Logic Của Tâm Trí

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10. Hiệu ứng Cô lập

❊ ❊ ❊

Hiếm khi Amos và Danny có thể nhớ các ý tưởng của mình xuất phát từ đâu. Cả hai đều nhận thấy việc phân bổ công trạng là vô nghĩa bởi suy nghĩ giống như một sản phẩm phụ của thuật giả kim trong sự tương tác giữa hai người. Tuy nhiên, đôi khi nguồn gốc của chúng được giữ lại. Ý niệm rằng những người đưa ra các quyết định mạo hiểm thường đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi rõ rệt, ít ra cũng đã nhen nhóm trong Danny. Nhưng nó trở nên rất có giá trị chỉ nhờ những gì Amos nói sau đó. Một ngày nọ, gần cuối năm 1974, khi họ rà soát lại các phương án đánh bạc đã đưa ra cho các đối tượng, Amos hỏi: “Chuyện gì xảy ra nếu chúng ta lật ngược các dấu hiệu?”. Cho đến thời điểm đó, các cuộc đánh bạc hết thảy đều liên quan đến việc lựa chọn giữa những lợi ích. Bạn sẽ chọn có 500 đô-la chắc chắn hay cầu may 50-50 để có được 1.000 đô-la? Giờ đây Amos hỏi: “Thế còn các tổn thất?”. Kiểu như:

Bạn thích thứ nào hơn?

Món quà A: Một vé xổ số với 50% xác suất mất 1.000 đô-la

Món quà B: Một khoản tổn thất chắc chắn 500 đô-la

Mọi thứ lập tức trở nên rõ ràng. Nếu bạn dán các dấu trừ vào trước tất cả những trò đánh bạc mang tính giả thuyết này rồi yêu cầu mọi người cân nhắc lại chúng, họ sẽ cư xử rất khác so với khi chỉ phải đối mặt với các lợi ích khả thi. “Đó là một thời điểm eureka”, Danny nói. “Chúng tôi lập tức cảm nhận mình giống như những tên ngốc vì trước đó không nghĩ đến câu hỏi ấy sớm hơn”. Khi bạn trao cho một người lựa chọn giữa món quà 500 đô-la với cơ hội ăn may 50-50 thắng được 1.000 đô-la, anh ta sẽ chọn thứ chắc chắn. Nhưng nếu cũng đưa cho con người ấy một lựa chọn giữa chắc chắn mất đi 500 đô-la với rủi ro 50-50 mất đi 1.000 đô-la, anh ta sẽ chọn đặt cược. Con người này trở thành kẻ tìm kiếm rủi ro. Xác suất mọi người yêu cầu chấp nhận một tổn thất chắc chắn thay vì khả năng chịu tổn thất lớn hơn phản ánh trần trụi xác suất họ muốn bỏ qua một lợi ích chắc chắn nhằm đánh đổi lấy cơ hội đạt được lợi ích lớn hơn. Ví dụ, để làm cho mọi người thích khả năng 50-50 có được 1.000 đô-la thay vì một lợi ích chắc ăn nào đó, bạn phải hạ thấp mức lợi ích chắc chắn kia xuống còn khoảng 370 đô- la. Để khiến họ thích khoản tổn thất chắc chắn hơn xác suất 50-50 mất 1.000 đô-la, bạn phải hạ mức tổn thất xuống khoảng 370 đô-la.

Thật sự là họ đã sớm khám phá ra chuyện bạn phải giảm lượng tổn thất chắc chắn xuống mức thậm chí còn nhiều hơn nếu muốn người khác chấp nhận nó. Khi lựa chọn giữa những thứ chắc chắn với may rủi, mọi người đều mong muốn tránh để tổn thất vượt quá mong muốn đảm bảo lợi ích thu về.

