THỊ TRẤN DUNEDIN nằm trên một bán đảo trập trùng đồi núi nhô ra ở phía nam Thái Bình Dương trên đảo Nam của New Zealand. Bán đảo này nổi tiếng với chim cánh cụt mắt vàng, con đường dân sinh dốc nhất thế giới là niềm tự hào của thị trấn này. Ở đây còn có Đại học Otago – đại học lâu đời nhất ở New Zealand, và là nơi làm việc của James Flynn, một giáo sư nghiên cứu chính trị từng thay đổi quan điểm về tư duy của các nhà tâm lý học.
Năm 1981, ông bắt tay vào nghiên cứu sau khi bị cuốn hút bởi một báo cáo về chỉ số IQ của lính Mỹ trong Thế Chiến I và II công bố 30 năm trước. Báo cáo chỉ ra rằng những người lính trong Thế Chiến II có chỉ số thông minh cao hơn rất nhiều. Nếu một người lính trong Thế Chiến I có thể đạt được điểm số trung bình so với các đồng đội của mình – tức thuộc nhóm phân vị1 50 – thì chỉ số của họ chỉ tương ứng với phân vị 22 khi so sánh với những người lính trong Thế Chiến II. Flynn tự hỏi liệu rằng dân thường cũng có sự cải thiện tương tự chăng. “Tôi cho rằng, nếu chỉ số IQ từng được cải thiện ở một nơi nào đó,” ông ấy nói với tôi, “thì điều đó ắt đã xảy ra khắp mọi nơi rồi.” Nếu ông ấy đúng, các nhà tâm lý học đã bỏ lỡ một điều vô cùng lớn lao ngay trước mắt mình.
1. Percentile: phân vị, dùng để phân vị trí, phân chất lượng, đẳng cấp. Con số càng cao thì càng thể hiện vị trí cao, chất lượng cao, đẳng cấp cao, với 99 là số cao nhất và 1 là số thấp nhất. (ND)
Flynn viết thư cho các nhà nghiên cứu ở các nước khác để hỏi han về những dữ liệu liên quan. Một ngày thứ Bảy u ám của tháng 11 năm 1984, ông tìm thấy một lá thư trong hộp thư ở trường đại học. Lá thư đến từ một nhà nghiên cứu người Hà Lan cung cấp chỉ số IQ của nam giới trẻ tuổi trong nhiều năm ở Hà Lan dưới dạng dữ liệu thô. Dữ liệu lấy từ một bài kiểm tra có tên gọi “Những ma trận lũy tiến của Raven”, vốn được thiết kế để đánh giá khả năng thấu hiểu sự phức tạp của người tham gia. Mỗi câu hỏi trong bài kiểm tra bao gồm một bộ hình thiết kế trừu tượng đã bị khuyết đi một miếng. Người tham gia có nhiệm vụ tìm cách bổ sung hình ảnh còn lại để hoàn thành bộ hình. Bài kiểm tra được Raven ấp ủ sẽ trở thành phiên bản thu hẹp của một bài kiểm tra “bỏ qua yếu tố văn hóa”; kết quả thu được sẽ không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố được hình thành qua thời gian, bên trong hay bên ngoài nhà trường. Nếu người sao Hỏa có đáp xuống mặt đất, bài kiểm tra của Raven vẫn có khả năng đánh giá mức độ thông minh của họ. Và Flynn ngay lập tức nhận ra rằng chỉ số thông minh của nam giới trẻ tuổi Hà Lan ở thế hệ sau đã cải thiện hơn nhiều so với thế hệ trước.
Flynn còn tìm ra nhiều manh mối hơn trong cẩm nang tham khảo của bài kiểm tra. Tất cả bài kiểm tra chỉ số thông minh đều được chuẩn hóa để điểm số trung bình luôn luôn là 100 (chúng được xếp loại dựa trên một đường cong, trong đó điểm số 100 nằm ở giữa). Flynn nhận thấy bài kiểm tra phải được tái chuẩn hóa theo thời gian để giữ cho điểm số trung bình luôn là 100, vì những người tham gia ngày càng trả lời đúng nhiều câu hỏi hỏi hơn. Trong vòng 12 tháng kể từ khi nhận được lá thư từ Hà Lan, Flynn đã thu thập được dữ liệu từ 14 nước. Mỗi một bộ dữ liệu đều cho thấy chỉ số IQ cải thiện rất nhiều so với trước đây ở cả trẻ em và người lớn. Theo Flynn, “kể từ khi sinh ra, thế hệ sau đã có lợi thế hơn thế hệ trước”.
Flynn đã đưa ra đúng câu hỏi. Chỉ số thông minh đã được cải thiện ở khắp nơi. Trước đây, các nhà nghiên cứu khác cũng đã tình cờ xem qua các dữ liệu tương tự, nhưng không một ai, thử kiểm tra liệu chúng có phải là một xu hướng toàn cầu không, thậm chí cả những người phải điều chỉnh hệ thống tính điểm kiểm tra chỉ số thông minh để giữ mức trung bình luôn là 100. “Là người ngoài ngành”, Flynn nói với tôi, “tôi vô cùng ngạc nhiên về mọi thứ và tôi cho rằng những người được đào tạo về tâm lý học phải thừa nhận nó.”
_____
Hiệu ứng Flynn – chỉ ra số lượng câu trả lời đúng trong bài kiểm tra IQ ngày càng tăng qua từng thế hệ của thế kỷ XX – hiện đã được ghi nhận ở hơn 30 nước. Số điểm tăng lên rất đáng chú ý: cứ 10 năm, tăng 3 điểm. Hay nói cách khác, chỉ số thông minh của một người trưởng thành thuộc nhóm trung bình ngày nay sẽ nhằm trong nhóm phân vị 98 nếu đem so sánh với thời điểm cách đây một thế kỷ.
Khi Flynn công bố phát hiện của mình vào năm 1987, nó chẳng khác gì quả bom lửa nổ bùng trong cộng đồng nghiên cứu về khả năng nhận thức. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ tổ chức một buổi hội thảo xuyên suốt xoay quanh chủ đề này, và các nhà tâm lý học chỉ chăm chăm vào bản chất bất biến của điểm kiểm tra IQ để đưa ra một loạt các lý giải về hiệu ứng này. Họ cho rằng chỉ số IQ tăng lên có thể một phần là do đầu tư vào giáo dục và dinh dưỡng ngày càng tốt hơn hoặc người tham gia đã có nhiều kinh nghiệm làm bài kiểm tra. Tuy nhiên, không có lý giải nào thật sự thuyết phục cho việc điểm số được cải thiện một cách bất thường. Với những bài kiểm tra đánh giá những kiến thức đã học được ở trường hoặc những kiến thức tổng quát, số học, từ vựng được tích lũy từ việc tự học hay tự đọc, điểm số hầu như không thay đổi. Trong khi đó, điểm số ở những câu hỏi trừu tượng hơn vốn không bao giờ được giảng dạy một cách chính thống, ví dụ như ma trận của Raven, hoặc các bài kiểm tra “tính tương đồng” yêu cầu việc mô tả tại sao hai vật lại giống nhau, lại tăng vọt.
