(Về sau là Vua Olaf II của Na-Uy — "Thánh Olaf.")
[NĂM 1010 CN]
Lão Rane, người lái tàu, với bộ râu mép hung tợn và chiếc áo choàng vai xù xì trông lão chẳng khác gì một con sói già miền Bắc đầy vẻ dữ dằn, đang giơ cao chiếc sừng bò rừng lớn chứa đầy thứ mật ong lên men sủi bọt.
"Cạn chén mừng vị Viking! Hael; was-hael!" tiếng hô đầy đắc thắng của lão vang lên. Từ một trăm lồng ngực vạm vỡ, tiếng hò reo lại dội vang cho đến khi sảnh đường vòm của tòa thành vừa chiếm được của người Thụy Điển rung chuyển lên lần nữa.
"Cạn chén mừng vị Viking! Hael; was-hael!" và ngay giữa đám đông những tráng sĩ mặc giáp cùng những ngọn giáo đang khua động ấy, đứng hiên ngang và không chút sợ hãi trên những tấm khiên được gài chặt và giơ cao của ba chiến binh lực lưỡng, là một thiếu niên vạm vỡ chưa tròn mười ba tuổi, với mái tóc dài màu nâu sáng bềnh bồng cùng gương mặt đỏ bừng đầy hào hứng, đang vung gươm mạnh mẽ để đáp lại tiếng hô vui mừng đang vang dội một lần nữa qua căn sảnh tối tăm đẫm mùi khói, "Was-hael gửi con trai của loài sói biển! Cạn chén mừng Vua Olaf!"
Lúc ấy, vượt lên trên thứ âm thanh hỗn độn và tiếng va chạm của tiếng hò reo cùng sắt thép, là giọng ca của Sigvat, người kể chuyện hay cũng là ca sĩ của vị thủ lĩnh viking trẻ tuổi, đang cất lên những lời ca vang dội và mạnh mẽ:
Vua Olaf đang dong thuyền dạo bước,
Làm nhuốm đỏ thanh gươm xanh,
Thu bao chiến lợi phẩm lớn dành,
Khiến muôn người nghe tin đều khiếp vía.
Hỡi bầy sói chiến! Tên cây tùng non nước mía
Vượt đỉnh ngàn cây rợp bóng danh thơm,
Olaf trẻ trung vững chí, không sờn.
Dù trận mạc hiểm nguy ngập lối,
Chàng vẫn vui tươi, lòng phơi phới,
Khiến bao chiến binh ngã gục dưới ngọn giáo hờn.
Kẻ nào giữ của mà không biết đường phòng thủ,
Hoặc mạng vong, hoặc sẻ chia cùng dũng sĩ phiêu lưu!
Một khúc ca hào hùng và đầy chất chiến trận làm sao, hỡi các cậu bé và cô bé, khi được cất lên để tôn vinh một thiếu niên còn quá trẻ. Nhưng đó là những ngày tháng dữ dội và đầy rẫy chiến tranh, khi lòng người bị kích động bởi những chiến công táo bạo và đầy hiểm nguy — những ngày xưa cũ ấy, cách đây tám trăm năm, khi Olaf, cậu thiếu niên viking, thủ lĩnh cướp biển của một trăm chiến binh mặc giáp, đứng trên những chiếc khiên được giơ cao của các tráng sĩ đầy hân hoan trong sảnh đường u ám và đẫm khói của tòa lâu đài xám xịt tại Sigtun đã thất thủ, thành phố cổ xưa nhất của người Thụy Điển.
Hãy cầm bản đồ của các em lên, và khi lật đến trang bản đồ Thụy Điển, hãy đặt ngón tay lên thành phố Stockholm. Các em có nhận thấy nó nằm ở đầu phía đông của một hồ nước lớn không? Đó chính là hồ Maelar, xinh đẹp với những lạch nước uốn lượn, những hòn đảo phủ đầy thông và những bờ đá gồ ghề. Nơi đó giờ đây thật yên bình và tĩnh lặng, với cung điện, biệt thự cùng những ngôi nhà nông thôn miền Bắc cổ kính đứng yên bình bên những thắng cảnh hữu tình. Nhưng những lạch nước, những hòn đảo và những bờ đá ấy đã từng vang dội tiếng hô xung trận của biết bao kẻ cướp biển hung hãn kể từ những ngày tháng xa xôi ấy, khi Olaf, cậu thiếu niên viking, cùng những chiếc chiến thuyền Na-Uy của mình rẽ sóng vượt qua eo biển hẹp, tàn phá những bờ biển tươi đẹp của hồ Maelar bằng lửa và gươm giáo.
Stockholm, được mệnh danh là "Venice của phương Bắc", vào thời đó vẫn chưa xuất hiện; và giờ đây chẳng còn lại gì mấy ở Sigtun cổ kính ngoại trừ những bức tường đổ nát. Nhưng du khách vẫn có thể nhìn thấy ba tòa tháp cao của thị trấn cổ xưa, cùng đống đá lớn nằm bên cạnh nơi vị thủ lĩnh trẻ Olaf từng kéo chiến thuyền vào, nơi mà đoàn thủy thủ cướp biển của cậu đã tràn vào thị trấn Sigtun, cắm ngọn cờ chiến thắng mang hình con rắn vàng lên những bức tường vừa chiếm được.
Bởi vì vị thiếu niên khôi ngô Olaf này xuất thân từ dòng giống Na-Uy gan góc. Cha của cậu, Harald Graenske, hay còn gọi là "Áo Xám", một trong những vị vua triều cống của Na-Uy, đã bỏ mạng dưới những nhục hình của vị nữ hoàng kiêu ngạo người Thụy Điển; và giờ đây con trai bà, một cậu bé chưa tròn mười ba tuổi nhưng qua rèn luyện và khát vọng đã sớm là một chiến binh, đã đến để báo thù cho cái chết của cha mình. Mẫu thân cậu, Nữ hoàng Aasta, đã trang bị một chiếc thuyền rồng lớn hay chiến thuyền cho người con trai ưa mạo hiểm của mình, và đi cùng thiếu niên ấy, trong vai trò người lái tàu kiêm người bảo vệ, chính là lão Rane, người được người ta gọi là "kẻ đi muộn phương trời" vì lão đã từng giương buồm đi tận phía tây đến tận nước Anh và phía nam đến Nörvasund (tên gọi mà người thời đó dùng để chỉ Eo biển Gibraltar). Những thiếu niên thời bấy giờ được tôi luyện rất nhanh chóng qua những năm tháng sôi động, và cậu bé này, người vì là chỉ huy của một chiếc thuyền rồng nên được gọi là Vua Olaf — dẫu cậu chẳng có mảnh đất nào để cai trị — lại mang dòng máu viking và nhanh chóng học lấy nghề chiến trận. Ngay giữa những ghềnh đá và bãi cát ở Sodermann, bên bờ biển Thụy Điển, cậu đã giành được chiến thắng đầu tiên trước một lực lượng chiến thuyền đông đảo hơn của người Đan Mạch.
