VỤ CÁ CƯỢC đã diễn ra, với đề tài là số phận của nhân loại.
Một bên là nhà sinh vật học của Đại học Stanford - Paul Ehrlich. Trong phiên điều trần trước Quốc hội, trên Tonight Show (hai mươi lần), và trong cuốn sách bán chạy nhất xuất bản năm 1968 của ông mang tên The Population Bomb (Quả bom dân số), Ehrlich nhấn mạnh rằng đã quá muộn để ngăn chặn ngày tận thế do việc gia tăng dân số quá mức. Ở góc dưới bên trái của nó, bìa sách mang hình ảnh của một cầu chì đang sắp đứt, cùng lời nhắc nhở “quả bom đang đếm ngược”. Ehrlich cảnh báo việc thiếu hụt tài nguyên sẽ đẩy hàng trăm triệu người vào cảnh chết đói trong vòng một thập kỷ. Tờ New Republic cảnh báo thế giới rằng dân số toàn cầu đã vượt quá nguồn cung thực phẩm. “Nạn đói đã bắt đầu”, tờ báo tuyên bố. Đó là một bài toán khó và nan giải: dân số loài người tăng theo cấp số nhân, trong khi đó nguồn cung thực phẩm thì không như thế. Ehrlich là một chuyên gia nổi tiếng chuyên nghiên cứu về bướm. Ông biết rất rõ rằng thiên nhiên không thể điều tiết quần thể động vật một cách quá hoàn hảo. Đôi khi các quần thể bùng nổ về số lượng, vượt quá mức nguồn cung thực phẩm có sẵn và các động vật này lâm vào cảnh thiếu thức ăn. “Hình dạng của đường cong tăng trưởng dân số là một hình ảnh quen thuộc với các nhà sinh vật học”, ông viết.
Ehrlich nêu ra các kịch bản giả định trong cuốn sách của mình, miêu tả “những kiểu thảm họa sẽ xảy ra”. Trong một kịch bản, trong những năm 70, Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu đổ lỗi cho nhau vì nạn đói hàng loạt và kết thúc bằng một cuộc chiến tranh hạt nhân. Đó là kịch bản có mức độ vừa phải. Trong kịch bản tồi tệ, nạn đói hoành hành khắp hành tinh. Các thành phố phải đối phó với bạo loạn và ban hành lệnh thiết quân luật. Các cố vấn môi trường của Tổng thống Mỹ khuyến nghị áp dụng chính sách một con và triệt sản với những người có IQ thấp. Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ bị kéo vào chiến tranh hạt nhân, khiến người dân không thể cư trú ở 2/3 phía bắc bán cầu. Một số nước vẫn tồn tại ở nam bán cầu, nhưng sự suy thoái môi trường sẽ sớm tiêu diệt loài người. Trong kịch bản tích cực, các nước bắt đầu tiến hành kiểm soát dân số. Giáo hoàng tuyên bố rằng người Công giáo nên sinh ít con hơn, và chấp thuận việc phá thai. Nạn đói lan rộng và người dân ở các quốc gia sống trong cảnh bữa đói bữa no. Vào giữa những năm 80, tình trạng tử vong hàng loạt chấm dứt và các nước bắt đầu phục hồi đất nông nghiệp để canh tác. Kịch bản tích cực chỉ dự đoán nửa tỷ người chết vì nạn đói. “Tôi thách thức các bạn tạo ra một kịch bản lạc quan hơn”, Ehrlich viết, bổ sung rằng ông sẽ không tính các kịch bản liên quan đến người ngoài hành tinh có lòng nhân từ đem theo các gói giải pháp chăm sóc loài người.
Nhà kinh tế Julian Simon chấp nhận thách thức của Ehrlich để đưa ra một bức tranh lạc quan hơn. Cuối những năm 1960 là thời kỳ đỉnh cao của cuộc “cách mạng xanh”. Công nghệ từ các ngành khác – như kỹ thuật kiểm soát nước, hạt giống lai tạo, chiến lược quản trị – được áp dụng trong nông nghiệp và năng suất cây trồng toàn cầu đang tăng lên. Simon thấy rằng sự đổi mới đang thay đổi tình hình. Dân số tăng thực sự sẽ là giải pháp, bởi việc đó đồng nghĩa với việc có nhiều ý tưởng tốt hơn và nhiều đột phá công nghệ hơn. Vì thế Simon đề nghị đặt cược. Ehrlich có thể chọn năm kim loại mà ông nghĩ rằng sẽ trở nên đắt đỏ hơn khi tài nguyên cạn kiệt và hỗn loạn xảy ra trong một thập kỷ tới. Các cổ phần vật chất trị giá 1.000 đô-la cho Năm kim loại của Ehrlich được định giá là 1.000 đô-la. Nếu 10 năm sau đó, giá các kim loại này giảm, Ehrlich sẽ phải trả chênh lệch giá cho Simon. Nếu giá tăng, Simon sẽ là người thanh toán sự chênh lệch. Trách nhiệm của Ehrlich được giới hạn ở mức 1.000 đô-la, trong khi rủi ro của Simon thì không có mức trần. Hai bên đồng ý chính thức thực hiện vụ cá cược vào năm 1980.
Tháng 10 năm 1990, Simon thấy một tấm séc trị giá 576,07 đô-la trong hộp thư của mình. Ehrlich đã thua. Giá của mỗi một kim loại đều giảm. Sự thay đổi công nghệ không chỉ hỗ trợ cho dân số ngày càng tăng, mà cả nguồn cung thực phẩm trên đầu người cũng tăng theo hằng năm, ở mọi châu lục. Tỷ lệ người thiếu dinh dưỡng khó có thể chạm mức 0, nhưng nó chưa bao giờ thấp như bây giờ. Trong những năm 60, cứ trong mỗi 100.000 người dân trên toàn cầu thì có 50 người chết vì nạn đói hằng năm; bây giờ con số đó là 0,5. Ngay cả khi không có sự trợ giúp của Giáo hoàng, xu hướng giảm mạnh trong tốc độ tăng trưởng dân số thế giới vẫn tiếp diễn đến ngày hôm nay. Khi tỷ lệ tử vong ở trẻ em giảm, giáo dục (đặc biệt là dành cho phụ nữ) và công tác phát triển gia tăng, tỷ lệ sinh sẽ giảm. Nhân loại sẽ cần nhiều sự đổi mới khi dân số thực của thế giới tăng trên số tuyệt đối, nhưng tỉ lệ tăng trưởng đang giảm dần một cách nhanh chóng. Liên Hợp Quốc dự đoán rằng vào cuối thế kỷ, dân số loài người sẽ gần chạm đỉnh – tỷ lệ tăng trưởng rơi xuống mức 0 – hoặc thậm chí có thể âm.
