Người phụ nữ trẻ họ gọi là Don Redelmeier tới khám vào ngày hè năm ấy vẫn còn trong trạng thái bàng hoàng. Như ông được biết, xe của cô đã đâm trực diện một xe khác vài giờ trước; và xe cứu thương tức tốc chở cô thẳng tới Bệnh viện Sunnybrook. Cô bị gãy xương ở mọi nơi – một số trong đó họ phát hiện được, những chỗ khác thì mãi sau này mới thấy. Họ tìm ra nhiều chỗ gãy vỡ trên mắt cá, bàn chân, hông và mặt cô. (Họ bỏ sót những vết gãy ở xương sườn). Nhưng sau khi cô đến phòng phẫu thuật của bệnh viện Sunnybrook, họ mới nhận ra tim cô có vấn đề.
Sunnybrook là trung tâm địa phương điều trị chấn thương đầu tiên và lớn nhất của Canada, với hàng loạt tòa nhà ốp gạch nâu đỏ ở một khu ngoại ô yên tĩnh của Toronto. Vốn là bệnh viện dành cho binh lính trở về từ Thế Chiến II, nhưng khi các cựu binh qua đời, nó được chuyển đổi mục đích sử dụng. Vào những năm 1960, chính phủ làm xong cao tốc 24 làn xe rộng nhất đất nước đi qua Ontario. Nó cũng sẽ trở thành con đường được sử dụng nhiều nhất ở Bắc Mỹ và là một trong những đoạn đông xe nhất đi qua bệnh viện. Tai nạn trên cao tốc 401 đã mang đến cho bệnh viện một đời sống mới. Sunnybrook nhanh chóng nổi tiếng vì điều trị các nạn nhân tai nạn xe cộ cùng khả năng đối phó với một loại hình sang chấn tâm lý y học tất yếu gắn liền với các loại chấn thương khác. “Công việc đẻ ra công việc”, theo lời một trong các nhà quản lý của Sunnybrook. Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ XXI, Sunnybrook là điểm đến tốt nhất không chỉ của các nạn nhân tai nạn giao thông mà cả những vụ tự tử bất thành, sĩ quan cảnh sát bị thương, người già cả té ngã, phụ nữ mang thai với các biến chứng nặng, công nhân xây dựng bị thương khi đang làm việc và những người sống sót sau các vụ tông xe trượt tuyết khủng khiếp – họ là những người thường xuyên được chuyển đi cấp cứu từ các vùng xa xôi hẻo lánh của Canada với tần suất đáng ngạc nhiên. Đi kèm chấn thương là những rắc rối. Nhiều người bị thương đến Sunnybrook đều không chỉ có một vấn đề.
Đó là nơi Redelmeier vào làm. Bản chất là một bác sĩ đa khoa, được đào tạo trở thành bác sĩ nội khoa, công việc của ông trong trung tâm điều trị chấn thương phần nào là kiểm tra hiểu biết của chuyên gia để tìm các lỗi tâm lý. “Dù không rõ ràng nhưng ai cũng nghĩ ông ấy sẽ làm công việc kiểm tra tư duy của người khác”, Rob Fowler, chuyên gia dịch tễ học ở Sunnybrook, cho biết. “Chuyện con người suy nghĩ như thế nào. Ông ấy giúp mọi người luôn thành thật. Lần đầu tiên tương tác với ông, mọi người sẽ sửng sốt: Đây là gã quái nào và tại sao hắn lại phản hồi về tôi? Nhưng ông ấy là con người đáng yêu, ít nhất là đến lần thứ hai bạn gặp”. Redelmeier cho rằng việc các bác sĩ của Sunnybrook sau đó đánh giá cao nhu cầu về một người kiểm tra tư duy là một dấu hiệu cho thấy nghề này đã thay đổi nhiều như thế nào kể từ khi ông mới vào nghề giữa những năm 1980. Thuở ông mới bắt đầu, các bác sĩ xây dựng hình ảnh bản thân như các chuyên gia không bao giờ sai lầm; giờ đây đã có một địa điểm ở khu trung tâm cấp vùng điều trị chấn thương hàng đầu của Canada dành cho giới am hiểu về sai sót trong y khoa. Bệnh viện giờ đây không chỉ được xem là nơi điều trị người đau ốm mà còn là cỗ máy đương đầu với sự không chắc chắn. “Bất cứ nơi đâu tồn tại sự không chắc chắn, nơi đó phải có sự phán đoán”, Redelmeier nói, “và bất cứ nơi nào xuất hiện phán đoán, nơi ấy sẽ có khả năng xảy ra sai lầm của con người”.
Khắp Bắc Mỹ, số người chết hằng năm vì các tai nạn có thể ngăn chặn nhiều hơn số người chết vì đâm xe – việc này nói lên vài điều. Redelmeier thường chỉ ra rằng chuyện xấu xảy đến với các bệnh nhân khi họ được vận chuyển không cẩn thận hết mức từ chỗ này sang chỗ khác trong bệnh viện. Chuyện không hay xảy ra khi bệnh nhân được điều trị bởi các bác sĩ và y tá quên rửa tay. Những chuyện xấu thậm chí còn nảy sinh khi họ nhấn nút thang máy của bệnh viện. Redelmeier là đồng tác giả của một bài báo viết về điều này: “Các nút bấm thang máy là nguồn khu trú vi khuẩn tiềm ẩn ở bệnh viện”. Để thực hiện một trong các nghiên cứu của mình, ông đã lau lấy mẫu 120 nút bấm thang máy và 96 bệ xí tại 3 bệnh viện lớn ở Toronto để tìm ra bằng chứng cho thấy các nút bấm thang máy rất có khả năng khiến bạn bị lây bệnh.
Nhưng trong tất cả những điều tồi tệ xảy ra với mọi người ở các bệnh viện, thứ khiến Redelmeier bận tâm lo lắng nhất là phán đoán lâm sàng sai lầm. Các y bác sĩ cũng chỉ là con người. Đôi lúc họ không thể nhận ra những thông tin các bệnh nhân cung cấp là không đáng tin cậy – ví dụ như bệnh nhân thường nói họ cảm thấy khỏe hơn và thực sự tin mình đang tiến triển tốt vào lúc tình trạng của họ chẳng có thay đổi thực sự nào. Các bác sĩ có khuynh hướng quan tâm chủ yếu đến những gì họ được yêu cầu để ý và bỏ qua bức tranh toàn cục. Họ thỉnh thoảng không nhận ra điều mình không được giao phó trực tiếp. “Một trong những điều Don dạy tôi là giá trị của việc quan sát căn phòng khi bệnh nhân không có mặt ở đó”, Jon Zipursky, bác sĩ nội trú bệnh viện Sunnybrook, kể lại. “Hãy nhìn vào các khay thức ăn của họ. Họ có ăn không? Họ mang theo đồ để nằm viện dài ngày hay ngắn ngày? Căn phòng bừa bãi hay gọn gàng? Có lần chúng tôi bước vào phòng khi bệnh nhân đang ngủ. Tôi định đánh thức anh ta thì Don ngăn lại và nói: Ta có thể tìm hiểu nhiều điều về mọi người chỉ bằng cách quan sát”.
Các bác sĩ có khuynh hướng chỉ thấy những thứ họ được đào tạo để thấy: Đó là một lý do quan trọng nữa khiến những chuyện xấu có thể xảy ra với một bệnh nhân ở ngay trong bệnh viện. Một bệnh nhân được điều trị vì có vấn đề rõ ràng, bởi một chuyên gia không hề biết bệnh nhân có thể còn có một vấn đề nữa ít rõ ràng hơn. Thứ ít rõ ràng hơn đó đôi khi có thể giết chết một con người.
Tình trạng của những người bị thương trên cao tốc 401 thường nặng đến nỗi những vấn đề rõ ràng nhất đòi hỏi đội ngũ y tế phải hết sức quan tâm và điều trị ngay lập tức. Nhưng người phụ nữ trẻ, trong trạng thái bàng hoàng ở phòng cấp cứu của Sunnybrook ngay sau vụ đâm xe đối đầu với nhiều xương gãy, đã cho các bác sĩ phẫu thuật thấy một vấn đề đáng lo ngại vào lúc họ chữa trị cho cô. Nhịp tim của cô đập loạn xạ. Đó có thể là lỡ nhịp hoặc thừa nhịp; dù là gì, cô cũng có nhiều hơn một vấn đề nghiêm trọng.
