Hai
Thời nhà Nguyên, Bắc Kinh gọi là Nguyên Đại Đô, Thông Châu gọi là Lộ Huyện, hai nơi vốn không có đường thủy thông nhau. Mỗi ngày, hàng trăm chiếc thuyền lớn giương buồng cao, cánh buồm trắng phau từ các tỉnh phía đông nam xuôi dòng chở lúa gạo thượng hạng, vải vức cùng bách hóa phẩm đến kinh thành. Khi đến Thông Châu cũng là lúc chạm bến cuối, thuyền bè neo đậu tại hai bến lớn: một chỗ là Trương Gia Lịch (Quân) cách phía nam thành mười hai dặm; một chỗ là Hoàng Thuyền Phụ cách phía bắc thành năm dặm. Sau đó, hàng hóa trên thuyền được dỡ lên bờ, lại chất lên xe ngựa, lưng la, đi qua con đường trạm dài bốn mươi dặm để trung chuyển vào kinh thành, vô cùng bất tiện.
Đời Nguyên Thế Tổ chí nguyên, người ta dẫn nước từ suối Thần Sơn ở thôn Bạch Phù phía nam cảnh giới Xương Bình, trước hết chảy vào đầm Tích Thủy ở kinh thành, rồi lại chảy vào Thái Huyết Trì trong cung uy, qua cầu Ngự Hà, ra khỏi thành chảy về hướng đông, hòa vào lòng Bắc Vận Hà ở Đông Quan Thông Châu. Đây chính là sông Thông Huệ do Nguyên Thế Tổ ban tên. Từ đó, từng đoàn thuyền quan, ghe khách ngược dòng sông Thông Huệ, thẳng tiến kinh thành, tụ tập đông đúc bên bốn bờ đầm Tích Thủy. Đầm Tích Thủy lúc bấy giờ rộng vài dặm, sóng nước xanh biếc muôn khoảnh, thế nên còn có tên là Hải Tử, là nơi hội tụ của các mạch suối Tây Sơn chảy vào kinh đô.
Về sau, đầm Tích Thủy dần cạn nước, nguồn sông Thông Huệ khô cạn, nước nông, từ đó không thể đi thuyền lớn được nữa. Sau thời Dân Quốc, lòng sông Thông Huệ bị bồi lấp, hai bên bờ và các bãi cạn mọc đầy cỏ lau sậy um tùm, là nơi trú ngụ của chim chóc muông nước. Lòng sông càng thêm thu hẹp, mặt nước phủ đầy bèo tấm rong xanh, đến cả thuyền nhỏ cũng chẳng thể thông suốt thuận lợi dọc đường.
Đội thuyền nhỏ của chị dâu Xuân Liễu mỗi ngày từ sáng sớm đã ra bến vận hà ở Đông Quan Thông Châu, chở một thuyền cá tươi rau nước, vận chuyển đến chợ rau cửa Tiện Môn phía đông Bắc Kinh. Có lúc, thuyền qua đoạn nước nông, tiến một bước khó đi, người trên cả bốn chiếc thuyền đều nhảy xuống nước, hai người kéo còng ở mũi thuyền, hai người dùng vai ghì chặt đuôi thuyền, mới có thể lôi thuyền qua được. Đến cửa Tiện Môn, đem cá tươi rau nước giao cho đám con buôn bán rau, họ liền ở bên bờ sông rửa thuyền. Đợi trời sáng hằn, mặt trời mọc lên, để tiện chèo kéo khách du lịch đến sông Thông Huệ câu cá bắn chim. Nếu không có khách du lịch thuê thuyền, họ liền bẻ lái, xuôi thẳng vận hà, ra vận hà giăng lưới đánh cá, bán cho các hiệu cá trên bến, đợi mặt trời lặn mới thu thuyền về nhà.
Điểm Tướng Đài nằm bên bờ sông Thông Huệ chỉ có chừng hai, ba mươi hộ gia đình.
Căn nhà tranh rào liễu của chị dâu Xuân Liễu nằm sát ngay đầu thôn Điểm Tướng Đài. Trước cửa là một mảnh vườn nhỏ, nằm ngay trên bờ cao sông Thông Huệ, chị dựng một chiếc cần trục có buộc hòn đá tảng, múc nước từ sông Thông Huệ lên để tưới vườn.
