Range - Hiểu Sâu Biết Rộng Kiểu Gì Cũng Thắng

Lượt đọc: 59 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Đừng để kinh nghiệm trói buộc tư duy

❊ ❊ ❊

Thế kỷ thứ XVII đang gõ cửa. Vũ trụ là nơi mà những thiên thể di chuyển xung quanh trái đất đứng yên, được truyền năng lượng bởi tinh thần cá nhân, những linh hồn hành tinh không thể mô tả. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolaus Copernicus đề xướng rằng các hành tinh di chuyển xung quanh mặt trời, nhưng ý tưởng này bị cho là dị giáo đến nỗi việc giảng dạy nó đã khiến triết gia người Ý Giordano Bruno bị khiển trách, và sau đó bị hỏa thiêu trên cọc như là một kẻ dị giáo vì khăng khăng có những hành tinh khác quay xung quanh mặt trời.

Tinh thần của các thiên thể có thể được truyền động, nhưng các hành tinh cũng cần một vật truyền chuyển động, vì vậy chúng được cho là đang cưỡi trên những quả cầu tinh thể tinh khiết. Các quả cầu không thể nhìn thấy được từ Trái đất và lồng vào nhau, giống như bánh răng của đồng hồ, để tạo ra chuyển động tập thể với tốc độ không đổi cho muôn đời. Plato và Aristotle đã đặt nền móng cho mô hình được mọi người thừa nhận, và mô hình này thống trị trong 2.000 năm. Vũ trụ đồng hồ đó là một mô hình mà nhà thiên văn học người Đức, Johannes Kepler được thừa hưởng. Lúc đầu, ông đã thừa nhận nó.

Khi chòm sao Thiên Hậu (Cassiopeia) đột nhiên có thêm một ngôi sao mới (nó thực ra là một siêu tân tinh – vụ nổ sáng ở cuối cuộc đời một ngôi sao), Kepler nhận ra rằng ý tưởng về thiên đàng bền vững không thể chính xác. Vài năm sau, một sao chổi bay ngang qua bầu trời châu Âu. “Nó không phá vỡ các quả cầu tinh thể khi nó di chuyển hay sao?”, Kepler băn khoăn. Ông bắt đầu nghi ngờ quan niệm đã được công nhận rộng rãi trong suốt hai thiên niên kỷ qua.

Đến năm 1596, khi vừa tròn 25 tuổi, Kepler đã chấp nhận mô hình các hành tinh quay quanh mặt trời của Copernicus, và giờ đây ông đưa ra một câu hỏi sâu sắc khác: Tại sao các hành tinh ở xa mặt trời hơn di chuyển chậm hơn? Có lẽ các hành tinh xa hơn có “linh hồn di chuyển” yếu hơn. Nhưng tại sao như vậy? Chỉ là sự trùng hợp? Ông nghĩ có lẽ thay vì nhiều linh hồn, thì ra chỉ có một, ở bên trong mặt trời và vì có một số lý do nào đó đã tác động mạnh mẽ hơn trên các hành tinh xung quanh. Kepler đã vượt khỏi rào cản của những suy nghĩ trước đây xa đến mức không có dẫn chứng cụ thể để ông dựa vào và làm việc. Ông đã phải dùng đến phép so sánh tương đồng.

Có thể nghĩ rằng mùi và nhiệt có thể tan loãng dần khi ở càng xa nơi bắt nguồn của chúng, có nghĩa là nguồn năng lượng bí ẩn bên trong mặt trời (vốn có thể di chuyển các hành tinh) cũng tương tự như vậy. Nhưng mùi và nhiệt cũng có thể được nhận biết ở mọi nơi khi chúng tỏa ra, trong khi đó linh hồn di chuyển của mặt trời, Kepler viết, được “rót ra khắp vạn vật, lại chỉ hiện hữu ở nơi có thứ gì đó di chuyển”. Có bằng chứng nào cho thấy một thứ như vậy có thể tồn tại không?

Ánh sáng “làm tổ của nó ở mặt trời”, Kepler viết, nhưng dường như không tồn tại giữa nguồn ánh sáng và một sự vật được nó chiếu sáng. Nếu ánh sáng có thể làm điều đó, những vật thể vật lý khác cũng có thể. Ông bắt đầu dùng những từ như “năng lượng” hoặc “lực” để thay cho “linh hồn” và “tinh thần”. “Năng lượng di chuyển” của Kepler là tiền thân của trọng lực, một bước tiến đáng kinh ngạc về trí tuệ bởi vì nó xuất hiện trước khi khoa học nắm bắt các khái niệm về lực vật lý vận động trong toàn vũ trụ.

Khi biết rằng năng lượng di chuyển dường như phát ra từ mặt trời và phân tán trong không gian như thế nào, Kepler tự hỏi liệu chính ánh sáng hay một lực nào đó giống ánh sáng tạo ra chuyển động của các hành tinh hay không. Vậy thì, sau đó, năng lượng di chuyển có thể bị chặn giống ánh sáng không? Chuyển động của các hành tinh không dừng lại trong nhật thực, Kepler lý luận, do đó năng lượng di chuyển không thể giống như ánh sáng, hoặc phụ thuộc vào ánh sáng. Ông cần phép so sánh tương đồng mới.

Kepler đọc một bản mô tả mới được công bố về hiện tượng từ tính, và nghĩ rằng các hành tinh giống như những miếng nam châm, với hai cực ở hai đầu. Ông nhận ra rằng mỗi hành tinh di chuyển chậm hơn khi nó ở xa mặt trời trong quỹ đạo của nó, vì vậy có lẽ các hành tinh và mặt trời đang hút và đẩy lẫn nhau tùy thuộc vào cực nào ở gần nhau. Điều đó giúp giải thích tại sao các hành tinh lại di chuyển về phía mặt trời hoặc ra xa khỏi mặt trời, nhưng tại sao chúng lại cứ tiến về phía trước trong quỹ đạo của chúng? Năng lượng mặt trời dường như bằng một cách nào đó đã đẩy chúng về phía trước. Tiếp tục với phép so sánh tương đồng tiếp theo.

Mặt trời xoay trên trục của nó và tạo ra xoáy nước có sức mạnh dịch chuyển quét qua các hành tinh xung quanh giống như những chiếc thuyền trong một dòng nước. Kepler thích điều đó, nhưng nó lại làm nảy sinh một vấn đề mới. Ông đã nhận ra rằng các quỹ đạo không phải là các đường tròn một cách hoàn hảo, vậy thì mặt trời đã tạo ra loại dòng lạ lùng nào? Phép so sánh tương đồng dòng xoáy nước không thể nào hoàn chỉnh nếu thiếu những người chèo thuyền.

Người chèo thuyền trong xoáy nước có thể điều khiển thuyền của họ vuông góc với dòng nước, vì vậy có lẽ các hành tinh có thể lèo lái trong dòng mặt trời, Kepler phỏng đoán. Một dòng điện tròn có thể giải thích tại sao tất cả các hành tinh di chuyển theotrong cùng một hướng, và sau đó mỗi hành tinh tự lèo lái qua dòng điện để tránh bị hút vào trung tâm, điều đó làm cho các quỹ đạo không tròn đều. Nhưng rồi ai là thuyền trưởng của mỗi con tàu? Điều đó đưa Kepler quay trở lại với các linh hồn, và ông không hài lòng về điều đó. “Kepler,” ông đã viết cho chính mình, “ngươi không muốn ban cho mỗi hành tinh hai con mắt hay sao?”.

Mỗi lần gặp một vấn đề bí, Kepler đã tháo gỡ bằng một loạt các phép so sánh tương đồng. Không chỉ ánh sáng, nhiệt, mùi, dòng chảy và người chèo thuyền, mà cả thấu kính quang học, cân thăng bằng, chổi, nam châm, chổi nam châm, các diễn giả nhìn chằm chằm vào một đám đông, và nhiều hơn nữa. Ông liên tục đặt ra nghi vấn, mỗi lần như vậy lại nảy ra những câu hỏi mới. Ông nghiên cứu cặn kẽ mỗi một sự vật, sự việc để tìm cách trả lời cho những câu hỏi mới.