Ngay sau khi nhân viên trung tâm chấn thương gọi Redelmeier đến phòng phẫu thuật, họ đã tự mình chẩn đoán ra vấn đề về tim – hoặc tưởng thế. Người phụ nữ trẻ vẫn đủ tỉnh táo để nói cô có tiền sử mắc bệnh cường giáp. Căn bệnh này có thể khiến nhịp tim bất thường. Vì vậy, khi Redelmeier tới, các nhân viên không còn cần ông điều tra nguồn gốc của việc nhịp tim bất thường nữa mà là điều trị nó. Có lẽ sẽ không ai trong phòng cấp cứu có chút phản ứng gì nếu Redelmeier chỉ kê thuốc điều trị cường giáp. Thay vì thế, Redelmeier yêu cầu mọi người chậm lại. Để chờ. Chỉ một lát thôi. Chỉ để kiểm tra lại tư duy của mình – và đảm bảo họ đang không cố ép thực tế vào một câu chuyện dễ dàng, liền mạch nhưng rốt cục lại sai.
Có điều gì đó làm ông lo ngại. Sau đó ông nói: “Cường giáp là nguyên nhân kinh điển gây ra nhịp tim bất thường nhưng nó là nguyên nhân hiếm gặp”. Biết thông tin người phụ nữ trẻ có tiền sử cơ thể sản sinh dư thừa hormone tuyến giáp, nhân viên phòng cấp cứu đã vội cho rằng chứng cường giáp của cô làm cho nhịp tim đập nguy hiểm. Họ chẳng màng cân nhắc bằng cách thống kê các nguyên nhân có xác xuất cao hơn nhiều trong việc gây ra nhịp tim bất thường. Theo kinh nghiệm của Redelmeier, các bác sĩ không tư duy theo kiểu thống kê. “80% bác sĩ không nghĩ đến các xác suất áp dụng cho những bệnh nhân của mình”, ông nói, “giống như việc 95% cặp đôi đã kết hôn đều không tin rằng 50% tỷ lệ li dị được áp vào mình, 95% số tài xế say xỉn cũng chẳng nghĩ đến thống kê xác suất tử vong khi lái xe trong tình trạng say rượu cao hơn khi tỉnh táo lại áp dụng vào họ”.
Redelmeier yêu cầu đội ngũ phòng cấp cứu tìm các lý do khác khả thi hơn về mặt thống kê khiến nhịp tim cô ấy bất thường. Đó là lúc họ phát hiện cô bị xẹp phổi. Giống như các xương sườn bị gãy, phổi xẹp của cô đã không xuất hiện trên hình ảnh X-quang. Nhưng khác ở chỗ nó có thể khiến cô tử vong. Redelmeier bỏ qua bệnh tuyến giáp và xử lý phổi xẹp. Nhịp tim của cô gái trẻ trở lại bình thường. Ngày kế tiếp, ông quay lại với kết quả xét nghiệm tuyến giáp chính thức. Lượng hormone tuyến giáp của cô hoàn toàn bình thường. Tuyến giáp của cô ấy không phải là vấn đề. “Đó là một trường hợp kinh điển về kinh nghiệm cảm tính về tính tiêu biểu”, Redelmeier nói. “Cần phải cẩn trọng khi có một chẩn đoán đơn giản đột nhiên xuất hiện trong đầu và giải thích rất tuyệt vời tất cả mọi thứ ngay lập tức. Đó là lúc bạn cần dừng lại và kiểm tra tư duy của mình”.
Điều đó không có nghĩa là điều xuất hiện đầu tiên trong đầu luôn luôn sai; mà sự tồn tại của nó trong đầu sẽ khiến bạn cảm thấy chắc chắn hơn mức cần thiết. “Hãy coi chừng anh chàng mê sảng ở phòng cấp cứu vốn có tiền sử nghiện rượu lâu năm”, Redelmeier nói, “bởi bạn sẽ nói: ‘Anh ta say thôi mà’ và bỏ sót chứng tụ máu dưới màng cứng”. Các bác sĩ phẫu thuật cho người phụ nữ đã vội dựa vào bệnh sử của cô để chẩn đoán mà không hề cân nhắc các tỷ lệ cơ sở. Như Kahneman và Tversky từng chỉ ra, một người sắp đưa ra dự báo – hay chẩn đoán – chỉ được phép bỏ qua các tỷ lệ cơ sở nếu hoàn toàn chắc chắn mình đúng. Bên trong một bệnh viện hay ở mọi nơi nào khác, Redelmeier không bao giờ chắc chắn hoàn toàn về bất cứ điều gì và ông nghĩ mọi người cũng nên thế.
________________
Redelmeier lớn lên ở Toronto, trong cùng ngôi nhà mà cha ông, vốn là một nhà kinh tế học, từng được nuôi dưỡng trưởng thành. Là út trong ba người con trai, ông thường cảm thấy mình hơi hơi ngu ngốc; các anh trai dường như luôn hiểu biết nhiều hơn và thích thể hiện cho ông thấy điều đó. Redelmeier còn bị rối loạn vận ngôn – tật nói lắp điên cuồng khiến ông luôn phải cố gắng hết sức và đầy khó nhọc để bù đắp (Khi gọi điện đặt chỗ nhà hàng, ông chỉ nói tên mình là “Don Red”). Tật nói lắp khiến ông nói chậm; điểm yếu khi đánh vần khiến ông viết không được nhanh. Cơ thể ông cũng phối hợp chẳng tốt lắm, đến năm lớp 5, ông đã phải đeo kính để điều chỉnh thị lực. Hai ưu điểm lớn của Redelmeier chính là trí óc và tính khí. Ông luôn học cực kỳ giỏi môn toán; ông yêu toán học. Redelmeier cũng có thể diễn giải nó, vì thế các bạn thường hỏi ông khi không thể hiểu điều giáo viên nói. Đó là nơi để tính khí của ông bộc lộ. Ông hầu như luôn dành cho người khác sự quan tâm đặc biệt. Từ khi ông còn nhỏ, người lớn đã nhận thấy điều này: Bản năng đầu tiên của ông khi gặp người khác là quan tâm chăm sóc họ.
Thế nhưng ngay cả trong giờ học toán, nơi ông thường sẵn sàng giúp đỡ tất cả các bạn, điều Redelmeier luôn nhớ chính là cảm giác bản thân có thể sai lầm. Trong toán học, có đáp án sai và đáp án đúng, bạn không thể tránh né điều đó. “Các lỗi đôi khi có thể dự đoán”, ông nói. “Bạn nhìn thấy chúng từ xa nhưng vẫn mắc phải”. Trải nghiệm của ông về cuộc đời là một chuỗi sự kiện đầy lỗi, sau này ông nghĩ thế, có lẽ là thứ giúp ông dễ tiếp thu một bài báo khó hiểu trên tạp chí Science mà thầy giáo yêu thích thời trung học, thầy Fleming, đã đưa ông đọc vào cuối năm 1977. Ông đem nó về nhà và đọc vào tối hôm đó tại bàn học.
Bài báo có tên là “Phán đoán trong điều kiện không chắc chắn: Kinh nghiệm cảm tính và Thiên kiến”. Nghe nửa quen nửa lạ – “kinh nghiệm cảm tính” là cái quái gì vậy? Redelmeier mới 17 tuổi, một số thuật ngữ vượt quá tầm của ông. Nhưng bài báo đã mô tả 3 cách mà con người đưa ra các phán đoán khi họ không biết chắc câu trả lời. Những cái tên do các tác giả đặt ra – tính tiêu biểu, tính hiện hữu, neo giữ – vừa kỳ lạ vừa hấp dẫn. Họ khiến hiện tượng mình miêu tả đem lại cảm giác giống như kiến thức bí mật nào đấy. Nhưng điều họ nói lại khiến Redelmeier cảm nhận đó là một sự thật đơn giản – chủ yếu vì ông bị đánh lừa bởi các câu hỏi do họ đặt ra cho độc giả. Ông đoán người đàn ông họ đặt tên là “Dick” cùng mô tả nhạt nhẽo có xác suất ngang nhau là một luật sư hay kỹ sư, dù anh ta thuộc một nhóm đối tượng hầu hết là luật sư. Khi có được một bằng chứng vô giá trị, ông cũng dự báo khác với khi không có bằng chứng nào. Ông cũng nghĩ rằng có nhiều từ trong một đoạn văn bản tiếng Anh điển hình có chữ K ở vị trí đầu tiên hơn vị trí thứ ba, bởi các từ khởi đầu bằng chữ K dễ nhớ ra hơn. Ông cũng đưa ra các dự báo về con người chỉ từ những mô tả về họ, với mức độ tự tin phi lý – ngay cả một Don Redelmeier vốn không kiên định còn bị ảnh hưởng bởi sự tự tin thái quá! Và khi được yêu cầu đoán nhanh tích số của dãy 1 × 2 × 3 × 4 × 5 × 6 × 7 × 8, ông cũng thấy mình cho là nó nhỏ hơn tích số 8 × 7 × 6 × 5 × 4 × 3 × 2 × 1.