Một người trẻ ngày nay khi được yêu cầu chỉ ra điểm tương đồng giữa “hoàng hôn” và “bình minh” sẽ ngay lập tức nhận ra cả hai đều được dùng để chỉ các mốc thời gian trong ngày. Nhưng so với thế hệ ông bà của mình, họ sẽ dễ dàng tìm ra điểm tương đồng cao cấp hơn: chính là cả hai đều là ranh giới giữa ngày và đêm. Nếu một đứa trẻ ngày nay đạt điểm số trung bình ở bài kiểm tra về sự tương đồng, chúng sẽ thuộc nhóm phân vị 94 tính ở thời điểm thế hệ ông bà chúng. Khi một nhóm các nhà khoa học gia Estonia sử dụng điểm số bài kiểm tra trên toàn quốc để so sánh khả năng thấu hiểu từ ngữ của học sinh trong thập niên 1930 với năm 2006, họ nhận thấy điểm số ở các từ trừu tượng nhất được cải thiện vô cùng rõ rệt. Từ càng trừu tượng thì sự cải thiện càng lớn. Trong khi những đứa trẻ tỏ ra không am tường các từ ngữ dùng để mô tả sự vật hoặc hiện tượng có thể quan sát trực tiếp (“gà mái”, “đang ăn”, “bệnh tật”) như ông bà mình, chúng lại thể hiện sự tiến bộ đáng kể trước những khái niệm trừu tượng hơn (“luật”, “lời tuyên thệ”, “công dân”).
Ở khắp trên thế giới, điểm kiểm tra “Những ma trận lũy tiến của Raven” tăng lên rõ rệt nhất – một sự thay đổi ít được kỳ vọng trước đó. “Điểm kiểm tra ‘Những ma trận lũy tiến của Raven’ tăng lên cho thấy trẻ em ngày nay giỏi xử lý vấn đề ngay tại chỗ hơn dù chưa hề được học về phương pháp xử lý vấn đề đó”, Flynn kết luận. Chúng sẽ có khả năng rút ra các quy tắc và bài học mà chúng chưa được chỉ dạy trước đó tốt hơn. Thậm chí ngay cả ở những nước có điểm kiểm tra IQ thông qua vấn đáp và toán học xuống dốc gần đây thì điểm kiểm tra Raven vẫn tăng. Và nguyên nhân chính dường như vẫn còn là một ẩn số trong thế giới hiện đại này. Trong khi chưa có lời giải đáp nào cho câu hỏi “tại sao”, nhiều yếu tố phụ bí ẩn khác trong thế giới hiện đại lại củng cố thêm các bộ não khi xử lý những bài kiểm tra trừu tượng nhất. Flynn tự hỏi sự thay đổi nào lại có thể dẫn đến sự tiến bộ vừa đáng kể vừa đặc biệt này?
Vào cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, những yếu tố về mặt kinh tế và xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh của Liên Xô đã có một bước chuyển mình nhanh chóng mà vốn dĩ phải mất nhiều thế hệ mới thực hiện được. Nông dân ở những vùng sâu vùng xa mà ngày nay là Uzbekistan, từ xa xưa đã sinh sống bằng cách trồng trọt trên những mảnh vườn nhỏ, chủ yếu là hoa màu để tự phục vụ nhu yếu phẩm và bông để đổi lấy những thứ khác. Ở những khu vực đồng cỏ gần đó mà ngày nay là Kyrgyzstan, người dân thường chăn thả gia súc. Toàn bộ dân cư đều mù chữ, và một cấu trúc xã hội phân hóa bị những giới luật tôn giáo hà khắc kiểm soát. Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ lối sống như thế dường như chỉ qua một đêm.
Chính quyền Xô Viết đã biến tất cả ruộng đất nông nghiệp thành những trang trại tập thể rộng lớn và bắt đầu công cuộc phát triển công nghiệp. Nền kinh tế nhanh chóng trở nên phức tạp và có liên hệ với nhau. Nông dân phải xây dựng những chiến lược làm việc tập thể, lên kế hoạch trước khi sản xuất, phân chia chức năng nhiệm vụ và đánh giá hiệu suất một cách xuyên suốt. Những bản làng xa xôi bắt đầu kết nối với thành thị. Hệ thống trường lớp được mở tại những vùng có tỉ lệ mù chữ là 100%, và người lớn bắt đầu học đọc qua hình ảnh. Dân làng trước đây đã từng tiếp cận với những con số, nhưng chỉ qua mua bán. Bây giờ họ được học tính trừu tượng tồn tại trong từng con số mà không cần phải mô phỏng bằng cách đếm số lượng gia súc hay phân chia thực phẩm. Một số phụ nữ nông thôn hoàn toàn mù chữ đã theo học một số khóa học ngắn hạn về cách dạy trẻ mầm non. Số khác được phép theo học những khóa học dài hơn ở trường sư phạm. Các lớp học sư phạm mầm non, khoa học và công nghệ nông nghiệp được giảng dạy cho các sinh viên hoàn toàn chưa từng thụ hưởng bất kỳ nền giáo dục chính thức nào. Các trường cấp 2 và các học viện kỹ thuật cũng sớm được mở sau đó. Vào năm 1931, trước những biến đổi đầy kinh ngạc đó, Alexander Luria – một nhà tâm lý học trẻ tuổi xuất sắc người Nga – thoáng phát hiện ra một “thí nghiệm tự nhiên” độc nhất trong lịch sử thế giới. Anh tự hỏi liệu công việc thay đổi có thể khiến trí óc của người dân thay đổi không.
Khi Luria đặt chân đến, những bản làng xa xôi nhất vẫn chưa bị ảnh hưởng bởi chính sách tái cấu trúc xã hội có tốc độ hiện thực hóa chóng mặt. Luria lấy những địa điểm đó làm tiêu chuẩn để so sánh. Anh ấy học tiếng địa phương và đưa các đồng nghiệp khác trong ngành đến đây để cùng hòa nhập với dân làng trong những tình huống xã hội mang tính thư giãn – ở quán trà hay đồng cỏ – và thảo luận các câu hỏi hoặc nhiệm vụ được thiết kế để nhận biết thói quen trí óc của họ.
