Range - Hiểu Sâu Biết Rộng Kiểu Gì Cũng Thắng

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Quá tập trung đâu có phải lúc nào cũng tốt

❊ ❊ ❊

Mẹ của cậu bé rất coi trọng âm nhạc và hội họa, nhưng khi cố gắng phác thảo con mèo của gia đình, cậu ấy chứng tỏ mình là một họa sĩ bất tài đến mức cậu hủy bức tranh và từ chối vẽ lại. Thay vào đó, cậu ấy trải qua tuổi thơ của mình ở Hà Lan để chơi bi và kéo xe trượt tuyết cùng với em mình, nhưng chủ yếu là dành thời gian quan sát sự vật. Một cuốn cẩm nang làm cha mẹ nổi tiếng có lời khuyên bác bỏ việc để cho con cái lang thang không giám sát vì như thế dễ “đầu độc” trí tưởng tượng của một đứa trẻ, nhưng cậu bé lại lang thang một mình trong rất nhiều giờ. Cậu đi trong những cơn bão, và vào ban đêm. Cậu đi gần 2km chỉ để ngồi hàng tiếng đồng hồ quan sát một tổ chim, hoặc theo dõi những con bọ nước nhảy qua lại trên một dòng suối. Cậu đặc biệt đam mê sưu tập bọ cánh cứng, cậu dán nhãn mỗi con với tên loài bằng tiếng La-tinh chính xác.

Lúc cậu 13 tuổi, cậu được nhận vào một ngôi trường hoàn toàn mới nằm trong một cung điện hoàng gia đồ sộ cũ kỹ. Nó ở xa nhà đến nỗi cậu phải ở lại với một gia đình địa phương. Tâm trí của cậu bé lang thang đâu đó trong giờ học, nhưng cậu là một học sinh giỏi, và dành thời gian rảnh để học thuộc lòng các bài thơ.

Thầy giáo hội họa là một người nổi tiếng trong khoa, một nhà tiên phong trong lĩnh vực giáo dục đi vận động để thiết kế trở thành một phần trọng tâm trong cỗ máy kinh tế quốc gia. Cuộc vận động đã thành công đến mức nó dẫn đến việc chính quyền liên bang yêu cầu bắt buộc có các lớp học vẽ tay tự do trong mọi trường công lập. Thay vì đứng trước lớp giảng bài, thầy bố trí học sinh ngồi ở giữa và đi len lỏi qua các em như người ta xuyên chiếc kim khâu. Ông cũng rất quan tâm đến từng cá nhân và được đa số học sinh mến mộ. Nhưng vị thầy giáo không gây ấn tượng gì với cậu bé. Khi trưởng thành, cậu bé than phiền rằng không ai dạy cậu nghệ thuật vẽ phối cảnh trong hội họa là gì, mặc dù nó rất quan trọng trong giáo trình của thầy giáo đến mức kiến thức về nghệ thuật vẽ phối cảnh được viết vào luật mới quy định về việc dạy hội họa.

Cậu bé không thích sống với người lạ, do vậy cậu đã rời trường trước lúc 15 tuổi. Trong 16 tháng tiếp theo, cậu không làm gì khác ngoài đi dạo và ngắm nhìn thiên nhiên. Điều đó không thể tiếp diễn mãi như vậy được, nhưng cậu lại không biết làm gì khác. May mắn thay chú của cậu bé sở hữu một đại lý buôn tranh cực kỳ thành công, và mới được phong tước hiệp sĩ. Ông trao cho người cháu trai một công việc ở thành phố lớn. Sáng tạo nghệ thuật không gây cảm hứng ở cậu bé, nhưng buôn bán chúng thì có. Cậu chuyển cường độ quan sát mà cậu đã thực hành với thiên nhiên thành những bản in thạch bản và các bức ảnh, phân loại những gì cậu thấy như cậu đã làm với bọ cánh cứng. Đến năm 20 tuổi, cậu từng giao dịch với những khách hàng lớn và di chuyển giữa nhiều nước để bán hàng. Chàng trai trẻ tự tin tuyên bố với cha mẹ rằng mình sẽ không bao giờ phải tìm việc nữa. Cậu đã sai.

Chàng trai này trước đây là một cậu bé nhà quê lên thành phố, nên không có đủ tài xã giao khéo léo để giải quyết những bất đồng với ông chủ của mình, và cậu không thích mặc cả, vì cậu cảm thấy như đang lợi dụng khách hàng. Chẳng mấy chốc cậu được chuyển đến văn phòng ở London vốn không giao dịch trực tiếp với khách hàng, và lúc 22 tuổi, cậu được chuyển đi một lần nữa, lần này là đến Paris. Cậu đến Pháp trong bối cảnh đang có cuộc cách mạng về nghệ thuật. Khi đi bộ đến chỗ làm, chàng trai trẻ đi ngang xưởng vẽ của các họa sĩ sắp thành danh. Tuy nhiên, như với thầy dạy vẽ, như hai người viết tiểu sử của cậu trong tương lai sẽ viết, “Không có điều gì được ghi vào trong tâm trí”. Cậu quá bận rộn với sự đam mê mới: tôn giáo. Nhiều năm sau, khi cậu và người em của mình thảo luận về những họa sĩ trong cuộc cách mạng đó, cậu nói rằng cậu thấy “họ chẳng có gì đặc sắc”.

Cuối cùng, khi bị cho nghỉ việc ở đại lý tranh, cậu đến làm giáo viên trợ giảng tại một trường nội trú ở một thị trấn ven biển của nước Anh. Cậu làm việc 14 tiếng mỗi ngày, dạy các lớp từ tiếng Pháp cho đến Toán, giám sát khu ký túc xá, đưa bọn trẻ đến nhà thờ, và làm các công việc khác như một người làm việc vặt. Ngôi trường chỉ đơn giản là một trụ sở kinh doanh của người chủ, và chàng trai trẻ là một nhân công giá rẻ. Cậu tìm được một công việc gia sư khác, lần này tại một trường nội trú hào nhoáng hơn, nhưng chỉ sau một vài tháng, cậu quyết định sẽ trở thành một nhà truyền giáo ở Nam Mỹ. Cha mẹ thuyết phục cậu từ bỏ ý định đó, khẳng định rằng cậu cần “chấm dứt việc chạy theo những khát vọng của mình” và trở về một cuộc sống ổn định. Mẹ của cậu mong rằng cậu sẽ làm gì đó theo bản năng sẽ khiến cậu “vui hơn và bình tĩnh hơn”. Cậu quyết định sẽ đi theo dấu chân của cha mình – tham gia đào tạo để trở thành một mục sư chính thức.

Trong thời gian đó, cha cậu sắp xếp cho cậu một công việc là làm nhân viên hiệu sách. Chàng trai trẻ yêu thích sách và làm việc từ tám giờ sáng cho đến nửa đêm. Khi cửa hiệu bị ngập lụt, cậu làm đồng nghiệp ngạc nhiên với sức khỏe dẻo dai của mình khi mang hết chồng sách này đến chồng sách khác đến nơi an toàn. Mục tiêu mới của cậu là được nhận vào một trường đại học để sau này có thể được đào tạo trở thành mục sư. Một lần nữa, cậu giải phóng niềm đam mê không mệt mỏi của mình. Cậu học cùng một gia sư, và chép tay lại toàn bộ nội dung của các cuốn sách. “Anh phải ngồi dậy, miễn là anh có thể giữ cho mắt mở”, cậu ấy bảo em trai mình. Cậu tự nhắc nhở bản thân rằng “thực hành sẽ đem lại sự hoàn hảo”, nhưng với cậu tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp không dễ học. Cậu chuyển đến sống với một người bác, một người hùng chiến trận nghiêm khắc vốn thúc giục cậu một cách đơn giản: “Tiếp tục theo đuổi đi.” Chàng trai trẻ hạ quyết tâm phải làm việc trước khi bạn bè mình dậy và kết thúc sau khi họ đi ngủ. Người bác của cậu thường bắt gặp cậu đọc sách vào buổi sáng sớm.

Tuy vậy, cậu ấy vẫn chật vật trong con đường học tập của mình. Gần đến ngày sinh nhật thứ 25, chàng trai trẻ nghe được một bài thuyết giảng về việc cuộc cách mạng kinh tế đã làm cho một số công dân, giống như người chú bán tranh của mình, trở nên vô cùng giàu có, trong khi đó những người khác bị đẩy vào cảnh nghèo khó. Cậu quyết định bỏ qua trường đại học để đi rao giảng lời của Chúa nhanh hơn. Cậu chọn một khóa học ngắn hạn, nhưng không thành thục trong việc đứng ra thuyết giảng một cách cô đọng, có sức thuyết phục như nhà trường yêu cầu. Cậu thất bại trong chương trình đó. Nhưng không ai ngăn cản được cậu đi thuyết giáo, vì vậy cậu hướng về những vùng khai thác mỏ nơi cần được soi dẫn nhất.

Khi chàng trai trẻ đến và thấy bầu trời tối đen, cậu so sánh tương đồng nó với sắc thái trong một tác phẩm của Rembrandt. Ở đó cậu thuyết giảng cho những công nhân vốn bị áp bức đến mức họ cho rằng thế giới ở phía trên hầm mỏ như “trên địa ngục”. Cậu đắm chìm vào trong các buổi lễ tâm linh với sự hăng hái thường có, cho đi áo quần và tiền bạc của mình, và kề cận những người bệnh và người bị thương ngày đêm. Những người như vậy nhiều vô số kể ở khu mỏ.

Không lâu sau khi cậu đến, một loạt vụ nổ đã giết chết 121 thợ mỏ và làm khí tràn ra ngoài mặt đất, châm ngòi cho một cột lửa trông giống như đèn Bunsen kỳ dị nép mình bên dưới lòng đất. Những người dân địa phương khốn khổ kinh ngạc trước sự chịu đựng của chàng trai trẻ khi cậu cố gắng an ủi các gia đình. Nhưng họ cũng thấy cậu kỳ cục; những đứa trẻ cậu dạy không chịu lắng nghe. Chẳng mấy chốc, sứ mệnh tạm thời của cậu kết thúc. Cậu đã 27 tuổi và mất phương hướng. Một thập kỷ sau một khởi đầu đầy hy vọng với công việc là một nhà buôn tranh, giờ đây cậu không có tài sản, không có thành tựu và không có định hướng.

