Range - Hiểu Sâu Biết Rộng Kiểu Gì Cũng Thắng

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Khám phá tiềm năng trọn vẹn

❊ ❊ ❊

FRANCES HESSELBEIN lớn lên ở vùng núi phía tây Pennsylvania, xung quanh là các gia đình làm việc ở các nhà máy thép và mỏ than. “Ở Johnstown, 5 giờ rưỡi có nghĩa là 5 giờ rưỡi,” bà thường nói. Vì vậy, nếu các giám đốc điều hành, sĩ quan quân đội, và các nhà lập pháp xếp hàng bên ngoài cửa văn phòng Manhattan của bà để tìm kiếm lời khuyên về kỹ năng lãnh đạo muốn vỏn vẹn trong một tiếng đồng hồ của mình, tốt nhất họ nên đúng giờ. Thậm chí với sinh nhật lần thứ 100 cận kề, bà vẫn ở văn phòng để mỗi ngày có thể hoàn thành nhiều công việc hơn mình có thể làm. Hesselbein thích nói với khách rằng mình đã trải qua bốn vị trí chức vụ chuyên môn, tất cả là chủ tịch hoặc giám đốc điều hành, và chưa bao giờ nộp đơn ứng tuyển cho bất kỳ vị trí nào. Trong thực tế, bà đã cố gắng từ chối ba vị trí. Khi dự đoán cuộc sống sẽ đưa mình đến đâu, bà hầu như luôn luôn sai.

Ở trường trung học, bà mơ ước một cuộc đời mọt sách như một nhà viết kịch. Sau khi tốt nghiệp, bà đăng ký vào trường Đại học Pittsburgh tại Johnstown, điểm trường lẻ của Đại học Pittsburgh. Bà thích thử nghiệm các lớp khác nhau, nhưng bố bà ngã bệnh trong năm đầu tiên. Lúc đó Hesselbein 17 tuổi, bà lớn nhất trong ba người con, bà đã vuốt má bố mình trong bệnh viện khi ông qua đời. Bà hôn trán ông và hứa sẽ chăm sóc gia đình. Bà kết thúc một học kỳ, và sau đó bỏ học để làm việc với vị trí trợ lý cho những người chuyên viết quảng cáo tại cửa hàng bách hóa của Công ty Penn Traffic.

Chẳng mấy chốc, bà kết hôn và có một đứa con trai vừa đúng lúc chồng bà, John, đăng ký làm lính Hải quân trong Thế chiến II. John làm nhiếp ảnh gia chiến trường của phi đội tác chiến, và khi trở về, ông thành lập một studio, làm đủ mọi thứ từ chân dung học sinh trung học cho đến phim tài liệu. Hesselbein đã có một công việc “hay thay đổi” mà bà gọi là “giúp đỡ John”. Khi một khách hàng muốn một bức ảnh của chú chó trông giống như tranh vẽ, bà liền lấy sơn dầu và tô màu nó, thế là xong.

Hesselbein rất thích cộng đồng đa chủng tộc của Johnstown, nhưng điều này cũng có nghĩa trong thành phố vẫn tồn tại nhiều hiềm khích. Là một phần của Ủy ban Quan hệ Con người của Pennsylvania mới thành lập, John đã phản ứng với các hành vi phân biệt đối xử trong thị trấn, chẳng hạn như một tiệm hớt tóc không chịu cắt tóc cho khách hàng da đen. “Tôi không có dụng cụ phù hợp”, người thợ cắt tóc phàn nàn. Câu trả lời của John: “Vậy thì anh sẽ phải mua đúng dụng cụ”. Khi John đối mặt với một giáo viên, người đã đuổi hai đứa trẻ da đen ra khỏi sân chơi, người giáo viên ấy đã gọi ông là “kẻ phản bội”. Sau đó, Hesselbein đã nhất quyết rằng một cộng đồng coi trọng tính hòa nhập sẽ trả lời “Có” cho câu hỏi “Khi nhìn vào chúng ta, họ có thể tìm thấy chính mình không?”

Khi Hesselbein 34 tuổi, một người phụ nữ nổi tiếng trong cộng đồng đã ghé qua nhà bà và yêu cầu bà dẫn dắt nhóm Nữ Hướng đạo sinh số 17 với cương vị là một tình nguyện viên. Người trưởng nhóm trước đó đã rời đi để làm nhà truyền giáo ở Ấn Độ, còn những người dân khác đã từ chối yêu cầu ấy. Hesselbein cũng vậy, bà đã từ chối ba lần. Bà có một bé trai tám tuổi và thừa nhận mình không biết làm gì với những bé gái cả. Cuối cùng, người phụ nữ nói rằng nhóm 30 bé gái mười tuổi từ những gia đình bình dân thường gặp nhau trong tầng hầm nhà thờ giờ đây đành phải giải tán. Hesselbein đồng ý đứng ra làm thay trong sáu tuần, cho đến khi tìm thấy được một người lãnh đạo thực sự.

Để chuẩn bị, bà nghiên cứu các tài liệu về Nữ Hướng đạo sinh. Bà biết được tổ chức được thành lập tám năm trước khi phụ nữ có quyền bầu cử tại Hoa Kỳ, và người sáng lập nhắc nhở các cô gái rằng họ có thể trở thành “bác sĩ, luật sư, nữ phi công, hay người điều khiển khinh khí cầu”. Hesselbein nhớ lại vào năm lớp hai, khi bà tuyên bố rằng mình muốn làm một phi công, các bạn cùng lớp đã giễu cợt. Vì vậy, bà xuất hiện trong tầng hầm nhà thờ để bắt đầu giai đoạn sáu tuần lãnh đạo. Cuối cùng, bà đã ở lại với nhóm Nữ Hướng đạo sinh số 17 trong tám năm, cho đến khi các cô gái tốt nghiệp trung học.

Sau đó, Hesselbein tiếp tục đảm trách các vai trò trong hội Nữ Hướng đạo sinh mà bà chưa từng mưu cầu cũng như không có ý định đảm trách. Lần đầu tiên ra nước ngoài ở độ tuổi giữa 40, bà tham gia một cuộc gặp gỡ của Nữ Hướng đạo sinh quốc tế ở Hy Lạp. Sau đó là nhiều lần tiếp theo đến Ấn Độ, Thái Lan, Kenya. Hesselbein nhận ra mình yêu thích công việc tình nguyện.

Bà được yêu cầu chủ trì chiến dịch United Way tại địa phương ở một thời điểm mà vai trò đó rất xa lạ đối với phụ nữ, cũng giống như làm nữ phi công vậy. Đó là một công việc tình nguyện, vì vậy bà cho rằng mình không có gì để mất. Nhưng khi bà tự bổ nhiệm vị phó chủ tịch của mình làm chủ tịch tại chi nhánh địa phương của Liên đoàn công nhân ngành thép Hoa Kỳ, đột nhiên vị chủ tịch United Way nhất quyết rằng đó không phải là ý tưởng và tốt hơn là ông ấy nên kiểm tra với Công ty thép Bethlehem, một nhà tài trợ chính. Hesselbein đứng lên rất nhanh và xoay sở để cả công ty và công đoàn hỗ trợ bà. Năm đó, Johnstown nhỏ bé ở Pennsylvania, có tỷ lệ đóng góp trên đầu người cao nhất trong mọi chiến dịch của United Way trên cả nước. Tất nhiên, đó chỉ là một vai trò tạm thời đối với Hesselbein, vì vậy năm sau bà đã bàn giao nó.

Vào năm 1970, một nhóm ba nhà lãnh đạo doanh nghiệp ở Johnstown vốn lâu nay hỗ trợ cho Hội Nữ Hướng đạo sinh mời Hesselbein đến ăn trưa. Họ bảo với bà rằng họ đã chọn được một giám đốc điều hành mới cho Hội đồng Nữ Hướng đạo sinh địa phương. Vị giám đốc cũ đã nghỉ và hội đồng đang gặp phải khó khăn nghiêm trọng về tài chính.

“Tuyệt quá, ai vậy?” Bà hỏi.

“Chính là chị,” họ trả lời.

“Tôi sẽ không bao giờ nhận một công việc chuyên môn”, bà bảo họ. “Tôi là một tình nguyện viên”.

Một trong những doanh nhân được nói trên nằm trong Hội đồng quản trị của United Way, ông ấy nói rằng nếu Hesselbein không nhận công việc đó và giải quyết vấn đề tài chính, Hội Nữ hướng đạo sinh sẽ mất mối quan hệ hợp tác của United Way. Bà đồng ý ngồi vào vị trí đó chỉ trong sáu tháng, và sau đó nhường lại cho một người có chuyên môn lẫn kinh nghiệm. Ở tuổi 54, bà bắt đầu cái mà bà gọi là một công việc chuyên môn đầu tiên. Bà đọc ngấu nghiến sách quản lý, và sau một tháng làm việc bà nhận ra rằng công việc đó phù hợp với bà. Bà đã làm đến bốn năm.