Cuối cùng ông quả quyết rằng các thiên thể kéo lẫn nhau, và những thiên thể lớn hơn kéo mạnh hơn. Điều đó khiến ông tuyên bố (chính xác) rằng mặt trăng ảnh hưởng lên thủy triều trên trái đất. Galileo, hiện thân của những sự thật táo bạo, đã chế giễu ông vì ý tưởng lố bịch về “sự chi phối của mặt trăng trên mặt nước”.

Những cuộc lang thang trí tuệ của Kepler vạch ra một hành trình đáng kinh ngạc, từ các hành tinh đầy những linh hồn và cưỡi trên những quả cầu tinh thể đan xen trong những vòng tròn hoàn hảo quanh trái đất đứng yên, đến sự khai sáng của ông về định luật Về sự chuyển động của các hành tinh, cho thấy các hành tinh chuyển động theo hình elip mà có thể dự đoán được dựa trên mối tương quan giữa chúng với mặt trời.

Quan trọng hơn, Kepler đã phát minh ra ngành vật lý thiên văn. Ông không kế thừa một ý tưởng nào của các lực vật lý phổ quát. Không có khái niệm trọng lực như là một lực và ông không có khái niệm về động lượng giữ cho các hành tinh chuyển động. Phép tương đồng là tất cả những gì ông có. Ông trở thành người đầu tiên phát hiện ra các định luật vật lý mang tính quan hệ nhân quả cho các hiện tượng trên thiên đường, và ông nhận ra điều đó. “Các nhà vật lý,” ông ấy viết khi công bố định luật về chuyển động của các hành tinh, “hãy vểnh tai lên, vì giờ đây chúng tôi sẽ xâm chiếm lãnh địa của các ông.” Tiêu đề kiệt tác của ông có tên: Một ngành thiên văn học mới dựa trên những nguyên nhân.

Trong thời đại mà thuật giả kim vẫn là một cách tiếp cận các hiện tượng thiên nhiên phổ biến, Kepler lấp đầy vũ trụ với các sức mạnh vô hình nhưng vẫn tác hoạt động xung quanh chúng ta, và giúp mở ra cuộc Cách mạng Khoa học. Những ghi chú tỉ mỉ của ông về mọi con đường ngoằn ngoèo mà mà bộ não của ông khai sáng là một trong những bằng chứng vĩ đại của một bộ óc đang trải qua việc chuyển hóa sáng tạo. Không nghi ngờ gì nữa, Kepler rất sáng tạo. Nhưng điều ông thực sự làm (mỗi khi bị tắc) là tư duy ra hoàn toàn bên ngoài lĩnh vực đang xét. Ông đã để lại con đường mòn sáng rực với những công cụ ưa thích của mình, giúp ông có một cái nhìn khác biệt về những điều thông thái mà bạn bè ông chỉ đơn giản là chấp nhận một cách đơn giản. “Tôi đặc biệt thích những phép so sánh tương đồng,” ông viết, “những người thầy trung tín nhất của tôi, quen thuộc với tất cả bí mật của tự nhiên... Mọi người nên tận dụng chúng.”

_____

Hãy nhắc đến Kepler nếu bạn muốn làm cho nhà tâm lý học Dedre Gentner của Đại học Northwestern cảm thấy hào hứng. Bà ấy sẽ khoa tay múa chân cho mà xem. Cặp kính gọng đồi mồi của bà sẽ lúc lắc lên xuống. Bà có lẽ là chuyên gia đầu ngành trên thế giới về lĩnh vực tư duy so sánh tương đồng. Tư duy so sánh tương đồng sâu là một cách thực hành nhận biết những điểm tương đồng có tính khái niệm trong nhiều lĩnh vực hoặc tình huống dường như không có điểm nào chung nhìn từ bên ngoài. Đó là một công cụ mạnh mẽ giúp giải quyết những vấn đề mơ hồ, và Kepler là một người nghiện phép so sánh tương đồng, vì thế Gentner hiển nhiên rất hâm mộ ông. Khi đề cập đến một một chi tiết lịch sử nhỏ nhặt về ông và điều này có thể khiến các độc giả hiện đại hiểu nhầm, bà đề xuất rằng tốt nhất không nên công bố vì nó làm xấu đi hình ảnh của ông, dù ông đã qua đời gần 400 năm.

“Theo ý kiến của tôi,” Gentner bảo tôi, “khả năng tư duy tương quan của chúng ta là một trong những lý do giúp chúng ta chế ngự hành tinh này. Mối tương quan thật sự rất phức tạp đối với các loài khác.” Tư duy theo phép so sánh tương đồng đón nhận cái mới và biến nó thành điều quen thuộc, hoặc đón nhận những cái quen thuộc và xem xét nó ở góc độ mới, và cho phép con người suy luận xuyên qua những vấn đề mà họ chưa bao giờ gặp phải trong những bối cảnh không quen thuộc. Nó cũng cho phép chúng ta hiểu những cái chúng ta hoàn toàn không thể thấy. Học sinh có thể học về sự chuyển động của các phân tử bằng cách so sánh tương đồng với sự va chạm của các quả bóng bi da; nguyên tắc của dòng điện có thể được hiểu được với bằng phép so sánh tương đồng của dòng nước chảy qua hệ thống ống nước. Các khái niệm trong sinh học được dùng như những phép so sánh tương đồng để truyền đạt về công nghệ mới nhất của trí thông minh nhân tạo: “mạng lưới thần kinh”, là hệ thống học cách nhận biết các hình ảnh từ những ví dụ (chẳng hạn khi bạn tìm những bức ảnh về mèo), được nhìn nhận như là một loại tương tự với tế bào thần kinh của bộ não, và “những thuật toán di truyền” với khái niệm được đặt cơ sở dựa trên sự tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên – các giải pháp được thử nghiệm, đánh giá, và những giải pháp thành công hơn chuyển tiếp những đặc điểm cho vòng giải pháp tiếp theo, và cứ mãi mãi như vậy. Nó là sự mở rộng xa nhất của loại tư duy vốn xa lạ với những người dân làng tiền hiện đại của Luria, những người mà việc giải quyết vấn đề phải dựa vào kinh nghiệm trực tiếp.

Kepler đối mặt với một vấn đề không chỉ mới đối với bản thân, mà còn đối với toàn thể nhân loại. Không có cơ sở dữ liệu kinh nghiệm nào để tham khảo. Để xác định xem liệu ông có phải là người đầu tiên đề xuất “hành động ở khoảng cách xa” trên thiên đường (một năng lượng bí ẩn đi ngang một cách vô hình qua không gian và rồi xuất hiện ở mục tiêu của nó), ông chuyển qua thực hành so sánh tương đồng (mùi, nhiệt, ánh sáng) để cân nhắc xem thử liệu nó có thể khả thi về mặt khái niệm. Ông tiếp tục theo sát với một loạt các sự so sánh tương đồng xa lạ hơn (nam châm, thuyền) để nghiên cứu vấn đề.

Đa số các vấn đề hiển nhiên là không mới, vì vậy chúng ta có thể dựa vào điều mà Gentner gọi là những so sánh tương đồng “trên bề mặt ngoài” từ chính kinh nghiệm của chúng ta. “Trong phần lớn thời gian, nếu bạn được gợi nhớ lại những gì có vẻ ngoài tương tự, chúng cũng sẽ có mối quan hệ tương tự”, bà giải thích. Bạn có nhớ làm cách nào mình đã sửa đường ống thoát nước trong bồn tắm bị nghẽn ở căn hộ cũ? Nó sẽ xuất hiện trở lại khi bồn rửa chén ở bếp trong căn hộ mới bị tắc.

Nhưng ý tưởng cho rằng những phép so sánh tương đồng “trên bề mặt ngoài” lướt qua trong tâm trí sẽ tỏ ra hiệu quả với các vấn đề mới thực ra là một giả định về “thế giới tốt đẹp”, Gentner bảo tôi. Giống như môi trường học tập thuận lợi, một thế giới tốt đẹp dựa vào những mô thức lặp lại. “Điều đó hoàn toàn bình thường,” bà ấy bảo, “nếu bạn sống trong cùng một ngôi làng hoặc cùng một thảo nguyên suốt cuộc đời mình.” Thế giới hiện tại không tốt đẹp như thế, nó yêu cầu tư duy không dựa dẫm mãi vào kinh nghiệm trước đây. Giống như những học sinh học toán, chúng ta cần phải biết cách chọn chiến lược cho những vấn đề chúng ta chưa bao giờ gặp. “Trong cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay,” Gentner bảo tôi, “chúng ta cần được gợi nhớ những điều giống nhau một cách trừu tượng hoặc một cách liên quan. Nếu bạn càng muốn sáng tạo hơn, thì sự gợi nhớ đó càng trở nên quan trọng hơn.”

