ phía sau gọi với lên.
"Sao thế, Không Hải." "Nhìn đằng kìa." Nương theo ngón tay của Không Hải nhìn qua, ở đó cũng đông nghịt người là người.
Nơi đám đông vây quanh, phát ra tiếng vỗ tay, tiếng cười khúc khích, nhạc cụ dây của Tây Vực đang vang lên du dương.
"Là múa Hồ Toàn." Không Hải nói.
Ở tận sâu bên trong đám đông, có ba người thiếu nữ đang uyển chuyển nhảy điệu múa của Tây Vực.
Múa Hồ Toàn, đúng như tên gọi của nó, là điệu múa quay tròn từng vòng, quay không ngừng nghỉ.
Là một loại điệu múa của người Ba Tư.
Ba người thiếu nữ nhảy múa, toàn bộ đều là những người Hồ có đôi mắt màu xanh lam.
"Họ chẳng phải là con gái của Mahamudu đó sao?" Dật Thế nói.
"Đúng vậy." Không Hải đáp.
Cha của họ là Mahamudu, chuyên buôn bán bình, vại Ba Tư ở cái khu Tây Thị này.
Dorisna.
Dulusunguli.
Gulitiken.
Tên của ba chị em.
Không Hải, Dật Thế và họ đều là những người quen cũ.
Cả hai cũng hòa vào đám đông, đứng xem các cô gái nhảy múa.
Theo nhịp điệu uyển chuyển của cơ thể, tà y phục màu đỏ, xanh lam, vàng trên người họ bay phấp phới vô cùng uyển chuyển.
Đối với Không Hải và Dật Thế đã quen nhìn vũ đạo Nhật Bản, thì quả thực nhìn đến hoa cả mắt, không kịp thu thu tầm mắt.
Điệu múa vừa dứt, có người trong đám đông ném tiền thưởng cho các cô gái.
Người Hồ chơi nhạc cụ bận rộn cúi xuống nhặt tiền thưởng.
Gulitiken với vẻ mặt rạng rỡ, thần thái ngời ngời, phát hiện ra bóng dáng của hai người Không Hải từ trong đám đông vây xem.
A, là tiên sinh Không Hải kìa." Gulitiken tung tăng như một quả bóng ném, chạy ào về phía Không Hải.
"Tiên sinh Không Hải." Gulitiken kéo lấy cánh tay của Không Hải.
Sau đó Dorisna và Dulusunguli khi phát hiện ra Không Hải và Dật Thế, cũng vội vã chạy đến trước mặt hai người.
"Hai người đến từ bao giờ thế?" "Lần nào gặp cũng thấy bất ngờ ghê cơ." Dorisna và Dulusunguli lên tiếng.
"Chúng tôi có việc đến Tây Thị, vừa vặn có chút thời gian, nên muốn ghé qua tiệm của Mahamudu xem thử." "Ồ, vậy là hai người đang định tìm cha tôi đấy hử?" Dorisna nói.
"Đúng vậy." "Bọn em vừa khéo cũng xong việc rồi, cùng đi thôi nào." Gulitiken kéo tay áo Không Hải. Tiệm của Mahamudu, nằm ở ngay gần đây, chỉ cách một đoạn ngắn.
"Đúng rồi, cha cũng rất muốn gặp tiên sinh Không Hải đấy." Dorisna nói.
"Tiên sinh Mahamudu muốn gặp tôi sao?" "Vâng ạ." "Chuyện gì thế nhỉ?" "Cha không nói là vì chuyện gì, nhưng mà, chắc là chuyện đó đấy." Dorisna nói.
Cái gọi là "chuyện đó" —— "Là chuyện của Karapan phải không?" Không Hải hỏi.
"Chắc là chuyện đó rồi." Năm người vừa đi vừa trò chuyện. Và đã gặp được Mahamudu ở trong tiệm.
"Cha ơi." Gulitiken bước tới chào hỏi: "Tiên sinh Không Hải đến thăm cha kìa." Mahamudu nhìn cho rõ là Không Hải và Dật Thế: "Khách quý, khách quý đây mà —" liền tức khắc dang rộng hai tay đón lấy họ.
"Cuối cùng các vị cũng đại sạ quang lâm rồi." "Chúng tôi đến thăm ông đây." Không Hải nói.
"Thật vừa khéo. Ta cũng đang muốn gặp tiên sinh Không Hải." Mahamudu đáp lời.
Không Hải, Dật Thế, và Mahamudu ngồi đối diện nhau.
Ở tận cùng bên trong căn lều tiệm do Mahamudu dựng lên.
Trên sàn nhà trải thảm, ba người ngồi quây quần bên nhau.
Trước mặt ba người, những chiếc chén trà đã được rót đầy nước trà, hơi nước ấm áp lượn lờ bốc lên.
Rất nhiều vại gốm và bình nước vây quanh xung quanh ba người.
Những chiếc vại gốm và bình nước xinh đẹp, tỏa ra ánh sắc màu xanh lam.
Tiếng xe kéo, tiếng người qua đường đi lại.
Tiếng nói chuyện, tiếng gia cầm kêu vang. Những âm thanh bên ngoài lần lượt truyền vào trong lều.
Mahamudu sở hữu một khuôn mặt chuẩn mực của người Hồ.
S sống mũi cao vút.
Bộ râu quai nón điểm bạc.
Đường nét rõ ràng, trong hốc mắt sâu thẳm là đôi tròng mắt màu xanh ngọc bích.
"Đường phố nhộn nhịp quá nhỉ." Không Hải nói.
"Đối với chúng ta mà nói, đám tiểu tử đáng ghét kia không ra ngoài quậy phá nữa, mới thực sự là giúp được một đại ân đấy." Mahamudu lên tiếng.
Đương nhiên, "đám tiểu tử đáng ghét" mà ông ta nhắc đến chính là lũ tiểu tử Ngũ Phường.
"Ta không biết người Đường nghĩ thế nào, chứ đối với chúng ta mà nói, đổi hoàng thượng đương nhiên là một chuyện tốt rồi." Mahamudu nói một cách thẳng thắn.
"Vâng." Đối mặt với việc Không Hải gật đầu đồng tình, Mahamudu với vẻ mặt nghiêm túc lại nói tiếp: "Ban nãy vừa nhắc với tiên sinh Không Hải, ta có chuyện muốn nói với ngài." "Chuyện gì vậy?" "Chuyện của Karapan." "Ta cũng nghĩ là chuyện này. Kể từ lần đó đến nay, ông lại biết thêm được chuyện gì nữa sao?" "Ừ." Mahamudu gật gật đầu, tiếp tục nói: "Cũng không phải là biết rõ tường tận cho lắm, tóm lại, hình như đã xảy ra một chuyện kỳ quái." "Chuyện kỳ quái?" "Đúng vậy. Karapan hình như đang thu thập những thứ kỳ quái." "Thứ kỳ quái gì cơ?" Không Hải hỏi.
"Vật sống." "Vật sống?" "Côn trùng, rắn, ếch nhái các loại ấy mà —" "—" "Còn cả mèo, chó, chuột nữa —" Tựa như sợ những lời nói ra sẽ làm vấy bẩn cái miệng của chính mình, Mahamudu nhíu chặt chân mày lại.