Nhiều chiến thuyền khác tiếp tục gia nhập lực lượng của cậu; danh hiệu Olaf Can Đảm được trao cho cậu nhờ những chiến công táo bạo, và tiếng hô "Cạn chén mừng vị Viking!" vang lên từ lồng ngực vạm vỡ của đoàn tùy tùng khi vị vua biển nhỏ tuổi mới mười tuổi được nâng lên trong niềm hân hoan trên những tấm khiên hằn vết chiến trận.
Nhưng một tên lính đưa thư chạy nước rút bỗng lao vào sảnh đường xám xịt của Sigtun. "Về tàu ngay, thưa bệ hạ; về tàu ngay!" hắn kêu lên. "Olaf, vị vua Thụy Điển, theo lời người ta đồn, đang giăng một rừng giáo dọc theo eo biển, và nếu các ngài không nhổ neo ngay bây giờ, các ngài sẽ chẳng thể thoát ra được nữa đâu!"
Vị thủ lĩnh trẻ tuổi lanh lẹ bật nhảy khỏi những chiếc khiên được giơ cao.
Hắn thét lớn: "Tất cả các viking, về tàu ngay! Hãy nhe nanh ra, hỡi bầy sói chiến! Giương cao ngọn cờ hình rắn, và mang cái chết đến cho Olaf kẻ phản diện người Thụy Điển!"
Lũ lượt chèo thẳng qua hồ hướng về phía eo biển, gần nơi thành phố Stockholm ngày nay tọa lạc, đoàn viking giương buồm xuôi gió, chiếc chiến thuyền rồng của Olaf trẻ tuổi dẫn đầu đoàn. Nhưng đã quá muộn; bởi vì băng qua eo biển hẹp, vị vua Thụy Điển đã chăng những sợi xích lớn và lấp kín lòng lạch bằng gỗ và đá tảng. Olaf cùng các chiến binh Na-Uy của cậu đã thực sự rơi vào bẫy; những ngọn giáo của người Thụy Điển phất phới trong niềm hân hoan cuồng nhiệt, và Vua Olaf người Thụy Điển đã nói với các chư hầu của mình bằng vẻ thỏa mãn đầy cay độc: "Hãy nhìn xem, hỡi các vị bá tước và quý tộc, cuối cùng thì Cục Mỡ cũng đã lọt vào lồng rồi!" Vì hắn chưa bao giờ nhắc đến vị vua trẻ tuổi đồng hương kiêm đối thủ người Na-Uy của mình bằng cái tên nào khác ngoài "Olaf Tjocke", nghĩa là Olaf Mập Mạp.
Cậu thiếu niên viking đứng cạnh phần mũi tàu mang hình đầu rồng, giăng nắm đấm chặt về phía eo biển bị chặn nghẽn và rừng giáo của người Thụy Điển.
Cậu hỏi: "Này Rane, hay chúng ta lên bờ rồi chiến đấu mở đường máu vượt qua nhé?"
Lão Rane, người đã từng trải qua vô số hoàn cảnh ngặt nghèo trong những năm tháng tung hoành trên biển nhưng chưa từng gặp tình thế nào ngặt nghèo đến thế, đáp: "Chiến đấu mở đường máu vượt qua ư? Ôi, thưa Bệ hạ, quân số của chúng đông gấp cả trăm lần chúng ta đấy!"
Olaf với tính tình bồng bột liền đáp: "Dẫu chúng có đông đến thế thì sao nào? Thà ngã xuống như một vị viking khi đang bẻ gãy những ngọn giáo Thụy Điển, còn hơn là chết cái chết nhục nhã trên giường rơm như một tên nông nô của Olaf xứ Thụy Điển. Chẳng lẽ chúng ta không thể chặt đứt những sợi xích này hay sao?"
Người lái tàu lắc đầu: "Cứ nghĩ đến chuyện chặt đứt được cả trái đất này khéo lại dễ hơn đấy, thưa Bệ hạ."
Chợt lóe lên một ý tưởng thiên tài, Olaf trẻ tuổi thốt lên: "Thế à; vậy sao chúng ta không làm thế nhỉ? Này Sigvat," cậu vừa nói vừa quay sang người kể chuyện của mình, "cái vùng đất trũng dưới chân vách đá mà ngươi từng nói là nơi vị vua ngoại đạo xứ Upsal bị treo cổ trên chính những sợi xích bằng vàng của lão bởi nữ hoàng người Phần Lan là chỗ nào nhỉ?"
Người kể chuyện chỉ tay về hướng vùng đất ấy và đáp: "Đó gọi là đầm lầy Agnefit, thưa Bệ hạ."
Cậu thiếu niên bèn hỏi: "Thế thì, hỡi Rane của ta, tại sao chúng ta lại không thể mở đường thoát qua vùng đầm lầy trũng ấy để ra biển lớn và tìm lại tự do nhỉ?"
Vị lái tàu vô cùng thích thú trước kế hoạch lớn lao của vị thủ lĩnh trẻ, thốt lên: "Đúng là diệu kế do chính thần Odin ban tặng! Này hỡi toàn thể bầy sói chiến, hãy cắn xé đường đi qua những đầm lầy của người Thụy Điển! Giương cao ngọn cờ hình rắn và từ biệt Olaf xứ Thụy Điển đi thôi!"
Đó có vẻ là một cơ hội mong manh, nhưng lại là con đường duy nhất. Vận may đã mỉm cười với cậu thiếu niên viking. Những trận mưa lớn đã làm ngập úng các vùng đất thoai thoải đổ xuống hồ Maelar; giữa đêm khuya, những tù binh người Thụy Điển cùng các tay chèo lực lưỡng người Na-Uy được lệnh ra tay làm việc, và trước khi trời hửng sáng, một con lạch đã được đào thông ở vùng đất thấp dưới chân Agnefit, hay còn gọi là "Ghềnh đá của Vua Agne", nơi mà gần thị trấn Södertelje, con kênh đào của các viking vẫn còn được cho du khách chiêm ngưỡng đến tận ngày nay; dòng nước hồ ồ ạt đổ qua con lạch, mở ra một eo biển thênh thang đang chờ đón hạm đội của Olaf trẻ tuổi.