Tuy nhiên ngay khi công việc của bà đang diễn ra tốt đẹp, bối cảnh lại đen tối. Cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, xã hội thay đổi đáng kể. Nhưng Hội Nữ Hướng đạo sinh thì không. Các cô gái đang chuẩn bị bước vào đại học và tìm công việc với số lượng đông chưa từng thấy, và họ cần thông tin về các chủ đề gai góc như tình dục và ma túy. Tổ chức ở trong cuộc khủng hoảng sống còn. Số lượng thành viên lao dốc. Vị trí giám đốc điều hành đã bỏ trống gần một năm. Năm 1976, ủy ban tìm nhân sự đã mời Hesselbein đến thành phố New York để tham gia phỏng vấn. Các giám đốc điều hành của Hội Nữ hướng đạo sinh trước đây có khả năng lãnh đạo đáng kinh ngạc. Chỉ huy Dorothy Stratton từng là giáo sư tâm lý học, trưởng khoa đại học, giám đốc sáng lập của Lực lượng Phụ nữ Dự phòng của Cảnh sát Biển Hoa Kỳ, và giám đốc nhân sự đầu tiên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Giám đốc điều hành gần đây nhất là Tiến sĩ Cecily Cannan Selby, người ở tuổi 16 đã vào Trường Đại học Radcliffe và sau đó sử dụng bằng tiến sĩ sinh học vật lý của mình từ trường MIT để áp dụng công nghệ thời chiến vào nghiên cứu tế bào. Vị trí lãnh đạo quốc gia của Selby trải dài từ ngành công nghiệp sang cả giáo dục. Trong khi đó, Hesselbein chỉ là người đứng đầu một Hội đồng Nữ Hướng đạo sinh địa phương, một trong số 335 hội đồng trên toàn quốc. Bà dự định sẽ dành cả đời mình ở Pennsylvania, vì vậy bà lịch sự từ chối cuộc phỏng vấn.

Nhưng John chấp nhận. Ông nói rằng bà có thể từ chối công việc nhưng ông sẽ lái xe đưa bà đến đó để từ chối một cách trực tiếp. Vì không hứng thú với công việc, bà cảm thấy thoải mái khi ủy ban hỏi bà sẽ làm gì trong trường hợp làm giám đốc điều hành giả định. Hesselbein đã mô tả sự thay đổi toàn diện cho một tổ chức đắm chìm trong truyền thống: các hoạt động được điều chỉnh lại để trở nên phù hợp hơn – nặng về toán học, khoa học và công nghệ; cơ cấu lãnh đạo phân cấp bị giải thể để chuyển sang “quản lý theo vòng tròn”. Thay vì chỉ là các nấc thang trên thang bậc công việc, nhân viên ở tất cả các cấp sẽ là những hạt trên vòng tay đồng tâm, và có nhiều mối liên hệ. Từ đó họ có thể đề xuất ý kiến từ những hội đồng địa phương đến các nhà lãnh đạo ở cấp quốc gia tại trung tâm. Cuối cùng, tổ chức sẽ mang tính hòa nhập cao: khi các cô gái thuộc mọi gốc gác nhìn vào Hội Nữ hướng đạo sinh, họ sẽ tìm thấy bản thân trong đó.

Hesselbein đến thành phố New York vào ngày 4 tháng 7 năm 1976, với tư cách là giám đốc điều hành của một tổ chức có ba triệu thành viên. Cuốn cẩm nang tiêu chuẩn bất khả xâm phạm được bãi bỏ, thay vào đó là bộ bốn cuốn cẩm nang, mỗi cuốn được nhắm vào một độ tuổi cụ thể. Bà thuê các họa sĩ và bảo họ rằng một cô bé bản địa sáu tuổi sinh sống gần một tảng băng ở Alaska, khi cô bé lướt qua cuốn cẩm nang sẽ thấy ai đó trông giống như mình trong bộ đồng phục Nữ Hướng đạo. Bà giao nhiệm vụ cho nhóm nghiên cứu về việc đưa ra thông điệp để mời các cô gái thuộc tất cả các gốc gác tham gia Hội Nữ Hướng đạo sinh. Thông điệp này đạt tới đỉnh cao trong tấm áp phích tiếp thị đầy chất thơ. Một áp phích tập trung vào người Mỹ bản xứ có nội dung sau “Tên của bạn trên những dòng sông”.

Người ta nói với Hesselbein rằng sự đa dạng là tuyệt vời, nhưng cũng có quá nhiều vấn đề cần đối mặt. Hãy khắc phục các vấn đề của tổ chức, rồi sau đó quan tâm về sự đa dạng. Nhưng bà nhất quyết rằng sự đa dạng chính là vấn đề lớn nhất của tổ chức, vì vậy bà xem xét nó sâu hơn nữa. Bà tập hợp một đội ngũ lãnh đạo đại diện cho đối tượng mục tiêu của mình và hiện đại hóa mọi thứ, từ sứ mệnh cho đến huy hiệu khen thưởng. Bây giờ sẽ có huy hiệu cho toán học và máy tính cá nhân. Bà đã đưa ra quyết định đau lòng khi bán các khu cắm trại mà các tình nguyện viên và nhân viên yêu mến từ thời trẻ, nhưng không còn được sử dụng thường xuyên nữa.

Hesselbein tiếp tục làm giám đốc điều hành trong 13 năm. Dưới sự lãnh đạo của bà, số thành viên là người dân tộc thiểu số tăng gấp ba lần; Hội Nữ Hướng đạo sinh đã có thêm 250.000 thành viên và hơn 130.000 tình nguyện viên mới. Thương vụ kinh doanh bánh qui của Hội Nữ Hướng đạo sinh nay đã phát triển đến hơn 300 triệu đô-la một năm.

Năm 1990, Hesselbein nghỉ hưu và thôi điều hành Hội Nữ Hướng đạo sinh. Chuyên gia quản lý đáng kính Peter Drucker tuyên bố bà là giám đốc điều hành giỏi nhất đất nước. “Bà ấy có thể quản lý bất kỳ công ty nào ở Hoa Kỳ,” ông ấy nói. Vài tháng sau, Giám đốc điều hành của General Motors (GM) nghỉ hưu. Khi tờ Business Week hỏi Drucker người đứng đầu GM tiếp theo nên là ai, ông bảo họ, “Tôi sẽ chọn Frances Hesselbein.”

Ngay buổi sáng sau khi bà nghỉ hưu vào năm 1990, Hesselbein có một cuộc gọi bất ngờ từ chủ tịch của công ty bảo hiểm Mutual of America hỏi khi nào bà có thể đến thăm văn phòng mới của bà trên Đại lộ số 5. Bà đã tham gia hội đồng quản trị, và công ty quyết định họ muốn bà làm việc tại văn phòng; bà có thể làm những gì bà muốn trong văn phòng được tặng. Vào thời điểm đó, bà vẫn ổn với việc tiếp tục làm việc mà không có kế hoạch dài hạn rõ ràng, vì bà đã luôn tìm ra mọi thứ khi bước đi trên đường đời.

Hesselbein quyết định thành lập một tổ chức về quản lý phi lợi nhuận, để giúp mang lại những phương thức hoạt động kinh doanh tốt nhất cho các doanh nghiệp xã hội. Mặc dù đã ngồi vào vị trí trong Hội đồng quản trị, nhưng bà vẫn mua một ngôi nhà ở Pennsylvania, nơi bà sẽ ở yên một thời gian và viết sách. Nhóm sáng lập đã yêu cầu Peter Drucker làm chủ tịch danh dự. Ông đồng ý với điều kiện Hesselbein trở thành giám đốc điều hành. Quá nhiều việc lấn át việc viết sách tại Pennsylvania. Sáu tuần sau khi rời khỏi vị trí lãnh đạo tổ chức cho trẻ em gái và phụ nữ lớn nhất thế giới, bà trở thành giám đốc điều hành của một tổ chức không có tiền hay tài sản, nhưng có một văn phòng miễn phí vốn cũng đủ để bà bắt đầu. Bà đã xây dựng một đội ngũ nhân viên và ngày nay vẫn đang bận rộn điều hành Học viện lãnh đạo Frances Hesselbein.

Bà chưa tốt nghiệp đại học, nhưng văn phòng của bà được trang trí với 23 bằng tiến sĩ danh dự, cộng với một thanh kiếm lấp lánh do Học viện Quân sự Hoa Kỳ trao tặng cho bà vì đã giảng dạy các khóa học lãnh đạo – cũng như huân chương Tự do của Tổng thống, giải thưởng dân sự cao nhất của Hoa Kỳ. Khi tôi đến thăm ngay sau sinh nhật lần thứ 101 của bà, tôi mang cho bà một cốc sữa ấm, như tôi đã được khuyên, và ngay lập tức hỏi bà đã tham gia những khóa đào tạo nào để chuẩn bị cho việc lãnh đạo. Câu hỏi sai. “Ồ, đừng hỏi tôi đã đào tạo những gì,” bà trả lời cùng một cái xua tay bác bỏ. Bà giải thích rằng bà chỉ làm bất cứ thứ gì có vẻ sẽ dạy bà điều gì đó và cho phép bà được phục vụ tại thời từng thời điểm, và bằng cách nào đó cho ra những khóa đào tạo. Như Steven Naifeh đã nói về cuộc đời của Van Gogh, một số “quá trình lĩnh hội không thể xác định được” đã xảy ra khi nhiều kinh nghiệm đa dạng được tích lũy. “Tôi không biết rằng mình đang được chuẩn bị,” bà nói với tôi. “Tôi không có ý định trở thành một nhà lãnh đạo, tôi chỉ học bằng cách làm những gì cần thiết vào thời điểm đó.”