"Đây là chuyện xảy ra trong nửa tháng nay..." Lấy câu này làm lời mở đầu, Mahamudu bắt đầu kể lại sự việc.
Cái gọi là Karapan, chính là ám chỉ thuật sĩ người Ba Tư.
Trước khi Hỏa giáo phổ biến ở Ba Tư, nền tảng tín ngưỡng của họ vốn dựa trên tín ngưỡng thổ dân bản địa và những ngôi đền dâm ô tà giáo.
Nói một cách đơn giản, người Ba Tư, tức là người Iran, khi đông du sang nước Đường, đã mang Hỏa giáo, tức là Bái Hỏa giáo đến Trường An, mà những thuật sĩ theo tín ngưỡng thổ dân này, cũng đồng thời đến nước Đường.
Tin tức này là Không Hải nghe được từ chỗ An Tát Bảo.
Những người Ba Tư cùng đến đại Đường với đền Bái Hỏa giáo — tức đền Hỏa giáo, nghe nói có đôi khi để thỏa mãn những dục vọng không muốn cho người khác biết, sẽ giấu An Tát Bảo, lén lút cầu xin phù chú từ Karapan.
Bộ xương chó bị đào lên một cách bất ngờ từ trong ngôi mộ của Dương Quý Phi ở Mã Ngôi Pha, trên đó có khắc một đoạn chú văn: Kẻ nào làm ô uế nơi này, sẽ phải chịu nguyền rủa. Kẻ nào tàn phá nơi này, tai họa sẽ giáng xuống thân. Lấy danh nghĩa tinh linh đại địa, ban cho chúng sự kinh hoàng.
Chính là được ghi chép bằng văn tự Ba Tư.
Mahamudu có một người quen tên là Alun Rashid, chính là một trong những thuật sĩ Doruj đã cầu xin bùa chú khi đến đại Đường.
Thế nhưng, người đàn ông này lại vì dính líu đến Karapan mà bỏ mạng chốn hoàng tuyền.
Đạo sĩ Chu Minh Đức, là nhân vật then chốt liên lạc với các thuật sĩ Doruj, thế nhưng, Alun Rashid và Chu Minh Đức lại chết một cách kỳ lạ vì dám lừa dối Karapan.
Alun Rashid bị dã thú cắn rách cổ chết vào ban đêm; còn Chu Minh Đức thì sau khi xâm phạm Lý Hương Lan — người thiếp ở phủ ngoài của Vương Thúc Văn, đã tự mình bước vào cái vạc lớn bị đun sôi sùng sục mà chết.
Lần này, Không Hải và Dật Thế bị cuốn vào vụ việc, có thể nói rằng, đằng sau sự việc lúc nào cũng thấp thoáng bóng dáng của Karapan.
Sau khi Alun Rashid và Chu Minh Đức chết, các thuật sĩ Doruj đã biến mất trong một thời gian ngắn. Nhưng từ một ngày nọ, những kẻ từng cầu xin bùa chú từ các thuật sĩ Doruj, lại bất ngờ nhận được những bức thư kỳ lạ.
Nội dung thư viết: Xin mọi người hãy cố gắng hết sức lùng bắt những loài sinh vật dưới đây, sẽ có người thu mua với giá cao.
Rắn.
Cóc.
Chuột.
Mèo.
Chó.
Nhện hoặc rết.
Heo.
Bò.
Gà hoặc quạ.
Thằn lằn.
Con gì cũng được, mang hết đến đây.
Lời lẽ trong thư mang theo sự đe dọa, tuyệt đối không được tiết lộ chuyện này ra ngoài; một khi để lộ ra ngoài, tên tuổi của những kẻ từng cầu xin bùa chú từ Karapan sẽ bị phơi bày trước thiên hạ — "Sự tình chính là như vậy đấy." Mahamudu nói.
"Thế nhưng, trong thư chẳng phải đã cảnh báo là không được tiết lộ sao?" Không Hải hỏi.
"Đúng vậy." "Vậy tại sao tiên sinh Mahamudu lại biết được chuyện này?" "Bởi vì có một người đàn ông tên là Mimal Ali đã cầm thư đến tìm ta để thương lượng." "Thương lượng?" "Cậu ta nói, mặc dù nhận được bức thư đó, nhưng do Chu Minh Đức và Alun Rashid đều chết một cách thảm thiết, cậu ta không biết có nên làm theo những gì bức thư dặn dò hay không, nên đang vô cùng do dự — " "Vậy cậu ta không đi à?" "Không. Do dự đến cuối cùng, cậu ta vẫn đi." "Đi rồi sao?" "Kết quả là Ali suýt chút nữa thì mất mạng." Mahamudu nói.
Trong mười mấy ngày sau khi nhận được bức thư, Ali vẫn luôn chần chừ do dự.
Trước kia cậu ta từng cầu xin bùa chú từ Karapan.
Buôn bán lụa là là sinh kế chính của cậu ta.
Cậu ta mang lụa là hoặc y phục mua được đến Tây Thị để bán, đây là công việc kinh doanh đầu tiên mà cậu ta làm.
Bởi vì việc buôn bán rất thuận lợi, không biết từ lúc nào, cậu ta cũng làm thêm cả những việc kinh doanh khác. Kiêm luôn cả việc bán bình sứ, đồ gốm các loại.
Cậu ta cho bình sứ, đồ gốm vào trong thùng gỗ, dùng lạc đà hoặc ngựa để chở.
Thế nhưng, việc vận chuyển như thế này cực kỳ vất vả.
Cứ đến thời điểm chạng vạng tối, là lại phải dỡ hàng hóa từ trên lưng lạc đà xuống, sáng hôm sau lại chất lên để vận chuyển tiếp.
Quá trình bốc dỡ cứ lặp đi lặp lại như vậy, bình sứ và đồ gốm trong thùng gỗ rất hay bị vỡ, có đôi khi, thậm chí còn vỡ quá nửa.
Để tránh tổn thất, thế là cậu ta nảy ra ý định cho cát cùng với bình sứ, đồ gốm vào chung một thùng.
Làm như vậy, quả thực có thể giảm bớt tình trạng bình sứ, đồ gốm bị hư hại, nhưng trọng lượng lại tăng lên đáng kể. Hơn nữa, cho cát vào thùng, ít nhiều cũng sẽ làm tổn hại đến hàng hóa, dù thế nào đi nữa, vẫn sẽ có một số tổn thất nhất định.
Mimal Ali vì thế mà lại nghĩ ra một biện pháp mới.
Cậu ta sử dụng mùn cưa và rơm rạ để đóng hàng.
Sau vụ thu hoạch mùa thu, cậu ta mua lại những bông lúa, rơm rạ vô dụng với giá rẻ, phơi khô chúng, trộn cùng mùn cưa to nhỏ khác nhau, rồi xếp cùng ấm trà, đồ gốm vào trong thùng.
Phương pháp đóng thùng này, khi đem dùng thì cực kỳ thuận lợi.