Lão lái tàu Rane ra lệnh: "Tháo bánh lái lên! Giương buồm đón gió! Toàn quân thổi tù và chiến trận! Cạn chén mừng vị Viking; cạn chén mừng vị vua trẻ tuổi thông minh Olaf!"
Một cơn gió lớn thổi lồng lộng từ phía sau; những tay chèo người Na-Uy điều khiển những con tàu không bánh lái bằng những mái chèo dài của mình, và với một cú lao mình mạnh mẽ, hạm đội đã băng qua kênh đào mới cùng những vùng nước nông để tiến thẳng ra vùng Norrström rộng lớn, hay còn gọi là dòng Bắc Hải, theo tên gọi của Biển Baltic thời bấy giờ, trong sự an toàn tuyệt đối trong khi tiếng tù và chiến trận vang dội những khúc ca khải hoàn.
Thế là cậu thiếu niên viking đã trốn thoát khỏi cái bẫy của kẻ thù Thụy Điển, và khi đứng cạnh "cái đầu rồng há miệng gớm ghiếc" vươn cao trên mũi chiến thuyền của mình, cậu ra lệnh cho người lái tàu hướng thẳng tới đảo Gotland, trong khi Sigvat người kể chuyện cất cao tiếng ca vang vọng khúc khải hoàn:
Xuôi dòng fiord gió lộng mưa tuôn;
Buồm căng cứng, dây chùng rên xiết cuộn.
Ướt đẫm làn da
Lòng dạ thiết tha.
Con tuấn mã đại dương tung bọt trắng xóa,
Giữa lúc khiên, giáo, mũ đồng cùng lóe lóa.
Từ fiord ra khơi,
Tàu lướt thảnh thơi,
Cùng gió lớn buồm căng phấp phới
Vượt cuồng phong lướt tới trước muôn trùng.
Đúng là một khúc ca cổ tích thật lộng lẫy và tràn đầy hơi thở đại dương phải không hỡi các bạn nhỏ? Các bạn có cảm nhận được hơi nước mặn mòi và những con sóng cuồn cuộn trong nhịp điệu dồn dập của nó không?
Bây giờ, hãy mở bản đồ ra lần nữa và tìm hòn đảo lớn Gotland nằm ngoài khơi bờ biển phía đông nam Thụy Điển, giữa lòng Biển Baltic. Vào thời của Olaf, đây là một vùng đất giàu có và đông đúc dân cư, và thị trấn chính Wisby, nằm ở cực bắc, là một trong những nơi sầm uất nhất châu Âu. Vị thiếu niên viking đã giương buồm đến hòn đảo hấp dẫn này cùng toàn bộ hạm đội của mình với hy vọng thu về những chiến lợi phẩm hậu hĩnh, nhưng người dân đảo Gotland đã đón tiếp cậu bằng những lời lẽ nhã nhặn và dâng nộp một khoản "cống vật" lớn đến mức cậu đồng ý không quấy nhiễu họ, và lưu lại trên hòn đảo này như một vị khách không mời mà đến suốt cả mùa đông dài giá lạnh. Ngay khi mùa xuân đến, cậu giương buồm hướng về phía đông tới Vịnh Riga và gieo rắc sự sợ hãi cùng kinh hoàng dọc theo bờ biển Phần Lan. Và khúc ca cổ xưa kể lại rằng người Phần Lan "đã dùng phép thuật triệu hồi vào ban đêm một trận cuồng phong dữ dội cùng thời tiết xấu; nhưng nhà vua đã hạ lệnh nhổ toàn bộ neo, giương buồm và kiên cường chống chọi suốt đêm ở vùng biển ngoài khơi. Thế là vận may của nhà vua đã vượt hơn cả ma thuật của người Phần Lan."
Sau đó, vị vua cướp biển trẻ tuổi giương buồm vượt "vùng biển dữ" để đến Đan Mạch, và tại đây cậu gặp một chiến hữu viking khác, một nhân vật tên là Thorkell Kẻ Cao. Hai vị thủ lĩnh đã lập nên một liên minh; và khi xuôi dòng dọc theo bờ biển phía tây Đan Mạch, họ đã giành chiến thắng trong một trận hải chiến tại Vịnh Ringkiobing, giữa những "cồn cát ở Jutland." Và cứ thế, việc làm ăn của công ty cướp biển kỳ lạ này — gồm một gã khổng lồ và một cậu thiếu niên — tiếp tục phát triển sôi động cho đến khi, dưới những vách đá ở Kinlimma, vùng Friesland, một tin cấp báo bay đến tai vị thiếu niên viking rằng vị vua nước Anh, Ethelred "Kẻ Không Sẵn Sàng", đang kêu gọi sự giúp đỡ của tất cả các chiến binh gan góc để giành lại cơ đồ và vương ốc từ tay vua trẻ Cnut, hay còn gọi là Canute Người Đan Mạch, kẻ có cha từng chiếm ngai vàng nước Anh. Nhanh chóng đáp lại lời kêu gọi hứa hẹn đầy rẫy những trận đánh ác liệt cùng khả năng thu về chiến lợi phẩm vô tận, Olaf, kẻ luôn sẵn sàng, liền giương những lá buồm màu xanh và đỏ thắm, lái chiến thuyền vượt biển đến giúp Vua Ethelred, kẻ chưa bao giờ sẵn sàng. Cậu chèo thuyền ngược dòng Thames tiến thẳng vào thành phố London.
"Hoan hô ngọn cờ hình rắn! Hoan hô Olaf Can Đảm!" Vua Ethelred cất tiếng chào mừng khi tiếng tù và cất lên khúc nhạc đón tiếp; và trên bờ đất thấp của Đảo Đỏ, ngay bên dưới thành phố cổ, những chiếc sống thuyền chiến của người Na-Uy nhanh chóng cắm sâu xuống bùn, vị thiếu niên viking cùng đoàn tùy tùng liền nhảy phắt lên bờ. Vua Ethelred nói: "Ngươi đến đúng lúc thật đấy với những chiếc thuyền rồng tin cậy của mình, hỡi vị vua trẻ tuổi; bởi vì những tên cướp người Đan Mạch đã cố thủ rất kiên cố bên trong thành phố London và trong lâu đài của phụ vương Edgar ta."
