Range - Hiểu Sâu Biết Rộng Kiểu Gì Cũng Thắng

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Những tấm gương tài tử có chủ đích

❊ ❊ ❊

Thứ Bảy ngày 23 tháng 1 năm 1954, như thường lệ, Oliver Smithies đang làm việc trong phòng thí nghiệm ở Toronto. Ông tự đặt tên cho công việc này là “Những thí nghiệm sáng thứ Bảy”. Vì không có ai xung quanh nên ông cảm thấy mình được thoát khỏi sự gò bó của công việc thường ngày. Vào thứ Bảy, ông không cần phải cân nhắc mọi thứ thật cẩn thận. Ông có thể lấy một lượng nhỏ của thứ này, một chút xíu của thứ khác để làm thí nghiệm, một hoạt động mà nếu làm trong tuần thì sẽ bị xem là lãng phí thời gian và thiết bị. Ông có thể thử nghiệm một cái gì đó mà ông thấy rất cuốn hút, nhưng ít liên quan đến dự án chính của ông. “Người ta cần để cho bộ não nghĩ về một cái gì đó khác với công việc hằng ngày của nó,” ông nói. Theo như cách nói của Smithies: “Vào ngày thứ Bảy, bạn không cần phải tư duy hoàn toàn hợp lý.”

Smithies làm việc trong phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về insulin, và công việc của ông là tìm ra tiền chất insulin. Công việc đang trong giai đoạn bế tắc, theo đúng nghĩa đen.

Phương pháp tách các phân tử ra để làm đối tượng nghiên cứu đòi hỏi phải chạy một dòng điện qua một loại giấy ẩm đặc biệt. Các phân tử tách rời nhau khi chúng đi qua tờ giấy. Nhưng insulin cứ dính vào giấy. Smithies đã nghe rằng bệnh viện nhi địa phương đã thử dùng hạt tinh bột ẩm thay vì giấy. Tinh bột đã giải quyết vấn đề về kết dính, nhưng sẽ buộc ông phải cắt các hạt thành 50 lát và phân tích từng hạt riêng lẻ để tìm ra nơi các phân tử tụ lại. Điều đó sẽ mất không biết bao nhiêu là thời gian, vì vậy nó là một ý tưởng không có triển vọng. Rồi ông nhớ ra một việc đã xảy ra khi ông 12 tuổi.

Smithies lớn lên ở thị trấn Halifax ở Anh, và thường quan sát thấy mẹ mình hay làm cứng cổ áo sơ mi cha mặc đi làm bằng hồ bột. Bà nhúng từng chiếc áo vào tinh bột nóng hổi, rồi ủi nó. Smithies phụ mẹ dọn dẹp bằng việc xử lý tinh bột còn thừa. Ông nhận thấy rằng khi tinh bột nguội, nó đông lại thành gel (thạch).

Smithies có chìa khóa vạn năng của tòa nhà, vì vậy ông đi khắp nơi tìm kiếm các hạt tinh bột từ các tủ cung cấp. Ông nấu chín các hạt, để chúng nguội thành gel và thử nó thay cho giấy. Khi ông chạy dòng điện, các phân tử insulin tách theo kích thước trong gel. “Rất hứa hẹn!”. Từ hôm đó, sổ tay của ông ấy ghi lại những điều như vậy. Trong những năm sau đó, “điện di gel” đã được tinh chỉnh và đã làm nên một cuộc cách mạng trong sinh học và hóa học. Nhờ thế, các đoạn DNA riêng lẻ và các thành phần của huyết thanh người có thể được tách ra và nghiên cứu.

Khi tôi nói chuyện với Smithies vào năm 2016, lúc đó ông đã 90 tuổi và vẫn miệt mài trong phòng thí nghiệm. Ông đang suy nghĩ về cách thận có thể phân tách những phân tử lớn và nhỏ. “Ở thời điểm hiện tại, đó là một thí nghiệm lý thuyết của sáng thứ Bảy”, ông nói.

Điều làm tôi ấn tượng khi Smithies nói là niềm vui của ông khi thử nghiệm. Không chỉ trong phòng thí nghiệm mà trong cuộc đời của ông. Ông là hiện thân của một số nguyên lý mà tôi đặt ra ra để khám phá trong cuốn sách này. Nhìn từ bên ngoài, ông trông giống như một siêu chuyên gia tài giỏi. Chung quy lại, ông là một nhà hóa sinh phân tử mà. Tuy nhiên hóa sinh phân tử không thực sự là một ngành nghề được công nhận vào thời kỳ mà Smithies được đào tạo. Đầu tiên ông học ngành y, cho đến khi ông tham dự buổi nói chuyện của một giáo sư đang kết hợp hóa học và sinh học. “Theo một nghĩa nào đó, ông ấy đã nói về chủ đề mới chưa được phát hiện,” Smithies nói tôi. “Đó là điều tuyệt vời, và tôi nghĩ tôi muốn làm giống vậy. Tốt nhất tôi nên học hóa học.” Ông chuyển hướng rất nhanh và chuyển sang học hóa học. Ông thậm chí không bao giờ nghĩ tới có cảm giác bị tụt lại phía sau. Ngược lại, “điều đó thực sự rất giá trị, vì cuối cùng tôi đã có một nền tảng tốt về sinh học và không sợ hãi về sinh học, và sau đó tôi không sợ hãi hóa học. Điều đó đã làm cho tôi rất tự tin trong những ngày đầu của ngành sinh học phân tử”. Những gì nghe có vẻ là siêu chuyên môn hóa ngày nay thực sự là một sự kết hợp táo bạo vào thời điểm đó.

Smithies là một giáo sư tại Đại học Bắc Carolina khi chúng tôi trò chuyện cùng nhau. Ông qua đời chín tháng sau, ở tuổi 91. Đến cuối cuộc đời mình, ông vẫn khuyến khích sinh viên tư duy đa phương, mở rộng trải nghiệm và tạo ra con đường của chính họ để tìm kiếm những ngành nghề phù hợp. “Tôi cố gắng dạy các em rằng: “Đừng trở thành bản sao của người hướng dẫn luận án của các em,” ông nói với tôi. “Hãy mang những kỹ năng của các em đến một nơi đang làm những điều khác biệt. Áp dụng kỹ năng của các em để xử lý một vấn đề mới, hoặc chọn vấn đề của các em và thử những kỹ năng hoàn toàn mới.”

Smithies sống đúng theo lời khuyên mà ông đã đưa ra. Ở độ tuổi 50, ông có một kỳ nghỉ phép tập trung nghiên cứu để chuyển sang học cách nghiên cứu về DNA ở phòng thí nghiệm cách văn phòng của ông chỉ hai tầng trong cùng một tòa nhà. Ông không bao giờ tìm thấy tiền chất của insulin, và ông được trao Giải thưởng Nobel vào năm 2007 do những thành công trong vai trò một nhà di truyền học, vì đã tìm ra cách sửa đổi các gen gây bệnh để các nhà khoa học có thể nghiên cứu chúng trên động vật. Trong lĩnh vực di truyền, ông là một chuyên gia muộn. Tôi bảo Smithies rằng gần đây tôi đã nói chuyện với hiệu trưởng của một trường đại học nghiên cứu lớn đang sử dụng phân tích dữ liệu để đánh giá các đóng góp và dựa vào đó để tuyển dụng cũng như đề bạt. Vị hiệu trưởng nói với tôi rằng các nhà hóa học chỉ trở nên nổi bật 20 năm sau khi họ lấy bằng tiến sĩ. Smithies cười. “Vâng, công trình có đóng góp quan trọng nhất của tôi được công bố khi tôi khoảng 60 tuổi”, ông nói. Một phân tích năm 2016 về sự nghiệp của 10.000 nhà nghiên cứu cho thấy rằng không có mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa kinh nghiệm và đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu. Một công trình có sức ảnh hưởng lớn nhất của một cá nhân có khả năng là bài viết đầu tiên của họ, mà cũng có thể là bài viết thứ hai, thứ mười hoặc cuối cùng của họ (tuy nhiên, các nhà nghiên cứu có xu hướng công bố các công trình thường xuyên hơn khi họ còn trẻ).