Nhìn lại, Hesselbein có thể đoán được những bài học mà bà chưa bao giờ nhận ra khi bà đang trải nghiệm chúng. Bà thấy cả sức mạnh của sự hòa nhập và sự loại trừ ở Johnstown vốn đa dạng về sắc tộc. Bà học được sự tháo vát như người-biết-mọi-thứ trong kinh doanh nhiếp ảnh. Là một nhà lãnh đạo nhóm với ít kinh nghiệm hơn thành viên của mình, bà đã dựa vào sự lãnh đạo chia sẻ. Bà đoàn kết các bên liên quan thường hay bất hòa với nhau cho chiến dịch của United Way. Chưa bao giờ ra khỏi đất nước cho đến khi bà tham gia các cuộc họp Nữ Hướng đạo sinh quốc tế, bà học cách nhanh chóng tìm thấy điểm chung với các đồng nghiệp từ khắp nơi trên thế giới.

Tại sự kiện huấn luyện của Hội Nữ Hướng đạo sinh đầu tiên mà Hesselbein tham dự, bà đã nghe một lãnh đạo nhóm mới phàn nàn rằng họ chẳng thu nhận được gì từ khóa tập huấn. Hesselbein đã đề cập nó với một công nhân xưởng may cũng là tình nguyện viên, và người phụ nữ ấy nói với bà, “Bạn phải mang một cái giỏ lớn để đem một cái gì đó về nhà”. Bà lặp lại cụm từ đó ngày hôm nay, để chỉ rằng một trí óc luôn rộng mở sẽ nhận được thứ gì đó từ mỗi kinh nghiệm mới.

Đó là một triết lý tự nhiên cho một người đã 60 tuổi khi bà cố gắng từ chối cuộc phỏng vấn cho công việc đã trở thành tiếng gọi mình. Bà không có kế hoạch dài hạn, chỉ có kế hoạch làm những gì thú vị hoặc cần thiết vào lúc đó. “Tôi không bao giờ hình dung” là lời mở đầu nổi tiếng nhất của bà.

Quá trình làm việc chuyên nghiệp của Hesselbein, bắt đầu từ giữa 50 tuổi, thật sự phi thường. Tuy nhiên, đó không phải là con đường uốn khúc.

_______

Todd Rose, giám đốc Chương trình Trí, Não và Giáo dục của Harvard, và nhà thần kinh học tính toán Ogi Ogas đã liên hệ khá nhiều người khi họ bắt đầu nghiên cứu những con đường sự nghiệp quanh co bất thường. Họ muốn tìm những người được xem là trọn vẹn và thành công, và những người phải đi con đường quanh co mới đến đích. Họ đã tuyển dụng những người làm việc tốt từ những người phục vụ rượu bậc thầy, những tổ chức cá nhân cho đến các huấn luyện viên động vật, người chỉnh dương cầm, nữ hộ sinh, kiến trúc sư, và kỹ sư. “Chúng tôi dự đoán chúng tôi đã phải phỏng vấn mỗi lượt năm người, những người tạo ra con đường cho riêng họ,” Ogas đã nói với tôi. “Chúng tôi không cho rằng con số này mang tính đại diện, hoặc thậm chí là may rủi.”

Hóa ra hầu như mọi người đã đi theo cái trông giống như một con đường khác thường. “Điều còn đáng kinh ngạc hơn là tất cả họ đều nghĩ họ là những người dị thường,” Ogas bảo. 45 trong 50 đối tượng đầu tiên mô tả chi tiết con đường chuyên nghiệp ngoằn ngoèo đến mức họ bày tỏ sự bối rối khi nhảy từ thứ này sang thứ khác trong sự nghiệp của họ. “Họ sẽ thêm một phần phủ nhận chung, ‘Hầu hết mọi người không làm theo cách này,” Ogas nói. “Họ được khuyên rằng ra khỏi con đường ban đầu đã chọn rất nguy hiểm. Nhưng trên thực tế tất cả chúng ta nên hiểu, điều này không có gì lạ, nó là chuẩn mực.” Do đó, nghiên cứu đã tìm thấy một cái tên, “Dự án Ngựa Ô”, bởi vì ngay cả khi nhiều đối tượng hơn được thêm vào, hầu hết đều tự nhận mình là những con ngựa ô đi vào những con đường dường như khác thường1.

1. Dữ liệu của Cục Thống kê Lao động cho thấy rằng xu hướng của những người trẻ thế hệ thiên niên kỷ hay nhảy việc từ nơi này đến nơi khác thực sự chỉ là sự tiếp nối tự nhiên của một xu hướng của nền kinh tế tri thức. 50% những người trong giai đoạn bùng nổ trẻ sơ sinh muộn (sinh từ năm 1957 đến 1964) đã có ít nhất 11 công việc khác nhau trong độ tuổi từ 18 đến 50, và điều đó khá giống nhau đối với phụ nữ và nam giới ở các cấp học khác nhau.

Ngựa ô luôn tìm kiếm phẩm chất phù hợp. “Họ không bao giờ nhìn quanh và nói: “Ồ, tôi sẽ bị tụt lại đằng sau, những người này bắt đầu sớm hơn và có nhiều thứ hơn tôi khi còn trẻ,” Ogas bảo tôi. Họ tập trung vào việc: “Đây là tôi của thời điểm hiện tại, đây là động lực của tôi, đây là những gì tôi thấy tôi thích làm, đây là điều tôi muốn học hỏi và đây là những cơ hội. Những cái nào trong số này là phù hợp nhất cho thời điểm hiện tại? Và có thể trong một năm nữa, tôi sẽ thay đổi vì tôi sẽ tìm ra điều gì đó tốt hơn.”

Mỗi chú ngựa ô có một hành trình mới lạ, nhưng đều có một chiến lược chung. “Lập kế hoạch ngắn hạn,” Ogas nói với tôi. “Tất cả họ đều thực hành nó, chứ không phải là kế hoạch dài hạn.” Ngay cả những người nhìn từ xa thì giống như những người tài giỏi có tầm nhìn dài hạn, khi nhìn gần lại thường giống như các nhà hoạch định ngắn hạn. Khi người đồng sáng lập Phil Knight của hãng Nike được hỏi về tầm nhìn dài hạn của ông ấy vào năm 2016 và làm thế nào ông biết những gì mà mình muốn khi mở công ty, ông ấy đã trả lời rằng ông chỉ biết mình muốn trở thành một vận động viên chuyên nghiệp. Nhưng ông không đủ giỏi, vì vậy ông đơn giản chỉ cố gắng tìm cách nào đó để vẫn liên quan đến thể thao. Ông tình cờ tập chạy theo sự hướng dẫn của một huấn luyện viên trường đại học, người luôn hí hoáy với giày và sau này trở thành đồng sáng lập với ông. “Tôi cảm thấy tiếc cho những người biết chính xác những gì họ sẽ làm từ thời họ là học sinh năm hai ở trường trung học,” ông nói. Trong hồi ký của mình, Knight đã viết rằng ông “không tập trung nhiều vào việc đặt mục tiêu” và mục tiêu chính của công ty giày non trẻ của ông là thất bại nhanh chóng để ông có thể áp dụng những gì ông đã học vào doanh nghiệp tiếp theo của mình. Ông đặt ra một mục tiêu then chốt ngắn hạn khác tiếp nối, áp dụng các bài học ông trải qua.

Ogas sử dụng thuật ngữ tốc ký “giao ước tiêu chuẩn hóa” cho quan niệm văn hóa nhận định: việc đánh đổi một con đường tự khám phá bản thân quanh co cho một mục tiêu cứng nhắc với một khởi đầu thuận lợi là điều hợp lý vì nó bảo đảm sự ổn định. “Những người mà chúng tôi nghiên cứu là những người có cuộc sống trọn vẹn theo đuổi một mục tiêu dài hạn, nhưng họ chỉ định hình mục tiêu sau một thời gian khám phá,” ông nói với tôi. “Rõ ràng, không có gì sai khi theo học lấy bằng luật hoặc bằng y khoa hoặc bằng tiến sĩ. Nhưng thực hiện cam kết đó trước khi bạn biết nó phù hợp với bạn như thế nào thì thực sự mạo hiểm hơn. Và đừng có xem con đường đã cố định. Mọi người nhận ra nhiều điều về bản thân khi đang học nửa chừng ở trường y.” Charles Darwin chẳng hạn.