Một số nhiệm vụ rất đơn giản: bày ra vài cuộn len hoặc vài cuộn tơ với nhiều màu sắc và yêu cầu những người có mặt mô tả chúng. Nông dân và quản lý thuộc trang trại tập thể cũng như sinh viên nữ dễ dàng chọn màu xanh dương, đỏ, vàng, và thỉnh thoảng là biến thể của những màu này, chẳng hạn như màu xanh đậm hoặc vàng nhạt. Trong khi đó, dân làng ở vùng xa xôi nhất, vốn vẫn đang ở giai đoạn “tiền hiện đại”, lại mô tả đa dạng hơn: cây bông đang nở hoa, răng bị hư, rất nhiều nước, bầu trời, quả hồ trăn. Sau đó tất cả họ được yêu cầu phân loại các cuộn len và cuộn tơ thành nhóm. Những nông dân tập thể và những người trẻ tuổi đã được đào tạo chính quy một chút, phân loại chúng rất dễ dàng, đơn giản chỉ dựa trên màu sắc để phân nhóm. Ngay cả khi không biết tên của một màu sắc cụ thể nào đó, họ cũng chỉ gặp chút trở ngại khi phải nhóm ánh màu tối hơn và sáng hơn của cùng một màu lại với nhau. Nhưng những dân làng xa xôi thì từ chối phân loại chúng, thậm chí khi công việc của họ là thêu thùa đi chăng nữa. “Không thể phân loại được”, họ nói, hay “Không có cái nào giống cái nào, các anh không thể nhóm chúng lại với nhau được”. Khi bị thúc giục quyết liệt hơn và được phép phân loại thành nhiều nhóm nhỏ, một số người đã mủi lòng và chịu đưa ra vài nhóm. Tuy nhiên, tất cả đều hoàn toàn ngẫu nhiên. Một vài người khác dường như phân loại các cuộn len dựa trên độ nổi bật của màu mà không quan tâm tới màu sắc.
Những bài kiểm tra về hình dáng hình học cũng được thực hiện tương tự. Một người càng hiện đại thì khả năng nắm bắt những khái niệm trừu tượng về “hình dạng” và phân loại hình tam giác, chữ nhật và hình tròn càng cao, ngay cả khi họ không có nền tảng giáo dục chính quy và không biết tên của các hình dạng. Trong khi đó, những dân làng xa xôi không tìm thấy điểm giống nhau giữa một hình vuông vẽ bằng nét liền và một hình tương tự vẽ bằng nét đứt. Với một cô gái 26 tuổi sống trong một ngôi làng vùng sâu vùng xa như Alieva, hình vuông vẽ bằng nét liền rõ ràng là một tấm bản đồ còn hình vuông vẽ bằng nét đứt lại là một chiếc đồng hồ. “Làm thế nào mà bản đồ có thể cùng loại với đồng hồ được?”, cô ấy hỏi đầy hoài nghi. Còn Khamid, 24 tuổi cũng sinh sống ở một ngôi làng vùng sâu vùng xa, thì cứ khăng khăng rằng hình tròn được tô kín và hình tròn rỗng không thể cùng loại được, vì một cái là đồng xu và cái kia là mặt trăng.
Mọi thể loại câu hỏi được tiếp tục đưa ra theo hình thức này. Khi bị thúc giục để phân loại thành những nhóm mang tính nhận thức – gần giống như những câu hỏi kiểm tra tính tương đồng trong các bài kiểm tra trí thông minh – những dân làng ở vùng sâu vùng xa phải trở về với các câu chuyện thực tế dựa trên những trải nghiệm trực tiếp của họ. Khi các nhà tâm lý học cố gắng giải thích một bài tập phân nhóm theo hình thức “cái nào không thuộc về nhóm” cho anh Rakmat 39 tuổi, họ đưa ra ví dụ về ba người lớn và một trẻ em, hẳn nhiên trẻ em khác những người còn lại rồi. Tuy vậy Rakmat không nhận thấy như thế. “Đứa trẻ phải ở cùng nhóm với những người còn lại!”, anh ấy tranh luận. “Những người lớn đang làm việc, và nếu họ phải chạy ra ngoài để lấy đồ, họ sẽ không bao giờ hoàn thành công việc nhưng cậu bé có thể chạy ra thay họ.” Được, vậy thì nếu chúng ta có một cái búa, một cái cưa, một cái rìu và một khúc gỗ thì sao – ba trong số chúng là công cụ. “Chúng không thể là một nhóm được,” Rakmat trả lời, “bởi vì chúng sẽ trở nên vô dụng nếu không có khúc gỗ, vậy tại sao chúng cùng nhóm với nhau được?”
Số khác lại bỏ cái búa hoặc cây rìu ra, vì họ thấy chúng ít có tác dụng khi dùng với khúc gỗ hơn, trừ phi họ cân nhắc dùng cái búa để nện cây rìu vào khúc gỗ thì chúng mới được giữ lại. Vậy trường hợp con chimcây súng trườngdao gămviên đạn thì sao? “Các anh không thể bỏ bất kỳ cái gì ra và nhóm ba cái còn lại với nhau được,” một người dân làng xa xôi khẳng định. “Viên đạn phải được lên nòng trong khẩu súng trường để giết con chim, và rồi các anh phải dùng dao găm để xẻ con chim, bởi không còn cách nào khác.” Đây mới chỉ là phần giới thiệu giải thích cho nhiệm vụ phân loại, không phải là câu hỏi thực sự. Không có cách lôi kéo, giải thích hay đưa ví dụ nào có thể khiến những dân làng ở nơi xa xôi đưa ra lý luận dựa trên những khái niệm không xuất hiện trong đời sống hằng ngày của họ.
Những người nông dân và sinh viên đang từng bước hòa nhập vào thế giới hiện đại đã bắt đầu luyện tập lối tư duy có tên “rút ra nguyên tắc”, nghĩa là tìm ra được manh mối dựa trêncác dữ kiện hoặc chất liệu được gợi ý, ngay cả khi không có hướng dẫn, và thậm chí ngay cả khi họ chưa bao giờ nhìn thấy chất liệu trước đó. Hóa ra, đây chính xác là những gì có trong bài kiểm tra “Những ma trận lũy tiến của Raven”. Hãy tưởng tượng khi chúng ta đưa cho các dân làng sống trong các điều kiện tiền hiện đại những thiết kế trừu tượng từ bài kiểm tra của Raven.
Tính hiện đại và văn hóa tập thể dường như đã tạo ra một phép màu. Luria nhận thấy rằng đa số các dân làng ở vùng sâu vùng xa không có ảo ảnh quang học như những người sống trong thế giới công nghiệp hóa, giống như ảo ảnh của Ebbinghaus. Vòng tròn ở giữa nào sau đây lớn hơn?