Mong muốn tránh tổn thất tồn tại rất mạnh mẽ và thể hiện rõ rệt nhất khi canh bạc tiến đến khả năng thắng thua. Điều đó giống như hầu hết mọi canh bạc trong cuộc đời. Để khiến đa số mọi người chịu tung đồng xu lấy 100 đô-la, bạn phải đưa cho họ khả năng thắng lớn hơn ban đầu rất nhiều. Nếu họ sẽ mất 100 đô-la khi đồng xu rơi ngửa thì họ cần thắng được 200 đô-la nếu nó sấp. Để khiến họ chịu tung đồng xu lấy 10.000 đô-la, bạn phải trao cho họ các tỷ lệ thậm chí còn tốt hơn khi gạ họ tung đồng xu lấy 100 đô-la. “Độ nhạy cảm đối với các thay đổi tiêu cực cao hơn so với những thay đổi tích cực không ảnh hưởng đến các kết quả tiền tệ”, Amos và Danny viết. “Nó phản ánh đặc tính chung của cơ thể con người là một cỗ máy giải trí. Đối với hầu hết mọi người, hạnh phúc liên quan đến việc nhận được một thứ mong muốn sẽ nhỏ hơn nỗi buồn vì mất chính thứ đó”.

Thật khó hình dung tại sao chuyện này lại có thể như vậy – nhạy cảm hơn với nỗi đau rất có ích cho việc sinh tồn. “Những giống loài hạnh phúc, được trời phú cho khả năng đánh giá vô hạn và độ nhạy cảm thấp đối với nỗi đau, có lẽ sẽ không tồn tại qua được trận chiến tiến hóa”, họ viết.

Khi xem xét các hàm ý của phát hiện mới, họ lập tức nhận thấy một điều: Phải bỏ qua nuối tiếc, ít nhất về mặt lý thuyết. Điều này có thể giải thích tại sao con người đưa ra các quyết định dường như vô lý để chấp nhận một thứ chắc chắn hơn trong một trò may rủi đem lại giá trị kỳ vọng lớn hơn nhiều. Nó không thể lý giải tại sao con người khi đối mặt với tổn thất lại lao theo rủi ro. Bất cứ ai muốn lập luận rằng nỗi nuối tiếc giải thích lý do mọi người thích 500 đô-la chắc ăn hơn là xác suất có được 1.000 đô-la hoặc 0 đô-la, người đó sẽ không bao giờ giải thích được tại sao khi trừ đi 1.000 đô-la khỏi tất cả các con số và chuyển đổi điều chắc ăn thành khoản tổn thất 500 đô-la, mọi người sẽ thích đánh bạc hơn. Đáng ngạc nhiên, Danny và Amos chỉ dừng lại một chút để thương tiếc cho sự mất mát một lý thuyết mà họ đã bỏ hơn một năm trời tiến hành thực hiện. Họ từ bỏ ý tưởng về sự nuối tiếc – nhiều điều trong đó rõ ràng có giá trị và đúng sự thật – nhanh không tưởng. Một ngày nọ, họ tạo ra các quy luật về nỗi hối tiếc cứ như thể các quy luật đó có thể lý giải nhiều về lý do con người đưa ra các quyết định mạo hiểm; ngày hôm sau, họ chuyển sang khám phá một lý thuyết triển vọng hơn và không nghĩ đến sự nuối tiếc một lần nào nữa.