Vâng lời bố mình, ông đã dự định trở thành bác sĩ, nhưng ông thấy những bài giảng về y khoa “buồn tẻ không chịu được”, và khi đang học giữa chừng, ông bước ra khỏi một ca phẫu thuật trong tiếng nghiến kèn kẹt của cái cưa phẫu thuật. “Tôi cũng không bao giờ đi học y lần nữa,” Darwin viết, “vì hiếm có động lực nào đủ mạnh để thôi thúc tôi làm vậy.” Darwin là một người giải nghĩa Kinh thánh vào thời điểm đó, và nghĩ rằng mình sẽ trở thành một giáo sĩ. Ông hăng hái tham gia các lớp học, bao gồm một khóa học về thực vật học với một giáo sư, người sau đó đã giới thiệu ông một vị trí không được trả lương trên tàu HMS Beagle. Sau khi thuyết phục được cha mình (với sự giúp đỡ của chú) rằng ông sẽ không trở thành một người vô dụng nếu ông tham gia chuyến đi này, Darwin có lẽ đã bắt đầu năm nghỉ ngơi hậu đại học có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Mong muốn của cha ông cuối cùng đã “ra đi tự nhiên”. Nhiều thập kỷ sau, Darwin đã hồi tưởng về quá trình tự khám phá. “Thật là buồn cười khi tôi từng có ý định trở thành một giáo sĩ,” ông viết. Cha của ông, một bác sĩ trong hơn 60 năm, ghét cay ghét đắng việc nhìn thấy máu. “Nếu ông nội cho cha tôi lựa chọn,” Darwin đã viết, “không việc gì cha tôi phải theo nghề đó.”

Michael Crichton cũng bắt đầu với y khoa, sau khi biết được rằng ít có nhà văn nào sống được với nghề. Với nghề y, “Tôi sẽ không bao giờ phải tự hỏi liệu công việc đó có đem lại giá trị không,” ông ấy viết. Tuy nhiên một vài năm sau khi học, ông trở nên bất mãn với việc thực hành y khoa. Ông tốt nghiệp Trường Y Harvard nhưng quyết định trở thành văn sĩ. Quá trình học y của ông không hề lãng phí. Ông sử dụng nó để sáng tác những câu chuyện nổi tiếng nhất trên thế giới – tiểu thuyết Jurassic Park (Công viên kỷ Jura) và loạt phim truyền hình trên ti vi ER – Emergency Room (Phòng cấp cứu), với kỷ lục 124 đề cử cho giải Emmy.

Những mục tiêu nghề nghiệp đã từng mang lại an toàn và chắc chắn có thể trông buồn cười, dùng theo tính từ của Darwin, khi xem xét nó dưới góc độ hiểu về bản thân hơn. Những ưu tiên công việc và ưu tiên cuộc đời của chúng ta không cố định, bởi vì bản thân chúng ta không cố định.

Nhà tâm lý học Dan Gilbert gọi đó là “sự kết thúc của ảo ảnh lịch sử”. Từ thanh thiếu niên đến người già, chúng ta nhận ra rằng những mong muốn và động lực của chúng ta chắc chắn đã thay đổi rất nhiều trong quá khứ (xem: kiểu tóc cũ của bạn), nhưng tin tưởng rằng chúng sẽ không thay đổi nhiều trong tương lai. Theo thuật ngữ của Gilbert, chúng ta là những công trình đang thi công được tuyên bố là sắp hoàn thành.

Gilbert và các đồng nghiệp đã đo lường sở thích, giá trị và tính cách của hơn 19.000 người trưởng thành từ 18 đến 68 tuổi. Một số được yêu cầu dự đoán họ sẽ thay đổi bao nhiêu trong thập kỷ tiếp theo, những người khác hồi tưởng lại về việc họ đã thay đổi như thế nào trong thập kỷ trước đó. Những người dự đoán mong đợi rằng họ sẽ thay đổi rất ít trong thập kỷ tiếp theo, trong khi những người hồi tưởng báo cáo đã thay đổi rất nhiều trong thập kỷ trước đó. Những phẩm chất cảm thấy bất biến thì ra thay đổi vô cùng. Những giá trị cốt lõi như niềm vui, sự an toàn, thành công và sự trung thực đã chuyển đổi. Những ưu tiên như kỳ nghỉ, âm nhạc, sở thích và thậm chí là bạn bè đã được biến hình. Buồn cười là, những người dự đoán sẵn sàng trả trung bình 129 đô-la một vé cho một buổi biểu diễn của ban nhạc yêu thích hiện tại của họ trong mười năm nữa, trong khi những người hồi tưởng sẽ chỉ trả 80 đô-la để xem buổi diễn hiện tại của ban nhạc họ yêu thích từ 10 năm trước. Con người chính xác của bạn bây giờ là thoáng qua, giống như tất cả những người khác mà bạn đã từng. Cảm giác đó là kết quả bất ngờ nhất, nhưng nó cũng được ghi nhận lại nhiều nhất.

Điều chắc chắn là một đứa trẻ nhút nhát có nhiều khả năng báo trước một người lớn nhút nhát, nhưng còn lâu thì nó mới là một mối tương quan hoàn hảo. Và nếu một đặc điểm tính cách cụ thể không thay đổi, những tính cách khác sẽ thay đổi. Điều chắc chắn duy nhất là sự thay đổi, cả về trong mỗi độ tuổi hay trong mỗi cá nhân. Nhà tâm lý học từ Đại học Illinois Brent W. Roberts chuyên nghiên cứu về phát triển nhân cách. Ông và một nhà tâm lý học khác đã tổng hợp kết quả của 92 nghiên cứu và tiết lộ rằng một số đặc điểm tính cách thay đổi qua thời gian theo những cách khá dễ đoán. Người lớn có xu hướng trở nên dễ đồng ý hơn, có lương tâm hơn, ổn định hơn về mặt cảm xúc và ít bị kích thích thần kinh theo tuổi tác, nhưng ít cởi mở hơn để trải nghiệm. Ở tuổi trung niên, người lớn tỏ ra chuyên chú và thận trọng hơn và ít tò mò, cởi mở và sáng tạo hơn1. Những thay đổi có tác động được nhiều người biết đến, giống như thực tế rằng người lớn nói chung trở nên ít có khả năng phạm tội bạo lực theo tuổi tác, và có thể có khả năng tạo mối quan hệ ổn định. Những sự thay đổi trong tính cách quan trọng nhất xảy ra giữa độ tuổi 18 và cuối độ tuổi 20, vì vậy chuyên môn hóa sớm là nhiệm vụ dự đoán phẩm chất phù hợp cho một con người vốn chưa hề tồn tại. Nó có thể hiệu quả, nhưng nó cũng dẫn đến bất lợi hơn thế. Ngoài ra, trong khi việc thay đổi tính cách chậm lại, nó không dừng lại ở mọi lứa tuổi. Đôi khi nó có thể thực sự xảy ra ngay lập tức.

1. Đối với khuynh hướng thống kê, mối tương quan cho một đặc điểm tính cách cụ thể giữa giai đoạn tuổi teen của một cá nhân và giai đoạn già hơn của cá nhân đó thường vào khoảng 0,2 đến 0,3, tức là khá vừa phải (giả sử không có lỗi đo ngẫu nhiên, tương quan 1,0 sẽ có nghĩa là đặc điểm tính cách hoàn toàn không thay đổi so với các bạn cùng lứa tuổi.) “Rõ ràng là chúng ta không phải là một người khi ở tuổi 75 so với ở tuổi tuổ 15”, Roberts nói với tôi, nhưng “có những dấu vết có thể nhận biết được”.

Nhờ YouTube, “thí nghiệm kẹo dẻo” có thể trở thành thí nghiệm khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới. Đó thực sự là một loạt các thí nghiệm bắt đầu từ những năm 1960. Tiền đề ban đầu rất đơn giản: Người làm thí nghiệm đặt kẹo dẻo (hoặc bánh quy, hoặc bánh quy xoắn) trước một học sinh mầm non; trước khi rời đi, người làm thí nghiệm nói với đứa trẻ rằng nếu có thể đợi cho đến khi người làm thí nghiệm quay trở lại, bé sẽ nhận được kẹo dẻo đó và thêm một chiếc nữa. Nếu đứa trẻ không thể chờ đợi, nó có thể ăn chiếc kẹo dẻo đó. Những đứa trẻ không được nói sẽ đợi bao lâu (khoảng 15 đến 20 phút, tùy theo độ tuổi), vì vậy chúng phải chịu đựng nếu muốn phần thưởng tối đa.

Nhà tâm lý học Walter Mischel và nhóm nghiên cứu của ông đã theo dõi những đứa trẻ nhiều năm sau đó, và thấy rằng một đứa trẻ đã có thể chờ đợi càng lâu, đứa trẻ ấy càng có khả năng thành công về mặt xã hội, học tập, và về mặt tài chính, và ít có khả năng lạm dụng ma túy.

