Tại thời điểm Amos quay lại Israel mùa thu năm 1961, ông đã đi được 5 năm. Những người bạn lâu năm nhất của Amos dĩ nhiên đã so sánh Amos vừa về với Amos trong ký ức của họ. Họ nhận ra vài sự thay đổi. Con người Amos trở về từ đất Mỹ có vẻ nghiêm túc trong công việc hơn, đã có dấu hiệu của phẩm chất chuyên môn. Giờ đây ông đã là một giáo sư trợ lý, có văn phòng làm việc riêng tại Đại học Hebrew. Cách bài trí văn phòng của ông nổi tiếng sơ sài. Chẳng bao giờ có thứ gì trên bàn làm việc ngoại trừ một cây bút chì kim, còn nếu Amos ngồi tại đấy thì sẽ có một cục tẩy và chồng tài liệu sắp xếp ngăn nắp của dự án nào đó ông đang làm. Khi Amos sang Mỹ, ông không có bộ com-lê nào. Lúc ông xuất hiện tại Đại học Hebrew trong trang phục com-lê xanh nhạt, mọi người thật sự bị sốc, không chỉ bởi cái màu sắc ấy. “Thật không thể tưởng tượng nổi”, Avishai Margalit nói. “Đây là điều không ai làm. Cà-vạt là biểu tượng của giai cấp tư sản. Tôi nhớ lần đầu tiên thấy cha mặc com-lê và đeo cà-vạt. Giống như bắt gặp cha đi với gái làng chơi vậy”. Ngoài ra, Amos chẳng thay đổi gì: là người cuối cùng đi ngủ vào ban đêm, linh hồn của mọi bữa tiệc, ánh sáng thu hút mọi ong bướm vây quanh, là nhân vật tự do, hạnh phúc và thú vị nhất mà bất cứ ai từng biết. Ông vẫn chỉ làm điều mình muốn. Ngay cả sở thích mới của ông là mặc com-lê cũng thể hiện một Amos kỳ quặc chứ không hẳn là dân tư sản. Amos chọn com-lê chỉ theo số hiệu và kích cỡ của túi áo. Cùng với sự quan tâm dành cho túi áo, ông còn rất yêu thích những chiếc cặp và đã mua rất nhiều. Amos quay về sau 5 năm sống ở nền văn hóa nặng về vật chất bậc nhất trái đất chỉ để kiếm tìm những thứ có thể giúp ông áp đặt mệnh lệnh lên thế giới xung quanh.
Ngoài bộ vest mới, Amos còn có vợ mới. Ở Michigan 3 năm trước, ông quen bạn đồng môn tâm lý học tên là Barbara Gans. Họ bắt đầu hẹn hò một năm sau đó. “Ông ấy nói không muốn quay lại Israel một mình”, Barbara nói. “Và thế là chúng tôi kết hôn”. Bà lớn lên ở vùng Trung Tây và chưa bao giờ ra khỏi nước Mỹ. Bà thấy điều dân châu Âu thường nói về dân Mỹ – rất thoải mái và giỏi ứng biến – còn đúng với người Israel hơn. “Chỉ cần dây thun và băng dính giấy, họ có thể sửa chữa đủ thứ”, bà nói. Mặc dù nghèo về vật chất, Israel vẫn khiến bà cảm thấy họ giàu có về nhiều thứ khác. Dân Israel – ít nhất là những người Do Thái – dường như đều kiếm tiền xấp xỉ như nhau và chỉ đủ trang trải các nhu cầu cơ bản.
Họ chẳng có nhiều thứ xa xỉ. Bà và Amos không có điện thoại lẫn xe hơi, nhưng hầu hết những người họ quen biết cũng thế. Các cửa hàng đều nhỏ và chuyên biệt. Có tiệm mài dao, tiệm cắt đá và tiệm bánh đậu chiên falafel. Nếu bạn cần đến một thợ mộc hay thợ sơn, đừng mất công gọi điện cho họ dù bạn có điện thoại, bởi họ không bao giờ nghe máy. Buổi chiều bạn vào trong phố thì may ra vô tình gặp họ. “Tất cả các giao dịch đều mang tính cá nhân. Người ta hay đùa: Có người chạy ra khỏi căn nhà đang bốc cháy của mình để hỏi một người bạn trên phố có quen ai làm ở Sở Cứu hỏa không”. Không có tivi nhưng radio lại hiện diện khắp nơi, và khi đài BBC phát sóng, mọi người đều dừng mọi việc để lắng nghe. Những lời lẽ trên đài BBC luôn có vẻ khẩn cấp. “Ai ai cũng sẵn sàng”, Barbara nói. Bầu không khí căng thẳng chẳng hề giống với tình trạng bất đồng về cuộc chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ. Tại Israel, hiểm nguy dường như luôn hiện diện và đậm tính cá nhân: Nếu những người Ả Rập tại biên giới có lúc ngừng đánh giết lẫn nhau thì sẽ xuất hiện thứ cảm giác, Barbara nói, bọn họ có thể tràn vào đất nước chỉ trong vài giờ và giết chết bạn.
Các sinh viên tại Đại học Hebrew, nơi Barbara được phân công giảng dạy một lớp tâm lý học, có vẻ chỉ mải bắt lỗi giảng viên. Họ cực kỳ hiếu chiến và thiếu tôn trọng. Một sinh viên đã sỉ nhục một nhà trí thức Mỹ đến thăm khi cắt ngang bài nói chuyện của ông bằng những lời bình luận báng bổ, quá thể đến nỗi các quan chức trường đại học phải yêu cầu anh ta tìm gặp để xin lỗi người Mỹ nọ. “Tôi xin lỗi nếu đã làm ông tổn thương”, sinh viên kia nói với vị khách quyền cao chức trọng, “nhưng như ông thấy, bài nói chuyện quá tệ!”. Trong một bài thi cuối kỳ môn tâm lý học, sinh viên được phát một nghiên cứu đã xuất bản và phải tìm ra thiếu sót trong đó. Vào ngày thứ hai của Barbara, mới giảng được 10 phút, một sinh viên ở cuối phòng la toáng lên: “Không đúng!” và có vẻ như chẳng ai nghĩ gì về điều đó. Một vị giáo sư lỗi lạc của Đại học Hebrew đã giảng về một nghiên cứu có nhan đề “Những sự vật không phải sự vật trong thống kê”, sau đó có một sinh viên ngồi trong đám đông thính giả nói, đủ to để cho nhiều người nghe thấy: “Cái này sẽ đảm bảo cho ông ấy một chỗ trong Những người không phải người trong thống kê”.
Nhưng cũng tại thời điểm ấy, Israel coi trọng các giáo sư của mình hơn hẳn nước Mỹ. Giới trí thức Isarel được xem là có ảnh hưởng tích cực đến sự tồn vong của Nhà nước Do Thái, và họ đã đáp lại thịnh tình ấy bằng cách ít ra cũng giả vờ liên quan. Ở Michigan, Barbara và Amos sống hoàn toàn trong trường đại học và dành thời gian gặp gỡ dân học thuật. Còn ở nơi đây, họ cùng các chính trị gia, tướng lĩnh cùng giới nhà báo và những người khác tham gia trực tiếp vào việc điều hành đất nước. Trong vài tháng đầu quay về, Amos đi nói chuyện về các lý thuyết ra quyết định mới nhất cho giới tướng lĩnh trong không lực và quân đội Israel – dù cho ứng dụng thực tế của các lý thuyết, nói một cách xác đáng hơn, là chưa rõ ràng. “Em chưa bao giờ thấy nước nào quan tâm nhiều đến việc đảm bảo các quan chức hiểu tường tận về những diễn biến mới trong học thuật như vậy”, Barbara viết thư cho gia đình ở Michigan.
Và dĩ nhiên, mọi người đều ở trong quân đội, thậm chí cả các giáo sư, bởi thế, ngay đến một trí thức ít tai tiếng nhất cũng không thể bảo vệ bản thân khỏi những rủi ro mà toàn thể xã hội phải đối mặt. Tất cả đều bị bóc trần tương tự nhau theo ý muốn bất ưng của các nhà độc tài. Sự thật đó tiếp tục lặp lại với Barbara 6 tháng sau ngày bà đến đây, vào ngày 22 tháng 5 năm 1967, tại thời điểm Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser tuyên bố đóng cửa eo biển Tiran đối với các tàu Israel. Đa phần thương mại của Israel đều thông qua eo biển này nên thông báo trên chẳng khác nào một hành động gây chiến. “Một ngày kia, Amos về nhà và nói: Quân đội sắp đến đón anh”. Ông tìm quanh và thấy chiếc hòm cất giữ bộ quân phục lính dù cũ. Nó vẫn vừa. 10 giờ đêm đó, quân đội đến đón ông.