Trong quá trình nghiên cứu cách giải quyết vấn đề vào thập niên 1930, Karl Duncker đưa ra một trong những vấn đề giả định nổi tiếng nhất trong tâm lý học nhận thức. Nó có nội dung như sau:

Giả sử bạn là một bác sĩ gặp phải một bệnh nhân có một khối u ác tính ở dạ dày. Bạn không thể phẫu thuật cho bệnh nhân này nhưng nếu không loại bỏ khối u, bệnh nhân sẽ chết. Có thể sử dụng một loại tia để loại bỏ khối u. Nếu các tia đó chạm đến khối u cùng một lúc với một cường độ đủ cao, khối u sẽ bị phá hủy. Không may là ở cường độ này, những mô tế bào khỏe mà tia chiếu đi xuyên qua để chạm đến khối u cũng sẽ bị phá hủy. Ở cường độ thấp hơn, tia chiếu sẽ vô hại với các mô tế bào khỏe, nhưng nó cũng không có tác động gì tới khối u. Vậy chúng ta có thể sử dụng thủ thuật nào để phá hủy khối u với tia chiếu, và đồng thời tránh được việc phá hủy các mô tế bào khỏe?

Để cắt bỏ khối u và cứu bệnh nhân, tất cả đều tùy thuộc vào bạn, nhưng có một trở ngại là tia chiếu có thể hoặc là quá mạnh hoặc là quá yếu. Làm thế nào để bạn có thể giải quyết vấn đề này? Khi bạn đang suy nghĩ, có một câu chuyện nhỏ để giết thời gian: Có một vị tướng quân nọ muốn chiếm giữ một thành trì nằm giữa một đất nước bị cai trị bởi một tên độc tài hung bạo. Nếu vị tướng có thể đưa toàn bộ quân lính của mình đến thành cùng một lúc, họ sẽ không gặp vấn đề gì trong việc chiếm thành. Đội quân có thể di chuyển bằng rất nhiều con đường tỏa ra từ thành trì giống như nan hoa của bánh xe, nhưng chúng bị rải đầy mìn, vì vậy chỉ có những nhóm lính nhỏ có thể băng ngang qua một cách an toàn trên một con đường bất kỳ. Vị tướng nảy ra một kế hoạch. Ông ấy chia đội quân của mình thành những nhóm nhỏ, và mỗi nhóm di chuyển trên một con đường khác nhau dẫn đến thành. Họ thống nhất kế hoạch, và đảm bảo tập hợp quân trước thành cùng một thời điểm thông qua các con đường khác nhau. Kế hoạch này đã tỏ ra hiệu quả. Vị tướng đã chiếm được thành và lật đổ tên độc tài.

Bạn đã cứu được bệnh nhân chưa? Một câu chuyện cuối cùng trong khi bạn đang suy nghĩ: Nhiều năm trước đây, có một vị chỉ huy sở cứu hỏa của một thị trấn nhỏ chạy đến đám cháy ở một lều chứa củi, lo lắng rằng đám cháy sẽ lan đến ngôi nhà bên cạnh nếu nó không nhanh chóng được dập tắt. Không có vòi lấy nước ở gần đó, nhưng lều lại ở cạnh một hồ, do đó có rất nhiều nước. Vài chục người hàng xóm đã thay phiên nhau múc những xô nước để dội vào lều nhưng xem ra không có hiệu quả gì. Những người hàng xóm ngạc nhiên khi vị chỉ huy sở cứu hỏa la lên khiến họ dừng lại, và bảo tất cả đi xuống hồ múc nước vào xô. Khi họ quay trở lại, vị chỉ huy sắp xếp cho mọi người đứng thành vòng tròn quanh lều, và sau đó đếm đến ba rồi tất cả đều dội nước cùng một lúc. Đám cháy ngay lập tức hạ nhiệt, và chẳng mấy chốc bị dập tắt. Chính quyền thị trấn đã tăng lương cho vị chỉ huy cứu hỏa để tưởng thưởng cho sự nhanh trí của anh ấy.

Bạn đã nghĩ xong việc cứu sống bệnh nhân chưa? Đừng cảm thấy tệ, hầu như không ai giải quyết được nó. Ít nhất là không phải ngay lần đầu, và rồi hầu như mọi người đều giải quyết được nó. Thoạt tiên chỉ có khoảng 10% số người giải quyết được “vấn đề chiếu tia của Duncker”. Khoảng 30% giải quyết được và cứu được bệnh nhân khi được đưa cho vấn đề tia chiếu tia cùng câu chuyện thành trì. Khi được đưa cho cả hai câu chuyện và thêm câu chuyện về vị chỉ huy sở cứu hỏa, một nửa giải được. Khi nhận được đưa câu chuyện thành trì và vị chỉ huy sở cứu hỏa và được hướng dẫn hãy áp dụng nó để giải quyết vấn đề về chiếu tia, 80% đã cứu được bệnh nhân.

Câu trả lời là bạn (vị bác sĩ) có thể hướng nhiều tia chiếu với cường độ thấp vào khối u từ nhiều hướng khác nhau, vốn vẫn giữ nguyên các mô tế bào khỏe, nhưng hội tụ tại điểm khối u với cường độ tập trung đủ mạnh để phá hủy nó. Cũng giống như vị tướng đã chia đội quân thành những nhóm nhỏ và ra lệnh cho họ tập hợp tại thành, và như vị chỉ huy sở cứu hỏa đã bố trí cho những người hàng xóm mang xô nước đứng quanh chiếc lều đang cháy để cho những xô nước của họ tập trung vào đám cháy cùng một lúc.

Những kết quả như thế là từ một loạt nghiên cứu về tư duy so sánh tương đồng trong thập niên 80. Đừng cảm thấy tồi tệ nếu bạn không giải được. Trong thí nghiệm thật sự, bạn đáng ra sẽ được dành nhiều thời gian hơn, và cho dù bạn có giải quyết vấn đề được hay không cũng không quan trọng. Điều quan trọng là nó giải nghĩa điều gì quan trọng cho việc giải quyết vấn đề. Một món quà của phép so sánh tương đồng đơn thuần từ một lĩnh vực khác đã làm tăng gấp ba lần số người giải quyết được vấn đề về chiếu tia. Hai sự so sánh tương đồng từ những lĩnh vực khác nhau đã đem lại một sự thúc đẩy lớn hơn nữa. Tác động của riêng câu chuyện thành trì đã có tác động lớn như thể người giải bài toán này đã nhận được lời giải là mách bảo về nguyên tắc dẫn dắt này: “Nếu bạn cần một lực lớn để hoàn thành mục tiêu nhưng gặp trở ngại không thể áp dụng lực đó một cách trực tiếp, thì việc áp dụng nhiều lực nhỏ hơn cùng lúc, từ nhiều hướng, cũng sẽ đem lại kết quả tốt như thế.”

Các nhà khoa học tiến hành thí nghiệm đó mong đợi phép so sánh tương đồng là cơ sở cho việc giải quyết vấn đề, nhưng họ ngạc nhiên khi biết rằng đa số những người giải quyết vấn đề liên quan đến việc chiếu tia không tìm thấy gợi ý từ câu chuyện thành trì cho đến khi họ được hướng dẫn làm thế. “Người ta có thể cho rằng,” các nhà khoa học viết, “việc tham gia thí nghiệm về tâm lý học sẽ khiến hầu hết các đối tượng cân nhắc phần đầu [của cuộc nghiên cứu] có thể liên hệ với phần thứ hai.”

Dường như trực giác của con người không được cấu tạo phù hợp để tận dụng những công cụ tốt nhất khi đối mặt với những vấn đề mà các nhà nghiên cứu gọi là “được định nghĩa mập mờ”. Bản năng dựa vào kinh nghiệm của chúng ta được thiết lập phù hợp với những lĩnh vực của Tiger, thế giới tốt đẹp mà Gentner mô tả, nơi các vấn đề và giải pháp lặp đi lặp lại.