Thử nghiệm kẹo dẻo đã trở thành một thí nghiệm nổi tiếng đối với các thí nghiệm khoa học, nhưng nó đã trở thành “nàng Beyoncé”1 của các nghiên cứu khi các phương tiện truyền thông và cha mẹ háo hức muốn báo trước số phận con cái mình bắt đầu đăng các bài thí nghiệm kẹo dẻo tự làm lên mạng. Các video rất là đáng yêu và hấp dẫn. Gần như tất cả trẻ em chờ đợi ít nhất là một chút. Một số nhìn chằm chằm vào kẹo dẻo, chạm vào nó, ngửi nó, nhẹ nhàng chạm lưỡi của chúng vào nó và giật lùi lại như thể nó đang nóng. Chúng thậm chí còn có thể bỏ nó vào miệng, kéo nó ra và giả vờ cắn một miếng lớn. Một số xé một mảnh rất nhỏ hầu như không đáng chú ý để nếm thử một chút. Trước khi kết thúc video, những đứa trẻ đã bắt đầu chạm vào kẹo đã ăn luôn viên kẹo. Những đứa trẻ cầm cự thành công vận dụng đủ cách để tự đánh lạc hướng, từ nhìn đi chỗ khác để đẩy cái đĩa đi, che mắt, quay và la hét, hát, nói chuyện với chính mình, đếm, nói chung là quậy phá trên ghế, hoặc (con trai) tự đánh vào mặt mình. Một cậu bé đã dành thời gian nhìn vào mọi hướng ngoại trừ chiếc kẹo dẻo đã rất háu ăn đến mức khi người làm thí nghiệm quay trở lại với chiếc kẹo thứ hai, cậu bé nhét cả hai thanh kẹo vào miệng ngấu nghiến ngay lập tức.

1. Beyoncé: một ca sĩ trẻ rất nổi tiếng của Mỹ được nhiều người hâm mộ. (ND)

Sức hấp dẫn của quả cầu pha lê đoán trước tương lai trong thử nghiệm kẹo dẻo là không thể phủ nhận, và cũng đã bị hiểu sai. Yuichi Shoda, cộng tác viên của Mischel, đã liên tục đưa ra quan điểm rằng nhiều trẻ mẫu giáo đã ăn kẹo dẻo hóa ra vẫn ổn khi trưởng thành1. Shoda cho rằng điều thú vị nhất của các nghiên cứu là cho thấy trẻ em có thể học cách thay đổi một hành vi cụ thể với các chiến lược trí tuệ đơn giản dễ dàng như thế nào, chẳng hạn như nghĩ về kẹo dẻo là một đám mây chứ không phải là thức ăn. Công trình hậu-thử-nghiệm-kẹo-dẻo của Shoda đã là một phần của cầu nối trong tâm lý học giữa những quan điểm đối lập nhau trong cuộc tranh luận về việc nhân cách hình thành do quá trình nuôi dạy hay do bẩm sinh. Một bên cho rằng tính cách của một người hầu như là do bẩm sinh và phía bên kia thì tin rằng chính môi trường mới hình thành nên tính cách. Shoda lập luận rằng trong cuộc tranh luận về yếu tố bẩm sinh hay hoàn cảnh, cả hai quan điểm nói trên vừa đúng vừa sai. Tại một thời điểm nhất định trong cuộc sống, bản tính tự nhiên của một cá nhân ảnh hưởng đến cách họ phản ứng đến một tình huống cụ thể, nhưng bản tính tự nhiên của họ có thể khác đi một cách đáng ngạc nhiên trong một số tình huống khác. Với Mischel, anh bắt đầu nghiên cứu “dấu hiệu nếu-thì”. Nếu David ở trong một bữa tiệc khổng lồ, thì anh ta có vẻ sống nội tâm, nhưng nếu David ở cùng với nhóm của anh ấy tại chỗ làm, thì anh ấy có vẻ hướng ngoại (đúng). Vậy David hướng nội hay hướng ngoại? Vâng, cả hai, và nhất quán là như vậy.

1. Một thí nghiệm lặp lại của thí nghiệm kẹo dẻo, được công bố năm 2018, cho thấy rằng năng lực dự đoán về các hành vi về sau này kém hơn thí nghiệm gốc.

Ogas và Rose gọi đây là “nguyên tắc bối cảnh”. Năm 2007, Mischel đã viết: “Điểm chính của những phát hiện như vậy là đứa trẻ vốn hung hăng ở nhà có thể ít hung hăng hơn hầu hết những bạn khác khi ở trường; người đàn ông đặc biệt có thái độ thù địch khi bị từ chối trong tình yêu có thể khoan dung khác thường đối với những phê bình về công việc của mình; một người có thể lo lắng đến toát mồ hôi trong phòng bác sĩ có thể là một người leo núi điềm tĩnh; doanh nhân chấp nhận rủi ro có thể giáp mặt với ít rủi ro xã hội hơn.” Rose gọi nó một cách đơn giản hơn: “Nếu bạn vừa tập trung vừa lo lắng trong khi lái xe ngày hôm nay thì khá chắc chắn rằng bạn sẽ vừa tập trung vừa lo lắng khi lái xe vào ngày mai. Cùng lúc đó… bạn có thể không tập trung và chẳng lo lắng gì khi đang chơi lại các bài hát của Beatles với ban nhạc của bạn trong bối cảnh của quán rượu địa phương”. Có lẽ đó là một lý do khiến Daniel Kahneman và các đồng nghiệp trong quân đội (Chương 1) không dự đoán được ai sẽ là người lãnh đạo trong trận chiến dựa trên việc ai đã từng là người đứng đầu trong một cuộc tập trận vượt chướng ngại vật. Khi tôi còn là một vận động viên chạy bộ ở trường đại học, tôi có những đồng đội có động lực và quyết tâm gần như vô biên trên đường đua, gần như vắng mặt trong lớp học, và ngược lại. Thay vì hỏi ai đó có chuyên chú hay không, chúng ta nên hỏi khi nào họ chuyên chú. “Nếu bạn đưa ai đó vào một bối cảnh phù hợp,” Ogas nói, “nhiều khả năng họ sẽ làm việc chăm chỉ và từ ngoài nhìn vào nó sẽ giống sự chuyên chú.”

Vì qua thời gian tính cách sẽ thay đổi nhiều hơn chúng ta mong đợi, kinh nghiệm và những bối cảnh khác nhau, chúng ta không được trang bị đầy đủ để thực hiện các mục tiêu dài hạn cứng nhắc khi trong quá khứ chúng ta chỉ có ít thời gian, ít kinh nghiệm và một phạm vi bối cảnh hẹp. Mỗi “câu chuyện về bản thân tôi” tiếp tục phát triển. Tất cả chúng ta nên chú ý đến sự khôn ngoan của Alice, khi được Gryphon ở xứ sở thần tiên yêu cầu kể lại câu chuyện của bản thân, cô bé đã quyết định mình phải bắt đầu cho sự khởi đầu phiêu lưu của mình vào buổi sáng hôm đó. “Chẳng có ích gì khi quay trở lại hôm qua,” cô bé nói, “vì lúc đó tôi là một người khác.” Alice nắm bắt được chân lý sâu xa, trở thành người có trải nghiệm phong phú, biết cách tối đa hóa phẩm chất cá nhân phù hợp.

Herminia Ibarra, giáo sư về hành vi tổ chức tại Trường Kinh doanh London, nghiên cứu cách các tư vấn viên và nhân viên ngân hàng trẻ tuổi thăng tiến (hoặc không) trong các công ty mà cô mô tả là có hệ thống phân cấp đi-lên-hoặc-đi-ra. Khi cô theo dõi một vài năm sau đó, sau dự án của mình, cô thấy rằng một số ngôi sao vừa chớm nở hoặc là không còn ở đó nữa (vì đã bước vào một sự nghiệp mới) hoặc đang ấp ủ kế hoạch đào thoát.

Ibarra bắt đầu một nghiên cứu khác, lần này thêm các doanh nhân web, luật sư, bác sĩ, giáo sư và chuyên gia công nghệ thông tin. Trọng tâm sẽ là chuyển đổi nghề nghiệp. Ibarra theo dõi các chuyên gia đầy tham vọng, hầu hết họ ở trong độ tuổi 30 và 40, ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Pháp và đã trải qua một con đường sự nghiệp theo đường thẳng trong tối thiểu tám năm. Trong suốt quá trình nghiên cứu của mình, cô đã chứng kiến các chuyên gia trong giai đoạn giữa sự nghiệp chuyển từ một mong muốn thay đổi vốn chỉ thoáng qua, sang một giai đoạn chuyển tiếp đáng lo ngại, sang bước nhảy thực sự vào một nghề nghiệp mới. Thỉnh thoảng cô thấy toàn bộ quá trình xảy ra hai lần ở cùng một cá nhân. Khi cô biên soạn những phát hiện của mình, tiền đề trung tâm ngay lập tức trở nên đơn giản và sâu sắc: chúng ta biết được chúng ta là ai chỉ qua trải nghiệm sống, và không còn cách nào khác.