5 năm rồi Amos chưa nhảy ra khỏi một chiếc máy bay; ông được giao quyền chỉ huy một đơn vị bộ binh. Cả đất nước chuẩn bị cho chiến tranh – đồng thời ra sức phán đoán xem thể loại chiến tranh ấy sẽ là gì. Ở Jerusalem, những ai còn nhớ về cuộc chiến giành độc lập đều lo sợ sẽ có một cuộc vây hãm nữa nên đã vơ vét sạch các cửa hàng bán đồ ăn đóng hộp. Mọi người thấy khó mà tính được xác suất cho những hậu quả tiềm năng: Một cuộc chiến tranh chỉ với Ai Cập thôi có lẽ sẽ rất tệ nhưng vẫn còn khả năng sinh tồn; chiến tranh với cả cộng đồng các quốc gia Ả Rập có khi lại đồng nghĩa với thảm họa diệt vong. Chính phủ Israel đã âm thầm sắp xếp để các công viên được hiến tặng làm những ngôi mộ tập thể. Đất nước được tổng động viên. Những chiếc xe riêng chiếm các tuyến đường xe buýt – vì tất cả xe buýt đã bị quân đội trưng dụng. Học sinh thì đi giao sữa và thư tín. Dân Isarel gốc Ả Rập, những người không được phép phục vụ trong quân đội, đã tình nguyện làm các công việc lính nghĩa vụ Do Thái để lại. Trong thời gian ấy, một cơn gió tàn phá khủng khiếp bất chợt ùa đến từ sa mạc. Cảm giác không hề giống bất cứ thứ gì Barbara từng trải qua. Dù có uống nhiều nước đến đâu, bạn vẫn cảm thấy khát; quần áo giặt xong ướt thế nào cũng chỉ 30 phút là khô. Nhiệt độ lúc đó là 35oC, nhưng đứng trước bão sa mạc, bạn khó mà nhận ra sự nóng bức. Bà đến một làng cộng đồng của Israel ở biên giới ngay phía ngoài Jerusalem để hỗ trợ đào hào. Phụ trách những người tình nguyện là một người ngoài 40 tuổi đã mất chân trong cuộc chiến giành độc lập nên phải đeo chân giả. Ông là một nhà thơ. Ông vừa đi khập khiễng vừa làm thơ.
Trước khi giao tranh bắt đầu, Amos về nhà hai lần. Barbara hết hồn vì người chồng mới cưới thản nhiên quăng cây súng Uzi1 lên giường trước khi đi tắm. Có gì ghê gớm đâu! Đất nước đang trong tình trạng hoảng loạn nhưng Amos dường như chẳng quan tâm. “Ông ấy nói: ‘Chẳng có lý do gì phải lo lắng cả. Chiến cuộc phụ thuộc vào sức mạnh không quân và chúng ta có nó. Không lực của chúng ta sẽ tiêu diệt máy bay của bọn chúng’”. Vào buổi sáng ngày 5 tháng 6, quân đội Ai Cập tập trung đông đảo dọc theo biên giới Israel, Không lực Isarel đã tiến hành tấn công bất ngờ. Trong vòng vài giờ, các phi công Israel đã tiêu diệt khoảng 400 máy bay – gần như toàn bộ không lực của Ai Cập. Sau đó, quân đội Israel tiến vào kiểm soát Sinai. Đến ngày 7 tháng 6, Israel lâm chiến ở cả 3 mặt trận với Ai Cập, Gioóc-đa-ni và Syria. Barbara vào hầm trú bom tại Jerusalem và giết thời gian bằng cách khâu các bao cát.
1. Thuộc nhóm súng tiểu liên. Đây là một loại súng tự vệ trang bị cho cá nhân khá nhỏ gọn. Nó có khá nhiều phiên bản biến thể sau này. (ND)
Sau này, có báo cáo cho biết trước lúc chiến tranh nổ ra, Tổng thống Nasser đã nói chuyện với Ahmad Shukairy, người sáng lập Tổ chức Giải phóng Palestine mới hình thành gần đây. Nasser đề nghị trả những người Do Thái sống sót sau chiến tranh về quê hương; Shukairy đáp rằng không cần thiết phải lo lắng về điều đó vì sẽ chẳng có người Do Thái nào còn sống trở về. Chiến tranh nổ ra vào ngày thứ Hai. Chủ nhật tiếp theo, đài thông báo chiến tranh kết thúc. Israel giành được chiến thắng áp đảo đến nỗi khiến nhiều người dân Do Thái cảm thấy đó không phải một cuộc chiến thời hiện đại mà là một phép màu đến từ Kinh thánh. Đất nước này bất thình lình to gấp đôi vài ngày trước và kiểm soát được Thành Cổ Jerusalem cùng với tất cả những thánh địa khác. Mới một tuần trước, nó chỉ rộng bằng bang New Jersey, mà giờ đây đã rộng hơn cả West Virginia với các đường biên giới được phòng thủ chặt chẽ hơn nhiều. Đài ngừng phát các báo cáo chiến tranh, thay vào đó là các bài hát tiếng Hebrew tràn ngập niềm vui về Jerusalem. Đây là một điểm nữa Israel khác Mỹ: Các cuộc chiến của họ rất ngắn và luôn có người chiến thắng.
Vào thứ Năm, Barbara nhận được tin nhắn từ một người lính thuộc đơn vị của Amos; cậu ta cho bà biết Amos vẫn còn sống. Đến thứ Sáu, Amos lái chiếc xe jeep quân đội đến gần tòa nhà chung cư màu vàng cát và bảo bà lên xe. Họ cùng nhau chạy xe vòng quanh khu vực Bờ Tây mới chiếm được. Khung cảnh dọc đường đi thật tuyệt vời và lạ lẫm: những cuộc đoàn tụ ấm áp trong Thành Cổ Jerusalem giữa các chủ cửa hiệu người Do Thái và Ả Rập, vốn bị chia rẽ từ năm 1948. Một hàng dài người đàn ông Ả Rập tay trong tay bước trên đại lộ Ruppin ở khu phố Do Thái, rồi dừng lại chỗ đèn đỏ để vỗ tay… hoan hô đèn đỏ. Bờ Tây trước mắt họ giờ đây rải rác xe tăng và xe jeep cháy trụi lủi cùng các vỏ hộp cá ngừ mà những người Israel đi picnic vứt lại. Họ cuối cùng dừng lại ở Đông Jerusalem, tại cung điện mùa hè đang xây dở của Đức vua Jordan là Hussein, nơi Amos đang đóng quân cùng vài trăm binh lính Israel khác. “Dinh thự thật sự gây sốc”, Barbara viết thư cho gia đình ở Michigan đêm hôm đó, “nó kết hợp khiếu thẩm mỹ tệ hại nhất của người Ả Rập với những gì xấu nhất ở bờ biển Miami”.
Rồi sau đó là các lễ tang. “Sáng hôm nay, con số được đăng trên báo – 675 người chết, 2.563 người bị thương”, Barbara viết trong lá thư gửi về nhà. “Mặc dù con số nhỏ, nước này cũng nhỏ, nên mọi người có thể đếm được số người tử vong trong các bạn bè của mình”. Amos đã mất một cấp dưới trong đợt tấn công do ông dẫn đầu đánh vào tu viện trên đỉnh đồi ở Bethlehem. Ở nơi khác trên chiến trường, một trong những người bạn thân nhất thời thơ ấu của Amos đã bị một tay bắn tỉa giết chết, vài giảng viên Đại học Hebrew đã hy sinh hoặc bị thương. “Tôi lớn lên vào thời chiến tranh Việt Nam và không quen ai từng sang Việt Nam, chưa nói đến bỏ mạng ở đó”, Barbara nói. “Tôi biết 4 người thiệt mạng trong Chiến tranh Sáu ngày1 – mà tôi mới ở đó có 6 tháng”.
1. Chỉ cuộc chiến giữa Israel và các nước láng giềng Ả Rập: Ai Cập, Jordan và Syria. (ND)
Trong khoảng một tuần sau chiến tranh, Amos cắm trại tại cung điện mùa hè của Vua Hussein. Sau đó ông mau chóng được bổ nhiệm làm thống đốc quân sự của thành phố Jericho. Đại học Hebrew biến thành trại tù binh. Nhưng các lớp học của trường vẫn bắt đầu lại vào ngày 26 tháng 6 và những giảng viên đã ra trận được chờ đợi sẽ trở lại các vị trí trước đây mà không gây ra quá nhiều ồn ào. Trong số họ có Amnon Rapoport, người từng cùng Amos quay về Israel, đã cùng ông vào khoa Tâm lý học của Đại học Hebrew, dĩ nhiên trở thành người bạn thân nhất của Amos. Khi Amos lên đường cùng đơn vị bộ binh, Amnon đã lên một chiếc xe tăng khác và quay trở lại Gioóc-đa-ni. Các xe tăng của ông dẫn đầu đoàn quân chọc thủng các chiến tuyến của quân đội Gioóc-đa-ni. Lần này, Amnon phải thừa nhận với chính bản thân rằng việc bất thình lình nhảy vào và nhảy ra khỏi chiến tranh đã khiến tâm trí ông bị xáo trộn. “Ý tôi là, sao có thể như vậy? Tôi là một giáo sư trợ lý trẻ. Rồi họ đưa tôi đi và chỉ trong vòng 24 giờ đồng hồ, tôi bắt đầu giết người, trở thành một cỗ máy giết người. Tôi không biết phải làm thế nào. Những giấc mơ ám ảnh tôi nhiều tháng trời. Amos và tôi đã trò chuyện về việc đó: làm cách nào để hòa hợp hai mặt của cuộc đời này đây. Vị giáo sư và kẻ giết người”.