Khi tôi đề cập với Smithies rằng ký ức của ông về những chiếc áo được hồ là một ví dụ về tư duy sáng tạo với công nghệ cũ, ông nói thêm rằng vào năm 1990, ông chia sẻ Giải thưởng Gairdner (một giải thưởng tiền-Nobel) với Edwin Southern, người cũng đã vận dụng từ ký ức thời thơ ấu, mà nhìn bề ngoài dường như hoàn toàn không liên quan. “Ký ức của anh ấy liên quan đến máy in roneo”, Smithies nói và giải thích rằng đó là một thiết bị sao chép tài liệu cũ sử dụng giấy nền và một hệ thống in lưới. Với ký ức đó, Southern đã tạo ra “phương pháp thấm Southern”, một phương pháp phổ biến để phát hiện các phân tử DNA cụ thể. Gunpei Yokoi hẳn sẽ rất vui mừng. Nhưng những thứ đó chẳng là gì so với công nghệ cũ kỹ mà Đồ U U (Tu Youyou) đã áp dụng, đưa bà đã trở thành người Trung Quốc đầu tiên (và cho đến nay là duy nhất) đạt giải Nobel sinh lý học và y khoa vào năm 2015. Bà Đồ cũng người phụ nữ Trung Quốc đầu tiên, xét trong tất cả các lĩnh vực, được trao giải Nobel.

Bà Đồ được biết đến như là “vị giáo sư của ba không”: không phải là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, không có kinh nghiệm nghiên cứu ngoài Trung Quốc, và không có bằng sau đại học. Trước bà Đồ, các nhà khoa học khác được cho là đã thử nghiệm đến 240.000 hợp chất để tìm kiếm một phương pháp chữa bệnh sốt rét. Bà Đồ quan tâm đến cả y học hiện đại và lịch sử, và được truyền cảm hứng bởi một tiết lộ trong một công thức điều chế thuốc được chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng, vốn được một người luyện đan ở Trung Quốc vào thế kỷ IV ghi chép lại. Công nghệ này thật quá sức lạc hậu. Nó gợi ý cho bà Đồ thử nghiệm (lúc đầu là trên chính bản thân bà) với một chiết xuất từ thanh hao hoa vàng được gọi là artemisinin. Artemisinin ngày nay được coi là một trong những phát hiện đột phá nhất về thuốc trong y học. Một nghiên cứu về sự suy giảm của bệnh sốt rét ở châu Phi đã chứng minh rằng 146 triệu trường hợp đã hồi phục nhờ điều trị bằng artemisinin từ năm 2000 đến 2015. Bà Đồ đã gặp rất nhiều bất lợi, nhưng bà ấy cũng có một lợi thế khi là một người ngoại đạo vì bà ấy dễ dàng nghiên cứu những lĩnh vực mà người khác không dám. Đây cũng chính là kiểu lợi thế mà Smithies tìm kiếm vào những sáng thứ Bảy.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Smithies đã viết và giữ khoảng 150 cuốn sổ tay. “Những ghi chép đó cũng ra đời vào những ngày thứ Bảy”, ông lặp lại khi ông ấy cho tôi xem những trang quan trọng. Khi tôi chỉ ra, ông trả lời: “Đã có những người nói với tôi rằng: “Tại sao anh phải đi làm vào những ngày giữa tuần?”

Tất nhiên, những đột phá là những ngoại lệ. Một thí nghiệm vào buổi sáng thứ Bảy vô tình làm phân hủy một thiết bị quan trọng. Trong một thí nghiệm khác, Smithies làm đôi giày của mình bị nhiễm bẩn bởi một hóa chất gây phân hủy. Ông nghĩ rằng mình đã phơi đôi giày khô hẳn rồi cho đến khi ông nghe một người phụ nữ lớn tuổi hỏi một người khác rằng có ngửi thấy mùi tử thi không. Smithies bảo ông không thể cưỡng lại được thói quen “tận dụng tất cả mọi thứ” để làm thí nghiệm, và điều này rất được các đồng nghiệp chú ý. Thay vì vứt bỏ các thiết bị hư hỏng, họ sẽ để lại cho ông, với nhãn dán NBGBOKFO: “no bloody good, but OK for Oliver” (Không còn xài được nữa, nhưng vẫn tốt đối với Oliver).

Các nghiên cứu về những người tư duy sáng tạo cho thấy họ là những tràn đầy nhiệt huyết, có phần ngây thơ và ham vui. Nhà vật lý tại Đại học Manchester Andre Geim áp dụng (không liên quan gì đến Smithies) “những thí nghiệm vào tối thứ Sáu”. Cũng chính vào một tối thứ Sáu, anh đã bắt đầu công trình đem đến cho anh giải thưởng Ig Nobel vào năm 2000. Ig Nobel được trao cho các công trình mà thoạt trông có vẻ ngớ ngẩn hoặc tầm thường. Linh vật của giải thưởng lấy hình ảnh tác phẩm điêu khắc Người suy tư của Rodin, ngoại trừ có “chỗ trêu ngươi” là “Người bốc mùi” (biệt danh mới) đã rơi ra khỏi bệ và nằm ngửa trên mặt đất. Người nhận giải thường được hỏi trước là họ có sẵn sàng lên nhận giải thưởng hay không, để họ có thể cân nhắc trước về việc liệu thanh danh của mình có bị ảnh hưởng. Geim giành giải thưởng khi làm một con ếch bay lên bằng nam châm mạnh (ếch và nước trong cơ thể chúng, có từ tính, hoặc bị từ trường đẩy lên).

Tất nhiên không ai đi tài trợ các thí nghiệm vào tối thứ Sáu và đa số các thí nghiệm này không dẫn tới điều gì cả. Tuy nhiên, sau vụ việc con ếch, một trong những thí nghiệm vào tối thứ Sáu khác đã tạo ra “băng dính tắc kè”, một loại keo dính lấy cảm hứng từ chân của tắc kè. Và rồi có một công trình bắt đầu với việc sử dụng băng keo Scotch để tách các lớp than chì mỏng, vật liệu làm ra đầu bút chì. Công nghệ “lạc hậu” này bước lên đỉnh vinh quang vào năm 2010 khi Giải Nobel vật lý được trao cho Geim và đồng nghiệp của ông, Konstantin Novoselov, những người đã phát minh ra graphene, một vật liệu mỏng hơn tóc người 100.000 lần nhưng cứng hơn thép gấp 200 lần. Nó mềm dẻo, trong suốt hơn thủy tinh, và là một chất dẫn điện tuyệt vời. Nhện được cho ăn graphene đã kéo tơ bền gấp nhiều lần so với sợi Kevlar1 trong áo chống đạn. Graphene bao gồm các dải carbon chỉ dày bằng một nguyên tử, một cấu trúc trước đây chỉ tồn tại trên lý thuyết. Khi Geim và Novoselov gửi công trình ban đầu của họ tới một trong những tạp chí uy tín nhất thế giới, một nhà phê bình cho rằng không thể nào có loại vật liệu như thế, và một nhà phê bình khác đánh giá rằng nó không “có khả năng là một tiến bộ khoa học”.