Ibarra kết luận rằng chúng ta tối đa hóa phẩm chất phù hợp trong suốt cuộc đời bằng cách thử nghiệm qua các hoạt động, những nhóm xã hội, bối cảnh, công việc, sự nghiệp, sau đó phản ánh và điều chỉnh các câu chuyện cá nhân của chúng ta. Và lặp lại. Nếu điều đó nghe có vẻ đơn giản, hãy xét đến việc nó đi ngược hoàn toàn với một chiến dịch tiếp thị rộng lớn cam đoan với khách hàng họ có thể đặt chân vào đúng con đường phù hợp với mình chỉ bằng cách tự dò xét nội tâm. Một nghề nghiệp béo bở, bài kiểm tra nhân cách và ngành tư vấn tồn tại trên quan niệm đó. “Tất cả các công cụ tìm ra điểm mạnh cấp phép cho mọi người tự phân định bản thân mình hoặc những người khác theo những cách mà không tính đến việc chúng ta tăng trưởng, phát triển, nở rộ và khám phá những điều mới như thế nào,” Ibarra đã nói với tôi. “Nhưng mọi người muốn có câu trả lời, vì vậy các khuôn khổ này tỏ ra hấp dẫn. Rất khó để nói, ‘Chà, hãy nghĩ đến một số thử nghiệm và xem điều gì xảy ra.’”

Phải chi bạn thực hiện bài kiểm tra này, lời hứa bắt đầu, nó sẽ thắp sáng con đường đến sự nghiệp lý tưởng, đừng bận tâm những gì các nhà tâm lý học đã ghi nhận về việc cá nhân thay đổi theo thời gian và bối cảnh. Ibarra chỉ trích các bài báo với tư duy thông thường, chẳng hạn như một bài trong Wall Street Journal về “con đường không đau đớn dẫn đến một nghề nghiệp mới”, nói như ra lệnh rằng bí mật chỉ đơn giản là hình thành nên “một hình ảnh rõ ràng về những gì bạn muốn” trước khi hành động.

Thay vào đó, cô ấy bảo tôi, bằng cách khéo léo đảo ngược chân lý thiêng liêng, “Đầu tiên hãy hành động và sau đó suy nghĩ”. Ibarra đã dẫn tâm lý học xã hội để tranh luận một cách thuyết phục rằng mỗi chúng ta được tạo thành từ các khả năng. Như cách cô ấy diễn đạt, “Chúng ta khám phá ra các khả năng thông qua làm việc, bằng cách thử những hoạt động mới, xây dựng mạng lưới mới, tìm những hình mẫu mới”. Chúng ta biết chúng ta là ai trong thực tế, không phải trên lý thuyết.

Hãy nghĩ đến Frances Hesselbein, người đã giả định hết lần này đến lần khác mình chỉ nhúng chân vào một điều gì đó mới, cho đến khi bà gần đến tuổi mà bạn bè của bà bắt đầu nghỉ hưu, và cuối cùng nhận ra rằng bà đã lập kế hoạch ngắn hạn cho con đường nghề nghiệp của mình. Hay Van Gogh, người đã chắc chắn rằng ông đã tìm thấy tiếng gọi hoàn hảo liên tục, chỉ để biết rằng trên thực tế ông đã nhầm lẫn, cho đến khi không nhầm nữa.

Ibarra ghi lại quá trình chuyển đổi cực đoan: Pierre, một bác sĩ tâm thần 38 tuổi và tác giả có đầu sách bán chạy nhất, đã trở thành một tu sĩ Phật giáo sau một con đường quanh co bắt đầu từ cuộc gặp gỡ một vị lạt ma Tây Tạng tại một bữa tiệc tối. Và nhiều sự chuyển đổi thông thường hơn: Lucy, một quản lý công nghệ 46 tuổi tại một công ty môi giới, đã bị thôi thúc bởi những những phản hồi cá nhân quan trọng mà cô nhận được từ một nhà tư vấn phát triển tổ chức, vì vậy cô đã thuê bà ấy làm huấn luyện viên cá nhân. Lucy sớm nhận ra mình có hứng thú với việc quản lý con người (nhà tư vấn đã thuyết phục cô đó là lĩnh vực cô yếu kém) hơn công nghệ. Dần dần, cô tham dự các lớp học và hội nghị và tạo kết nối đến tận những mối quan hệ xa tít tắp trong mạng lưới cá nhân của cô để hiểu được những gì là khả thi. Từng chút một, một điểm yếu dần dần đã trở thành một điểm mạnh và cô đã tự mình chuyển sang làm nhà tư vấn phát triển tổ chức.

Có những chủ đề nổi lên trong quá trình chuyển đổi. Các nhân vật chính đã bắt đầu cảm thấy không được thỏa mãn trong công việc, và sau đó là một cơ hội gặp gỡ tình cờ với một số sự việc trong cuộc sống vốn vô hình với họ trước đây đã dẫn đến một loạt các cuộc khám phá ngắn hạn. Lúc đầu, tất cả những người thay đổi nghề nghiệp đều trở thành con mồi của thói sùng bái sự khởi đầu thuận lợi và cho rằng không hợp lý khi bỏ qua các kế hoạch dài hạn của họ để ủng hộ các thử nghiệm ngắn hạn vốn phát triển nhanh chóng. Đôi khi họ cố gắng tự thuyết phục bản thân phải ngừng nghĩ về nó. Người bạn tâm tình khuyên họ đừng làm bất cứ điều gì hấp tấp; đừng thay đổi ngay bây giờ, họ bảo chỉ giữ sự quan tâm hoặc tài năng mới như một sở thích. Nhưng càng lao vào, họ càng chắc chắn rằng đã đến lúc phải thay đổi. Một bản sắc công việc mới không xuất hiện sau một đêm, nhưng bắt đầu bằng việc thử một cái gì đó tạm thời, theo phong cách Hesselbein, hoặc tìm một mẫu hình mới, sau đó suy ngẫm về kinh nghiệm và chuyển sang kế hoạch ngắn hạn tiếp theo. Một số người thay đổi nghề nghiệp trở nên giàu có hơn, những người khác nghèo hơn; tất cả đều cảm thấy tạm thời bị tụt lại phía sau, nhưng như trong nghiên cứu tung đồng xu của kinh tế học hài hước, họ đã hạnh phúc hơn với sự thay đổi.

Lời khuyên của Ibarra gần giống với việc lập kế hoạch ngắn hạn mà các nhà nghiên cứu ngựa ô ghi chú lại. Thay vì mong đợi một câu trả lời cứng nhắc để chiêm nghiệm cho câu hỏi “Tôi thực sự muốn trở thành ai?”, họ chỉ ra công việc tốt hơn bạn nên làm là trở thành một nhà khoa học của chính mình, hỏi những câu hỏi nhỏ hơn mà thực sự có thể được thử nghiệm – “Tôi nên bắt đầu khám phá khả năng nào trong số những khả năng khác biệt của bản thân? Làm thế nào tôi có thể làm điều đó?”. Hãy đùa cợt với khả năng của bản thân.1 Thay cho một kế hoạch lớn, hãy tìm các thử nghiệm có thể được thực hiện nhanh chóng. “Thử-nghiệm-và-học-hỏi,” Ibarra nói với tôi, “không phải là lập- kế-hoạch-và-thực-hiện.”

1. Người tạo ra những bộ phim Grey’s Anatomy (tạm dịnh: Ca phẫu thuật của Grey) và Scandal (tạm dịch: Bê bối) Shonda Rhimes đã đùa cợt theo cách cực đoan nhất thông qua việc mà cô ấy gọi là “Một năm của Sự đồng ý”. Rhimes là người hướng nội và có xu hướng từ chối mọi lời mời bất ngờ đến với cô. Cô ấy quyết định đối mặt và trả lời đồng ý với tất cả mọi thứ trong suốt một năm. Cô đã kết thúc năm với sự hiểu biết sâu sắc về bản thân mình – cô ấy muốn tập trung vào vấn đề gì.

Paul Graham, nhà khoa học máy tính và đồng sáng lập của Y Combinator – nhà tài trợ khởi nghiệp của Airbnb, Dropbox, Stripe và Twitch – đã tóm lược nguyên lý của Ibarra trong một bài phát biểu tốt nghiệp trung học ông đã viết, nhưng không bao giờ trình bày:

Dường như không có gì dễ dàng hơn việc quyết định những gì bản thân thích, nhưng hóa ra lại rất khó khăn, một phần vì bạn khó có thể hình dung chính xác hầu hết các công việc… Hầu hết các công việc tôi đã kinh qua trong 10 năm không hề tồn tại khi tôi học trung học... Trong một thế giới như vậy, việc có những kế hoạch cố định không phải là một ý tưởng tốt.

Chưa hết, cứ đến tháng 5, các diễn giả trên cả nước lại khởi động bài phát biểu tốt nghiệp tiêu chuẩn, chủ đề là: đừng từ bỏ ước mơ của bạn. Tôi biết ý nghĩa của chúng, nhưng đây là một cách đặt vấn đề rất dở, bởi vì nó ám chỉ rằng bạn có thể bị ràng buộc bởi một số kế hoạch mà bạn đã đặt ra trước đây. Thế giới máy tính có một cái tên cho điều này: tối ưu hóa sớm.

Thay vì làm việc ngoài giờ cho mục tiêu, hãy tiến tới những tình huống đầy hứa hẹn. Dù sao thì đây thực sự là những gì mà những người thành công nhất đã làm.