Kỳ diệu thay, dự báo của Ehrlich về nạn đói hoàn toàn sai. Ông đã đưa ra dự đoán đó ngay khi sự phát triển công nghệ đã làm thay đổi đáng kể bối cảnh toàn cầu, và ngay trước khi tốc độ gia tăng dân số bắt đầu đi xuống. Tuy vậy, ngay trong năm chấp nhận thua cược, Ehrlich tiếp tục bảo vệ giả thuyết của mình trong một cuốn sách khác. Hiển nhiên, dòng thời gian có thay đổi chút ít, nhưng “giờ thì quả bom dân số đã phát nổ”. Mặc dù đưa ra những giả thuyết sai lầm hết lần này đến lần khác, Ehrlich vẫn có rất nhiều người ủng hộ và tiếp tục nhận được những giải thưởng danh giá. Simon trở thành người đại diện cho các học giả có chung nhận định rằng Ehrlich đã bỏ qua các nguyên tắc kinh tế, và ông cũng là tiếng nói cho những người chỉ trích hàng loạt các giả thuyết bi thảm nhưng rốt cuộc lại chẳng thành hiện thực. Phe Simon tranh luận rằng, những biện pháp kiểm soát dân số quá đáng mà nhóm Ehrlich đưa ra sẽ dập tắt những công cuộc đổi mới đã từng cứu vớt nhân loại khỏi diệt vong. Cả hai người đàn ông trở thành ngôi sao sáng trong hàng ngũ của mình. Và cả hai đều nhầm.
Sau đó, các nhà kinh tế đã nghiên cứu giá kim loại trong mỗi giai đoạn mười năm từ năm 1900 đến 2008. Trong thời gian đó dân số thế giới tăng gấp bốn lần và họ thấy rằng tỷ lệ Ehrlich sẽ thắng cược là 63% trong giai đoạn đó. Cái bẫy ở đây là: giá cả hàng hóa là một chỉ báo không phù hợp cho hiệu ứng dân số, đặc biệt là chỉ trong một thập kỷ. Biến số mà cả hai người đàn ông đinh ninh rằng sẽ chứng minh thế giới quan của mình là đúng thực sự là không có gì dính dáng gì với nhau. Giá cả hàng hóa tăng lên và giảm đi cùng với chu kỳ của kinh tế vĩ mô, và một đợt suy thoái kinh tế trong quá trình đặt cược đã làm giá cả đi xuống. Ehrlich và Simon cũng có thể đã tung một đồng xu và cả hai đều tuyên bố chiến thắng.
Cả hai người đàn ông lao vào cuộc tranh luận và mỗi người tuyên bố rằng những tính toán của mình đều dựa trên cơ sở khoa học và có những dữ kiện không thể chối cãi được. Người này lại không nhận ra được giá trị trong ý tưởng của người kia. Ehrlich đã sai về dân số (và ngày tận thế), nhưng đã dự báo đúng về tình trạng suy thoái môi trường. Simon đã đúng về tầm ảnh hưởng của trí tuệ con người với việc cung ứng thực phẩm và năng lượng, nhưng đã sai khi tuyên bố rằng những cải thiện về chất lượng không khí và nước cũng minh chứng cho giả thuyết của mình. Trớ trêu thay, những cải thiện đó không tự nhiên phát sinh từ sáng kiến công nghệ và thị trường mà đúng hơn là được ủng hộ thông qua các quy định được gây sức ép bởi Ehrlich và những người khác.
Thật lý tưởng nếu các đối thủ vận dụng trí óc để “hoàn thiện lập luận của mỗi người để chúng đanh thép hơn và vững chắc hơn”, nhà sử học Đại học Yale, Paul Sabin viết: “Đối với Paul Ehrlich và Julian Simon thì câu chuyện lại xảy ra theo hướng ngược lại.” Khi mỗi người tích lũy thêm thông tin cho quan điểm của riêng mình, họ trở nên bảo thủ hơn, và những bất cập trong thế giới quan của họ ngày càng trở nên rõ nét.
Có một nhóm người luôn giữ một tư duy đặc thù rằng ý tưởng lớn duy nhất của họ về cách thế giới này vận hành là luôn luôn đúng, ngay cả khi đối mặt với sự thật trái ngược. Khi tích lũy thông tin để bổ sung cho quan điểm của mình về thế giới, họ đưa ra những dự báo ngày càng sai, chứ không phải là chính xác hơn. Họ lên sóng truyền hình và xuất hiện trong bản tin mỗi ngày, đưa ra những giả thuyết ngày một tệ hơn trong khi cứ tuyên bố dự báo của mình là chính xác, và rằng những giả thuyết đó đã được họ nghiên cứu kỹ càng.
Sự việc bắt đầu từ cuộc họp về quan hệ Xô-Mỹ năm 1984 của ủy ban trong Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia. Philip Tetlock, nhà tâm lý học và khoa học chính trị 30 tuổi, cho đến thời điểm đó là thành viên trẻ nhất được bổ nhiệm vào ủy ban. Anh chăm chú lắng nghe khi các thành viên thảo luận về ý định của Liên Xô và các chính sách của Mỹ. Các chuyên gia nổi tiếng tự tin đưa ra các giả thuyết nặng ký, và Tetlock hết sức kinh ngạc khi thấy rằng rất nhiều lần quan điểm của họ hoàn toàn trái ngược nhau và họ vẫn không chịu tiếp thu những ý kiến đối lập.
Tetlock quyết định tìm hiểu sâu hơn dự báo của các chuyên gia. Khi Chiến tranh Lạnh bùng nổ, ông tiến hành một nghiên cứu thông qua việc thu thập các dự báo ngắn hạn và dài hạn từ 284 chuyên gia có trình độ học vấn cao (hầu hết đều có bằng tiến sĩ), và có trung bình hơn 12 năm kinh nghiệm trong các chuyên ngành của họ. Các câu hỏi bao trùm các lĩnh vực chính trị và kinh tế quốc tế, và để đảm bảo rằng các dự báo phải rõ ràng, chi tiết, các chuyên gia phải đưa ra xác suất cụ thể cho các sự kiện trong tương lai. Tetlock đã phải thu thập đủ số lượng dự đoán trong thời gian đủ dài để có thể khẳng định rằng những dự báo là dựa vào kỹ năng thực sự chứ không phải là đoán mò. Dự án này kéo dài 20 năm, và bao gồm 82.361 ước tính xác suất về tương lai. Kết quả vẽ ra một thế giới rất mơ hồ.