Thứ khiến Redelmeier suy nghĩ không phải là quan niệm con người thì phải phạm lỗi. Dĩ nhiên con người có phạm lỗi! Điều quá nổi bật là các lỗi đó mang tính hệ thống và có thể dự báo. Dường như chúng đã ăn sâu vào bản chất con người. Đọc bài báo trên tạp chí Science gợi nhắc Redelmeier nhớ lại tất cả những lần có vẻ như ông mắc lỗi rõ ràng khi giải toán – bởi nó quá giống những lỗi mà ông và mọi người hay mắc. Một đoạn đặc biệt mà ông nhớ mãi nằm trong phần nói về cái họ gọi là “tính hiện hữu”. Nó nhắc đến vai trò của trí tưởng tượng trong lỗi của con người. “Chẳng hạn như rủi ro liên quan đến một cuộc phiêu lưu mạo hiểm được đánh giá bằng cách tưởng tượng ra các tình huống ngẫu nhiên mà cuộc thám hiểm không được chuẩn bị để đối phó”, các tác giả viết. “Nếu nhiều khó khăn như vậy được mô tả một cách sống động thì cuộc thám hiểm có thể bị làm cho có vẻ quá nguy hiểm, mặc dù các thảm họa dễ tưởng tượng không nhất thiết phản ánh xác suất xảy ra thực sự. Ngược lại, rủi ro liên quan đến một sự việc có thể bị đánh giá cực kỳ thấp nếu một số nguy hiểm tiềm năng lại rất khó để nhận thức, hay đơn giản là chúng không xuất hiện trong tâm trí chúng ta”.
Vấn đề không phải chỉ là có bao nhiêu từ trong ngôn ngữ tiếng Anh bắt đầu với chữ K. Đó còn là chuyện sống chết. “Bài báo ấy đối với tôi còn ly kỳ hơn cả một bộ phim”, Redelmeier nói. “Mà tôi thì yêu phim ảnh”.
Redelmeier chưa bao giờ nghe đến các tác giả Daniel Kahneman và Amos Tversky, mặc dù phía cuối trang báo có nói họ là thành viên của khoa Tâm lý học tại Đại học Hebrew ở Jerusalem. Đối với Redelmeier, việc quan trọng hơn là các anh trai của mình cũng chưa từng nghe đến tên tuổi hai người này. A ha, mong mãi. Cuối cùng mình cũng biết được gì đó nhiều hơn các anh!, Redelmeier nghĩ. Kahneman và Tversky đưa ra điều mang lại cảm giác như một cái nhìn cá nhân thoáng qua về hành động tư duy. Đọc bài báo của họ giống như nhìn trộm vào sau tấm màn của ảo thuật gia.
Redelmeier dễ dàng xác định những việc muốn làm với cuộc đời mình. Khi còn là một đứa trẻ, ông đã đem lòng yêu mến các bác sĩ trên tivi – Leonard McCoy trong bộ phim Star Trek và đặc biệt là Hawkeye Pierce trong M*A*S*H. “Tôi cũng muốn trở thành một anh hùng”, ông nói. “Tôi sẽ không bao giờ thành công trong thể thao. Tôi sẽ không bao giờ thành công trong chính trị. Tôi cũng chẳng bao giờ thành công trong điện ảnh. Y học là một con đường. Một cách để có cuộc đời thật sự anh hùng”. Ông cảm nhận nỗi thôi thúc mạnh mẽ đến nỗi đã nộp đơn xin vào trường y năm 19 tuổi, năm thứ 2 đại học. Ngay sau sinh nhật lần thứ 20, ông bắt đầu vào Đại học Toronto để học trở thành một bác sĩ.
Và đó là nơi nảy sinh vấn đề: các thầy không giống Leonard McCoy hay Hawkeye Pierce lắm. Nhiều người trong số họ tự cao tự đại và có chút gì đó khoa trương. Một số đặc điểm cùng điều họ nói đã khiến Redelmeier có những suy nghĩ nổi loạn. “Hồi đầu ở trường y, đã có rất nhiều thầy nói những điều sai”, ông nhớ lại. “Tôi không dám nói bất cứ điều gì về chuyện này”. Họ lặp đi lặp lại những lời lẽ mê tín phổ biến cứ như thể chúng là chân lý (“Quá tam ba bận”). Khi gặp cùng một thứ bệnh, các chuyên gia thuộc những lĩnh vực khác nhau trong y học đưa ra các chẩn đoán mâu thuẫn nhau. Giảng viên môn tiết niệu của ông nói với các sinh viên rằng tiểu ra máu thì nguy cơ cao là mắc bệnh ung thư thận, trong khi thầy chuyên khoa thận lại nói tiểu ra máu thì nguy cơ cao là viêm cầu thận – một chứng viêm thận. “Cả hai đều tự tin thái quá vào kinh nghiệm chuyên gia của mình”, Redelmeier nói, và cả hai chủ yếu chỉ nhìn ra những gì họ từng được đào tạo để nhìn thấy.
Vấn đề không nằm ở những điều họ biết, hay không biết. Đó là nhu cầu của họ về sự chắc chắn, hay ít nhất có vẻ chắc chắn. Đứng bên cạnh máy chiếu, nhiều người trong số họ thuyết giáo nhiều hơn là giảng dạy. “Tính khí phổ biến của họ là ngạo mạn”, Redelmeier nói. “Cậu không chỉ định dùng steroid là sao!!???” Đối với Redelmeier, quan niệm có rất nhiều điều không chắc chắn trong y học hầu như không được các tác giả của chúng thừa nhận.
Có lý do cho điều này: Thừa nhận sự không chắc chắn là thừa nhận khả năng sai sót. Cả ngành y đã tự dàn xếp như thể để xác nhận sự sáng suốt trong những quyết định của họ. Chẳng hạn, mỗi khi một bệnh nhân hồi phục, bác sĩ thường cho đó là nhờ việc điều trị do ông ta chỉ định mà không hề có bất cứ bằng chứng xác đáng nào chỉ ra đó là nhờ điều trị. Chỉ vì người bệnh khỏe hơn sau khi tôi chữa trị cho anh ta không có nghĩa anh ta khỏe lên là do tôi điều trị, Redelmeier nghĩ. “Rất nhiều bệnh có thể tự khỏi”, ông nói. “Chúng sẽ tự khỏi. Những người ốm yếu sẽ tìm kiếm sự chăm sóc. Khi đó, các bác sĩ cảm thấy mình cần làm gì đó. Bạn nhờ thầy thuốc; tình trạng cải thiện. Và điều đó có thể dẫn tới một cuộc đời dính lấy các bác sĩ. Một đời kê toa kháng sinh quá mức. Một đời làm thủ thuật cắt amiđan cho những người bị viêm tai. Bạn thử làm thế và hôm sau họ đỡ, thật quá hấp dẫn. Bạn tới gặp một bác sĩ tâm thần và bạn đỡ trầm cảm – bạn tin vào hiệu quả của tâm thần học”.
Redelmeier cũng nhận ra những vấn đề khác. Các giáo sư tại trường y của ông đánh giá dữ liệu theo bề nổi mà lẽ ra phải tìm hiểu kỹ hơn chẳng hạn. Một cụ ông đến bệnh viện vì viêm phổi. Họ sẽ kiểm tra nhịp tim của ông và xem nó có đập ở mức bình thường là 75 nhịpphút hay không… và cứ thế tiếp tục. Nhưng lý do chứng viêm phổi tước đi sinh mạng của nhiều người già là ở khả năng lây nhiễm rộng của nó. Hệ miễn dịch phản ứng khi nó tạo ra cơn sốt, ho, ớn lạnh và đờm – nhịp tim nhanh hơn bình thường. Một cơ thể đấu tranh chống lại viêm nhiễm đòi hỏi máu phải được bơm nhanh hơn tốc độ thông thường. “Nhịp tim của người già bị viêm phổi không thể bình thường!”, Redelmeier nói. “Nó phải nhanh hết tốc lực!”. Một cụ ông viêm phổi mà nhịp tim có vẻ bình thường thì có thể tim có vấn đề nghiêm trọng. Nhưng chỉ số bình thường trên thiết bị đo nhịp tim đã gây ra một cảm giác sai lầm trong đầu các bác sĩ rằng mọi thứ đều ổn. Khi tất cả có vẻ ổn, các chuyên gia y tế đã “không thể kiểm tra chính mình”.