Một thí nghiệm với các sinh viên ngành quan hệ quốc tế của Đại học Stanford trong Chiến tranh Lạnh đem đến cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác về việc dựa vào lý luận của thế giới tốt đẹp – đó là, rút ra bài học chỉ dựa vào phép so sánh tương đồng đầu tiên chúng ta thấy quen thuộc. Các sinh viên được nghe về một đất nước hư cấu, nhỏ nhưng dân chủ, bị đe dọa bởi nước láng giềng theo chế độ chuyên chế, và họ phải quyết định xem nước Mỹ nên phản ứng thế nào. Người ta trao cho một số sinh viên những mô tả giống như tình hình trong Thế Chiến II (người tị nạn trong những chiếc toa hàng, một vị tổng thống “từ New York, bối cảnh giống như FDR1”, một cuộc họp ở “sảnh Winston Churchill”). Những người khác được đưa cho những mô tả giống như Việt Nam, (một vị tổng thống “từ Texas, bối cảnh giống như LBJ”2, và thuyền nhân tị nạn). Những sinh viên quan hệ quốc tế được gợi nhắc về Thế Chiến II có xu hướng chọn việc phát động chiến tranh nhiều hơn, trong khi đó những sinh viên được gợi nhắc về Việt Nam chọn con đường ngoại giao phi quân sự. Hiện tượng đó đã được ghi nhận lại ở khắp nơi. Những huấn huyện viên bóng bầu dục ở trường đại học đánh giá tiềm năng của cùng một cầu thủ rất khác nhau, phụ thuộc vào việc anh ta được so sánh tương đồng với cầu thủ nào trước đây trong phần mô tả giới thiệu, mặc dù tất cả thông tin khác đều hoàn toàn giống nhau.

1. Tên viết tắt của Franklin Delano Roosevelt (30/1/1882-12/4/1945), tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ, người duy nhất được bầu làm tổng thống trong bốn nhiệm kỳ. (ND)

2. Tên viết tắt của Lyndon B. Johnson (27/8/1908-22/01/1973), tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ. (ND)

Đối với vấn đề khó khăn về chiếu tia như chúng ta đã biết, chiến lược thành công nhất sử dụng nhiều tình huống vốn hoàn toàn không có vẻ ngoài giống nhau, nhưng có những điểm tương đồng sâu xa về cấu trúc sâu xa. Đa số những người giải quyết vấn đề không giống như Kepler. Họ chỉ quan tâm vấn đề sắp đến, tập trung vào các chi tiết bên trong, và có lẽ tham khảo những kiến thức y khoa khác, vì nhìn từ bên ngoài, nó là một vấn đề y khoa. Họ sẽ không dựa vào trực giác để chuyển sang những phép so sánh tương đồng xa lạ nhằm thăm dò giải pháp. Tuy nhiên họ nên làm như vậy và họ nên biết rằng một số phép so sánh tương đồng đó có vẻ hoàn toàn cách xa vấn đề hiện tại. Trong một thế giới mơ hồ, việc dựa vào kinh nghiệm từ chỉ một lĩnh vực không chỉ hạn hẹp, mà còn có thể gây thảm họa.

_____

Vấn đề của việc chỉ sử dụng một phép so sánh tương đồng, đặc biệt là từ một tình huống rất quen thuộc, là nó không giúp ngăn lại sự thôi thúc tự nhiên của việc áp dụng “góc nhìn từ bên trong nội bộ”, một thuật ngữ được nêu ra bởi nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky. Chúng ta áp dụng góc nhìn từ bên trong khi chúng ta đưa ra các đánh giá đơn thuần dựa trên những chi tiết của một dự án cụ thể ngay trước mắt chúng ta.

Kahneman có một kinh nghiệm cá nhân với những tác hại nguy hiểm của góc nhìn từ bên trong nội bộ, khi ông tập hợp một nhóm để viết sách giáo khoa cho trường cấp 3 về chủ đề khoa học của quá trình ra quyết định. Sau một năm trời họp hằng tuần, ông khảo sát toàn bộ nhóm để tìm hiểu xem mọi người nghĩ dự án nên kéo dài bao lâu. Thời gian ước lượng thấp nhất là một năm rưỡi, cao nhất là hai năm rưỡi. Sau đó Kahneman hỏi một thành viên trong nhóm tên là Seymour, một chuyên gia viết sách giáo khoa xuất sắc vốn đã chứng kiến quá trình tương tự với các nhóm khác, rằng so với các dự án khác thì dự án này như thế nào.

Seymour suy nghĩ một lúc. Một vài phút trước đó ông ấy đã ước tính nó mất khoảng hai năm nữa. Đối diện với câu hỏi của Kahneman về các nhóm khác, ông nói rằng ông thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến việc so sánh tương đồng ở trường hợp này với các dự án riêng biệt, nhưng ông thấy rằng có khoảng 40% nhóm không bao giờ hoàn thành công việc, và không có người nào ông biết hoàn thành nó trước bảy năm.

Nhóm của Kahneman không sẵn sàng bỏ ra thêm sáu năm nữa cho một dự án sách giáo khoa có nguy cơ thất bại. Họ dành ra vài phút tranh luận về ý kiến mới, và quyết định tiến lên phía trước với niềm tin vào sự thông thái của nhóm cho rằng mất-khoảng-hai-năm. Tám năm sau, họ hoàn thành, lúc đó Kahneman thậm chí không còn ở trong nhóm hoặc sống ở trong nước, và cơ quan đặt hàng sách giáo khoa cũng không còn quan tâm nữa.

Xu hướng tự nhiên của chúng ta khi áp dụng góc nhìn từ bên trong có thể bị đánh bại bằng cách làm theo biện pháp so sánh tương đồng theo “góc nhìn bên ngoài”. Góc nhìn bên ngoài thăm dò những điểm tương đồng về mặt cấu trúc sâu đối với vấn đề hiện tại trong những vấn đề khác nhau. Góc nhìn bên ngoài cực kỳ không như mong đợi bởi vì nó yêu cầu người ra quyết định phải bỏ qua những đặc điểm đặc thù ở vẻ ngoài của dự án hiện tại mà họ vốn là chuyên gia, và thay vào đó phải nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm những biện pháp so sánh tương đồng về mặt cấu trúc. Nó yêu cầu một sự thay đổi tư duy từ hẹp sang rộng.

Trong một thí nghiệm độc đáo vào năm 2012, giáo sư chiến lược kinh doanh của đại học Sydney – Dan Lovallo – người đã triển khai nghiên cứu góc nhìn bên trong cùng với Kahneman – cùng với hai nhà kinh tế nêu ra giả thuyết rằng việc khởi động bằng cách thực hiện rất nhiều sự so sánh tương đồng đa dạng, theo phong cách của Kepler, sẽ tự nhiên đạt được góc nhìn bên ngoài và cải thiện quá trình ra quyết định. Họ mời các nhà đầu tư từ các công ty quỹ đầu tư tư nhân lớn tham gia nghiên cứu. Lovallo vẫn đang cân nhắc một số lượng lớn các dự án tiềm năng từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng công việc của các nhà đầu tư đương nhiên đem lại góc nhìn bên ngoài.

Các nhà đầu tư của quỹ đầu tư tư nhân được yêu cầu đánh giá một dự án thật mà họ đang nghiên cứu với một bảng mô tả chi tiết các bước dẫn đến thành công, và dự đoán lợi tức đầu tư của dự án. Sau đó họ được yêu cầu viết ra một loạt các dự án đầu tư mà họ biết vốn có những tương đồng lớn về mô hình rộng với dự án của họ – chẳng hạn như những ví dụ khác về một chủ doanh nghiệp đang tìm cách bán, hoặc một công ty khởi nghiệp với bằng một sản phẩm công nghệ đầy rủi ro. Họ cũng được chỉ thị phải ước tính lợi tức đầu tư của mỗi một dự án trong các ví dụ đó.

Cuối cùng, các nhà đầu tư ước tính rằng lợi tức từ dự án của chính họ cao hơn khoảng 50% so với những dự án bên ngoài vốn được họ xác định là tương đồng về mặt mô hình. Khi được tạo cơ hội lần cuối để suy nghĩ lại và điều chỉnh, họ đã gạch bỏ các ước tính ban đầu của mình. “Họ dường như bị sốc,” Lovallo bảo tôi, “và những người cấp cao hơn là những người bị sốc nhiều nhất.” Các nhà đầu tư thoạt tiên đánh giá dự án của họ, bởi họ biết tất cả chi tiết, hoàn toàn khác những dự án tương tự mà họ là người ngoài.