Cậu trải lòng mình trong bức thư gửi người em trai, giờ đây là một nhà buôn tranh đáng kính. Cậu so sánh bản thân mình với một con chim ở trong lồng vào mùa xuân, vốn cảm nhận sâu sắc rằng đã đến lúc mình cần làm điều gì đó quan trọng nhưng không thể nhớ điều đó là gì, và vì vậy “đập mạnh đầu mình vào những thanh chắn của chiếc lồng. Và rồi chiếc lồng vẫn ở đó và con chim nổi điên vì đau đớn”. Cậu hô hào, một người đàn ông, cũng như thế, “không phải lúc nào cũng biết mình có thể làm gì, dù vậy, anh ấy có thể cảm nhận bằng bản năng, anh sẽ giỏi một điều gì đó!... Anh biết anh có thể là một người đàn ông hoàn toàn khác biệt!... Điều gì đó có trong anh, vậy nó là gì?” Cậu từng là một sinh viên, một nhà buôn tranh, một giáo viên, một người bán sách, một mục sư triển vọng, và là một người dạy giáo lý đi hết nơi này đến nơi khác. Sau một khởi đầu đầy hứa hẹn, cậu đã hoàn toàn không thành công trên bất kỳ con đường nào mà cậu bước qua.

Anh em cậu đề xuất cậu thử làm nghề mộc, hoặc tìm công việc như thợ cắt tóc. Em gái thì nghĩ rằng cậu sẽ trở thành thợ nướng bánh lành nghề. Cậu là một người mọt sách, nên có lẽ làm một thủ thư chăng. Nhưng từ trong sâu thẳm của những nỗi muộn phiền, cậu chuyển năng lượng mạnh mẽ của bản thân vào điều cuối cùng mà cậu nghĩ mình có thể bắt đầu ngay lập tức. Bức thư tiếp theo gửi cho em trai rất ngắn gọn: “Anh viết cho em khi đang vẽ và anh rất vội vã muốn quay lại với nó.” Trước đây, cậu đã xem việc vẽ tranh là một sự xao nhãng khỏi mục tiêu tiếp cận mọi người với sự thật. Bây giờ cậu tìm kiếm sự thật bằng cách ghi lại cuộc sống quanh mình thông qua hội họa. Cậu đã từ bỏ vẽ tranh tự do lúc là một đứa trẻ khi nhận ra rằng mình là một họa sĩ vụng về, vì vậy cậu bắt đầu ở mức rất cơ bản, đọc cuốn Hướng dẫn ABC của hội họa.

Trong những năm tiếp theo, cậu có một vài cố gắng ngắn hạn để tham gia những khóa đào tạo chính thức. Một người bà con của cậu là một họa sĩ đã cố gắng dạy cậu vẽ màu nước. Người bà con đó sau này được liệt kê trên trang Wikipedia của cậu như là một cái tên duy nhất trong mục “Giáo dục”. Sự thật là, cậu đã vật lộn với những chi tiết nhỏ mong manh được yêu cầu trong lĩnh vực màu nước, và mối quan hệ người hướng dẫn/ người được hướng dẫn kết thúc chỉ sau một tháng. Ông chủ buôn tranh trước kia của cậu, giờ đây là người tạo ra trào lưu thưởng tranh đáng ngưỡng mộ trong giới hội họa, tuyên bố các bức tranh cậu vẽ không đáng được treo bán. “Có một điều ta chắc rằng,” ông chủ nói với cậu, “cháu không thể là họa sĩ.” Ông nói thẳng, “Cháu bắt đầu quá muộn.”

Khi gần 33 tuổi, cậu đăng ký vào một trường mỹ thuật cùng với những sinh viên trẻ hơn mình cả chục tuổi, nhưng chỉ kéo dài được vài tuần. Cậu tham gia vào một cuộc thi vẽ trong lớp, và giám khảo nghiêm khắc đề nghị cậu nên quay về lớp học cho người bắt đầu với những đứa trẻ ở tuổi lên 10.

Cũng giống như việc thay đổi nghề nghiệp, cậu di chuyển giữa niềm đam mê hội họa này sang niềm đam mê khác. Vào một ngày nọ, cậu cảm thấy rằng những họa sĩ thực thụ chỉ vẽ những hình ảnh thực tế, và rồi khi những hình ảnh cậu vẽ ra quá xấu xí thì ngày tiếp theo những họa sĩ thực thụ chỉ quan tâm đến phong cảnh. Có ngày thì cậu đi theo phong cách hiện thực, ngày khác lại theo phong cách thể hiện thuần túy. Tuần này, hội họa là một phương tiện để tuyên bố cho sự cống hiến tôn giáo, thì tuần kế tiếp là sự quan tâm chỉ dành cho sáng tạo nghệ thuật thuần túy. Trong một năm, cậu nhất quyết rằng tất cả hội họa đích thực chỉ bao gồm những hình ảnh đen và xám, và rồi sau đó, những gam màu sống động lại trở thành viên ngọc thật sự trong cái vỏ ốc của người họa sĩ. Cứ mỗi lần như thế, cậu phải lòng hoàn toàn với một phong cách nào đó, rồi sau đó nhanh chóng rời bỏ nó.

Vào một ngày nọ, cậu kéo giá vẽ và màu sơn dầu – thứ mà cậu hầu như chưa từng đụng vào – đến chỗ một đụn cát trong một cơn bão. Cậu chạy vào chạy ra để che chắn, vỗ và phết sơn dầu trên tấm toan với những nét vẽ đơn, nhanh và dứt khoát giữa cơn gió mạnh đang rải những hạt cát lên bức tranh. Cậu ấy nặn màu ra khỏi ống và bôi lên tấm toan khi cần phải làm như vậy. Chất sơn dầu sền sệt và tốc độ cần có khi vẽ nó trong cơn bão đã giải phóng trí tưởng tượng và đôi tay của cậu khỏi sự khiếm khuyết oằn nặng vốn hành hạ cậu khi cố gắng thể hiện chủ nghĩa hiện thực hoàn hảo. Một thế kỷ sau, những nhà viết tiểu sử uy tín nhất của cậu viết về ngày đó như sau: “Cậu ấy đã có một khám phá đáng ngạc nhiên: mình có thể vẽ”. Và cậu cảm nhận được nó. “Anh thật sự rất thích vẽ,” cậu ấy viết cho em trai. “Xem ra vẽ tranh không khó như anh nghĩ.”

Cậu tiếp tục mày mò từ thí nghiệm nghệ thuật này đến thí nghiệm nghệ thuật khác, thừa nhận và không thừa nhận, thẳng thắn chỉ trích những nỗ lực bắt lấy ánh sáng mặt trời trong tranh, rồi lại đảo ngược quá trình và đặt tấm toan của mình ngay dưới ánh mặt trời để lấy sáng. Cậu bị ám ảnh bởi những gam màu đen đậm và tối trong những tác phẩm không màu, và rồi bỏ qua điều đó trong thoáng chốc và mãi mãi vì yêu thích những gam màu sống động, sự đảo ngược mạnh mẽ đến mức cậu không dùng màu đen để mô tả bầu trời đêm. Cậu bắt đầu học piano bởi vì cậu nghĩ rằng những tông nhạc có thể dạy mình điều gì đó về tông màu sắc.

Hành trình đầy biến động tiếp diễn thêm vài năm trong cuộc đời ngắn ngủi còn lại của cậu, cả về địa lý lẫn hội họa. Cuối cùng cậu từ bỏ mục tiêu trở thành một bậc thầy về hội họa, và rồi từ từ bỏ lại đằng sau từng phong cách một mà cậu vốn cho rằng chúng quan trọng và đã thử nhưng rồi thất bại. Cậu nổi lên với một phong cách hội họa mới: dữ dội, bôi đầy sơn, phun trào với màu sắc, chất chồng không theo hình thức nào ngoài việc nắm giữ cái gì đó vô hạn1. Cậu muốn tạo ra những tác phẩm hội họa mà ai cũng có thể hiểu, không phải là những tác phẩm kiêu kỳ chỉ dành cho những ai đã qua đào tạo chuyên nghiệp. Trong nhiều năm, cậu ấy đã cố gắng và thất bại trong việc nắm bắt chính xác mọi tỷ lệ của một vật thể. Bây giờ cậu buông xuôi hoàn toàn đến mức cậu để cho những hình bóng lượn lờ giữa những hàng cây với khuôn mặt vô hình cùng bàn tay mang găng tay.

1. Trong một bức thư gửi người em trai, anh ấy đã viết cụm từ sau bằng tiếng Pháp: “ce qui ne passe dans ce qui passe” – điều gì bền vững trong cái sẽ phai nhạt.

Trong khi trước kia cậu cần có người mẫu thực để họa chân dung và những hình ảnh để sao chép, giờ đây cậu vận dụng óc tưởng tượng. Một tối nọ, cậu nhìn ra cửa sổ phòng ngủ của mình về hướng những ngọn đồi chập chùng từ phía xa, và như lúc đã từng làm với chim và bọ cánh cứng khi còn là một đứa trẻ, cậu dõi theo bầu trời trôi qua hàng tiếng đồng hồ. Khi cầm cọ lên, trí tưởng tượng của cậu chuyển một thị trấn gần đó thành một ngôi làng nhỏ, nhà thờ cao chót vót thành một nhà nguyện khiêm tốn. Cây bách màu xanh thẫm ở tiền cảnh trở nên to lớn, cuộn xoắn trên tấm toan như tảo biển trong nhịp điệu xoay tít của bầu trời đêm.

Đó là thời điểm một vài năm kể từ khi cậu được đề nghị xuống một lớp học vẽ dành cho trẻ em ở độ tuổi lên 10. Nhưng đêm đầy sao đó, cùng với nhiều bức tranh khác theo phong cách mới của mình, phong cách mà cậu đã tạo nên giữa hàng loạt những thất bại, đã tạo nên một kỷ nguyên hội họa mới và truyền cảm hứng cho những quan niệm mới về cái đẹp và sự biểu hiện. Những tác phẩm mà cậu ấy vẽ nhanh trong vài tiếng đồng hồ như là những thử nghiệm trong hai năm cuối cuộc đời, đã trở thành một vài vật thể có giá trị nhất – cả về giá trị văn hóa lẫn tiền bạc – từng xuất hiện trên thế giới.