Nhìn chung các chuyên gia dự đoán rất tệ. Lĩnh vực chuyên môn, số năm kinh nghiệm, bằng cấp học thuật và ngay cả quyền truy cập vào thông tin mật (đối với một số người) không làm nên sự khác biệt. Họ dự đoán ngắn hạn rất tệ, dự đoán dài hạn cũng tệ và cả khi dự đoán trong mọi lĩnh vực. Khi các chuyên gia tuyên bố rằng một số sự kiện trong tương lai là không thể hoặc gần như không thể xảy ra, tỷ lệ các sự kiện xảy ra là 15% trong suốt 20 năm. Khi họ tuyên bố rằng một điều chắc chắn sẽ diễn ra, tỷ lệ điều đó xảy ra lại không nhiều hơn 25% trong suốt 20 năm. Câu ngạn ngữ Đan Mạch cảnh báo rằng: “Rất khó để đưa ra dự đoán, đặc biệt là về tương lai”, đã đúng. Khi so sánh với các chuyên gia, những người tài tử tỏ ra cũng không sáng suốt hơn là mấy, nhưng ít ra họ cũng không quá tự tin đến mức gọi các sự kiện trong tương lai là không thể hoặc chắc chắn. Nhờ thế, họ cũng ít mắc sai lầm hơn và khỏi phải bị người khác chê cười rồi sau đó lại phải đi chuộc lỗi – đó là trong trường hợp các chuyên gia tin rằng có thể chuộc lỗi được.
Nhiều chuyên gia không bao giờ thừa nhận rằng những đánh giá của mình có nhiều sai sót mang tính hệ thống, ngay cả khi đánh giá của họ cho ra kết quả hoàn toàn sai. Khi dự báo đúng, họ tuyên bố rằng chính chuyên môn, kinh nghiệm đã giúp họ hiểu thấu thế giới. Còn khi sai rành rành thì đối với họ đó luôn là một lần suýt đúng. Họ nhấn mạnh rằng mình chắc chắn đã nắm được tình hình, và nếu chỉ cần điểu chỉnh một chút xíu, họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hoặc, như quan điểm của Ehrlich, họ dự báo chính xác; chỉ có chệch thời gian đôi chút. Chiến thắng rõ ràng là những chiến công toàn diện, và thất bại chẳng qua là do xui xẻo làm họ chệch khỏi con đường chiến thắng một chút. Dù liên tục sai sót, các chuyên gia vẫn không chịu thừa nhận thất bại. Tetlock kết luận: “Thường có một mối quan hệ nghịch đảo kỳ lạ giữa mức độ tự tin của các nhà dự đoán và kết quả thực tế.”
Ngoài ra còn có “một mối quan hệ nghịch đảo rất khó chịu” giữa danh tiếng và sự chính xác. Khi những dự đoán của một chuyên gia có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều trên các trang bình luận viên độc lập và truyền hình, càng có nhiều khả năng rằng chúng là những dự báo sai. Hoặc, không phải lúc nào cũng sai mà là “chính xác như khi tinh tinh ném phi tiêu” như nhận định cô đọng của Tetlock và đồng tác giả của mình cuốn sách Siêu dự đoán (Superforecasting).
Trong nghiên cứu của Tetlock, dự đoán sớm tập trung vào việc nhận định về tương lai của Liên Xô. Một số chuyên gia (thường là theo phái tự do) cho rằng Mikhail Gorbachev là một người sốt sắng với việc cải cách đất nước và hướng đến việc đổi mới Liên Xô trong khi vẫn giữ liên bang này nguyên vẹn trong một thời gian. Ở chiều ngược lại các chuyên gia theo phái bảo thủ cảm thấy rằng Liên Xô luôn từ chối cải cách, và sẽ bị hủy hoại bởi chính chế độ của nó, và rồi sẽ tan rã. Cả hai bên đều đúng một phần và sai một phần. Gorbachev đã mang lại cải cách thực sự, mở cửa Liên Xô ra với thế giới và trao quyền cho công dân. Nhưng cũng chính những cải cách đó đã cởi trói cho các lực lượng lâu nay bị chèn ép tại các nước cộng hòa bên ngoài nước Nga, nơi hệ thống liên bang đã không còn phù hợp. Sau khi Estonia tuyên bố chủ quyền, các lực lượng ở các nước cộng hòa khác cũng nổi dậy và làm Liên Xô hoàn toàn tan rã. Cả hai nhóm chuyên gia đã hoàn toàn bất ngờ khi thấy Liên Xô nhanh chóng sụp đổ, và những dự đoán của họ về diễn biến sự việc tỏ ra sai hoàn toàn. Tuy nhiên có một nhóm nhỏ trong các chuyên gia đã có những dự đoán khá chính xác.
Không giống như Ehrlich và Simon, họ không bị gò bó trong một cách tiếp cận duy nhất. Họ tiếp thu các lập luận và phối hợp các quan điểm rõ ràng là mâu thuẫn với nhau hoàn toàn. Họ đồng ý rằng Gorbachev là một nhà cải cách thực sự, và Liên Xô đã mất tính hợp pháp bên ngoài nước Nga. Những nhà dự báo phối hợp này thực sự đã tiên đoán rằng Liên Xô sẽ sớm tan rã và những cải cách thực sự chính là chất xúc tác của quá trình này.
Các nhà dự báo phối hợp vượt trội hơn các đồng nghiệp của họ về hầu hết mọi thứ, nhưng họ đặc biệt vượt trội hơn hẳn khi đưa ra những dự đoán dài hạn. Rốt cuộc, Tetlock đã đặt những biệt danh sau này sẽ nổi tiếng trong giới tâm lý học và cộng đồng tình báo (được mượn từ triết gia Isaiah Berlin): những con nhím tầm nhìn hẹp ám chỉ “người biết một thứ rất chuyên sâu”, và những con cáo phối hợp ám chỉ “những người biết mỗi thứ một chút”.
Các chuyên gia nhím biết rất sâu nhưng hẹp. Một số người dành cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu một vấn đề duy nhất. Giống như Ehrlich và Simon, họ xây dựng những lý thuyết bó hẹp về sự vận hành của thế giới thông qua lăng kính chuyên môn duy nhất của mình, và sau đó “uốn cong” mọi sự kiện để phù hợp với những triết lý đó. Những chuyên gia nhím, theo Tetlock, “làm việc miệt mài” theo thói quen chuyên môn của họ, và “hướng đến các giải pháp rập khuôn ngay cả với các vấn đề khó xác định”. Kết quả không quan trọng; những thành công và thất bại trong quá khứ đã chứng tỏ rằng họ luôn luôn đúng, và họ càng bám chặt hơn vào quan điểm của mình. Kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn giúp họ dự báo quá khứ một cách xuất sắc, nhưng khi dự đoán tương lai thì mức độ chính xác lại ở mức như “tinh tinh ném phi tiêu” . Trong khi đó, những con cáo phối hợp “chắt lọc thông tin từ nhiều quan điểm đa dạng khác nhau, và chấp nhận những nhận định mơ hồ và có khi mâu thuẫn nhau”, Tetlock viết. Trong khi nhím đại diện cho việc chuyên môn hóa, cáo lại vùng vẫy bên ngoài một lĩnh vực hoặc lý thuyết duy nhất và là biểu tượng cho sự hiểu biết rộng.