Thay vì thế, họ bắt đầu xác định chính xác nơi chốn và cách thức con người phản ứng với xác suất của các vụ cá cược có cả thắng và thua. Amos thích gọi các ý tưởng hay là “những quả nho khô”. Có 3 quả nho khô trong lý thuyết mới. Đầu tiên là nhận thức về việc con người phản ứng với các thay đổi thay vì mức độ chắc chắn. Thứ hai, họ khám phá ra rằng con người tiếp cận với rủi ro khi có tổn thất khác hẳn so với khi thu lợi. Khám phá các phản ứng của con người trước những canh bạc cụ thể, họ phát hiện ra quả nho thứ ba: Mọi người không phản ứng với xác suất theo một kiểu đơn giản. Dựa trên tư duy của họ về sự nuối tiếc, Amos và Danny đã biết trong các canh bạc có một kết quả chắc chắn, mọi người rõ ràng sẽ chi tiền cho sự chắc chắn đó. Lúc này, họ nhìn thấy con người phản ứng khác nhau đối với các mức độ không chắc chắn khác nhau. Khi bạn đưa cho họ một vụ cược có 90% xác suất thành công và một vụ khác có 10% xác suất thành công, họ sẽ không hành xử như thể vụ thứ nhất có xác suất thành công cao gấp 9 lần vụ thứ hai. Họ tiến hành một sự điều chỉnh nội bộ nào đó và hành xử cứ như xác suất 90% thực sự thấp hơn chút ít so với chính nó và xác suất 10% thì nhiều hơn một chút so với thực chất. Họ phản ứng với các xác suất không chỉ bằng lý trí mà bằng cả cảm xúc.

Dù cảm xúc đó là gì đi nữa, nó cũng trở nên mạnh mẽ hơn khi các xác suất trở nên nhỏ hơn. Nếu bạn nói với họ xác suất một phần một tỷ là họ sẽ thắng hoặc thua một đống tiền, họ sẽ hành xử như thể xác suất không phải như vậy mà là một phần mười nghìn. Họ e sợ khả năng tổn thất một phần một tỷ và dồn nhiều hy vọng cho khả năng thắng một phần một tỷ hơn mức cần thiết. Phản ứng cảm xúc của con người đối với xác suất đã khiến họ đảo ngược lại ý thích thông thường của mình đối với rủi ro, trở thành kẻ mạo hiểm khi theo đuổi một lợi ích khó thành hiện thực và tránh rủi ro khi đối mặt với xác xuất tổn thất nhỏ. (Đó là lý do họ mua cả xổ số lẫn bảo hiểm). “Nếu bạn chỉ nghĩ về các khả năng thì bạn nghĩ về chúng quá nhiều rồi”, Danny nói. “Khi con gái bạn về muộn và bạn lo lắng, nó choán hết tâm trí bạn ngay cả khi bạn biết chẳng có gì phải sợ. Bạn sẽ chi nhiều tiền hơn cần thiết để rũ bỏ nỗi lo đó”.

Con người đối xử với những xác suất nhỏ như thể chúng hoàn toàn có thể xảy ra. Để tạo nên một lý thuyết dự báo được điều con người thực sự làm khi đối mặt với sự không chắc chắn, bạn phải “cân đo” các khả năng, theo cách mọi người làm, bằng cảm xúc của mình. Một khi làm được điều đó, bạn sẽ giải thích được tại sao mọi người mua bảo hiểm và vé số. Thậm chí bạn còn có thể lý giải được cả nghịch lý Allais.1

1. Dưới đây là phiên bản đơn giản hơn của nghịch lý. Danny và Amos tạo ra nó để cho thấy mâu thuẫn rõ ràng có thể được giải quyết bằng cách sử dụng các phát hiện của họ về thái độ của con người với xác suất. Và thế là họ đã “giải” nghịch lý Allais theo một cách rất ngộ – một lần bằng sự nuối tiếc, còn lần này bằng lý thuyết mới của họ:

Bạn được lựa chọn giữa:

30.000 đô-la chắc ăn

Một ván bạc có 50% xác suất thắng 70.000 đô-la và 50% xác suất trắng tay

Hầu hết mọi người đều chọn 30.000 đô-la. Điều này về bản chất thật thú vị. Nó thể hiện sự “e ngại rủi ro”. Những người đang phải lựa chọn giữa một vụ cá cược với một khoản tiền chắc ăn sẽ chấp nhận khoản tiền đó dù nó có giá trị kỳ vọng thấp hơn tiền cược thắng (ở đây là 35.000 đô-la). Điều đó không vi phạm lý thuyết về độ thỏa dụng. Nó chỉ có ý nghĩa rằng độ thỏa dụng của một cơ hội thắng được 70.000 đô-la thấp hơn độ thỏa dụng của cơ hội thứ hai là thắng được 30.000 đôla – trong trường hợp này nó tạo ra một khoản 30.000 đô-la chắc chắn. Nhưng bây giờ hãy xem lựa chọn thứ hai trong hai phương án cá cược:

Một ván đánh bạc cho bạn 4% xác suất thắng được 30.000 đô-la và 96% trắng tay

Một ván đánh bạc cho bạn 2% xác suất thắng được 70.000 đô-la và 98% trắng tay

Đa số mọi người ưa thích lựa chọn 2 hơn, xác suất thấp hơn để thắng được nhiều hơn. Nhưng điều đó ngụ ý rằng “độ thỏa dụng” của cơ hội thắng 70.000 đô-la lớn hơn độ thỏa dụng của lựa chọn có thể thắng 30.000 đôla – hay ngược với ưu tiên ở lựa chọn thứ nhất. Trong lý thuyết đang kiểm chứng của Danny và Amos, nghịch lý bây giờ được giải quyết khác đi. Đó không phải (hay ít nhất không chỉ) là con người dự đoán sự hối tiếc khi ra quyết định trong tình huống thứ nhất, điều mà họ dự đoán sẽ không gặp phải trong tình huống thứ hai. Đó là vì họ coi 50% là nhiều hơn 50% và nhận thấy khác biệt giữa 4% với 2% là ít hơn nhiều. (TG)

Tại một thời điểm nào đó, Danny và Amos bắt đầu nhận thức được mình có một vấn đề cần phải giải quyết. Lý thuyết của họ diễn giải mọi thứ mà độ thỏa dụng kỳ vọng không thể lý giải. Nhưng nó hàm ý điều mà lý thuyết về độ thỏa dụng chưa bao giờ đề cập, rằng việc khiến con người đón nhận các rủi ro cũng dễ dàng như làm họ né tránh chúng. Bạn chỉ cần thể hiện chúng bằng một lựa chọn liên quan đến tổn thất. Trong hơn 200 năm kể từ khi Bernoulli bắt đầu cuộc thảo luận này, giới trí thức đã coi hành vi tìm kiếm rủi ro như một sự hiếu kỳ. Nếu tìm kiếm rủi ro đã hòa vào bản chất con người, như lý thuyết của Danny và Amos đã hàm ý, tại sao trước đây người ta không nhận ra điều đó?

Amos và Danny giờ nghĩ rằng câu trả lời là những trí thức nào từng nghiên cứu về việc ra quyết định của con người đã xem xét nhầm chỗ. Đa phần họ là các nhà kinh tế học, những nhân vật hướng sự quan tâm của mình theo cách con người ra quyết định về tiền bạc. “Đó là một thông tin sinh thái học”, Amos và Danny viết trong một bản thảo, “mà hầu hết các quyết định trong bối cảnh đó (ngoại trừ bảo hiểm) đều liên quan chủ yếu đến những triển vọng ưa thích”. Những ván cờ bạc mà các nhà kinh tế học nghiên cứu, giống như hầu hết quyết định về tiết kiệm và đầu tư, đều là lựa chọn giữa các lợi ích. Trong lĩnh vực lợi ích, con người quả thật e ngại rủi ro. Họ chọn thứ chắc chắn thay vì may rủi. Danny và Amos nghĩ nếu các nhà lý thuyết bớt thời gian với tiền bạc và thêm thời gian cho chính trị cũng như chiến tranh, hay thậm chí là hôn nhân, họ có thể đã đi đến những kết luận khác về bản chất con người. Trong chính trị và chiến tranh, giống như các mối quan hệ khó chịu của con người, lựa chọn mà người ra quyết định phải đối mặt thường sẽ nằm giữa hai thứ khó nhằn. “Một quan điểm rất khác của con người trong vai trò người ra quyết định có thể xuất hiện rõ rệt nếu kết quả của các quyết định trong những lĩnh vực rất cá nhân và riêng tư, chính trị hay chiến lược có thể được đo lường dễ dàng như sự được mất về tiền bạc”, họ viết.