Đây là một hiện tượng phổ biến. Nếu bạn được yêu cầu dự đoán liệu một con ngựa cụ thể nào đó sẽ thắng cuộc đua hay không hoặc một nhà chính trị gia nào đó sẽ thắng cuộc bầu cử, thì khi biết càng nhiều chi tiết nội bộ về một tình huống cụ thể nào đó – ví dụ như những đặc điểm thể lực của một con ngựa cụ thể, gia thế và chiến lược của một chính trị gia – bạn càng dễ phát biểu rằng kịch bản mà bạn đang nghiên cứu sẽ diễn ra.

Các nhà tâm lý học đã chứng minh rất nhiều lần rằng một người càng biết nhiều chi tiết nội bộ để xem xét, sự phán đoán của họ càng trở nên cực đoan hơn. Đối với các nhà đầu tư mạo hiểm, họ biết nhiều chi tiết về dự án của họ, và phán đoán rằng nó sẽ cực kỳ thành công, cho đến khi họ buộc phải xem xét những dự án khác với sự tương đồng về mô hình rộng. Trong một ví dụ khác, sinh viên đã xếp hạng một đại học tốt hơn nhiều nếu có người bảo họ rằng một số những khoa Khoa học cụ thể được đánh giá là nằm trong Top 10 quốc gia, so với khi họ chỉ đơn thuần được cho biết là mọi khoa Khoa học tại trường đại học đều được đánh giá nằm trong Top 10. Trong một nghiên cứu nổi tiếng, người tham gia đánh giá một cá nhân có khả năng tử vong cao do “bệnh tim, ung thư, hoặc từ những nguyên nhân tự nhiên” hơn là từ “những nguyên nhân tự nhiên”. Tập trung ít vào nhiều chi tiết cụ thể của một vấn đề nằm trong tầm tay đem lại cảm giác đó chính xác là việc đúng chính xác cần làm, trong khi nó thường sai.

Bent Flyvbjerg, vị chủ nhiệm điều hành khóa học Quản trị chương trình tại trường kinh doanh của Đại học Oxford, đã chứng minh rằng khoảng 90% các dự án cơ sở hạ tầng lớn trên khắp thế giới đều vượt quá ngân sách (với tỷ lệ bình quân 28%) một phần là bởi các nhà quản lý tập trung vào các chi tiết của dự án và trở nên quá lạc quan. Các nhà quản lý dự án có thể trở nên giống như nhóm xây dựng giáo trình của Kahneman, và họ cho rằng nhờ vào đội ngũ chuyên gia của mình, dự án sẽ không gặp phải sự đình trệ giống như các nhóm khác. Flyvbjerg nghiên cứu một dự án xây dựng một hệ thống xe điện ở Scotland, trong đó một nhóm tư vấn bên ngoài đã thực sự triển khai một quá trình so sánh tương đồng, tương tự như những gì các nhà đầu tư tư nhân được hướng dẫn thực hiện. Họ bỏ qua điểm chi tiết của dự án sắp đến, tập trung vào những dự án khác tương đồng về cấu trúc. Nhóm tư vấn thấy rằng nhóm dự án đã thực hiện các phân tích chặt chẽ sử dụng tất cả những chi tiết của công việc cần thực hiện. Tuy nhiên, với việc sử dụng phép so sánh tương đồng với những dự án riêng biệt, nhóm tư vấn kết luận rằng dự toán ngân sách 320 triệu bảng Anh (tương đương hơn 400 triệu đô-la) có lẽ là một con số quá thấp. Khi đường xe điện được khánh thành ba năm sau đó, nó tốn xấp xỉ một tỷ bảng Anh. Sau đó, các dự án cơ sở hạ tầng ở Vương quốc Anh bắt đầu áp dụng cách tiếp cận bên ngoài, đặc biệt bắt buộc nhà quản lý phải áp dụng biện pháp so sánh tương đồng với các dự án bên ngoài trong quá khứ.

Theo sau thí nghiệm của các nhà đầu tư từ quỹ đầu tư tư nhân, các nhà nghiên cứu góc-nhìn-bên-ngoài chuyển sang ngành điện ảnh, một lĩnh vực nổi tiếng là dễ thay đổi với rủi ro cao, nhưng cũng có nhiều lợi nhuận và có một kho lớn dữ liệu về những kết quả thực tế. Họ tự hỏi liệu việc bắt buộc những người xem phim áp dụng tư duy so sánh tương đồng có thể dẫn tới những dự đoán chính xác về thành công của bộ phim hay không. Họ bắt đầu bằng việc đưa cho hàng trăm người hâm mộ điện ảnh những thông tin cơ bản về bộ phim – tên của những diễn viên chính, áp phích quảng bá, và một bài tóm tắt – cho sự kiện ra mắt sắp đến. Vào thời điểm đó, những bộ phim bao gồm Wedding Crashers (tạm dịch: Những kẻ phá rối hôn lễ), Fantastic Four (tạm dịch: Bộ tứ tuyệt vời), Deuce Bigalow: European Gigolo (tạm dịch: Trai gọi 2), và một số phim khác. Những người xem phim cũng được cung cấp một danh sách 40 bộ phim cũ hơn, và được yêu cầu đánh giá theo thang điểm mỗi bộ phim tốt đến mức nào nếu so sánh tương đồng với bộ phim sắp ra mắt. Các nhà nghiên cứu sử dụng những điểm số tương đồng đó (và một ít chi tiết cơ bản về bộ phim, chẳng hạn như nó có phải là một phần tiếp theo không) để dự đoán doanh thu cuối cùng cho những phim sắp ra mắt. Họ đối chiếu rồi so sánh những dự đoán đó với một mô hình toán học vốn chứa rất nhiều thông tin của 1.700 bộ phim trong quá khứ và mỗi phim sắp ra mắt, bao gồm dòng phim, ngân sách, các diễn viên ngôi sao, năm phát hành, và liệu nó có phải ra mắt trong kỳ nghỉ lễ hay không. Ngay cả khi không có các thông tin chi tiết đó, việc dự đoán doanh thu sử dụng phép so sánh tương đồng của người đi xem phim đã tốt hơn rất nhiều. Dự đoán với biện-pháp-so-sánh-dùng-người-xem-phim đã thể hiện tốt hơn với 15 trong số 19 phim sắp ra mắt. Sử dụng biện-pháp-so-sánh-dùng-người-xem-phim đem lại dự đoán doanh thu chỉ thấp hơn 4% so với thực tế cho các phim War of the Worlds (tạm dịch: Đại chiến thế giới), Bewitched (tạm dịch: Cô vợ phù thủy), và Red Eye (tạm dịch: Mắt đỏ) và thấp hơn 1.7% với bộ phim Deuce Bigalow: European Gigolo (tạm dịch: Trai gọi 2).

Netflix cũng đưa ra kết luận tương tự để cải thiện thuật toán đề xuất của mình. Giải mã những đặc điểm của bộ phim để tìm ra những gì bạn thích thì rất phức tạp và ít chính xác hơn việc đơn giản chỉ đơn giản là thực hiện so sánh sự tương đồng giữa bạn với nhiều khách hàng khác có cùng lịch sử xem phim tương tự. Thay vì dự đoán bạn thích điều gì, họ nghiên cứu bạn giống ai, và sự phức tạp được thu nhận trong đó.

Điều thú vị là nếu các nhà nghiên cứu chỉ sử dụng mỗi một phim mà người hâm mộ điện ảnh xếp hạng tương đồng nhất với phim mới phát hành, sức mạnh dự đoán sẽ sụp đổ. Chỉ sử dụng một phép so sánh tương đồng được xem là tốt nhất thì không thể mang lại kết quả tốt nếu là đơn lẻ. Sử dụng đầy đủ “lớp tham khảo” so sánh tương đồng đầy đủ trong biện pháp so sánh tương đối – một trụ cột quan trọng của góc nhìn bên ngoài – thật sự chính xác hơn rất nhiều.