1. Sợi Kevlar có độ bền gấp năm lần thép nhưng cũng rất dẻo dai, nên được dùng để chế tạo áo giáp chống đạn. (ND)

Nhà sử học nghệ thuật Sarah Lewis chuyên nghiên cứu những thành tựu sáng tạo đã mô tả tư duy của Geim là đại diện cho “những tài tử có chủ đích”. Cô ấy chỉ ra rằng cụm từ “người tài tử” không có ý xúc phạm, mà thật ra hiểu theo tiếng Latin, nó có hàm ý là một người rất say mê một lĩnh vực cụ thể. “Một nghịch lý của sáng tạo và tinh thông đó là những đột phá thường xảy ra khi bạn bắt đầu đi vào một con đường, nhưng cứ lang thang chỗ này chỗ nọ và giả vờ như thể bạn vừa mới bắt đầu”, Lewis viết. Khi phóng viên một bản tin khoa học hỏi Geim (vào thời điểm hai năm trước khi nhận giải Nobel) phong cách nghiên cứu khoa học của ông là gì, ông nói thế này: “Tôi phải nói rằng phong cách của tôi khá bất thường. Tôi không đào sâu – tôi “gặm cỏ” trên bề mặt. Vì vậy, kể từ khi tôi còn là một học giả sau tiến sĩ, cứ sau mỗi năm năm, tôi sẽ chuyển sang nghiên cứu một chủ đề khác… Tôi không muốn “nhai lui nhai tới” chỉ mỗi một đề tài từ khi chào đời đến khi nhắm mắt. Đôi khi tôi nói đùa rằng tôi không quan tâm đến việc lục lọi lại cái cũ, tôi chỉ đi tìm kiếm cái mới thôi”. Việc đi chệch khỏi “đường ray thẳng” trong cuộc đời, như cách nói của Geim, tuy “không đem lại cảm giác an toàn” nhưng mang lại những lợi thế, tạo động lực cho mọi người và khuyến khích chúng ta “đặt câu hỏi về những điều mà những người làm việc trong lĩnh vực đó không bao giờ thèm hỏi”. Buổi tối thứ Sáu của Geim cũng giống như buổi sáng thứ Bảy của Smithies; trong thời gian này họ có thể tha hồ khám phá những điều mới mẻ để cân bằng lại thời gian làm việc trong khuôn khổ suốt những ngày trong tuần. Họ đón nhận điều mà Max Delbrück, một nhà khoa học đoạt giải Nobel chuyên nghiên cứu về mối liên quan của vật lý và sinh học, gọi là “nguyên tắc của sự tùy tiện hạn chế”. Hãy cẩn thận nhưng đừng quá thận trọng, Delbrück cảnh báo, nếu không bạn sẽ tự giới hạn năng lực khám phá của mình một cách vô thức.

Novoselov là nghiên cứu sinh tiến sĩ do Geim hướng dẫn và đã gia nhập nhóm sau khi một đồng nghiệp của Geim nói với anh rằng Novoselov “dường như đã lãng phí cuộc đời” trong một phòng thí nghiệm khác. Khi Novoselov đến phòng thí nghiệm của Geim, anh nhận thấy các thiết bị ở đó cũng tương tự như trong phòng thí nghiệm trước đây mà mình làm việc, nhưng “bên cạnh đó, sự linh hoạt và cơ hội để thử sức mình ở những lĩnh vực khác nhau xem ra thật thú vị”. Một bài báo trên tờ Science mô tả chân dung của Novoselov với các tiêu đề như “Quan tâm đến nhiều lĩnh vực” và “Trải rộng”, vốn nghe qua thì rất tiêu cực và có cảm giác như anh ấy bị tụt lại phía sau nếu bài báo ấy không nói về thực tế là ở tuổi 36, anh là người đoạt giải Nobel vật lý trẻ nhất trong 40 năm qua.

Giống như Van Gogh hoặc Frances Hesselbein hoặc nhóm vận động viên trẻ, có lẽ nhìn từ bên ngoài Novoselov trông giống như anh ấy bị tụt lại phía sau, mãi cho đến khi bỗng dưng anh hoàn toàn ở vị trí ngược lại. Thực tế là anh rất may mắn. Anh đã gia nhập một nơi làm việc coi việc để tư duy đa chiều là một lợi thế cạnh tranh, không phải là một điều gây rắc rối để xóa bỏ dưới danh nghĩa là để đảm bảo hiệu quả.

Ngày càng ít người có quan điểm chống lại thói sùng bái sự khởi đầu sớm. Tại một thời điểm nào đó, tất cả chúng ta đều chuyên môn hóa ở một mức độ này hay mức độ khác, vì vậy xu hướng phải tập trung sớm cho một lĩnh vực nghe có vẻ rất hợp lý. May mắn thay, có những người tiên phong đang làm việc để cân bằng thói sùng bái của sự khởi đầu sớm. Họ muốn có tất cả – từ việc suy nghĩ đa chiều cùng với sự tinh thông khi tích lũy nhiều kinh nghiệm sâu sắc; các kỹ năng tư duy đa dạng áp dụng lăng kính khoa học của Flynn ngay cả trong các chương trình đào tạo cho các chuyên gia; và sức mạnh sáng tạo nhờ việc tiếp thu chéo từ nhiều ngành nghề. Họ muốn đảo ngược xu hướng của Tiger, không chỉ cho bản thân họ, mà cho tất cả mọi người, và thậm chí trong những lĩnh vực đòi hòi siêu chuyên môn hóa. Họ lập luận, tương lai của sự khám phá phụ thuộc vào nó.

Chỉ mất vài phút trò chuyện để nhận ra rằng Arturo Casadevall là một người đàn ông thuộc tuýp người lạc quan. Một trong những ngày tuyệt vời nhất của anh là khi phát hiện ra sóng hấp dẫn, và đó không phải là lĩnh vực chuyên môn của anh ấy. “Hai hố đen va chạm nhau trong không gian một tỷ năm trước đây, và trong một tỷ năm đó sóng trọng lực truyền qua không- thời gian,” anh kể lại với đôi mắt mở to. “Khi tín hiệu gốc bắt đầu, những sinh vật đầu tiên trên trái đất là loài đơn bào, và đến lúc này, loài người đã chế tạo được hai giao thoa kế và đo lường tín hiệu đó. Ý tôi là, đó thật sự là một thành tựu.” Anh cũng là một tiến sĩ y khoa và là một ngôi sao trong lĩnh vực của mình, vi sinh và miễn dịch học. Anh đã nghiên cứu về AIDS và bệnh than, và có những phát hiện quan trọng về cách thức hoạt động của bệnh nấm. Chỉ số “h-index” của anh, chỉ số cho thấy hiệu suất của một nhà khoa học và tần suất các ấn phẩm của họ được trích dẫn, gần đây đã vượt qua Albert Einstein1. Vì vậy, khi anh gia nhập Trường Y tế Công cộng Bloomberg tại Đại học John Hopkins vào năm 2015, với vai trò là chủ nhiệm của khoa vi sinh học phân tử và miễn dịch học, và cảnh báo rằng việc nghiên cứu khoa học đang gặp khủng hoảng, các đồng nghiệp của anh đã lắng nghe rất nghiêm túc.