Người ta đồn rằng Vincent van Gogh đã chết trong vô danh. Một bài đánh giá xuất thần đã xem ông như một hiện tượng cách mạng trong nhiều tháng trước khi ông chết, và làm cho ông trở thành chủ đề bàn tán ở Paris. Claude Monet, người đứng đầu của trường phái ấn tượng – phong trào mà Van Gogh phớt lờ, thương xót và sau đó cách tân – tuyên bố rằng các tác phẩm của Van Gogh là phần tinh túy nhất của cuộc triển lãm hàng năm.

Sau khi đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát, bốn trong số các bức tranh của Van Gogh đã được bán với hơn 100 triệu đô-la, và chúng chưa phải là những bức nổi tiếng nhất. Tác phẩm của ông ngày nay làm cho mọi thứ duyên dáng hơn, từ vớ cho đến vỏ bọc điện thoại di động và một thương hiệu Vodka cùng tên. Thành tựu mà ông đạt được không chỉ là thương mại.

“Điều gì mà các họa sĩ thực sự thay đổi bởi Vincent van Gogh”, họa sĩ và nhà văn Steven Naifeh bảo tôi (Naifeh, cùng với Gregory White Smith, đã viết “cuốn tiểu sử giá trị nhất”, theo lời người phụ trách Bảo tàng Van Gogh). Những bức họa của Van Gogh đóng vai trò là chiếc cầu nối với hội họa hiện đại và truyền cảm hứng cho sự cống hiến lan tỏa mà không có họa sĩ nào (có lẽ là không có bất kỳ ai) có thể sánh bằng. Thanh thiếu niên chưa từng bước chân vào viện bảo tàng treo những tác phẩm của ông lên tường, những người du lịch Nhật Bản để lại tro cốt của tổ

tiên họ ở mộ phần ông. Vào năm 2016, Viện Hội họa Chicago trưng bày cùng lúc ba bức tranh nổi tiếng “Phòng ngủ” – những bức tranh được cho là “giải phóng bộ não, hay đúng hơn là sự tưởng tượng” của Van Gogh. Con số khách tham quan kỷ lục đã khiến họ phải đưa ra chiến lược kiểm soát đám đông không chuẩn bị trước, với một làn đi nhanh theo cách-kiểm-tra-sơ-bộ của TSA1.

1. Cục An ninh Vận tải (TSA) thuộc Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ (DHS). (ND)

Và nếu Van Gogh qua đời ở tuổi 34 thay vì 37 (tuổi thọ trung bình ở Hà Lan lúc ông ra đời là 40), ông thậm chí còn không được ghi nhận vào lịch sử. Điều đó đúng với Paul Gauguin, một họa sĩ đã có một quãng thời gian ngắn sống với Van Gogh và sáng tạo phong cách được gọi là trường phái Tổng hợp, trong đó những đường kẻ đậm ngăn cách các phần màu sắc rực rỡ, không dùng sự chuyển màu tinh tế của hội họa cổ điển. Ông cũng trở thành một trong một số ít các họa sĩ phá vỡ mốc 100 triệu đô-la. Ông dành ra sáu năm đầu trong sự nghiệp của mình trên các tàu buôn trước khi tìm thấy tiếng gọi của bản thân: người môi giới chứng khoán tư sản. Chỉ sau khi thị trường sụp đổ vào năm 1882 thì Gauguin mới toàn tâm toàn ý trở thành một họa sĩ, ở tuổi 35. Sự thay đổi của ông làm chúng ta gợi nhớ lại trường hợp của JKRowling. Cô “đã thất bại toàn diện” ở độ tuổi 20, cô từng nói như vậy, cả về đời sống cá nhân lẫn công việc. Một cuộc hôn nhân ngắn ngủi “vỡ tan”, và cô ấy là một bà mẹ đơn thân và một giáo viên giờ thất nghiệp phải hưởng trợ cấp. Giống như Van Gogh ở vùng khai thác mỏ và Gauguin sau sự sụp đổ của thị trường, cô đã “hoàn toàn tự do” trước thất bại khi thử những công việc phù hợp với tài năng và sự hứng thú của bản thân mình.

Họ đều tỏ ra rất xuất sắc mặc dù bắt đầu rất muộn. Thật dễ dàng để chọn những câu chuyện về những người phát triển muộn nhưng thành công ngoạn mục đã vượt qua những trắc trở. Nhưng họ không phải ngoại lệ trước ưu điểm của sự khởi đầu muộn, và những sự khởi đầu muộn đó không chồng chất những bất lợi chống lại họ. Sự phát triển muộn là một phần không thể thiếu trong sự thành công sau này của họ.

“Phẩm chất phù hợp” là thuật ngữ được các nhà kinh tế dùng dể mô tả mức độ thích hợp giữa công việc người đó làm và bản thân họ là ai – khả năng và thiên hướng của họ.

Cảm hứng để nhà kinh tế học Ofer Malamid của đại học Northwestern nghiên cứu phẩm chất phù hợp là từ kinh nghiệm cá nhân. Anh sinh ra ở Israel, nhưng cha anh làm việc cho một công ty tàu biển, và khi Malamud được 9 tuổi, cả gia đình chuyển đến Hồng Kông, ở đó anh theo học một trường Anh quốc. Hệ thống giáo dục Anh yêu cầu học sinh phải chọn một chuyên ngành học thuật trong hai năm cuối của bậc trung học. “Khi bạn nộp đơn vào trường đại học ở Anh quốc, bạn phải chọn một chuyên ngành cụ thể”, Malamud bảo tôi. Cha anh ấy là một kỹ sư, vì thế anh nhận định rằng mình nên học kỹ thuật. Ở phút cuối, anh không chọn một chuyên ngành cụ thể nào. “Tôi quyết định nộp đơn học ở Mỹ bởi vì tôi không biết tôi muốn làm gì”, anh nói.

Anh bắt đầu với khoa học máy tính, nhưng nhanh chóng nhận ra đây không phải là lĩnh vực mình yêu thích. Vì vậy anh thử một số môn học trước khi quyết định tập trung vào kinh tế học và sau đó là triết học. Kinh nghiệm đó đã để lại trong anh sự tò mò vĩnh cửu về việc chọn thời điểm chuyên môn hóa có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn nghề nghiệp. Vào cuối thập niên 1960, nhà kinh tế học sẽ đoạt giải Nobel trong tương lai Theodore Schultz biện luận rằng lĩnh vực của ông đã làm khá tốt khi chứng minh giáo dục bậc cao làm tăng hiệu suất của công nhân, nhưng các nhà kinh tế đã bỏ qua vai trò của giáo dục trong việc cho phép các cá nhân trì hoãn sự chuyên môn hóa khi đang thử nghiệm và tìm ra họ là ai và họ phù hợp ở nơi nào.

Malamud không thể ngẫu nhiên đặt mọi người vào thực tế cuộc sống để nghiên cứu thời điểm chuyên môn hóa, nhưng anh đã tìm ra một thí nghiệm tự nhiên trong hệ thống trường học của Vương quốc Anh. Đối với giai đoạn mà anh nghiên cứu, học sinh nước Anh và xứ Wales phải chọn chuyên ngành trước khi học đại học để họ có thể nộp đơn vào các chương trình cụ thể và chuyên ngành hẹp. Ngược lại, ở Scotland, sinh viên thật ra được yêu cầu phải học các lĩnh vực khác nhau trong hai năm đầu đại học, và vẫn có thể thử nghiệm sau đó.

Ở mỗi quốc gia, mọi chuyên đề đại học mà một sinh viên đăng ký sẽ cung cấp những kỹ năng có thể được áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể, cũng như thông tin về phẩm chất của bản thân có để phù hợp lĩnh vực đó hay không. Nếu sinh viên tập trung sớm, họ sẽ tập hợp được nhiều kỹ năng để chuẩn bị cho họ một công việc ổn định. Nếu họ thử nghiệm và tập trung muộn hơn, họ sẽ tham gia vào thị trường lao động với ít kỹ năng theo lĩnh vực cụ thể hơn, nhưng ý thức hơn về loại công việc sẽ phù hợp với khả năng và thiên hướng của họ. Câu hỏi của Malamud là: Ai sẽ chiến thắng sự đánh đổi này, những người chuyên môn hóa sớm hay chuyên môn hóa muộn?

Nếu lợi ích của giáo dục bậc cao chỉ đơn giản là cung cấp kỹ năng để làm việc, thì những sinh viên chuyên môn hóa sớm sẽ ít có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp sau khi rời trường đại học sang một lĩnh vực không liên quan đến ngành học của họ: họ đã tích lũy nhiều kỹ năng chuyên môn hơn, vì vậy họ sẽ bị thiệt thòi nếu chuyển đổi nghề nghiệp. Nhưng nếu ích lợi quan trọng của đại học là nó sẽ cung cấp thông tin về phẩm chất phù hợp, thì những người chuyên môn hóa sớm kết cục sẽ chuyển đổi sang một nghề nghiệp không liên quan thường xuyên hơn, vì họ không có thời gian thử nghiệm những sự chọn lựa khác nhau trước khi chọn một lĩnh vực phù hợp với kỹ năng và sự yêu thích của họ.