Thực tế, một phong trào đang bắt đầu hình thành và phát triển ngay lập tức ở Canada, về sau được gọi là “y học thực chứng”. Quan điểm cốt lõi của “y học thực chứng” là kiểm chứng trực giác của các chuyên gia y tế – kiểm tra tư duy của các bác sĩ trên nền dữ liệu định lượng. Khi trở thành đối tượng của điều tra khoa học, một số thứ được công nhận là sự uyên bác y học hóa ra lại là sự mù quáng gây ngỡ ngàng. Chẳng hạn như khi Redelmeier vào trường y năm 1980, kiến thức thông thường là nếu một bệnh nhân lên cơn đau tim mà bị loạn nhịp tim, bạn sẽ kê thuốc ức chế nó. Đến cuối khóa đào tạo y khoa của Redelmeier, 7 năm sau, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân lên cơn đau tim mà dùng thuốc ức chế chứng loạn nhịp tim thì hay tử vong hơn so với bệnh nhân không dùng thuốc. Chẳng ai giải thích được tại sao các bác sĩ, suốt bao năm, lại đi chọn lựa phương pháp điều trị hại chết bệnh nhân một cách có hệ thống – mặc dù các đề xuất của y học thực chứng đang bắt đầu hướng đến công trình của Kahneman và Tversky để tìm kiếm những lời giải thích khả thi. Nhưng rõ ràng, các phán đoán trực giác của bác sĩ có thể mắc phải những sai lầm nghiêm trọng: Bằng chứng của các thử nghiệm y khoa giờ đây không thể bị bỏ qua. Và Redelmeier hiểu được tầm quan trọng của bằng chứng. “Tôi bắt đầu nhận thức rõ ràng về phân tích khỏa lấp – nhiều khả năng đang được bịa ra bởi quan điểm chuyên gia”, Redelmeier nói. “Tôi nhìn ra lỗi trong cách con người suy nghĩ rằng điều đó đang được truyền sang bệnh nhân. Và mọi người không nhận thức được các lỗi họ đang mắc phải. Tôi có đôi chút không hài lòng, không thỏa mãn cho lắm, một cảm giác là tất cả đều không đúng trong tình huống này”.
Ở cuối bài báo của mình trên tạp chí Science, Daniel Kahneman và Amos Tversky chỉ ra rằng, trong khi những người am hiểu về thống kê có thể tránh các lỗi đơn giản như những người ít am hiểu hơn, ngay cả những bộ óc tinh thông nhất cũng có khả năng mắc lỗi. Họ viết: “Phán đoán trực giác có khả năng chịu ảnh hưởng của các ngụy biện tương tự trong những vấn đề phức tạp và khó hiểu hơn”. Trong nhận thức của Redelmeier trẻ tuổi, điều đó là một “lý do căn bản tuyệt vời giải thích tại sao các bác sĩ xuất sắc lại không thoát khỏi những ngụy biện này”. Ông nghĩ lại về các lỗi mình từng mắc khi giải toán. “Cách giải quyết vấn đề tương tự đã tồn tại trong y học”, ông nói. “Trong toán học, bạn luôn kiểm tra công việc của mình. Còn trong y học thì không. Và nếu chúng ta có khả năng sai trong đại số, là lĩnh vực có các đáp án rõ ràng, chúng ta còn sai lớn như thế nào trong một thế giới mà các đáp án mờ mịt hơn?”. Lỗi không nhất thiết phải khiến chúng ta xấu hổ; nó đơn thuần chỉ mang tính con người. “Họ cung cấp một ngôn ngữ và logic nhằm trình bày rõ ràng một số cạm bẫy mọi người gặp khi tư duy. Những lỗi này giờ đây có thể được diễn đạt. Đó là sự thừa nhận về lỗi của con người. Không phủ nhận nó. Không coi nó là thứ quỷ quái. Chỉ cần hiểu lỗi lầm là một phần của bản chất con người”.
Nhưng Redelmeier đã giấu kín những ý nghĩ dị thường mà ông nuôi dưỡng khi còn là một sinh viên y khoa trẻ tuổi. Ông chưa bao giờ cảm nhận nỗi thôi thúc phải chất vấn nhà chức trách hay chống đối lại truyền thống, cũng chẳng có năng khiếu về cả hai việc đó. “Trong đời, tôi chưa bao giờ bị sốc hay thất vọng trước”, ông nói. “Tôi luôn rất dễ bảo. Tuân thủ pháp luật. Tôi tham gia bỏ phiếu trong tất cả các cuộc bầu cử. Tôi có mặt tại các buổi họp cán bộ nhân viên trường đại học. Tôi chẳng bao giờ cãi cọ với cảnh sát”.
Năm 1985, ông được nhận vào làm bác sĩ nội trú tại bệnh viện Đại học Stanford. Ở Stanford, ông bắt đầu bày tỏ sự hoài nghi về chuyên môn một cách do dự. Đêm nọ, vào năm thứ hai, khi ông đang trực ở khu chăm sóc tích cực và được giao nhiệm vụ duy trì sự sống cho một thanh niên đủ lâu để thu nội tạng của anh ấy. (Cụm từ tiếng Mỹ - “thu” – ông thấy thật lạ. Ở Canada, người ta gọi nó là “thu hồi nội tạng”). Bệnh nhân chết não 21 tuổi đã đâm dính cả mô-tô vào gốc cây.
Đó là lần đầu tiên Redelmeier phải đối mặt với cơ thể sắp chết của một người trẻ hơn mình, điều này làm ông bứt rứt, nó không giống như cái chết của những người lớn tuổi hơn ông từng chứng kiến. “Anh ta đã mất mát quá nhiều năm cuộc đời”, ông nói. “Đó là một trường hợp có thể ngăn chặn. Chàng trai đó đã không đội mũ bảo hiểm”. Redelmeier chợt nghĩ ra việc con người không có khả năng phán đoán các rủi ro, ngay cả khi phán đoán sai lầm có thể cướp đi sinh mạng của họ. Khi đưa ra các phán đoán, mọi người rõ ràng có thể tận dụng sự giúp đỡ, chẳng hạn như yêu cầu tất cả người lái xe mô-tô đội mũ bảo hiểm. Sau đó, Redelmeier đã nói vấn đề trên với một bạn học người Mỹ. Đối với cậu, những người Mỹ yêu tự do là gì?, ông hỏi. Sống tự do hoặc chết. Tôi không hiểu. Tôi nói: “Nếu tôi sai thì đừng mắng nhé. Tôi thích sống hơn”. Người bạn trả lời: Không chỉ nhiều người Mỹ khác quan điểm với cậu, ngay cả các bác sĩ cũng thế. Bạn học của Redelmeier kể về vị trưởng khoa phẫu thuật tim nổi tiếng của Stanford, Norm Shumway, người đã tích cực vận động hành lang chống lại việc đề ra một đạo luật yêu cầu những người lái xe mô-tô đội mũ bảo hiểm. “Tôi kinh ngạc”, Redelmeier nói. Sao một người thông minh lại ngu ngốc đến thế trong chuyện đó? Chúng ta chắc chắn có khả năng gây ra lỗi. Và khả năng phạm sai lầm của con người nên được chú ý tới”.
27 tuổi, khi kết thúc thời gian nội trú tại Stanford, Redelmeier tạo ra khởi đầu của một thế giới quan tiếp thu bài báo của hai nhà tâm lý học Israel ông từng đọc thời niên thiếu. Thế giới quan này dẫn đến đâu thì ông không biết. Ông vẫn nghĩ là có thể khi trở về Canada, ông sẽ quay lại Bắc Labrador, nơi ông từng ở suốt mùa hè trong thời gian trường y chăm sóc sức khỏe cho một ngôi làng 500 người. “Tôi không có các kỹ năng ghi nhớ hay suy nghĩ mau lẹ tuyệt vời”, ông nói. “Tôi sợ mình sẽ không trở thành một bác sĩ xuất sắc. Và nếu sau này không xuất sắc thì tôi cũng có thể đi tới phục vụ một nơi nào đó thiếu thốn dịch vụ y tế, nơi người ta cần và muốn có tôi”. Redelmeier thực sự vẫn tin rằng mình có thể hành nghề y theo kiểu thông thường. Nhưng rồi sau đó ông gặp Amos Tversky.