1. Hiện nay các nhà khoa học công bố nghiên cứu nhiều hơn trong quá khứ, vì vậy việc so sánh không hẳn là công bằng, nhưng vẫn đưa Casadevall vào nhóm rất hiếm.

Trong một bài diễn thuyết trước các đồng nghiệp mới của mình, Casadevall tuyên bố rằng tốc độ xuất hiện của những tiến bộ trong khoa học đã chậm lại, trong khi đó ngày càng có nhiều bài báo khoa học chất lượng kém bị gỡ xuống, và xu hướng này đang tăng nhanh hơn so với việc công bố những nghiên cứu mới. Anh ấy nói: “Nếu cứ đà này thì toàn bộ thông tin khoa học sẽ bị gỡ xuống trong một vài năm tới.” Đó là lời nói đùa về khoa học cực kỳ xúi quẩy, nhưng có căn cứ dựa trên dữ liệu. Theo Casadevall, một phần của vấn đề là các nhà khoa học trẻ vội vàng đi sâu vào chuyên môn trước khi họ học cách tư duy; cuối cùng bản thân họ không thể có những nghiên cứu tốt và không được trang bị những kiến thức cần thiết để phát hiện ra những công trình kém chất lượng (hoặc có ý gian lận) do các đồng nghiệp khác thực hiện.

Lý do Casadevall gia nhập Hopkins và từ bỏ một công việc thuận lợi tại Trường Y khoa Albert Einstein của Đại học Thành phố New York, là bởi trong công việc mới anh có cơ hội tạo ra một phiên bản mẫu của chương trình giáo dục khoa học sau đại học theo quan điểm của mình, và cuối cùng là áp dụng cho toàn bộ nền giáo dục.

Đối nghịch với xu hướng đang thịnh hành, Casadevall cùng với Gundula Bosch, giáo sư chuyên ngành sinh học và giáo dục – đang phi chuyên môn hóa các khóa đào tạo, ngay cả đối với những sinh viên dự định trở thành những chuyên gia chuyên môn hóa nhất. Với tên gọi Sáng kiến R3 – Rigor, Responsibility, Reproducibility (Chính xác, Trách nhiệm, Có thể lặp lại), chương trình bắt đầu với các lớp học liên ngành bao gồm triết học, lịch sử, logic, đạo đức, thống kê, truyền thông và kỹ năng lãnh đạo. Một môn học có tên “Làm sao chúng ta biết điều gì là đúng?” khảo sát các loại chứng cứ qua lịch sử và trên nhiều lĩnh vực. Trong môn học “Chẩn đoán những lỗi thường gặp khi nghiên cứu khoa học”, sinh viên chính là những nhà thám tử, săn lùng dấu hiệu của các hành vi sai trái hoặc áp dụng phương pháp tồi trong các nghiên cứu thực tế, đồng thời cũng tìm hiểu làm thế nào các lỗi và tình huống ngẫu nhiên dẫn đến những khám phá quan trọng trong khoa học.

Khi Casadevall mô tả tầm nhìn của ông về một nền giáo dục đa dạng trước một hội đồng chuyên môn vào năm 2016, một thành viên hội đồng và là biên tập viên của tạp chí y học New England Journal of Medicine (một tạp chí cực kỳ uy tín và cũng có nhiều bài viết bị gỡ xuống) phản bác rằng sẽ rất vô lý khi kéo dài thêm thời gian đào tạo các bác sĩ và nhà khoa học vốn đã kín đặc. “Theo tôi chúng ta cứ giữ nguyên thời gian đào tạo và bớt ưu tiên những môn học quá mô phạm,” Casadevall cho biết. “Có cần thiết phải tổ chức các khóa học với kiến thức chuyên sâu thường chỉ cung cấp một lượng lớn các thông tin rất chi tiết, rất chuyên biệt, rất phức tạp, và sẽ hoàn toàn bị lãng quên trong một vài tuần? Đặc biệt là khi giờ đây tất cả các thông tin đều nằm trên điện thoại của bạn. Chúng ta thấy có rất nhiều người cập nhật tất cả kiến thức của nhân loại chỉ bằng điện thoại nhưng vấn đề là họ không biết làm thế nào để tích hợp thông tin. Phương pháp đào tạo của chúng ta hiện nay không giúp sinh viên cách tư duy hay lý luận.”

Thậm chí các bác sĩ và nhà khoa học còn không được đào tạo để nắm rõ cơ sở lý luận đằng sau các phương pháp làm việc của mình. Năm 2013, một nhóm các bác sĩ và nhà khoa học đã giao cho các bác sĩ và sinh viên y khoa của trường Đại học Harvard và Đại học Boston thảo luận về một vấn đề xuất hiện thường xuyên trong y khoa:

Nếu một xét nghiệm phát hiện bệnh trong đó tỷ lệ mắc bệnh là 1/1000 có tỷ lệ dương tính giả là 5%, xác suất mà một người có kết quả dương tính thực sự có bệnh là bao nhiêu, giả định rằng bạn không biết gì về triệu chứng hay dấu hiệu của người đó?

Câu trả lời đúng là khoảng 2% (chính xác là 1,96%). Chỉ một phần tư các bác sĩ và các bác sĩ đang-được-đào-tạo đưa ra con số đúng. Câu trả lời phổ biến nhất là 95%. Đối với các nhà chuyên môn với nghề nghiệp chính là dựa vào các xét nghiệm chẩn đoán để làm việc, câu hỏi này lẽ ra rất dễ trả lời: trong một cỡ mẫu 10.000 người, 10 người mắc bệnh và có kết quả dương tính thực sự; 5%, tức 500 người, sẽ có kết quả dương tính giả; trong số 510 người thử nghiệm dương tính, chỉ 10 người, tức 1,96% thực sự bị bệnh. Câu hỏi không quá dễ, nhưng cũng không quá khó. Mỗi sinh viên y khoa và bác sĩ đều có khả năng toán học để giải bài toán đó. Vì vậy, khi James Flynn quan sát các sinh viên đại học xuất sắc làm bài kiểm tra về lý luận cơ bản, họ tỏ ra lúng túng khi không thể áp dụng các phương pháp lý luận rộng hơn trong lĩnh vực chuyên môn của mình, mặc dù họ rất có năng lực.

“Quan điểm của tôi là, ít nhất là trong y học và khoa học cơ bản, tôi thấy rằng sinh viên đã có quá nhiều dữ kiện thực tế trong các khóa học, do đó chúng ta chỉ cần cung kiến thức nền tảng, và sau đó là các công cụ tư duy. Hiện tại cấu trúc của các khóa đào tạo rất không hợp lý,” Casadevall bảo tôi.

Ông so sánh hệ thống giáo dục hiện tại với các bang hội thời trung cổ. “Hệ thống phường hội xuất hiện ở châu Âu vào thời trung cổ khi các nghệ nhân và thương nhân tìm cách duy trì và bảo vệ các kỹ năng và bí kíp nghề nghiệp,” Casadevall viết cho một đồng nghiệp. “Mặc dù các phường hội như vậy thường sản sinh ra các cá nhân có tay nghề cao và chuyên môn của họ ngày càng được hoàn thiện qua một quá trình học nghề rất dài, chính hệ thống đó cũng dẫn đến lối tư duy bảo thủ và dập tắt sự đổi mới.” Cả công tác rèn nghề và những hình thức khen thưởng theo nghề nghiệp đều đi theo hướng đẩy mạnh chuyên môn hóa, tạo ra những “quần đảo về tri thức”.