Malamud đã phân tích dữ liệu của hàng ngàn cựu sinh viên, và phát hiện ra rằng các sinh viên tốt nghiệp ở Anh và xứ Wales liên tục có xu hướng nhảy ra khỏi ngành nghề của họ hơn những người bạn Scotland vốn chuyên môn hóa trễ. Và mặc dù bắt đầu với thu nhập ít hơn vì có ít kỹ năng chuyên môn hơn, những sinh viên Scotland nhanh chóng đuổi kịp. Những sinh viên ở Anh và xứ Wales thay đổi lĩnh vực thường xuyên hơn sau khi tốt nghiệp và sau khi bắt đầu một sự nghiệp dù là họ không có động lực để thay đổi vì chỉ tập trung trong lĩnh vực đó. Với ít cơ hội thử nghiệm hơn, nhiều sinh viên đi vào một con đường hẹp trước khi nhận ra rằng liệu đó có phải là một con đường tốt hay không. Sinh viên người Anh và xứ Wales chuyên môn hóa quá sớm cho nên họ gặp phải sai lầm nhiều hơn. Malamud kết luận rằng: “Lợi ích của việc tăng lên phẩm chất phù hợp... vượt trội những sự mất mát về kỹ năng”. Học điều gì đó không quan trọng bằng học về chính bản thân bạn. Sự khám phá không phải chỉ là một sự xa xỉ bất thường của giáo dục, nó là một lợi ích cốt lõi.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều học sinh ở Scotland cuối cùng chọn chuyên ngành của họ ở những môn vốn không xuất hiện ở trường trung học, ví dụ như kỹ thuật. Ở Anh và xứ Wales, học sinh được mong đợi chọn một con đường với kiến thức trong danh sách hạn chế mà họ đã tiếp xúc ở bậc trung học. Điều đó giống như khi bạn mới 16 tuổi mà đã buộc phải chọn có muốn cưới người yêu thời trung học hay không. Ở thời điểm đó, nó có thể là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng khi bạn trải nghiệm nhiều hơn, ý tưởng đó càng trở nên ít hấp dẫn hơn trong nhận thức muộn màng. Ở nước Anh và xứ Wales, người trưởng thành có xu hướng rời bỏ nghề nghiệp mà họ đã đầu tư vào vì họ ổn định quá sớm. Nếu chúng ta xem nghề nghiệp giống như một cuộc hẹn hò trong chuyện tình cảm, không ai ổn định nhanh như vậy.

Đối với những nhà chuyên môn đã từng thay đổi nghề nghiệp thì dù cho họ chuyên môn hóa sớm hay muộn, việc thay đổi là một ý tưởng tốt. “Bạn bỏ qua một phần nhỏ các kỹ năng của bạn, vì vậy sẽ có một cú hích,” Malamud nói, “nhưng bạn thật sự có tốc độ tăng trưởng cao hơn sau khi đổi việc”. Bất kể việc chuyên môn hóa xuất hiện khi nào, những người đổi việc vận dụng kinh nghiệm để lựa chọn nơi phù hợp hơn.

Steven Levitt, nhà kinh tế học và là đồng tác giả của cuốn Freakonomics (Kinh tế học hài hước), đã khéo léo tận dụng độc giả của mình để thử nghiệm về sự chuyển đổi. Trên trang chủ “Thí nghiệm của Kinh tế học hài hước”, ông mời tập thể độc giả vốn đang cân nhắc những thay đổi trong cuộc sống tung lên một đồng xu ảo. Mặt sấp có nghĩa là họ nên xúc tiến và thực hiện sự thay đổi, mặt ngửa có nghĩa là họ không nên. 20.000 tình nguyện viên đã phản hồi, với việc cân nhắc mọi thứ từ việc họ có nên thực hiện một hình xăm hay không, thử hẹn hò trên mạng, hoặc có một đứa con, đến 2.186 người đang cân nhắc sự thay đổi công việc1. Nhưng họ có thể thật sự tin một quyết định quan trọng chỉ bằng cách dựa vào sự may rủi? Câu trả lời cho những người có tiềm năng đổi việc tung mặt sấp lên chính là: chỉ với khi họ muốn hạnh phúc hơn. Sáu tháng sau, những người tung mặt sấp và đổi việc hạnh phúc hơn rất nhiều so với người ở lại – không đổi việc2. Theo Levitt, nghiên cứu đó cho thấy rằng “những lời cảnh báo đại loại’’ như ‘người chiến thắng không bao giờ bỏ cuộc và người bỏ cuộc không bao giờ thắng’ dù là có ý nghĩa tốt, thật sự là những lời khuyên rất tồi.” Levitt xác định một trong những kỹ năng quan trọng nhất của ông là “sẵn sàng để vứt bỏ” một dự án hoặc nguyên cả một lĩnh vực nghiên cứu để tìm cái thích hợp hơn.

1. Điều này làm cho chủ đề thay đổi công việc trở thành câu hỏi phổ biến nhất.

2. Trong một phân tích chi tiết, Levitt chứng minh rằng kết quả của việc tung đồng xu thật sự ảnh hưởng đến việc ra quyết định của mọi người. Những người đang cân nhắc thay đổi công việc tung đồng xu mặt sấp có xu hướng đổi việc hơn những người trong tình huống như thế nhưng tung đồng xu mặt ngửa, mặc dù rằng, điều hiển nhiên là mỗi người có thể làm bất kỳ điều gì mà họ muốn với cuộc sống của mình bất kể kết quả của việc tung đồng xu là gì. Trong số những người làm theo lời khuyên của đồng xu, việc tung mặt sấp (và thay đổi công việc) chính là nguyên nhân dẫn đến việc họ hạnh phúc hơn sau đó.

Câu nói nổi tiếng của Winston Churchill “không bao giờ đầu hàng, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ” là một lời nói được trích dẫn thường xuyên nhưng không đầy đủ. Phần cuối của câu nói lúc nào cũng bị bỏ qua: “trừ khi có sự tin chắc vào danh dự và lương tri.”

Nhà kinh tế học lao động Kirabo Jackson đã chứng minh ngay cả vấn đề hành chính gây nhức đầu một cách đáng kinh sợ được biết đến là “việc thay đổi giáo viên” cũng nắm bắt được giá trị của việc chuyển đổi công việc có ý thức. Ông nhận thấy rằng giáo viên thường đạt hiệu quả trong việc cải thiện thành tích của học sinh hơn sau khi chuyển đến một ngôi trường mới, và hiệu quả đó không phải là do đổi qua một trường có thành tích tốt hơn hay là học sinh giỏi hơn. “Giáo viên thường có xu hướng rời khỏi môi trường mà họ thấy không thích ứng” ông ấy kết luận. “Việc chuyển đổi giáo viên... có thể giúp chúng ta đến gần hơn với sự phân bổ giáo viên tối ưu nhất cho các trường”.

Những người thay đổi là những người thắng cuộc. Nó dường như công khai chống lại những câu ngạn ngữ cổ về sự bỏ cuộc, và là một phần của những khái niệm mới hơn trong tâm lý học hiện đại.

Nhà tâm lý học Angela Duckworth tiến hành một nghiên cứu nổi bật nhất về việc bỏ cuộc. Cô tìm cách dự đoán xem những học viên mới vào nào sẽ rời bỏ khỏi chương-trình-huấn- luyện-căn-bản-kiêm-định-hướng của Học viện Quân sự Hoa Kỳ, vốn thường được biết đến với tên gọi “Doanh trại quái thú”.

Người ta thiết kế một chương trình nghiêm ngặt cả về thể chất lẫn tinh thần dài sáu tuần rưỡi để chuyển hóa nam thanh nữ tú ở độ tuổi thanh thiếu niên đang trong kỳ nghỉ hè thành những sĩ-quan-đang-huấn-luyện. Các học viên phải tập trung thành đội ngũ từ lúc 5 giờ 30 phút sáng để bắt đầu chạy bộ hoặc tập bài tập thể dục mềm dẻo. Khi ăn sáng trong hội trường ăn tập thể, những học viên mới (hay còn gọi là “plebe” – “những sinh viên năm nhất”) phải ngồi thẳng trên ghế của mình và đưa thức ăn vào miệng, chứ không được quay mặt hướng về phía đĩa ăn. Một học viên lớp trên có thể hỏi dồn. “Con bò thế nào?” là câu hỏi tắt cho câu “Còn lại bao nhiêu sữa?” Học viên năm nhất sẽ học cách trả lời, “Thưa ôngbà, con bò đi bộ, nó ‘nói chuyện’ và đầy phấn khích! Dịch sữa được chiết xuất từ bò cái sinh sôi nảy nở đến mức [thứ n]!” N tượng trưng cho số hộp sữa còn lại trên bàn.

Thời gian trong ngày còn lại là sự pha trộn các hoạt động trong lớp học và hoạt động thể chất, chẳng hạn như ở phòng hơi cay không có cửa sổ, các học viên năm nhất phải cởi chiếc mặt nạ khí ra và đọc lại những dữ kiện trong khi mặt của họ sắp bị đốt cháy. Nôn mửa là chuyện thường tình dù giáo án huấn luyện không yêu cầu như vậy. Đèn tắt vào lúc 10 giờ tối để cho mọi thứ lại bắt đầu vào buổi sáng. Đó là một khoảng thời gian đầy thử thách đối với ý chí của những sinh viên-người lính. Để được vào học viện, tất cả đều phải là sinh viên xuất sắc, nhiều người trong số họ là những vận động viên xuất chúng, và đa số đều phải hoàn tất quá trình nộp hồ sơ trong đó có thư giới thiệu của một nghị sĩ Quốc hội. “Người lười biếng” không đến được với “Doanh trại Quái thú”. Tuy nhiên, một số sẽ phải ra đi trước khi tháng thứ nhất kết thúc.

Duckworth tìm hiểu được rằng Điểm số ứng viên toàn diện – sự hội tụ của các điểm số bài kiểm tra được chuẩn hóa, vị thứ ở trường trung học, các bài kiểm tra về sức khỏe thể lực, và kỹ năng lãnh đạo được minh chứng – là yếu tố quan trọng duy nhất để thu nhận học viên, nhưng nó trở nên vô ích khi muốn dự đoán ai sẽ bỏ cuộc trước khi hoàn tất khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú”. Cô đã nói chuyện với những người có thành tích cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và quyết định sẽ nghiên cứu sự đam mê và sự kiên trì, một sự kết hợp mà cô đã thông minh tạo nên cụm từ “grit” – sự chuyên chú. Cô thiết kế một bảng tự đánh giá bao gồm hai thành phần của sự chuyên chú. Một là đạo đức công việc cần thiết và sự kiên cường, và cái còn lại là “sự nhất quán của sở thích” – định hướng, biết chính xác mình muốn điều gì.

