Amos về Israel trong một chuyến viếng thăm năm 1984 khi nhận được cuộc gọi thông báo ông được trao giải thưởng “thiên tài” MacArthur1. Giải thưởng mang lại 250.000 đô-la, cộng thêm khoản 50.000 đô-la tiền nghiên cứu, một chương trình chăm sóc sức khỏe đặc biệt, cùng một thông cáo báo chí vinh danh Amos là một trong các nhà tư tưởng đã thể hiện “sự mới lạ và cống hiến đặc biệt trong sự nghiệp sáng tạo cùng khả năng tự định hướng nổi bật”. Công trình duy nhất của Amos được nêu trong thông cáo báo chí chính là công trình ông đã thực hiện cùng Danny. Nó không đề cập đến Danny.
Amos không thích các giải thưởng. Ông nghĩ chúng thổi phồng những khác biệt giữa con người với nhau, gây nhiều tổn thương hơn sự tốt đẹp và tạo ra nhiều khổ sở hơn niềm vui, vì luôn có nhiều người khác xứng đáng hơn kẻ thắng cuộc, hay là họ cảm thấy như vậy. Giải thưởng MacArthur trở thành một minh họa điển hình. “Ông ấy không biết ơn vì cái giải ấy”, bạn ông, Maya Bar-Hillel, người đã gặp Amos ở Jerusalem ngay sau khi giải thưởng được công bố, chia sẻ. “Amos bực bội. Ông ấy nói: ‘Những người này đang nghĩ gì vậy? Sao họ có thể chỉ trao giải cho một người trong cặp đôi chiến thắng? Họ có nhận ra mình đang đập chết mối quan hệ cộng tác này?’”. Amos không thích giải thưởng nhưng vẫn cứ nhận. Trước giải thưởng “thiên tài” MacArthur, ông đã được nhận làm thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Mỹ. Rất nhanh sau giải MacArthur, ông lại được mời làm hội viên Hội Guggenheim cùng lời mời gia nhập Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia. Vinh dự cuối cùng ấy hiếm khi dành cho các nhà khoa học không phải công dân Mỹ – và nó không được trao cho Danny. Tiếp sau đó là những bằng cấp danh dự của đại học Yale và Chicago cùng nhiều thứ khác nữa. Nhưng giải thưởng MacArthur là giải thưởng mà Amos suốt một thời gian dài vẫn nhắc đến như một ví dụ về những thiệt hại do các giải thưởng gây ra. “Ông ấy nghĩ đó là một sự thiển cận không thể tha thứ”, Bar-Hillel nói. “Đó là một nỗi đau thực sự. Không phải ông ấy diễn cho tôi thấy đâu”.
1. Giải thưởng do Quỹ John D. và Catherine T. MacArthur trao tặng mỗi năm cho 20-40 công dân Mỹ hoặc cư dân thường trú, ở mọi lứa tuổi và đang hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào. (ND)
Cùng với đống giải thưởng là hàng loạt cuốn sách và bài báo tung hô Amos về công trình ông đã thực hiện cùng Danny, cứ như thể ông làm nó một mình. Khi những người khác nói về công trình chung của hai người, họ đặt tên Danny ở vị trí thứ hai nếu có nhắc đến: Tversky và Kahneman. “Anh thật hào phóng dành hết công trạng cho tôi vì đã diễn đạt được mối quan hệ giữa tính tiêu biểu và phân tâm học”, Amos viết thư cho một nhà tâm lý học đồng nghiệp, người đã gửi cho Amos bài báo mới đăng. “Tuy nhiên, các ý tưởng này được phát triển trong những cuộc thảo luận với Danny, bởi thế ông nên nhắc tới tên cả hai chúng tôi hoặc bỏ tên tôi đi (nếu cảm thấy khó coi)”. Một tác giả sách đã ca ngợi Amos vì nhận ra nhận thức ảo tưởng về tính hiệu quả mà các huấn luyện viên lái máy bay trong Không lực Israel cảm nhận sau khi chê một phi công. “Tôi phần nào không thoải mái lắm với danh hiệu ‘Hiệu ứng Tversky’”, Amos viết thư cho tác giả. “Công trình này đã được thực hiện bởi sự cộng tác cùng người bạn lâu năm và cũng là đồng nghiệp của tôi, Daniel Kahneman, do đó tôi không nên được tung hô một mình. Thực tế, Daniel Kahneman là người quan sát thấy ảnh hưởng của việc huấn luyện các phi công, vì thế, nếu hiện tượng này được đặt theo tên của một người, nó nên được gọi là ‘hiệu ứng Kahneman’”.
Quan điểm của nước Mỹ về sự cộng tác giữa ông với Danny đã làm Amos bối rối. “Mọi người coi Amos là cá nhân xuất sắc còn Danny là một người cẩn thận”, Persi Diaconis, người bạn và đồng nghiệp của Amos tại Stanford, nói. “Và Amos sẽ nói: ‘Điều ngược lại mới chính xác!’”.
Các sinh viên sau đại học của Amos tại Stanford đặt cho ông biệt danh: Amos Nổi tiếng. “Bạn biết là mọi người đều biết và muốn gặp gỡ ông ấy”, giáo sư tâm lý học của Đại học Brown, Steven Sloman, từng nghiên cứu cùng Amos vào cuối những năm 1980, cho biết. Điều gây bực mình là Amos dường như luôn thờ ơ với sự chú ý. Ông vui vẻ ngó lơ các lời đề nghị ngày càng gia tăng của giới truyền thông (“Bạn có lẽ sẽ chẳng tốt đẹp hơn sau khi xuất hiện trên tivi”, ông nói). Ông từ chối nhiều lời mời, chẳng buồn mở ra xem. Không phải do khiêm tốn. Amos hiểu giá trị của mình. Ông không cần lúc nào cũng phải quan tâm đến chuyện người khác nghĩ gì về mình; ông thực sự chẳng quan tâm lắm. Thỏa thuận ông đưa ra cho cái thế giới bị kiểm soát này là sự tương tác của họ phải tuân theo điều kiện của ông.
Thế giới chấp nhận thỏa thuận ấy. Các hạ nghị sĩ Mỹ nhờ ông tư vấn về các dự luật họ đang soạn thảo. Hiệp hội Bóng rổ quốc gia gọi tới để được nghe lập luận của ông về ngụy biện thống kê trong bóng rổ. Cơ quan Mật vụ Mỹ mua vé máy bay mời ông đến Washington để cố vấn cách thức dự báo và ngăn chặn các mối đe dọa đối với những nhà lãnh đạo chính trị do họ bảo vệ. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương mời ông bay đến vùng núi An-pơ thuộc lãnh thổ Pháp để dạy cho họ về cách con người ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn. Amos dường như có thể can dự bất cứ vấn đề nào, dù nó có xa lạ đối với ông, và làm cho những ai đang giải quyết nó cảm thấy ông dường như thấu hiểu sự cần thiết của nó hơn cả họ. Chẳng hạn như Đại học Illinois mời Amos bay đến tham dự một hội thảo về tư duy ẩn dụ, chỉ để nhờ ông lý luận rằng phép ẩn dụ thật sự thay thế được cho tư duy. “Do các phép ẩn dụ sống động và đáng nhớ, và vì chúng không sẵn sàng phụ thuộc vào phép phân tích chủ đạo, nên chúng có thể tạo ra ảnh hưởng đáng kể lên phán đoán của con người ngay cả khi chúng không phù hợp, vô dụng hay sai lệch”, Amos nói. “Chúng thay thế tính bất định thực sự về thế giới bằng sự đa nghĩa của ngôn ngữ. Phép ẩn dụ là một sự che đậy”.
Danny không thể không chú ý tới sự quan tâm Amos nhận được nhờ công trình cả hai cùng làm với nhau. Các nhà kinh tế học giờ đây muốn Amos có mặt tại hội thảo của họ, rồi đến các nhà ngôn ngữ học, triết gia, nhà xã hội học và nhà khoa học máy tính cũng mong muốn như thế – mặc dù Amos chẳng hề quan tâm đến chiếc máy vi tính cá nhân được trang bị trong văn phòng ở Stanford (“Tôi có thể làm gì với máy vi tính?”, ông nói sau khi từ chối đề nghị tặng 20 máy tính Mac mới cho khoa Tâm lý, Đại học Stanford của hãng Apple). “Bạn chán ngán vì không được mời tới cùng những hội thảo đó, ngay cả khi bạn chẳng muốn đi”, Danny thú nhận với nhà tâm thần học Miles Shore. “Cuộc đời tôi sẽ tốt đẹp hơn nếu ông ấy không được mời mọc quá nhiều”.