Thật đáng kinh ngạc, những chuyên gia nhím tỏ ra kém cỏi khi đưa ra những dự đoán dài hạn ngay cả với lĩnh vực chuyên môn của họ. Khi có nhiều uy tín và kinh nghiệm trong ngành hơn, dự báo của họ lại trở nên tệ hơn. Càng có nhiều thông tin, họ lại càng dễ nhào nặn bất kỳ câu chuyện nào cho phù hợp với thế giới quan của họ. Điều này đã mang lại cho những chuyên gia nhím một lợi thế dễ thấy. Xem xét mọi sự việc trên thế giới thông qua lăng kính quen thuộc giúp họ dễ dàng xây dựng nên những câu chuyện hấp dẫn về bất cứ điều gì đã xảy ra, và họ có thể kể lại những câu chuyện với góc nhìn chuyên gia đầy uy tín. Nói cách khác, sự xuất hiện của họ làm nên những chương trình tivi rất cuốn hút.
_____
Tetlock rõ ràng là một “con cáo”. Ông là giáo sư tại Đại học Penn, và khi đến thăm nhà ông ở Philadelphia, tôi bị cuốn vào một cuộc trò chuyện ngẫu nhiên về chính trị mà ông đang bàn luận với các đồng nghiệp, bao gồm cả vợ và cộng tác viên của ông- Barbara Mellers, cũng là một nhà tâm lý học và học giả nổi tiếng về lĩnh vực ra quyết định. Tetlock bắt đầu với một quan điểm, sau đó tự hỏi chính mình và thay đổi hẳn ý kiến. Ông rút ra những nhận định dựa trên kinh tế, khoa học chính trị, và lịch sử để đưa ra một quan điểm nhanh chóng về một cuộc tranh luận đang diễn ra trong tâm lý học. Sau đó ông dừng ngay lập tức và nhấn mạnh: “Nhưng nếu những gì bạn suy nghĩ về bản chất con người rất khác với nhận định của bạn về cấu trúc của một xã hội tốt đẹp, bạn sẽ thấy điều này hoàn toàn khác”. Khi ai đó đưa ra một ý tưởng mới trong cuộc trò chuyện, ông nhanh chóng đề xuất: “Mọi người cứ mạnh dạn phát biểu để đưa ra quan điểm của mình nhé”, và như thế ông liên tục đưa ra các góc nhìn từ các chuyên ngành khác nhau hoặc từ các quan điểm chính trị và tình cảm khác biệt. Ông thử nghiệm nhiều ý tưởng cũng giống như ta chọn nhiều bộ lọc cho một bức ảnh trên Instagram đến nỗi mà đôi khi thật khó xác định là Tetlock thực sự tin vào điều gì.
Năm 2005, ông công bố kết quả của cuộc nghiên cứu lâu năm về đánh giá của chuyên gia, và những kết quả này đã thu hút sự chú ý của Hoạt động Dự án Nghiên cứu Tiên tiến về Tình báo (IARPA), một tổ chức của chính phủ chuyên hỗ trợ những nghiên cứu về những vấn đề phức tạp nhất của cộng đồng tình báo Hoa Kỳ. Năm 2011, IARPA phát động cuộc thi dự đoán kéo dài bốn năm, trong đó năm nhóm do các nhà nghiên cứu dẫn đầu sẽ thi đua với nhau. Mỗi nhóm có thể tuyển dụng, đào tạo và thí nghiệm theo bất kỳ cách nào mà họ thấy phù hợp. Mỗi ngày trong bốn năm, họ bắt buộc phải đưa ra dự đoán vào lúc 9 giờ sáng theo giờ của bờ Đông. Các câu hỏi rất khó. Xác suất một thành viên sẽ rút khỏi Liên minh châu Âu vào một thời hạn nhất định là bao nhiêu? Có phải thị trường chứng khoán Nhật Bản (Nikkei) sẽ đóng cửa với trên 9.500 điểm? Nguy cơ xảy ra một cuộc đụng độ của hải quân trên biển Hoa Đông làm thiệt mạng hơn 10 người là bao nhiêu? Các nhà dự đoán có thể cập nhật dự báo của mình bất cứ khi nào họ muốn, nhưng hệ thống tính điểm sẽ cho điểm mức độ chính xác của dự báo theo thời gian, vì vậy một dự đoán xuất sắc vào thời điểm sát giờ hết hạn của câu hỏi vẫn có điểm số thấp.
Đội thi do Tetlock và Mellerx đứng đầu được gọi là nhóm “Dự án phán đoán tốt”. Thay vì tuyển dụng các chuyên gia nổi tiếng, trong năm đầu tiên của cuộc thi, họ công khai mời các tình nguyện viên tham gia. Sau một bước sàng lọc đơn giản, họ mời 3.200 người bắt đầu tham gia dự đoán. Từ những người đó, họ xác định được một nhóm nhỏ những người dự đoán có đặc tính giống chuyên gia cáo nhất – những người thông minh với nhiều sở thích và gu đọc sách đa dạng nhưng không nhất thiết phải có nền tảng chuyên môn phù hợp – và Tetlock và Mellerx đưa ra các dự đoán của đội thi theo quan điểm của nhóm này. Họ đã chiến thắng cuộc thi một cách oanh liệt.
Vào năm thứ hai, nhóm “Dự án phán đoán tốt” bố trí ngẫu nhiên các nhà “siêu dự đoán” hàng đầu thành các nhóm làm việc trực tuyến trong đó mỗi nhóm gồm có 12 người để họ có thể chia sẻ thông tin và ý tưởng với nhau. Họ đã đánh bại hoàn toàn các đội do các trường đại học điều hành đến mức IARPA đã loại những đối thủ kém cỏi hơn đó ra khỏi giải đấu. Các tình nguyện viên được chọn từ quần chúng đã chiến thắng các nhà phân tích tình báo giàu kinh nghiệm lâu nay vẫn có quyền truy cập vào dữ liệu bí mật “theo một tỉ lệ vẫn chưa được công khai”, như cách nói của Tetlock. (Tuy nhiên, ông ấy dẫn nguồn từ một báo cáo của tờ Washington Post cho thấy rằng nhóm “Dự án phán đoán tốt” đưa ra dự đoán chính xác hơn khoảng 30% so với một nhóm các nhà phân tích trong cộng đồng tình báo).