Thế nhưng, lại bất ngờ xuất hiện kẻ bắt chước.
Ali dù hành động bí mật, nhưng cũng không thể che giấu suốt nhiều năm mà không bị người khác phát hiện ra.
Một người họ Triệu là người Đường thường xuyên ra vào nơi ở của Ali, sau khi biết được phương pháp này, liền bắt đầu thu mua các loại gỗ vụn bỏ đi ở Trường An, bào chúng thành mùn cưa, rồi đem bán làm vật liệu lót đệm chống va đập.
Thương nhân vận chuyển hàng hóa không chỉ giới hạn ở việc qua lại giữa Tây Vực và đại Đường.
Việc vận chuyển hàng hóa bên trong lãnh thổ đại Đường cũng vô cùng tấp nập.
Tuy không phải là phát tài lớn, nhưng ở một nơi có việc vận chuyển hàng hóa nhiều như Trường An, thì cũng có thể kiếm được một khoản tiền không nhỏ.
Người họ Triệu khắp nơi lớn tiếng tuyên bố rằng, phương pháp này là do hắn ta tự mình sáng tạo ra, còn Ali mới là kẻ bắt chước.
Mặc dù chưa từng phải chịu tổn thất lớn nào, nhưng Ali vẫn cảm thấy vô cùng bực bội tức tối.
Việc mua mùn cưa đã không còn thuận tay như trước nữa, cuối cùng, Ali ngược lại còn phải đi mua mùn cưa, dăm bào từ chỗ người họ Triệu. Mặc dù cậu ta cũng có thể tốn chút thời gian để tự làm lấy, nhưng rốt cuộc thì bỏ tiền ra mua hàng vẫn tiện lợi hơn.
Thế nhưng, Ali mãi vẫn không thể dập tắt được tâm trạng khó chịu trong lòng, thế là thông qua Chu Minh Đức, cầu xin bùa chú từ Karapan.
Tâm tư cầu bùa của Ali, chẳng qua chỉ muốn người họ Triệu bị thương hoặc đổ bệnh, để hắn ta chịu chút bài học giáo huấn, chứ hoàn toàn không muốn tước đi tính mạng của hắn.
Chưa đầy mười ngày sau khi cầu bùa, nhà họ Triệu liền gặp hỏa hoạn.
Một đêm nọ, đống dăm bào bất ngờ bốc cháy, nhà họ Triệu bị thiêu trụi hơn nửa. Bản thân người họ Triệu cũng vì dập lửa mà bị bỏng ở cánh tay trái.
Không biết là do pháp thuật linh nghiệm hay do tình cờ gây ra, hay là do chính tay Karapan phóng hỏa? Tóm lại, đã xảy ra một chuyện như thế, trong lòng Ali cảm thấy sợ hãi vô cùng, từ đó về sau liền cắt đứt mọi liên lạc với Karapan. Thế nhưng, lần này vậy mà vẫn nhận được bức thư nói trên.
Cậu ta không muốn có bất kỳ dính líu nào với Karapan cả.
Thế nhưng, nếu phớt lờ bức thư không thèm để ý, thì không biết sẽ phải hứng chịu sự trả thù đáng sợ nào đây. Hơn nữa, chuyện đi cầu bùa mà bị phơi bày trước thiên hạ, thì cũng đủ đau đầu rồi.
Thế là, Ali đi tìm người thương lượng. Kết quả là, đối phương bày tỏ rằng bản thân cũng nhận được thư rồi.
Người đó làm theo hướng dẫn, mang theo tám con chó, năm con quạ, ba mươi lăm con cóc, sáu mươi con rắn đi đến đó.
Địa điểm giao hàng được chỉ định, là một bãi nhà hoang nằm trong một phường nọ.
Vừa đến nơi đó, đã có hai người đàn ông đứng dưới gốc cây đại thụ to lớn.
Rất nhiều vại gốm lớn nhiều không kể xiết được đặt dưới gốc cây, bên cạnh đó, còn có lồng chim, thùng gỗ vứt rải rác xung quanh.
Lại còn có mấy chục con chó, bị cột chặt vào các cây cọc gỗ.
Sau khi chào hỏi hai người đàn ông đó xong, liền bị sai bảo đem rắn, cóc bỏ vào trong vại của từng người.
Vừa mở nắp vại đựng rắn ra, bên trong có vô số con rắn quấn quýt lấy nhau đang bò lúc nhúc. Mùi tanh hôi xộc thẳng vào mũi, người đàn ông trút số rắn mang theo vào trong vại.
Vại cóc cũng đồng thời được mở ra, bên trong có một số lượng cóc vô cùng lớn. Liếc mắt nhìn một cái, mùi hôi thối ghê tởm cuồn cuộn bay lên, xộc thẳng vào mặt.
Hai người đàn ông kiểm điểm lại số lượng cóc, quạ, rắn, chó một lượt.
Đếm xong một lượt liền nói: "Số lượng thế này, thì chỉ có thể trả từng này tiền thôi." Tiếp theo đó, từ trong ngực áo lấy ra một ít tiền, giao cho người tới giao hàng.
Hai người lại nói tiếp, hàng dự trữ đã khá nhiều, hai ngày nữa việc buôn bán này sẽ kết thúc.
Người đàn ông cố ý thám thính dò hỏi thì mới biết được, hóa ra việc thu thập những thứ này vốn không phải là chủ ý của họ, họ chỉ tuân theo lệnh mà làm việc mà thôi.
Thu thập vật sống ở đây, mỗi ngày mang đến một địa điểm bí mật nào đó, là có thể kiếm được rất nhiều tiền vân vân.
Người đàn ông đó nói với Ali, nếu muốn giao hàng, ngày mai chính là ngày cuối cùng rồi.
Kết quả là, Ali cuối cùng cũng hạ quyết tâm.
Mặc dù không biết đối phương rốt cuộc dùng chúng để làm gì, nhưng điều đó chẳng liên quan gì đến cậu ta cả.
Tóm lại, Ali thầm nghĩ, dù sao thì chỉ cần thu thập vật sống mang đến giao nộp là một lần có thể xong chuyện.
Nếu như còn có tiền để cầm, vậy thì cứ mang qua đó thôi.
Nghe nói, lúc Ali mang đồ qua đó, là chuyện của đêm hai ngày trước.
Mặc dù đã quyết định sẽ đi, nhưng đột nhiên muốn tìm chó, côn trùng các thứ thì không hề dễ dàng gì.
Ali nhờ người khắp nơi lùng sục khắp chốn, cuối cùng cũng tìm được hai con chó, ba con rắn và bốn con gà.
Khi cậu ta dùng xe ngựa chở đến bãi nhà hoang được nhắc tới trước đó, thì đã là thời điểm chạng vạng tối.
Lúc đó tiếng trống chiều đã đánh qua, Ali đã không thể quay về phường nơi mình ở được nữa.
Thế là, cậu ta quyết định sau khi xong việc, sẽ trọ lại ở một ngôi chùa nào đó.
Không biết hai người đàn ông hồi nãy còn ở đó không? Tóm lại, cậu ta tiến bước trong ánh chiều tà, cuối cùng cũng đến được địa điểm được chỉ định.