Có một xu hướng ngày càng tăng là các hội nghị chỉ mời các nhà khoa học nghiên cứu một vi sinh vật cụ thể duy nhất. Trong khi đó, nếu chúng ta bị một vết cắt nhỏ chẳng hạn, chúng ta sẽ khó mà nắm bắt được phản ứng toàn diện của cả cơ thể vì các siêu chuyên gia về huyết học và miễn dịch học chỉ tập trung vào những mảnh ghép rời rạc của một bức tranh lớn, mặc dù rằng phản ứng miễn dịch là một hệ thống tích hợp.

“Anh có thể dành toàn bộ sự nghiệp của mình chỉ để nghiên cứu một loại tế bào và có nhiều khả năng là người ta sẽ tài trợ cho anh để tiếp tục hướng nghiên cứu đó,” Casadevall bảo tôi. “Chẳng ai thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu theo hướng tích hợp. Trong thực tế, nếu anh viết một đề xuất để xin tài trợ cho nghiên cứu về cách tế bào B đang tích hợp với đại thực bào [một tương tác cơ bản của hệ thống miễn dịch]1, có thể sẽ chẳng có ai xem xét nó. Nếu có người rành về đại thực bào, họ sẽ nói, ‘Chà, tôi không biết gì về sự tích hợp cả. Tại sao lại lại có các tế bào B ở đây?’ Hệ thống nghiên cứu và đánh giá này giam hãm anh trong một cái hào. Về cơ bản chúng ta có những cái hào song song, và hiếm ai đứng lên và thực sự nhìn vào cái hào bên cạnh để xem họ đang làm gì và thường thì các cái hào này có liên quan với nhau khá nhiều”1.

1. Khi vi khuẩn xâm nhập vào vết cắt, tế bào B sẽ giải phóng các kháng thể đang bám vào vi khuẩn và chỉ đường cho chúng đến một đại thực bào, và nó sẽ tiêu diệt các vi khuẩn.

2. Trên thực tế, người ta đôi khi đánh giá thấp các nghiên cứu liên ngành vì nó không thể hiện sự siêu chuyên môn hóa. Các nhà khoa học Diana Rhoten và Stephanie Pfirman đã viết trên tạp chí Inside Higher Ed rằng phụ nữ dường như có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động nghiên cứu liên ngành hơn, nhưng họ được khuyên không là không nên khuyến khích các nhà khoa học nữ trẻ tuổi tiến hành các nghiên cứu liên ngành, nếu không thì “không ai sẽ thật sự công nhận họ”.

Chỉ cần thay thế vài thuật ngữ cụ thể là ta có thể bắt gặp hệ thống các hào song song mà Casadevall mô tả trong nhiều lĩnh vực khác. Trong khi tôi đang tìm tư liệu cho cho cuốn sách này, một quan chức của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ nắm thông tin rằng tôi đang viết về chuyên môn hóa nên đã liên lạc và chia sẻ với tôi rằng chuyên môn hóa chịu một phần trách nhiệm trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. “Cơ quan quản lý bảo hiểm giám sát ngành bảo hiểm, cơ quan quản lý ngân hàng giám sát ngân hàng, cơ quan quản lý chứng khoán giám sát chứng khoán, và cơ quan quản lý người tiêu dùng giám sát người tiêu dùng,” vị quan chức đó nói với tôi. “Tuy nhiên, việc cung cấp tín dụng liên quan đến tất cả các lĩnh vực đó. Vì vậy, khi chúng ta chỉ tập trung vào sản phẩm, chúng ta quá chăm chú về quy định, câu hỏi cần đặt ra là: “Ai có cái nhìn tổng thể ở những lĩnh vực đó? Việc giám sát theo từng lĩnh vực chuyên môn hóa đã bỏ qua các vấn đề mang tính hệ thống.”

Năm 2015, Casadevall cho biết rằng tài trợ cho nghiên cứu y sinh đã tăng theo cấp số nhân trong khoảng thời gian 35 năm gần đây, tuy nhiên những phát hiện quan trọng thì đang có xu hướng chậm lại. Tuổi thọ trung bình ở các nước có nền công nghệ y sinh tiên tiến nhất, chẳng hạn như Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, gần đây đã giảm xuống sau nhiều thập kỷ tăng lên. Hằng năm bệnh cúm đã giết chết hàng trăm ngàn người trên toàn thế giới trong khi nhân loại chỉ có một vũ khí trong tay là một loại vắc-xin được sản xuất qua quy trình phức tạp ra đời từ những năm 40. Mẹ của Casadevall năm nay đã 93 tuổi và vẫn đang sử dụng năm loại thuốc xuất hiện trên thị trường từ khi anh ấy là một bác sĩ nội trú trong những năm 80. “Hai trong số năm loại thuốc đó có tuổi đời còn lớn hơn tôi nữa”, anh ấy nói, và hai loại khác thì cũng gần già đời như thế. “Thật không thể tin được là công nghệ của chúng ta không thể tốt hơn thế.” Anh dừng lại một lúc, nghiêng đầu, và ngả người về phía trước. “Nếu anh viết một đề xuất nghiên cứu liên ngành, nó sẽ đến tay những người thực sự, thực sự có chuyên môn sâu về A hoặc B, và có thể nếu anh may mắn thì họ có khả năng nhìn thấy các kết nối tại giao điểm của A và B,” Casadevall bảo tôi. “Mọi người đều thừa nhận rằng những tiến bộ tuyệt vời được thực hiện tại các giao điểm của các ngành, nhưng ai ở đó để chứng minh tầm quan trọng của các điểm tiếp xúc?”

Các nhà khoa học đã nghiên cứu giao điểm giữa các chuyên ngành, và giữa những nhà sáng tạo với chuyên môn khác nhau, và nó thật sự rất quan trọng.

Khi các nhà nghiên cứu tại Đại học Northwestern và Stanford phân tích các mạng lưới làm phát sinh những thành quả sáng tạo, họ tìm thấy một điểm chung mà họ gọi là một thiết kế “phổ biến”. Cho dù các nhóm đó nghiên cứu về kinh tế hay sinh thái học, hoặc là các nhóm viết, sáng tác và sản xuất nhạc kịch Broadway, những hệ sinh thái phát triển mạnh khi các nhóm có ranh giới mềm.

Trong các mạng lưới nghề nghiệp được xem là mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho các nhóm thành công, các cá nhân di chuyển dễ dàng giữa các đội, vượt qua những ranh giới về tổ chức và lĩnh vực chuyên môn; và tìm kiếm cộng tác viên mới. Ngược lại, mạng lưới sinh ra những đội không thành công lại bị chia thành những cụm nhỏ, tách biệt trong đó một thành viên chỉ cộng tác với một số người nhất định. Môi trường này xem ra có thể hiệu quả và thoải mái nhưng rõ ràng không phải là động cơ để sáng tạo. “Toàn bộ mạng lưới trông rất khác nhau khi bạn so sánh một nhóm thành công với một nhóm không thành công”, theo Luís A. Nunes Amaral, một nhà vật lý tại Đại học Northwestern chuyên nghiên cứu về mạng lưới. Amaral không so sánh các nhóm riêng lẻ, mà là các hệ sinh thái lớn hơn thúc đẩy sự ra đời của các đội thành công.