Cá nhân những người dự đoán tốt nhất không những có những đặc tính giống chuyên gia cáo mà họ còn có những phẩm chất của một cộng tác viên hiệu quả – họ trở thành những đối tác tích cực trong việc chia sẻ thông tin và thảo luận về dự đoán. Mọi thành viên trong đội vẫn phải đưa ra các dự đoán cá nhân, nhưng đội được tính điểm theo năng lực tập thể. Tính trung bình, những nhà dự báo trong các nhóm siêu đội ngũ ít người đưa ra những dự báo cá nhân chính xác hơn 50%. Các siêu đội ngũ thể hiện năng lực vượt trội hơn hẳn một tập thể đông người – trong đó dự đoán của một nhóm lớn được tính trung bình – và họ cũng đánh bại dự đoán của thị trường, nơi các nhà dự đoán “buôn bán” kết quả của các sự kiện trong tương lai như cổ phiếu, và giá thị trường đại diện cho dự đoán của đám đông.
Người ta thường nghĩ rằng việc dự đoán các sự kiện địa chính trị và kinh tế rất phức tạp nên cần thiết phải có một nhóm các chuyên gia theo chuyên ngành hẹp, mỗi người mang đến cho đội ngũ những kiến thức cực kỳ sâu ở một lĩnh vực. Nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Cũng giống như những người sáng tạo truyện tranh và nhà phát minh sáng chế công nghệ mới, trước một sự việc không chắc chắn, phạm vi hiểu biết rộng của cá nhân rất quan trọng. Chỉ tính riêng từng người thôi thì những người dự đoán giống chuyên gia cáo đã rất xuất sắc, nhưng khi hợp sức lại cùng nhau kết quả làm việc của họ là minh chứng cho thấy sức mạnh tập thể rất ưu việt: năng lực của một tập thể lớn hơn tổng hợp năng lực của từng thành viên. Hơn rất nhiều.
Thông qua trò chuyện, rõ ràng ta có thể nhận thấy rằng những người dự đoán giỏi nhất trong nhóm “Dự án phán đoán tốt” có những phẩm chất giúp họ trở thành những thành viên rất quý báu của đội ngũ. Họ rất thông minh, nhưng các chuyên gia nhím mà Tetlock bắt đầu làm việc cùng cũng rất tài giỏi. Họ xử lý các con số một cách dễ dàng, ước tính tỷ lệ nghèo đói của đất nước này hoặc tỉ lệ đất nông nghiệp của quốc gia nọ. Và họ có tư duy mở rộng.
Scott Eastman nói với tôi rằng ông “không bao giờ cảm thấy thoải mái trong một môi trường duy nhất”. Ông lớn lên ở Oregon và tham gia các cuộc thi toán và khoa học, nhưng ở trường đại học, ông học văn học Anh và mỹ thuật. Ông là một thợ sửa xe đạp, một người sơn nhà, người sáng lập một công ty sơn nhà, người quản lý của một quỹ ủy thác hàng triệu đô-la, một nhiếp ảnh gia, một giáo viên nhiếp ảnh, giảng viên tại một trường đại học Rumani dạy các môn từ nhân chủng học văn hóa cho đến các quyền dân sự – và kỳ lạ nhất là, cố vấn trưởng cho thị trưởng của thành phố Avrig, một thị trấn nhỏ ở miền trung Rumani. Ở vai trò đó, ông đã làm mọi thứ từ việc giúp tích hợp các công nghệ mới vào nền kinh tế địa phương đến giao thiệp với báo chí và tham gia đàm phán với lãnh đạo doanh nghiệp Trung Quốc.
Eastman thuật lại cuộc đời mình như một cuốn truyện ngụ ngôn; mỗi trải nghiệm đều cho ra một bài học. “Tôi nghĩ rằng việc sơn nhà có lẽ là một trong những trải nghiệm có giá trị nhất”, ông nói với tôi .Nó cho ông cơ hội tương tác với một tập thể đa dạng từ đồng nghiệp cho đến khách hàng, từ những người tìm kiếm nơi tị nạn đến các tỷ phú ở Thung lũng Silicon, những người ông sẽ trò chuyện nếu có một dự án làm việc dài ngày ở nhà họ. Ông mô tả nó là mảnh đất màu mỡ để thu thập các quan điểm. Nhưng sơn nhà có lẽ không phải là con đường duy nhất dạy ta về khả năng dự đoán địa chính trị. Eastman, giống như các đồng đội của mình, không ngừng thu thập quan điểm bất cứ nơi có thể và luôn luôn muốn bổ sung vào kho tư duy mở rộng của ông. Vì thế đối với ông bất kỳ mặt đất nào cũng đều màu mỡ.
Eastman đã dự đoán chính xác một cách xuất sắc những diễn biến ở Syria, và rất ngạc nhiên thấy rằng những dự báo của mình về nước Nga đều kém chính xác. Ông đã từng học tiếng Nga và có một người bạn từng là đại sứ tại Nga. “Lẽ ra tôi đã có nhiều điểm thuận lợi nhưng tôi đã xem nhẹ rất nhiều câu hỏi và nó trở thành một trong những lĩnh vực yếu nhất của tôi”, Eastman bảo tôi. Ông nhận ra rằng chuyên môn hóa về một chủ đề thường không giúp người ta có khả năng dự đoán chính xác. “Vì vậy, nếu tôi biết ai đó [trong đội] là một chuyên gia trong lĩnh vực nào đó, tôi sẽ rất vui khi tiếp xúc với họ để đặt câu hỏi và xem những gì họ khám phá ra. Nhưng tôi sẽ không chỉ phát biểu đơn giản là: “Được rồi, nhà hóa sinh nói rằng một số loại thuốc có khả năng sẽ được tung ra thị trường, vì vậy ắt hẳn anh ta sẽ đúng.” Nhiều khi nếu bạn biết quá sâu về một lĩnh vực, bạn khó mà đưa ra những phán đoán chính xác”. Eastman cho tôi hay đặc điểm cốt lõi của những người dự đoán tốt nhất là “thực sự rất tò mò, chính xác là về tất cả mọi thứ”.
Ellen Cousins chuyên giúp các luật sư tranh tụng nghiên cứu các vụ gian lận. Và đương nhiên các nghiên cứu của cô trải rộng từ y khoa đến kinh doanh. Bên cạnh nghề nghiệp của mình, cô có nhiều sở thích, từ việc thu thập các hiện vật lịch sử đến thêu thùa, khắc laser và nghệ thuật mở khóa. Cô tình nguyện tiến hành nghiên cứu về các cựu quân nhân, những người nên (và đôi khi được) trao tặng huân chương Danh dự. Cô cảm thấy giống hệt như Eastman. Chuyên gia theo chuyên ngành hẹp là một tài nguyên vô giá, cô bảo tôi, “nhưng bạn phải hiểu rằng cũng có lúc họ không sáng suốt lắm. Vì vậy, những gì tôi cố gắng làm là chắt lọc những dữ kiện thật từ những chuyên gia này, chứ không thu thập ý kiến của họ”. Giống như các nhà phát minh đa năng, Eastman và Cousins tiếp thu liên tục từ các chuyên gia và tổng hợp thông tin.