Vào năm 2004, lúc bắt đầu khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú”, Duckworth tiến hành khảo sát sự chuyên chú ở 1.218 học viên năm thứ nhất của kỳ nhập học mới. Họ được yêu cầu chọn mức độ áp dụng từ 1-5 của từng học viên trong bảng so sánh ứng với mỗi câu trong 12 câu phát biểu. Một vài câu phát biểu đơn thuần chỉ là về đạo đức công việc (“Tôi là một người làm việc siêng năng”; “Tôi chăm chỉ”). Những câu khác thăm dò về sự chuyên chú hoặc là tập trung về một mục tiêu (“Tôi thường đặt một mục tiêu nhưng sau đó chọn để theo đuổi một mục tiêu khác”; “Sự quan tâm của tôi thay đổi từ năm này sang năm khác”).

Trong khi Điểm số ứng viên toàn diện thất bại trong việc dự đoán số người bỏ cuộc, chỉ số thang đo sự chuyên chú đã làm tốt hơn. Duckworth mở rộng nghiên cứu sang những lĩnh vực khác như vòng chung kết của cuộc thi Ong Đánh vần Quốc gia Scripps (Scripps National Spelling Bee). Cô nhận ra rằng cả bài kiểm tra IQ vấn đáp và chỉ số chuyên chú đều có thể dự đoán một thí sinh dự thi đánh vần có thể tiến bao xa trong cuộc thi, nhưng chúng có ảnh hưởng riêng biệt nhau. Tốt nhất là nên có cả hai, nhưng thí sinh có điểm số chuyên chú thấp có thể bù lại bằng điểm số IQ vấn đáp cao, và thí sinh với điểm số IQ vấn đáp thấp có thể bù đắp với chỉ số chuyên chú cao hơn.

Công trình lý thú của Duckworth đã sản sinh ra một nghề thủ công, phục vụ cho ngành công nghiệp lớn hơn. Các đội tuyển thể thao, các công ty trong bảng xếp hạng Fortune 500, mạng lưới các trường tư thục, và Bộ Giáo dục Mỹ bắt đầu nhòm ngó bộ chỉ số chuyên chú, nỗ lực phát triển bộ chỉ số này và thậm chí thử nghiệm bộ chỉ số. Duckworth dành được một học bổng của “giải thiên tài” MacArthur cho công trình của cô, nhưng cô đã trả lời một cách thận trọng với những người hâm mộ qua một bài đăng ở mặt sau trang xã luận trên tờ New York Times: “Tôi lo lắng rằng tôi đã vô tình đóng góp vào một quan điểm mà tôi cực lực phản đối: sự đánh giá tính cách mang tính rủi ro cao,” cô viết. Đó không phải là bằng chứng duy nhất cho việc người ta mở rộng và thổi phồng các nghiên cứu về chỉ số chuyên chú vượt quá những bằng chứng vốn có của nó.

Sự thật rằng các học viên được lựa chọn dựa trên Điểm số ứng viên toàn diện dẫn đến một hiện tượng mà các nhà thống kê gọi là “sự giới hạn của phạm vi”. Đó là, bởi các học viên được lựa chọn chính xác theo Điểm số ứng viên toàn diện, một nhóm những người rất giống nhau theo thang điểm Điểm số ứng viên toàn diện đã được chọn ra từ phần còn lại của cộng đồng dân cư. Khi điều đó xảy ra, những biến số khác vốn không phải là một phần của quá trình lựa chọn có thể đột nhiên trở nên quan trọng hơn trong tương quan so sánh. Để sử dụng một phép tương quan so sánh trong thể thao, nó sẽ giống như việc triển khai một nghiên cứu về sự thành công trong môn bóng rổ vốn chỉ bao gồm những cầu thủ trong Giải bóng rổ Chuyên nghiệp nhà nghề Bắc Mỹ (NBA) là đối tượng nghiên cứu; nghiên cứu có thể chỉ ra rằng chiều cao không phải là nhân tố quan trọng dự đoán thành công mà sự quyết tâm mới là nhân tố đó. Tất nhiên giải NBA đã chỉ lựa chọn những nam giới cao từ cộng đồng dân cư chung, vì vậy phạm vi của chiều cao trong nghiên cứu đã bị giới hạn. Như vậy chiều cao tỏ ra không quan trọng giống như nó vốn phải có1.

1. Trong một vài năm, một nhà khoa học nghiên cứu bóng rổ có thể tìm thấy một mối quan hệ nghịch đảo giữa chiều cao của cầu thủ và điểm ghi bàn nếu nhà khoa học đó chỉ nhìn vào những cầu thủ trong giải đấu bóng rổ chuyên nghiệp nhà nghề Bắc Mỹ. Nếu nhà khoa học không thừa nhận rằng phần còn lại của nhân loại nằm ngoài giải đấu bóng rổ chuyên nghiệp nhà nghề Bắc Mỹ đã được lọc ra, anh ấycô ấy có thể khuyên các bậc phụ huynh rằng những đứa trẻ thấp ghi điểm nhiều hơn trong giải đấu bóng rổ chuyên nghiệp nhà nghề Bắc Mỹ.

Tương tự như vậy, khả năng dự đoán mang tính tương đối của chỉ số chuyên chú và những phẩm chất khác trong các học viên Trường Quân sự West Point và những thí sinh cuộc thi ong đánh vần có thể trông không giống nhau ở các quần thể ít giới hạn hơn. Nếu người ta chọn mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên gồm các học sinh tốt nghiệp cấp 3, chứ không chỉ những ai được nhận vào West point, và đánh giá chúng theo Điểm số ứng viên toàn diện, thì sự khỏe mạnh về thể chất, mức xếp loại, và kinh nghiệm lãnh đạo cũng có thể dự đoán sự kiên cường của họ trong “Doanh trại Quái thú”, và có lẽ nhiều hơn cả sự chuyên chú. Duckworth và các đồng nghiệp đồng tác giả của cô, thật đáng ghi nhận, đã chỉ ra rằng với việc nghiên cứu những nhóm người đã được lựa chọn trước rất kỹ, “chúng tôi đã cố tình giới hạn tính giá trị bên ngoài đối với nghiên cứu của chúng tôi”.

Phần lớn các học viên năm nhất đều hoàn thành khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú” cho dù điểm số chuyên chú của họ như thế nào. Trong năm đầu tiên Duckworth quan sát họ, 71 trên tổng số 1.218 học viên bỏ cuộc. Đến năm 2016, 32 trong số 1.308 bỏ cuộc. Câu hỏi sâu xa hơn là liệu việc bỏ cuộc có thể thật sự là một quyết định tốt hay không. Các cựu học viên nói với tôi rằng các học viên bỏ học vì nhiều lý dó, trong thời kỳ “Doanh trại Quái thú” và cả sau đó. “Tôi nghĩ đối với những thiếu niên hoạt động trí não nhiều hơn và hoạt động thể chất ít hơn, quãng thời gian ngắn giúp họ dễ dàng đấu tranh vượt qua để vào năm học chính khóa thứ nhất. Đối với các thiếu niên hoạt động thể chất nhiều hơn, khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú” sẽ trở thành một trong những trải nghiệm tốt nhất đối với họ,” Ashley Nicolas, một cựu sinh viên khóa 09 đang làm việc với vai trò là sỹ quan tình báo ở Afghanistan, bảo tôi. Một số học viên đã vượt qua khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú” mới nhận ra rằng học viện không phải là nơi phù hợp với năng lực và sở thích của họ. “Tôi nhớ rằng có nhiều học viên hơn đã rời trường trong kỳ học đầu tiên khi họ nhận ra rằng họ không thể trụ được với chương trình học. Những ai rời trường trước đây thì hoặc là rất nhớ nhà hoặc là nhận ra rằng họ không phù hợp. Đa số những trường hợp trong nhóm sau dường như là những thiếu niên chịu áp lực phải vào Trường West Point mà bản thân họ không thật sự mong muốn.” Nói một cách khác, một số nhỏ những học viên đã bỏ học thời kỳ khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú”, thay vì thất bại do thiếu bền bỉ, số ít trong họ đơn thuần chỉ là phản ứng với thông tin phẩm chất phù hợp – họ không phải là người phù hợp.

Tương tự như thế, một vài người có thể bắt đầu ghi nhớ những từ gốc cho cuộc thi Những chú ong đánh vần và nhận ra rằng đó không phải là cách họ muốn dành thời gian của mình. Đó có thể là một vấn đề của sự chuyên chú, hoặc nó có thể là một quyết định được thực hiện để phản ứng với thông tin về phẩm chất phù hợp mà họ không thể lượm lặt nếu không thử.

Giáo sư kinh tế và thống kê Robert A. Miller của Đại học Carnegie Mellon đã mô hình hóa việc chọn nghề nghiệp – và việc quyết định theo học tại học viện quân sự là một quyết định nghề nghiệp quan trọng – như là “một quá trình với tên cướp nhiều tay”. “Tên cướp một tay” là tiếng lóng của máy đánh bạc. Quá trình với tên cướp nhiều tay nói đến một tình huống giả định: Một người đánh bạc độc thân đang ngồi trước dãy dài các máy đánh bạc, mỗi chiếc máy có xác suất phần thưởng độc nhất với một lần kéo máy; thách thức của người chơi bạc là thử nghiệm với các máy khác nhau và cố gắng tìm ra cách kéo máy tốt nhất để có nhiều phần thưởng nhất. Miller chỉ ra rằng quá trình đối với phẩm chất phù hợp cũng giống như vậy. Một cá nhân bắt đầu không có kiến thức, sau đó thử nghiệm nhiều con đường khác nhau theo cách sẽ đem lại thông tin càng nhanh càng tốt, và ngày càng hiệu chỉnh quyết định nơi nào cần tập trung nhiều năng lượng. Cụm từ “trẻ và khờ khạo”, ông ấy viết, mô tả xu hướng ở người trẻ khi bị hút về các công việc rủi ro, nhưng nó không khờ khạo chút nào. Đó là lý tưởng. Họ có ít kinh nghiệm hơn so với những người làm việc đã có tuổi, và vì vậy những con đường mà họ thử là những nơi có rủi ro cao và phần thưởng, và có những giá trị về thông tin cao. Nỗ lực để trở thành một vận động viên, hoặc diễn viên chuyên nghiệp, hay thành lập một công ty khởi nghiệp sinh lợi khó có thể thành công, nhưng phần thưởng tiềm tàng thì cực kỳ cao. Nhờ vào việc có phản hồi thường xuyên và quá trình đào thải không khoan dung, những ai đã thử sẽ nhanh chóng biết được liệu bản thân có phù hợp hay không, ít nhất là so sánh tương đồng với những công việc ít có phản hồi thường xuyên. Nếu họ thấy không phù hợp, họ sẽ đi thử nghiệm với chỗ khác, và liên tục có được thông tin về những sự lựa chọn của họ và bản thân họ.