Đó là một tòa dinh thự lớn được bao bọc bởi tường đất.
Vài gốc cây hòe, cây trắc cổ thụ mọc rải rác đan xen ở đó.
Ali bước từ cánh cổng đổ nát hé mở đi vào trong sân.
Mái nhà của gian chính đã sụp đổ hơn nửa, ở khoảng sân trước hơi xa một chút sừng sững cây cổ thụ lớn.
Chắc là chỗ đó rồi.
Trong lòng cậu ta nghĩ như vậy, bước chân tiếp tục tiến về phía trước, nhưng xung quanh hoàn toàn không thấy bóng dáng ai.
Đừng nói là người, ngay cả ngựa cũng không nhìn thấy, chứ đừng nói đến bầy chó đáng lẽ phải được cột ở cọc gỗ.
Nhìn thấy dưới gốc cây có rất nhiều cọc gỗ, liền biết chắc chắn là ở đây rồi.
Thế nhưng, một bóng người cũng không có.
Cả vại gốm lẫn bầy chó đều không thấy tăm hơi.
Chẳng lẽ cứ thế mà đi về ư — giả sử hôm nay thực sự là hạn chót, thì nên kết thúc ở đây thôi.
Cậu ta bỗng thở phào nhẹ nhõm, nhưng sự hoài nghi và bất an không biết có thể kết thúc mọi chuyện như vậy không, lại leo bám lên trong đầu.
Sắc trời đã dần dần tối sầm lại. Khi đang định kiểm tra xem trong khu vườn cỏ dại mọc um tùm có bóng người nào không, thì một tiếng rên rỉ yếu ớt truyền đến.
Là tiếng rên rỉ của con người.
Cảm giác giống như tiếng dã thú gầm gừ, sự sợ hãi tức khắc xuyên thấu sống lưng, Ali cố gắng nương theo tiếng động để phán đoán, trong đám cỏ liên tục lay động, có một vật thể đen nhánh.
Trông giống như tảng đá trong vườn đang sừng sững.
Bóng đen có hai cái, nhưng lập tức có thể nhận ra được, một trong số đó tuyệt đối không phải thứ gì như đá trong vườn cả. Bởi vì nó đang giãy giụa quằn quại.
Bước tới gần hơn, mùi tanh của máu xộc thẳng vào mũi.
Cái này là cái gì thế kia?! Dừng bước trừng mắt nhìn kỹ lại, ở đó có hai người.
Cả hai đều là nam nhân.
Một người bất động nằm vật ra đất, một người khác đang giãy giụa yếu ớt.
Dường như phát hiện ra có người, người đàn ông đang rên rỉ dùng giọng nói yếu ớt kêu lên: "Cứu, cứu, cứu mạng với..." Cổ họng phát ra tiếng rít khè khè, hòa lẫn với một thứ âm thanh ẩm ướt.
Bước qua cái xác đang bất động trước mặt, Ali nhìn thấy gương mặt đang ngẩng lên ấy.
Hai mắt trừng lớn, miệng há hốc, người đàn ông đó đã chết rồi.
Cổ họng bị rách toạc, dường như bị lưỡi dao sắc bén cắt đứt.
Từ nơi rách toạc đó, máu tươi trào ra xối xả.
Người đàn ông vẫn còn thoi thóp một hơi thở cũng tương tự như vậy.
Cổ họng đã bị rách toác.
Thế nhưng, có vẻ như vẫn còn thoi thóp một hơi thở, từ khóe môi phát ra tiếng rít khàn khàn miễn cưỡng có thể nghe thấy được.
Mỗi một tiếng phát ra, vết rách ở cổ họng lại rỉ ra không khí, trở thành một thứ âm thanh ẩm ướt.
Cổ họng mở toác, bọt máu òng ọc trào ra.
Ali rất muốn thét lên một tiếng rồi tháo chạy khỏi hiện trường, nhưng cuối cùng lại run lẩy bẩy ngồi sụp xuống hỏi: "Anh bị làm sao thế?" "Bị, bị giết rồi. Cổ, cổ họng..." Cuối cùng cũng nói thành lời, giọng nói cực kỳ yếu ớt, tựa như đang lầm bầm lẩm bẩm một mình vậy.
"Là kẻ nào làm?" "Cái, cái tên đó." "Tên đó ư?" "Đúng vậy. Ta nhìn thấy rồi, ta —" "Nhìn thấy? Nhìn thấy cái gì?" "Cái đó." "Cái nào?" "Chó." "Chó?" "Rất nhiều chó bị chôn vùi trong đất —" "Ở đâu cơ?" "Trong đất, ở chỗ của cái tên nam nhân đó." "Nam nhân đó là ai?" Ali hỏi.
"Ứ..." Tựa như tiếng kêu thảm thiết, trào ra từ khóe môi người đàn ông: "Chó bị chôn trong đất, chỉ có phần đầu là lộ ra khỏi mặt đất. Tất cả bọn ta đều nhìn thấy..." "Cái gì?" "Cho nên, nam nhân đó liền đem bọn ta..."
Vết thương ở cổ họng vừa rỉ ra những bọt máu, người đàn ông vừa nói chuyện với Ali.
Giọng anh ta khàn đặc, lời nói cũng ngắt quãng đứt quãng, hầu như nghe không rõ, không thể hiểu nổi ý nghĩa của nó.
Hơn nữa, thời gian cũng chẳng còn nhiều. Lời còn chưa kịp nói hết, người đàn ông đó đã chết rồi.
Mặc dù là như vậy, Ali vẫn cố gắng chắp vá những mảnh lời rời rạc mà người đàn ông đó để lại, để có thể hiểu được ý của anh ta, đầu đuôi sự việc đại khái là như thế này:
Người đàn ông cùng đồng hoả của mình, trước đó vẫn luôn nơm nớp lo sợ.
Mỗi ngày, thu thập một lượng lớn chó, rắn, côn trùng, rốt cuộc là có tính toán gì đây? Chủ thuê của mình, rốt cuộc muốn làm cái gì cơ chứ? Nghĩ thế nào cũng cảm thấy nổi da gà ớn lạnh.
Chủ thuê là một người phụ nữ.
Hai người bọn họ lại là dân lưu vong từ nơi khác tới.
Ở quê nhà không kiếm nổi cơm ăn mà húp, nên mới nghĩ đến chuyện đến kinh thành tìm việc làm, dù sao cũng thử vận may xem thế nào.
Thiên tử mới vừa đăng cơ, trong lúc bận rộn hỗn loạn nhất định sẽ có rất nhiều nơi cần người.
Đến Trường An rồi, lại chẳng tìm nổi việc gì để làm. Chưa đầy mười ngày, chút tiền ít ỏi mang theo cũng đã tiêu sạch, đành phải ngồi ngẩn ngơ vạ vật ở một góc Tây Thị. Đang lúc cảm thấy tiền đồ mịt mờ không lối thoát, người phụ nữ đó chủ động bước tới chào hỏi bọn họ.