Tình hình kinh doanh của nhà hát Broadway trong bất kỳ thời đại cụ thể nào, cho dù là cực kỳ thịnh vượng hay thất bại thảm hại, ít liên quan đến những tên tuổi nổi tiếng cụ thể và chủ yếu là do các nghệ sĩ – cộng tác viên có kết nối và phối hợp nhịp nhàng với nhau hay không. Trong những năm 1920 có hàng chục chương trình với sự tham gia của Cole Porter, Irving Berlin, George Gershwin, Rodgers và Hammerstein1 (mặc dù chưa từng hợp tác với nhau), trong khi đó đáng kinh ngạc là có đến 90% các chương trình mới gặp thất bại. Đó là một giai đoạn mà các sân khấu kịch bế tắc, chỉ gồm toàn những khuôn mặt cũ cộng tác với nhau và hiếm khi vượt ra ngoài khuôn khổ.

1. Những nhà soạn nhạc cho sân khấu Broadway. (ND)

Những quan hệ hợp tác mới cho phép những nhà sáng tạo “đem những ý tưởng vốn là truyền thống trong một lĩnh vực và đưa chúng vào một lĩnh vực mới, nơi chúng đột nhiên được xem là một phát minh”, nhà xã hội học Brian Uzzi, cộng tác viên của Amaral, cho biết. Theo anh, sự sáng tạo của con người về cơ bản “tương tự như một doanh nghiệp xuất nhập khẩu của ý tưởng”.

Uzzi ghi nhận một xu hướng “xuất nhập khẩu” bắt đầu cả trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội trong những năm 1970, thời kỳ tiền-internet: các đội thành công hơn có xu hướng có nhiều thành viên có chuyên ngành khác nhau hơn. Các đội bao gồm các thành viên từ các tổ chức khác nhau có nhiều khả năng thành công hơn so với những đội không có, và các đội bao gồm các thành viên ở các quốc gia khác nhau cũng có lợi thế hơn.

Tương tự với mô hình xuất nhập khẩu, các nhà khoa học đã làm việc ở nước ngoài – dù họ có trở về quê hương hay không – có nhiều khả năng tạo ra những tác động khoa học lớn hơn những người chỉ làm việc trong nước. Các nhà kinh tế nghiên cứu xu hướng đó cho rằng một trong những lý do có thể là những người di cư có lợi thế “ăn chênh lệch” – đó là cơ hội đem một ý tưởng từ thị trường này đến thị trường khác nơi nó hiếm hơn và có giá trị hơn1. Nó rất trùng hợp với lời khuyên của Oliver Smithies rằng nên đem các kỹ năng mới để giải quyết một vấn đề cũ, hoặc tạo ra một vấn đề mới đối với các kỹ năng cũ. Sự kết hợp không điển hình của các hình thức điển hình – chẳng hạn hiphop, nhạc kịch Broadway và tiểu sử lịch sử Mỹ – không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên mà là một chiến lược trong showbiz.

1. Khi nhà nghiên cứu về sự sáng tạo – Dean Keith Simonton, nghiên cứu về lịch sử của sự đổi mới ở Nhật Bản, vốn thay đổi hoàn toàn từ rất khép kín sang rất mở cửa với thế giới, ông nhận thấy rằng sự bùng nổ sáng tạo trong nhiều lĩnh vực từ viết tiểu thuyết và làm thơ đến làm gốm và y khoa diễn ra sau những đợt nhập cư ồ ạt.

Uzzi và nhóm của mình đã phân tích 18 triệu bài báo từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau để xem liệu việc kết hợp tri thức “không điển hình” có dẫn đến những kết quả quan trọng hay không. Nếu một bài báo cụ thể trích dẫn các lĩnh vực nghiên cứu khác vốn hiếm khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ, xuất hiện cùng nhau, thì nó được phân loại là đã sử dụng một sự kết hợp tri thức “không điển hình”. Hầu hết các bài báo chỉ dựa vào sự kết hợp các tri thức theo truyền thống. Có nghĩa là các nhà khoa học hay trích dẫn các công trình từ các tạp chí khác vốn thường xuất hiện cùng nhau trong danh mục các tài liệu tham khảo của các nghiên cứu khác. Các bài báo “đỉnh cao”, những bài báo mà rất nhiều nhà khoa học khác sẽ tham khảo trong một thập kỷ tới, kết hợp rất nhiều tri thức theo cách truyền thống nhưng cũng bổ sung nhiều cách kết hợp tri thức khác thường.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế khác đã phân tích hơn nửa triệu bài báo nghiên cứu và đánh giá một bài báo là “mới” nếu nó trích dẫn hai tạp chí khác vốn chưa từng bao giờ xuất hiện cùng nhau. Chỉ một trong 10 bài báo thực hiện một kết hợp mới, và chỉ một trong 20 bài báo thực hiện nhiều hình thức kết hợp mới. Nhóm đã theo dõi tác động của các bài báo nghiên cứu qua thời gian và họ thấy rằng các bài báo với sự kết hợp kiến thức mới nhiều khả năng được xuất bản trên các tạp chí ít uy tín hơn, và cũng có nhiều khả năng là bị bỏ qua sau khi xuất bản. Chúng có khởi đầu chậm chạp trong giới nghiên cứu, nhưng sau ba năm, các bài báo với phần tổng hợp các kiến thức mới đã vượt qua những bài báo thông thường, và được các nhà khoa học khác trích dẫn thường xuyên hơn. 15 năm sau khi xuất bản, những nghiên cứu tạo ra nhiều sự kết hợp kiến thức mới có rất nhiều khả năng nằm trong top 1% các bài báo được trích dẫn nhiều nhất.

Tóm lại: các công trình khoa học xây dựng cầu nối giữa các lĩnh vực kiến thức khác nhau ít có khả năng được tài trợ, ít có khả năng xuất hiện trên các tạp chí nổi tiếng, nhiều khả năng bị bỏ qua sau khi xuất bản, và sau đó xét về lâu về dài, các công trình đó có nhiều khả năng trở thành một bài báo đỉnh cao trong kho tàng thư viện kiến thức của loài người.

_____

Casadevall là tấm gương của tư duy đa chiều trong cuộc sống. Trong một cuộc trò chuyện, anh có thể đề cập đến một loạt các chủ đề, từ Anna Karenina1, Tờ báo Liên bang2, đến việc Isaac Newton và Gottfried Leibniz thực tế đều là những nhà triết học và cũng là nhà khoa học, đến việc tại sao Đế chế La Mã đã không đổi mới hơn, và quan điểm thế nào là cố vấn khi mô tả về nhân vật “Người cố vấn” trong trường ca Odyssey của thi hào Homer. “Tôi lăn lộn trong đó,” anh nói và cười tự mãn. “Tôi luôn khuyên mọi người hãy đọc bên ngoài lĩnh vực chuyên môn của bạn, hằng ngày đọc một cái gì đó mới. Và hầu hết mọi người nói họ không có thời gian để đọc ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình’. Tôi nói với họ rằng: ‘Không, anh có thời gian mà, việc tìm hiểu ngoài ngành này thật sự rất quan trọng’. Thế giới của anh sẽ trở nên rộng lớn hơn và có thể có một lúc nào đó anh sẽ tạo ra sự kết nối.”

1. Anna Karenina là một tiểu thuyết của nhà văn Nga Lev Nikolayevich Tolstoy, được đăng tải nhiều kỳ trên tờ báo Ruskii Vestnik từ năm 1873 đến năm 1877 trước khi xuất bản thành ấn phẩm hoàn chỉnh. Anna Karenina được xem như là một đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. (ND).