Trong cách tiếp cận bài-phát-biểu-tốt-nghiệp, bạn quyết định nơi bạn muốn đến trong 20 năm tới, và sau đó hỏi: tôi nên làm gì bây giờ để đến đó? Thay vào đó, tôi đề nghị rằng bạn không cam kết với bất cứ điều gì trong tương lai, nhưng chỉ cần nhìn vào các phương án sẵn có bây giờ, và chọn những phương án sẽ đem lại cho bạn một loạt các lựa chọn hứa hẹn nhất sau đó.

Cái mà Ibarra gọi là mô hình “lập-kế-hoạch-và-thực-hiện” – ý tưởng cho rằng trước tiên chúng ta nên lập một kế hoạch dài hạn và thực hiện mà không đi sai hướng, vốn trái ngược với mô hình “thử-nghiệm-và-học-hỏi” – đã hằn sâu trong mô tả về những thiên tài. Truyền thuyết nổi tiếng cho rằng nhà điêu khắc Michelangelo có thể nhìn thấy một hình dáng đầy đủ trong một khối đá cẩm thạch trước khi ông chạm tay vào nó, và chỉ cần bỏ đi phần đá thừa để giải phóng khuôn hình bên trong. Đó là một hình ảnh đẹp tinh xảo. Chỉ có điều đó không phải là sự thật. Nhà sử học nghệ thuật William Wallace cho thấy Michelangelo thực sự là một ngôi-sao-thử-nghiệm-và-học-hỏi. Ông liên tục thay đổi ý định và thay đổi kế hoạch điêu khắc của mình khi làm việc. Ông đã để lại 3/5 các tác phẩm điêu khắc của mình còn dang dở, và mỗi lần lại chuyển sang một cái gì đó hứa hẹn hơn. Dòng đầu tiên trong phân tích của Wallace: “Michel Michelangelo không trình bày lý thuyết nghệ thuật.” Ông ấy thử nghiệm, rồi đi từ đó. Ông là một nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư bậc thầy, và thực hiện các thiết kế kỹ thuật cho các công sự ở FlorenceVào cuối những năm 20 tuổi, thậm chí ông còn đẩy nghệ thuật thị giác sang một bên để dành thời gian làm thơ (bao gồm một bài thơ về việc ông đã trưởng thành như thế nào khi không thích vẽ tranh), một nửa trong số đó vẫn còn dang dở.

Giống như bất cứ ai mong muốn nâng cao triển vọng phẩm chất phù hợp của họ, Michelangelo đã tìm hiểu bản thân là ai – và ông đang điêu khắc ai – trong thực tế, chứ không phải về lý thuyết. Ông bắt đầu với một ý tưởng, thử nghiệm nó, thay đổi nó, và sẵn sàng từ bỏ nó để tìm một dự án khác phù hợp hơn. Michelangelo có thể rất phù hợp với Thung lũng Silicon; ông là một người lặp đi lặp lại không ngừng. Ông ấy làm việc theo câu cách ngôn mới của Ibarra: “Tôi biết tôi là ai khi tôi thấy những gì tôi làm.”

Tiết lộ chi tiết hơn: sau khi nghiên cứu “Dự án Ngựa Ô”, tôi đã được tuyển dụng vào đó, nhờ vào con đường sự nghiệp quanh co với các kế hoạch ngắn hạn. Công việc để lại dư âm trong tôi, một phần vì những trải nghiệm của riêng tôi, nhưng thậm chí còn hơn thế vì nó mô tả một danh sách những người tôi ngưỡng mộ.

Nhà văn phi hư cấu và nhà làm phim Sebastian Junger,lúc đó 29 tuổi và làm việc như một chuyên gia trồng cây, cưa tán cây trên của một cây thông; khi chân gặp nạn vì cưa máy, anh đã có ý tưởng viết về những công việc nguy hiểm. Hai tháng sau anh vẫn đi khập khiễng khi một chiếc tàu đánh cá rời khỏi Gloucester, Massachusetts, nơi anh sống và bị mất tích trên biển.

Đánh bắt cá thương mại trở thành chủ đề; kết quả là tiểu thuyết The Perfect Storm (tạm dịch: Cơn bão kinh hoàng) ra đời. Junger gắn liền với chủ đề của những công việc nguy hiểm, và làm bộ phim tài liệu chiến tranh được đề cử giải Oscar Restrepo (tạm dịch: Thung lũng chết). “Vết thương đó là điều tốt nhất từng đến với tôi”, anh ấy nói với tôi. “Nó cho tôi cơ sở để tôi xem xét lại sự nghiệp của mình. Hầu như mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống của tôi đều xuất phát từ một điều bất hạnh, vì vậy cảm giác của tôi là bạn không biết những gì tốt hay xấu khi mọi thứ xảy ra. Bạn không biết. Bạn phải chờ đợi để nhận ra.”

Các nhà văn viết tiểu thuyết tôi yêu thích có thể là những con ngựa ô và đen hơn nữa. Haruki Murakami muốn trở thành một nhạc sĩ, “nhưng tôi không thể chơi nhạc cụ giỏi”, anh nói. Năm 29 tuổi, anh đang điều hành một quán bar nhạc jazz ở Tokyo. Khi anh đi xem một trận bóng chày mùa xuân và tiếng nứt của chiếc gậy bóng chày – “một cú ghi điểm đôi rất đẹp”, Murakami viết – làm anh ngộ ra rằng anh có thể viết tiểu thuyết. Tại sao anh có ý nghĩ đó? “Lúc đó tôi không biết và bây giờ tôi cũng không biết”. Anh bắt đầu viết vào ban đêm. “Cảm giác viết văn khiến tôi thấy rất sảng khoái.” 14 tiểu thuyết của Murakami (tất cả đều đề cập đến âm nhạc rất nổi bật) đã được dịch sang hơn 50 ngôn ngữ.

Nhà văn viết truyện giả tưởng Patrick Rothfuss bắt đầu học ngành kỹ thuật hóa học ở trường đại học, điều mà “đưa đến một khám phá rằng kỹ thuật hóa học thật nhàm chán”. Sau đó, ông đã trải qua chín năm chuyển qua chuyển lại các chuyên ngành “trước khi được yêu cầu tốt nghiệp”. Sau đó, theo tiểu sử chính thức của ông, “Patrick học lên sau đại học. Anh ấy không muốn nói về nó”. Trong khi đó, ông đang từ từ viết một cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết đó, The Name of the Wind (tạm dịch: Tên của Gió ) (trong đó chủ để hóa học được nhắc đến rất nhiều), đã bán được hàng triệu bản trên toàn thế giới và là nguồn tài liệu cho bộ phim truyền hình tiềm năng có thể kế thừa bộ phim Game of Thrones (Trò chơi vương quyền).

Hillary Jordan tình cờ sống ở tầng dưới cùng tòa nhà với tôi trong một tòa nhà chung cư ở Brooklyn và nói với tôi rằng cô làm việc 15 năm trong ngành quảng cáo trước khi bắt đầu viết tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của cô, Mudbound, đã giành giải thưởng Bellwether cho tiểu thuyết gắn kết xã hội. Phiên bản chuyển thể phim của cuốn tiểu thuyết được Netflix mua và năm 2018 đã nhận được bốn đề cử Oscar.

Không giống như Jordan, Maryam Mirzakhani thực sự mong muốn trở thành một tiểu thuyết gia ngay từ đầu. Cô bị mê hoặc bởi các hiệu sách gần trường học khi cô còn nhỏ và mơ ước được viết văn. Cô phải học các lớp toán, nhưng “Tôi không thích nghĩ về nó”, cô ấy nói. Cuối cùng, cô xem toán học là sự khám phá. “Nó giống như là khi bạn bị lạc trong một khu rừng và cố gắng sử dụng tất cả kiến thức mà bạn có thể thu thập để đưa ra một số thủ thuật mới và với một chút may mắn, bạn có thể tìm thấy lối ra”. Năm 2014, cô trở thành người phụ nữ đầu tiên giành được huy chương Fields, giải thưởng toán học nổi tiếng nhất thế giới.

Trong số các vận động viên tôi gặp gỡ khi làm việc tại Sports Illustrated, người tôi ngưỡng mộ nhất là vận động viên ba môn phối hợp Ironman người Anh (và là nhà văn và người làm từ thiện) Chrissie Wellington, người ngồi lên xe đạp lần đầu tiên trong đời ở tuổi 27. Khi đang làm việc trong một dự án vệ sinh nước thải ở Nepal, cô ấy nhận ra rằng cô thích đạp xe, và có thể theo kịp với người Sherpa ở độ cao trên dãy Hy Mã Lạp Sơn. Hai năm sau khi trở về nhà, cô đã giành được chức vô địch thế giới Ironman đầu tiên trong bốn chức vô địch thế giới mà cô giành được, và sau đó tiếp tục bất bại ở 13 chặng đua Ironman trong suốt sự nghiệp bắt đầu muộn và kéo dài chỉ năm năm. “Niềm đam mê thể thao của tôi không mất đi”, cô ấy nói khi cô từ giã thể thao, “nhưng niềm đam mê của tôi đối với những trải nghiệm mới và những thách thức mới là thứ đang bùng cháy nhất”.