Ở Israel, Danny là nhân vật mà những con người ngoài đời thực tìm đến khi họ gặp một vấn đề thực tế nào đó. Một người trong thế giới thực ở nước Mỹ tới gặp Amos mà chẳng cần biết ông có lý do để biết anh ta đang nói về chuyện gì không. “Ông ấy có ảnh hưởng to lớn đến những gì chúng tôi làm”, Jack Maher, người tìm đến Amos khi nhận nhiệm vụ huấn luyện 7000 phi công tại hãng Delta Air Lines, chia sẻ. Vào cuối những năm 1980, Delta đã gặp một loạt sự cố mất mặt. “Chúng tôi không giết ai cả”, Maher nói. “Nhưng chúng tôi đã khiến mọi người bị lạc, nhiều người hạ cánh nhầm sân bay”. Các sự cố hầu như luôn có khả năng dính líu đến quyết định tồi nào đấy của một cơ trưởng Delta. “Chúng tôi cần một mô hình ra quyết định và tôi tìm kiếm nó, nhưng chẳng hề tồn tại”, Maher nói. “Và tôi cứ bất chợt nghĩ đến cái tên Tversky”. Maher chính thức gặp gỡ Amos trong vài tiếng và nói cho ông nghe các vấn đề của mình. “Ông ấy bắt đầu nói về toán học”, Maher kể lại. “Khi ông đi vào các phương trình hồi quy tuyến tính, tôi bắt đầu cười ầm lên, rồi ông ấy cười và ngừng lại”. Amos sau đó giải thích bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu về công trình của mình với Danny. “Ông ấy giúp chúng tôi hiểu tại sao các phi công thỉnh thoảng lại đưa ra những quyết định tồi”, Maher nói. “Ông bảo: ‘Anh không thể thay đổi việc ra quyết định của con người thông qua ép buộc. Anh sẽ không ngăn được các phi công mắc những lỗi tâm lý đó. Anh sẽ không thể huấn luyện để phi công loại bỏ được các điểm yếu trong việc ra quyết định›”.
Amos đề nghị hãng hàng không Delta thay đổi môi trường ra quyết định. Các lỗi tâm lý, vốn dẫn dắt phi công lái máy bay theo hướng Miami phải hạ cánh một cách ngớ ngẩn xuống Fort Lauderdale, nằm trong bản chất của con người. Mọi người khó nhìn nhận khi tâm trí dẫn dắt họ đi sai đường; mặt khác, đôi lúc họ lại có thể nhìn ra khi tâm trí của những người khác đang làm họ lệch lạc. Nhưng văn hóa buồng lái của một hãng hàng không thương mại không khuyến khích người ta chỉ ra các lỗi tâm lý của người chịu trách nhiệm. “Các cơ trưởng tại thời điểm đó sẽ hoàn toàn trở thành những kẻ ngớ ngẩn chuyên quyền cứ khăng khăng đòi lãnh đạo”, Maher nói. Cách để ngăn chặn cơ trưởng hạ cánh nhầm sân bay, Amos nhấn mạnh, là huấn luyện cho những người khác trong buồng lái thắc mắc về phán đoán của cơ trưởng. “Amos đã thay đổi cách chúng tôi huấn luyện phi công”, Maher nói. “Chúng tôi thay đổi văn hóa trong buồng lái và kẻ ngớ ngẩn chuyên quyền không còn được chấp nhận. Kể từ đó, những lỗi như vậy không xảy ra nữa”.
Đến thập niên 1980, các ý tưởng do Danny và Amos ấp ủ cùng nhau đang thâm nhập những nơi mà cả hai chưa bao giờ mường tượng nổi. Thành công tạo ra một thị trường mới cho các nhà phê bình. “Chúng tôi khởi đầu lĩnh vực lạ lẫm này”, Amos kể với Miles Shore vào mùa hè năm 1983. “Chúng tôi khơi dậy các phản ứng đồng thời thách thức những nhân vật quan trọng và đầy quyền lực. Bây giờ chúng tôi là các nhân vật ấy. Còn mọi người đang kích động phản ứng của chúng tôi”. Những con người đó thường là trí thức quá coi trọng bản thân. Khi bắt gặp công trình nghiên cứu của Danny và Amos, khá nhiều học giả đã trải qua cảm giác của một người khi một kẻ hoàn toàn lạ mặt bước tới và bắt đầu một câu nói bằng: “Đừng hiểu lầm nhé, nhưng…”. Dù sau đó có xảy ra chuyện gì chăng nữa, bạn chỉ biết là mình sẽ không thích nó. Tiếng cười vọng ra từ phía bên kia cánh cửa đóng kín của Amos và Danny không giúp ích được gì. Nó khiến các nhân vật trí thức khác thắc mắc về động cơ của họ. “Nỗi hân hoan tạo ra sự nghi ngờ”, triết gia Avishai Margalit từng nói như vậy. “Họ trông giống như những người đang đứng trước một chuồng khỉ và trêu chúng. Có quá nhiều trò vui ở đó. Họ nói: ‘Chúng tôi cũng là khỉ’. Nhưng chẳng ai tin họ. Dường như đó là trò vui họ có để lừa phỉnh mọi người. Và nó kẹt ở đó. Đó là một vấn đề thực sự đối với họ”.
Trở lại đầu những năm 1970, tại một hội nghị, Danny được giới thiệu với một triết gia xuất chúng tên là Max Black và cố gắng giải thích cho nhân vật vĩ đại đó công trình của ông và Amos. “Tôi không hứng thú với tâm lý học của những kẻ ngớ ngẩn”, Black nói và bỏ đi. Danny và Amos không nghĩ công trình của mình như vậy. Các thí nghiệm đầu tiên của họ về tối đa hóa điểm yếu trong trực giác theo thống kê của con người đã được tiến hành trên các nhà thống kê chuyên nghiệp. Đối với mỗi vấn đề đơn giản họ dùng để đánh lừa sinh viên đại học, họ có thể nghĩ ra một phiên bản phức tạp hơn để lừa cả các giảng viên. Chí ít cũng có vài giảng viên không thích ý tưởng đó. “Nếu cho mọi người xem một ảo ảnh thị giác, họ sẽ nói: ‘Do mắt tôi ấy mà’”, nhà tâm lý học Eldar Shafir của Đại học Princeton nói. “Hãy đưa họ một ảo ảnh ngôn ngữ. Họ bị đánh lừa nhưng sẽ nói: ‘Có gì ghê gớm đâu’. Sau đó bạn cho họ xem một trong các ví dụ của Amos và Danny và họ sẽ nói: ‘Anh đang sỉ nhục tôi đấy’”.
Những người đầu tiên tự ái vì công trình này là các nhà tâm lý học mà công trình của họ bị nó đánh bại. Ward Edwards, vốn là thầy của Amos, đã viết bài báo đầu tiên vào năm 1954 nhằm mời các nhà tâm lý học thẩm tra những giả định của kinh tế học. Nhưng ông ấy sẽ không bao giờ tưởng tượng ra chuyện này – hai người Israel bước vào phòng và chế nhạo cả cuộc trò chuyện. Đến cuối năm 1970, sau khi đọc bản thảo ban đầu của các nghiên cứu do Amos và Danny thực hiện về phán đoán của con người, Edwards viết thư phàn nàn. Trong lá thư đầu tiên của nhiều lá thư giận dữ sau này, ông sử dụng giọng điệu từng trải và bao dung của một người thầy nói chuyện với các học sinh khờ khạo. Làm sao Amos và Danny có thể tin rằng họ sẽ thu được gì từ việc đưa ra những câu hỏi ngớ ngẩn cho các sinh viên? “Tôi nghĩ phương pháp tập hợp dữ liệu của các anh là những thứ mà tôi không thể nghiêm túc xem như một khám phá ‘thực nghiệm’ do các anh trình bày”, Edwards viết. Những sinh viên mà họ biến thành chuột thí nghiệm lại “cẩu thả và lơ đễnh. Nếu bối rối và lơ đễnh thì họ tất nhiên không có khả năng cư xử giống như những nhà thống kê trực quan có năng lực”. Đối với mỗi giới hạn được cho là của tâm trí con người mà Danny và Amos khám phá ra, Edwards đều có một lý giải. Chẳng hạn như ngụy biện của con bạc. Nếu mọi người nghĩ rằng một đồng xu, sau khi rơi ngửa 5 lần liên tục, có nhiều khả năng rơi sấp vào lần tung thứ 6, đó không phải vì họ hiểu sai về tính ngẫu nhiên. Đó là vì “mọi người chán phải làm mãi một thứ”.