Ông và Amos vẫn luôn cho rằng họ sẽ cùng nhau khám phá cách con người ra quyết định, nhưng Amos rất gắn bó với Israel, còn Amnon lại một lần nữa chỉ muốn đi khỏi đây. Vấn đề đối với Amnon không chỉ là tình trạng chiến tranh liên miên. Ý tưởng làm việc chung với Amos đã không còn hấp dẫn. “Ông ấy quá vượt trội về trí tuệ”, Amnon nói. “Tôi nhận ra mình không muốn cứ ở yên đấy để mãi là cái bóng của Amos trong suốt cuộc đời”. Năm 1968, Amnon đáp máy bay đến Mỹ, trở thành giảng viên tại Đại học Bắc Carolina, bỏ lại Amos chẳng còn ai để trò chuyện cùng.
_______________
Đầu năm 1967, Avishai Henik 21 tuổi đang làm việc tại một làng cộng đồng trên cao nguyên Golan. Thỉnh thoảng người Syria ở phía trên cao lại nã pháo cối xuống khu làng, nhưng Avi không nghĩ nhiều về chuyện đó. Ông vừa mới kết thúc nghĩa vụ quân sự và mặc dù bản thân là một cậu học trò nghèo ở trường trung học, ông vẫn định học tiếp lên đại học. Đến tháng 5 năm 1967, trong lúc ông đang cố gắng, dù vẫn chưa đi đến đâu, quyết định xem mình sẽ học gì thì quân đội Israel lại gọi ông nhập ngũ. Nếu họ gọi thì nghĩa là sắp có chiến tranh, Avi cho là vậy. Ông gia nhập một đơn vị có khoảng 150 lính dù, hầu hết là những người ông chưa từng gặp.
10 ngày sau, chiến tranh nổ ra. Avi chưa từng ra trận. Ban đầu, các sĩ quan chỉ huy nói rằng ông sắp sửa nhảy dù xuống Sinai và chiến đấu với quân Ai Cập. Sau đó họ thay đổi quyết định và ra lệnh cho đơn vị của Avi lên xe buýt đến Jerusalem, là nơi mặt trận thứ hai với Gioóc-đa-ni vừa mở ra. Ở Jerusalem, có hai điểm tấn công vào quân Gioóc-đa-ni đang cố thủ ngay bên ngoài Thành Cổ. Đơn vị của Avi lẻn qua các chiến tuyến của Gioóc-đa-ni mà không phải bắn phát đạn nào. “Quân Gioóc-đa-ni thậm chí còn chẳng phát hiện ra”, ông nói. Vài giờ sau, một đơn vị lính dù thứ hai của Israel tiến theo sau và bị chia cắt tan tác: đội quân của Avi trước đó đã gặp may. Khi vượt qua các chiến tuyến, đơn vị ông đến gần những bức tường cổ. “Đó là lúc tiếng súng bắt đầu”, ông nói. Avi bỗng dưng chạy lóc cóc bên cạnh một thanh niên ông quý mến tên là Moishe – Avi mới gặp cậu vài ngày trước nhưng sẽ mãi mãi ghi nhớ khuôn mặt này. Một viên đạn bắn trúng Moishe và cậu ngã xuống. “Cậu ấy chết trong vòng 1 phút”. Avi tiếp tục tiến lên, mang theo cảm giác có thể chết bất cứ lúc nào. “Tôi kinh hãi”, ông nói. “Thật sự e sợ”. Đơn vị ông chật vật tìm đường trong Thành Cổ, dọc đường có thêm 10 người hy sinh. “Chỗ này một người, chỗ kia một người”. Avi hồi tưởng những hình ảnh và khoảnh khắc kịch tính: gương mặt của Moishe; viên thiếu tá người Gioóc-đa-ni của Jerusalem tiến lại gần đơn vị của Amos, vẫy cờ trắng, đứng bên cạnh Bức tường Than khóc1. Thời khắc cuối cùng thật khó tin. “Tôi đã sốc. Tôi đã thấy nó trong ảnh. Và bây giờ tôi đang đứng ngay bên cạnh nó”. Ông quay sang viên chỉ huy và nói mình rất hạnh phúc, rồi ông ta trả lời: “Ôi, Avishai, ngày mai cậu sẽ chẳng còn hạnh phúc khi nghe tin số người thiệt mạng”. Avi tìm thấy một chiếc điện thoại, gọi cho mẹ mình và nói vỏn vẹn: “Con còn sống”.
1. Đôi lúc còn được gọi là Bức tường phía Tây. Đối với nhiều người Do Thái, đây chính là địa danh thiêng liêng nhất của họ tại thành Cổ Jerusalem. (ND)
Chiến tranh Sáu ngày của Avi vẫn chưa chấm dứt. Chiếm được Thành Cổ Jerusalem, những người lính dù còn sống sót trong đơn vị của ông bị phái tới Cao nguyên Golan: Giờ đây họ sẽ phải chiến đấu với Syria. Trên đường đi, họ gặp một phụ nữ trung niên tiến lại gần và nói: “Các cậu là lính dù – có ai gặp thằng Moishe nhà tôi không?”. Chẳng ai trong số họ đủ dũng khí để nói với bà chuyện đã xảy đến với con trai bà. Khi đã đến chân Cao nguyên Golan, họ được giao phó nhiệm vụ: Lên máy bay trực thăng, nhảy xuống và tấn công các đội quân Syria dưới chiến hào. Nghe vậy, Avi bắt đầu cảm thấy kỳ lạ nhưng đoán chắc mình sắp đi vào chỗ chết. “Tôi có cảm giác nếu mình không chết ở Jerusalem thì cũng bỏ mạng ở Cao nguyên Golan”, ông nói. “Chẳng ai có đến hai cơ hội”. Viên sĩ quan chỉ huy giao ông dẫn đường dưới các chiến hào Syria – ông sẽ chạy phía trước một hàng ngũ lính dù Israel cho đến khi bị giết hoặc hết đạn.
Thế rồi – vào đúng buổi sáng họ chuẩn bị lên đường – chính phủ Israel thông báo sẽ có một cuộc ngừng bắn lúc 6 giờ 30 phút. Trong thoáng giây ngắn ngủi, Avi cảm giác như thể mạng sống đã được trao lại cho ông. Thế nhưng, viên sĩ quan chỉ huy vẫn cứ khăng khăng tiến hành cuộc tấn công. Avi không thể hiểu, ông lấy hết can đảm để hỏi. Tại sao lại tấn công khi chỉ vài giờ nữa chiến tranh sẽ kết thúc? “Ông ta nói: ‘Avi, cậu ngây thơ quá. Cậu nghĩ chúng ta sẽ không chiếm Cao nguyên Golan mặc dù sẽ có đình chiến ư?’. Tôi nói: ‘Được rồi, chuẩn bị đi chết thôi’”. Có Avi dẫn đầu, tiểu đoàn lính dù ập xuống Cao nguyên Golan từ máy bay trực thăng và nhảy xuống chiến hào quân Syria. Nhưng quân Syria đã đi rồi. Chiến hào trống không.
Sau chiến tranh, Avi, lúc này 22 tuổi, cuối cùng cũng quyết định ngành mình sẽ học: tâm lý học. Nếu bạn hỏi ông ấy ngay khi đó lý do chọn môn này, “Tôi sẽ nói là tôi muốn hiểu tâm hồn con người. Không phải là trí óc. Tâm hồn”. Đại học Hebrew không còn chỗ cho ông, bởi thế Avi đến một trường mới ở phía Nam Tel Aviv là Đại học Negev. Khuôn viên trường nằm trong thành phố Beersheba. Ông học hai lớp của thầy Danny Kahneman, người lúc đó đang phải làm thêm ngoài giờ do công việc ở Đại học Hebrew không đủ trang trải. Lớp đầu là nhập môn thống kê, nghe thì nhàm chán, nhưng không hề. “Ông ấy hiện thực hóa môn học bằng cách đưa vào tất cả các ví dụ thực tế từ cuộc sống”, Avi hồi tưởng. “Ông không chỉ dạy thống kê. Điều ông đang dạy là: ý nghĩa của tất cả những thứ này là gì?”.