________________
Redelmeier từ lâu đã hình thành thói quen dự đoán và sửa chữa các lỗi tâm lý của mình. Biết rằng trí nhớ bản thân có khả năng sai lầm, đi đâu ông cũng mang theo một tập giấy ghi chép và ghi lại những suy nghĩ cùng vấn đề xảy đến với mình. Khi bị đánh thức trong đêm khuya bởi cú điện thoại từ bệnh viện, Redelmeier luôn nói dối bác sĩ nội trú đang liến thoắng ở đầu dây bên kia rằng tín hiệu kém, nên anh ta cần nhắc lại mọi thứ vừa nói. “Bạn không thể bảo một bác sĩ nội trú rằng anh ta đang nói quá nhanh. Hãy tự trách bản thân – và điều đó tạo điều kiện không chỉ cho tư duy của anh ta mà còn cho chính bạn”. Khi một khách hàng xuất hiện tại văn phòng của Redelmeier lúc ông đang làm việc, ông sẽ đặt đồng hồ bấm giờ để đảm bảo không bị cuốn vào cuộc trò chuyện và muộn giờ gặp bệnh nhân. “Khi vui, Redelmeier quên thời gian”, Redelmeier nói. Trước mỗi tình huống giao tiếp xã hội, ông đều dành nhiều thời gian hơn hẳn bình thường để chỉnh sửa bất cứ điều gì ông hình dung có thể xảy ra sai lầm. Khi diễn thuyết – vẫn là một thách thức lớn đối với ông, vì cái tật nói lắp – ông khảo sát kỹ lưỡng giảng đường và tập dượt trước toàn bộ.
Và thế là, vào mùa xuân năm 1988, hai ngày trước bữa trưa đầu tiên với Amos Tversky, Redelmeier cảm thấy hoàn toàn bình thường khi bước vào phòng ăn của câu lạc bộ tài năng ở trường Stanford, là nơi hai người hẹn gặp. Vào ngày có hẹn ăn trưa, ông đã chuyển giờ thăm bệnh ở bệnh viện từ 6 giờ 30 phút sáng lên 4 giờ 30 phút nhằm giảm nguy cơ vấn đề y tế của người nào đó sẽ quấy rầy cuộc gặp. Redelmeier không ăn sáng thường xuyên, nhưng vào ngày hôm đó lại ăn để không bị cơn đói làm cho xao lãng vào bữa trưa. Cũng như thói quen, ông viết nhanh trước một ít ghi chú – các chủ đề thảo luận tiềm năng – “vì sợ để trống”. Ông không định sẽ nói nhiều. Hal Sox, cấp trên của Redelmeier ở Stanford, người sau đó sẽ ngồi ăn cùng họ, nói với Redelmeier: “Đừng nói chuyện. Đừng nói gì cả. Đừng xen ngang. Chỉ ngồi nghe thôi”. Hal Sox nói cuộc gặp với Amos Tversky “giống như thảo luận với Albert Einstein. Amos là con người của thời đại – sẽ không còn có ai khác giống như ông ấy”.
Hal Sox tình cờ là đồng tác giả của bài báo đầu tiên Amos từng viết về y học. Nghiên cứu của họ xuất phát từ một câu hỏi Amos đã đặt ra cho Sox: Con người có khuynh hướng bộc lộ như thế nào khi đối mặt với những canh bạc tài chính diễn ra trong tâm trí của các bác sĩ và bệnh nhân? Cụ thể, khi lựa chọn giữa món lợi nhuận chắc chắn với một khoản cược có cùng giá trị kỳ vọng (chẳng hạn chắc thắng 100 đô-la hay cược 50-50 thắng 200 đô-la), Amos đã giải thích cho Hal Sox rằng mọi người có khuynh hướng chọn điều chắc ăn. Cứ ăn chắc mặc bền đã. Nhưng nếu lựa chọn giữa chắc chắn thua 100 đô-la với đánh cược may rủi 50-50 thua 200 đô-la, họ sẽ chọn rủi ro. Với sự hỗ trợ của Amos, Sox và hai nhà nghiên cứu y khoa khác đã thiết kế ra những thí nghiệm cho thấy bác sĩ và bệnh nhân lựa chọn khác nhau như thế nào khi các lựa chọn được thể hiện là dễ thua hơn thắng.
Ung thư phổi là một ví dụ có ích. Bệnh nhân ung thư phổi và các bác sĩ điều trị vào đầu những năm 1980 đã phải đối mặt với hai lựa chọn chẳng dễ chịu: phẫu thuật hay xạ trị. Phẫu thuật có nhiều khả năng kéo dài cuộc sống của bạn hơn, nhưng không giống như xạ trị, nó đi kèm rủi ro nhỏ là có thể tử vong ngay. Khi bạn nói với bệnh nhân rằng họ có 90% cơ hội sống sót sau phẫu thuật thì 82% họ sẽ chọn phẫu thuật. Nhưng nếu bạn nói rằng họ có 10% nguy cơ tử vong sau phẫu thuật – chỉ là một cách diễn đạt khác cho cùng một xác suất – thì chỉ 54% lựa chọn phẫu thuật. Con người khi phải đối diện với quyết định lựa chọn giữa sự sống với cái chết sẽ phản hồi không theo xác suất mà theo cách mô tả xác suất. Không chỉ bệnh nhân mà ngay cả bác sĩ cũng vậy. Sox nói rằng làm việc với Amos đã thay đổi quan điểm của ông về nghề. “Các khía cạnh nhận thức không được hiểu thấu chút nào trong y học”, ông nói. Bên cạnh đó, ông không thể không thắc mắc có bao nhiêu bác sĩ phẫu thuật, chủ ý hay vô ý, đã nói với bệnh nhân rằng anh ta có 90% cơ hội sống sót sau phẫu thuật, chứ không nhắc đến 10% tử vong sau phẫu thuật, đơn giản vì bác sĩ muốn phẫu thuật.
Tại bữa trưa đầu tiên đó, Redelmeier chủ yếu quan sát trong lúc Sox và Amos trò chuyện. Tuy nhiên, ông vẫn nhận ra đôi điều. Đôi mắt xanh lơ của Amos đảo nhanh lia lịa và ông bị rối loạn vận ngôn nhẹ. Ông nói thành thạo tiếng Anh nhưng lại nặng giọng Israel. “Ông ấy có phần thận trọng quá mức”, Redelmeier nói. “Amos hoạt bát. Mạnh mẽ. Ông không hề khoác lên mình vẻ uể oải của một giảng viên cơ hữu. Ông thật sự nói đến 90% thời lượng buổi trò chuyện. Mỗi lời của ông đều đáng để lắng nghe. Tôi ngạc nhiên bởi ông biết quá ít về y học, vì ông đã có ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định trong ngành y rồi”. Amos đặt ra đủ loại câu hỏi dành cho hai vị bác sĩ; hầu hết liên quan tới việc thăm dò tính bất hợp lý trong hành vi y học. Sau khi quan sát Hal Sox trả lời hay cố gắng trả lời các câu hỏi của Amos, Redelmeier nhận ra mình hiểu được về cấp trên trong một bữa ăn trưa nhiều hơn hẳn những gì ông thu thập được trong 3 năm trước đó. “Amos biết chính xác phải hỏi những câu nào”, Redelmeier nói. “Không hề có những khoảng lặng lúng túng”.
Cuối bữa trưa, Amos mời Redelmeier tới thăm ông tại văn phòng. Chẳng mấy chốc, Amos đã kể cho Redelmeier nghe những ý tưởng về tâm trí con người, như ông từng làm với Hal Sox, để lắng nghe về phản ứng trong y học. Chẳng hạn như Đánh cược Samuelson. Trò đánh cược này được đặt theo tên của Paul Samuelson, nhà kinh tế học đã sáng tạo ra nó. Như Amos giải thích, những người được mời tham gia vụ cá cược có cơ hội 50-50 thắng 150 đô-la hoặc thua 100 đô-la thường từ chối. Nhưng nếu bạn mời chính những người đó cá cược tương tự 100 lần thì phần lớn họ sẽ chấp nhận. Tại sao họ lại tính toán giá trị kỳ vọng – và chọn xác suất có lợi cho mình – khi được cho phép đánh cược 100 lần, nhưng lại từ chối khi chỉ được cược một lần? Câu trả lời không hoàn toàn rõ ràng. Vâng, bạn chơi trò chơi có xác suất có lợi càng nhiều thì khả năng thua càng thấp; nhưng càng chơi nhiều, tổng số tiền bạn mất càng lớn. Dù sao đi chăng nữa, sau khi Amos diễn giải xong nghịch lý này, “Ông nói: ‘Được rồi, Redelmeier, hãy tìm ra điều tương tự trong y học!”.