2. Tờ báo Liên bang (Federalist Papers) là một tập hợp gồm 85 bài báo và bài tiểu luận được viết bởi Alexander Hamilton, James Madison và John Jay dưới bút danh “Publius” để thúc đẩy việc phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ. Bộ sưu tập thường được gọi là The Federalist cho đến khi cái tên The Federalist Papers xuất hiện vào thế kỷ XX (ND).

Một trong những dự án của Casadevall đã ra đời khi anh ấy đọc được một bài báo nói về một robot được gửi đến địa điểm xảy ra tai nạn hạt nhân ở Chernobyl, nơi vẫn còn bị ô nhiễm nặng 30 năm sau thảm họa. Bài báo tình cờ đề cập rằng khi quay trở lại robot mang theo những vết mốc đen, giống như kiểu vết mốc trên tấm rèm phòng tắm rẻ tiền và loại nấm mốc này phủ khắp lò phản ứng bị bỏ hoang. “Vậy thì, tại sao lại có mốc đen?” Casadevall tự hỏi và trả lời. “Và sau đó, điều này đã dẫn đến một điều khác”. Anh và các đồng nghiệp đã tìm ra một điều rất đáng chú ý – rằng nấm mốc đã tự nuôi dưỡng bằng bức xạ. Không phải bằng các hợp chất phóng xạ – mà bằng chính bức xạ.

Casadevall luôn muốn nhấn mạnh những trải nghiệm bên ngoài phòng thí nghiệm và việc chúng góp phần định hình nên con người anh ngày hôm nay. Gia đình anh rời khỏi Cuba và đến Queens khi anh 11 tuổi. Năm 16 tuổi, anh đi làm lần đầu tiên tại McDonald và làm ở đó cho đến năm 20 tuổi. Anh vẫn nêu công việc này trên bảng trích yếu lí lịch, và anh luôn chủ ý đề cập đến nó trong cuộc phỏng vấn để vào làm việc tại Đại học Johns Hopkins. “Đó là trải nghiệm cực kỳ tuyệt vời”, anh bảo tôi. “Tôi đã học được rất nhiều điều khi làm việc ở đó”. Chẳng hạn như tập thói quen chịu đựng áp lực. Em trai anh cũng làm việc ở đó và đã bị bắt làm con tin trong một thời gian ngắn trong một vụ cướp. “Cậu ấy đã dành hai ngày trên bục nhân chứng trong phiên tòa mà các luật sư đem giọng nói của cậu ấy làm trò đùa,” Casadevall nhớ lại. “Cậu ấy rời trường phổ thông và được nhận vào trường luật. Bây giờ cậu ấy là một luật sư tranh tụng thành công.” Sau khi làm ở McDonald, Casadevall làm giao dịch viên ngân hàng (và “ngân hàng đó cũng bị cướp!”). Cha anh muốn anh có một nghề gì đó thiết thực để sinh sống, vì vậy một tấm bằng đại học cộng đồng trong hoạt động kiểm soát sinh vật có hại được treo trên tường trong văn phòng anh, cạnh một bằng chứng nhận là Casadevall đã được bầu vào Viện Hàn lâm Y khoa Quốc gia đầy uy tín.

Casadevall rất nổi tiếng trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Anh ấy không gặp khó khăn nào khi nhận tài trợ nghiên cứu, và thường là một trong những nhà khoa học tham gia xét chọn nhà nghiên cứu nào nhận được tài trợ. Anh là một người rất thành công nếu anh cứ tiếp tục đào sâu trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Tuy nhiên, anh cho rằng nỗ lực thay đổi hiện trạng mới chính là công việc quan trọng nhất trong đời. Anh tin rằng khi khoa học cơ bản càng ít phiêu lưu mà chỉ tập trung tìm kiếm hiệu quả, nó càng có ít cơ hội thành công trong việc giải quyết những thách thức lớn nhất của loài người.

Laszlo Polgar, giữa cuộc thử nghiệm cờ vua với các cô con gái của mình, đã tuyên bố rằng nhân loại có khả năng giải quyết “những vấn đề về bệnh ung thư và AIDS” nếu hệ thống giáo dục theo chuyên môn sâu và hướng đến hiệu quả của ông được áp dụng bên ngoài lĩnh vực cờ vua để giáo dục cả ngàn trẻ em. Casadevall rất mê nghiên cứu về lịch sử đổi mới. Ông trưởng thành và được đào tạo thành một bác sĩ và là nhà khoa học trong giai đoạn HIVAIDS bùng phát thành một dịch bệnh, và ông cực kỳ phản đối quan điểm của Laszlo Polgar. “Khi vào trường y, tôi được dạy rằng retrovirus1 không gây ra bệnh ở người, mà nó là một hình thái bất thường xảy ra ở một số khối u động vật. Năm 1981, một căn bệnh mới xuất hiện mà không ai hiểu gì về nó cả. Năm 1984, các nhà khoa học phát hiện ra nó chính là một retrovirus, HIV. Năm 1987, giới y khoa có liệu pháp đầu tiên. Năm 1996, liệu pháp đó hiệu quả đến mức đã ngăn chặn được tình trạng tử vong do HIVAIDS. Làm thế nào điều đó xảy ra? Có phải bởi vì các công ty đột nhiên vội vã lao vào sản xuất thuốc? Không. Nếu bạn thực sự nhìn lại và phân tích nó, trước thời điểm đó chúng ta đã chi ra một phần trong số tiền rất khó kiếm được để nghiên cứu về một hình thái bất thường gọi là retrovirus. Chỉ là một hình thái bất thường ở động vật. Vậy nên vào thời điểm HIV được phát hiện là retrovirus, bạn đã biết rằng nếu can thiệp vào protease [một loại enzyme] bạn có thể vô hiệu hóa nó. Vì vậy, khi HIV xuất hiện, chúng ta đã nắm được rất nhiều kiến thức nhờ các khoản đầu tư nghiên cứu vào hình thái bất thường trên động vật vốn lúc đó không có ý nghĩa gì mấy. Rất có khả năng nếu bạn huy động tất cả kinh phí nghiên cứu trong nước và dồn cho bệnh Alzheimer, bạn sẽ không bao giờ tìm ra được giải pháp. Nhưng giải pháp chữa bệnh Alzheimer có thể đến từ một loại protein cuộn gập sai trong dưa chuột. Nhưng làm sao để viết một đề xuất nghiên cứu về một quả dưa chuột? Và bạn sẽ gửi nó cho ai? Nếu ai đó có hứng thú với protein cuộn gập trong dưa chuột và nếu nó là một câu hỏi khoa học thú vị, hãy để họ tha hồ khám phá. Hãy để họ tra tấn dưa chuột”.

1. Retrovirus là một từ để gọi các loại virus mà vật chất di truyền của chúng là phân tử RNA. Khi chúng xâm nhập vào cơ thể thì có khả năng thực hiện quá trình phiên mã ngược nhờ enzim đặc biệt là enzyme phiên mã ngược – Reverse Transciptase. Retrovirus có khả năng đột biến nhanh chóng và tạo nên nhiều loại biến dị khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc sản xuất vaccin. (ND).

Quan điểm toàn diện của Casadevall là hệ sinh thái đổi mới nên chủ ý bảo vệ tư duy mở rộng và tính không hiệu quả. Anh đang bước với một trận chiến rất khó khăn.