Amos bỏ công sức để trả lời, hầu như là với thái độ lịch sự, lá thư đầu tiên từ vị giáo sư trước đây của ông. “Dĩ nhiên tôi rất vui khi đọc các bình luận chi tiết của thầy về những nghiên cứu của mình để nhận ra, dù đúng hay sai, thầy vẫn không hề đánh mất tinh thần chiến đấu ngày xưa”, ông bắt đầu, trước khi mô tả vị giáo sư là “không có sức thuyết phục”. “Cụ thể”, Amos tiếp tục, “các phản đối thầy nêu ra để chống lại phương pháp thực nghiệm của chúng tôi đều không có căn cứ. Về cơ bản, thầy chỉ trích bước khởi đầu của một quy trình mà không hề chỉ ra điểm xuất phát ấy có thể là nguyên nhân cho những kết quả đạt được. Thầy không trình bày được dữ liệu mâu thuẫn hay diễn giải thay thế hợp lý cho các phát hiện của chúng tôi. Thay vào đó, thầy bộc lộ thiên kiến mạnh mẽ chống lại phương pháp thu thập dữ liệu của chúng tôi và ủng hộ cách làm của thầy. Quan điểm này tất nhiên có thể hiểu được nhưng nó thật khó thuyết phục”.
Edwards không hài lòng nhưng ông vẫn kìm nén nỗi giận dữ ấy trong vài năm. “Chẳng ai muốn tranh cãi với Amos”, nhà tâm lý học Irv Biederman nói. “Nhất là ở nơi công cộng! Tôi mới chỉ một lần thấy có người làm thế. Đó là một triết gia. Tại một hội thảo. Ông ta đứng dậy trình bày nội dung của mình. Ông này thách thức kinh nghiệm cảm tính. Amos đang có mặt ở đó. Khi triết gia nói xong, Amos đứng dậy bác bỏ. Như chặt đầu một phần tử ISIS1. Nhưng theo kiểu hài hước”. Trong bất kỳ xung đột công khai nào với Amos, Edwards hẳn đã cảm nhận được khả năng có kết thúc đau thương cho một vụ chặt đầu như vậy, nhưng theo kiểu hài hước. Nhưng Amos đã bênh vực quan niệm con người là nhà thống kê trực giác. Ông cần nói điều gì đó.
1. Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng Iraq và Syria. (ND)
Đến cuối những năm 1970, cuối cùng ông đã tìm ra một nguyên tắc để diễn đạt ý tưởng: Đa số mọi người không được trang bị để nắm bắt thông điệp của Amos và Danny. Sự tinh tế đã vượt ngoài tầm của họ. Mọi người cần được bảo vệ để khỏi tự huyễn hoặc bản thân rằng tâm trí của mình ít tin cậy hơn bản chất thực sự của nó. “Tôi không biết liệu anh có nhận ra cái thông điệp đó đã đi quá xa ra sao hay gây ra ảnh hưởng hủy hoại to lớn nhường nào”, Edwards viết thư cho Amos vào tháng 9 năm 1979. “Tôi tham dự một buổi họp do Hiệp hội hoạch định chính sách y tế tổ chức cách đây một tuần rưỡi. Tôi ước lượng cứ 3 nghiên cứu thì có 1 sẽ đề cập đến công trình của các anh một cách ngắn gọn, đa phần giống như sự biện minh cho việc né tránh trực giác, phán đoán, ra quyết định và các quá trình trí tuệ khác của con người”. Ngay cả các tiến sĩ uyên bác cũng chỉ nhận được từ Danny và Amos một thông điệp thô, được đơn giản hóa rằng tâm trí của họ có thể không bao giờ đáng tin. Vậy còn y học? Các nhân vật trí thức uy tín? Các chuyên gia?
Edwards gửi cho Amos một bản thảo nhằm công kích công trình của ông và Danny, hy vọng Amos sẽ giữ lại chút thể diện cho mình. Amos không hề. “Giọng điệu cạnh khóe, việc đánh giá bằng chứng không công tâm và có quá nhiều khó khăn về mặt chuyên môn để thảo luận”, Amos viết trong một bức thư ngắn gửi Edwards. “Chúng tôi cảm thông với nỗ lực của thầy nhằm uốn nắn lại thứ mà thầy cho là quan điểm méo mó của con người. Nhưng chúng tôi lấy làm tiếc vì thầy lại chọn cách trình bày các quan điểm méo mó về công trình của chúng tôi”. Trong thư hồi đáp, Edwards giống như một người đàn ông vừa mới nhận ra khóa quần của mình chưa kéo, khi đang trèo lùi xuống vách đá. Ông đưa ra các vấn đề cá nhân – từ mệt mỏi vì lệch múi giờ cho tới “một chục năm buồn phiền chuyện riêng” – để bào chữa cho nghiên cứu thất bại của mình, rồi thừa nhận ông ước mình chưa từng viết nó. “Điều khiến tôi đặc biệt xấu hổ là sau khi đã nghiên cứu lâu như vậy để viết mà lại không thấy nó có nhiều thiếu sót đến thế”, ông viết thư cho cả Amos lẫn Danny, trước khi nói rằng ông dự tính viết lại toàn bộ nghiên cứu của mình như thế nào và rất hy vọng sẽ tránh được mọi cuộc tranh luận công khai với họ.
Không phải ai cũng biết đủ nhiều để sợ Amos. Một triết gia của Đại học Oxford có tên L. Jonathan Cohen đã gây ra vụ náo động nhỏ về triết học bằng một loạt công kích trong các cuốn sách và tạp chí. Ông cảm thấy xa lạ với ý tưởng rằng bạn có thể học hỏi được điều gì đó về tâm trí con người bằng cách đặt ra các câu hỏi cho người khác. Ông lập luận, khi một người tạo ra khái niệm về tính duy lý thì về bản chất, anh ta phải duy lý. “Duy lý” là bất cứ thứ gì mà hầu hết mọi người làm. Hoặc như Danny đề cập trong một lá thư ông miễn cưỡng gửi để đáp lại một trong các bài báo của Cohen: “Bất cứ lỗi nào thu hút đủ số lượng bình chọn thì không phải là lỗi”. Cohen ra sức chứng minh các lỗi do Amos và Danny khám phá ra đều không phải là lỗi hay kết quả của “sự mù tịt về toán hoặc khoa học” của con người, dễ dàng được khắc phục bằng cách dành chút thời gian gặp các giảng viên đại học. “Cả hai chúng tôi đều kiếm sống bằng cách dạy về xác suất và thống kê”, Persi Diaconis của trường Stanford và David Freedman của Đại học California tại Berkeley đã viết cho tạp chí Behavioral and Brain Sciences, nơi đã đăng một trong các bài công kích của Cohen. “Hết lần này đến lần khác, chúng tôi nhìn thấy các sinh viên và đồng nghiệp (và cả bản thân chúng tôi) mắc một số loại lỗi. Thậm chí các lỗi đó cũng có thể bị một người mắc lại nhiều lần. Cohen đã sai trong việc gạt bỏ điều đó giống như là kết quả của ‘sự mù tịt về toán hoặc khoa học’”. Nhưng khi đó, chúng ta đều thấy rõ mặc dù những người được đào tạo về thống kê đều khẳng định tính đúng đắn trong công trình của Danny và Amos, những người không được đào tạo vẫn sẽ cứ khăng khăng họ hiểu biết rõ hơn.
________________
Khi tới Bắc Mỹ, Amos và Danny đã cùng nhau xuất bản hàng loạt nghiên cứu. Đa phần là những thứ họ đã đưa vào nghiên cứu khi rời khỏi Israel. Nhưng vào đầu những năm 1980, những gì họ cùng viết không còn được thực hiện theo như cách trước đây. Amos viết một nghiên cứu về sự e ngại rủi ro đứng tên cả hai người, còn Danny thêm vào đó vài đoạn rải rác. Danny tự trình bày chặt chẽ công trình Amos gọi là “Dự án Hoàn tác”, đặt nhan đề là “Kinh nghiệm cảm tính kích thích” và xuất bản nó, với tên cả hai người đặt ở hàng đầu, trong một cuốn sách tập hợp các bài báo của họ cùng những bài viết khác của đồng nghiệp và sinh viên (Và sau đó bắt đầu khám phá các quy luật của trí tưởng tượng, không phải cùng Amos mà với một đồng nghiệp trẻ hơn ở Đại học British Columbia, Dale Miller). Amos viết một bài báo trực tiếp bàn luận với các nhà kinh tế học nhằm sửa chữa những sai sót kỹ thuật trong lý thuyết triển vọng. “Những tiến bộ trong Lý thuyết Triển vọng” là tên của nó và mặc dù Amos thực hiện phần nhiều công trình với nghiên cứu sinh Rich Gonzalez, nó vẫn được xuất bản trong một bài báo của Danny và Amos đăng trên tạp chí. “Amos nói rằng công trình này từ trước đến nay vẫn luôn là của Kahneman và Tversky, nên sẽ thật kỳ lạ nếu thêm tên một người thứ ba vào”, Gonzalez nói.