Và rồi nhà vua kể cho Olaf nghe cách mà "tại khu chợ lớn có tên là Southwark", người Đan Mạch đã dựng lên "một công sự lớn cùng những con hào sâu, và bên trong đã xây dựng một thành lũy bằng đá, gỗ và cỏhèo, nơi chúng đồn trú một đại quân."
Nhà vua nói thêm: "Và chúng ta rất muốn chiếm lấy thành lũy này, quả thực đã mở một cuộc tấn công lớn vào nó; nhưng quả tình chúng ta chẳng thể làm gì nổi."
Vị thiếu niên viking hỏi: "Và tại sao lại thế?"
Vua Ethelred đáp: "Bởi vì trên cây cầu bắc giữa lâu đài và Southwark, lũ người Đan Mạch cướp bóc đã dựng lên những tòa tháp và lan can cao ngang ngực, từ đó chúng ném đá và vũ khí xuống khiến chúng ta không thể nào tiến lên được. Và giờ đây, hỡi Vua Biển, ngươi có kế sách gì không? Làm thế nào chúng ta có thể trả thù kẻ thù và chiếm lấy thị trấn đây?"
Vẫn bồng bột và thiếu kiên nhẫn trước mọi trở ngại như mọi khi, vị thiếu niên viking đáp: "Làm thế nào á? Tại sao, ngài hãy đánh sập cây cầu này đi, thưa Bệ hạ, rồi ngài sẽ có lối đi nước thênh thang dẫn thẳng đến lâu đài của mình."
Vị nhà vua kinh ngạc thốt lên: "Đánh sập Cầu London vĩ đại ư, hỡi người anh hùng trẻ tuổi? Làm sao mà làm được điều đó? Chẳng lẽ chúng ta có một Công tước Samson nào đó trong hàng ngũ để thực hiện một chiến công vĩ đại đến vậy sao?"
Vị thiếu niên dũng cảm nói: "Hãy cho thuyền của ngài đỗ song song với thuyền của tôi, thưa Bệ hạ, áp sát cây cầu bị rào chắn này, và tôi xin thề sẽ đánh sập nó, bằng không ngài cứ gọi tôi là kẻ hèn nhát và đê tiện."
Vua nước Anh, Ethelred, đáp: "Được thôi!" Và tất cả các vị tướng lĩnh đều đồng thanh hưởng ứng: "Được thôi!" Thế là Olaf cùng người trung cận Rane chuẩn bị lực lượng chiến trận để phá hủy cây cầu.
Cầu London cũ không phải là một công trình kiến trúc uy nghi như chúng ta gọi ngày nay, nhưng tổ tiên của chúng ta từ chín thế kỷ trước đã coi đó là một cây cầu khá hoành tráng rồi. Nhà biên niên sử ghi chép rằng nó "rộng đến mức hai cỗ xe ngựa có thể tránh nhau trên đó", và "dưới gầm cầu có những chiếc cọc được cắm sâu xuống tận đáy sông."
Thế là Olaf trẻ tuổi cùng lão Rane bàn bạc với nhau và quyết định đánh sập cây cầu bằng một đòn tấn công táo bạo kiểu viking. Và đây là cách sự việc được kể lại trong cuốn "Heimskringla", hay Saga về Vua Olaf Thánh:
“Vua Olaf ra lệnh kết những giàn phao bằng gỗ nổi lại với nhau bằng dây dợ làm từ vỏ cây phỉ, và để làm việc này, ngài cho dỡ cả những ngôi nhà cũ; dùng những thứ này làm mái che, ngài phủ kín lên các con thuyền sao cho mái che vươn rộng ra tận mạn ngoài. Dưới lớp mái che đó, ngài dựng lên những chiếc cột vừa cao vừa chắc chắn để vừa có không gian vung kiếm, lại vừa đủ sức chống chịu những tảng đá bị ném xuống từ trên cao.”
Olaf trẻ tuổi ra lệnh: "Nào, hạ mái chèo và chèo thẳng đến cầu đi!" Và những chiếc chiến thuyền có mái che được chèo tiến sát sạt vào Cầu London.
Và khi họ tiến lại gần cây cầu, sử sách chép rằng:
“Bị quân Đan Mạch ở trên cầu ném xuống vô số đá cùng các loại vũ khí tầm xa như giáo mác và tên bắn, khiến chẳng có chiếc mũ giáp hay tấm khiên nào có thể chống chịu nổi; và bản thân các chiến thuyền cũng bị hư hại nặng nề đến mức nhiều chiếc phải rút lui.”
Nhưng cậu thiếu niên viking và các chiến binh Na-Uy đến đó có mục đích của mình và không dễ gì bị đẩy lùi bởi đá, giáo hay tên. Họ cứ thế chèo thẳng tiến, "tiến sát ngay dưới gầm cầu."
Vị vua biển trẻ tuổi hét lớn: "Tất cả tung cáp ra, quấn chúng quanh những cây cọc gỗ!" Và những tay chèo cởi trần, buông mái chèo xuống, với người ra từ dưới các lớp mái che và vòng những sợi cáp dày hai lần quanh những trụ đỡ bằng gỗ của cây cầu. Đầu dây còn lại được buộc chặt vào đuôi của mỗi chiến thuyền, và rồi, khi quay đầu xuôi theo dòng nước, hai mươi chiếc chiến thuyền dũng mãnh của Vua Olaf chờ đợi lệnh của ngài:
Cậu thét lên: "Ra mái chèo! Kéo đi, những con chim chiến! Hãy kéo hết sức như thể các ngươi đang trở về Na-Uy vậy!"