Trong quá trình tương tác trực tuyến, những người siêu dự đoán có thể có những quan điểm hết sức đối lập nhưng quá trình tranh luận diễn ra khá ôn hòa. Họ có thể bất đồng ý kiến nhưng không được bất mãn. Cousins kể với tôi có một lần hiếm hoi có một người nói: “Xem ra anh hết sức hăng hái với việc này nhưng tôi chẳng hiểu lý do, hãy giải thích đi; thế mà họ vẫn không thấy phiền lòng”. Họ không tìm kiếm sự đồng thuận trong nhóm mà thật ra họ theo đuổi việc tổng hợp các quan điểm, rất nhiều các quan điểm. Tetlock mô tả những người dự đoán tốt nhất với một hình ảnh khá kỳ dị là ‘những con cáo với đôi mắt chuồn chuồn’. Đôi mắt của chuồn chuồn gồm hàng chục ngàn thấu kính, mỗi cái là một góc nhìn khác nhau, sau đó được tổng hợp trong não của chuồn chuồn.
Tôi có dịp quan sát cuộc thảo luận của một nhóm các nhà dự báo đang cố gắng dự đoán tỷ giá hối đoái cao nhất giữa đô-la Mỹ và đồng hryvnia của Ucraina trong một ngày ở một giai đoạn cực kỳ biến động vào năm 2014. Nó sẽ nhỏ hơn 10, hay nằm từ 10 đến 13 hay lớn hơn 13? Cuộc thảo luận bắt đầu khi một thành viên trong nhóm đưa ra dự đoán xác suất cho mỗi trong ba khả năng, và chia sẻ thông tin từ một bài báo trên tờ Economist. Một thành viên khác trong đội tham gia ý kiến khi dẫn lại một đường link trên trang Bloomberg và trình bày các dữ liệu lịch sử trên mạng, cũng như đưa ra ba dự đoán xác suất khác nhau, trong đó nghiên về khả năng “nằm giữa 10 và 13”. Thành viên thứ ba đồng ý với quan điểm của người thứ hai. Thành viên thứ tư chia sẻ về tình trạng tài chính bi đát của Ukraina. Thành viên thứ năm đề cập đến các vấn đề rộng hơn liên quan đến việc tỷ giá hối đoái thay đổi hay giữ nguyên trong bối cảnh xảy ra các sự kiện trên thế giới. Sau đó người thành viên bắt đầu cuộc thảo luận đăng lại ý kiến của mình. Anh ấy cảm thấy những lập luận trước đó rất thuyết phục và thay đổi dự đoán, nhưng vẫn nghĩ rằng mọi người đang dự đoán hơi quá xác suất xảy ra của “điểm lớn hơn 13”. Họ tiếp tục chia sẻ thông tin, tranh luận với nhau và cập nhật dự đoán của mình. Hai ngày sau đó, một thành viên trong nhóm có chuyên môn về tài chính thấy rằng đồng hryvnia vẫn rất vững vàng dù đã xảy ra nhiều sự việc mà anh nghĩ chắc chắn sẽ làm nó suy yếu. Anh ấy tham gia ý kiến và thông báo cho các đồng đội của mình rằng điều này hoàn toàn trái ngược với những gì anh ấy mong đợi, và họ nên coi đó là một dấu hiệu cho thấy kiến thức của anh có sai sót. Trái ngược với các chính trị gia, hầu hết những người dự đoán lão luyện thay đổi nhanh như lật bánh tráng. Cuối cùng nhóm đã quyết định chọn “điểm từ 10 đến 13” là phương án có xác suất cao nhất và họ đã đúng.
Trong một công trình khác, từ năm 2000 đến 2010, nhà tâm lý học người Đức Gerd Gigerenzer đã tổng hợp các dự đoán tỷ giá đồng đô-la, euro hằng năm từ 22 ngân hàng quốc tế uy tín nhất là Barclays, Citigroup, JPMorgan Chase, Bank of America, Merrill Lynch và một số ngân hàng khác. Mỗi năm, mọi ngân hàng đều đưa ra dự đoán tỷ giá hối đoái cuối năm. Kết luận đơn giản của Gigerenzer về những dự đoán đó, dù chúng là kết quả làm việc của một số chuyên gia nổi tiếng nhất thế giới là: “Các dự đoán về tỷ giá hối đoái đô-la, euro thật vô dụng”. Khoảng sáu năm trong giai đoạn 10 năm đó, tỷ giá hối đoái thực tế đã hoàn toàn nằm ngoài khoảng dự đoán của tất cả 22 ngân hàng. Trong khi một người siêu dự đoán nhanh chóng nhận ra sự đổi hướng của tỷ giá hối đoái vốn khiến anh ta bối rối, và điều chỉnh kịp thời; các dự đoán của ngân hàng lớn đã bỏ qua tất cả sự đổi hướng trong suốt một thập kỷ mà Gigerenzer đã phân tích.
Có một điểm nổi bật trong quá trình tương tác của các đội dự đoán xuất sắc nhất mà nhà tâm lý học Jonathan Baron gọi là “tinh thần cởi mở tích cực”. Những người dự đoán tốt nhất xem ý tưởng riêng của họ như những giả thuyết cần được kiểm chứng. Mục đích của họ không phải là thuyết phục đồng đội bằng chuyên môn của bản thân, mà là để khuyến khích đồng đội mạnh dạn chứng minh rằng quan điểm của chính họ là sai. Theo tư duy thông thường của nhiều người, điều đó thật không bình thường. Ví dụ, khi đối diện một câu hỏi khó, chẳng hạn “Hỗ trợ kinh phí nhiều hơn cho các trường công lập có cải thiện đáng kể chất lượng dạy và học không?”, đương nhiên mọi người thường sẽ nghĩ ra một loạt các ý tưởng “theo quan điểm của tôi”. Mặc dù có thể vào Internet để kiểm tra thông tin, họ không để tâm tìm kiếm tại sao quan điểm của mình có thể sai. Không phải là chúng ta không thể đưa ra những ý tưởng đối lập, chỉ là bản năng mạnh mẽ khiến chúng ta không muốn làm như thế.