Danny khi đó đang hỗ trợ Không lực Israel huấn luyện phi công chiến đấu. Ông nhận thấy các huấn luyện viên tin rằng trong việc dạy các chàng trai lái máy bay phản lực, chê hữu ích hơn khen. Họ giải thích với Danny là ông chỉ cần nhìn xem những gì xảy ra sau khi họ khen một phi công đã thể hiện đặc biệt tốt, hoặc chê anh ta thực hiện tồi thế nào. Phi công được khen sẽ luôn làm kém hơn vào lần tiếp theo, còn phi công bị chê lúc nào cũng sẽ làm tốt hơn. Danny quan sát đôi chút rồi sau đó giải thích với họ chuyện đang thực sự diễn ra: phi công được khen vì đã bay cực kỳ tốt, cũng giống như phi công bị chê dữ dội vì đã bay cực kỳ tệ, họ đang hồi quy giá trị trung bình. Họ có thể có xu hướng thể hiện tốt hơn (hay kém hơn) ngay cả khi giáo viên chẳng nói gì. Một ảo tưởng tâm trí đã đánh lừa các giáo viên – có lẽ cả nhiều người khác nữa – khiến họ nghĩ rằng lời lẽ của mình khi đem đến sự vui vẻ sẽ ít có hiệu quả hơn so với tạo ra tổn thương. Thống kê không chỉ là những con số tẻ nhạt, nó còn hàm chứa những ý tưởng cho phép bạn nhìn lướt qua các sự thật sâu xa về đời sống con người. “Vì chúng ta có khuynh hướng tưởng thưởng cho người khác khi họ làm tốt và trừng phạt lúc họ thực hiện công việc tồi tệ, đồng thời do sự hồi quy giá trị trung bình”, Danny sau đó viết, “nên đó là một phần căn bệnh của con người khiến chúng ta bị trừng phạt vì khen thưởng người khác và được thưởng vì đã trừng phạt họ”.
Một môn khác Danny dạy là về nhận thức: cách thức các giác quan làm sáng tỏ và đôi lúc gây lầm đường lạc lối. “Để tôi kể cho các bạn nghe: Sau hai môn học, rõ ràng người đàn ông này thật tuyệt vời”, Avi nói. Danny trích dẫn những đoạn văn dài từ kinh Talmud1, trong đó các giáo sĩ mô tả sự kiện ngày chuyển sang đêm và đêm chuyển sang ngày, rồi ông hỏi cả lớp: các vị giáo sĩ nhìn thấy những màu sắc nào vào thời điểm ấy, khi ngày chuyển qua đêm? Tâm lý học phải nói gì về cách nhìn nhận thế giới xung quanh của các giáo sĩ? Sau đó, ông nói với họ về hiệu ứng Purkinje – đặt theo tên nhà tâm lý học người Séc đầu tiên mô tả nó vào đầu thế kỷ XIX. Purkinje nhận thấy các màu sắc xuất hiện rực rỡ nhất đối với mắt người trong ánh sáng ban ngày lại tối tăm nhất lúc hoàng hôn. Và do vậy, thứ màu đỏ sặc sỡ mà các giáo sĩ trông thấy vào ban ngày có thể ngược với các màu khác, gần như không màu vào ban đêm. Danny dường như không chỉ suy ngẫm về mỗi hiện tượng lạ từng được ai đó khám phá, ông còn có khả năng mô tả chúng theo những cách khiến một sinh viên nhìn nhận thế giới khác đi đôi chút. “Và ông ấy đến lớp học chẳng mang theo gì cả!”, Avi nói. “Ông ấy chỉ bước vào và bắt đầu nói”.
1. Một kinh điển nữa của người Do Thái, có tầm quan trọng còn hơn cả Cựu Ước. (ND)
Một phần nào đó trong Avi không thể tin tính tự phát trong những thể hiện của Danny. Ông thắc mắc có lẽ nào Danny đã học thuộc các bài giảng rồi phô trương hay không. Nỗi nghi ngờ ấy bị xua tan vào cái ngày Danny đến lớp và nhờ trợ giúp. “Ông ấy tiến về phía tôi”, Avi nhớ lại, “và ông nói: ‘Avi, các sinh viên của tôi tại Đại học Hebrew muốn tôi cho họ văn bản nào đó tôi chẳng hề có. Tôi đã thấy cậu chép bài. Cho tôi mượn để tôi đưa họ được không?’... Mọi thứ ở trong đầu ông ấy thật!”.
Avi mau chóng hiểu ra rằng Danny kỳ vọng các sinh viên nhồi nhiều thứ vào đầu họ theo cùng cách thức của ông. Đến giai đoạn cuối môn nhận thức, Avi bị gọi vào quân dự bị. Ông đến gặp Danny để nói thật buồn vì sắp phải đi tuần tra một vùng biên giới xa xôi nào đó, ông chẳng thấy có cách nào để tiếp tục công việc hiện tại nên đành phải bỏ dở môn học giữa chừng. “Danny nói với tôi: ‘Được thôi, chỉ cần học trong sách là được’. Và tôi nói: ‘Ý thầy là gì, chỉ học trong sách thôi sao?’. Rồi ông ấy nói: ‘Hãy mang những cuốn sách theo và học thuộc’”. Và đó là điều Avi đã làm. Ông trở lại lớp của Danny vừa kịp ngày thi cuối kỳ. Ông đã nhớ được các cuốn sách. Trước khi Danny trả bài cho sinh viên, ông bảo Avi giơ tay lên. “Tôi đã giơ tay lên – lần này tôi đã phạm lỗi gì? Danny nói: ‘Cậu đạt điểm 100%. Nếu có ai đó giành được điểm như vậy thì điều đó nên được tuyên bố công khai’”.
Sau khi học với vị giảng viên dạy tối đến từ Đại học Hebrew, Avi đưa ra hai quyết định: Ông sẽ trở thành một nhà tâm lý học. Và ông sẽ học ở Đại học Hebrew. Avi cho rằng Hebrew chắc hẳn là một nơi kỳ diệu có các giảng viên tài năng truyền cảm hứng cho sinh viên vươn tới những tầm cao đam mê mới đối với các môn học. Vì thế, để học sau đại học, Avi đã đến Đại học Hebrew. Vào cuối năm thứ nhất, Trưởng khoa Tâm lý học của Đại học Hebrew, lúc ấy đang khảo sát sinh viên, đã kéo Avi sang một bên. Các thầy của cậu thế nào? Ông ta hỏi.
Họ cũng ổn, Avi nói.
Ổn à? Vị Trưởng khoa lên tiếng. Chỉ ổn thôi ư? Tại sao lại chỉ ổn thôi?
Em đã gặp một thầy tại Beersheba… Avi bắt đầu nói.
Vị Trưởng khoa ngay lập tức cảm nhận có chuyện gì đó đã xảy ra. Ồ, ông nói, cậu đang so sánh họ với Danny Kahneman. Cậu không thể làm vậy. Không công bằng cho họ. Có một hạng giáo viên được gọi là hạng Kahneman. Không thể so sánh các thầy cô khác với hạng Kahneman như thế. Cậu có thể nói người này hơn hay kém những người khác. Như thế thì được. Nhưng không được so với Kahneman.
Ở trong lớp học, Danny là thiên tài đậm nét. Bên ngoài lớp, Avi ngạc nhiên trước trạng thái tâm trí không ổn định của Danny. Một ngày nọ, trong khuôn viên trường, ông ngẫu nhiên gặp Danny và nhận ra ông đang mang tâm trạng cực kỳ đen tối – chẳng hề giống những gì Avi từng thấy. Một sinh viên vừa đánh giá không tốt về ông, Danny giải thích, và ông nghĩ có lẽ ông ấy bị chìm đắm. “Ông ấy thậm chí còn hỏi tôi: ‘Tôi vẫn thế, đúng không?’”. Ngoại trừ Danny, rõ ràng Avi và mọi người khác đều biết gã sinh viên kia là một tên ngốc. “Danny là thầy giỏi nhất ở Đại học Hebrew”, Avi nói, “nhưng thật khó để thuyết phục ông rằng bản đánh giá đó không quan trọng gì – rằng ông rất xuất sắc”. Đây chỉ là điều đầu tiên trong nhiều thứ gây rắc rối cho Danny Kahneman: ông có khuynh hướng khác người là cứ đi tin vào điều tệ hại nhất mà bất kỳ ai nói về mình. “Ông rất bất an”, Avi nói. “Đây là một phần tính cách của ông ấy”.