Những tay chèo lực lưỡng người Na-Uy ngả người về trước rồi ngả ra sau; những sợi cáp càng lúc càng căng cứng; những ngọn giáo và tảng đá của người Đan Mạch trút xuống xối xả như mưa lên những chiếc chiến thuyền đang oằn mình chịu đựng; nhưng những cây cọc gỗ dưới gầm cây cầu lớn đã bị lung lay bởi lực kéo đều đặn của những sợi cáp, và chẳng mấy chốc, với một cú rướn người bất ngờ, những chiến thuyền Na-Uy lao vút xuống dòng sông, trong khi những sợi cáp chùng xuống kéo theo cả những khúc cọc của Cầu London vừa bị bứng gốc. Một tiếng hò reo vang dội cất lên từ phía lực lượng bao vây, và "giờ đây," sử sách chép rằng, "khi đám đông quân lính đứng dày đặc trên cầu, và trên đó cũng có rất nhiều đống đá cùng vũ khí khác, cây cầu liền đổ sụp; và phần lớn số quân trên cầu rơi tỏm xuống sông, còn tất cả những kẻ khác thì tháo chạy — kẻ vào trong lâu đài, người chạy về Southwark." Và trước khi Vua Ethelred "Kẻ Không Sẵn Sàng" kịp điều chiến thuyền đến tấn công, các chiến binh của Olaf trẻ tuổi đã nhảy phắt lên bờ, đánh chiếm các công sự đất ở Southwark, san bằng mọi vật cản trên đường tiến, và trận chiến Cầu London đã giành phần thắng.
Và người kể chuyện của Olaf trẻ tuổi cất cao khúc ca khải hoàn:
Cầu London nay đã đổ sập rồi—
Vàng thu trọn vẹn, tiếng thơm đời!
Khiên đồng khua vang dội,
Tù và rúc khắp lối,
Hildar gào thét giữa chiến trường!
Tiếng tên bay rít réo,
Áo giáp vang lanh lẻo,
Olaf nhờ Odin giành thắng lợi!
Và ai mà biết được, việc đánh sập Cầu London từ bao nhiêu trăm năm trước bởi Olaf, cậu thiếu niên viking mười lăm tuổi, rất có thể chính là nguồn gốc của trò chơi hát múa quen thuộc thân thiết với bao thế hệ trẻ thơ:
Cầu London sập rồi, sập rồi, sập rồi—
Cầu London sập rồi, hỡi tiểu thư xinh đẹp của tôi!
Thế là Vua Ethelred đã giành lại được vương quốc của mình, và cậu thiếu niên viking được tôn vinh hơn tất cả những người khác. Cậu được giao trọng trách chỉ huy tối cao trong các cuộc viễn chinh đầy hiểm họa chống lại người Đan Mạch, cùng toàn bộ công cuộc phòng thủ dọc theo bờ biển nước Anh. Cậu giương buồm xuôi ngược dọc theo bờ biển phía bắc lẫn phía nam cùng toàn bộ chiến thuyền của mình, và người Đan Mạch lẫn người Anh đã khắc ghi lâu dài những phương thức hành động táo bạo nhưng đầy tai tiếng của vị cướp biển trẻ tuổi này, kẻ đã quét sạch bờ biển nước Anh và đòi cống nạp từ cả bạn bè lẫn kẻ thù như nhau. Bởi vì đó là những ngày tháng bất an đối với thương nhân, người buôn bán và người nông dân, chẳng có tài sản hay mạng sống của ai được an toàn trừ khi họ chịu nộp cống nạp sòng phẳng cho những đồng minh người Na-Uy hung hãn của Vua Ethelred. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, Vua Ethelred qua đời, và Olaf trẻ tuổi, với cơn khát khao những cuộc phiêu lưu mới, đã giương buồm xuôi về phương nam, chiến đấu mở đường dọc theo toàn bộ bờ biển nước Pháp cho đến tận cửa sông Garonne. Cậu chiếm được vô số lâu đài; khuất phục biết bao nhóm viking đối địch; thu về rất nhiều chiến lợi phẩm; cho đến cuối cùng những chiếc thuyền rồng của cậu thả neo dưới chân những bức tường thành Bordeaux cổ kính, chờ đợi những ngọn gió thuận lợi để đưa cậu vòng qua Eo biển Gibraltar, và cứ thế tiến đến "vùng đất Jerusalem."
Một ngày nọ, bên trong "khoang trước" chất đầy chiến lợi phẩm của chiếc thuyền rồng, vị vua biển trẻ tuổi đang chìm vào giấc ngủ; và đột nhiên, theo ghi chép cổ xưa, "cậu mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ."
Cậu nghe thấy một giọng trầm vang lên: "Olaf, dòng dõi cao quý của các vị vua, hãy lắng nghe đây!" Và khi ngước nhìn lên, kẻ nằm mơ dường như nhìn thấy trước mặt mình "một nhân vật vĩ đại và quan trọng, nhưng đồng thời cũng mang một vẻ ngoài vô cùng đáng sợ."
Ảo ảnh ấy lên tiếng: "Nếu ngươi thực sự là Olaf Can Đảm như người đời vẫn gọi, hãy hướng bản thân tới những hành động cao cả hơn thay vì đi cướp bóc kiểu viking và những chuyến hải hành lang thang vô định này. Hãy quay đầu, hãy quay đầu lại khỏi hành trình vô nghĩa đến vùng đất Jerusalem, nơi chẳng có lấy một chút vinh quang hay danh tiếng nào chờ đợi ngươi. Hỡi con trai của Vua Harald, hãy quay về với cơ đồ của cha ông; bởi vì ngươi sẽ trở thành Vua cai trị toàn cõi Na-Uy."
Rồi ảo ảnh biến mất và vị thủ lĩnh trẻ tỉnh dậy để nhận ra xung quanh mình chẳng có ai ngoài cậu bé hầu phòng đang ngủ gục ngay ngưỡng cửa cabin. Thế là cậu vội vàng gọi lão lái tàu Rane tới và kể lại giấc mơ của mình.
Vị trung thần già dũng mãnh của cậu đáp: "Đó là điềm báo để đánh thức ngài dậy đấy, thưa Bệ hạ. Đó chính là vị Đại đế Olaf, người chú của ngài, Vua Olaf Tryggvesson đã cất tiếng gọi ngài. Hãy chiếm lấy Na-Uy đi, thưa Bệ hạ, bởi vì điềm báo ấy cho thấy ngài và dòng dõi của ngài sẽ cai trị quê cha đất tổ."
Và những chiếc mũi thuyền rồng lại đồng loạt quay đầu hướng về phương bắc, khi cậu thiếu niên viking, tuân theo lời hứa trong giấc mơ của mình, giương buồm trở về Na-Uy để tìm kiếm ngai vàng.