Chị sống lủi thủi một mình, suốt ngày lại ở trên thuyền, trong nhà không nuôi heo, dê, gà, vịt mà chỉ nuôi một con chó đen to lớn hung dữ như hổ, sủa vang như báo, đặt tên là Nữu Tử, để canh gác cửa nhà. Hơn nữa, xung quanh thôn Liễu đều trồng đầy cây trôm gai và bụi táo dại, tựa như giăng một lớp lưới mây gai góc dày đặc, để đề phòng kẻ gian khoét vách đột nhập.
Một ngày tháng bảy, khi tiếng gà gáy canh một, chị dâu Xuân Liễu tỉnh giấc đúng giờ như mọi ngày, thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, súc miệng, rửa mặt, một tay cầm chiếc lược gỗ mẻ răng, một tay cầm chiếc gương đồng nhỏ hoa mai cũ kỹ, bắt đầu chải tóc.
Chị dâu Xuân Liễu tuy đã bước sang tuổi hai mươi mấy, khóe mắt cũng hằn lên những vết chân chim li ti, thế nhưng gương mặt tựa hoa đào ấy vẫn vô cùng diễm lệ không phai phế; thân hình chưa từng sinh con đẻ cái, lại quanh năm suốt tháng chèo chống trên sông, đi thuyền giăng lưới, hấp thụ ánh nắng, mưa móc, hương hoa, khí nước, cho nên vẫn uyển chuyển đầy đặn như thời thiếu nữ. Phơi mặt nơi đông người, lắm kẻ nhiều lời, chị dâu Xuân Liễu ngược lại vô cùng phiền lòng vì vẻ trẻ lâu của bản thân. Để tránh rước họa vào thân, thị phi đàm tiếu, chị ăn mặc rất già dặn: mái tóc đen nhánh mượt mà lại chải theo kiểu búi của phụ nữ lớn tuổi, trên đầu còn đội một chiếc nón chóp nhọn của đàn ông, mặc bộ quần áo vải thô màu xanh lông chuột. Thời tiết oi bức, lúc đánh cá chèo thuyền có cởi áo ra, cũng phải vắt lên vai, nửa thân trên còn nịt một chiếc yếm ngực thêu hoa xanh, không giống như những người phụ nữ làng chài khác, để lộ trần trụi ngực trần; hơn nữa hễ gặp ánh mắt lạnh lùng của người lạ liền vội vàng kéo chặt vạt áo, che kín ngực.
Đi lại trên sông, phu thuyền đều vô cùng thô lỗ, trong số khách khứa cũng không ít kẻ đê tiện hạ lưu, chị dâu Xuân Liễu là người không dung nổi dù chỉ một hạt cát trong mắt, tai không nghe lọt nửa câu dơ bẩn. Thế nên, thái độ của chị chẳng những lạnh lùng tựa băng sương, mà miệng mắng chửi sắc như dao, ra tay đánh nhau cũng độc ác tàn nhẫn, vì thế dù làm chủ thuyền chưa đầy nửa năm, vậy mà lại tạo được tiếng tăm nữ trung hào kiệt trên sông Thông Huệ.
Chải tóc xong, chị dâu Xuân Liễu tháo chiếc giỏ cơm treo trên móc gần cửa sổ, lục ra một cái bánh ngô nguội, một miếng dưa muối cũ, ăn từng miếng lớn.
– Đại cô, tỉnh chưa? Phải xuất giá thôi! – Ngoài cửa sáu, một giọng nói khàn đát vang lên.
Con chó đen to lớn đang cuộn tròn dưới chân cửa sổ bỗng gầm lên "gừ" một tiếng lao về phía cửa sáu, sủa vang ầm ĩ.
– Tal! – Chị dâu Xuân Liễu quát lớn một tiếng, con chó đen liền lập tức ngưng sủa.
Chị thổi tắt đèn, đi ra bếp ngoài cầm chiếc gáo bầu, múc một gáo nước từ chum, ngửa cổ uống ừng ực, kéo tay áo lau miệng, khóa cửa nhà, vừa gặm dưa muối, ăn bánh ngô vừa bước ra ngoài.