_______________
Đối với những người ông gặp hằng ngày, Danny dường như thật khó đoán. Hình dung của mọi người về ông thường xuyên thay đổi, giống như một trong những bức phác họa dùng cho thí nghiệm của các nhà tâm lý học trường phái Gestalt. “Ông ấy có tâm trạng cực kỳ thất thường”, một đồng nghiệp cũ cùng khoa với Danny nói. “Bạn không bao giờ biết mình chuẩn bị gặp một Danny nào. Ông ấy rất mong manh. Thèm được ngưỡng mộ và yêu mến. Rất mạnh mẽ. Rất nhạy cảm. Nhưng cũng dễ tổn thương”. Ông hút 2 bao thuốc lá một ngày. Ông đã kết hôn, vợ ông sinh hạ một trai một gái, nhưng người khác thấy Danny dường như vẫn sống hết mình vì công việc. “Ông ấy cống hiến cho công việc mà quên hết mọi thứ xung quanh”, theo Zur Shapira, một sinh viên của Danny về sau trở thành giảng viên tại Đại học New York. “Không thể nói thầy ấy là một người hạnh phúc”. Tâm trạng thất thường khiến Danny xa cách với mọi người, có chút gì đó giống như khoảng cách được tạo ra do quá đau buồn. “Phụ nữ cảm thấy muốn chăm sóc ông ấy”, theo Yaffa Singer, người từng làm cùng Danny trong đơn vị tâm lý học của quân đội Israel. “Ông ấy luôn nghi ngờ”, Dalia Etzion, vốn là trợ giảng của Danny, cho biết. “Tôi nhớ có lần đến gặp Danny và ông ấy đang buồn. Ông đang dạy và nói: ‘Tôi chắc chắn sinh viên chẳng thích mình’. Tôi nghĩ: Thì có quan trọng gì? Thật kỳ lạ. Vì sinh viên thích ông ấy lắm mà”. Một đồng nghiệp khác nói: “Ông ấy giống Woody Allen, chẳng hề biết đùa”.
Sự thất thường của Danny là một điểm yếu và phần nào cũng là điểm mạnh của ông. Nó gần như vô tình dẫn dắt ông mở rộng bản thân. Hóa ra Danny chẳng bao giờ thật sự phải quyết định mình sẽ trở thành nhà tâm lý học kiểu nào. Ông có thể và sẽ trở thành nhiều kiểu nhà tâm lý học khác nhau. Trong khi mất lòng tin vào khả năng nghiên cứu tính cách, ông lại đang xây dựng một phòng thí nghiệm để có thể nghiên cứu về thị lực. Phòng thí nghiệm của Danny có một băng ghế ngồi nơi các đối tượng tham gia sẽ bị cố định vào một thiết bị được chế tạo cho mục tiêu trên, miệng ngậm khuôn răng, trong lúc Danny chiếu sáng nhiều tín hiệu khác nhau vào đồng tử của họ. Ông nghĩ cách duy nhất để hiểu cơ chế hoạt động của con mắt là bằng cách nghiên cứu các sai lầm nó gây ra. Lỗi không chỉ mang lại những thông tin hữu ích, nó còn là chìa khóa có thể giải mã bản chất sâu xa của cơ chế. “Bạn hiểu như thế nào về trí nhớ?”, ông hỏi. “Đừng nghiên cứu về trí nhớ. Hãy nghiên cứu về sự quên lãng”.
Trong phòng thí nghiệm thị lực, Danny tìm kiếm những cách đôi mắt đánh lừa con người. Ví dụ, khi nhìn những tia sáng vụt qua trong thoáng chốc, độ chói mà mắt trải qua không phải là một chức năng đơn giản của độ chói tia sáng. Nó cũng phụ thuộc thời lượng tia sáng – thực tế là một sản phẩm của thời lượng tia sáng và cường độ của nó. Không thể phân biệt một tia sáng một phần nghìn giây có cường độ 10X với tia sáng mười phần nghìn giây có cường độ X. Nhưng khi các tia sáng kéo dài hơn 300 phần nghìn giây, mắt người sẽ thấy độ chói tương tự, bất kể tia sáng kéo dài bao lâu. Việc khám phá điều này không mấy ý nghĩa, ngay cả đối với Danny, ngoại trừ các tạp chí tâm lý học có nhu cầu về thứ đó, và ông nghĩ bản thân việc đo lường là sự rèn luyện tốt cho mình. “Tôi đang làm khoa học”, ông nói. “Và tôi có chủ đích trong những việc mình làm. Tôi nhìn nhận một cách có ý thức việc mình làm là lấp đầy khoảng trống trong học vấn, điều tôi cần làm để trở thành một nhà khoa học nghiêm túc”.
Khoa học kiểu này không tự nhiên đến với ông. Một phòng thí nghiệm thị lực đòi hỏi sự chính xác và Danny chính xác như bão sa mạc. Trong văn phòng lộn xộn của Danny, thư ký của ông phát chán vì cứ bị nhờ tìm kéo đến mức cô ấy lấy dây buộc nó vào ghế ngồi làm việc của ông. Ngay cả những sở thích của ông cũng lộn xộn: Về mặt tinh thần, ông có thể đi theo các học sinh đến vùng đất hoang vu để hỏi xem chúng muốn cho bao nhiêu người ngủ trong lều, rồi lại kẹp chặt răng của những người lớn vào một cái ê-tô1 để nghiên cứu cách thức hoạt động của đôi mắt họ, những việc khiến ngay cả các nhà tâm lý học khác cũng cảm thấy kỳ quặc. Những người trắc nghiệm tính cách đang săn tìm những mối tương quan lỏng giữa đặc điểm với hành vi: chẳng hạn chọn lều với tính hòa đồng, hay chỉ số IQ với thành tích công việc. Họ không nhất thiết phải chính xác, cũng không cần biết về con người như là các sinh vật. Các nghiên cứu của Danny về mắt người mang lại cảm giác giống như nhãn khoa hơn tâm lý học.
1. Một công cụ bằng kim loại dùng có hai ngàm kẹp chặt đồ vật trong lúc đang gia công. (ND)
Ông cũng quan tâm nhiều đến các sở thích khác. Ông muốn nghiên cứu điều được các nhà tâm lý học xem là “tự vệ tri giác”, nhưng đối với những người khác thì chỉ là nhận thức dưới ngưỡng. (Một làn sóng lo âu tràn vào Mỹ cuối những năm 1950 do cuốn sách của Vance Packard có tên The Hidden Persuaders (tạm dịch: Những kẻ thuyết phục giấu mặt), nói về sức mạnh của quảng cáo làm lệch các quyết định của con người bằng cách tác động vào tiềm thức của họ. Đỉnh điểm của hoảng loạn xuất hiện ở New Jersey, khi một nhà nghiên cứu thị trường tuyên bố ông ta đã ghép những thông điệp ngắn nhẹ nhàng như “Đói ư? Ăn bỏng ngô đi!” với “Hãy uống Coca-Cola” vào một bộ phim, tạo ra sự gia tăng nhu cầu đột ngột với bỏng ngô và Coca-Cola. Về sau ông ta thú nhận mình đã bịa ra tất cả). Các nhà tâm lý vào cuối những năm 1940 đã phát hiện ra – hay tuyên bố là mình đã phát hiện ra – khả năng tâm trí tự bảo vệ mình khỏi những thứ nó không muốn nhận thức bề nổi. Chẳng hạn, khi các nhà thí nghiệm chiếu nhanh những từ cấm kỵ trước mắt các đối tượng, họ sẽ thấy chúng đỡ khó nghe. Đồng thời, con người cũng bị ảnh hưởng bởi thế giới xung quanh theo đủ mọi cách mà không hoàn toàn nhận thức được: Sự việc đi vào tâm trí mà tâm trí chẳng hề nhận thức đầy đủ.
Các quá trình vô thức này vận hành như thế nào? Làm sao một người có thể hiểu rõ về một từ đến mức làm méo mó được nó, mà không cần nhận thức nó theo một kiểu nào đó? Liệu có nhiều hơn một cơ chế bên trong một tâm trí đang hoạt động? Ví dụ như một thành phần nào đấy của tâm trí nhận thức được các tín hiệu đang truyền vào trong lúc thành phần khác chặn chúng lại? “Tôi luôn thích câu hỏi: ‘Có cách nào khác để thấu hiểu trải nghiệm của bạn không?’”, Danny nói. “Tự vệ tri giác thú vị bởi dường như nó có thể chạm tới đời sống vô thức nếu có các kỹ thuật thực nghiệm phù hợp”. Danny đã tự soạn ra một số bài kiểm tra để xem liệu con người có thể học hỏi trong tiềm thức như ông từng nghi ngờ hay không. Chẳng hạn, ông cho các đối tượng thấy một loạt lá bài hay con số, rồi yêu cầu họ dự đoán thứ tiếp theo sẽ là gì. Có một trình tự rất khó phát hiện trong đó. Nếu các đối tượng có thể cảm nhận trình tự đó thì họ sẽ thường xuyên đoán trúng lá bài hay con số kế tiếp hơn là đoán đại – và họ không biết tại sao! Họ có lẽ sẽ nhận thức được khuôn mẫu mà không hề biết. Họ có thể học hỏi điều gì đó trong tiềm thức. Danny đã từ bỏ các thí nghiệm sau khi ông khẳng định các đối tượng của mình chẳng học hỏi được gì.