Nếu bạn nói rằng đó là vòng tròn bên phải, có khả năng bạn là người của thế giới công nghiệp hóa. Trong khi nông dân tập thể và nữ sinh các trường sư phạm chọn vòng tròn bên phải, dân làng ở vùng sâu vùng xa lại nhìn ra chúng hoàn toàn bằng nhau. Những kết quả như thế được phát hiện lặp đi lặp lại trong các xã hội truyền thống khác, và các nhà khoa học nhận định rằng kết quả này có thể phản ánh một thực tiễn là những người tiền hiện đại không bị thu hút vào một bối cảnh chung – mối quan hệ giữa những vòng tròn khác nhau – vì vậy nhận thức của họ không bị thay đổi bởi sự xuất hiện của những vòng tròn khác. Nói theo lối ẩn dụ dễ hiểu thì người tiền hiện đại bỏ khu rừng để chọn cái cây, còn người hiện đại bỏ cái cây để chọn khu rừng.
Kể từ sau chuyến đi của Luria, các nhà khoa học đã lặp lại thí nghiệm của anh ấy ở những nền văn hóa khác. Cộng đồng sắc tộc Kpelle ở Liberia chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, nhưng vào thập niên 1970, khi đường sá đã bắt đầu mở rộng, người Kpelle đã kết nối được với các thành thị. Khi được đưa những bài kiểm tra về sự tương đồng, các thanh thiếu niên từng tiếp xúc với học viện hiện đại phân loại dựa trên tính trừu tượng của từng đối tượng (“Tất cả những thứ này có thể giữ ấm cho chúng ta”), trong khi đó, những thanh thiếu niên truyền thống lại phân nhóm tùy vào ý thích nhiều hơn, họ thậm chí còn thường xuyên thay đổi cách phân loại, ngay cả khi được yêu cầu trả lời những câu hỏi lặp lại trước đó. Bởi nhóm thiếu niên từng-tiếp-cận-với-xu-hướng-hiện-đại đã xây dựng được những nhóm chủ đề có ý nghĩa, họ còn có khả năng ghi nhớ tốt hơn khi được yêu cầu mô tả lại những đối tượng trong bài kiểm tra. Càng tiếp cận nhiều với xu hướng hiện đại bao nhiêu, thì khả năng tư duy trừu tượng càng mạnh mẽ bấy nhiêu và họ càng ít phải tham khảo những trải nghiệm cụ thể của bản thân trước đó để giải quyết vấn đề.
_____
Theo thuật ngữ của Flynn, ngày nay chúng ta nhìn thế giới thông qua “lăng kính khoa học”. Ý ông muốn nói rằng thay vì phải dựa vào trải nghiệm trực tiếp của mình, chúng ta có thể hiểu thực tế thông qua những cách thức phân loại, sử dụng những tầng khái niệm trừu tượng để hiểu rõ mối liên hệ giữa các mẫu thông tin. Chúng ta lớn lên trong một thế giới có các mô hình phân loại khác hoàn toàn với các dân làng ở những vùng xa xôi, chúng ta xếp một số động vật vào lớp có vú, và bên trong lớp động vật có vú là nhiều kết nối chi tiết hơn dựa vào điểm tương đồng về mặt sinh lý và cấu trúc ADN.
Nhiều từ dùng để mô tả khái niệm, vốn trước đây chỉ giới hạn trong phạm vi hiểu biết của các nhà học giả, đã trở nên phổ biến rộng rãi hơn trong vài thế hệ. Vào năm 1900, từ “phần trăm” hầu như không được tìm thấy trong bất kỳ cuốn sách nào. Đến năm 2000, nó xuất hiện với tần suất cứ sau 5.000 từ nó sẽ lặp lại một lần (chương này dài khoảng 5.500). Lập trình viên máy tính có hàng lớp từ trừu tượng (họ thực hiện các bài kiểm tra của Raven rất tốt). Trong thanh quá trình trên màn hình máy tính được thể hiện đầy đủ thông tin mô tả lịch sử quá trình tải xuống của bạn, tính trừu tượng xuất hiện rất nhiều, từ yếu tố nền tảng – ví dụ như ngôn ngữ lập trình tạo nên nó là đại diện của mã nhị phân, những con số 1 và 0 thuần túy mà máy tính sử dụng – cho đến yếu tố tâm lý: khi thanh quá trình là một hình ảnh trực quan về thời gian giúp chúng ta yên tâm bằng cách ước tính tiến độ của một loạt các hoạt động ẩn.
Các luật sư có thể xem xét mức độ liên quan trong kết quả của một vụ kiện do một cá nhân ở Oklahoma đưa ra với một vụ kiện khác do một công ty ở California đưa ra. Trong quá trình chuẩn bị, khi thử nhiều cách tranh luận giả định, họ luôn đặt mình vào vị trí người luật sư của phe đối lập để đoán trước sẽ phải biện hộ cho thân chủ của mình như thế nào. Lược đồ khái niệm có tính linh hoạt cao, có thể sắp xếp thông tin và ý tưởng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau, cũng như trao đổi kiến thức giữa các lĩnh vực. Công việc trong thế giới hiện đại yêu cầu việc trao đổi kiến thức: đó là áp dụng kiến thức vào các tình huống mới và các lĩnh vực khác nhau. Những quy trình tư duy căn bản nhất của chúng ta luôn thay đổi để thích ứng với sự phức tạp ngày càng tăng và nhu cầu cập nhật những xu hướng mới thay vì chỉ dựa vào những cái quen thuộc. Lược đồ phân loại khái niệm của chúng ta đóng vai trò xây dựng nền tảng giúp kết nối tri thức, biến tri thức trở nên linh hoạt và dễ tiếp cận.
Nghiên cứu trên hàng ngàn người trưởng thành ở sáu nước công nghiệp hóa cho thấy việc tiếp xúc với công việc hiện đại cùng với kỹ năng tự giải quyết vấn đề và những thách thức không lặp lại tương quan với khả năng “linh hoạt về nhận thức”. Như Flynn đã khẳng định, điều này không có nghĩa là con người ở thời đại này thông minh hơn thế hệ trước đây, mà có nghĩa là giờ đây họ đã có những góc nhìn thiết thực hơn và nhận định thế giới qua lăng kính của các khái niệm1. Thậm chí cho đến gần đây, trong một số cộng đồng truyền thống hoặc cộng đồng tôn giáo chính thống, vốn đã hiện đại hóa, phụ nữ vẫn bị hạn chế tham gia vào những công việc hiện đại và hiệu ứng Flynn đã tác động lên nữ giới chậm hơn so với nam giới trong cùng một cộng đồng. Việc tiếp xúc với thế giới hiện đại khiến chúng ta thích ứng tốt hơn trước mọi phức tạp, và thể hiện được tính linh hoạt, với mục đích mang ý nghĩa sâu sắc vì một thế giới tri thức rộng lớn của chúng ta.