Điều tương tự trong y học nhanh chóng nảy ra trong đầu Redelmeier. “Dù ví dụ tổng quan là gì, tôi cũng biết rất nhiều ví dụ trong y học. Ngạc nhiên là ông ấy im lặng lắng nghe tôi nói”. Redelmeier quả quyết có thể tìm thấy ví dụ tương tự như Đánh cược Samuelson trong y học ở tính hai mặt trong vai trò của bác sĩ. “Bác sĩ là đại diện hoàn hảo cho bệnh nhân cũng như là người bảo vệ của xã hội”, ông nói. “Các bác sĩ xử trí với từng bệnh nhân, trong khi nhà hoạch định chính sách y tế phải giải quyết toàn thể”.
Nhưng giữa hai vai trò có mâu thuẫn. Chẳng hạn, cách điều trị an toàn nhất cho một bệnh nhân bất kỳ có thể là một liệu trình kháng sinh, nhưng cả xã hội rộng lớn sẽ khốn khổ khi kháng sinh bị kê quá đà và những loại vi khuẩn được sử dụng để điều trị tiến hóa thành các chủng nguy hiểm, khó điều trị hơn. Một bác sĩ làm tốt công việc thật sự không thể chỉ cân nhắc đến sự ưa thích của từng bệnh nhân; mà cần cân nhắc đến tổng thể những bệnh nhân đang mắc bệnh đó. Vấn đề thậm chí còn lớn hơn cả một chính sách y tế công cộng. Các bác sĩ nhìn thấy cùng một bệnh nhiều lần. Khi chữa trị cho bệnh nhân, họ không chỉ đang thực hiện một vụ cá cược riêng lẻ, mà còn đang được yêu cầu tiến hành cùng trò cá cược ấy hết lần này đến lần khác. Liệu các bác sĩ có hành xử khác nhau khi chỉ được đánh cược một lần và khi đánh cược nhiều lần?
Nghiên cứu kế tiếp được viết bởi Amos và Redelmeier1 cho thấy trong lúc điều trị riêng cho từng bệnh nhân, các bác sĩ hành xử khác với khi họ đưa ra những liệu pháp điều trị lý tưởng cho các nhóm bệnh nhân có cùng triệu chứng. Họ có thể cho tiến hành thêm các bài kiểm tra nhằm tránh làm phát sinh những vấn đề gây phiền toái, và ít có khả năng hỏi các bệnh nhân về mong muốn hiến tạng nếu họ qua đời. Khi điều trị từng bệnh nhân riêng lẻ, các bác sĩ thường làm những việc họ sẽ không tán thành nếu phải tạo ra một phác đồ chung nhằm điều trị các nhóm bệnh nhân mắc cùng một bệnh. Các bác sĩ đều đồng ý rằng nếu luật yêu cầu, họ sẽ báo cáo tên của những bệnh nhân bị chẩn đoán mắc chứng rối loạn động kinh, tiểu đường hoặc một bệnh nào đó có thể dẫn tới mất ý thức trong khi lái xe. Trên thực tế, họ không làm điều này – vì họ sẽ không được bệnh nhân đang nói tới quan tâm. “Kết quả này không chỉ là một biểu hiện khác của sự xung đột lợi ích giữa bệnh nhân với toàn xã hội”, Tversky và Redelmeier viết trong một lá thư gửi tới biên tập viên của Tạp chí y học New England. “Sự không nhất quán giữa đánh giá tổng thể và đánh giá cá nhân cũng tồn tại trong tâm trí bác sĩ. Sự không nhất quán ấy dường như cần đến một cách giải quyết; thật kỳ quặc khi xác nhận cùng một phương pháp điều trị cho mọi trường hợp và phủ nhận nó trên tổng thể, hay ngược lại”.
1. Bài viết “Sự không nhất quán giữa các quyết định trong y học dành cho bệnh nhân riêng lẻ so với các nhóm bệnh nhân” xuất hiện trên Tạp chí Y học New England vào tháng 4 năm 1990. (TG)
Vấn đề không phải là bác sĩ đã điều trị thiếu chính xác hay chưa đầy đủ cho bệnh nhân đơn lẻ. Vấn đề nằm ở chỗ họ không thể vừa điều trị cho bệnh nhân theo cách này, vừa chữa cho các nhóm bệnh nhân có cùng chứng bệnh theo cách khác, mà lại làm tốt hết sức trong cả hai trường hợp. Cả hai đều không thể đúng. Và vấn đề rõ ràng gây phiền toái – ít nhất là đối với các bác sĩ đã làm tràn ngập Tạp chí y học New England bằng những lá thư phản hồi bài báo. “Hầu hết các bác sĩ đều cố gắng duy trì vẻ bề ngoài duy lý, khoa học và logic này, đó là một sự dối trá vĩ đại”, Redelmeier nói. “Một lời nói dối nửa vời. Điều dẫn dắt chúng ta là những niềm hy vọng, giấc mơ và cảm xúc”.
Bài báo đầu tiên của Redelmeier viết cùng Amos đã dẫn tới những ý tưởng khác. Không lâu sau, họ gặp nhau không phải trong văn phòng của Amos vào buổi chiều mà tại nhà của Amos vào đêm khuya. Làm việc cùng Amos không hẳn là làm việc. “Nó là niềm vui thuần túy”, Redelmeier nói. “Niềm vui thuần túy”. Trong sâu thẳm, Redelmeier biết mình đang đứng trước một người rồi đây sẽ thay đổi cuộc đời ông. Nhiều câu Amos nói mà Redelmeier biết mình sẽ ghi nhớ mãi mãi:
Một phần của khoa học chất lượng là nhìn thấy những thứ ai cũng có thể thấy, nhưng phải nghĩ những điều chưa ai từng nói.
Sự khác biệt giữa rất thông minh với rất ngu ngốc thường rất nhỏ bé.
Có quá nhiều vấn đề xảy ra khi con người không thể phục tùng vào lúc phải phục tùng, khi họ không thể sáng tạo vào lúc phải sáng tạo.
Bí quyết để thực hiện nghiên cứu tốt là luôn không chạm đến ngưỡng của năng lực. Bạn lãng phí nhiều năm trời vì không thể lãng phí vài giờ.
Đôi lúc việc biến thế giới trở nên tốt đẹp còn dễ hơn chứng minh bạn làm được điều đó.
Redelmeier bán tín bán nghi lý do Amos dành quá nhiều thời gian cho mình là bởi Redelmeier vẫn chưa kết hôn và sẵn sàng xem khoảng thời gian từ lúc nửa đêm đến 4 giờ sáng như một phần của ngày làm việc. Giờ giấc của Amos thật kỳ lạ, nhưng nguyên tắc ông áp đặt dần trở nên quen thuộc. “Ông ấy cần những ví dụ cụ thể để kiểm nghiệm các lý thuyết tổng quan của mình”, Redelmeier nói. “Một số nguyên lý cực kỳ mạnh, khiến tôi phải tìm các ví dụ và diễn đạt chúng bằng lời lẽ trong một lĩnh vực đặc thù là y học”. Chẳng hạn, Amos hình dung rõ cách con người nhận thức sai về sự ngẫu nhiên. Họ không hiểu rằng các chuỗi ngẫu nhiên dường như mang những mẫu hình trong chúng: Con người có khả năng tuyệt vời là nhìn ra ý nghĩa trong những mẫu hình ở nơi chẳng có mẫu hình. Hãy xem một trận đấu NBA, Amos giải thích cho Redelmeier, rồi bạn sẽ thấy các phát thanh viên, người hâm mộ và có lẽ ngay cả huấn luyện viên dường như đều tin rằng các tay ném rổ có “bàn tay nóng”1. Đơn giản vì khi một cầu thủ đã ném trượt vài cú, anh ta được cho là sẽ ném trúng cú tiếp theo. Amos đã thu thập dữ liệu về các chuỗi ném rổ ở NBA để xem liệu cái gọi là “bàn tay nóng” có ý nghĩa về mặt thống kê hay không – ông đã có thể thuyết phục bạn là không. Một tay ném tốt dĩ nhiên có nhiều khả năng thực hiện cú ném tiếp theo hơn một tay ném kém, tuy nhiên các chuỗi ném mà người hâm mộ và phát thanh viên quan sát chỉ là ảo tưởng. Ông yêu cầu Redelmeier tìm ra trong y học kiểu hành vi có khuôn mẫu sai lầm giống như vậy do các phát thanh viên bóng rổ bộc lộ.