Hãy nhớ lại Chương 1, về các loại chuyên gia trực giác mà Gary Klein nghiên cứu trong môi trường học tập thuận lợi, giống như các kiện tướng cờ vua và lính cứu hỏa. Thay vì bắt đầu với việc tạo ra các lựa chọn, họ lao vào quyết định dựa trên việc nhận biết các mô thức của những đặc điểm ở vẻ ngoài. Sau đó họ có thể đánh giá nó nếu có thời gian, nhưng thường thì họ gắn chặt với nó. Lần này cũng có thể giống như lần vừa rồi, vì vậy những kinh nghiệm bao quát tỏ ra hiệu quả. Việc tạo ra những ý tưởng mới hoặc đối mặt với những vấn đề mới với sự nguy cơ cao thì không giống vậy. Đánh giá một loạt các lựa chọn trước khi để cho trực giác thống trị là một trò chơi khăm của thế giới mơ hồ.

Trong một thí nghiệm khác, Lovallo và cộng sự Ferdinand Dubin đã hỏi 150 sinh viên ngành kinh doanh để xây dựng chiến lược giúp công ty giả định Mickey, đang chật vật với việc kinh doanh chuột máy tính ở Úc và Trung Quốc. Sau khi biết được những thách thức của công ty, họ được yêu cầu viết ra tất cả những chiến lược có thể nghĩ đến để giúp cải thiện tình hình của Mickey.

Lovallo và Dubin cung cấp cho một số sinh viên một hoặc một số phép so sánh tương đồng trong phần hướng dẫn của họ. (Ví dụ: “Hồ sơ của công ty Nike và McDonald’s có thể hữu ích để bổ khuyết cho các khuyến nghị của các bạn, nhưng không nên chỉ giới hạn trong hai công ty đó”). Những sinh viên khác không được cung cấp gì. Những sinh viên được gợi ý với một sự so sánh tương đồng đưa ra nhiều chiến lược hơn những sinh viên không được cung cấp gì, và những sinh viên được đưa ra nhiều sự so sánh tương đồng đề xuất nhiều chiến lược hơn những người chỉ được gợi nhắc một ví dụ. Và sự so sánh tương đồng càng xa cách, thì ý tưởng tạo ra càng tốt. Những sinh viên được gợi nhắc đến Nike và McDonald’s đề xuất nhiều lựa chọn chiến lược hơn bạn của họ – vốn được gợi nhắc đến các công ty máy tính như là Apple và Dell. Lời gợi nhắc để mở rộng so sánh tương đồng mở rộng ra giúp cho sinh viên ngành kinh doanh sáng tạo hơn. Điều không may là sinh viên cũng nói rằng nếu họ sẽ sử dụng kết quả của những công ty trong phép so sánh tương đồng, họ tin rằng cách tốt nhất để đề xuất ra các lựa chọn chiến lược là tập trung vào chỉ một ví dụ trong cùng một lĩnh vực. Giống như các nhà đầu tư mạo hiểm, trực giác của họ mách bảo họ dùng quá ít sự so sánh tương đồng, và dựa vào những trường hợp tỏ ra bên ngoài là tương đồng nhất. “Thường đó chính xác là cách làm sai lúc bước chân vào con đường lầm lạc, bất kể bạn đang dùng phép so sánh tương đồng để làm gì,” Lovallo bảo tôi.

Tin tốt là khá dễ để triển khai những phép so sánh tương đồng từ góc nhìn nội bộ mang tính trực giác sang góc nhìn bên ngoài. Vào năm 2001, Tập đoàn tư vấn Boston, một trong những tập đoàn tư vấn thành công nhất trên thế giới, tạo ra mạng nội bộ để cung cấp cho các tư vấn viên những bộ sưu tập tài liệu để thúc đẩy tư duy so sánh tương đồng với phạm vi rộng. Những “sản phẩm triển lãm” có tương tác được phân loại theo lĩnh vực (nhân chủng học, tâm lý học, lịch sử, và những lĩnh vực khác), khái niệm (thay đổi, hậu cần, năng suất và tương tự như thế), và chủ đề chiến lược (cạnh tranh, hợp tác, nghiệp đoàn và đồng minh, và nhiều hơn nữa). Một nhà tư vấn đề xuất chiến lược cho việc hợp nhất sau-sáp-nhập có thể đọc kỹ phần triển lãm để biết làm thế nào William – Nhà Chinh phạt đã “sáp nhập” nước Anh và Vương quốc Norman vào thế kỷ XI. Một không gian triển lãm mô tả những chiến lược quan sát của Sherlock Holmes có thể cung cấp những ý tưởng cho việc phán đoán từ nhiều chi tiết mà các nhà chuyên môn giàu kinh nghiệm bỏ qua. Và một nhà tư vấn khi làm việc với một công ty khởi nghiệp đang mở rộng nhanh chóng có thể nhặt nhạnh các ý tưởng từ các tác phẩm của một chiến lược gia quân sự người Phổ. Người này nghiên cứu sự thăng bằng mong manh giữa việc duy trì động lực sau một chiến thắng và tiêu tốn quá nhiều sức lực để tập trung vào một mục tiêu đến mức cuối cùng nó thất bại. Nếu tất cả những điều đó đều nghe có vẻ quá xa vời so với những mối quan tâm kinh doanh thúc bách, thì mấu chốt vấn đề nằm ở đó.

Dedre Gentner muốn tìm hiểu xem liệu mọi người có thể cư xử gần giống Kepler hơn một chút hay không thông qua cách vận dụng những sự so sánh tương đồng xa lạ để hiểu vấn đề. Vì vậy bà đã giúp tạo ra “Nhiệm vụ phân loại mơ hồ”.

Nó bao gồm 25 tấm thẻ, mỗi cái mô tả một hiện tượng có thực trong thực tế, chẳng hạn như các bộ định tuyến Internet hoặc bong bóng kinh tế hoạt động ra sao. Mỗi tấm thẻ xếp vào hai loại chính, một cho lĩnh vực của nó (kinh tế, sinh học, và những cái như vậy) và một cho cấu trúc tầng sâu. Người tham gia được yêu cầu phân loại thẻ thành những loại giống nhau.

Để cho ví dụ về một cấu trúc tầng sâu, bạn có thể đặt bong bóng kinh tế và hiện tượng tảng băng tan ở các cực đi cùng với nhau như là vòng tròn phản-hồi-tích-cực (trong bong bóng kinh tế, người tiêu dùng mua cổ phần hoặc tài sản với ý tưởng rằng giá sẽ tăng; việc mua như thế làm giá tăng, dẫn đến mua nhiều hơn. Khi tảng băng tan chảy, chúng phản chiếu ít ánh sáng mặt trời vào không gian – vốn làm hành tinh ấm lên, dẫn đến nhiều băng tan chảy hơn). Hoặc có lẽ bạn sẽ đặt hành động đổ mồ hôi và các hành động của Cục Dự trữ Liên bang đi cùng với nhau như là vòng tròn phản-hồi-tiêu-cực (đổ mồ hôi làm mát cơ thể do đó không cần đổ mồ hôi thêm nữa. Cục Dự trữ Liên bang hạ lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế; nếu nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh, Cục Dự trữ Liên bang sẽ nâng mức lãi suất để làm chậm lại hoạt động mà nó đã khởi động). Cách giá xăng tác động đến việc tăng giá hàng hóa và những bước cần thiết để cho một thông điệp đi ngang qua các tế bào thần kinh trong bộ não của bạn đều là hai ví dụ của mắt xích nguyên nhân – kết quả, trong đó một sự kiện dẫn đến một sự kiện khác, dẫn đến một sự kiện khác nữa, theo một trật tự đường thẳng.

Hoặc một cách khác, bạn có thể đưa việc thay đổi lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang, bong bóng kinh tế và giá xăng tăng vào cùng nhóm với nhau, bởi vì tất cả chúng đều nằm trong một lĩnh vực: kinh tế học. Và bạn có thể đưa việc đổ mồ hôi và truyền nhận-tế-bào-thần-kinh cùng nhau vào nhóm sinh học.

