Yêu Lục Hợp người Đồng Thành, An Huy, xuất thân từ một danh môn vọng tộc đã sa sút. Từ nhỏ hắn đã chán ghét văn chương gia truyền, tính tình ưa thích thơ ca, khi lớn lên lại càng cam chịu tội nghịch tử, thi vào Giảng võ đường Bảo An; sau khi tốt nghiệp lại sang Nhật Bản du học trường Sĩ quan Lục quân, còn cưới một người vợ Nhật Bản tên là Doihihara Kazuko.
Dù mang thân phận quân nhân nhưng hắn lại mang phong thái danh sĩ phóng khoang, lười đọc binh thư chiến sách, chỉ thích múa bút văn chương; từng dẫn dắt một lữ đoàn hỗn hợp, làm trấn thủ mười năm, nhưng uy thế quân đội đều chẳng ra gì, mà nổi tiếng nhờ thơ ca và rượu chè.
Thế là, hắn bị cho là hữu danh vô thực, không đáng trọng dụng. Sau tuổi ba mươi, vận quan lộ mỗi ngày một kém, cuộc sống cá nhân lại gặp bất hạnh, Doihihara Kazuko vì khó sinh mà qua đời, để lại cho hắn một đứa con gái mồ côi. Hắn một mặt ong bướm tìm hoa hỏi liễu, mặt khác lại thề không lấy vợ, hành vi ngày càng quái gở.
Yêu Lục Hợp tự phụ bất phàm, nhưng suốt hai mươi năm chỉ được bổ nhiệm những chức vụ tản mạn nhàn rỗi, vô cùng hận vì tài không gặp thời; tài không gặp thời ắt sẽ phẫn thế kị tục, mà phẫn thế kị tục thì sẽ sinh ra tư tưởng dị đoan. Hắn rộng rãi kết giao với đủ mọi thành phần bất mãn với nhà cầm quyền, trong đó cũng có cả những nhân vật đỏ đã nằm trong danh sách đen. Ba năm trước, hắn mang một cái hàm trống là phó tổng giáo quan thiếu tướng thuộc đoàn huấn luyện quân sự của Phân hội quân sự Bắc Bình, được phái trú đóng tại Thiên Tân; Nguyễn Bích Thôn từng dùng tên giả đến ứng tuyển, làm gia sư cho con gái hắn là Yêu Lệ, dùng thân phận hợp pháp này để hoạt động ngầm.
Yêu Lục Hợp và Hà Ứng Khâm là bạn học cùng khóa, cho nên dù Hà Ứng Khâm là cấp trên trực tiếp của hắn, hắn lại chẳng hề cam chịu ở vị thế cấp dưới, thường xuyên nói lời cuồng ngôn trước mặt Hà Ứng Khâm, vô lại kiêng nể, khiến Hà Ứng Khâm vô cùng tức giận căm hận hắn, bèn bắt bẻ hắn cái tội lơ là trách nhiệm, đưa hắn vào danh sách nhân sự biên chế giải thể, chỉ phát nửa tháng lương; hắn phẫn nộ từ chức, treo ấn bỏ đi. Đúng lúc ấy, Thông Châu vừa mới khai trương một ngân hàng Kinh Đông, muốn mượn chút hư danh của hắn để dùng, bèn mời hắn làm phó chủ tịch hội đồng quản trị; hắn từng giữ chức trấn thủ Thông Châu ba năm, đối với thành phố nổi tiếng vùng Kinh Đông này có chút ít tình cảm, con gái Yêu Lệ lại thi đậu vào trường Trung học Lộ Hà Thông Châu, thế là hắn liền đồng ý, đến Thông Châu định cư.
Hắn rất sùng bái đại học giả có tư tưởng tự do phong phú thời nhà Minh là Lý Trác Ngô. Lý Trác Ngô bị triều đình bức hại, lưu lạc đến Thông Châu giảng học, rồi lại bị bắt bám, chết trong ngục, để lại di chúc cho đệ tử chôn cất ông ở ngoài cửa Bắc Quan Thông Châu. Yêu Lục Hợp liền xây dựng một căn biệt thự nhỏ mang phong cách điền viên bên bờ sông không cách mộ Lý Trác Ngô là bao; Lý Trác Ngô có một bộ tác phẩm tên là "Tàng Thư", Yêu Lục Hợp cũng đặt tên cho biệt thự của mình là Tàng Lư.