Seth Godin, tác giả của một số đầu sách viết về nghề nghiệp nổi tiếng nhất trên thế giới, đã viết một cuốn sách chỉ trích ý tưởng “người bỏ cuộc không bao giờ thắng”. Godin tranh luận rằng “những người thắng cuộc” – thường được ông ngụ ý là những cá nhân đã đạt đến đỉnh cao trong lĩnh vực của họ – bỏ việc nhanh và thường xuyên khi họ phát hiện rằng một kế hoạch không phải là phù hợp nhất, và không cảm thấy việc đó tồi tệ. “Chúng ta thất bại”, ông viết, khi chúng ta cứ dính liền với “những nhiệm vụ mà chúng ta không có can đảm để từ bỏ”.

Godin rõ ràng không ủng hộ việc từ bỏ đơn thuần là vì việc theo đuổi là khó khăn. Kiên trì bước qua khó khăn là một điểm thuận lợi mang tính cạnh tranh cho bất kỳ người lữ hành nào trên một con đường dài, nhưng ông đề xuất rằng biết được khi nào nên từ bỏ là một sự thuận lợi mang tính chiến lược lớn đến nỗi mà mỗi một con người, trước khi bắt đầu một sự nỗ lực, nên liệt kê những điều kiện mà có nó thì họ nên từ bỏ. Mẹo quan trọng là, ông nói, cần biết được rằng liệu chuyển đổi đơn giản chỉ là sự thất bại của tính bền bỉ hay là sự nhận biết một cách khôn ngoan rằng có những cái phù hợp hơn đang tồn tại.

“Doanh trại Quái thú” thật sự hoàn hảo cho cách tiếp cận tướng cướp nhiều tay đối với việc bỏ cuộc. Một nhóm những người có thành tích cao, không một người nào có chút kinh nghiệm quân sự, kéo “đòn bẩy” West Point, có thể nói như vậy. Điều đó có nghĩa là, họ bắt đầu một chương trình nguy cơ cao, phần thưởng cao và từ tuần một có một tín hiệu thông tin rất lớn về việc liệu kỷ luật quân độ là phù hợp đối với họ hay không. Đa số phần lớn sẽ chịu đựng đến cùng, nhưng việc mong đợi mỗi một thành viên của nhóm đông đảo thanh niên trẻ tuổi hiểu chính xác họ đang tham gia vào việc gì là không thực tế. Liệu những người thay vì rời chương trình, có nên ở lại cho đến khi kết thúc hay không? Có lẽ, nếu họ bỏ cuộc trong một phút đơn giản chỉ vì hoảng loạn, hơn là vì họ có sự đánh giá lại tương lai mà họ muốn trong bối cảnh có thông tin mới về cuộc đời trong quân ngũ. Nhưng có lẽ nhiều người cũng nên bỏ cuộc sớm hơn.

Để đổi lại năm năm cam kết phục vụ tích cực trong quân ngũ, mỗi học viên trường West Point nhận được một học bổng trị giá nửa triệu đô-la từ tiền đóng thuế. Điều đó giải thích tại sao quân đội cảm thấy đặc biệt khó chịu khi từ giữa thập niên 1990, khoảng một nửa các học viên tốt nghiệp trường West Point đã rời khỏi quân ngũ sau năm năm, tức là ngay sau khi được cho phép. Mất năm năm để bù lại chi phí phát triển cho một sĩ quan được huấn luyện. Ba phần tư sẽ ra đi trước mốc 20 năm phục vụ, có nghĩa là họ sẽ có khoản lương hưu trọn đời khi họ ở vào độ tuổi đầu 40.

Một công trình nghiên cứu năm 2010 do Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân đội xuất bản đã cảnh báo rằng triển vọng cho sĩ quan quân đội “đã bị che mờ trước những ích lợi ngày càng giảm đối với khoản đầu tư này, bằng chứng là giảm mạnh tỷ lệ giữ chân sĩ quan cấp đại đội”.

Các học viên West Point đã tham gia vào “Doanh trại Quái thú” và một chương trình học đầy thách thức, rồi sau đó rời đi, với tỷ lệ cao nhất trong tất cả các chương trình đào tạo sĩ quan, nhiều hơn các sĩ quan đã qua ROTC (đào tạo sĩ quan trong khi ghi danh tại một trường đại học phi quân sự), hoặc Trường Sĩ quan Ứng viên (OCS), nơi đào tạo thường dân tốt nghiệp đại học hoặc nhập ngũ để trở thành sĩ quan. Đầu tư vào đào tạo sĩ quan gần đây đã xuất hiện bất cập: Thực tập sinh OCS ở lại lâu nhất, theo sau là các thực tập sinh ROTC, người không nhận được bất kỳ học bổng đại học nào, tiếp theo là các thực tập sinh ROTC đã nhận được học bổng hai năm, sau nữa là các thực tập sinh ROTC với học bổng ba năm, cuối cùng cũng theo sau bởi sinh viên tốt nghiệp West Point và học viên ROTC học bổng toàn phần. Quân đội càng có khả năng xác định ai đó trở thành một sĩ quan tương lai thành công và chi tiền cho họ, càng có nhiều khả năng họ rời đi ngay khi có thể. Mục tiêu của quân đội là phát triển sự nghiệp cho các sĩ quan cao cấp, không chỉ đơn giản là những người tồn tại và vượt qua khóa huấn luyện tại “Doanh trại Quái thú”. Từ quan điểm của quân đội, đây là một kết quả ngược với sự mong đợi.

Mô thức đó đạt đến một tỷ lệ mà một sĩ quan cao cấp quyết định rằng West Point thực sự tạo ra những kẻ bỏ cuộc và tuyên bố rằng quân đội nên giảm đầu tư vào “một tổ chức đào tạo học viên rời khỏi quân đội”.

Rõ ràng, cả học viện lẫn ROTC đều không đào tạo các học viên bỏ cuộc. Có phải các học viên đột nhiên mất đi sự chuyên chú đã đưa họ vượt qua “Doanh trại Quái thú”? Cũng không phải như vậy. Các tác giả của công trình nghiên cứu– một thiếu tá, một trung tá đã nghỉ hưu, và một đại tá, tất cả đều là giáo sư hoặc cựu giáo sư tại West Point đã xác định chính xác vấn đề như một câu hỏi hóc búa về phẩm chất phù hợp. Quân đội nghĩ rằng một sĩ quan tương lai càng giỏi, càng có nhiều khả năng sĩ quan đó được cấp học bổng. Và khi những người nhận học bổng chăm chỉ và tài năng này nở rộ thành những chuyên gia trẻ tuổi, họ có xu hướng nhận ra rằng họ có rất nhiều lựa chọn nghề nghiệp ngoài quân đội. Cuối cùng, họ quyết định đi thử thứ khác. Nói cách khác, họ đã học được nhiều điều cho bản thân ở tuổi đôi mươi và trả lời bằng cách đưa ra quyết định về phẩm chất phù hợp.

Việc chảy máu chất xám các sĩ quan của học viện bắt đầu trở nên ồ ạt trong những năm 80, trong quá trình chuyển đổi quốc gia sang nền kinh tế tri thức. Đến thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, việc chảy máu chất xám trở thành một dòng thác lũ. Quân đội bắt đầu cung cấp tiền thưởng giữ chân – thanh toán tiền mặt cho các sĩ quan trẻ nếu họ đồng ý phục vụ một vài năm nữa. Nó tiêu tốn của người nộp thuế 500 triệu đô-la, và là một sự lãng phí lớn. Các sĩ quan dự định ở lại dù sao cũng đã lấy nó, và những người đã lên kế hoạch rời đi thì không. Quân đội đã học một bài học khó: vấn đề không phải là tài chính mà chính là sự phù hợp.

Trong thời đại công nghiệp, hay thời đại “nhân viên văn phòng”, như các tác giả công trình nghiên cứu đã gọi nó, “những công ty chuyên môn hóa cao độ”, với những nhân viên thường giải quyết một loạt thách thức được lặp lại. Cả văn hóa của thời đại – những khoản tiền trợ cấp có ở mọi nơi và chuyển đổi công việc có thể được xem là sự không trung thành – và chuyên môn hóa là những rào cản đối với sự di chuyển của nhân viên bên ngoài công ty. Thêm vào đó, có rất ít động lực đối với các công ty tuyển dụng từ bên ngoài khi nhân viên thường xuyên gặp những môi trường học tập thuận lợi, kiểu mà kinh nghiệm đơn độc lặp đi lặp lại dẫn đến sự cải thiện. Đến những năm 1980, văn hóa doanh nghiệp đã thay đổi. Nền kinh tế tri thức tạo ra “nhu cầu vượt trội cho… nhân viên có tài năng về khái niệm hóa và sáng tạo tri thức”. Những kỹ năng khái niệm rộng bây giờ đã giúp trong một loạt các công việc, và đột nhiên việc kiểm soát quỹ đạo nghề nghiệp chuyển từ người sử dụng lao động, người nhìn vào bên trong nấc thang cơ hội, sang nhân viên, người nhìn ra một mạng lưới khả năng rộng lớn. Trong khu vực tư nhân, một thị trường nhân tài hiệu quả nhanh chóng nổi lên khi người lao động chuyển đổi liên tục để theo đuổi phẩm chất phù hợp. Trong khi thế giới thay đổi, quân đội vẫn còn mắc kẹt với nấc thang của thời đại công nghiệp.