Bởi thế, họ vẫn duy trì ảo tưởng là cả hai vẫn còn làm việc chung như trước đây, ngay cả khi các lực lượng chia cắt họ đang ngày càng mạnh. Đám đông kẻ thù chung ngày càng đông lên đã không thể gắn kết họ lại với nhau. Danny ngày càng khó chịu trước thái độ Amos thể hiện với đối thủ của họ. Amos được tôi luyện để chiến đấu. Danny là con người muốn sống sót. Ông e ngại mâu thuẫn. Giờ đây khi công trình của họ bị công kích, Danny áp dụng một chính sách mới: không bao giờ xem lại nghiên cứu nào khiến mình tức giận. Nó như một cái cớ để tránh mọi hành động thù địch. Amos cáo buộc Danny “bị đồng hóa với kẻ thù” và ông nói không quá sai. Danny gần như luôn cảm thấy dễ hình dung bản thân ở vị trí của đối phương hơn chính mình. Theo một cách lạ lùng nào đó, ông kết hợp bản thân với đối thủ. Ông không cần thêm đối thủ.
Amos, vẫn là Amos, cần sự đối lập. Không có nó, ông chẳng có gì để giành chiến thắng. Và Amos, giống như quê nhà của mình, luôn sống trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. “Amos không có được cảm nhận của Danny rằng tất cả chúng ta nên cùng nhau suy nghĩ và làm việc chung”, Walter Mischel, giáo sư khoa Tâm lý học của Đại học Stanford khi họ thuê Amos, cho biết. “Ông ta nghĩ: ‘Đồ chết tiệt’”.
Xúc cảm đó hẳn đã lướt qua tâm trí Amos vào đầu thập niên 1980 thậm chí còn thường xuyên hơn bình thường. Các nhà phê bình công khai công kích công trình của ông với Danny là thứ tầm thường nhất. Tại các hội nghị và buổi trò chuyện, Amos cứ phải nghe đi nghe lại luận điệu từ các nhà kinh tế học và nhà lý thuyết về quyết định rằng ông với Danny đã cường điệu sai lầm của con người. Hay những ý tưởng kỳ quặc trong tâm trí mà họ quan sát được chỉ là thứ nhân tạo. Hoặc chỉ hiện diện trong tâm trí của các sinh viên đại học. Hay là… thứ gì đó. Nhiều người Amos từng tương tác lại dành nhiều công sức cho ý tưởng con người là duy lý. Amos bối rối trước việc những kẻ đó không có khả năng nhận thua trong cuộc tranh luận mà rõ ràng ông đã chiến thắng. “Amos muốn đè bẹp đối thủ”, Danny nói. “Chuyện đó khiến ông ấy khó chịu hơn tôi. Ông ấy muốn tìm ra điều gì đó khiến người ta im miệng. Dĩ nhiên đấy là điều bạn chẳng bao giờ làm được”. Đến cuối năm 1980, có lẽ là đầu năm 1981, Amos đến gặp Danny với kế hoạch viết một bài báo nhằm chấm dứt việc bàn ra tán vào. Các đối thủ của họ có thể không bao giờ chịu nhận thua – giới trí thức ít khi làm vậy – nhưng chí ít họ cũng có thể phải quyết định thay đổi chủ đề. Amos gọi đó là “chiến thắng nhờ sự bối rối”.
Amos muốn chứng minh sức mạnh thô sơ của các quy luật ngón tay cái trong tâm trí sẽ khiến con người lệch lạc. Ông và Danny từng tình cờ bắt gặp một số hiện tượng kỳ lạ ở Israel nhưng chưa bao giờ khám phá được đầy đủ các hàm ý của chúng. Bây giờ họ đã làm được. Như thường lệ, họ soạn ra các hình ảnh minh họa rất kỹ nhằm tiết lộ cơ chế hoạt động nội tại trong tâm trí những người họ yêu cầu phán đoán chúng. Ví dụ ưa thích của Amos là Linda.
Linda 31 tuổi, độc thân, thẳng thắn và rất sáng dạ. Chuyên ngành của cô là triết học. Thời sinh viên, cô quan tâm sâu sắc đến các vấn đề phân biệt đối xử và công bằng xã hội, từng tham gia các cuộc biểu tình chống hạt nhân.
Linda được thiết kế là hình mẫu của một người theo chủ nghĩa nữ quyền. Danny và Amos yêu cầu: Điều nào sau đây có nhiều khả năng xảy ra hơn?
1) Linda là một giáo viên tiểu học.
2) Linda làm việc ở một hiệu sách và tham gia các lớp Yoga.
3) Linda tham gia tích cực phong trào nữ quyền.
4) Linda là một nhà công tác xã hội về tâm thần học.
5) Linda là thành viên của Liên hiệp cử tri Nữ.
6) Linda là một giao dịch viên ngân hàng.
7) Linda là nhân viên kinh doanh bảo hiểm.
8) Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực tham gia phong trào nữ quyền.
Danny đưa minh họa về Linda cho các sinh viên ở Đại học British Columbia. Trong thí nghiệm đầu tiên này, hai nhóm sinh viên khác nhau được trao 4 trong 8 mô tả và phải phán đoán xác suất chúng đúng sự thật. Một trong các nhóm chọn “Linda là một giao dịch viên ngân hàng” trong danh sách; nhóm kia chọn “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực tham gia phong trào nữ quyền”. Đó là 2 mô tả quan trọng nhất, mặc dù các sinh viên dĩ nhiên không biết điều ấy. Nhóm chọn “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực tham gia phong trào nữ quyền” phán đoán nó có xác suất cao hơn nhóm xác định “Linda là một giao dịch viên ngân hàng”.
Kết quả đó là tất cả những gì Danny và Amos cần để đưa ra quan điểm quan trọng nhất của mình: các quy luật ngón tay cái mọi người sử dụng để đánh giá khả năng dẫn tới những phán đoán sai lầm. “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực tham gia phong trào nữ quyền” có thể không bao giờ khả thi hơn “Linda là một giao dịch viên ngân hàng”. “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực tham gia phong trào nữ quyền” chỉ là một trường hợp đặc biệt của “Linda là một giao dịch viên ngân hàng”. “Linda là một giao dịch viên ngân hàng” đã bao gồm “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và là người tích cực trong phong trào nữ quyền” cùng với “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và thích trần như nhộng đi bộ băng qua những cánh rừng Serbia”, cũng như các trường hợp giao dịch viên ngân hàng Linda khác. Mô tả này nằm trọn trong mô tả khác.
Con người không nhìn thấy logic khi nó được gài vào một câu chuyện. Hãy mô tả một ông già ốm yếu và hỏi mọi người: Điều gì có khả năng xảy ra cao hơn, ông sẽ chết trong vòng một tuần hay một năm? Họ thường sẽ nói: “Ông ấy sẽ chết trong vòng một tuần”. Tâm trí của họ bám lấy câu chuyện về cái chết sắp xảy ra và câu chuyện ấy che kín logic của hoàn cảnh. Amos tạo ra một ví dụ dễ thương. Ông hỏi mọi người: Điều gì có nhiều khả năng xảy ra vào năm sau hơn, 1.000 người Mỹ sẽ chết trong một trận lũ lụt, hay một cơn động đất ở California sẽ gây ra trận lũ lụt khổng lồ dìm chết 1.000 người Mỹ? Mọi người chọn cơn động đất.
Thế lực dẫn dắt phán đoán của con người đi chệch hướng trong trường hợp này là điều mà Danny và Amos gọi là “tính tiêu biểu”, hay sự tương đồng giữa bất cứ thứ gì mà con người đang phán đoán với một mô hình họ có trong tâm trí. Tâm trí của các sinh viên trong thí nghiệm Linda ban đầu, bám vào mô tả về Linda và so khớp các chi tiết của nó với mô hình trong đầu về “chủ nghĩa nữ quyền”, đã đưa ra phán đoán trường hợp đặc biệt khả thi hơn trường hợp tổng quát.
Amos không thỏa mãn với việc dừng lại ở đó. Ông muốn trao toàn bộ danh sách các trường hợp Linda cho các nhóm và yêu cầu họ xếp hạng xác suất của từng mục. Ông muốn xem liệu một người đã quyết định “Linda là một giao dịch viên ngân hàng và là người tích cực trong phong trào nữ quyền” có nghĩ điều đó khả thi hơn “Linda là một giao dịch viên ngân hàng” hay không. Ông muốn chỉ ra rằng mọi người đang mắc lỗi rõ rành rành đó. “Amos rất thích làm thế”, Danny nói. “Chiến thắng trong tranh luận, ông ấy muốn người khác thực sự phạm sai lầm”.