Yêu Lục Hợp sống tách biệt khỏi đám đông, thui thủi một mình sống trong khu vườn nhỏ quây hàng rào tre này, con gái Yêu Lệ ở nội trú tại trường Sư phạm Nữ sinh, chỉ có ngày Chủ nhật và nghỉ hè nghỉ đông mới đến bầu bạn với hắn. Nhà ngói cột xanh, trước sau nhà cây hoa tươi tốt, chính giữa sân có một giàn dây leo che bóng mát rượi. Hắn mãi đến xế trưa mới thức dậy, bơ phờ cưỡi ngựa ra đồng săn bắn; ăn cơm trưa xong lại nằm ngả lưng ngủ say sưa. Ngủ một giấc tỉnh dậy thì trời đã chập tối, đầu tóc quần áo xộc xệch ra bờ sông câu cá; dây dưa đến tối, một mình đi đi lại lại dưới ánh trăng trong sân, vòng qua những khóm hoa và hàng rào tre bước đi ngẫm nghĩ. Dù ánh trăng như nước, gió đêm hiu hiu, hơi nước mát rượi thổi từ trên sông tới, hương thơm thoang thoảng của cây hoa làm say lòng người, nhưng hắn chỉ cảm thấy lồng ngực khô nóng, phiền muộn, trống rỗng, vô vị, không kìm được thấp giọng ngâm nga:
Giữa hoa một bầu rượu, uống một mình không bạn hiền...
Đôi chân đi mỏi nhừ, đầu óc cũng tê dại, mới quay về phòng ngủ tiện tay rút một cuốn sách từ tủ sách ra, nằm phịch lên giường, cứ đọc đến khi ánh bình minh lọt qua khung cửa sổ, lúc này mới tắt đèn đi ngủ.
Nguyễn Bích Thôn lặng lẽ rời khỏi Điểm Tương Đài, đi vòng qua những luống cao lương xanh ngắt, đi đến biệt thự Tàng Lư của Yêu Lục Hợp.
Trước cửa Tàng Lư, có một gốc liễu rủ bóng mát tựa mây trôi, cách ba bước chân chính là bờ dốc đứng của bờ sông. Dưới bóng liễu, một chiếc bàn đá, dăm chiếc đôn đá. Có một thiếu niên hai mươi tuổi đang đọc sách. Nàng mặc chiếc áo ngắn tay bằng lụa hoa màu tiểu xã, bên dưới mặc chiếc quần rộng bằng lụa đen của thôn nữ phương Nam, dưới chân đi một đôi giày tennis trắng, đầu đội một chiếc mũ rơm vành rộng trắng như tuyết, trên vành mũ cắm một nhành hoa dại đỏ thắm như máu; nàng có khuôn mặt trái xoan, đôi mắt to ngấn nước mùa xuân, chiếc mũi nhỏ lấm tấm hạt mồ hôi, đôi môi đỏ mọng thoảng một nụ cười nhạt, lộ ra hàm răng trắng ngần như ngọc.
Nguyễn Bích Thôn đi theo lối mòn cỏ dại, đường quanh co dẫn đến nơi u tĩnh, nép nửa người trong đám cỏ dại, khẽ gọi: "Yêu Lệ!"
Thiếu nữ tập trung cao độ, hoàn toàn chìm đắm trong thế giới của sách, không có phản ứng.
"Lệ Chi Tử cô nương!" Nguyễn Bích Thôn bước ra từ đám cỏ dại.
Yêu Lệ còn có một cái tên Nhật Bản là Doihihara Lichiko, rất ít người biết.
Yêu Lệ kinh ngạc ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm người đàn ông ăn mặc như phu phen chèo thuyền này, ánh mắt ngơ ngác hỏi: "Anh... là ai?"
“Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi, hương âm bất cải mấn mao suy. Nhi đồng tương kiến bất tương tiếu, tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.” Nguyễn Bích Thôn đùa cợt ngâm bài thất ngôn tuyệt cú "Hồi hương ngẫu thư" của thi sĩ đời Đường Hạ Tri Chương.
"Tạ tiên sinh!" Yêu Lệ kêu lên một tiếng kinh ngạc, nhảy dựng lên, "Em đang đọc một cuốn sách cấm."
Nguyễn Bích Thôn làm gia sư ở nhà họ Yêu, dùng tên giả là Tạ Trì Xuân; anh cầm cuốn sách từ trên bàn đá lên xem, quả nhiên chính là cuốn tiểu thuyết "Tái thượng khúc" do anh dùng bút danh Trì Xuân Tiết viết vào năm ngoái ở Thiên Tân, năm nay xuất bản ngầm, viết về cuộc chiến đấu anh dũng bi tráng của quân đồng minh kháng Nhật Sát - Tư.
Nguyễn Bích Thôn trả lại cuốn sách trong tay cho Yêu Lệ, nói: "Đã là sách cấm thì không nên đọc giữa ban ngày ban mặt, để tránh ngồi nhà đóng cửa, tai họa từ trên trời rơi xuống."