"Hai người các ngươi, chắc là đói bụng lắm rồi nhỉ!" Ngước mắt lên nhìn, thì ra là một người phụ nữ trông chưa tới ba mươi tuổi.
Mặc dù ăn mặc theo trang phục người Đường, nhưng nhìn kỹ lại thì tròng mắt lại có màu xanh ngọc bích.
Giống như một kẻ lai tạp mang huyết thống ngoại quốc.
"Ta có một mối làm ăn rất tốt đây. Miệng lưỡi hai người có kín kẽ không?" "Chắc chắn là có rồi." Người đàn ông lập tức đáp lời.
"Ta nghĩ cũng thế. Mới đến kinh thành, chắc là chưa có người quen nào đúng không?" Nghe thấy những lời này, người đàn ông gật đầu đáp phải.
"Tại sao ngài lại rõ rành rành thế cơ chứ?" "Nhìn qua là biết ngay thôi. Không có người quen thân, thì sẽ không đi khắp nơi nói những lời thừa thãi." "Đúng vậy." "Thế nào? Công việc này có làm hay không?" "Bọn ta cái gì cũng làm hết, rốt cuộc đây là công việc gì thế?" "Từ một nơi nào đó sẽ vận chuyển chó, chim, chóc, rắn, côn trùng đến. Ta muốn hai người điểm thu những thứ này, rồi lại vận chuyển đi nơi khác." "Nơi khác? Là đi đâu cơ?" "Bằng lòng làm thì ta sẽ nói cho các ngươi biết. Thế nào?" Tiền công mà người phụ nữ đưa ra, số lượng không hề nhỏ chút nào.
"Thế nhưng, công việc này tuyệt đối không được tiết lộ cho bất cứ ai biết. Tỷ như, đồ đạc phải vận chuyển đi đâu này, làm như vậy là vì cái gì này, đều không được phép hỏi. Hơn nữa, cho dù các ngươi có hỏi thì ta cũng sẽ không nói đâu. Nếu không thể tuân thủ giao ước, thì sẽ không có được công việc này đâu đấy." "Bọn ta làm! Đã có thể cầm được số tiền lớn thế này, bọn ta đương nhiên bằng lòng làm rồi." Người đàn ông nói.
"Nghe cho kỹ đây — nếu như vi phạm giao ước, các ngươi sẽ phải chịu tai ương đấy nhé!" Tóm lại, hai kẻ đang muốn làm việc kiếm tiền đã hoàn toàn đồng ý.
Địa điểm chính là ở Sùng Đức Phường.
Tại một ngôi nhà hoang không tiếp giáp với nhà nào khác ở Sùng Đức Phường, hai người chuẩn bị sẵn vại gốm, xe kéo, sẽ có người mang côn trùng, chó hoặc rắn đến.
Điểm thu những thứ đó, trả tiền xong xuôi, hai người lại vận chuyển đến những dinh thự khác ở Sùng Đức Phường.
Khi đến được đích đến, thì đã là lúc đêm hôm khuya khoắt.
Người phụ nữ được nhắc đến ở trên sẽ đi ra, bảo bọn họ đặt những thứ vận chuyển đến sang một bên, sau đó lại kéo những chiếc vại trống về lại nhà hoang, rồi ngủ lại ở đó. Buổi trưa hôm sau, người ta lại lần lượt đem côn trùng, rắn và các thứ khác đến giao nộp.
Những kẻ mang hàng đến giao, thỉnh thoảng có người Hán, nhưng đa phần đều là người Hồ mắt xanh.
Trong quá trình lặp đi lặp lại không ngừng ấy, bọn họ bắt đầu cảm thấy lo lắng bất an.
Đêm hôm qua — tức là đêm trước ngày người đàn ông đó kể lại chuyện này cho Ali nghe.
Rốt cuộc là có chuyện gì đang diễn ra ở trong tòa dinh thự đó vậy chứ? Cuối cùng, hai người quyết định nhân cơ hội này thám thính cho ra ngô ra khoai.
Bọn họ vẫn luôn đi vào từ cửa chính, vì nghe thấy tiếng chó sủa văng vẳng truyền ra từ hậu viện, nên đoán chừng có lẽ đang tiến hành việc gì mờ ám, hai người sau khi giao nộp chó, côn trùng xong liền đi dọc theo bức tường vây của dinh thự, lén lút vòng ra phía sau.
Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán, vòng ra phía sau rồi, tiếng chó sủa lại càng lúc càng lớn hơn.
Tiếng gầm gừ, tiếng sủa điên cuồng thậm chí cả tiếng rên rỉ thảm thiết.
Vừa hay bên ngoài bức tường vây sừng sững mấy gốc cây hòe già.
Hai người liền quyết định trèo lên cây để thám thính cho thật kỹ.
Bọn họ trèo lên thân cây, tay bám lấy ngọn cành, độ cao ấy vừa vặn có thể nhìn thấy phía bên trong bức tường vây.
Hai người nhô đầu lên khỏi bức tường vây.
Nơm nớp lo sợ thám thính nhìn vào trong.
Kết quả là, từ khoảng sân bên trong bức tường vây, bọn họ nhìn thấy một cảnh tượng kỳ dị.
Trong sân bày những chiếc lồng sắt lớn, củi đang cháy rừng rực, một luồng ánh lửa bốc ngược lên cao.
Ánh lửa soi rọi thứ gì đó — đó chính là đầu của những con chó.
Từ dưới mặt đất nhô lên vô số cái đầu chó. Rất nhiều con chó bị chôn vùi dưới đất, chỉ chừa lại phần đầu lộ ra khỏi mặt đất.
Khoảng ba, bốn chục con gì đó.
Những con chó vẫn chưa chết. Vẫn còn sống nguyên vẹn.
Đang nhe răng trợn mắt rên rỉ, gầm gừ.
"A, a..." Người đàn ông kìm nén không để bản thân kêu lên oai oái, đoạn nuốt nghẹn tiếng kêu ấy vào trong.
Người phụ nữ vừa chạm mặt ban nãy, đang đứng bên cạnh đống lửa.
Cúi đầu nhìn xuống bầy chó.
Tay phải người phụ nữ đang cầm một thanh đại đao cong.
Nhìn, nhìn kìa..." Người đàn ông nhỏ giọng nói với đồng hoả của mình: "Phía trước của con chó, con chó..." Ở phía trước mõm của mỗi con chó đều đặt một thứ gì đó.
Trước mũi chó có một khối màu đen đỏ.
Là thịt ư?" Nhìn kỹ lại, có vẻ như là thịt sống.
Hơn nữa, miếng thịt đó nói là khối hình, thì trông có vẻ giống một "hình vẽ" nào đó hơn.
Là chữ ư? Trông có vẻ như tạo hình chữ "đại".
Thế nhưng, trừng mắt nhìn kỹ lại mới biết đó không phải là chữ, mà là một "hình dáng" nào đó.
Là người phải không?" Đó chính là người, không trật đi đâu được, chính là hình người.
Hơn nữa, trên miếng thịt có hình dáng giống con người đó, lại còn đặt cả giấy hoặc bùa chú các loại lên trên.