1. Các nhà tâm lý học vẫn còn tranh luận nhiều về sự đóng góp và ngụ ý của hiệu ứng Flynn. Nhà tâm lý học từ đại học Harvard Steven Pinker cho rằng sự tăng lên [chỉ số IQ] chỉ là như một sự thay đổi trong khả năng tư duy: “Không có nhà sử học nào đã nghiên cứu lịch sử loài người qua nhiều thế kỷ có thể bỏ qua sự thật là chúng ta đang sống trong một thời kỳ với sức mạnh não bộ phi thường.”
Trong mọi chiều hướng nhận thức, lối tư duy của người dân tiền hiện đại bị ràng buộc chặt chẽ bởi thế giới của ông bà họ. Bằng sự thuyết phục, một số có thể giải được câu đố logic sau: “Cây bông phát triển tốt ở nơi nóng và khô. Nước Anh thì lạnh và ẩm. Vậy cây bông có thể trồng ở Anh không?”. Vì đã có kinh nghiệm trồng bông thực tiễn, một số người có thể trả lời một nước nào đó mà thậm chí họ chưa bao giờ đặt chân đến (dù câu trả lời không dứt khoát và chỉ đưa ra khi bị hối thúc). Một kiểu câu đố hoàn toàn giống vậy chỉ thay đổi nội dung lại làm họ bế tắc: “Trong vùng Bắc Cực xa xôi nơi chỉ có tuyết, tất cả loài gấu đều màu trắng. Novaya Zemlya ở trong vùng Bắc Cực và luôn có tuyết ở đó. Vậy những con gấu ở đó màu gì?” Lần này, dù hối thúc thế nào đi nữa thì các dân làng cũng không đưa ra được câu trả lời. Họ chỉ phản hồi với các nguyên tắc. “Chỉ có người nào tới đó rồi mới trả lời được câu hỏi của anh,” một người đàn ông nói, dù rằng chính anh ta vừa trả lời câu hỏi về cây bông trong khi bản thân chưa từng đặt chân đến nước Anh. Nhưng chỉ một chút tư duy theo lối hiện đại cũng thay đổi được vấn đề. Khi nhận được câu đố gấu trắng, Abdull, 45 tuổi, mù chữ nhưng là người đứng đầu của một trang trại tập thể, lại suy nghĩ theo lối tư duy logic. “Theo như lời anh nói”, anh ấy trả lời dù chưa thực sự tự tin, “thì tất cả chúng đều có màu trắng.”
Quá trình chuyển đổi đã thay đổi hoàn toàn thế giới bên trong của dân làng. Khi các nhà khoa học đến từ Moscow hỏi dân làng muốn biết gì về họ hoặc nơi họ đến, những người nông dân và chăn nuôi gia súc sống biệt lập thường chẳng thể đưa ra bất kỳ câu hỏi nào. “Tôi không biết người ta làm gì ở các thành phố khác,” một người nói, “vậy làm sao tôi có thể hỏi được?” Trong khi đó, những người tham gia nông trại tập thể thì tỏ ra rất tò mò. “Chà, anh chỉ mới nói về gấu trắng,” anh Akhmetzhan, một nông dân tập thể 31 tuổi, nói. “Tôi không hiểu chúng đến từ đâu”. Anh ấy dừng lại một chút để cân nhắc. “Và rồi sau đó, anh đã đề cập đến nước Mỹ. Nó được điều hành bởi chúng ta hay một thế lực nào khác?”. Chàng trai 19 tuổi Siddakh, vốn đang làm việc cho một nông trại tập thể và đã đến trường hai năm, đang ngập tràn những câu hỏi đầy sáng tạo liên quan đến việc tự hoàn thiện từ bản thân cho đến địa phương và toàn cầu: “Chà, tôi có thể làm gì để khiến kolkhozniks [nông dân tập thể] trở thành những con người tốt hơn? Làm thế nào chúng tôi mới có thể thu hoạch được những cây cao hơn, hoặc trồng được những loại cây có thể phát triển như những cây có kích thước lớn? Và tôi cũng rất quan tâm thế giới tồn tạinhư thế nào, mọi thứ đến từ đâu, cách người giàu kiếm tiền và tại sao người nghèo vẫn mãi nghèo”.
Ở nơi mà suy nghĩ của người dân tiền hiện đại bị hạn chế bởi trải nghiệm thực tiễn của họ, thì tư duy theo xu hướng hiện đại lại tương đối phóng khoáng. Điều này không có nghĩa là lối sống này tốt hơn rất nhiều so với lối sống kia. Như Ibn Khaldun, nhà sử học người Ả Rập được xem là cha đẻ của ngành xã hội học, đã chỉ ra rằng nhiều thế kỷ trước đây, một người dân thành thị đi qua sa mạc sẽ phải phụ thuộc vào người du mục mới có thể sống sót. Miễn là còn ở trong sa mạc, người du mục vẫn là thiên tài.
Nhưng có một điều chắc chắn rằng cuộc sống hiện đại luôn yêu cầu một tư duy mở rộng, biết kết nối giữa các lĩnh vực và ý tưởng khác nhau. Luria đặt tên hình thái này là tư duy “phân loại”, và được Flynn gọi là lăng kính khoa học sau này. “[Nó] thường khá linh hoạt”, Luria viết. “Đối tượng dễ dàng thay đổi từ thuộc tính này sang thuộc tính khác và tạo ra những danh mục phù hợp. Họ phân loại đồ vật dựa vào tính chất (động vật, hoa, công cụ), nguyên liệu (gỗ, kim loại, thủy tinh), kích thước (lớn, nhỏ) và màu sắc (sáng, tối) hoặc những đặc điểm khác. Khả năng chuyển dịch tự do, thay đổi từ một nhóm này qua nhóm khác, là một trong những đặc điểm chính của ‘tư duy trừu tượng.’”
Sự thất vọng lớn của Flynn chính là xã hội, đặc biệt là hệ thống giáo dục bậc cao, đã hưởng ứng việc mở mang trí tuệ bằng cách thúc đẩy chuyên môn hóa, thay vì tập trung vào đào tạo ngay từ sớm những tri thức mang tính khái niệm và có thể chuyển tiếp được.