Đó là một điều nữa mà các đồng nghiệp và sinh viên nhận thấy ở Danny: ông từ bỏ sự nhiệt tình nhanh nhường nào, chấp nhận thất bại dễ dàng ra sao. Cứ như thể ông đoán được trước. Nhưng ông chẳng hề sợ nó. Danny sẵn sàng thử bất cứ cái gì. Ông xem bản thân là người thích đổi ý hơn hầu hết mọi người. “Tôi cảm nhận sự chuyển động và khám phá mỗi khi tìm ra một thiếu sót trong tư duy của mình”, ông nói. Lý thuyết của Danny về bản thân ăn khớp chặt chẽ với tâm trạng thất thường của ông. Lúc buồn bã, ông buông xuôi phó mặc mọi thứ – và vì thế chẳng hề ngạc nhiên hay bối rối khi thất bại. (Ông đã được chứng minh là đúng!) Lúc vui, ông tràn đầy nhiệt huyết đến mức dường như quên hẳn khả năng thất bại và sẽ chấp nhận bất cứ ý tưởng mới mẻ nào. “Ông ấy có thể khiến người khác phát điên bởi sự thất thường của mình”, nhà tâm lý học Maya Bar-Hillel, đồng nghiệp tại trường Đại học Hebrew, cho biết. “Điều tuyệt vời hôm nay có thể trở nên vớ vẩn vào ngày mai, hôm sau nó lại tuyệt vời và rồi hôm sau nữa lại tào lao”. Những thứ khiến người khác phát điên lại có thể giúp Danny tỉnh táo. Các tâm trạng khác nhau bôi trơn cho nhà máy sản xuất ý tưởng của ông.
Nếu những sự theo đuổi tính trí tuệ khác nhau của Danny có một chủ đề chung, ngoài sự quan tâm của ông dành cho chúng, thì người khác khó phát hiện ra. “Ông không có khả năng nhận ra việc nào gây lãng phí thời gian và việc nào không”, Dalia Etzion nói. “Ông ấy sẵn lòng coi bất cứ thứ gì là thú vị”. Nghi ngờ các nhà phân tâm học (“Tôi luôn nghĩ đó toàn là thứ gây hoang mang”), nhưng ông vẫn nhận lời mời của nhà phân tâm học người Mỹ David Rapaport đến trung tâm Austen Riggs ở thành phố Stockbridge, Massachusetts một mùa hè. Sáng thứ Sáu hằng tuần, các nhà phân tâm học của Austen Riggs – một số tên tuổi lớn nhất trong lĩnh vực này – tụ họp để thảo luận về một bệnh nhân mà họ đã bỏ ra một tháng trời quan sát. Tất cả các chuyên gia này đều đã viết báo cáo về bệnh nhân. Sau khi đưa ra chẩn đoán của mình, họ sẽ đưa bệnh nhân vào để phỏng vấn. Vào một tuần nọ, Danny đã quan sát các nhà phân tâm học thảo luận về bệnh nhân là một phụ nữ trẻ. Đêm trước ngày họ dự tính phỏng vấn, cô ấy đã tự tử. Không ai trong số các nhà phân tâm học – những chuyên gia của thế giới từng bỏ ra cả tháng trời nghiên cứu về tình trạng tâm thần của cô ấy – lo lắng cô ấy có thể tự kết liễu đời mình. Không một báo cáo nào của họ nhắc đến nguy cơ tự tử. “Bây giờ tất cả họ đều nhất trí là tại sao họ có thể bỏ qua chuyện đó?”, Danny nhớ lại. “Các dấu hiệu đều ở đó cả! Sau khi sự đã rồi họ mới hiểu ra. Còn trước đó họ không nhận thấy”. Chút quan tâm nhỏ nhoi đối với phân tâm học của Danny tan biến hết. “Vào lúc đó tôi nhận thấy chuyện này rất có ích”, ông nói. Không phải các bệnh nhân có vấn đề mà chính là các nhà phân tâm học – hoặc bất cứ ai khác ở vào vị thế phải xem lại dự báo của mình về kết quả đầu ra của một sự kiện không chắc chắn nào đó một khi anh ta đã biết kết quả đó.
Năm 1965, ông đến Đại học Michigan để nghiên cứu sau tiến sĩ cùng một nhà tâm lý học có tên Gerald Blum. Blum lúc đó đang bận rộn kiểm nghiệm ảnh hưởng mạnh mẽ của các trạng thái tinh thần lên cách thức con người giải quyết các nhiệm vụ trí óc khác nhau. Để thực hiện việc này, ông cần tạo ra những trạng thái cảm xúc mạnh mẽ cho các đối tượng. Ông dùng thuật thôi miên. Đầu tiên, ông yêu cầu mọi người mô tả chi tiết một trải nghiệm nhớ đời khủng khiếp. Sau đó, ông sẽ cho họ một tác nhân kích hoạt để gắn với sự kiện – ví dụ như một thẻ ghi chữ “A100”. Rồi ông thôi miên, cho họ xem thẻ – và chắc chắn họ sẽ lập tức nhớ lại trải nghiệm kinh khủng của mình. Tiếp theo, ông xem cách họ thực hiện một nhiệm vụ trí óc khó nào đó: chẳng hạn như lặp lại một dãy số. “Thật kỳ cục và tôi chẳng thích điều đó”, Danny nói – mặc dù ông đã học được cách thôi miên người khác. “Tôi tiến hành với đối tượng tốt nhất của chúng tôi – một anh chàng cao, gầy, mắt lồi và khuôn mặt đỏ lên khi thấy cái thẻ có chữ A100 dùng để dẫn dắt anh đến trải nghiệm cảm xúc tồi tệ nhất đời mình trong vài giây”. Lại một lần nữa, chẳng bao lâu sau, Danny nhận ra bản thân đang làm xói mòn độ chính xác của toàn bộ công trình. “Ngày nọ, tôi hỏi: ‘Hay là cho họ lựa chọn giữa cách làm đó và một cú sốc điện nhẹ?’”, ông hồi tưởng. Ông hiểu ra rằng bất cứ ai được lựa chọn giữa việc nhớ lại trải nghiệm tệ hại nhất trong đời với một cú sốc điện nhẹ đều sẽ chọn sốc điện. Nhưng không có bệnh nhân nào muốn nhận cú sốc điện: tất cả đều nói họ thích nhớ lại trải nghiệm tệ nhất trong đời hơn. “Blum choáng váng, vì ông ấy còn chẳng nỡ giết một con ruồi”, Danny nói. “Và tôi nhận ra đó là một trò chơi ngu ngốc. Đó không thể là trải nghiệm tệ hại nhất của đời họ. Có người đang giả bộ. Thế là tôi rời khỏi lĩnh vực đó”.
Cùng năm ấy, một nhà tâm lý học tên Eckhard Hess viết một bài báo trên tạp chí Scientific American thu hút được sự chú ý của Danny (Có thứ gì không thu hút ông chứ?). Hess mô tả các kết quả thực nghiệm đo lường sự co giãn của đồng tử trong lúc phản ứng với tất cả những loại tác nhân kích thích. Khi cho một người đàn ông xem ảnh phụ nữ ăn mặc thiếu vải, đồng tử của anh ta giãn ra. Điều tương tự xảy ra khi bạn cho một người phụ nữ xem ảnh người đàn ông điển trai. Nhưng nếu đưa ảnh cá mập cho mọi người xem thì đồng tử của họ sẽ co lại. (Thật lạ kỳ, nghệ thuật trừu tượng có cùng tác động như vậy). Nếu bạn đưa mọi người thứ gì đó ngon ngon để uống, đồng tử của họ sẽ giãn rộng; nếu bạn đưa thứ khó uống (nước cốt chanh hay thuốc ký ninh1), đồng tử của họ sẽ co lại. Nếu bạn cho họ nếm 5 vị nước cam có ga chỉ khác nhau chút ít thì đồng tử sẽ bộc lộ mức độ hài lòng của họ với từng loại. Con người phản ứng cực kỳ nhanh trước khi họ hoàn toàn nhận thức được mình thích thứ gì nhất. “Độ nhạy căn bản trong phản ứng của đồng tử”, Hess viết, “cho thấy nó có thể tiết lộ thị hiếu trong một số trường hợp mà ở đó, những khác biệt thị hiếu ít đến mức chủ thể thậm chí còn không thể phân biệt rõ”.