Nhìn kỹ lại lần nữa, trên những tờ giấy hoặc bùa chú hình chữ nhật đó có viết một số chữ.
Thế nhưng, vì khoảng cách quá xa, mặc dù có thể nhận ra đó là chữ, nhưng lại không thể phân biệt được rốt cuộc đó là chữ gì hay lời gì.
Chỉ đại khái biết được, hình như có viết tên của một người nào đó.
Hơn nữa, những con chó cứ hướng về phía miếng thịt trước mũi mình mà sủa không ngừng nghỉ.
Tại sao lại sủa không ngừng nghỉ cơ chứ? Đó là bởi vì lũ chó đang đói cồn cào.
Đói bụng đến mức muốn cắn một miếng vào miếng thịt trước mắt ngay lập tức, dục vọng ấy hóa thành tiếng kêu khiến lũ chó sủa ầm ĩ không ngừng.
Người đàn ông đã hiểu ra, lũ chó hầu như đều không được cho ăn gì cả.
Lũ chó sùi bọt mép cứ sủa không ngừng. Chúng bằng mọi giá muốn cắn cho được miếng thịt trước mặt, cho nên điên cuồng gào thét giống như phát cuồng vậy. Sủa không dứt.
Bộ dạng lũ chó vô cùng dữ tợn, ánh mắt lóe lên tia sáng lạnh lẽo, nhe răng chảy dãi thòng lòng.
Đây quả là một hành động tàn nhẫn làm sao.
Nhìn thấy bộ dạng đáng thương của lũ chó ấy, thì có thể đoán chừng được, chắc chắn không phải là một, hai ngày, mà là ba, bốn ngày hoặc năm ngày nay không được cho ăn dù chỉ nửa hạt thức ăn nào rồi.
Trong tâm trí của lũ chó, ngoại trừ việc cắn ngập răng vào miếng thịt trước mắt này ra, thì chắc chắn chẳng còn mong cầu nào khác nữa.
Chẳng bao lâu sau — điều rợn tóc gáy đã xảy ra ngay trong khoảnh khắc nhìn thấy cảnh tượng ấy.
Người phụ nữ bước đến trước mặt một con chó, hai tay cầm đao, dùng sức giơ cao lên.
Sau đó, vung mạnh một nhát từ phía trên chéo đầu con chó chém xuống.
Thanh đao dùng sức chém sâu vào trong đầu con chó, chẻ nó làm đôi.
Bọt máu tung tóe khắp nơi, phun bắn ra ngoài, tựa như trận mưa rào quất thẳng xuống mặt đất.
Tựa như bị chấp niệm ám ảnh, cái đầu chó phóng nhào về phía trước, dùng răng cắn chặt lấy miếng thịt.
Răng va chạm vào nhau phát ra âm thanh, cái đầu chó chỉ còn trơ lại trơ trọi cắn xé miếng thịt mấy bận, cho đến khi không thể động đậy nổi nữa.
Sau đó, người phụ nữ lại bước đến bên cạnh con chó tiếp theo.
Lại vung đao chém xuống một nhát nữa.
Cái đầu chó chỉ còn trơ lại một mảnh, gặm nhấm miếng thịt hình người trước mặt.
Trong chớp mắt, đã có bốn cái đầu chó rơi xuống đất.
Tiếp theo đó — từ phía sau người phụ nữ, trong góc tối tăm của dinh thự, một bóng người lại lần nữa xuất hiện.
Là một gã đàn ông trần truồng toàn thân.
Nói là đàn ông, chi bằng nói là một lão già thì đúng hơn.
Lão già đó sau khi xuất hiện liền bước đến gần người phụ nữ.
Người phụ nữ phát hiện lão ta đến gần, liền hạ đao xuống, dừng hành động chém đầu chó lại.
Lão già đứng trước mặt người phụ nữ, áp môi vào tai cô ta, hình như đang lầm rầm thì thầm chuyện gì đó.
A — trong đầu người đàn ông đột nhiên dâng lên một dự cảm điềm gở.
Bị phát hiện rồi.
Khoảnh khắc người phụ nữ quay đầu lại, "Nằm rạp xuống!" người đàn ông sắc bén quát lên với đồng bọn.
Người phụ nữ nhất định là muốn nhìn về phía này.
Thế nhưng, trước khi người đàn ông phụ nữ quay đầu lại, người đàn ông và đồng bọn đã sớm cúi rạp đầu xuống từ đời nào rồi.
Bị nhìn thấy rồi ư? Tựa như rơi xuống vực thẳm, mấy người đàn ông nhanh chóng trượt từ trên cây xuống dưới.
Cắm cổ chạy thục mạng.
Chạy thục mạng, cuối cùng cũng quay trở lại căn nhà hoang ban đầu.
Cho dù đã quay lại đây rồi, trái tim vẫn đập thình thịch không thể bình ổn lại được.
Sự việc bại lộ rồi sao?! Ả ta biết kẻ lén lút rình mò chính là bọn ta ư? Nếu đúng là vậy, tốt nhất là nên chuồn khỏi đây ngay lập tức! Bởi vì ở đây, dù là lão già hay người phụ nữ đều đã hay biết rồi.
Giả sử muốn trả thù bọn ta, có lẽ sẽ nhân lúc ban đêm mà tìm đến đây.
Đã mấy lần muốn — trốn chạy.
Thế nhưng, trốn chạy thì sẽ không lấy được tiền công nữa.
Có lẽ, hai kẻ đó biết có người rình mò, nhưng chưa chắc đã biết đó là bọn ta.
Có lẽ, người phụ nữ quay đầu chỉ là một hành động tình cờ, chứ không phải muốn tìm kiếm bọn ta đang trốn trên cây.
Có lẽ, sau khi lão già nói chuyện xong, người phụ nữ quay đầu lại, chẳng qua chỉ là muốn xoay người quay lại vị trí cũ mà thôi.
Có lẽ, bọn ta nhìn thấy mà hồn xiêu phách lạc nên mới phán đoán sai lầm rằng mình đã bị bại lộ tung tích.
Nhất định là như vậy rồi.
Với khoảng cách như thế, cho dù có bị phát hiện, thì cũng không đến mức nhìn ra được kẻ đang rình mò là ai.
Khoảng cách vừa xa lại vừa tối tăm, muốn nhận diện khuôn mặt người khác chắc chắn là rất khó khăn.
Vạn bất đắc dĩ có bị phát hiện đi chăng nữa, thì đối phương cũng không biết đó là ai mới phải.
Hai người nghĩ ngợi những chuyện này, trằn trọc suốt đêm không hề chợp mắt, cứ thế đón ánh bình minh ló dạng.
Kết quả là, chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
Quả nhiên, bọn họ không bị phát hiện.
Tâm trạng vừa trở nên tươi tắn phấn khởi trở lại, gan dạ của hai người cũng lớn lên theo.
Đêm nay làm nốt lần việc cuối cùng này là xong.
Cầm tiền công xong, cứ thế cáo biệt, mọi thứ thế là chấm hết.
Giả sử bị ai hỏi đến chuyện gì, cứ vờ như không biết là được.