Danny không chắc chắn về dự án mới này và về cả Amos. Từ thời điểm rời khỏi Israel, họ hệt như hai người đi bơi bị cuốn theo hai dòng nước khác biệt, chẳng còn sức bơi ngược dòng. Amos cảm nhận sức đẩy của logic, Danny thẩm thấu sự lôi kéo của tâm lý học. Danny gần như chẳng ham thích việc chứng minh sự phi lý của con người như Amos. Mối quan tâm của ông dành cho lý thuyết quyết định rốt cuộc đã kết thúc với kiến thức sâu sắc về tâm lý học ông đã đưa vào. “Có một sự tranh luận ngấm ngầm”, Danny sau đó nói. “Chúng ta có đang làm tâm lý học hay thực hiện lý thuyết quyết định không?”. Danny muốn quay lại với tâm lý học. Thêm nữa, ông không tin mọi người sẽ thực sự gây ra lỗi cụ thể. Nhìn nhận các mô tả đặt kề nhau, họ nhận ra thật phi lý khi nói bất cứ ai cũng đều có nhiều khả năng là một giao dịch viên ngân hàng tích cực trong phong trào nữ quyền hơn việc chỉ là một giao dịch viên.
Với trái tim nặng trĩu, Danny đưa ra thứ mà sau này được gọi là vấn đề Linda trước một lớp gồm 12 sinh viên ở Đại học British Columbia. “Hết thảy 12 người đều mắc lừa”, ông nói. “Tôi nhớ mình đã há hốc miệng kinh ngạc. Sau đó tôi gọi cho Amos bằng điện thoại của thư ký. Họ tiến hành nhiều thí nghiệm mở rộng với các mô tả minh họa khác nhau trên hàng trăm đối tượng. “Chúng tôi chỉ muốn xem xét các ranh giới của hiện tượng”, Danny nói. Nhằm khám phá chúng, cuối cùng họ đã hướng sự quan tâm của các đối tượng đối nghịch lại logic. Họ đưa cho các đối tượng cùng một mô tả đơn giản về Linda: “Điều nào trong hai phương án có khả năng xảy ra hơn?”
Linda là một giao dịch viên ngân hàng.
Linda là một giao dịch viên ngân hàng và tích cực trong phong trào nữ quyền.
85% vẫn khăng khăng cho rằng Linda có nhiều khả năng là một giao dịch viên ngân hàng tham gia phong trào nữ quyền hơn chỉ là một giao dịch viên ngân hàng. Vấn đề Linda tương đồng với biểu đồ Venn gồm có hai vòng tròn, nhưng một trong hai nằm trọn trong vòng kia. Nhưng mọi người không nhìn thấy các vòng tròn. Danny thật sự sửng sốt. “Ở mỗi bước thực hiện, chúng tôi đều nghĩ nó lại không ổn”, ông nói. Và dù có chuyện gì đang xảy ra đi nữa, bên trong tâm trí con người vẫn cực kỳ bướng bỉnh. Danny tập hợp một khán phòng đầy ắp sinh viên của Đại học British Columbia và diễn giải cho họ nghe sai lầm của mình. “Các bạn có nhận ra mình đã vi phạm một quy tắc cơ bản của logic không?”, ông hỏi. “Thì sao nào!”, một phụ nữ trẻ hét lên từ phía cuối phòng. “Thầy chỉ hỏi quan điểm của em!”
Họ đưa vấn đề Linda ra theo những cách khác nhau nhằm đảm bảo các sinh viên làm chuột thí nghiệm không đọc sai dòng đầu tiên của vấn đề thành “Linda là một giao dịch viên ngân hàng không tích cực trong phong trào nữ quyền”. Họ đặt nó ra cho các sinh viên đang được đào tạo về logic và thống kê. Họ đưa nó cho các bác sĩ trong bối cảnh một câu chuyện y khoa phức tạp, trong đó nhấn mạnh đến khả năng gây ra một lỗi logic chết người. Có đầy bác sĩ phạm cùng những lỗi y chang các sinh viên chưa tốt nghiệp. “Hầu hết những người tham gia đều tỏ ra ngạc nhiên và mất hết tinh thần để rồi phạm phải một lỗi sơ đẳng về lập luận”, Amos và Danny viết. “Do ngụy biện liên hợp rất dễ bộc lộ nên những ai phạm phải sẽ có cảm giác lẽ ra mình phải biết rõ”.
Nghiên cứu mà Amos và Danny định viết về điều giờ đây họ gọi là “ngụy biện liên hợp” chắc hẳn khiến Amos cảm thấy giống như cái kết của một cuộc tranh luận – nghĩa là nếu cuộc tranh luận về chuyện liệu tâm trí con người có suy luận theo kiểu xác suất thay vì các cách thức do Danny và Amos đưa ra hay không. Họ từ tốn giải thích cẩn thận cho độc giả hiểu lý do và cách con người vi phạm “có lẽ là quy luật xác suất định tính đơn giản và căn bản nhất”. Họ chỉ ra rằng mọi người chọn mô tả chi tiết hơn, mặc dù xác suất thấp hơn, bởi nó “tiêu biểu” hơn. Họ chỉ ra một số nơi trong thế giới thực mà điều kỳ quặc này trong tâm trí có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn bất cứ dự báo nào cũng có thể được làm ra vẻ đáng tin hơn, ngay cả khi xác suất thấp hơn, nếu nó chứa đầy những chi tiết nhất quán nội tại. Và bất cứ luật sư nào cũng có thể ngay lập tức làm cho một vụ án thuyết phục hơn, ngay cả khi ông ta làm cho sự thật có vẻ có xác suất thấp hơn, bằng cách thêm các chi tiết “tiêu biểu” vào mô tả của mình về con người và các sự kiện.
Và họ thể hiện lại từ đầu tất cả sức mạnh của quy luật ngón tay cái về tâm lý – các thế lực khác thường mà họ từng gán cho cái tên kỳ lạ “kinh nghiệm cảm tính”. Đối với vấn đề Linda, Danny và Amos bổ sung một chuyện khác, từ công trình họ đã thực hiện vào đầu những năm 1970 tại Jerusalem.
Trong 4 trang của một cuốn tiểu thuyết (khoảng 2.000 từ), bạn nghĩ sẽ tìm thấy bao nhiêu từ có dạng _ _ _ _ing (những từ có 7 bảy chữ cái kết thúc bằng “ing”)? Hãy chỉ ra ước tính sát nhất của bạn bằng cách khoanh tròn một trong các giá trị sau đây:
0
1–23–4
5–7
8–10
11–15
16+
Sau đó họ đưa cho những người này một câu hỏi thứ hai: Có bao nhiêu từ có 7 chữ cái xuất hiện, trong cùng đoạn văn bản đó, dưới dạng _ _ _ _ _n_? Dĩ nhiên (dĩ nhiên rồi!) những từ có 7 chữ cái với n ở vị trí thứ 6 ít nhất cũng xuất hiện với số lượng ngang với các từ có 7 chữ cái kết thúc bằng đuôi ing, vì cái sau chỉ là một ví dụ của cái trước. Tuy nhiên, mọi người không nhận ra điều đó. Họ dự đoán bình quân là một đoạn văn 2.000 từ chứa 13,4 từ kết thúc bằng đuôi ing và chỉ 4,7 từ có chữ n ở vị trí thứ 6. Họ cho là thế, Amos cùng Danny lý luận, vì nghĩ về các từ kết thúc bằng ing dễ hơn nhiều. Các từ đó hiện diện nhiều hơn. Sự phán đoán sai của con người về vấn đề đó đơn giản là do kinh nghiệm cảm tính sẵn có.
Nghiên cứu này không phải một thành công lớn.1 “Vấn đề Linda” và “ngụy biện liên hợp” đã đi vào lời ăn tiếng nói. Tuy nhiên, Danny lại có những nỗi lo âu. Công trình mới được hai người cùng viết ra nhưng nó “chung đụng và đau khổ”. Ông không còn cảm giác mình và Amos có chung một trí óc. Amos đã tự viết toàn bộ 2 trang, trong đó ông tìm cách định nghĩa “tính tiêu biểu” một cách chính xác hơn. Danny lại muốn giữ cho định nghĩa đó mơ hồ. Danny không thoải mái với cảm giác nghiên cứu còn không giống khám phá một hiện tượng mới bằng việc rèn một vũ khí mới để Amos dùng khi ra trận. “Nó rất đậm chất Amos”, ông nói. “Nó là một nghiên cứu hiếu chiến. Chúng tôi sẽ khiêu khích bạn bằng nó. Và chúng tôi sẽ cho bạn thấy bạn không thể thắng cuộc tranh luận này”.