“Theo sự khảo cứu của em, Trì Xuân Tiết chính là Tạ Trì Xuân.” Yêu Lệ liếc trộm sự thay đổi biểu cảm của Nguyễn Bích Thôn, “Anh ấy mang trên mình lệnh truy nã, hôm nay lại từ trên trời rơi xuống.”
"Lệ Chi cô nương, em nhận lầm người rồi." Nguyễn Bích Thôn điềm nhiên nói, "Tôi không phải Trì Xuân Tiết, cũng chẳng phải Tạ Trì Xuân; bần nhân họ Phương tên Vũ Chu, là phu chèo thuyền lặn lội đường xa tới làm thuê."
"Vậy thì thật là khiến người ta thất vọng tràn trề!" Yêu Lệ giả vờ ra vẻ chán nản.
Đúng lúc này, chỉ nghe trong sân vang lên một tiếng ho khan rõ ràng, có người ngâm nga như câu thơ định trường trong tuồng Kinh:
Đại mộng thùy tiên giác?
Bình sinh ngã tự tri;
Thảo đường xuân thụy túc,
Xung ngoại nhật trì trì.
"Bố em dậy rồi." Yêu Lệ khúc khích cười, "Ngày nào bố cũng phải ngâm bốn câu thơ này của Gia Cát Lượng trước khi rời lều cỏ."
Đang nói chuyện, Yêu Lục Hợp lại lớn tiếng hỏi người làm: "Có khách tầm thường nào tới không?"
Yêu Lệ tranh thủ trả lời: "Phu chèo thuyền Phương Vũ Chu ở đây, đứng đợi đã lâu."
Một hỏi một đáp, đều là đoạn đối thoại trong hồi đó của "Tam quốc diễn nghĩa" (Tam cố thảo lư).
Yêu Lệ dẫn Nguyễn Bích Thôn bước vào cửa, chỉ thấy Yêu Lục Hợp đang đứng trên bậc thềm cao. Hắn chừng năm mươi tuổi, da mặt vàng nhợt, người cao lớn, đầu tóc bù xù râu ria lởm chởm, mắt ngủ lờ đờ, mặc chiếc áo khoác vải Hàng đối khép, quần cưỡi ngựa màu xanh lá cây, bốt cưỡi ngựa cổ lửng, vừa có phong thái quân nhân lại vừa mang khí chất danh sĩ.
"Yêu tướng quân!" Nguyễn Bích Thôn bước lên trước.
Yêu Lục Hợp chớp chớp mắt, đột nhiên kêu lên một tiếng đầy kinh ngạc: "Tạ..."
"Không cần tạ đâu!" Yêu Lệ vội vàng cắt ngang tiếng kêu của hắn, "Ông đúng là lú lẫn rồi hay sao, sao lại không nhận ra phu chèo thuyền Phương Vũ Chu trên sông Hải Hà? Hồi chúng ta ở Thiên Tân, đến sông Hải Hà chơi, thường xuyên đi thuyền của anh ấy."
Yêu Lục Hợp trừng trừng hai mắt, nhìn chằm chằm Nguyễn Bích Thôn hồi lâu, rồi ngửa cổ cười lớn: "Vẫn là tiểu Lệ Chi nhà ta có đôi mắt tinh tường, phu chèo thuyền Phương Vũ Chu mau vào phòng khách ngồi đi."
Họ bước vào phòng khách, vừa định phân chủ khách ngồi xuống, chợt nghe ngoài sân vang lên một chuỗi tiếng pháo hoa nổ giòn giã như pháo Tết; một cỗ xe ngựa mui cao dát vàng vẽ hoa văn, rèm đũi xanh cửa sổ đỏ, bốn con ngựa kéo với bốn tên bảo vệ mặt mày hung dữ, cứ thế ngang ngược xông thẳng vào Tàng Lư.
Yêu Lục Hợp tức giận đùng đùng chạy ra, hét lớn: "Đứa nào là đại quan hiển quý ở đâu mà hống hách ngang ngược thế này?"
Trong xe ngựa, phát ra một tràng tiếng cười chói tai mà ngọt ngào nịnh nọt: "Lục ca, ngoài tiểu đệ ra, còn ai dám bước chân vào bảo điện của anh nữa?" Trên cửa sổ xe, ló ra một khuôn mặt lớn béo húp húp trắng bệch, một đôi mắt cá vàng lồi ra, hai chòm râu dê như được vẽ bằng bút mực, đôi môi đỏ hồng đang cười tủm tỉm.
"Nhữ Canh, là cậu!" Yêu Lục Hợp hét toáng lên. Nguyễn Bích Thôn vội vàng né tránh, trốn vào phòng khuê của Yêu Lệ.