Vào năm 2017, các nhà nghiên cứu ở Canada và Hoa Kỳ bắt đầu một nghiên cứu bằng cách yêu cầu một nhóm người trưởng thành đa dạng về quan điểm chính trị và có trình độ cao đọc các lập luận xác nhận góc nhìn của họ về các vấn đề gây tranh cãi. Sau đó, khi những tham dự viên được cho biết họ sẽ được trả thù lao nếu đọc các lập luận đối lập, có đến 2/3 trong số họ quyết định không thèm nhìn vào lập luận phản biện, chứ đừng nói là nghiên cứu nó một cách nghiêm túc. Việc chúng ta hay có ác cảm với ý tưởng trái chiều không đơn thuần chỉ là do chúng ta ngốc nghếch hay thiếu hiểu biết. Giáo sư luật và tâm lý học tại Đại học Yale Dan Kahan chỉ ra rằng những người trưởng thành hiểu biết nhiều về mặt khoa học thực sự có nhiều khả năng trở nên bảo thủ hơn với các chủ đề khoa học có xu hướng gây phân cực chính trị. Kahan nghĩ rằng đó có thể là do họ thành thạo hơn khi tìm kiếm những bằng chứng khẳng định cảm nhận của mình: càng dành nhiều thời gian cho đề tài đó, họ càng trở nên giống chuyên gia nhím.
Trong một nghiên cứu diễn ra vào thời điểm chuẩn bị cho cuộc bỏ phiếu Brexit, một số ít của cả nhóm Ở Lại và nhóm Ra Đi đều có thể diễn giải chính xác từ những số liệu thống kê giả về hiệu quả của một loại kem trị da phát ban. Tuy nhiên khi các cử tri được cung cấp dữ liệu chính xác giống như thế nhưng được trình bày theo dạng chỉ ra một xu hướng rằng việc nhập cư làm tăng hoặc giảm tội phạm, đám đông người Anh đột nhiên trở nên “mù số liệu” và diễn giải sai những số liệu thống kê khác biệt với quan điểm chính trị của họ. Kahan cũng tìm thấy hiện tượng tương tự tại Hoa Kỳ với các ví dụ về việc sử dụng kem dưỡng da và việc kiểm soát súng. Ông ghi nhận một đặc điểm tính cách chống lại xu hướng đó: sự tò mò khoa học. Không phải kiến thức khoa học, mà là sự tò mò khoa học.
Kahan và đồng nghiệp đã đo lường sự tò mò khoa học một cách thông minh, khéo léo cài vào các câu hỏi trong một bảng hỏi trông giống như bảng khảo sát tiếp thị người tiêu dùng. Họ cũng theo dõi cách mọi người tiếp tục tìm kiếm thông tin sau khi đã xem các video có nội dung cụ thể, trong số đó có các video với chủ đề liên quan đến khoa học. Người có tính tò mò khoa học nhất luôn tìm cách nghiên cứu những bằng chứng mới, cho dù nó có đồng thuận với quan điểm hiện tại của họ hay không. Những người ít tò mò về khoa học thì giống như những chuyên gia nhím: khi có nhiều kiến thức về một chủ đề nào đó, họ lại dễ phủ nhận các bằng chứng trái chiều và trở nên phân cực hơn về mặt chính trị. Những người có trí tò mò khoa học cao lại có xu hướng ngược lại như thế. Họ săn lùng thông tin giống như một con cáo đi săn mồi theo nghĩa đen: lang thang khắp nơi, lắng nghe cẩn thận và tiêu hóa triệt để. Giống như cách Tetlock nhìn nhận về những nhà dự báo giỏi nhất, vấn đề không phải là họ nghĩ những gì, mà là họ suy nghĩ như thế nào. Những nhà dự báo giỏi nhất có tinh thần cởi mở tích cực rất cao. Họ vô cùng tò mò, và không đơn thuần chỉ xem xét các ý tưởng trái chiều, họ chủ động bước vào nhiều lĩnh vực mới để tìm kiếm các quan điểm đối lập. Jonathan Baron, nhà tâm lý học đã phát triển các phép đo về tư duy cởi mở tích cực viết rằng “Có kiến thức sâu có thể vẫn không ích lợi nếu không có kiến thức rộng” đã viết.
Charles Darwin chắc hẳn là một trong những người tò mò và có thái độ cởi mở tích cực nhất trong lịch sử nhân loại. Bốn mô hình đầu tiên của ông về tiến hóa đều na ná thuyết sáng tạo hoặc thuyết thiết kế thông minh (mô hình thứ năm xem sáng tạo là một câu hỏi tách biệt)1. Ông ghi vào sổ tay của mình bất kỳ dữ kiện hoặc quan sát nào mà ông bắt gặp có nội dung đối lập với lý thuyết ông đang xây dựng. Ông liên tục tấn công ý tưởng của mình, bỏ qua hết mô hình này đến mô hình khác, cho đến khi ông có thể hoàn thiện được một lý thuyết với đầy đủ bằng chứng phù hợp. Nhưng ngay cả trước khi bắt đầu công trình để đời đó, ông cần sự động viên từ một người bạn có thái độ cởi mở tích cực – hay nói đúng hơn đó là một người cố vấn. John Stevens Henslow là một linh mục, nhà địa chất học và giáo sư thực vật học và ông đã sắp xếp cho Darwin một chỗ trên chiếc tàu HMS Beagle. Trước khi chiếc tàu ra khơi, ông bảo Darwin hãy tìm đọc một cuốn sách mới đang gây tranh cãi, Principles of Geology (tạm dịch: Những nguyên tắc của địa chất học), tác giả là Charles Lyell. Lyell lập luận rằng trái đất đã thay đổi dần dần theo thời gian thông qua những tiến trình vẫn đang tiếp tục trong hiện tại. Henslow không thể chấp nhận cách Lyell mô tả về địa chất học mà hoàn toàn tách biệt với thần học. Ông cảnh báo Darwin rằng “trong bất cứ trường hợp nào cũng không được chấp nhận quan điểm nêu ra trong cuốn sách này”. Tuy vậy, cũng như các chuyên gia cáo khác, Henslow đã dẹp bỏ tự ái và khuyến khích học trò mình đọc cuốn sách. Đó là một sự khai sáng. Theo sử gia khoa học Janet Browns, tại một trong những khúc quanh đáng nhớ nhất của lịch sử khoa học, cuốn sách của Lyell đã dạy Darwin cách suy nghĩ về tự nhiên”.