– Đại cô, con chó này của cô thật đúng là lục thân bất nhận mà! – Giọng nói khàn đát ngoài cửa sáu lại cười khà khà nói.
– Hợp Hòa đại bá, nó chính là trung thần của tôi đấy chứ! – Chị dâu Xuân Liễu cười, kéo nhẹ đôi tai con chó đen đang đứng thẳng người trước mặt mình. – Nữu Tử, ngoan ngoãn canh nhà giữ cửa, không được chạy rông.
Con chó đen sủa hai tiếng, bất ngờ tung người, tựa như một con vượn lanh lẹ, phóng phắt lên nóc nhà.
Chị dâu Xuân Liễu bước ra khỏi cửa tranh, rồi khép lại cửa tranh. Đứng ngoài cửa là Hợp Hòa đại bá gầy giơ xương khoác áo tơi, tay cầm bầu rượu, ngửa cổ tu một ngụm lớn.
– Đại cô, cô xuống thuyền đi! Tôi đi gọi tiểu huynh đệ nhà họ Cao thức dậy đây. – Hợp Hòa đại bá bước về phía lùm bách cổ tùng ở phía đông bắc thôn.
Ông là một lão già cô đơn đã bảy mươi tuổi, thời trẻ và trung niên từng là một người cầm sào thuyền nổi tiếng trên Bắc Vận Hà, là huynh đệ sinh tử với cha của chị dâu Xuân Liễu. Nay tuổi già sức yếu không ai thuê nữa, đành thuê một chiếc thuyền độc mộc, hợp tác cùng chị dâu Xuân Liễu, cảnh ngộ tuổi xế chiều vô cùng quạnh hiu. Thế nhưng, ông là một người an phận thủ thường, thích uống rượu ham chén thấu. Mỗi tối sau khi thu thuyền, bốn chiếc thuyền nhỏ của họ neo đậu bên bờ sông, ông liền ngủ trên thuyền, canh thuyền gom canh, đem mấy đồng kiếm được trong ngày uống sạch sành sanh, không thừa một xu, say mượn rượu giải vạn sầu.
Chị dâu Xuân Liễu ra tới thuyền, chưa đầy thời gian một nén nhang, Hợp Hòa đại bá đã gọi tiểu huynh đệ nhà họ Cao từ túp lều trong lùm bách cổ tùng tới. Cao Tức lầm lì mười tám tuổi cởi trần đi chân đất, mặc một chiếc quần rách vá chằng vá đúp, nheo nheo đôi mắt, ngáp ngắn ngáp dài, đầu gật gà gật gù đi ở phía trước; Cao Cưu Nhi nghịch ngợm mười sáu tuổi bị Hợp Hòa đại bá kéo qua kéo lại, lảo đảo như kẻ say rượu, vừa đi vừa nói mớ.
Đây là hai đứa trẻ khổ sở. Năm chị dâu Xuân Liễu gả đến Điểm Tướng Đài, cha mẹ chúng liền qua đời. Lúc đó Cao Tức và Cao Cưu Nhi cùng người anh là Cao Lý mò cá, vớt tôm, đào rau dại bên bờ sông Thông Huệ, nuốt sống sống nuốt chín, chịu đói cũng không đi ăn mày. Chị dâu Xuân Liễu thương xót chúng, thường hay vá víu may vá cho chúng, nấu mấy món canh cháo, vừa như chị cả vừa như mẹ. Cao Lý trước kia kéo phao trên thuyền lớn ở Bắc Vận Hà, sau lại đến đồn trú tại một trung đoàn của quân đội số 29 ngoài cửa nam thành cũ Thông Châu, liền phó thác tiểu huynh đệ bị bỏ lại ở nhà cho chị dâu Xuân Liễu chăm sóc.
Già thì già, trẻ thì trẻ, cùng cảnh ngộ đáng thương. Hoạn nạn có nhau, một sợi dây mây buộc chặt bốn chiếc thuyền nhỏ, đây chính là chị dâu Xuân Liễu và đội thuyền nhỏ bé của chị.