Các giáo sư West Point giải thích rằng quân đội, giống như nhiều tổ chức quan liêu khác, đã bỏ lỡ các thị trường phẩm chất phù hợp. “Ở đó không có cơ chế thị trường để phù hợp với tài năng”, họ viết. Khi một sĩ quan cấp thấp đổi hướng và rời khỏi quân đội, nó không phải là dấu hiệu mất động lực. Nó báo hiệu rằng một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển cá nhân đã thay đổi hoàn toàn mục tiêu của người sĩ quan. “Tôi chưa bao giờ gặp một người bạn cùng lớp rời khỏi quân đội và hối hận về điều đó”, Ashley Nicolas, cựu sĩ quan tình báo, nói. Cô tiếp tục trở thành một giáo viên Toán và sau đó là một luật sư. Cô nói thêm rằng tất cả đều biết ơn trải nghiệm này, mặc dù nó đã không trở thành sự nghiệp cả đời.

Trong khi khu vực tư nhân điều chỉnh theo nhu cầu đang phát triển cao về phẩm chất phù hợp, quân đội lại “ném” tiền vào người dân. Mặc dù vậy, nó đã bắt đầu có những thay đổi tinh tế. Tổ chức với nhiều hệ thống cấp bậc nhất đó bắt đầu thành công trong việc chấp nhận sự linh hoạt phù hợp. Chương trình về sự hài lòng với nghề nghiệp sĩ quan được thiết kế để sinh viên tốt nghiệp ROTC và West Point có thể kiểm soát quá trình phát triển nghề nghiệp của riêng họ nhiều hơn. Để đổi lại thêm ba năm hoạt động tích cực, chương trình đã tăng số lượng sĩ quan có thể chọn một chi nhánh (bộ binh, tình báo, kỹ thuật, nha khoa, tài chính, thú y, công nghệ truyền thông, và nhiều lĩnh vực khác), hoặc một vị trí địa lý. Trong khi số tiền trao thưởng cho sĩ quan cấp dưới tỏ ra không hiệu quả chút nào, việc tạo điều kiện cho phẩm chất phù hợp đã thành công. Trong bốn năm đầu của chương trình, 4.000 học viên đã đồng ý gia hạn các cam kết phục vụ của họ để đổi lấy sự lựa chọn.1

1. Quân đội cũng bắt đầu một quy trình gọi là “phân nhánh dựa trên tài năng”, trong đó họ làm việc với các học viên và sĩ quan trẻ để giúp họ đánh giá tài năng và mối quan tâm của bản thân khi họ đang tham gia quá trình huấn luyện. Ý tưởng là để cải thiện phẩm chất phù hợp nghề nghiệp của họ. Đại tá Joanne Moore đề cập trong một bài thuyết trình năm 2017 rằng những công việc mà các học viên khi tham gia quân đội mơ ước thường chứng tỏ không phải là một sự phù hợp tuyệt vời. Họ chỉ nhận ra rằng sau khi thử, vì vậy khả năng chuyển đổi là rất quan trọng để tối ưu hóa phẩm chất phù hợp.

Nó chỉ là một bước nhỏ. Khi Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter đến thăm West Point vào năm 2016 và có cuộc gặp gỡ với các sinh viên, ông liên tục bị chất vấn bởi những học viên kỳ cựu lâu nay vẫn quan ngại rằng con đường binh nghiệp cứng nhắc không cho phép họ thay đổi công việc phù hợp với sự phát triển của bản thân. Carter đã cam kết quyết liệt sẽ định hình lại cách quản lý con người theo kiểu thời kỳ công nghiệp trong quân đội vốn theo mô hình nghiêm ngặt “lên trên nữa hoặc ra ngoài” sang một mô hình cho phép các sĩ quan cơ hội cải thiện phẩm chất phù hợp của chính họ khi họ phát triển.

Khi họ tốt nghiệp trung học, với số ít kỹ năng và ít tiếp xúc với một thế giới của các lựa chọn nghề nghiệp, những học viên West Point có thể dễ dàng đã trả lời “Không giống tôi chút nào” đối với câu phát biểu trên Thang điểm chuyên chú: “Tôi thường đặt mục tiêu nhưng sau đó chọn theo đuổi một mục tiêu khác.” Vài năm sau đó, khi có thêm kiến thức về kỹ năng và sở thích của họ, chọn theo đuổi một mục tiêu khác không còn là con đường không chuyên chú; đó là một lựa chọn thông minh.

______

Nghiên cứu về sự chuyên chú hấp dẫn tôi một cách cảm tính. Trong cách sử dụng từ này theo lối phi khoa học và thông tục, tôi có xu hướng nghĩ rằng tôi có rất nhiều tính cách đó. Sau khi chạy bộ và chơi bóng bầu dục, bóng rổ và bóng chày tại một trường trung học công lập lớn – và tôi chỉ cao 1m68 – tôi gia nhập đội chạy số 1 đại học và trở thành vận động viên chạy 800m.

Thành tích của tôi đã không tiệm cận với người chạy 800m tệ nhất trong đội sinh viên năm nhất của trường; tôi đã “oanh liệt” giành được danh hiệu người tệ nhất. Tôi được phép tiếp tục luyện tập với đội vì dù sao không được chọn đi huấn luyện hoặc thi đấu xa thì cũng chẳng tiêu tốn gì cả, kể cả giày được phát cho các tân binh. Khi nhóm huấn luyện đến Nam Carolina để tập luyện trong kỳ nghỉ xuân, tôi ở lại trong khuôn viên yên tĩnh kỳ lạ của trường đại học chứ không về nhà, để không mất tập trung lúc luyện tập. Tôi chật vật với việc tập luyện trong hai năm, khổ sở vì những bài tập gây nôn mửa và các cuộc đua làm người tôi bầm dập, trong khi các tân binh sáng giá lại bỏ cuộc và được thay thế bởi những người khác. Có rất nhiều ngày (tuần, cả tháng hoặc cả ba thời điểm đó) tôi cảm thấy có lẽ nên bỏ cuộc. Nhưng tôi đã tiếp cận được loại hình huấn luyện phù hợp với mình và đã tiến bộ. Trong mùa thi đấu vào năm cuối đại học, tôi đã phá vỡ kỷ lục Top 10 vận động viên hàng đầu trong mọi thời đại của trường đại học ở các bộ môn thi đấu trong nhà, và là thành viên của đội tuyển tiếp sức đã tạo nên kỷ lục của trường đại học. Người duy nhất trong lớp tôi giữ kỷ lục đại học là bạn cùng phòng gan góc của tôi, một vận động viên dự bị khác. Gần như toàn bộ thành viên được tuyển vào cùng năm với chúng tôi đều bỏ cuộc. Vui vẻ thay, tôi đã được trao Giải thưởng tưởng niệm Gustave A. Jaeger dành cho vận động viên “đạt thành tích thể thao đáng kể mặc dù phải đối mặt với thử thách và khó khăn bất thường” – “thử thách và khó khăn bất thường” của tôi chính là thành tích hết sức tệ hại lúc bắt đầu. Sau lễ trao giải, huấn luyện viên trưởng, người mà tôi ít nói chuyện trực tiếp vì là vận động viên dự bị, chia sẻ rằng ông ấy cảm thấy tiếc cho tôi khi chỉ được xem tôi tập luyện vào năm thứ nhất.

Không có gì đặc biệt về câu chuyện đó – nó xảy ra ở bất cứ đội tuyển nào. Nhưng tôi nghĩ nó cho thấy cách tiếp cận công việc của tôi. Tuy nhiên, tôi đã ghi điểm ở phân vị thứ 50 trên “Thang đo chuyên chú” so với người trưởng thành ở Mỹ. Tôi đã ghi điểm khi đánh giá bản thân là một nhân viên rất chăm chỉ và không nản lòng trước thất bại, nhưng tôi đã bỏ lỡ rất nhiều điểm khi thú nhận rằng “sở thích của tôi thay đổi từ năm này sang năm khác” và, giống như rất nhiều sinh viên tốt nghiệp ở West Point, đôi khi tôi “đặt mục tiêu nhưng sau đó chọn theo đuổi một mục tiêu khác”. Khi tôi 17 tuổi và lạc quan rằng tôi sẽ đến Học viện Không quân Hoa Kỳ để trở thành một phi công và sau đó trở thành một phi hành gia, có lẽ tôi đã tự đánh giá mình ở bậc cao nhất trong “Thang đo chuyên chú”. Tôi đã tìm mọi cách để đề nghị nghị sĩ Sidney Yates ở khu vực Chicago đồng ý viết thư tiến cử.

Nhưng tôi chưa bao giờ làm điều đó. Thay vào đó, vào phút cuối tôi đã thay đổi quyết định và chọn trường đại học khác để theo học khoa học chính trị. Tôi học một lớp khoa học chính trị, và cuối cùng học chuyên ngành chính về trái đất và khoa học môi trường và chuyên ngành phụ về thiên văn học, với ý định chắc chắn rằng tôi sẽ trở thành một nhà khoa học. Tôi đã làm việc trong phòng thí nghiệm suốt thời gian học đại học và sau khi tốt nghiệp để rồi nhận ra tôi không phải là loại người muốn dành cả đời để học một hoặc hai điều mới mẻ đối với thế giới, mà thay vào đó tôi là kiểu người không ngừng học hỏi những điều mới mẻ và chia sẻ chúng. Tôi đã chuyển từ khoa học sang báo chí; công việc đầu tiên của tôi là một phóng viên đường phố lúc nửa đêm ở thành phố New York (không có gì thú vị khi tường thuật xảy ra từ nửa đêm đến 10 giờ sáng cho tờ Tin tức hàng ngày ở New York). Kiến thức của bản thân tăng lên ngày càng thay đổi mục tiêu và sở thích cho đến khi tôi bắt đầu sự nghiệp với mục tiêu chính là điều tra những mối quan tâm rộng rãi. Về sau khi tôi làm việc tại Sports Illustrated, những sinh viên quyết tâm hỏi tôi để làm việc tại Sports Illustrated thì nên học báo chí hay học tiếng Anh tốt hơn. Tôi nói với họ rằng tôi không có ý kiến gì, nhưng tôi tin rằng một khóa học thống kê hoặc sinh học không bao giờ gây hại.