________________

Danny và Amos dành thời gian nửa đầu năm 1975 để xây dựng hình hài cho câu chuyện nhằm trình bày một bản dự thảo thô cho những người khác xem. Họ bắt đầu với tiêu đề tạm đặt là “Lý thuyết Giá trị” nhưng sau đó đổi tên thành “Lý thuyết Rủi ro-Giá trị”. Với tư cách bộ đôi nhà tâm lý học đang tấn công một lý thuyết chủ yếu được các nhà kinh tế dựng nên và bảo vệ, họ viết với sự gây hấn và tự tin đáng ngạc nhiên. Họ viết rằng lý thuyết cũ thực sự không tính đến việc con người trong thực tế chật vật thế nào với các quyết định rủi ro. Nó chỉ “giải thích các lựa chọn rủi ro chủ yếu theo thái độ đối với tiền bạc hay của cải”. Giữa các dòng chữ, độc giả có thể phát hiện ra cảm giác phấn khích của họ. “Amos và tôi đang trong giai đoạn hoạt động năng suất nhất từ trước đến nay”, Danny viết thư cho Paul Slovic vào đầu năm 1975. “Chúng tôi đang phát triển thứ có vẻ là một nội dung khá hoàn chỉnh và hoàn toàn mới lạ về sự lựa chọn trong điều kiện không chắc chắn. Việc xử lý sự nuối tiếc đã bị thay thế bởi một cách giải quyết ở cấp độ tham chiếu hoặc thích ứng”. 6 tháng sau, Danny viết thư cho Slovic nói rằng họ có một nguyên mẫu của lý thuyết mới về ra quyết định. “Amos và tôi vừa kịp hoàn thành một nghiên cứu về lựa chọn mạo hiểm để trình bày cho một nhóm các nhà kinh tế học nổi tiếng sẽ họp tại Jerusalem tuần này”, ông viết. “Nó vẫn còn khá thô sơ”.

Cuộc họp đó, được mô tả như một hội thảo về kinh tế công, diễn ra vào tháng 6 năm 1975 tại một làng cộng đồng của Israel ở ngoại vi Jerusalem. Và thế là tại một trang trại, lý thuyết sau này trở thành một trong những lý thuyết gây ảnh hưởng nhất của lịch sử kinh tế học đã ra mắt. Lý thuyết về ra quyết định thuộc về lĩnh vực của Amos nên ông trình bày hết. Khán giả gồm có ít nhất 3 người đã hoặc sẽ là chủ nhân của giải Nobel kinh tế: Peter Diamond, Daniel McFadden và Kenneth Arrow. “Khi lắng nghe Amos, bạn biết mình đang nói chuyện với một trí tuệ xuất sắc”, Arrow nói. “Bạn nêu ra một câu hỏi. Amos đã nghĩ về câu ấy rồi và ông ấy có câu trả lời”.

Sau khi lắng nghe phần trình bày của Amos, Arrow có một câu hỏi lớn cho Amos: Tổn thất là gì?

Lý thuyết rõ ràng đã tạo ra khác biệt rõ rệt trong cảm giác của con người khi đối mặt với các tổn thất tiềm năng so với các lợi ích tiềm năng. Một tổn thất, theo như lý thuyết, xuất hiện khi một người hoàn tất công việc tệ hơn “điểm tham chiếu” của anh ta. Nhưng điểm tham chiếu này là gì? Câu trả lời đơn giản là: bất cứ nơi nào bạn bắt đầu. Nguyên trạng của bạn. Một tổn thất chỉ xảy đến khi bạn kết thúc công việc tệ hơn nguyên trạng của mình. Nhưng làm thế nào để xác định nguyên trạng của một người bất kỳ? “Khái niệm tổn thất được thể hiện khá rõ ràng trong một thí nghiệm”, Arrow sau đó nói. “Trong thế giới thực, nó không quá rõ ràng”.