1. Loại thuốc dùng để chữa bệnh sốt rét. (ND)
Con mắt là cửa sổ tâm hồn. Trong phòng thí nghiệm thôi miên của Blum, cùng với nhà tâm lý học Jackson Beatty, là người mà ông cuỗm mất của Blum, Danny bắt đầu khám phá cách phản ứng của đồng tử vào lúc con người được yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi nỗ lực trí óc: ghi nhớ các chuỗi số hay phân biệt âm thanh có cao độ khác nhau. Họ đang tìm cách để hiểu không chỉ việc con mắt có đánh lừa tâm trí không, mà còn để xem tâm trí có đánh lừa con mắt hay không. Hoặc, như họ nói, “hoạt động tinh thần mạnh cản trở nhận thức” như thế nào. Họ phát hiện ra không chỉ có kích thích cảm xúc mạnh mẽ làm thay đổi kích thước đồng tử: nỗ lực trí óc cũng có cùng tác động. Như họ nói, rất có thể có “sự đối lập giữa suy nghĩ với nhận thức”.
_______________
Từ Michigan, Danny lên kế hoạch quay về với công việc thường trực tại Đại học Hebrew. Khi trường trì hoãn quyết định có mời ông về giảng dạy trọn đời hay không, Danny đã từ chối quay lại. “Tôi rất tức giận”, ông nói. “Tôi đã gọi điện và nói: ‘Tôi sẽ không quay về’”. Thay vào đó, đến mùa thu năm 1966, ông tới Harvard (3 năm tại Berkely đã thuyết phục ông là mình đủ giỏi để làm việc với tầm cỡ cao). Ở đó, ông đã nghe bài nói chuyện của một nhà tâm lý học trẻ tuổi người Anh tên là Anne Treisman, khiến ông rẽ theo một hướng đi khác.
Đầu thập niên 1960, Treisman tiếp nối công trình của các đồng nghiệp người Anh là Colin Cherry và Donald Broadbent để lại. Cherry, một nhà khoa học nhận thức, đã xác định được cái gọi là “hiệu ứng tiệc rượu”. Hiệu ứng này là khả năng sàng lọc nhiều tiếng ồn để nghe những âm thanh mình muốn nghe của con người – như khi họ nghe ai đó nói tại một bữa tiệc rượu. Vào những ngày tháng đó, đấy là một vấn đề thực tiễn trong thiết kế của các tháp kiểm soát không lưu. Ở những ngọn tháp thuở ban đầu, tiếng nói của tất cả các phi công cần chỉ dẫn được phát qua loa. Các kiểm soát viên không lưu phải lọc các giọng nói để xác định máy bay liên quan. Họ cho rằng có thể phớt lờ những giọng nói không cần thiết để tập trung vào giọng nói cần chú ý.
Cùng với một đồng nghiệp người Anh khác là Neville Moray, Treisman bắt đầu tìm hiểu cách mọi người lắng nghe có chọn lọc khi họ làm thế. “Chưa có ai từng nghiên cứu lĩnh vực lắng nghe có chọn lọc”, bà viết trong hồi ký, “vậy nên chúng tôi gần như tiến hành một mình”. Bà và Moray đã cho mọi người đeo tai nghe gắn với một máy ghi âm loại hai kênh dùng băng, rồi đưa đồng thời hai đoạn văn xuôi khác nhau vào từng tai. Treisman yêu cầu các đối tượng lặp lại theo một trong những đoạn văn của bà khi họ nghe thấy. Sau đó, bà hỏi họ đã nhớ được gì từ đoạn văn mình đã bỏ qua. Hóa ra họ không hoàn toàn bỏ qua nó. Một số từ ngữ và cụm từ đã đi vào tâm trí họ ngay cả khi chúng không được mời. Chẳng hạn, nếu tên mình xuất hiện trong đoạn văn được yêu cầu phớt lờ, người ta thường vẫn sẽ nghe được nó.
Chuyện này gây ngạc nhiên cho Treisman cùng với vài người khác sau đó đã bày tỏ sự quan tâm. “Tôi nghĩ vào thời điểm đó, sự quan tâm ấy là một kiểu chọn lọc hoàn toàn”, Treisman nói, “nhưng hóa ra có một hình thức kiểm soát nào đó đang diễn ra. Câu hỏi xuất hiện trong tôi là chúng tôi làm việc này như thế nào? Nội dung đã được truyền tải khi nào và bằng cách nào?”. Trong bài nói chuyện ở Harvard, Treisman cho rằng mọi người sở hữu không chỉ một công tắc bật-tắt cho phép họ chú ý tới bất cứ chuyện gì họ dự định quan tâm, mà còn cả một cơ chế tinh tế hơn nhằm làm suy yếu một cách có chọn lọc các tạp âm, chứ không hẳn chặn toàn bộ. Dĩ nhiên, việc tạp âm có thể lọt vào tai không phải là tin vui nhất cho hành khách trên những chiếc máy bay đang bay vòng quanh tháp kiểm soát không lưu. Nhưng nó thật thú vị.
Anne Treisman có một chuyến thăm ngắn đến Harvard, nơi nhiều người muốn nghe bà nói đến nỗi bài nói chuyện của bà phải chuyển sang một giảng đường công cộng lớn bên ngoài trường. Danny rời khỏi buổi nói chuyện, lòng đầy ắp nhiệt huyết mới. Ông xin làm đại diện để chăm lo Treisman và nhóm người đi cùng – bao gồm mẹ, chồng và hai đứa con nhỏ của bà. Ông dẫn họ tham quan trường Harvard. “Ông ấy rất sốt sắng muốn gây ấn tượng”, Treisman nói, “và thế là tôi cũng để cho bản thân bị cuốn hút theo”. Phải mấy năm sau Danny và Anne mới bỏ vợ bỏ chồng để cưới nhau, nhưng ông đã mê những ý tưởng của Treisman ngay từ lúc đó.
Mùa thu năm 1967, Danny vượt qua cảm giác bị xem thường và quay về Đại học Hebrew, với lời hứa sẽ được ký hợp đồng vô thời hạn cùng một chương trình nghiên cứu hoàn toàn mới. Giờ đây, các máy ghi âm băng từ hai kênh đã giúp đo lường việc con người phân tán hay chuyển đổi sự chú ý từ thứ này sang thứ khác tốt hơn. Rõ ràng là một số người có thể làm tốt chuyện đó hơn những người khác và khả năng ấy có thể mang lại lợi thế trong những ngành nghề nhất định. Với ý tưởng đó, Danny tới nước Anh, theo lời mời của Ban Tâm lý học ứng dụng Cambridge, để kiểm tra các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Ông nghĩ có thể có sự khác biệt trong khả năng chuyển đổi sự chú ý của các cầu thủ ở giải hạng nhất (ngoại hạng) với những người chơi ở giải hạng tư. Ông đi tàu hỏa từ Cambridge đến Arsenal – sân nhà của một đội bóng hàng đầu giải ngoại hạng – mang theo chiếc máy thu âm băng từ rãnh kép nặng trịch. Ông cho các cầu thủ đeo tai nghe và kiểm tra khả năng chuyển đổi từ thông điệp đang phát bên tai này sang thông điệp được phát ở tai kia, và… chẳng phát hiện được gì. Hay chí ít cũng không có khác biệt rõ ràng nào giữa họ với các cầu thủ chơi ở giải hạng thấp hơn. Một tài năng chơi bóng đá không nhất thiết phải có bất kỳ khả năng chuyển đổi sự chú ý đặc biệt nào.
“Sau đó tôi nghĩ việc này có thể quan trọng trong giới phi công”, ông hồi tưởng. Nhờ đã làm việc cùng các huấn luyện viên bay nên Danny biết các học viên đang tập luyện lái máy bay phản lực chiến đấu đôi khi thất bại do không thể phân chia sự chú ý giữa các nhiệm vụ, hoặc do quá chậm chạp trong việc chọn ra các tín hiệu bề ngoài có vẻ như không quan trọng nhưng thực sự là trọng yếu. Ông quay về Israel và kiểm tra các học viên đang được huấn luyện lái máy bay phản lực trong Không quân. Lần này, ông phát hiện ra điều mình đang tìm kiếm: Các phi công chiến đấu thành công có khả năng chuyển đổi sự chú ý tốt hơn những người thất bại, và cả hai đều giỏi hơn các tài xế xe buýt Israel. Cuối cùng, từ việc các tài xế xe buýt Israel chuyển kênh hiệu quả ra sao, một trong các sinh viên của Danny đã khám phá ra rằng có thể dự đoán tài xế Israel nào có nhiều khả năng gặp tai nạn hơn.