Cho dù đối phương không tin lời bọn ta, ít nhất thì bọn chúng cũng nên hiểu rằng, cho dù bọn ta có nhìn thấy những cảnh tượng đó đi chăng nữa, thì cũng sẽ không đi kể với người khác đâu.
Sau khi tự suy diễn an ủi bản thân như vậy, hai người quyết định đợi đến chiều tối, hoàn thành công việc cuối cùng.
Thế nhưng, ngày hôm đó hoàn toàn không có ai mang côn trùng, rắn rết đến cả.
Khoảnh khắc hoàng hôn sắp lặn xuống, có người xuất hiện.
Bọn họ lập tức nhận ra kẻ tới là ai.
Chính là lão già đó.
Thân hình gầy gò nhỏ thó.
Không trật đi đâu được! Hắn ta tới đây để làm gì?
Hai người đã bàn bạc trước những câu từ để đối phó, có bị hỏi gặng thế nào đi chăng nữa, cũng phải chối đây đẩy là không biết chuyện đêm hôm qua, cái gì cũng không nhìn thấy cả.
Thế nhưng, cơ thể hai người đã bắt đầu run lẩy bẩy lên rồi.
Lão già chậm rãi bước tới, dừng lại ngay trước mặt hai người.
Không thèm nói một lời nào.
Chỉ dùng đôi tròng mắt màu vàng đáng sợ, nhìn chằm chằm vào hai người.
Không, không..." Cả hai nói không nên lời.
Miệng không thể thốt ra âm thanh, cơ thể lại không kiềm chế được mà run lẩy bẩy kịch liệt.
Sau đó — "Nhìn thấy hết rồi chứ..." Mấy chữ ngắn ngủn, tựa như đang tự nói cho chính lão già nghe vậy.
Đột nhiên, tay phải của lão già lóe lên một cái.
Một thứ gì đó lấp lánh sáng loáng, sượt qua trước mắt hai người đàn ông.
Chính là ánh kim loại sắc bén.
Chỉ trong tích tắc, phần cằm của tên đồng bọn trào ra máu tươi, phun bắn tung tóe lên mặt lão già.
Máu tươi.
Cổ họng đã bị rách toạc.
Không phát ra được âm thanh nào, tên đồng bọn ngã nhào về phía trước, ngừng thở.
Tiếp theo đến lượt người đàn ông.
Vút.
Khi lão già tiến đến trước mặt mình, gã đàn ông sợ đến mức đờ đẫn không thể động đậy nổi.
Chỉ có thể vô thức nở một nụ cười ngốc nghếch.
Lão già đang đứng trước mặt, tay phải lại lóe lên một cái.
Phập một tiếng, cổ họng bị rách toác.
Khoảnh khắc máu tươi từ dưới cằm mình phun xối xả, văng lên mặt lão già, ý thức của gã đàn ông đã tách rời khỏi thể xác.
Gã đàn ông hoàn toàn mất đi ý thức.
Đến khi khôi phục lại tri giác, liền nhận ra Ali đang gọi giật vào tai mình: "Cậu có sao không?" Kẻ đang thoi thóp ấy đã kể lại toàn bộ đầu đuôi sự việc cho Ali nghe.
Nói là đang nói chuyện với Ali, chi bằng nói là giống như kẻ đang phát sốt đang nói nhảm thì đúng hơn. Gần như chỉ có một phía đang nói, nói xong câu chuyện, gã đàn ông liền trút hơi thở cuối cùng trên cánh tay của Ali.
Đám chó, côn trùng, rắn rết vất vả lắm mới mang tới được, trong hoàn cảnh này thì đã không thể bán đi được nữa rồi.
Hơn nữa, cứ tiếp tục ở lại đây mà bị người ta nhìn thấy, thì cũng sẽ rước thêm rắc rối.
Thế là, Ali vứt bỏ hai cái xác, vắt giò lên cổ chạy thục mạng về nhà mình.
Không dám tiết lộ nửa lời gió tiếng gì với bất kỳ ai, cứ thế qua mấy ngày trời, Ali ngày một gầy sọm đi, suýt chút nữa thì rơi vào cảnh nước lọc cơm canh cũng không húp nổi một giọt.
Thế nhưng, về những chuyện mà bản thân đã tận mắt chứng kiến, cậu ta lại vô cùng muốn tìm ai đó để trút bầu tâm sự cho sảng khoái.
Không biết từ lúc nào, cậu ta đã xuất hiện ở tiệm của Mahamudu, cất tiếng chào hỏi Mahamudu rồi.
Không Hải và Dật Thế, đang bước đi giữa tiếng ồn ào náo nhiệt của Tây Thị.
Đúng như lời Mahamudu đã nói, khu chợ quả thực náo nhiệt hơn trước rất nhiều. Tiếng rao hàng của tiểu thương lớn tiếng hơn, tuyệt đối không phải là do bản thân tự ảo giác đâu nhé. Tiếng cười đùa trong đám đông hình như cũng nhiều lên rồi.
Giữa đám đông đang huyên náo ồn ào, Không Hải vừa đi vừa mang vẻ mặt khó xử.
"Dật Thế à. Chuyện này sẽ càng lúc càng gai góc rắc rối đấy." Không Hải lên tiếng.
"Là chuyện mà Mahamudu vừa nãy nói á?" "Ừ, mọi thứ càng lúc càng trở nên thú vị rồi đây." "Này, Không Hải." "Gì thế, Dật Thế." "Những chuyện thế này, không nên thốt ra mấy từ kiểu như thú vị này nọ chứ." "Vậy sao?" "Giả sử bị kẻ có tâm địa xấu xa nào nghe thấy, không biết sẽ bị đồn thổi thành ra cái thá gì nữa." "Đây chỉ là cuộc đối thoại giữa chúng ta với nhau thôi, không phải lo lắng đâu." "Không sao là tốt rồi —" Dật Thế mang theo chút ngữ điệu bất mãn nói: "— Thế nhưng, Không Hải này. Cậu nói như vậy, thực sự là sẽ không sao chứ?" "Nói như vậy?" "Cậu chẳng phải đã nói với Mahamudu là đừng lo lắng còn gì?" "Ừ, có nói." "Chính là chuyện đó đấy." "Ngoài việc đừng lo lắng ra — còn có cách nói nào khác nữa không?" Không Hải phản hỏi Dật Thế.
"Cách nói khác —" "Chắc cũng chỉ có thể nói thế thôi." Cái gọi là "nói thế", chính là ám chỉ lời mà Không Hải đã nói với Mahamudu cách đây không lâu.
Nói xong chuyện của Mimal Ali, Mahamudu hỏi Không Hải: "Chuyện này, Ali lo lắng muốn chết đi được, phải làm thế nào mới tốt đây?" "Không cần phải quá lo lắng đâu." Không Hải đáp: "Cứ coi như không biết gì hết, không nhìn thấy, không nghe thấy — cứ sống những ngày tháng bình thường như mọi khi, đó chính là biện pháp tốt nhất rồi, phiền ông hãy chuyển lời lại như thế với Ali tiên sinh nhé." "Thế là đủ rồi sao?" "Đúng vậy." Không Hải dứt khoát đáp.