Gentner và đồng nghiệp đưa nhiệm vụ phân loại mơ hồ cho sinh viên Trường Đại học Northwestern từ nhiều chuyên ngành khác nhau và phát hiện ra rằng tất cả các sinh viên đều nhận ra cách nhóm lại các hiện tượng theo lĩnh vực. Nhưng có ít sinh viên hơn có thể đưa ra cách phân nhóm dựa trên cấu trúc nguyên nhân – hệ quả. Tuy nhiên, có một nhóm sinh viên đặc biệt nhanh nhạy trong việc tìm ra những cấu trúc tầng sâu phổ biến: những sinh viên đã tham gia lớp học trong một loạt lĩnh vực, giống như các sinh viên trong Chương trình khoa học lồng ghép.

Trang web của Trường Đại học Northwestern có đăng mô tả của một cựu sinh viên về chương trình: “Hãy nghĩ về Chương trình khoa học lồng ghép như là một khóa học sinh vật, hóa học, và toán học kết hợp với nhau thành một chuyên ngành. Ý định cơ bản của chương trình này là giúp sinh viên được tiếp cận với tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên và toán học để họ có thể thấy những điểm chung trong những lĩnh vực khoa học tự nhiên khác nhau... Chuyên ngành Chương trình khoa học lồng ghép cho phép bạn nhìn thấy mối liên hệ giữa các ngành khác nhau.”

Một vị giáo sư mà tôi đã hỏi về Chương trình khoa học lồng ghép nói rằng các phân khoa cụ thể nhìn chung không ủng hộ ý tưởng này. Họ muốn sinh viên tham gia các lớp học chuyên sâu trong một khoa duy nhất. Họ lo rằng sinh viên có thể bị tụt lại phía sau. Họ thà rằng thúc đẩy sinh viên nhanh chóng vào việc chuyên môn hóa hơn là trang bị cho sinh viên những ý tưởng được Gentner đặt tên là “sự đa dạng của các lĩnh vực nền tảng”, mà kích thích tư duy so sánh tương đồng và những mối liên hệ về khái niệm sẽ có thể giúp sinh viên phân loại các vấn đề mà họ đang đối diện. Đó chính xác là một kỹ năng giúp phân biệt nhóm giải quyết vấn đề nhanh nhạy nhất với các nhóm khác.

Ở một trong những nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất về cách các chuyên gia giải quyết vấn đề chuyên môn, một nhóm các nhà khoa học liên ngành đã đi đến một kết luận khá đơn giản: những người giải quyết vấn đề thành công có nhiều khả năng hơn để quyết xác định cấu trúc tầng sâu của một vấn đề tốt hơn trước khi họ tiến hành áp dụng một chiến lược để giải quyết vấn đề đó. Những người giải quyết vấn đề ít thành công hơn thì giống những sinh viên trong Nhiệm vụ phân loại mơ hồ: họ dùng tư duy để phân nhóm các vấn đề dựa trên những đặc điểm công khai và giả tạo bên ngoài, giống như những bối cảnh của lĩnh vực. Họ viết rằng, đối với những người giải quyết vấn đề hiệu quả nhất, “công việc giải quyết vấn đề “bắt đầu từ việc phân loại vấn đề”.

Như nhà tiên phong về giáo dục John Dewey đã viết trong Logic, The Theory of Inquiry (tạm dịch: Logic học: lý thuyết thẩm tra), “một vấn đề được xác định đúng là đã giải quyết được một nửa.”

Trước khi bắt đầu cuộc diễu hành ngoằn ngoèo của sự so sánh tương đồng của mình để tái hiện vũ trụ, Kepler đã rất bối rối với việc nghiên cứu của mình. Không giống Galileo và Isaac Newton, ông ghi lại sự bối rối của mình. “Điều quan trọng đối với tôi,” Kepler viết, “là không chỉ đơn thuần truyền đạt đến độc giả những gì tôi cần phải nói, nhưng trên tất cả là chuyển tải đến họ những lý luận, những luận điệu lẩn tránh, và những hiểm họa may mắn dẫn lối cho tôi đến những khám phá của mình”.

Kepler còn khá trẻ khi làm việc tại đài thiên văn của Tycho Brahe – vốn có công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ đến mức nó tiêu tốn đến 1% ngân sách quốc gia của Đan Mạch. Ông được giao nhiệm vụ không ai thèm muốn: Sao Hỏa và quỹ đạo khó hiểu của nó. Quỹ đạo phải là một đường tròn, Kepler được bảo như vậy, do đó ông phải xác định tại sao quan sát của Brahe không khớp với điều đó. Thỉnh thoảng, sao Hỏa dường như quay ngược đường đi ở trên bầu trời, làm một vòng lặp nhỏ, rồi tiếp tục theo hướng ban đầu, một kỳ tích được gọi là chuyển động lùi. Các nhà thiên văn học đưa ra sự vặn xoắn tinh vi để giải thích làm thế nào sao Hỏa lại có thể hoàn thành việc này khi đang cưỡi những quả cầu xen cài với nhau trên bầu trời.

Như thường lệ, Kepler không chấp nhận sự vặn xoắn. Ông hỏi đồng nghiệp để nhờ giúp đỡ, nhưng lời thỉnh cầu của ông bị phớt lờ. Những người tiền nhiệm của ông luôn tìm cách giải thích nhưng lại lờ đi những sai lệch trên sao Hỏa để không loại hủy bỏ kế hoạch tổng thể. Nhiệm vụ sao Hỏa ngắn hạn của Kepler (ông đoán nó sẽ mất tám ngày) biến thành năm năm tính toán với cố gắng mô tả nơi sao Hỏa xuất hiện trên bầu trời tại bất kỳ thời điểm nào. Không bao lâu sau khi Kepler đã hoàn tất nó với độ chính xác cao thì ông bỏ nó đi.

Nó gần chính xác, nhưng chưa hoàn hảo. Phần khuyết điểm thật ra rất nhỏ bé. Chỉ hai trong số các quan sát của Brahe khác biệt với tính toán của Kepler về địa điểm của sao Hỏa, và chỉ bằng tám phút góc1, một khe hẹp trong không gian với bề rộng tương đương 1/8 ngón tay út. Kepler lẽ ra đã có thể cho rằng mô hình của ông là đúng và có sai sót trong hai quan sát đó, hoặc ông có thể quên đi kết quả của năm năm làm việc. Ông quyết định vứt bỏ mô hình của mình. Ông viết: “Nếu tôi đã tin rằng chúng ta có thể bỏ qua tám phút góc này, hẳn tôi đã cố hoàn thiện lý thuyết của mình theo hướng đó”. Từ một công việc chả ai quan tâm, Kepler đã phát triển thành một lối tư duy khác biệt với những sự hiểu biết mới về vũ trụ. Ông khám phá ra những vùng đất chưa ai đặt chân đến. Kepler quyết tâm thực hiện so sánh tương đồng, và ông đã đưa thiên văn học đến những chân trời mới. Ánh sáng, nhiệt, mùi, thuyền, chổi, nam châm – sự so sánh tương đồng bắt đầu bằng những quan sát phiền phức xem ra chẳng phù hợp chút nào, để rồi kết thúc bằng việc xóa bỏ hoàn toàn vũ trụ đồng hồ của Aristotle.

1. Phút góc (minute of arc): là đơn vị đo góc; một phút góc tương đương 1⁄60 độ.

Kepler đã làm một việc mà ngày nay trở thành đặc điểm của các phòng thí nghiệm nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Nhà tâm lý học Kevin Dunbar bắt đầu ghi chép lại tính hiệu quả của các phòng thí nghiệm trong thập niên 1990 và tình cờ bắt gặp một phiên bản hiện đại của lối tư duy theo Kepler. Đối diện với một phát hiện không như mong đợi, thay vì giả định rằng lý thuyết hiện tại là đúng và rằng có sai sót trong quan sát, điều không mong đợi đã trở thành cơ hội để phiêu lưu vào một vùng đất mới – và người ta dùng các phép so sánh tương đồng làm cẩm nang hướng dẫn trong thế giới hoang vu đó.