Tâm trí của Danny không ngừng nỗ lực chuyển đổi từ kiến thức sang ứng dụng. Các nhà tâm lý học, đặc biệt những ai đã trở thành giảng viên đại học, không hẳn nổi tiếng vì sự hữu ích. Nhu cầu muốn trở thành một người Israel đã buộc Danny phải tìm kiếm một tài năng trong bản thân mình mà ông có thể chẳng bao giờ nhận ra. Bạn thời trung học của ông là Ariel Ginsburg nghĩ rằng quân đội Israel đã khiến cho Danny trở nên thực tế hơn: Việc sáng tạo ra một hệ thống phỏng vấn mới cùng với ảnh hưởng của nó lên toàn bộ quân đội thật cuốn hút. Môn nổi tiếng nhất Danny dạy tại Hebrew là một chuyên đề nghiên cứu sinh được ông gọi là Tâm lý học Ứng dụng. Hằng tuần, ông giới thiệu một vấn đề nào đó ngoài đời thực và yêu cầu sinh viên sử dụng những gì họ biết trong tâm lý học để giải quyết nó. Một số vấn đề trong đó xuất phát từ nhiều lần nỗ lực của Danny nhằm làm cho tâm lý học trở nên hữu ích với Israel. Sau khi bọn khủng bố bắt đầu đặt bom vào các thùng rác trong thành phố và gài một quả ở nhà ăn Đại học Hebrew vào tháng 3 năm 1969, gây thương tích cho 29 sinh viên, Danny hỏi: Tâm lý học cho các bạn biết những gì có thể hữu ích cho chính phủ vốn đang ra sức hạn chế tối đa cơn hoảng loạn của công chúng? (Họ chưa kịp tìm ra câu trả lời, chính phủ đã bỏ các thùng rác đi).
Đất nước Israel vào những năm 1960 thay đổi liên tục. Dân nhập cư có nguồn gốc thành thị được chuyển đến các trang trại tập thể. Bản thân các trang trại đã trải qua biến động công nghệ gần như liên tục. Danny soạn ra một khóa đào tạo những người sẽ đào tạo nông dân. “Cải cách luôn tạo ra kẻ thắng người thua”, Danny lý giải, “và người thua sẽ luôn luôn tranh đấu dữ dội hơn kẻ thắng”. Làm sao để những người thua cuộc chịu chấp nhận thay đổi? Chiến lược phổ biến ở các trang trại Israel – đang vận hành không tốt cho lắm – là đe dọa hoặc tranh cãi với những người cần sự thay đổi. Nhà tâm lý học Kurt Lewin cho rằng, thay vì thuyết phục mọi người chấp nhận thay đổi, tốt hơn bạn nên xác định những lý do khiến họ phản kháng và giải quyết chúng. Hãy hình dung một tấm ván được gắn bằng lò xo ở một đầu, Danny nói với sinh viên. Làm sao để di chuyển nó? À, các bạn có thể tăng lực ở một đầu của tấm ván. Hoặc giảm lực tại đầu bên kia. “Trong trường hợp này, sức căng tổng thể giảm xuống”, ông nói, “và trong trường hợp kia, nó tăng lên”. Đó là bằng chứng cho thấy việc giảm độ căng có lợi. “Đó là ý tưởng mấu chốt”, Danny nói. “Làm cho việc thay đổi trở nên dễ dàng”.
Danny cũng đào tạo các huấn luyện viên bay của Không quân cách huấn luyện phi công chiến đấu. (Nhưng chỉ dưới mặt đất thôi: Lần duy nhất họ đưa Danny lên máy bay, ông đã nôn ngay vào mặt nạ ôxy của mình). Làm sao để các phi công chiến đấu thuộc hàng loạt hướng dẫn? “Chúng tôi bắt đầu tạo ra một danh sách dài”, Zur Shapira nhớ lại. “Danny nói không. Ông ấy kể cho chúng tôi nghe về ‘Con số 7 kỳ diệu’”. “Con số 7 kỳ diệu, cộng hoặc trừ 2: Một số giới hạn trong khả năng xử lý thông tin của chúng ta” là một nghiên cứu của George Miller, nhà tâm lý học thuộc Đại học Harvard, trong đó chỉ ra con người có khả năng giữ lại trong trí nhớ ngắn hạn khoảng 7 thứ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm giúp họ ghi nhớ thêm đều vô ích. Miller đã nửa đùa nửa thật rằng 7 đại tội1, 7 đại dương, 7 ngày của một tuần, 7 màu sắc cơ bản, 7 kỳ quan của thế giới và nhiều số 7 nổi tiếng khác đều có nguồn gốc từ sự thật tinh thần này.
1. Nhóm các tội lỗi chính mà con người dễ mắc phải, là nguồn gốc cho nhiều loại tội lỗi khác. Đó là: ngạo mạn, tham lam, dâm dục, đố kỵ, phàm ăn, phẫn nộ, lười biếng. (ND)
Dù sao, cách hiệu quả nhất để dạy cho mọi người các chuỗi thông tin dài hơn là đưa thông tin vào đầu họ theo các cụm nhỏ. Đối với việc này, Shapira nhớ lại, Danny đã bổ sung sáng tạo của mình. “Ông ấy nói bạn chỉ nên nói với họ một vài thứ thôi – và bảo họ hát chúng”. Danny yêu ý tưởng “bài hát hành động”. Trong các giờ dạy thống kê, ông quả thật đã yêu cầu sinh viên hát lên những công thức. “Thầy buộc các bạn phải nhập tâm vào vấn đề”, theo Baruch Fischhoff, người sau này trở thành giảng viên tại Đại học Carnegie Mellon, “ngay cả khi chúng là những vấn đề phức tạp không có các giải pháp đơn giản. Thầy khiến bạn cảm thấy mình có thể làm điều gì đó hữu ích với môn khoa học này”.
Nhiều vấn đề Danny đưa ra cho sinh viên giống như những ý tưởng đơn thuần chợt nảy ra. Ông yêu cầu họ thiết kế một loại tiền tệ khó làm giả. Các tờ tiền mệnh giá khác nhau có nên giống nhau như cách làm ở Mỹ không, như thế sẽ khiến người nhận tiền kiểm tra kỹ càng; hay chúng nên có nhiều màu sắc và hình dạng khác nhau để khó bị sao chép? Ông yêu cầu họ thiết kế một nơi làm việc mang lại hiệu quả cao hơn. (Và dĩ nhiên, họ phải biết rõ nghiên cứu tâm lý học cho thấy một số màu sơn tường khiến công nhân làm việc năng suất hơn những màu khác). Một số trong các vấn đề của Danny quá sâu xa và lạ lẫm đến nỗi phản ứng đầu tiên của sinh viên là Ừm, chúng em sẽ cần phải đến thư viện và trả lời thầy sau. “Khi chúng tôi nói như thế”, Zur Shapira hồi tưởng, “Danny đáp lại với chút gì đó không vui: ‘Các bạn đã hoàn thành chương trình tâm lý học 3 năm. Các bạn về bản chất đã là chuyên gia. Đừng nấp sau các nghiên cứu. Hãy sử dụng kiến thức của mình để nghĩ ra một kế hoạch’”.
Nhưng khi Danny mang đến đơn bác sĩ kê từ thế kỷ XII, được viết một cách cẩu thả, bằng thứ ngôn ngữ bạn chẳng biết nổi một từ, rồi yêu cầu bạn giải mã nó, bạn phải nói gì? “Có người từng nói học vấn là biết phải làm gì khi bạn không biết”, một sinh viên của ông nói. “Danny đón nhận ý tưởng ấy, chấp nhận và phát triển nó”. Một hôm, Danny mang đến một món đồ chơi, mục đích là dẫn đường cho một viên bi kim loại nhỏ đi xuyên qua một mê cung gỗ. Ông giao bài tập cho sinh viên: Hãy dạy cho ai đó cách dạy người khác chơi. “Chẳng ai thấy mình có thể dạy điều này”, một sinh viên của Danny nhớ lại. “Mẹo ở đây là chia nhỏ nó thành các kỹ năng thành phần – học cách giữ chắc tay, hơi nghiêng sang bên phải… – sau đó dạy riêng rẽ từng thứ và một khi bạn đã dạy hết, hãy ghép chúng lại với nhau”. Người bán đồ chơi cho Danny tại cửa hàng thấy ý tưởng này thật điên rồ. Nhưng với Danny, rõ ràng là một lời khuyên hữu ích còn tốt hơn chẳng có lời khuyên nào. Ông yêu cầu sinh viên tìm ra lời khuyên cho một nhà nghiên cứu về Ai Cập cổ đại đang gặp khó khăn trong việc giải mã một chữ tượng hình. “Ông ấy nói người đó đang làm việc ngày càng chậm và bế tắc hơn”, Daniela Gordon nhớ lại, bà là sinh viên và sau này trở thành nhà nghiên cứu trong quân đội Israel. “Rồi Danny hỏi: ‘Ông ta nên làm gì?’. Không ai nghĩ ra được bất cứ thứ gì. Và Danny nói: ‘Ông ấy nên chợp mắt ngủ một chút!’”.
Lần nào tan học, sinh viên của Danny cũng có cảm giác rằng chẳng bao giờ hết các vấn đề trên đời. Danny phát hiện ra các vấn đề ở nơi dường như chúng chẳng hề tồn tại; cứ như thể ông đã xây dựng nên thế giới xung quanh mình để nó có thể được coi là một vấn đề. Cứ đầu giờ học mới, sinh viên đều thắc mắc ông sẽ mang đến vấn đề gì để họ giải quyết. Thế rồi đến một ngày nọ, ông đưa đến cho họ Amos Tversky.