Flynn tiến hành một nghiên cứu, so sánh điểm số bình quân của sinh viên năm cuối tại một trong những trường đại học công lập hàng đầu nước Mỹ, từ chuyên ngành khoa học thần kinh đến Anh ngữ, với điểm số của họ trong một bài kiểm tra về tư duy phản biện. Bài kiểm tra đánh giá khả năng của sinh viên trong việc áp dụng các khái niệm trừu tượng cơ bản của kinh tế học, khoa học xã hội, vật lý, và logic vào các tình huống thường gặp trong cuộc sống thực tế. Flynn rất ngạc nhiên khi nhận ra rằng dường như không hề có mối tương quan nào giữa bài kiểm tra về tư duy khái niệm khái quát và GPA1. Theo cách Flynn mô tả, “những yếu tố đem lại điểm số tốt [tại trường đại học] không bao gồm khả năng phản biện xét trên bất kỳ một phương diện nào”2.
1. GPA (Grade Point Average) là điểm trung bình đánh giá sinh viên trong hệ thống giáo dục Mỹ. (ND)
2. Flynn cũng nói với tôi rằng ông ấy đã đưa bài kiểm tra cho học sinh tại một trường trung học của Anh, nơi có nhiều học sinh đã vào học tại trường Kinh tế London, cũng như đưa cho sinh viên năm kế cuối và năm cuối tại trường Kinh tế London. Kết luận của ông ấy là “Khi rời trường đại học, khả năng suy nghĩ phản biện của họ cũng không khá hơn lúc vào trường”.
Trong 20 câu hỏi của bài kiểm tra, mỗi câu đánh giá một hình thức tư duy khái niệm mà người ta có thể đưa vào sử dụng rộng rãi trong thế giới hiện đại. Sinh viên đã làm tốt những phần kiểm tra đòi hỏi loại lý luận khái niệm – ví dụ như phát hiện ra logic lòng vòng – vốn là loại hình có thể thu thập được mà không cần qua bất kỳ hình thức đào tạo chính thức nào. Nhưng đối với phần kiến thức nền là lĩnh vực phù hợp nhất mà họ có thể áp dụng kỹ năng tư duy khái niệm, họ làm rất tệ. Các sinh viên chuyên ngành sinh học và Anh ngữ thể hiện rất kém ở tất cả các lĩnh vực không liên quan trực tiếp đến ngành học của họ. Không ai trong số các sinh viên năm cuối, kể cả sinh viên ngành tâm lý học, hiểu được các phương pháp luận khoa học xã hội. Sinh viên ngành khoa học tự nhiên biết dữ kiện của ngành học nhưng lại không biết cách áp dụng tri thức khoa học để đưa ra kết luận đúng. Sinh viên ngành khoa học thần kinh không thể hiện tốt trong bất kỳ lĩnh vực nào. Sinh viên ngành kinh doanh thể hiện rất kém cỏi ở tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả kinh tế học. Nhìn chung sinh viên ngành kinh tế thể hiện tốt nhất. Về bản chất kinh tế học là một lĩnh vực rộng, và người ta đã thấy được các giáo sư kinh tế áp dụng các nguyên tắc suy luận họ học được vào các vấn đề nằm ngoài lĩnh vực của mình1. Ở khía cạnh nào đó, dù các nhà hóa học thông minh một cách phi thường tới đâu, trong một số nghiên cứu, họ lại khá chật vật khi áp dụng suy luận khoa học vào các vấn đề không liên quan đến hóa học.
1. Như nhà tâm lý học Robin Hogarth đã nhận xét về các nhà kinh tế học: “Điều gây ấn tượng với tôi về lĩnh vực của họ là việc những thuật ngữ và quá trình suy luận của kinh tế học có ảnh hưởng đến hầu như tất cả các chủ đề, từ thể thao, hiện tượng kinh tế, chính trị hay thậm chí là chương trình giảng dạy.”
Các sinh viên được Flynn kiểm tra thường nhầm lẫn các đánh giá tinh tế có giá trị với các kết luận khoa học, và trong một câu hỏi đề cập đến một tình huống hóc búa yêu cầu sinh viên không nhầm lẫn mối tương quan với dấu hiệu của quan hệ nhân quả, họ trả lời còn tệ hơn là chọn ngẫu nhiên. Hầu như không có sinh viên của bất kỳ chuyên ngành nào thể hiện được sự hiểu biết nhất quán về cách áp dụng các phương pháp đánh giá độ chính xác mà họ đã học trong chuyên ngành của mình sang các lĩnh vực khác. Theo cách đó, sinh viên có đặc điểm như các dân làng vùng sâu vùng xa trong thí nghiệm của Luria – ngay cả những sinh viên chuyên ngành khoa học cũng không thể khái quát hóa phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực của họ cho những lĩnh vực khác. Flynn kết luận: “Không có dấu hiệu cho thấy các khoa ở trường đại học cố gắng phát triển [điều gì đó] ngoài việc tập trung vào chuyên môn.”
Flynn giờ đây đã trên 80 tuổi. Ông có hàm râu quai nón trắng, với gò má dạn dày sương gió của một người chạy bộ lâu năm, và những lọn tóc trắng bồng bềnh như những đám mây cuồn cuộn trên đầu. Nhà của ông nằm trên một ngọn đồi của Dunedin nhìn ra một trang trại xanh uốn mình thoai thoải.
Khi thuật lại quãng đời sinh viên của mình tại Đại học Chicago, nơi ông là đội trưởng của đội việt dã, ông cất cao giọng. “Ngay cả những trường đại học tốt nhất cũng không phát triển trí thông minh phản biện”, ông ấy nói với tôi. “Họ không dạy sinh viên những công cụ cần thiết để phân tích thế giới hiện đại, ngoại trừ lĩnh vực chuyên môn của họ. Nền giáo dục của họ quá hạn hẹp.” Ông không có ý rằng đơn giản là mỗi sinh viên ngành khoa học máy tính cần học một lớp lịch sử nghệ thuật, mà đúng ra mọi người đều cần tập thói quen để trí óc có thể nhảy múa qua lại giữa các lĩnh vực.
Từ lâu, Đại học Chicago tự hào về chương trình học cốt lõi tập trung vào việc xây dựng khả năng tư duy phản biện đa ngành. Theo trường đại học này, hai năm cơ sở “được thiết kế như một phần giới thiệu các công cụ cần thiết sử dụng trong tất cả các lĩnh vực – khoa học, toán học, nhân văn và khoa học xã hội. Mục tiêu là không chỉ chuyển tải kiến thức, mà còn đặt ra những vấn đề cơ bản và làm quen với các ý tưởng mạnh mẽ vốn định hình xã hội chúng ta”. Nhưng thậm chí ngay tại Đại học Chicago, Flynn lập luận, nền giáo dục ông nhận được không giúp tối ưu hóa những tiềm năng của xu hướng hiện đại trong việc áp dụng tư duy khái niệm ở các lĩnh vực khác nhau.