1. Chỉ cầu thủ có khả năng ghi điểm liên tiếp. (ND)
Redelmeier mau chóng quay lại với niềm tin phổ quát rằng cơn đau khớp có liên quan tới thời tiết. Suốt hàng nghìn năm, con người đã tưởng tượng ra mối quan hệ này; xuất phát từ năm 400 trước Công nguyên, khi Hippocrates viết về ảnh hưởng của mưa gió đến bệnh tật. Cuối những năm 1980, các bác sĩ vẫn đề nghị bệnh nhân đau khớp nên chuyển tới sống ở những miền khí hậu ấm áp hơn. Làm việc cùng Amos, Redelmeier tìm một nhóm đông bệnh nhân viêm khớp và yêu cầu họ báo lại mức độ đau của mình. Sau đó, ông so chúng với các bản tin thời tiết. Ông và Amos đã nhanh chóng xác minh rằng mặc dù các bệnh nhân khẳng định cơn đau của họ thay đổi theo thời tiết nhưng chẳng hề có mối tương quan ý nghĩa nào giữa hai thứ. Tuy nhiên, họ không ngừng ở đó. Amos muốn giải thích tại sao mọi người lại nhìn thấy mối quan hệ giữa cơn đau của mình với thời tiết. Redelmeier phỏng vấn các bệnh nhân có cơn đau đã được ông chứng minh là không liên quan đến thời tiết: Tất cả, ngoại trừ một người, vẫn cứ khăng khăng cho rằng hai thứ có liên quan đến nhau và viện dẫn ra vài khoảnh khắc ngẫu nhiên lý giải cho niềm tin của họ. Chuyên gia bóng rổ đã tích cực tận dụng các chuỗi ngẫu nhiên như là khuôn mẫu cho việc ném rổ của cầu thủ mà vốn không hề tồn tại. Những bệnh nhân viêm khớp nhận ra các khuôn mẫu trong việc trải qua cơn đau là không hề có. “Chúng tôi coi hiện tượng này là kết hợp chọn lọc”, Tversky và Redelmeier viết.1 “… Đối với bệnh viêm khớp, kết hợp chọn lọc dẫn dắt con người tới việc tìm kiếm các thay đổi trong thời tiết khi họ thấy cơn đau tăng lên và ít chú ý tới thời tiết khi cơn đau ổn định… [Chỉ] một ngày đau dữ dội cùng với thời tiết cực đoan có thể khiến họ cả đời tin vào mối quan hệ giữa hai thứ”.
1. Bài viết “Niềm tin rằng cơn đau khớp có liên quan tới thời tiết” đăng trên Tập san của Viện Hàn lâm khoa học quốc gia vào tháng 4 năm 1996. (TG)
Có thể không tồn tại một khuôn mẫu trong cơn đau khớp, nhưng trong mắt Redelmeier, dường như có một mô hình rất rõ ràng trong sự cộng tác giữa ông với Amos. Amos có nhiều ý tưởng tổng quát về các cạm bẫy trong tâm trí con người khi nó phải phán đoán trong những điều kiện không chắc chắn. Những hàm ý của chúng với y học hầu như chưa được khám phá. “Đôi lúc tôi cảm thấy Amos đang kiểm thử các ý tưởng trước mặt tôi”, Redelmeier nói, “để xem chúng có phù hợp với thế giới thực hay không”. Redelmeier không thể không cảm thấy y học đối với Amos “chỉ là mối quan tâm nhỏ nhất của ông ấy”. Ông đã ấp ủ cùng Danny Kahneman một hoạt động khác của con người nhằm khám phá những hậu quả cụ thể của các ý tưởng tổng quát.
Rồi chính Danny xuất hiện. Khoảng cuối năm 1988 hay đầu 1989, Amos giới thiệu họ với nhau trong văn phòng. Sau đó Danny gọi điện cho Redelmeier, nói mình cũng rất muốn khám phá cách thức ra quyết định của các bác sĩ và bệnh nhân. Hóa ra Danny có những ý tưởng riêng, với những hàm ý riêng. “Khi gọi điện cho tôi, Danny đang làm việc một mình”, Redelmeier nói. “Ông ấy muốn giới thiệu một loại kinh nghiệm cảm tính khác. Đó hoàn toàn là ý tưởng cá nhân của ông, không liên quan tới Amos. Sự ra đời của kinh nghiệm cảm tính thứ tư. Vì không thể chỉ có ba cái”.
Một ngày mùa hè năm 1982, năm thứ ba làm giảng viên tại Đại học British Columbia, Danny bước vào phòng thí nghiệm và gây ngạc nhiên cho sinh viên bằng một thông báo: Bây giờ họ sẽ nghiên cứu về hạnh phúc. Danny luôn tò mò về khả năng của con người trong dự báo những cảm nhận về các trải nghiệm bản thân. Bây giờ ông muốn nghiên cứu nó. Cụ thể, ông muốn khám phá khoảng cách – bản thân ông đã cảm thấy nó – giữa trực giác của một người về điều khiến anh ta hạnh phúc với thứ thật sự làm anh hạnh phúc. Ông nghĩ mình có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu mọi người dự đoán mức độ hạnh phúc của họ khi vào phòng thí nghiệm mỗi ngày trong một tuần và làm điều họ nói là thích – ăn một bát kem hay nghe bài hát yêu thích chẳng hạn. Ông khi đó có thể so sánh niềm vui họ dự đoán với niềm vui họ trải nghiệm, xa hơn nữa là so sánh niềm vui họ trải nghiệm với niềm vui họ ghi nhớ. Rõ ràng có sự khác biệt cần được khám phá, ông lập luận. Vào thời điểm đội bóng yêu thích chiến thắng World Cup, bạn cực kỳ hân hoan; 6 tháng sau, niềm vui ấy gần như hết, thật sự là thế. “Trong một khoảng thời gian dài, không có đối tượng nào tham gia”, Dale Miller, sinh viên sau đại học của Danny, nói. “Ông chỉ đang thiết kế các thí nghiệm này”. Điều Danny hình dung là mọi người không thật sự giỏi dự báo hạnh phúc của mình – và các thí nghiệm đầu tiên trên một nhóm đối tượng nhỏ cho thấy ông đã khám phá ra điều gì đó. Một người đàn ông mà không ai cho là hạnh phúc, trong sự ngạc nhiên của những ai quen biết anh ta, đang khám phá các quy luật của hạnh phúc.
Hoặc có lẽ ông chỉ đang gieo nỗi nghi ngờ vào tâm trí những ai từng nghĩ họ biết hạnh phúc là gì. Chính xác hơn, vào thời điểm Amos giới thiệu ông với Redelmeier, Danny đã chuyển từ Đại học British Columbia tới Đại học California, Berkeley, từ hạnh phúc sang không hạnh phúc. Ông không chỉ điều tra khoảng cách giữa dự đoán của mọi người về niềm vui với trải nghiệm thật sự của họ, mà còn xem xét cả khoảng cách giữa trải nghiệm nỗi đau với trí nhớ của họ về nó. Điều này có ý nghĩa như thế nào nếu dự báo của con người về nỗi đau, vốn có thể bị gây ra bởi một sự kiện nào đó, lại không giống nỗi đau họ thực sự trải qua khi sự kiện xảy đến, hoặc nếu trí nhớ của con người về một trải nghiệm hóa ra lại khác biệt đáng kể so với thực tế từng diễn ra? Danny suy nghĩ rất nhiều. Mọi người đã có một quãng thời gian khổ sở trong phần lớn kỳ nghỉ để rồi sau đó quay về nhà lại nhớ đến nó một cách trìu mến; người ta có một mối tình lãng mạn tuyệt vời, nhưng vì nó đã kết thúc một cách tệ hại nên họ nhìn lại nó với đa phần là nỗi cay đắng. Đơn giản, mức độ hạnh phúc hay đau khổ họ từng trải qua là không cố định. Họ trải nghiệm điều này nhưng lại nhớ về điều khác.