1. Sau khi bài báo xuất hiện trong số tháng 10 năm 1983 của tạp chí Psychological Review, tác giả có sách bán chạy và là nhà khoa học máy tính Douglas Hofstadter đã gửi cho Amos các hình ảnh minh họa chính ông ấy. Ví dụ: Fido sủa và đuổi theo xe hơi. Fido có nhiều khả năng là vật gì hơn: (1) Chó Coker spaniel hay (2) một thực thể trong vũ trụ? (TG)
Lúc đó, các tương tác giữa họ trở nên rất khó chịu. Danny mất khoảng thời gian dài nhất trong đời để hiểu thấu giá trị bản thân. Giờ đây, ông có thể nhìn ra công trình do Amos thực hiện một mình không hay bằng công trình cả hai đã làm chung. Công trình hợp tác luôn thu hút nhiều sự quan tâm và được tung hô hơn bất cứ thứ gì Amos từng tự làm. Nó rõ ràng đã mang về giải thưởng thiên tài. Nhưng nhận thức của công chúng về mối quan hệ giữa họ giờ đây chỉ là một biểu đồ Venn 2 vòng tròn, trong đó Danny hoàn toàn nằm trong hình bóng của Amos. Sự mở rộng nhanh chóng của vòng tròn Amos đã đẩy ông ngày càng xa rời Danny nhiều hơn. Danny cảm thấy mình đang từ từ chuồn ra khỏi cái nhóm nhỏ Amos yêu quý để đến nhóm lớn với những ý tưởng bị Amos coi thường. “Amos đã thay đổi”, Danny nói. “Khi tôi cho cậu ấy một ý tưởng, Amos sẽ tìm kiếm thứ gì hay ho trong đó. Tìm những thứ đúng đắn với nó. Điều đó đối với tôi là niềm hạnh phúc khi cộng tác cùng nhau. Cậu ấy thấu hiểu tôi hơn chính tôi. Amos không thế nữa rồi”.
Đối với những ai thân thiết với Amos từng thấy tương tác giữa ông với Danny, sự thắc mắc không nằm ở chuyện hai người đang bất đồng ý kiến mà còn vì họ từng chung hướng nhìn. “Danny không dễ tiếp cận”, Persi Diaconis nói. “Amos luôn cởi mở. Họ ăn ý sâu sắc, tôi không biết nó có thể được mô tả theo một cách thức máy móc hay không. Mỗi người đều xuất sắc. Và việc họ đã thực sự tương tác và có thể tương tác là một phép màu”. Phép màu ấy không được nhìn nhận như thể nó sẽ sống sót khi ra khỏi Vùng Đất Thánh.
________________
Năm 1986, Danny cùng Anne chuyển đến Đại học California ở Berkeley – chính là trường đại học 8 năm trước từng chê Danny quá già để vào làm. “Tôi thật sự hy vọng việc chuyển tới Berkeley sẽ mở ra một kỷ nguyên mới với Danny, mang lại nhiều tương tác và giảm bớt căng thẳng”, Amos viết trong lá thư gửi một người bạn. “Tôi rất lạc quan”. Khi Danny ứng tuyển vào năm trước, ông phát hiện cổ phiếu của mình đã tăng giá chóng mặt. Ông nhận được 19 lời mời, bao gồm cả một lời đề nghị đến từ Harvard. Bất cứ ai muốn tin rằng điều gây muộn phiền cho Danny chỉ là thiếu địa vị ở bên ngoài Israel sẽ thấy khó giải thích chuyện xảy ra kế tiếp: Ông rơi vào trầm cảm. “Ông ấy nói sẽ không làm việc nữa”, Maya BarHillel hồi tưởng, đây là người đã tình cờ gặp gỡ Danny không lâu sau khi ông chuyển tới Berkeley. “Ông ấy không có thêm ý tưởng nào, mọi thứ đang trở nên tệ hơn”.
Linh cảm của Danny về đoạn kết của một mối quan hệ ông chưa bao giờ tưởng tượng lại chấm dứt có liên quan rất nhiều đến tình trạng tinh thần của ông. “Đây là một cuộc hôn nhân, một chuyện lớn”, Danny nói với Miles Shore vào mùa hè năm 1983. “Chúng tôi đã làm việc trong 15 năm. Dừng lại là một thảm họa. Cũng giống như hỏi mọi người tại sao lại duy trì hôn nhân. Chúng ta sẽ cần một lý do mạnh mẽ để không kéo dài hôn nhân”. Nhưng trong 3 năm ngắn ngủi, ông đã đi từ cố gắng duy trì sang thoát khỏi cuộc hôn nhân đó. Việc ông chuyển tới Berkeley đã tạo ra kết quả trái ngược cho dự tính kia: Thường xuyên trông thấy Amos hơn chỉ khiến ông càng thêm đau khổ. “Chúng ta phải thừa nhận rằng ý nghĩ kể cho cậu nghe BẤT CỨ ý tưởng nào (của tôi hay một ai khác) mà tôi thích khiến tôi lo lắng”, Danny viết thư cho Amos vào tháng 3 năm 1987, sau một cuộc gặp mặt. “Quãng thời gian chúng ta từng có ngày hôm qua đã làm hỏng cuộc đời tôi trong vài ngày (vì háo hức và lấy lại thăng bằng) và tôi không muốn như thế nữa. Tôi không đề nghị chúng ta ngừng nói chuyện, chỉ là hãy thể hiện ý nghĩa tốt đẹp trong việc thích nghi với những thay đổi trong mối quan hệ của chúng ta.
Amos hồi đáp lá thư đó của Danny bằng một lá thư dài. “Tôi nhận thấy kiểu trả lời của mình tạo ra nhiều điều đáng mong đợi, nhưng cậu cũng trở nên ít quan tâm hơn đến những sự phản đối hay phê bình của tôi hay những người khác”, ông viết. “Cậu bắt đầu bảo vệ mạnh mẽ một số ý tưởng và hình thành thái độ ‘không thích thì bỏ’ chứ không cố gắng ‘làm cho chuẩn’. Một trong những điều tôi ngưỡng mộ cậu trong hầu hết các công trình chung của chúng ta là sự nghiêm khắc như một nhà phê bình. Cậu đã loại bỏ một phương pháp xử lý sự hối tiếc rất hấp dẫn (nó chủ yếu được phát triển bởi cậu) vì một phản ví dụ riêng lẻ mà bất cứ ai (ngoại trừ tôi) cũng khó có thể thật sự đánh giá cao sức mạnh của nó. Cậu ngăn cản chúng ta viết nghiên cứu về neo giữ bởi nó thiếu thứ gì đó... Gần đây tôi không thấy điều đó trong thái độ của cậu đối với nhiều ý tưởng”. Khi viết xong lá thư đó, Amos lại viết một lá khác gửi tới nhà toán học Varda Liberman, bạn của ông ở Israel. “Không hề có chút giống nhau nào giữa cách tôi nhìn nhận mối quan hệ của mình với Danny và cách cậu ấy nhận thức về tôi”, ông viết. “Điều tôi coi là sự cởi mở giữa bạn bè lại bị cậu ấy xem như sự xúc phạm, và thứ dường như là hành vi đúng đắn với Danny lại không hợp mắt tôi. Cậu ấy khó chấp nhận việc chúng tôi khác biệt trong mắt người khác”.
Danny cần một điều ở Amos. Ông cần Amos sửa lại cách nhìn nhận rằng họ không phải các cộng sự ngang hàng. Ông cần điều ấy vì ngờ rằng Amos không nghĩ như thế. “Amos rất sẵn sàng chấp nhận một tình huống biến tôi thành cái bóng của mình”, Danny lên tiếng. Amos có lẽ đã ngấm ngầm giận dữ vì tổ chức MacArthur Foundation công nhận ông mà không công nhận Danny, nhưng khi Danny gọi điện tới chúc mừng, Amos chỉ thản nhiên nói: “Nếu tôi không nhận giải vì công trình này thì cũng sẽ nhận giải vì công trình khác”. Amos có thể đã viết vô số lời giới thiệu cho Danny và kín đáo nói với mọi người rằng Danny là nhà tâm lý học vĩ đại nhất trên thế giới, nhưng sau khi Danny kể cho Amos nghe chuyện Đại học Harvard mời mình vào một khoa của họ thì Amos lại nói: “Tôi mới là người họ muốn”. Ông chỉ buột miệng để rồi có lẽ đã hối hận vì lỡ lời – dù ông nghĩ vậy cũng chẳng sai. Amos không tài nào ngăn bản thân làm tổn thương Danny, còn Danny chẳng thể tránh được cảm giác tổn thương. Barbara Tversky làm việc ở văn phòng cạnh chỗ Amos ở Stanford. “Tôi nghe thấy các cuộc điện thoại của họ”, bà nói. “Còn tệ hơn cả một vụ li dị”.