Ông nói với tôi, các giáo sư chỉ háo hức chia sẻ những dữ kiện họ yêu thích được thu thập thông qua hàng năm trời đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu. Ông đã dạy hơn 50 năm, từ trường Đại học Cornell cho đến Canterburry, và nhanh chóng nhận định mình cũng không nằm ngoài xu hướng đáng phê phán đó. Khi giảng dạy phần giới thiệu về triết học đạo đức và chính trị, ông không thể ngăn được sự thôi thúc phải truyền đạt những chi tiết nhỏ mà mình yêu thích về Plato, Aristotle, Hobbes, Marx và Nietzsche.
Flynn giới thiệu các khái niệm có tính chất mở rộng trong lớp học, nhưng ông chắc rằng mình thường chôn vùi chúng trong hàng núi thông tin cụ thể khác cho riêng lớp học đó – một thói quen xấu mà ông đã cố gắng khắc phục. Nghiên cứu mà ông tiến hành tại đại học công lập thuyết phục ông rằng các khoa trong trường đại học nhanh chóng đào tạo sinh viên trong các lĩnh vực chuyên ngành hẹp, trong khi đó lại thất bại trong việc rèn giũa các công cụ tư duy vốn có thể hỗ trợ các sinh viên trong mọi lĩnh vực. “Điều này cần phải thay đổi,” ông ấy lý luận, “nếu muốn sinh viên vận dụng những khả năng trước đây chưa từng thể hiện với tư duy trừu tượng.” Sinh viên phải được học cách tư duy trước khi dạy chúng cần tư duy những gì. Sinh viên đến trường được trang bị lăng kính khoa học, nhưng khi rời trường không mang theo được khả năng lý luận khoa học sắc sảo như con dao đa năng Thụy Sĩ1.
1. Dao đa năng Thụy Sĩ ngoài một lưỡi dao chính còn có nhiều “lưỡi” khác có chức năng làm đồ khui, tua vít, dùi khoét lỗ,… (ND)
Ở đâu đó, các giáo sư đã bắt đầu đón nhận thách thức. Một lớp học tại Trường Đại học Washington được mang tên “Gọi tên nhảm nhí” (Calling Bullshit) (trong ngôn ngữ sách giáo trình: INFO 198/ BIOL 106B), tập trung vào các nguyên tắc cơ bản để giúp hiểu được thế giới đa ngành và đánh giá phản biện luồng thông tin hằng ngày. Khi lớp học này được đăng lên lần đầu vào năm 2017, số lượng đăng ký đã đạt mức tối đa chỉ trong phút đầu tiên.
Jeannette Wing, giáo sư ngành khoa học máy tính tại Đại học Columbia và từng là phó chủ tịch tập đoàn của Microsoft Research trước đây, đã thúc đẩy “tư duy điện toán” mở rộng như là con dao đa năng Thụy Sĩ. Bà cho rằng tư duy điện toán trở thành nền tảng cơ bản giống như đọc sách, thậm chí cho những ai không làm gì dính dáng tới khoa học máy tính hay lập trình. “Tư duy điện toán vận dụng tính trừu tượng và phân tích khi xử lý một nhiệm vụ lớn lao và phức tạp”, bà viết. “Đó là việc chọn lựa cách thể hiện vấn đề một cách phù hợp.”
Tuy vậy, phần lớn những gì sinh viên được đào tạo – như nhà kinh tế học Bryan Caplan nói – là “kiến thức nghề nghiệp chuyên ngành” mà sau này ít người áp dụng. Ba phần tư số sinh viên tốt nghiệp đại học tại Mỹ làm công việc không liên quan đến ngành học của họ – một xu hướng bao gồm cả chuyên ngành toán học và khoa học tự nhiên – sau khi chỉ thành thạo với các công cụ của một lĩnh vực duy nhất.
Sở hữu chỉ một công cụ tốt hiếm khi là đủ trong một thế giới phức tạp, đầy tính kết nối và thay đổi không ngừng. Như nhà sử học và triết học Arnold Toynbee đã nói khi phân tích về thế giới này trong thời đại công nghệ và xã hội thay đổi: “Không một công cụ nào có quyền lực đa năng.”
Tôi đồng cảm sâu sắc với đam mê của Flynn. Trước khi chuyển sang lĩnh vực báo chí, tôi học lên cao học, sống trong một túp lều tại Bắc Cực, và nghiên cứu sự thay đổi trong đời sống của thực vật có thể ảnh hưởng đến lớp băng ngầm vĩnh cửu như thế nào. Trong lớp học, trí não tôi được nhồi nhét với nhiều chi tiết về sinh lý học của thực vật ở vùng Bắc Cực. Chỉ nhiều năm sau đó – khi đã là một nhà báo điều tra chuyên viết về các nghiên cứu khoa học nghèo nàn – tôi mới nhận ra rằng mình đã phạm sai lầm khi thống kê sai một mục của bài luận văn tốt nghiệp để lấy bằng cao học từ Trường Đại học Columbia. Như nhiều sinh viên cao học khác, tôi có một nguồn dữ liệu lớn và chỉ cần nhấn nút trên máy tính để chạy phân tích thống kê thông thường mà không bao giờ được học cách suy nghĩ sâu sắc (hoặc là có suy nghĩ) về việc phân tích thống kê đó hoạt động như thế nào. Chương trình thống kê cho ra một con số được tóm tắt là “có ý nghĩa thống kê”. Không may, đó gần như là kết quả sai, nó hầu như là kết quả giả, bởi vì tôi không hiểu hạn chế của phần kiểm tra thống kê trong bối cảnh mà tôi áp dụng nó. Các nhà khoa học đánh giá luận văn cũng không hiểu. Như nhà thống kê Doug Altman phát biểu: “Mọi người quá bận rộn nghiên cứu đến nỗi họ không có thời gian dừng lại và suy nghĩ về cách thức mà họ triển khai nghiên cứu”. Tôi đã lao vào nghiên cứu khoa học cực kỳ chuyên sâu mà không học cách lý luận khoa học (và rồi tôi được tặng thưởng vì điều đó bằng một tấm bằng cao học, và chính điều này tạo nên một môi trường học tập mơ hồ). Và theo một trật tự có vẻ ngược đời như thế, chỉ nhiều năm sau khi tôi rời bỏ việc nghiên cứu khoa học, tôi mới bắt đầu tư duy rộng mở về cách người ta nên thực hiện nó như thế nào.