Lúc bấy giờ ở Na-Uy, Bá tước Eric đã qua đời. Suốt mười ba năm trời, lão ta đã soán đoạt ngai vàng lẽ ra phải thuộc về một hậu duệ thuộc dòng dõi của Đại đế Olaf; và khi lão chết, người con trai khôi ngô của lão, Bá tước Hakon Kẻ Khôi Ngô, lên thay cha cai trị. Và khi vị vua trẻ Olaf hay tin này, cậu đã hò reo vì vui sướng và thét lên với Rane:
"Mau chóng trở về nhà thôi, bởi vì Na-Uy sẽ là cơ đồ của Hakon hoặc của chính ta!"
Người lái tàu trung thành đáp: "Đó là một trận thư hùng cân tài cân sức giữa tuổi trẻ với tuổi trẻ; và nếu vận may mỉm cruời với ngài, Na-Uy sẽ thuộc về ngài!"
Thế là, xuất phát từ "một nơi gọi là Furovald", đâu đó nằm giữa cửa sông Humber và cửa sông Tees trên bờ biển nước Anh, Vua Olaf, chỉ với hai chiếc chiến thuyền dũng mãnh cùng hai trăm hai mươi "con người được tuyển chọn kỹ lưỡng và trang bị vũ khí tận răng", đã giương những lá buồm màu tía đón lấy những cơn gió bão từ Biển Bắc và tiến thẳng hướng Na-Uy.
Như thể muốn hùa vào chống lại vị thiếu niên viking gan dạ này, những cơn gió bão ầm ầm kéo xuống từ các ngọn núi ở Na-Uy và vành đai băng giá của Vòng Bắc Cực, quật ngã hai chiến thuyền đang chao đảo giữa biển khơi cuồn cuộn. Cơn bão ập xuống với sức mạnh khủng khiếp, và nguy cơ đắm tàu là vô cùng lớn. "Nhưng," sách cổ ghi chép, "vì họ có một đoàn tùy tùng được tuyển chọn kỹ lưỡng và có vận may của nhà vua đi cùng nên mọi chuyện đều ổn thỏa."
Vị ca sĩ trung thành cất lời ca:
“Hỡi vị thủ lĩnh tài ba!
Cùng đoàn thủy thủ can trường,
Ngài đối đầu với tài năng và lòng dũng cảm chân chính
Cơn thịnh nộ của biển cả cuồng nộ
Trên hành trình vượt đại dương.
Dù những con sóng cao ngất ngột ngào vỗ quanh,
Ngài vẫn tìm thấy tâm điểm đất liền Na-Uy,
Tay nắm chặt bánh lái
Trên bờ biển Saelö.”
Sael trong tiếng Na-Uy có nghĩa là "may mắn" và Hòn đảo Saelö có nghĩa là hòn đảo may mắn.
Cậu thiếu niên bồng bột Olaf thốt lên câu đùa duy nhất được ghi chép lại của cậu, khi thực hiện một cú nhảy mạnh mẽ lên bờ nơi phần sống thuyền trượt dài cào xới bờ biển đảo Saelö: "Ta sẽ là một vị vua may mắn khi đặt chân lên Hòn đảo May mắn này theo cách như thế."
Lão lái tàu Rane bám sát phía sau đáp: "Quả thật, đó là một điềm lành đấy, thưa Bệ hạ."
Nhưng đất của "hòn đảo may mắn" phần lớn là đất sét, ẩm ướt và trơn trượt, và khi vị thiếu niên viking háo hức trèo lên bờ dốc, chân phải của cậu bị trượt, và cậu đã suýt ngã nếu không kịp dậm chặt chân trái xuống lớp đất sét để cứu vãn tình thế. Nhưng việc trượt chân dù chỉ chút ít cũng là một điềm gấu trong thời kỳ cổ đại nửa ngoại giáo và đầy rẫy sự mê tín dị đoan ấy, nên cậu bèn nói với vẻ đầy ái ngại: "Một điềm báo; một điềm báo, Rane ạ! Nhà vua bị ngã rồi!"
Lão Rane khôn ngoan và lanh lẹ liền đáp: "Không đâu, đó là vận may của nhà vua đấy. Ngài có ngã đâu nào, thưa Bệ hạ. Hãy nhìn xem; ngài chỉ vừa đặt một chân thật chắc xuống mảnh đất quê hương Na-Uy này mà thôi."
Vị vua trẻ mỉm cười nhẹ nhõm và nói: "Ngươi đúng là một kẻ đoán mộng cừ khôi, Rane ạ," rồi cậu nói thêm một cách trang nghiêm: "Hy vọng mọi chuyện sẽ đúng như thế nếu Thượng đế muốn vậy."
Và giờ đây tin tức bay đến rằng Bá tước Hakon, chỉ với một chiếc chiến thuyền duy nhất, đang giương buồm đi về phía bắc từ Vịnh Sogne; và Olaf, thúc giục hành trình, cho hai chiến thuyền của mình mai phục ở hai bên một eo biển hay lạch nước hẹp tại Eo biển Sandunga. Tại đây cậu cho tháo gỡ toàn bộ trang bị chiến trận trên thuyền, và chăng một sợi cáp lớn ngập sâu dưới mặt nước băng qua eo biển hẹp. Sau đó cậu cuốn hai đầu sợi cáp vào các tang tời, lệnh cho toàn bộ chiến binh ẩn nấp khuất tầm nhìn, rồi kiên nhẫn chờ đợi đối thủ. Chẳng mấy chốc, chiến thuyền của Bá tước Hakon chở đầy tay chèo và chiến binh tiến vào eo biển. Đinh ninh rằng trước mặt mình chỉ là hai chiếc thương thuyền vô hại đậu ở hai bên lạch nước, vị bá tước trẻ tuổi ra lệnh cho đám tay chèo lướt qua giữa hai con tàu. Đột nhiên có tiếng động xôn xao trên những chiếc thương thuyền vốn đang tĩnh lặng. Các thanh tời được người ta quay gấp rút; sợi cáp chìm dưới nước được kéo căng cứng. Phần đuôi chiến thuyền bị mắc bẫy của Bá tước Hakon bị nhấc bổng lên; phần mũi cắm phập xuống những con sóng, và nước tràn ộc vào chiếc thuyền xấu số. Một tiếng thét lớn vang lên; những chiếc thương thuyền tĩnh lặng bỗng chốc tràn ngập quân lính mặc giáp, và không gian ngập tràn một trận mưa đá, giáo và tên bay tới tấp. Cuộc phục kích đã hoàn hảo tuyệt đối. Sợi cáp càng được kéo căng hơn nữa; chiến thuyền của Bá tước Hakon lật nhào, và bản thân lão cùng toàn bộ binh lính rơi tỏm xuống những con sóng đang vẫy vùng sinh tử. Sử sách ghi lại: "Thế là Vua Olaf đã vớt Bá tước Hakon cùng toàn bộ binh lính của lão mà họ có thể tóm được lên khỏi mặt nước và bắt làm tù binh; nhưng một số đã bị giết còn số khác thì chết đuối."