Tôi không nghĩ rằng tôi đã trở nên ít đam mê hoặc kiên cường hơn theo thời gian, tôi cũng không nghĩ rằng tất cả những cựu học viên West Point rời khỏi quân đội mất đi động lực đã đưa họ đến đó từ những buổi đầu. Tôi đồng tình với ý kiến rằng sự chuyên chú sẽ có khả năng dự đoán mạnh mẽ cho các học viên cố gắng vượt qua kỳ định hướng nghiêm ngặt của họ, hoặc cho một mẫu học sinh hoặc thí sinh thi Ong đánh vần. Những người rất trẻ thường có người khác đặt mục tiêu cho họ hoặc ít nhất là có một danh mục giới hạn để lựa chọn và việc theo đuổi chúng với niềm đam mê và sự kiên cường là thách thức chính. Tương tự với những vận động viên chạy 800m. Một trong những khía cạnh hấp dẫn của các mục tiêu thể thao là chúng được đo lường một cách rõ ràng và đơn giản. Vào cuối tuần cuối cùng của Thế vận hội mùa đông 2018, Sasha Cohen, một vận động viên đoạt huy chương bạc năm 2006 môn trượt băng nghệ thuật, đã viết một bài báo với lời khuyên cho các vận động viên nghỉ hưu. “Các vận động viên Olympic cần phải hiểu rằng các quy tắc trong cuộc sống khác với các quy tắc trong thể thao,” cô viết. “Đúng, phấn đấu để hoàn thành một mục tiêu cao cả nhất mỗi ngày có nghĩa là bạn có sự chuyên chú, quyết tâm và kiên cường. Nhưng khả năng tối đa hóa bản thân cả về tinh thần và thể chất trong thi đấu khác với những thử thách mới đang chờ đợi bạn. Vì vậy, sau khi bạn nghỉ hưu, hãy đi du lịch, làm thơ, cố gắng bắt đầu tự kinh doanh riêng, đi ra ngoài chơi hơi muộn một chút, dành thời gian cho một cái gì đó không có một mục tiêu rõ ràng lắm.” Trong thế giới rộng lớn của công việc, việc tìm kiếm một mục tiêu với phẩm chất phù hợp ngay từ đầu là thách thức lớn hơn và kiên trì vì lợi ích từ sự kiên trì lại có thể gây cản trở.

Một cuộc khảo sát quốc tế gần đây của Viện Gallup với hơn 200.000 công nhân ở 150 quốc gia đã báo cáo rằng 85% “không hòa hợp” với công việc của họ hoặc “chủ động rời xa”. Trong điều kiện đó, theo Seth Godin, việc từ bỏ công việc cần nhiều nỗ lực hơn so với tiếp tục làm việc như những mảnh vụn phó mặc cho sóng biển. Vấn đề Godin lưu ý là con người bị đắm đuối bởi “sự ngụy biện của chi phí chìm”. Khi đã đầu tư thời gian hoặc tiền bạc vào một cái gì đó, chúng ta rất ghét rời khỏi nó, bởi vì điều đó có nghĩa là chúng ta đã lãng phí thời gian hoặc tiền bạc của mình, mặc dù nó đã biến mất. Nhà văn, tiến sĩ tâm lý học, và người chơi bài xì phé chuyên nghiệp Maria Konnikova đã giải thích trong cuốn sách The Confidence Game (Trò chơi tự tin) của cô ấy về cách tư duy chi phí chìm bám chặt quá sâu đến mức người lừa gạt biết bắt đầu bằng cách trao cho đối tượng của họ cho một số ưu đãi nhỏ hoặc đầu tư trước khi tiến tới yêu cầu lớn. Một khi đối tượng đã đầu tư năng lượng hoặc tiền bạc, thay vì tránh xa các chi phí chìm, anh ta sẽ tiếp tục đầu tư, nhiều hơn cả mức anh ta muốn, ngay cả khi, bất kỳ nhà quan sát duy lý nào cũng thấy được thảm họa sắp sửa xảy ra. “Khi chúng ta đầu tư càng nhiều và thậm chí thua lỗ,” Konnikova viết, “chúng ta càng cố khăng khăng rằng tất cả sẽ được giải quyết êm đẹp.”

Steven Naifeh đã dành một thập kỷ để nghiên cứu về cuộc đời của Van Gogh, vì vậy tôi đã yêu cầu ông ấy thay mặt họa sĩ điền vào bảng câu hỏi chuyên chú. Đạo đức làm việc của Van Gogh kéo dài đức tin của chính mình. Ông say sưa với một hình ảnh của cha mình đã sử dụng trong một bài giảng của người gieo hạt, người phải làm việc ngay bây giờ để cậu có thể gặt hái sau này. “Hãy nghĩ về tất cả mọi việc những kẻ thiển cận đã khước từ”, Dorus van Gogh giảng đạo. Ông ấy gọi hình ảnh đó, như Naifeh và Smith đã viết, “như một tuyệt phẩm của sự kiên trì khi đối mặt với nghịch cảnh”. Trong mọi công việc ông làm, Vincent đều bị thuyết phục rằng nếu ông làm việc hết mình với mọi người xung quanh, ông sẽ thành công. Nhưng rồi ông thất bại. Sự quan tâm của ông không ngừng thay đổi. Ngay cả khi ông đã tự đặt mình là một họa sĩ, ông dành tất cả năng lượng của mình cho một phong cách hoặc phương thức để rồi lại hoàn toàn phủ nhận nó ngay sau đó. Naifeh và Smith đã sử dụng một cụm từ thanh lịch để mô tả niềm đam mê dễ thay đổi của Van Gogh: “sách Phúc âm được thay đổi”. Câu phát biểu trong “Thang điểm Chuyên chú”: “Tôi đã bị ám ảnh bởi một ý tưởng nhất định hoặc dự án trong một thời gian ngắn nhưng sau đó mất hứng thú,” chính là Van Gogh nói một cách ngắn gọn, ít nhất là cho đến những năm cuối đời khi ông đã chọn phong cách độc đáo và phun trào sáng tạo. Van Gogh là một ví dụ về tối ưu hóa phẩm chất phù hợp, quá trình tên cướp nhiều tay của Robert Miller đã hiện thực hóa trong cuộc sống. Ông đã thử nghiệm các lựa chọn với cường độ điên cuồng và có tối đa các tín hiệu thông tin về sự phù hợp của ông càng nhanh càng tốt. Sau đó ông chuyển qua một cái gì đó khác và lặp đi lặp lại, cho đến khi ông đi ngoằn ngoèo tìm đường đến một nơi chưa từng ai đến, nơi một mình ông trở nên xuất sắc. “Thang điểm Chuyên chú” của Van Gogh, theo đánh giá của Naifeh, đã có nhiều điểm nhờ sự chăm chỉ nhưng thấp điểm vì ít gắn bó với mỗi mục tiêu hay dự án. Ông nằm ở nhóm phân vị thứ 40.

Bắt đầu từ năm 2017, tôi có vinh dự lớn khi được mời làm việc với các cựu chiến binh để xem xét các đơn nộp cho Pat Tillman Foundation, tổ chức mà tôi đã bắt đầu đến nói chuyện vào năm 2015 và trao học bổng cho các cựu chiến binh, các quân nhân đang làm nghĩa vụ tích cực và vợ chồng quân nhân. Rất nhiều lá đơn đến từ cựu học viên West Point đầy tham vọng.

Các bài luận rất hấp dẫn và truyền cảm hứng. Gần như mỗi bài đều nói về một số bài học kinh nghiệm được học ở Afghanistan, hoặc về một đội cứu hộ bão trong nước, hoặc trong khi dịch các ngôn ngữ dưới áp lực, hoặc như một người phối ngẫu di chuyển nhiều lần và sắp xếp các dịch vụ cho vợ chồng quân nhân khác, hoặc thậm chí trong khi ngày càng trở nên bực mình với một số khía cạnh của xung đột quân sự hoặc nạn quan liêu. Điểm mấu chốt là một số kinh nghiệm không lường trước được đã dẫn đến một mục tiêu mới bất ngờ hoặc sự khám phá một tài năng chưa được khai phá.

Các ứng viên nhận được tài trợ tham gia cộng đồng các học giả Tillman, nhóm những người thành công cao vốn lo lắng đến việc thay đổi hướng đi muộn hơn so với các đồng nghiệp của họ đã giúp truyền cảm hứng cho cuốn sách này. Thảo luận về việc chuyên môn hóa muộn thực sự đã giải tỏa sự lo lắng của họ về việc có nên dành thời gian để làm và học những thứ mà họ sẽ vô cùng biết ơn vì đã làm và đã học nó.

Chẳng ai khôn ngoan mà lại đi tranh luận rằng đam mê và kiên trì là những đức tính không quan trọng, hoặc nên nghỉ việc đi khi không còn thấy hứng thú nữa. Nhưng quan niệm cho rằng người ta không thể nào thành thạo hoặc cạnh tranh được khi thay đổi sở thích hoặc chuyển đổi nghề nghiệp giữa chừng thường dẫn đến xu hướng mọi người chỉ làm theo mô hình đơn giản, “rập khuôn” của Tiger: chọn một lĩnh vực và theo đuổi nó trong suốt cuộc đời, càng sớm càng tốt. Sau những trải nghiệm của cuộc sống, quyết định chuyển hướng sự nghiệp sẽ khá khó khăn nhưng nó là một quyết định quan trọng. Chẳng hạn như Van Gogh đã mất một thời gian khá lâu mới định hình được mục tiêu cuộc đời mình, hoặc như các học viên tốt nghiệp Trường West Point mãi sau này mới phát hiện ra được tài năng thật sự của mình khi nền kinh tế tri thức ra đời. Nó liên quan đến một hành vi cụ thể giúp bạn có cơ hội tìm kiếm hướng đi phù hợp nhất cho bản thân, tuy nhiên thoạt tiên thì nó nghe như là một chiến lược không hiệu quả lắm cho việc phát triển bản thân: lập kế hoạch ngắn hạn.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.