May mắn thay, khi còn là sinh viên, tôi được học với vị giáo sư môn hóa học vốn là hiện thân cho lý tưởng của Flynn. Vào mỗi kỳ thi, giữa các câu hỏi điển hình về hóa học, có những câu đại loại như thế này: “Có bao nhiêu người chỉnh âm cho đàn piano ở thành phố New York?”. Sinh viên phải ước tính, bằng cách lý luận, và cố gắng đoán đúng quy mô của con số trong câu hỏi. Vị giáo sư sau đó giải thích rằng đây là những “nan đề Fermi” vì Enrico Fermi – người đã tạo ra lò phản ứng hạt nhân đầu tiên dưới sân bóng bầu dục của đại học Chicago – thường xuyên đưa ra các ước tính ở-đằng-sau-bì-thư để giúp ông tìm cách xử lý vấn đề1. Bài học cuối cùng từ câu hỏi đó chính là những kiến thức chi tiết có được trước đây không quan trọng bằng cách chúng ta tư duy như thế nào.
1. Fermi đã có mặt tại vụ thử bom hạt nhân đầu tiên và thả những mảnh giấy “trước, trong và sau vụ nổ”, ông ấy viết trong những tài liệu được xem là bí mật vào thời đó. Ông ấy dùng khoảng cách của tờ giấy đi bao xa để ước tính sức mạnh của vụ nổ.
Trong kỳ thi đầu tiên, tôi dựa vào cảm giác bản năng của mình để trả lời (“Tôi không có gợi ý nào cả, có lẽ là 10.000 chăng?”) – con số quá lớn. Vào cuối chương trình học, tôi đã có một công cụ mới trong “con dao đa năng Thụy Sĩ” của riêng mình, cách tận dụng những điều ít ỏi mà tôi biết để phán đoán cái mà tôi không biết. Tôi biết dân số của thành phố New York; đa số người độc thân ở trong các căn hộ chung cư có lẽ sẽ không có đàn piano để chỉnh âm, và đa số bố mẹ của bạn tôi có từ một đến ba đứa con, vậy có bao nhiêu hộ gia đình ở New York? Xác suất có bao nhiêu phần trăm có đàn piano? Bao lâu đàn piano được chỉnh âm một lần? Để chỉnh âm một cây đàn piano thường mất bao lâu? Một người chỉnh âm có thể đến làm việc ở bao nhiêu hộ gia đình trong một ngày? Một năm người chỉnh âm làm việc bao nhiêu ngày? Những con số ước tính cho từng câu hỏi trên không bắt buộc phải hoàn toàn chính xác để có được một câu trả lời tương đối hợp lý. Những người dân làng vùng sâu vùng xa ở Uzbek có thể không thể hiện tốt trước các nan đề Fermi, và tôi cũng như thế trước khi tham gia lớp học đó. Dù vậy, khá dễ dàng để học được điều đó. Lớn lên trong thế kỷ XXI, tôi nhìn mọi thứ qua lăng kính khoa học, tôi chỉ cần sự trợ giúp để tận dụng nó tối đa. Tôi không nhớ gì về hóa học lượng pháp (stoichiometry), nhưng tôi thường xuyên sử dụng phương pháp tư duy Fermi, chẻ nhỏ vấn đề ra nhằm vận dụng những điều nhỏ nhặt mà tôi biết để điều tra những cái tôi không biết, một kiểu “vấn đề tương đồng”.
May mắn thay, một số nghiên cứu cho thấy rằng chỉ cần chút xíu đào tạo về chiến lược tư duy mở rộng, ví dụ “Fermi hóa” trong các vấn đề, người ta đã có thể đi một chặng đường dài, và có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì thế, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi nan đề Fermi là một chủ đề trong khóa học “Gọi tên nhảm nhí” đó. Nó sử dụng một bản tin lừa đảo được đưa trên truyền hình cáp như một nghiên cứu điển hình để chứng tỏ rằng “cách ước tính Fermi có thể cắt ngang những điều nhảm nhí giống như một con dao nóng cắt ngang khúc bơ”. Nó cung cấp cho mọi người khả năng nhanh chóng phát hiện ra những số liệu lừa đảo, từ các bài viết trên báo cho đến trong quảng cáo. Đó là một cây dao cắt bơ thật tiện lợi. Tôi đã có thể trở thành một nghiên cứu viên giỏi hơn trong bất kỳ lĩnh vực nào, bao gồm cả sinh lý thực vật tại Bắc Cực, nếu tôi được học các công cụ lý luận ứng dụng mở rộng hơn là những chi tiết nhỏ nhặt của sinh lý thực vật ở Bắc Cực.
Cũng giống như các kiện tướng cờ vua và lính cứu hỏa, dân làng tiền hiện đại dựa vào những chuyện đã xảy ra ngày hôm qua để dự báo những gì sẽ xảy ra trong ngày mai. Họ được chuẩn bị kỹ càng cho những điều họ đã trải nghiệm trước đây, nhưng lại trang bị cực kỳ sơ sài cho tất cả những chuyện khác. Họ suy nghĩ theo một cách thức quá chuyên biệt mà thế giới hiện đại cho rằng cách suy nghĩ đó càng ngày càng trở nên lạc hậu. Họ có thể học hỏi một cách hoàn hảo từ kinh nghiệm trong quá khứ, nhưng thất bại khi học hỏi một vấn đề nào đó mà họ chưa từng trải nghiệm. Và đó chính là những gì một thế giới đang thay đổi nhanh chóng và mơ hồ đòi hỏi – kỹ năng tư duy khái niệm có thể kết nối những ý tưởng mới và làm việc được trong nhiều bối cảnh khác nhau. Khi phải đối mặt với bất kỳ vấn đề nào mà họ chưa trực tiếp trải nghiệm trước đây, những người dân làng sẽ bị lạc lối hoàn toàn. Đó không phải là sự lựa chọn của chúng ta. Khi một thử thách càng bị kiểm soát và lặp lại nhiều lần, nó càng có khả năng được tự động hóa, trong khi đó phần thưởng lớn sẽ chỉ dành cho những ai có thể thu nhận kiến thức mang tính khái niệm từ một vấn đề hoặc lĩnh vực này, rồi áp dụng nó vào một lĩnh vực hoàn toàn mới.
Khả năng áp dụng kiến thức một cách rộng rãi đến từ việc đào tạo theo phương pháp mở rộng. Một nhóm các nghệ sĩ biểu diễn có kỹ năng đặc biệt từ một địa điểm và thời gian khác đã chuyển việc đào tạo mở rộng thành một hình thức nghệ thuật. Câu chuyện của họ cũ hơn, nhưng vẫn là một câu chuyện ngụ ngôn hay hơn nhiều so những câu chuyện về thần đồng cờ vua trong thời hiện đại.