Vị bá tước bị bắt làm tù binh được dẫn giải vào "khoang trước" của chiến thuyền nhà vua, và tại đó hai đối thủ trẻ tuổi tranh giành ngai vàng Na-Uy đã giáp mặt nhau. Cả hai thiếu niên có độ tuổi xấp xỉ nhau — từ mười sáu đến mười bảy — và vị bá tước trẻ tuổi Hakon được coi là chàng trai khôi ngô nhất toàn cõi Na-Uy. Mũ giáp của lão đã mất, thanh gươm thất lạc, bộ giáp vòng bằng thép xộc xệch, và mái tóc dài "mịn như lụa" bị "buộc gọn quanh đầu bằng một món đồ trang sức bằng vàng." Dinh ninh rằng mình sẽ phải chịu chung số phận của tất cả tù binh trong những ngày tháng tàn nhẫn ấy — đó là cái chết tức tưởi — vị bá tước trẻ tuổi vẫn ngẩng cao đầu đối diện với kẻ chiến thắng trẻ tuổi của mình với vẻ kiêu hãnh, quyết định đón nhận số phận như một trang nam nhi.
Nhà vua quan sát gương mặt của tù binh và nói: "Những kẻ nói rằng dòng dõi của Eric toàn là những trang nam nhi khôi ngô tuấn tú quả không sai. Nhưng giờ đây, hỡi bá tước, dẫu ngươi có bề ngoài ưa nhìn đến mấy thì vận may cuối cùng cũng đã bỏ rơi ngươi rồi."
Vị bá tước trẻ đáp: "Thời thế đổi thay. Cả hai chúng ta đều là những thiếu niên; và ngài đây, thưa Bệ hạ, có lẽ là một thiếu niên mưu lược hơn. Tuy nhiên, giả sử chúng tôi lường trước được cái trò mà ngài vừa giăng ra với chúng tôi thì chúng tôi đã chẳng bị vướng vào những sợi cáp chìm của ngài rồi. Hẹn gặp lại dịp may lần sau vậy."
Nhà vua lặp lại: "Lần sau ư! Ngươi không biết rằng khi ngươi đang đứng đó như một kẻ tù binh, sẽ chẳng có cái gọi là 'lần sau' dành cho ngươi nữa đâu sao?"
Vị tù nhân trẻ tuổi hiểu rõ mồn một ý nghĩa của những lời đó. Lão đáp: "Vâng, thưa Bệ hạ; mọi chuyện hoàn toàn phải do ngài định đoạt thôi. Con người ta sinh ra chỉ chết được một lần. Xin cứ nói tiếp đi; thần đã sẵn sàng!" Nhưng Olaf lại nói: "Ngươi sẽ dâng cho ta thứ gì, hỡi bá tước, nếu lúc này ta tha mạng cho ngươi, để ngươi được toàn thê toàn mạng ra đi?"
Vị bá tước đáp: "Đó không phải là những gì thần có thể dâng hiến, mà là những gì ngài muốn tước đoạt, thưa Bệ hạ. Thần là tù binh của ngài; ngài muốn lấy gì để đổi lấy tự do cho thần đây?"
Vị thiếu niên viking rộng lượng tiến lại gần đối thủ khôi ngô của mình hơn và nói: "Chẳng lấy gì cả. Như ngươi vừa nói đấy, cả hai chúng ta đều là những thiếu niên, và cuộc đời vẫn còn trải dài phía trước. Hỡi bá tước, ta ban cho ngươi mạng sống, chỉ cần ngươi đọc lời thề trước mặt ta rằng sẽ rời khỏi vương quốc Na-Uy này của ta, từ bỏ ngai vương và không bao giờ gây chiến chống lại ta sau này nữa."
Vị bá tước thất trận cúi đầu trước mái tóc vàng óng của mình.
Lão thốt lên: "Ngài quả là một vị thủ lĩnh rộng lượng, thưa Vua Olaf. Thần xin nhận mạng sống do ngài ban tặng, và mọi chuyện sẽ đúng như ý ngài muốn."
Thế là Bá tước Hakon đọc lời thề, và Vua Olaf cho dựng thẳng lại chiến thuyền bị lật nhào của đối thủ, trang bị lại cho nó từ chính kho chiến lợi phẩm của mình, và cứ thế hai thiếu niên chia tay nhau; vị bá tước trẻ tuổi lên đường tìm đến người chú của mình là Vua Canute ở nước Anh, trong khi cậu thiếu niên viking vội vã hối hả hướng về phía đông tới Vigen, nơi người mẹ của cậu là Nữ hoàng Aasta đang sinh sống, người mà cậu đã không được gặp suốt tròn năm năm ròng rã.
Đó là thời điểm thu hoạch vào năm 1014. Cả bên trong lẫn bên ngoài ngôi nhà dài và thấp của Sigurd Syr tại Vigen đang tràn ngập bầu không khí phấn khích; bởi vì tin tức đã truyền đến rằng vị vua biển Olaf đã trở về quê hương, và thậm chí hiện đang trên đường đến ngôi nhà của mẫu thân ngài. Những tấm vải rực rỡ trang trí trên những bức tường xám xịt của căn phòng lớn, lớp rơm sạch phủ kín mặt sàn đất, và trên những chiếc bàn dài bốn góc bày la liệt một bữa tiệc thịnh soạn gồm mật ong lên men, bia và những món ăn thô mộc nhưng đầy dưỡng chất, thứ đã nuôi dưỡng sức mạnh và cơ bắp của các anh hùng Na-Uy thời xưa. Đứng ngay ngưỡng cửa là Nữ hoàng Aasta cùng các thị nữ, trong khi phía trước lối vào, cùng với ba mươi "vệ binh ăn mặc chỉnh tề", chính là cha dượng của Olaf trẻ tuổi, vị hiền triết Sigurd Syr, vô cùng lộng lẫy trong bộ trang phục nạm ngọc, chiếc áo choàng đỏ thẫm và chiếc mũ giáp bằng vàng lấp lánh. Những người lính canh trên nóc nhà nghe thấy một tiếng hô từ xa, rồi lại một tiếng hô khác gần hơn, và chẳng mấy chốc, dọc theo con đường cái quan, họ bắt gặp ánh thép chói lọi cùng vô số lá cờ đang phấp phới; và giờ đây họ có thể nhận ra những vóc dáng vạm vỡ của một trăm binh lính được tuyển chọn của Olaf, những chiếc áo giáp vòng bằng sắt sáng bóng, những chiếc mũ giáp ngoại quốc và những tấm khiên có hình thánh giá đang lấp lánh dưới ánh mặt trời. Dẫn đầu đoàn người chính là lão Rane lái tàu, tay giương cao ngọn cờ trắng thêu hình con rắn vàng, và ngay phía sau lão, khoác bộ giáp vàng rực, mái tóc dài màu nâu buông xõa trên bờ vai vạm vỡ, chính là cậu thiếu niên viking, Olaf của Na-Uy.