Vào năm 2006, khi bắt đầu làm báo, tôi đã tham gia vào các phiên điều trần quyết định phê duyệt tài trợ của một tiểu ban Thượng viện Hoa Kỳ về khoa học và không gian, do thượng nghị sĩ bang Texas – Kay Bailey Hutchison chủ trì. Hutchison lướt qua một chồng các đề xuất nghiên cứu của các nhà khoa học và đọc to các tiêu đề. Nếu một tiêu đề không liên quan trực tiếp đến việc tạo ra một công nghệ thương mại mới, bà rút nhanh nó ra khỏi chồng tài liệu và hỏi mọi người trong cuộc họp chính xác thì thứ đó sẽ giúp Hoa Kỳ vượt lên trước Ấn Độ và Trung Quốc bằng cách nào. Những lĩnh vực mà Hutchison đánh giá là không góp phần đổi mới công nghệ gồm có sinh học, địa chất, kinh tế, và khảo cổ học. Chẳng khó đoán bà sẽ đánh giá công trình của Louis Pasteur ra sao (người bắt đầu nghề nghiệp trong vai trò là một nghệ sĩ) – một nghiên cứu thực hiện với gà mắc bệnh tả, là công trình dẫn ông ấy đến việc tạo ra vắc-xin từ phòng thí nghiệm. Hoặc ý tưởng hảo huyền của Einstein khi tìm hiểu về việc liệu thời gian có trôi qua khác nhau ở trọng lực cao và thấp, một phần của lý thuyết vốn cần thiết cho một số công nghệ khá hữu ích, như điện thoại di động, trong đó sử dụng các vệ tinh định vị toàn cầu với đồng hồ được điều chỉnh theo trọng lực cho đồng bộ với toàn bộ đồng hồ trên trái đất.

Năm 1945, cựu hiệu trưởng Trường MIT – Vannevar Bush, người đứng đầu lĩnh vực khoa học quân sự của Hoa Kỳ trong Thế Chiến II, trong đó bao gồm cả việc sản xuất penicillin hàng loạt và Dự án Manhattan – đã viết một báo cáo theo yêu cầu của Tổng thống Franklin Roosevelt, trong đó ông giải thích tại sao văn hóa đổi mới mang lại thành công. Tiêu đề báo cáo là “Khoa học, biên giới vô tận” và dẫn đến việc thành lập Quỹ Khoa học Quốc gia sau này tài trợ cho ba giai đoạn phát minh khoa học với những thành công rực rỡ, từ ra đa Doppler (sử dụng trong dự báo thời tiết), sợi quang cho đến trình duyệt web và máy chụp cộng hưởng từ (MRI). Bush viết “Tiến bộ khoa học trên khắp các lĩnh vực bắt nguồn từ việc trao cơ hội cho các nhà khoa học tự do khám phá những tiềm năng trí tuệ của mình, nghiên cứu những chủ đề do chính họ lựa chọn và sự tò mò ham thích khám phá những điều chưa biết sẽ quyết định phương pháp nghiên cứu của họ”.

Trong những năm gần đây khi giải thưởng Nobel được trao, gần như hàng năm đều xuất hiện một hiện tượng khiến nhiều người tò mò. Một người nhận được giải thưởng Nobel giải thích rằng thành công đột phá của họ có thể đã không thể xảy ra trong bối cảnh hiện nay. Năm 2016, nhà sinh vật học Nhật Bản Yoshinori Ohsumi đã khép lại bài phát biểu nhận giải Nobel với những dự báo đáng quan ngại: “Những khám phá độc đáo thực sự trong khoa học thường được kích hoạt bởi những phát hiện nhỏ nhoi không thể đoán trước và không lường trước được… Người ta ngày càng yêu cầu các nhà khoa học phải cung cấp bằng chứng rằng những nghiên cứu của họ là có ứng dụng tức thời và hữu hình”. Đó chẳng khác gì việc yêu cầu chúng ta phải tập trung sớm và đi sâu vào một lĩnh vực ngay từ đầu; các nhà thám hiểm phải theo đuổi các mục tiêu chuyên môn sâu đặt nặng tính siêu hiệu quả đến mức họ có thể nói trước những gì họ sẽ phát hiện thấy trước khi thực sự đi tìm kiếm.

Giống như Casadevall, Ohsumi biết rằng mục tiêu cuối cùng là phải ứng dụng được các thành quả khoa học vào thực tế, nhưng câu hỏi là làm thế nào để đạt được điều đó một cách tốt nhất. Không thiếu các tổ chức chỉ chuyên chú tập trung vào ứng dụng. Trong cuốn sách này đã xuất hiện kha khá đơn vị như thế. Tại sao phải ép giới nghiên cứu chuyên môn hóa theo cách đó? Việc cho phép “tự do trí tuệ” nghe có vẻ cực kỳ kém hiệu quả, giống như việc cho phép các cầu thủ bóng đá phát triển một cách tự do mà đúng ra những cầu thủ này phải luôn luyện tập những kỹ năng cụ thể. Mọi chuyện chỉ rõ ràng khi có người thực sự dành thời gian nghiên cứu về những bước tiến đột phá trong khoa học, hoặc quá trình phát triển của những cầu thủ làm nên chiến thắng World Cup vào năm 2014 của đội tuyển Đức theo đó “những cầu thủ này ít tham gia các hoạt động rèn luyện theo quy củ… mà chủ yếu họ dành thời gian để chơi bóng trực tiếp”.

Về cơ bản, việc tập trung siêu chuyên môn hóa đã thúc giục chúng ta tích cực hướng đến hiệu quả trong công việc – đó là cách hiệu quả nhất để phát triển kỹ năng cho một bộ môn thể thao, lắp ráp sản phẩm, học chơi một nhạc cụ hoặc triển khai một công nghệ mới. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải cho phép thực hiện nhiều hoạt động mà trước mắt là không hiệu quả. Sự thành công của phương pháp kiểu Polgar, trong đó chỉ tập trung phát triển vào một lĩnh vực sắc bén duy nhất, thật ra chỉ áp dụng được trong một môi trường học tập thuận lợi và khá hạn hẹp.

“Khi anh vượt qua các giới hạn, rất nhiều hoạt động chỉ là để thăm dò. Nó tất nhiên phải không hiệu quả,” Casadevall bảo tôi. “Không còn ai dành thời gian để chuyện trò và tổng hợp thông tin nữa. Mỗi người tự lấy đồ ăn trưa và mang nó vào phòng làm việc. Họ cảm thấy ăn trưa cùng nhau không hiệu quả, nhưng thường thì đó là thời điểm tốt nhất để tung lên ý tưởng và tạo kết nối.”

Khi kỹ sư Bill Gore rời công ty DuPont để thành lập công ty phát minh ra Gore-Tex1, ông đã chế tạo ra loại vật liệu này sau khi quan sát rằng các công ty tạo ra các sản phẩm sáng tạo với tầm ảnh hưởng lớn nhất trong giai đoạn họ lâm vào khủng hoảng, bởi lúc đó các ranh giới về chuyên môn không còn nữa. “Việc trao đổi thông tin thực sự xảy ra khi chúng ta đi chung xe,” anh từng nói. Anh đảm bảo rằng văn hóa công ty đề cao việc “nhân viên có những khoảng thời gian để tán gẫu.”

1. Gore-Tex là màng vải không thấm nước, thoáng khí và nhãn hiệu đã đăng ký của W. L. Gore và cộng sự. Được phát minh vào năm 1969, Gore-Tex có thể đẩy nước lỏng đồng thời cho phép hơi nước đi qua và được thiết kế để trở thành một loại vải nhẹ, không thấm nước cho mọi thời tiết. (ND).

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.