Tôi là một người hâm mộ của sân khấu kịch Ireland và người diễn viên yêu thích của tôi là diễn viên người Ireland Ciarán Hinds, được biết đến rộng rãi hơn với vai diễn trên HBO, Julius Caesar trong bộ phim Rome và Mance Rayder trong Game of Thrones (Trò chơi vương quyền) – “Ông vua vượt ra ngoài tường thành” – và là một ngôi sao trong bộ phim Sự Kinh hoàng trên AMC (giọng anh ấy có thể được biết đến nhiều nhất với vai gã khổng lồ lãnh đạo Grand Pabbie trong bộ phim Frozen (Nữ hoàng Băng Giá) của Disney. Cuốn sách này đã cho cho tôi một cái cớ để hỏi Hinds về con đường sự nghiệp của anh, và anh nhớ lại rằng mình là “một kẻ lang thang thích bay nhảy”, không chắc chắn về hướng đi của mình khi đăng ký làm sinh viên luật tại đại học Queen, Belfast. Sự chú ý của anh nhanh chóng chuyển hướng “bởi vì có hứng thú với bi-da, bài poker và nhảy thể nghiệm,” anh nói với tôi. Một trong những gia sư trợ giảng trong lớp của Hinds, đã xem anh diễn một vai lúc anh 12 tuổi, mô tả quý cô Macbeth trong một vở kịch ở trường, đề xuất anh từ bỏ học luật và nộp đơn vào trường kịch nghệ. “Thầy ấy cũng có lòng tốt nói chuyện với bố mẹ tôi về vấn đề này vì họ đang khá lo lắng,” Hinds bảo tôi. “Vậy là tôi đã đi học tại Học viện Sân khấu nghệ thuật Hoàng gia, và cuộc sống của tôi trong nhà hát chuyên nghiệp bắt đầu.”

Tiểu sử Van Gogh của Steven Naifeh và đồng sự quá cố của ông, đồng tác giả Gregory White Smith là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc trong tất cả các thể loại. Naifeh và Smith gặp nhau ở trường luật khi cả hai nhận ra rằng luật không không dành cho họ. Họ bắt đầu cùng nhau viết những cuốn sách với một loạt các chủ đề tự do, từ tội phạm có thực đến phong cách đàn ông, ngay cả khi một biên tập viên nói với họ rằng họ cần chọn một thể loại và gắn bó với nó. Họ sẵn sàng lao vào những lĩnh vực mới và điều này đã đem lại những ích lợi bất ngờ. Khi một biên tập viên tại một nhà xuất bản khác yêu cầu họ viết một hướng dẫn sử dụng dịch vụ của luật sư, điều đó đưa đến việc họ sáng lập tờ Best Lawyers, sản sinh ra một ngành công nghiệp lớn với các ấn phẩm được các đồng nghiệp đề xuất. “Nếu chúng tôi không nắm bắt ý tưởng đó [để tạo ra một tài liệu tham khảo nhằm giúp mọi người chọn luật sư] và chạy theo nó,” Naifeh nói với tôi, “cuộc sống của chúng tôi sẽ khác đi rất nhiều, và nó không giống bất cứ điều gì chúng tôi đã làm trước đây”. Họ có thể không bao giờ có phương tiện và sự tự do để dành ra một thập kỷ nghiên cứu tiểu sử Van Gogh, hoặc tiểu sử về Jackson Pollock để có thể giành được giải Pulitzer.

Naifeh nói với tôi, “Pollock thực sự là một trong những họa sĩ kém tài năng nhất tại Liên đoàn Sinh viên Hội họa”. Naifeh lập luận rằng, so với Van Gogh, việc thiếu các kỹ năng vẽ truyền thống của Pollock là điều khiến ông phát minh ra các quy tắc của riêng mình để làm nghệ thuật. Vì trường học dạy các con đường tiêu chuẩn trong hội họa ngày càng sinh sôi nảy nở, “một trong những vấn đề là họa sĩ có xu hướng trở thành sản phẩm của chính những ngôi trường đó,” Naifeh chia sẻ khi bản thân mình cũng là một họa sĩ.

Có lẽ điều đó đã giúp thúc đẩy sự bùng nổ mối quan tâm đến cái gọi là nghệ thuật của người ngoài, sáng tạo bởi những họa sĩ bắt đầu con đường nghệ thuật không theo tầm nhìn chuẩn. Tất nhiên, không có gì sai khi phát triển thông qua hệ thống phát triển tài năng chính thức, nhưng nếu đó là con đường duy nhất tồn tại, chúng ta sẽ bỏ lỡ một số tài năng sáng giá nhất. “Các họa sĩ không chuyên” là những bậc thầy nhạc Jazz tự học về nghệ thuật thị giác, và sự độc đáo trong tác phẩm của họ có thể gây choáng váng. Năm 2018, Phòng Triển lãm Hội họa Quốc gia trưng bày một triển lãm trọn vẹn dành riêng cho các họa sĩ tự học; các chương trình lịch sử hội họa tại Stanford, Duke, Yale và Viện hội họa Chicago hiện cung cấp các cuộc hội thảo về hội họa không chuyên. Katherine Jentleson, người vào năm 2015 đã được bổ nhiệm làm người phụ trách toàn thời gian về hội họa tự học tại Bảo tàng hội họa cao cấp ở Atlanta, nói với tôi rằng những họa sĩ này thường bắt đầu bằng cách chỉ thử nghiệm và làm những thứ họ thích, trong khi kiếm sống bằng nghề khác. “Phần lớn không bắt đầu làm việc với hội họa một cách nghiêm túc cho đến sau khi nghỉ hưu”, Jentleson giải bày.

Cô ấy giới thiệu tôi với nhà điêu khắc và họa sĩ Lonnie Holley, một họa sĩ tự học nổi bật, người lớn lên trong hoàn cảnh cực kỳ nghèo ở Alabama. Năm 1979, khi anh 29 tuổi, hai đứa con của người chị gái qua đời trong một vụ hỏa hoạn. Gia đình không đủ tiền mua bia mộ, Holley đi thu lượm sa thạch bỏ đi tại một xưởng đúc gần đó và tự khắc chúng. “Tôi còn không biết hội họa là gì!”, anh nói với đôi mắt mở to, như thể bị bất ngờ bởi câu chuyện của chính mình. Nhưng cảm giác đó rất thoải mái. Ông khắc bia mộ cho các gia đình khác và bắt đầu tạo ra các tác phẩm điêu khắc từ bất cứ thứ gì anh có thể tìm thấy. Khi tôi đang đứng gần cửa một phòng trưng bày tại Atlanta nghe anh giới thiệu về những tác phẩm của mình, anh bất ngờ chộp lấy một cái kẹp giấy và nhanh chóng bẻ cong nó thành một hình bóng phức tạp của khuôn mặt, anh dùng nó đâm vào cục tẩy trên cây bút chì mà người phụ nữ ở quầy lễ tân đang sử dụng để trang trí nó. Thật khó để tưởng tượng khoảng thời gian trước khi anh làm nghệ thuật, vì dường như anh khó có thể chạm vào thứ gì đó trước khi bàn tay anh bắt đầu khám phá liệu vật đó có thể trở thành cái gì nữa.

Jentleson cũng chỉ tôi đến Vườn Thiên đường (Paradise Garden), cách Atlanta khoảng 145km về phía tây bắc, điền trang đầy tranh và các tác phẩm điêu khắc của cố Bộ trưởng Howard Finster, Frances Hesselbein của hội họa hiện đại. Finster từ lâu đã tập hợp các tác phẩm đa dạng trên mảnh đất của mình, từ các bộ sưu tập của công cụ đến các loại cây ăn trái. Một ngày nọ vào năm 1976, khi ông đang sửa xe đạp và nhìn thấy những gì trông giống như một khuôn mặt từ một vệt sơn trắng trên ngón tay cái của mình. “Một cảm giác ấm áp lan khắp cơ thể,” ông nhớ lại. Finster ngay lập tức bắt đầu một sự nghiệp gồm hàng chục ngàn tác phẩm nghệ thuật được trưng bày trên mảnh đất của mình, bao gồm hàng ngàn bức tranh theo phong cách bán hoạt hình độc đáo, thường được đóng gói dày đặc với các loài động vật và nhân vật – Elvis, George Washington, các thiên thần – được sắp đặt một cách kỳ lạ trong cảnh quan khải huyền. Trong một thời gian ngắn, ông đã xuất hiện trên chương trình Tonight Show của Johnny Carson và tạo bìa album cho REM. và Talking Heads. Khi vào vườn, tôi được chào đón bởi một bức chân dung tự họa khổng lồ của Finster với nụ cười tự mãn trong bộ com-lê màu đỏ tía, được dán vào một bức tường gạch không nung. Ở phía dưới là dòng chữ “Tôi bắt đầu vẽ tranh vào tháng 1 năm 1976 mà không qua trường lớp đào tạo. Đây là bức tranh của tôi. Một người sẽ không biết những gì mình có thể làm trừ khi họ thử. Thử mọi thứ là câu trả lời để tìm ra tài năng của bạn.”

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.