Khi gặp Redelmeier, Danny đang tiến hành các thí nghiệm về nỗi bất hạnh trong phòng thí nghiệm ở Berkeley. Ông yêu cầu đối tượng nhúng cánh tay trần vào các xô nước đá. Mỗi đối tượng được cho trải qua 2 lần đau đớn. Anh ta sau đó sẽ được hỏi mình muốn lặp lại lần nào nhất. Những điều kỳ lạ xảy ra khi bạn làm thế với mọi người. Ký ức của họ về nỗi đau lại khác hẳn trải nghiệm. Họ ghi nhớ những khoảnh khắc đau đớn nhất và đặc biệt là cảm nhận của bản thân tại thời điểm cơn đau qua đi. Nhưng họ không nhớ được cụ thể quãng thời gian bị đau kéo dài trong bao lâu. Nếu bạn nhúng cánh tay mọi người vào các xô đá trong 3 phút nhưng lại làm ấm nước đôi chút trong khoảng 1 phút trước khi cho phép họ rời phòng thí nghiệm, họ sẽ ghi nhớ trải nghiệm ấy đầy thích thú hơn nhúng tay trong 3 phút và rút ra vào thời điểm đau đớn nhất. Nếu bạn yêu cầu họ chọn một thí nghiệm để lặp lại, họ sẽ chọn cái thứ nhất. Điều đó nghĩa là mọi người thích chịu đựng cơn đau cùng cực hơn, miễn nó kết thúc bằng một trải nghiệm dễ chịu hơn.
Danny muốn Redelmeier tìm cho ông một ví dụ trong y học ngoài đời về điều ông đang gọi là “quy luật đỉnh-kết”. Chẳng mất nhiều thời gian để Redelmeier nghĩ ra đầy ví dụ nhưng rồi họ quyết định chọn nội dung về nội soi đại tràng. Vào cuối những năm 1980, loại nội soi này không chỉ đáng sợ mà còn rất đau. Sự khó chịu của thủ thuật này khiến người ta không muốn thực hiện nó lần hai. Đến năm 1990, chỉ riêng tại Mỹ, bệnh ung thư trực tràng đã giết chết 60.000 người mỗi năm. Nhiều nạn nhân lẽ ra đã sống sót nếu căn bệnh ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm. Một trong các lý do quan trọng khiến người ta không phát hiện ra bệnh là do mọi người thấy lần nội soi đầu tiên quá khó chịu đến nỗi lựa chọn không quay lại làm lần hai. Liệu có thể thay đổi trí nhớ của họ về trải nghiệm để họ có thể quên đi nỗi khó chịu đó không?
Nhằm trả lời câu hỏi này, Redelmeier tiến hành một thí nghiệm trên khoảng 700 người trong giai đoạn hơn một năm. Một nhóm bệnh nhân bị giật phắt ống nội soi ra khỏi hậu môn lúc kết thúc nội soi đại tràng; nhóm kia cảm thấy đầu ống nội soi như vẫn nằm trong trực tràng của mình thêm 3 phút. Khoảng thời gian kéo dài thêm ấy thật chẳng dễ chịu. Chỉ là chúng ít khó chịu hơn so với tiến trình còn lại. Các bệnh nhân trong nhóm thứ nhất chịu đựng cách kết thúc nội soi đại tràng ào ào theo kiểu cũ; còn nhóm thứ hai tận hưởng kết thúc êm ái hay ít đau hơn. Tuy nhiên, tổng nỗi khổ sở mà nhóm thứ hai trải qua lại nhiều hơn. Các bệnh nhân nhóm hai trải qua tất cả nỗi khổ sở của nhóm thứ nhất, cộng thêm nỗi khổ sở trong 3 phút cuối.
Một giờ đồng hồ sau thủ thuật đó, các nhà nghiên cứu vào phòng hồi sức và yêu cầu bệnh nhân đánh giá trải nghiệm của họ. Những người có kết thúc ít khó chịu hơn ghi nhớ ít nỗi khổ sở hơn nhóm kia. Thú vị hơn, họ cho thấy có nhiều khả năng sẽ quay lại nội soi đại tràng lần nữa khi đến dịp. Những người chưa từng nghĩ mình có thể thích khổ sở nhiều hơn hầu như đã bị lừa để làm vậy. Như Redelmeier đã đề cập: “Những ấn tượng cuối cùng có thể khiến người ta nhớ mãi”.
________________
Làm việc cùng Danny khác so với cộng tác cùng Amos. Hình dung về Amos trong đầu Redelmeier luôn rõ ràng. Danny để lại một ấn tượng khó hiểu và phức tạp hơn. Tính Danny không vui vẻ: thậm chí ông còn hay phiền muộn. Ông đau khổ vì công việc, nên những ai làm việc cùng ông tất yếu cũng ảnh hưởng đôi chút. “Ông ấy thường nhìn ra công việc sai ở chỗ nào hơn là thấy nó đúng ở đâu”, Redelmeier nói. Song những điều nảy sinh từ bộ óc của ông cũng cực kỳ ngoạn mục.
Khi ngẫm lại, Redelmeier thấy thật kỳ quặc khi ông biết rất ít về cuộc đời của Amos và Danny. “Amos kể với tôi rất, rất ít về đời mình”, ông nói. “Ông chưa bao giờ nói đến Israel. Ông chẳng khi nào nói về chiến tranh. Ông không nói về quá khứ. Không phải vì ông cố tình lảng tránh. Đó là vì ông kiểm soát nội dung thảo luận”. Nội dung thảo luận khi họ ở cùng nhau là nhằm phân tích hành vi con người khi chăm sóc y tế. Ông không dám hỏi Danny hay Amos về quá khứ hay mối quan hệ giữa họ. Bởi thế, ông không bao giờ biết họ rời Đại học Hebrew và đất nước Israel để tới Bắc Mỹ như thế nào và tại sao. Hoặc tại sao Amos đã dành cả thập niên 1980 để làm giảng viên chủ nhiệm ngành khoa học hành vi tại đại học Stanford, trong khi hầu hết khoảng thời gian đó, Danny lại sống như một nhân vật ít tên tuổi ở Đại học British Columbia. Hai người đàn ông dường như rất thân thiện với nhau nhưng họ rõ ràng chẳng làm việc cùng nhau: Tại sao lại như thế? Redelmeier không biết. “Và họ cũng chẳng nói về nhau”, ông nói.
Thay vào đó, họ có vẻ đã quyết định sẽ thâu tóm cuộc chơi nếu đi săn riêng biệt hơn là khi làm cùng nhau. Cả hai đều tham gia theo những cách khác nhau vào việc mở rộng các ý tưởng họ đã cùng nhau khai phá trong thế giới thật. “Tôi đang nghĩ họ là những người bạn thân, còn tôi là chú chó schnauzer cưng của họ”, Redelmeier nói.
Redelmeier trở lại Toronto năm 1992. Trải nghiệm làm việc với Amos đã thay đổi cuộc đời ông. Một người đàn ông tràn đầy sức sống đến nỗi gặp câu hỏi nào, bạn cũng thắc mắc ông ấy sẽ tiếp cận nó ra sao. Tuy nhiên, vào lúc Amos dường như luôn có trong mình mọi ý tưởng lớn lao và cần các ví dụ y học để minh họa, Redelmeier lại mang cái cảm giác có lẽ ông chẳng làm được nhiều. “Nói theo nhiều cách, tôi là một thư ký được ca ngợi và điều đó làm tôi phiền lòng trong nhiều năm trời”, ông nói. “Trong sâu thẳm, tôi nghĩ mình cực kỳ dễ bị thay thế. Khi quay về Toronto, tôi tự hỏi: Đó có phải do Amos? Hay Redelmeier?”.
Tuy vậy, mới vài năm trước, ông vẫn nghĩ mình sẽ làm bác sĩ đa khoa tại một ngôi làng nhỏ ở Bắc Labrador. Giờ đây ông có một tham vọng cụ thể: khám phá, với tư cách nhà nghiên cứu và bác sĩ, những lỗi tâm lý của các bác sĩ và bệnh nhân của họ. Ông muốn kết hợp tâm lý học nhận thức, đã được Danny và Amos thực nghiệm, với việc ra quyết định trong y học. Cách chính xác để thực hiện điều đó thì ông chưa thể nói ngay. Ông còn không chắc chắn về bản thân nữa là. Tất cả những gì ông biết chắc là nhờ làm việc cùng Amos Tversky, ông đã khám phá ra khía cạnh khác của bản thân: một kẻ tìm kiếm sự thật. Ông muốn sử dụng dữ liệu để tìm ra các khuôn mẫu thật sự của hành vi con người nhằm thay thế những thứ sai lầm đã chi phối cuộc sống con người và thường là cả cái chết. “Tôi quả thật không biết nó tồn tại”, Redelmeier nói về khía cạnh này của bản thân. “Amos không khám phá ra nó. Ông ấy ghi khắc nó. Ông gửi cho tôi một sứ giả đến vùng đất trong tương lai mà ông sẽ không bao giờ thấy được”.