Đó là một màn trở về quê hương thật hào hùng; và khi vị anh hùng trẻ tuổi lực lưỡng nhảy xuống ngựa, quỳ xuống đón nhận nụ hôn chào mừng của mẫu thân, người dân hò reo vui sướng, cờ phấp phới tung bay, tiếng tù và chiến trận thổi vang dội; và cứ thế, sau năm năm phiêu bạt giang hồ, cậu thiếu niên trở về trong khúc khải hoàn ngôi nhà mà cậu từng rời đi khi mới chỉ là một cậu nhóc hoang dã và ưa phiêu lưu mười hai tuổi.
Là anh hùng của chín trận hải chiến lớn, cùng vô số trận chiến nhỏ hơn trước khi tròn mười bảy tuổi, Olaf Haraldson trẻ tuổi là một thiếu niên phi thường, ngay cả trong thời đại mà mọi thiếu niên đều đặt mục tiêu trở thành những anh hùng trận mạc. Được tôi luyện cả về thể xác lẫn tâm hồn qua năm năm phiêu bạt trên biển cả, cậu đã trở nên mạnh mẽ và kiên định, trưởng thành như một người đàn ông thực thụ dẫu tuổi đời vẫn còn rất trẻ.
Cậu nói với mẹ và cha dượng của mình: "Con trở về đây để tiếp quản cơ đồ của cha ông tổ tiên. Nhưng con sẽ không cầu xin sự ban phát từ những vị vua Đan Mạch hay Thụy Điển đối với những thứ thuộc về quyền lợi hợp pháp của con. Con dự định sẽ tìm kiếm phần gia tài của mình bằng rìu chiến và gươm giáo, và con sẽ dốc sức vào công cuộc này để một trong hai điều sau sẽ xảy ra: Hoặc con sẽ thu phục toàn bộ vương quốc Na-Uy này dưới sự cai trị của mình, hoặc con sẽ ngã xuống ngay trên mảnh đất gia tài tại quê hương cha ông."
Đó là những lời lẽ đầy quả quyết đối với một thiếu niên mười bảy tuổi. Nhưng chúng không hề là những lời khoác lác suông. Chưa đầy một năm trôi qua, sự gan dạ và lòng dũng cảm của Olaf trẻ tuổi đã mang lại chiến thắng, và vào mùa thu hoạch năm 1015, khi ấy vừa tròn mười tám tuổi, cậu đã đăng quang ngôi Vua Na-Uy tại Drontheim, hay còn gọi là "Ngôi nhà ngai vàng" Nidaros, thành phố hoàng gia mà ngày nay trên bản đồ của các em được gọi là thành phố Drontheim. Vua Olaf Đệ Nhị đã cai trị vương quốc Na-Uy của mình trong mười lăm năm. Sử sách ghi lại rằng ngài là "một vị vua tốt bụng và rất mực hiền hòa"; nhưng lịch sử lại cho thấy lòng tốt và sự hiền hòa của ngài mang một sắc thái thô ráp và hung bạo. Những trải nghiệm hoang dã và khắc nghiệt từ thời kỳ làm viking của ngài vẫn tái hiện ngay cả trong những nỗ lực cải cách và mang lại lợi ích cho đất nước. Khi một kẻ từng là cướp biển nay lại tìm cách dẹp bỏ nạn cướp biển, và một kẻ từng là tên cướp trẻ tuổi ngông cuồng nay lại tìm cách ép buộc toàn bộ Na-Uy phải theo đạo Thiên Chúa, ngài đã thực hiện những điều đó một cách dữ dội và tàn nhẫn đến mức cuối cùng thần dân đã nổi dậy chống lại ngài, và Vua Canute đã mang đại quân đến để tước đoạt ngai vàng của ngài. Trên chiến trường đẫm máu tại Stiklestad vào ngày 29 tháng 7 năm 1030, vị bạo chúa kiên cường đã ngã xuống, theo lời kể của Sigvat, người kể chuyện của ngài,
“dưới những đòn roi
Do chính những thần dân vô tâm gây nên.”
Thế là Vua Canute đã chinh phục được Na-Uy; nhưng sau khi hắn qua đời, con trai của Olaf là Magnus Kẻ Nhân Từ đã giành lại ngai vàng của cha mình. Người dân, với nỗi buồn vì từng nổi dậy chống lại Vua Olaf, đã quên đi những cách hành xử khắc nghiệt và tàn nhẫn của ngài, đồng thời tôn vinh tất cả những việc làm tốt đẹp của ngài lên mức vĩ đại đến nỗi cuối cùng ngài được phong thánh, và lăng mộ của Thánh Olaf đến nay vẫn là một trong những niềm tự hào rực rỡ của nhà thờ lớn tại Drontheim. Và sau khi Vua Magnus qua đời, dòng dõi của ngài đã cai trị Na-Uy trong gần bốn trăm năm; và cứ thế, lời hứa trong giấc mơ từng xuất hiện ở "khoang trước" của chiếc thuyền rồng vĩ đại dưới chân những bức tường thành Bordeaux cổ kính từ bao nhiêu năm trước đã ứng nghiệm đối với Olaf Na-Uy, cậu thiếu niên viking đầy táo bạo và dũng mãnh.
(CHÚ THÍCH)
[F] "Chúc Viking luôn khỏe mạnh và bình an!"
[G] Những vị vua biển hung hãn thời xưa coi thường một cuộc sống bình yên đến mức họ nói về kẻ chết yên bình trên giường ở nhà rằng: "Đó chẳng qua chỉ là cái chết trên giường rơm mà thôi."