Ngạc nhiên là Danny không chỉ đơn giản chấm dứt mối quan hệ. Cuối những năm 1980, ông cư xử như một người đàn ông bị mắc kẹt vào một cái bẫy kỳ bí, vô hình nào đó. Một khi bạn đã chia sẻ tâm trí với Amos Tversky thì sẽ thật khó để gạt Amos Tversky ra khỏi tâm trí bạn.
Thay vào đó, ông khiến Amos khuất khỏi tầm mắt bằng cách rời Berkeley đến Princeton năm 1992. “Amos phủ bóng tối lên cuộc đời tôi”, ông nói. “Tôi cần tránh đi thật xa. Ông ấy ám lấy tâm trí tôi”. Amos không hiểu nổi tại sao Danny phải tạo ra khoảng cách 3.000 dặm giữa họ. Ông thấy hành vi của Danny thật khó hiểu. “Một ví dụ nhỏ nhé”, Amos viết thư cho Varda Liberman vào đầu năm 1994, “có một cuốn sách đã xuất bản bàn về phán đoán, trong phần mở đầu có một đoạn văn nói Danny và tôi ‘không thể tách rời’. Điều này dĩ nhiên là nói quá. Nhưng Danny lại viết thư cho tác giả để nói rằng đó là một sự phóng đại và ‘chúng tôi chẳng hề liên quan gì đến nhau cả chục năm rồi’. Trong 10 năm qua, chúng tôi đã cùng nhau xuất bản 5 nghiên cứu, cũng như thực hiện nhiều dự án khác chưa được hoàn tất (chủ yếu do tôi). Đây là một ví dụ nhỏ nhưng cho bạn chút hình dung về trạng thái tâm lý của Danny”.
Trong quãng thời gian rất dài, ngay cả khi họ vẫn qua lại gặp gỡ nhau, sự cộng tác tâm trí của Danny đã kết thúc. Nhưng cũng từng ấy thời gian, nó vẫn luôn tồn tại trong đầu Amos. “Cậu dường như quyết tâm đưa ra một lời đề nghị tôi không thể đồng ý”, Danny viết thư cho Amos vào đầu năm 1993 sau khi nhận được một lời đề nghị của Amos. Họ vẫn là bạn. Họ đã kiếm cớ để ở gần bên nhau và giải quyết các vấn đề của mình. Họ giấu kín các vấn đề đến nỗi hầu hết mọi người đều cho rằng cả hai vẫn cùng làm việc. Nhưng Amos thích sự hư cấu đó hơn Danny. Ông hy vọng viết được cuốn sách họ đã nhất trí viết 15 năm trước. Danny tìm cách cho Amos biết rằng điều đó sẽ không xảy ra. “Danny có một ý tưởng mới về cách hoàn thành cuốn sách”, Amos viết thư cho Liberman vào đầu năm 1994. “Chúng tôi sẽ sát cánh trong một vài nghiên cứu được xuất bản gần đây của mỗi người, chẳng hề có sự kết nối hay cấu trúc nào cả. Điều này khiến tôi thấy kỳ cục. Trông nó như thể một tập hợp các công trình được thực hiện bởi hai người từng làm việc chung và giờ đây thậm chí còn chẳng thể cộng tác cùng thực hiện các chương… Với hoàn cảnh như thế, tôi chẳng thể có đủ năng lượng tích cực để bắt đầu suy nghĩ, nói gì đến viết”.
Nếu Amos không thể cho Danny điều ông cần, có lẽ vì ông không thể hình dung rằng mình cũng có nhu cầu. Nhu cầu đó thật tinh vi. Ở Israel, mỗi người sẽ có một quả dưa chuột. Còn giờ Amos có quả chuối. Nhưng quả chuối không phải là thứ kích động Danny ném quả dưa chuột vào mặt người thí nghiệm. Danny không cần những lời mời về làm việc từ Đại học Harvard hay giải thưởng thiên tài của tổ chức MacArthur Foundation. Chúng có thể giúp ích, nhưng chỉ khi chúng thay đổi được quan điểm của Amos về ông. Điều Danny cần ở Amos là ông cứ tiếp tục coi Danny và các ý tưởng của Danny là thiếu tính phê phán, như ông đã từng khi chỉ có hai người trong một căn phòng. Nếu điều đó liên quan đến nhận thức sai lệch nào đó ở Amos – sự phóng đại về tình trạng tầm thường trong các ý tưởng của Danny – thì Amos nên tiếp tục nhận thức sai. Sau tất cả, một cuộc hôn nhân có ý nghĩa gì nếu không phải là một thỏa thuận làm méo mó cách nhìn nhận của người này về người kia, trong mối quan hệ với mọi người khác?” “Tôi muốn điều gì đó từ cậu ấy, không phải từ thế giới”, Danny nói.
________________
Tháng 10 năm 1993, Danny và Amos cùng tham dự một hội nghị tại Turin, Ý. Một tối, họ đi dạo và Amos đưa ra một yêu cầu. Có một nhà phê bình mới về công trình của họ, nhà tâm lý học người Đức tên Gerd Gigerenzer, ông ta đang nhận được sự quan tâm theo kiểu mới. Ngay từ đầu, những ai khó chịu nhất với công trình của Danny và Amos đã tranh cãi rằng bằng cách tập trung vào các lỗi của tâm trí, họ đang cường điệu hóa tính ngụy biện của nó. Trong các bài viết và buổi nói chuyện của mình, Danny và Amos đã nhiều lần giải thích rằng các quy tắc ngón tay cái được tâm trí sử dụng để đương đầu với sự không chắc chắn thường hiệu quả. Nhưng đôi lúc thì không; các thất bại đặc thù này thú vị và tiết lộ cơ chế hoạt động nội tại của tâm trí. Tại sao không nghiên cứu chúng? Rốt cuộc, sẽ chẳng ai phàn nàn khi bạn dùng ảo ảnh thị giác để hiểu cơ chế hoạt động của con mắt.
Gigerenzer đã sử dụng cùng góc độ công kích như hầu hết các nhà phê bình khác. Nhưng trong quan điểm của Danny và Amos, Gigerenzer ngó lơ các quy luật thông thường của cuộc chiến trong giới trí thức, xuyên tạc công trình của họ, khiến họ có vẻ như cho rằng con người không thể thay đổi hơn thực tế. Ông ta cũng hạ thấp giá trị hay phớt lờ hầu hết bằng chứng của họ, ngay cả những bằng chứng thuyết phục nhất. Ông ta đã làm điều các nhà phê bình thỉnh thoảng vẫn làm: mô tả đối tượng mình khinh miệt theo ý muốn bản thân hơn là bản chất của nó. Sau đó ông bóc trần mô tả của mình. Ở châu Âu, vừa đi dạo Amos vừa kể cho Danny nghe, Gigerenzer được tung hô vì “chống lại những người Mỹ”, thật lạ, vì những người Mỹ trong trường hợp này lại là người Israel. “Amos nói chúng tôi nhất định phải xử lý Gigerenzer”, Danny nhớ lại. “Và tôi nói: ‘Tôi không muốn. Chúng ta sẽ phải bỏ nhiều thời gian. Tôi rồi sẽ rất tức giận, mà tôi thì ghét tức giận. Rồi tất cả cũng đâu vào đấy thôi’. Và Amos nói: ‘Tôi chưa từng nhờ cậu điều gì với tư cách một người bạn. Giờ tôi nhờ cậu việc này như một người bạn’”. Danny nghĩ: Cậu ấy chưa từng làm như thế. Tôi không thể từ chối.
Chẳng bao lâu sau, ông ước mình đã từ chối. Amos không chỉ muốn chống lại Gigerenzer, ông còn muốn hủy diệt con người ấy. (“Amos luôn nhắc tới tên của Gigerenzer kèm theo từ ‘kẻ đáng khinh’”, giảng viên Craig Fox của Đại học California, sinh viên cũ của Amos, nói). Danny vẫn tìm kiếm cái hay trong những gì Gigerenzer viết. Ông nhận thấy việc này khó làm hơn bình thường. Ông thậm chí đã tránh ghé thăm nước Đức cho đến tận giữa thập niên 1980. Mãi về sau khi đến thăm Đức, ông dạo quanh đường phố để thưởng thức sự tưởng tượng sống động và kỳ lạ rằng các ngôi nhà đều trống rỗng. Nhưng Danny không thích tức giận với mọi người và ông cố kìm lại cảm giác tức giận với nhà phê bình mới người Đức. Thậm chí ông còn thấy hơi cảm thông với Gigerenzer về một luận điểm: vấn đề Linda. Gigerenzer đã thể hiện rằng bằng cách thay đổi phiên bản đơn giản nhất của vấn đề, ông ta có thể dẫn dắt mọi người đi tới câu trả lời đúng. Thay vì yêu cầu người khác xếp hạng xác suất của 2 mô tả về Linda, ông lại hỏi: Các câu sau đây đúng với bao nhiêu người trong số 100 người giống Linda? Khi bạn đưa ra gợi ý đó, họ nhận ra Linda có nhiều khả năng là một giao dịch viên ngân hàng hơn một giao dịch viên tích cực trong phong trào nữ quyền. Nhưng lúc ấy, Danny và Amos đã biết điều đó rồi. Họ đã viết nhiều trong nghiên cứu gốc của mình, ít nhấn mạnh hơn.