Khi Dunbar bắt đầu, ông đơn giản là đặt mục tiêu ghi chú lại quá trình khám phá trong thời gian thực. Ông tập trung vào các phòng thí nghiệm sinh học phân tử vì họ đang tỏa sáng với những con đường mới, đặc biệt là trong lĩnh vực di truyền học và điều trị vi-rút, chẳng hạn như HIV. Ông dành ra một năm với bốn phòng thí nghiệm ở Mỹ, yên lặng lắng nghe và ghi chép, đến phòng thí nghiệm mỗi ngày trong nhiều tháng, và sau đó mở rộng nghiên cứu sang nhiều phòng thí nghiệm khác ở Mỹ, Canada và Ý. Sự hiện diện của ông ấy trở nên quen thuộc đến mức các nhà khoa học đã gọi cho ông để đảm bảo rằng ông biết về những cuộc họp ngẫu hứng không chuẩn bị trước. Đặc điểm bên ngoài của các phòng thí nghiệm rất khác nhau. Có nơi có hàng chục thành viên, có nơi thì ít hơn. Có nơi thì toàn là nam giới, chỉ có một nơi toàn là nữ giới. Tất cả đều nổi tiếng trên toàn thế giới.

Các cuộc họp phòng thí nghiệm hàng tuần đem lại những góc nhìn thú vị nhất. Mỗi tuần một lần, toàn bộ nhóm gặp mặt nhau – giám đốc phòng thí nghiệm, các sinh viên cao học, các học giả sau tiến sĩ, kỹ thuật viên – để thảo luận về một số thách thức mà thành viên phòng thí nghiệm đang đối mặt. Các cuộc họp không có gì giống như những gì hay được mô tả trong các chân dung đầy định kiến về các nhà khoa học, những người chỉ biết cắm cúi làm, đơn độc và hay rúc đầu vào ống nghiệm. Dunbar thấy các ý kiến được trao đổi tự do và ngẫu hứng. Họ tranh luận về ý tưởng, đề xuất những thí nghiệm mới, và thảo luận về những trở ngại “Đây là một trong những khoảnh khắc sáng tạo nhất trong khoa học”, ông nói với tôi. Vì vậy, ông đã thu âm lại chúng.

15 phút đầu tiên có nội dung liên quan đến công việc quản lý văn phòng – đến phiên của ai đặt hàng nguyên vật liệu hoặc phê bình ai đó đã không dọn dẹp khu vực làm việc. Sau đó thì mọi người bắt đầu vào nội dung chính. Một ai đó sẽ trình bày một phát hiện không mong đợi hoặc gây bối rối, một kiểu phiên bản quỹ đạo của sao Hỏa của Kepler. Một cách thận trọng, theo bản năng của các nhà khoa học là tự trách bản thân mình, có thể có sai sót trong tính toán hoặc do thiết bị không chuẩn. Nếu phát hiện đó được giữ lại, phòng thí nghiệm chấp nhận kết quả thực, và các ý tưởng về việc nên thử điều gì hoặc chuyện gì đang diễn ra bắt đầu tuôn ra. Mỗi giờ họp phòng thí nghiệm mà Dunbar thu âm cần tám giờ để ghi chép lại và dán nhãn cho những hành vi giải quyết vấn đề để ông có thể phân tích quá trình sáng tạo khoa học, và ông đã tìm thấy hàng tá thông tin về phép so sánh tương đồng.

Dunbar trực tiếp chứng kiến những bước đột phá quan trọng trực tiếp, và thấy rằng những phòng thí nghiệm có xu hướng chuyển những phát hiện không mong đợi thành tri thức mới cho nhân loại qua việc rất nhiều phép so sánh tương đồng, và làm điều này từ rất nhiều lĩnh vực cơ bản khác nhau. Những phòng thí nghiệm càng có nhiều nhà khoa học với nhiều lĩnh vực chuyên môn đa dạng lại chính là những nơi thực hiện càng nhiều phép so sánh tương đồng, và cũng là nơi hình thành nên sự đột phá một cách đáng tin cậy mỗi khi những điều không mong đợi xuất hiện. Những phòng thí nghiệm đó chính là những ủy ban theo trường phái Kepler. Họ bao gồm các thành viên với rất nhiều kinh nghiệm chuyên môn và sự quan tâm rất đa dạng. Khi đến thời điểm để bác bỏ hay chấp nhận và đón nhận nhiệt tình những thông tin đánh đố họ, họ sẽ dựa vào tư duy mở rộng của mình để thực hiện so sánh tương đồng. Rất nhiều phòng thí nghiệm như thế.

Đối với các thách thức tương đối rõ ràng, các phòng thí nghiệm bắt đầu sự so sánh tương đồng với những thí nghiệm khác gần như tương tự. Thách thức càng khác thường chừng nào, thì sự so sánh tương đồng càng xa chừng đó, di chuyển từ những sự tương đồng ở vẻ ngoài về phía tương đồng cấu trúc tầng sâu. Trong một số cuộc họp phòng thí nghiệm, trung bình cứ sau bốn phút, người ta lại bàn về một phép so sánh tương đồng mới, một trong số đó nằm ngoài hoàn toàn lĩnh vực sinh học.

Trong một trường hợp, Dunbar thật sự đã thấy hai phòng thí nghiệm gặp phải cùng một vấn đề hầu như là cùng thời điểm. Những protein mà họ muốn đo lường bị kẹt dính vào bộ lọc, khiến cho họ khó phân tích. Một trong những phòng thí nghiệm gồm toàn là những chuyên gia về vi khuẩn Ecoli, và một phòng khác có các nhà khoa học với các chuyên ngành hóa học, vật lý, sinh vật và di truyền học, cùng với sinh viên y khoa. “Một phòng thí nghiệm thực hiện một so sánh tương đồng dựa trên kiến thức của một người có bằng cấp y khoa, và họ đã giải quyết được vấn đề ngay tại cuộc họp,” Dunbar bảo tôi. “Phòng thí nghiệm khác sử dụng các kiến thức về Ecoli để giải quyết mọi vấn đề. Điều đó tỏ ra không hiệu quả vì vậy họ phải bắt đầu thí nghiệm hằng tuần để loại bỏ vấn đề. Tôi đã lâm vào một tình huống kỳ quặc vì tôi đã thấy được câu trả lời trong cuộc họp của phòng thí nghiệm khác” (như là một phần trong điều kiện của cuộc nghiên cứu, ông không được phép chia sẻ thông tin giữa các phòng thí nghiệm.)

Khi đối diện với những điều không mong đợi, phạm vi của những sự so sánh tương đồng có sẵn giúp xác định được ai đó sẽ là người học được điều gì mới. Trong dự án của Dunbar, có một phòng thí nghiệm cô độc vốn không có phát hiện nào mới cả trong dự án của Dunbar. Ở đó mọi người đều có chuyên môn rất sâu và tương tự nhau, và sự so sánh tương đồng hầu như không bao giờ được thực hiện. “Khi tất cả các thành viên của phòng thí nghiệm có cùng kiến thức hiện có, thì khi một vấn đề xuất hiện, một nhóm các cá nhân với tư duy giống nhau sẽ không đem lại nhiều thông tin để thực hiện sự so sánh tương đồng hơn một cá nhân đơn lẻ,” Dunbar kết luận.

“Nó đại loại giống như thị trường chứng khoán,” ông ấy bảo tôi. “Bạn cần pha trộn các chiến lược.”

Vấn đề đối với các khóa học bao gồm một sự pha trộn nhiều chiến lược khác nhau ở qui mô lớn như Chương trình khoa học lồng ghép của đại học Northwestern, là nó yêu cầu người học bỏ qua một sự khởi đầu thuận lợi hướng tới một chuyên ngành hoặc một nghề nghiệp ngay. Đó là một sự “chào bán” không hấp dẫn, ngay cả khi nó phục vụ cho người học tốt hơn về lâu dài.

Cho dù là loại kiến thức tạo-ra-kết-nối mà Lindsey Richland nghiên cứu, hay là những khái niệm rộng mà Flynn thử nghiệm, hoặc là việc lý luận so sánh tương đồng với khoảng cách xa và cấu trúc tầng sâu mà Gentner đánh giá, cuộc chiến thường xuyên về mối quan tâm cố hữu đối với tư duy mở rộng hay với việc thu nạp kiến thức dần dần thường không tồn tại. Tất cả các nỗ lực đều liên kết để khuyến khích một khởi đầu thuận lợi và chuyên môn hóa sớm và tập trung, ngay cả khi đó là một chiến lược dài hạn tồi. Đó mới chính là vấn đề, bởi có một loại kiến thức khác, có lẽ là quan trọng nhất trong tất cả, nhất thiết phải được từ từ thu nạp – loại kiến thức giúp bạn chọn được thách thức phù hợp với bản thân bạn ngay từ đầu.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.