Sau đó, các cô con gái của Mahamudu cũng tham gia vào cuộc trò chuyện phiếm, nói một số chủ đề náo nhiệt của khu chợ, chẳng mấy chốc, Không Hải và Dật Thế liền cáo biệt túp lều của Mahamudu mà rời đi.
Nghe cho kỹ đây, Dật Thế, bây giờ Karapan không có thời gian để quản mấy chuyện thế này đâu. Giả sử Ali không hé răng nửa lời với bất kỳ ai, thì Ali sẽ gặp nguy hiểm tính mạng, nhưng cậu ta đã nói ra rồi, thế nên Ali rất an toàn." "Hả, hả —" Phát ra một tiếng kêu ngạc nhiên, Dật Thế hỏi: "Thế nhưng, nếu Ali nói ra chuyện này, bị Karapan biết được, chẳng lẽ Karapan sẽ không nổi giận mà đến trừng phạt cậu ta sao?" "Tại sao lại thế?" "Bởi vì, chính là..." Dật Thế nghẹn họng không nói nên lời.
"Giả sử Karapan biết Ali đã nói ra rồi, điều đó chứng tỏ, việc bịt miệng Ali cũng chẳng còn tác dụng gì nữa. Hơn nữa, Ali vừa không hề bội ước với Karapan, cũng chẳng hề phản bội lại hắn ta." "Ừ." "Nếu ta là Karapan, khi biết Ali đã kể cho người khác nghe rồi, hoặc là, biết được cậu ta chuẩn bị kể cho người khác nghe —" "Thì sao?" "Chắc là sẽ trốn chạy thôi." "Trốn chạy?" "Không thể chậm trễ thêm phút nào nữa, trốn khỏi cái căn nhà hoang đó." "Thật chứ?" Dật Thế nâng cao giọng.
"Khi biết hai kẻ kia đã tận mắt chứng kiến tất cả mọi chuyện, thì đã bắt đầu chuẩn bị rồi." "—" "Trước khi giết hai kẻ đó, chắc chắn đã sắp xếp ổn thỏa các bước trốn chạy từ lâu rồi." "Ý cậu là —" "Cho dù bây giờ có đến cái căn nhà hoang đó, e là cũng chẳng còn bóng dáng ai nữa đâu." "Cậu chắc chắn chứ?" "Chắc chắn." Không Hải dứt khoát gật gật đầu: "Dật Thế à, ban nãy ta nói thú vị là bởi vì rất nhiều chuyện đã bắt đầu dần dần sáng tỏ rồi." "Bắt đầu dần dần sáng tỏ?" "Ừ." "Chuyện gì cơ?" "Tỷ như mà nói, cái tên Karapan này có lẽ chính là thuật sĩ Doruj từng giết chết Chu Minh Đức và Alun Rashid." "Vốn dĩ là vậy rồi còn gì." "Còn nữa, Dật Thế này. Thuật sĩ Doruj và con Bạch Long mà chúng ta đã nghe kể mấy lần, e là cùng là một người —" "Cái gì cơ?!" "Tên của Bạch Long, cậu biết chứ." "Đã nghe qua rồi. Là cậu nghe được từ chỗ đại sư Đan Ông mà." "Đúng vậy." "Thế nhưng, nhưng mà —" "Ban nãy ta đã cho rằng có lẽ là thế này, hóa ra đúng là như vậy. Chuyện của Karapan và sự kiện Quý Phi, có rất nhiều mối liên hệ mật thiết với nhau." "—" "Cậu nghe cho kỹ đây, lúc chúng ta đi đào mộ Quý Phi, chẳng phải đã đào được bộ xương chó lên sao? Trên đó khắc chính là văn tự Ba Tư." "Ta biết chứ." "Kẻ có quan hệ mật thiết với sự kiện Quý Phi, có Hoàng Hạc, Bạch Long và Đan Long." "Ừ, ừ." "Sự kiện miêu tả yêu miêu ở phủ Lưu Vân Kiều, các tượng binh mã được khai quật ở ruộng bông của Từ Văn Cường, có kẻ nguyền rủa làm giảm thọ Đức Tông, rồi đến bây giờ lại chuẩn bị ra tay với hoàng đế Vĩnh Trinh v.v., tất cả đều có liên quan mật thiết với nhau." "Chuyện hoàng thượng bị yểm bới cũng có liên quan sao?" "Ừ." Không Hải gật gật đầu, đoạn nhìn Dật Thế nói: "Thuật sĩ Doruj lần này thu thập chó, côn trùng, rắn rết —" "Thế nào?" "Đây là để hạ cổ độc." "—" "Để yểm bới hoàng thượng, thuật sĩ Doruj mới thu thập những thứ đó." "Nói cách khác, kẻ yểm bới hoàng thượng chính là thuật sĩ Doruj?" "Từ nãy đến giờ, ta vẫn luôn nói về chuyện này mà." "Vậy thì, hai kẻ kia chính là vì rình mò thấy nơi thuật sĩ Doruj — tức là Bạch Long yểm bới hoàng thượng, nên mới bị sát hại." "Đại khái là vậy." Không Hải nói.
"Hừm..." Dật Thế thở dài hắt ra một hơi thật sâu: "Không Hải, bị cậu nói thế này, ta cũng có cảm giác hình như là vậy. Thế nhưng, tại sao Bạch Long lại làm ra cái loại chuyện như thế chứ?" "Làm cái loại chuyện gì cơ?" "Muốn thi triển bùa chú khiến hoàng thượng giảm thọ." "Ta cũng không biết nữa. Cứ có cảm giác chuyện này có mối liên hệ rất sâu sắc với Quý Phi —" "Hơn nữa, đại nhân Vương chắc cũng có nhúng tay vào ấy chứ nhỉ." "Ừ." Không Hải gật gật đầu: "Nhắc đến đại nhân Vương, khu chợ này có thể náo nhiệt như thế này, cũng là nhờ ơn của ông ta đấy. Thế nhưng —" "Lại sao nữa thế?" "Về chuyện này, ta càng ngày càng cảm thấy sự nhúng tay của đại nhân Vương Thúc Văn là không hay ho chút nào —" "Ta cũng nghĩ thế." "Hôm nay đáng lẽ nên dẫn Đại Hầu theo mới đúng." "Dẫn Đại Hầu theo?" "Đại Hầu mà ở đây, thì có thể để nó đến Sùng Đức Phường thăm dò tình hình một chuyến rồi." "Nói cũng phải." "Tóm lại, chuyện này vẫn nên báo trước cho đại nhân Liễu biết thì hơn." "Tên nam nhân đó cũng vất vả thật đấy —" Khi Dật Thế đang nói những lời này — "Tiên sinh Không Hải." Có người từ phía sau cất tiếng chào hỏi.
Không Hải và Dật Thế cùng quay đầu lại nhìn, liền trông thấy Hàn Dũ đang đứng ngay trước mặt.
Ồ, là đại nhân Hàn Dũ đây mà." Không Hải nói.
"Xin hãy đi theo tôi." Hàn Dũ cúi đầu hành lễ thật sâu.