Dù chuyện gì xảy ra đi nữa, họ vẫn luôn nghĩ phiên bản kỳ quặc nhất của vấn đề Linda chẳng có ích lợi gì cho quan điểm họ muốn nêu – rằng mọi người phán đoán qua tính tiêu biểu. Thí nghiệm đầu tiên, giống như công trình nghiên cứu trước của họ về phán đoán của con người, đã thể hiện điều đó đủ rõ ràng, nhưng Gigerenzer lại không đề cập đến nó. Ông ta tìm ra bằng chứng yếu nhất của họ và tấn công vào đó, cứ như thể đó là bằng chứng duy nhất họ có. Kết hợp cách xử lý lạ kỳ của mình về thứ bằng chứng khiến Danny và Amos cho rằng đó là một sự đọc sai có chủ đích, Gigerenzer đã có những buổi nói chuyện cùng nhiều bài báo với các tiêu đề khiêu khích kiểu như “Cách khiến ảo tưởng nhận thức biến mất”. “Làm cho ảo tưởng nhận thức biến mất thực ra là làm cho chúng ta biến mất”, Danny nói. “Ông ta bị ám ảnh. Tôi chưa từng thấy điều gì như vậy”.
Gigerenzer dần đồng cảm với kiểu tư duy được biết đến là tâm lý học tiến hóa, bao hàm ý niệm tâm trí con người đã thích nghi với môi trường xung quanh chắc chắn phải rất phù hợp với nó. Nó dĩ nhiên sẽ không dễ bị ảnh hưởng bởi thiên kiến hệ thống. Amos nhận thấy ý niệm đó thật ngớ ngẩn. Tâm trí giống như một cơ chế sao chép hơn một công cụ được thiết kế hoàn hảo. “Nói nôm na, bộ não có vẻ như được lập trình để cung cấp sự chắc chắn nhiều nhất có thể”, ông phát biểu trong buổi nói chuyện với một nhóm các nhà điều hành Phố Wall. “Rõ ràng nó được thiết kế để tạo ra trường hợp khả thi nhất cho một sự diễn giải nhất định hơn là trình bày tất cả sự không chắc chắn về một tình huống cho trước”. Khi giải quyết các tình huống bất định, tâm trí giống như một con dao xếp đa năng. Nó là một công cụ đủ tốt cho hầu hết các công việc cần đến nó nhưng lại không hẳn phù hợp với bất cứ thứ gì – và dĩ nhiên không “tiến hóa” đầy đủ. “Lắng nghe các nhà tâm lý học tiến hóa đủ lâu”, Amos nói, “bạn sẽ ngừng tin vào sự tiến hóa”.
Danny muốn hiểu Gigerenzer hơn, thậm chí cố gắng giao tiếp với nhân vật này. “Tôi luôn thông cảm với các nhà phê bình hơn Amos”, Danny nói. “Tôi hầu như luôn có khuynh hướng đứng về phe đối lập”. Ông viết thư cho Amos để nói rằng mình nghĩ con người kia có thể đã trải nghiệm qua thứ cảm xúc làm xáo trộn tâm trí. Có lẽ họ nên ngồi xuống với nhau và xem xét liệu có thể khiến ông ta hiểu ra không. “Ngay cả khi chuyện đó đúng, cậu cũng không nên nói ra”, Amos phản bác, “và tôi ngờ rằng nó không đúng. Tôi thiên về giả thuyết thay thế là hắn ta ít xúc động hơn cậu nghĩ nhiều, hắn hành động giống như một luật sư đang cố gắng gây ấn tượng với một bồi thẩm đoàn không am hiểu thông tin và ít quan tâm đến sự thật… Điều này chẳng khiến tôi ưa hắn ta hơn nhưng nó làm cho hành vi của hắn dễ hiểu hơn”.
Danny đồng ý giúp Amos “với tư cách một người bạn”, nhưng chẳng bao lâu sau, Amos lại một lần nữa làm ông khổ sở. Họ viết đi viết lại các bản thảo để đáp trả Gigerenzer nhưng cũng viết tới viết lui các tranh luận giữa hai người. Ngôn ngữ của Danny luôn rất mềm mỏng với Amos, còn ngôn ngữ của Amos lại quá đỗi gay gắt với Danny. Danny lúc nào cũng là người nhượng bộ, còn Amos là kẻ chuyên đi bắt nạt. Họ chẳng thể đồng tình về điều gì. “Tôi rất không vui với ý tưởng xem lại phần tái bút đến mức hầu như luôn sẵn có một phương pháp may rủi (hay một bộ ba phán đoán) để quyết định lựa chọn giữa hai phiên bản của chúng ta”, Danny viết thư cho Amos. “Tôi không thích tranh cãi về chuyện đó và thấy những gì cậu viết thật xa lạ”. Bốn ngày sau khi Amos tiếp tục công việc, Danny bổ sung: “Vào ngày họ thông báo phát hiện ra 40 triệu thiên hà mới, chúng ta đã tranh luận về 6 từ trong một đoạn tái bút… Đáng chú ý là số lượng thiên hà chẳng có ảnh hưởng bằng một lý lẽ để bỏ cuộc trong tranh luận giữa từ ‘làm lại’ với ‘làm lần thứ hai’”. Và sau đó: “Email là một phương tiện nên lựa chọn trong giai đoạn này. Mọi cuộc trò chuyện đều khiến tôi phiền muộn rất lâu, điều mà tôi chẳng tài nào chịu nổi”. Đổi lại, Amos đáp: “Tôi không hiểu nổi hệ đo lường mức độ nhạy cảm của cậu. Nhìn chung, cậu là người có đầu óc cởi mở và ít phòng thủ nhất mà tôi biết. Đồng thời, cậu có thể thực sự phiền lòng vì tôi đã viết lại một đoạn văn cậu thích, hoặc do cậu chọn diễn giải một bình luận hoàn toàn vô hại theo một cách tiêu cực không chủ tính”.
Một đêm ở New York, khi đang ở trong một căn hộ cùng Amos, Danny đã có một giấc mơ. “Trong giấc mơ ấy, bác sĩ nói tôi chỉ còn sống được 6 tháng”, ông nhớ lại. “Và tôi nói: ‘Điều này thật tuyệt bởi chẳng ai nghĩ tôi sẽ dành 6 tháng cuối đời để làm việc rác rưởi này’. Buổi sáng hôm sau, tôi nói với Amos”. Amos nhìn Danny và nói: “Những người khác có thể bị ấn tượng nhưng tôi thì không”. Ngay cả khi cậu chỉ còn 6 tháng để sống, tôi vẫn mong cậu hoàn thành việc này cùng tôi. Không lâu sau cuộc trao đổi đó, Danny xem danh sách thành viên mới của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, nơi Amos là thành viên đã gần một thập kỷ. Một lần nữa, tên của Danny lại không có trong danh sách. Một lần nữa, những khác biệt giữa họ lại ở đó, phơi bày cho tất cả. “Tôi hỏi cậu ấy, tại sao không đặt tôi lên phía trước?”, Danny nói. “Nhưng tôi biết tại sao”. Nếu hoàn cảnh của họ đảo ngược, Amos có thể sẽ không bao giờ muốn bị gây sức ép bởi tình bạn giữa ông với Danny. Về cơ bản, Amos coi nhu cầu của Danny như một điểm yếu. “Tôi nói: ‘Đó không phải cách cư xử của bạn bè’”, Danny nói.
Và Danny bỏ đi. Bỏ đi luôn. Mặc kệ Gerd Gigerenzer hay việc cộng tác. Ông nói với Amos rằng họ không còn là bạn nữa. “Đại loại là tôi li dị ông ấy”, Danny nói.
3 ngày sau, Amos gọi cho Danny. Ông mới nhận được tin. Một khối u mà các bác sĩ phát hiện trong mắt ông vừa được chẩn đoán là ung thư tế bào hắc tố. Các bác sĩ chụp chiếu và phát hiện ung thư đã lan khắp cơ thể ông. Giờ họ nói ông chỉ còn nhiều nhất 6 tháng để sống. Danny là người thứ hai được Amos gọi đến báo tin. Nghe tin ấy, lòng Danny như vụn vỡ. “Amos nói: ‘Chúng ta là bạn, dù cậu có nghĩ chúng ta là gì đi nữa’”.