1. Thuyết sáng tạo (creationism) tin rằng Thiên Chúa đã tạo ra vũ trụ và mọi thứ trong đó, như được mô tả trong Sáng thế ký (Genesis). Thuyết thiết kế thông minh (intelligent design) cho rằng một thực thể quyền lực thông minh không tên là người sáng tạo và người hướng dẫn cuộc sống trên trái đất nầy. (ND)
Tất cả những điều này không có nghĩa là những nhà chuyên gia nhím là không cần thiết. Họ khai phá ra những tri thức quan trọng. Einstein là một chuyên gia nhím. Ông nhìn thấy sự đơn giản bên dưới sự phức tạp, và tìm ra những lý thuyết tinh tế để chứng minh chúng. Nhưng ông cũng dành ra 30 năm cuối của cuộc đời mình để theo đuổi một sứ mệnh duy nhất là xây dựng một lý thuyết của mọi sự vật. Lý thuyết này sẽ làm sáng tỏ sự tùy hứng rõ ràng là rất lộn xộn trong cơ học lượng tử, một lĩnh vực được khai sinh một phần bởi công trình của Einstein. Như nhà vật lý thiên văn Glen Mackie đã viết: “Dường như tồn tại một thỏa hiệp ngầm: trong những năm sau này, Einstein làm việc với những nhà toán học thuần túy, không công nhận những phát hiện có liên quan, và không thể thay đổi phương pháp nghiên cứu của mình”. Einstein khẳng định một cách ẩn dụ rằng Chúa không chơi trò xúc xắc với vũ trụ. Niels Bohr, người cùng thời với Einstein và đã giúp giải thích cấu trúc của nguyên tử (bằng cách sử dụng phép so sánh tương đồng với các vòng của sao Thổ và thái dương hệ), phản hồi rằng Einstein nên có thái độ cởi mở và không nên chỉ bảo Chúa phải điều hành vũ trụ như thế nào.
Bên dưới sự phức tạp, những chuyên gia nhím có xu hướng nhìn thấy những quy tắc nhân – quả đơn giản và chắc chắn được hình thành bởi kinh nghiệm chuyên môn của họ, chẳng hạn như khi họ lặp lại các thế trận trên bàn cờ. Các chuyên gia cáo nhìn thấy sự phức tạp trong cái mà người khác nhầm tưởng là quan hệ nhân quả đơn thuần. Họ hiểu rằng hầu hết các mối quan hệ nhân quả đều có yếu tố xác suất và không chắc chắn. Có những ẩn số chưa biết và cả yếu tố may rủi, và cho dù rõ ràng là lịch sử có lặp lại, mọi việc không diễn ra y hệt như quá khứ. Họ nhận ra rằng họ đang làm việc trong một môi trường học tập mơ hồ đúng như định nghĩa, ở đó họ khó có thể học được điều gì từ việc chiến thắng hay thất bại.
Trong các lĩnh vực mơ hồ thiếu các phản hồi tức thời, chỉ riêng kinh nghiệm thôi không thể cải thiện kết quả dự đoán. Những thói quen tư duy hiệu quả đóng vai trò quan trọng hơn, và chúng ta có thể rèn luyện những thói quen này. Trong bốn năm liên tiếp tham gia các cuộc thi dự đoán, nhóm nghiên cứu của Tetlock và Meller đã chỉ ra rằng chỉ với một giờ được đào tạo căn bản về thói quen tư duy của chuyên gia cáo, các nhà dự báo đã có thể dự đoán chính xác hơn. Một thói quen rất giống tư duy so sánh tương đồng đã giúp các nhà đầu tư mạo hiểm và những người đam mê điện ảnh trong chương 5 đưa ra những dự đoán chính xác hơn về lợi nhuận đầu tư và doanh thu từ các bộ phim. Về cơ bản, những người dự đoán có thể dự báo chính xác hơn bằng cách lập nên một danh sách các sự kiện riêng biệt có sự tương đồng về cấu trúc sâu, thay vì chỉ tập trung vào chi tiết bên trong của sự kiện cụ thể đang xét. Ít có sự kiện nào 100% là mới hoàn toàn– như Tetlock nhận định, sự độc đáo được định nghĩa theo mức độ – việc lập nên một danh sách như thế ngầm buộc một người dự đoán phải suy nghĩ như một nhà thống kê.
Chẳng hạn, như vào năm 2015, những người dự đoán đã được hỏi liệu Hy Lạp có rời khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) vào năm đó không. Từ trước đến nay chưa có đất nước nào rời khỏi khối eurozone, do vậy câu hỏi đó dường như rất đặc thù. Tuy nhiên trong quá khứ đã xảy ra khá nhiều trường hợp như các cuộc đàm phán quốc tế bị thất bại, các quốc gia rút lui khỏi các thỏa thuận quốc tế và một số nước bị buộc phải đổi tiền. Từ đó những người dự đoán giỏi nhất có thể có được kiến thức tổng quan những gì thường xuyên xảy ra mà không cần tập trung quá sâu vào tất cả những chi tiết đặc thù của tình hình hiện tại. Rất nguy hiểm nếu chúng ta bắt đầu với những chi tiết – những góc nhìn bên trong. Các chuyên gia nhím thừa biết những ngóc ngách của một vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn của họ nên họ dễ có xu hướng sa vào một thói quan mà Dan Kahan mô tả là: chỉ chọn những chi tiết phù hợp với lý thuyết bao trùm của họ. Chuyên môn sâu đã hạn chế tầm nhìn của họ. Những nhà dự báo giỏi giang bước ra khỏi lĩnh vực đang xét để nghiên cứu những sự kiện hoàn toàn không có mối liên hệ gì nhưng có những điểm chung về mặt cấu trúc hơn là phụ thuộc vào cảm nhận trực giác dựa vào kinh nghiệm cá nhân hoặc kiến thức chuyên môn.
Một khía cạnh khác trong quy trình đào tạo những nhà dự báo đó là phải phân tích thấu đáo các kết quả dự đoán từ nhiều góc độ khác nhau để rút ra các bài học, đặc biệt là với các dự đoán cho ra kết quả sai. Bằng cách đưa ra các phản hồi mọi lúc mọi nơi, các huấn luyện viên dự báo đã biến một môi trường học tập mơ hồ, nơi thường không có phản hồi tức thời trở nên thuận lợi hơn một chút. Trong công trình nghiên cứu kéo dài 20 năm của Tetlock, mỗi khi dự đoán thành công, cả chuyên gia cáo và chuyên gia nhím đều nhanh chóng cập nhật những quan điểm của mình thông qua những bằng chứng mạnh mẽ. Tuy nhiên khi một kết quả khiến họ bất ngờ, các chuyên gia cáo có nhiều khả năng thay đổi quan điểm hơn. Trong khi đó, các chuyên gia nhím hầu như không thể lay chuyển. Một số chuyên gia nhím đưa ra những dự báo chắc nịch hóa ra lại sai lầm trầm trọng, và sau đó cập nhật lý thuyết của mình theo hướng sai. Họ lại càng tin tưởng hơn vào quan điểm ban đầu vốn đã khiến họ lạc lối. “Những người dự báo giỏi là những người biết cập nhật quan điểm kịp thời”, Tetlock nói. Nếu họ đặt cược và thua, họ sẽ chấp nhận logic: thất bại là mẹ thành công.
Điều này được gói gọn trong một chữ: học hỏi. Nhiều khi nó yêu cầu chúng ta phải hoàn toàn quên đi những kinh nghiệm trước đó.