Các bàn giao dịch của Phố Wall vào cuối mỗi năm đều bốc mùi vấn đề. Nếu một nhân viên giao dịch Phố Wall kỳ vọng được thưởng 1 triệu đô-la nhưng rốt cuộc chỉ được nửa triệu, anh ta sẽ cảm thấy bị tổn thất và hành xử như thể bị tổn thất. Điểm tham chiếu của anh ta là một kỳ vọng về thứ mình có thể sẽ nhận được. Kỳ vọng đó không phải là một con số ổn định; nó có thể bị thay đổi theo đủ mọi cách. Một nhân viên giao dịch kỳ vọng được thưởng 1 triệu đô-la – và cho rằng những người khác ở bàn giao dịch của mình cũng được thưởng tiền triệu – sẽ không duy trì cùng một điểm tham chiếu nếu anh ta biết tất cả mọi người khác đều mới nhận 2 triệu đô-la. Nếu vào lúc đó được thưởng 1 triệu đô-la, anh sẽ lại thấy mình bị tổn thất. Danny sau đó sử dụng cùng điểm tham chiếu đó để lý giải hành vi của linh trưởng trong những thí nghiệm do các nhà nghiên cứu tiến hành trên khỉ bonobo. “Nếu cả tôi lẫn hàng xóm của tôi ở chuồng kế bên đều được thưởng một quả dưa chuột vì đã làm rất tốt thì thật tuyệt. Nhưng nếu hắn được thưởng chuối còn tôi chỉ có dưa chuột thì tôi sẽ ném quả dưa vào mặt người làm thí nghiệm”. Khi một con khỉ được thưởng chuối, nó đã trở thành điểm tham chiếu của con khỉ chuồng bên.

Điểm tham chiếu là một trạng thái tâm lý. Ngay cả trong các vụ đánh bạc cược đơn, bạn vẫn có thể chuyển đổi điểm tham chiếu của một người và khiến một tổn thất có vẻ giống một lợi ích, và ngược lại. Làm như vậy, bạn có thể chi phối cách lựa chọn của mọi người chỉ bằng cách mô tả chúng. Chúng cho các nhà kinh tế học một sự chứng minh quan điểm:

Vấn đề A. Ngoài thứ đang có, bạn được trao thêm 1.000 đô-la. Bây giờ bạn được yêu cầu chọn giữa các phương án sau:

Phương án 1. Một xác suất 50% thắng được 1.000 đô-la

Phương án 2. Món quà trị giá 500 đô-la

Hầu hết mọi người chọn phương án 2, sự chắc chắn.

Vấn đề B. Ngoài thứ đang có, bạn được trao thêm 2.000 đô-la. Bây giờ bạn được yêu cầu chọn giữa các phương án sau:

Phương án 3. 50% xác suất mất 1.000 đô-la

Phương án 4. Chắc chắn mất 500 đô-la

Hầu hết mọi người chọn phương án 3, đánh cược.

Hai câu hỏi thực tế là giống nhau. Trong cả hai trường hợp, nếu chọn đánh bạc, bạn đều sẽ kết thúc với xác suất 50-50 trị giá 2.000 đô- la. Trong cả hai trường hợp, nếu chọn sự chắn chắn, bạn sẽ kết thúc ở giá trị 1.500 đô-la. Nhưng khi định hình thứ chắc chắn như một khoản tổn thất, con người sẽ chọn đánh bạc. Khi bạn đóng khung nó là một lợi ích, người ta sẽ chọn cái chắc ăn. Điểm tham chiếu – là điểm cho phép bạn phân biệt giữa tổn thất và lợi ích – không phải một con số xác định. Nó là một trạng thái tâm lý. “Thứ tạo ra lợi ích hay tổn thất phụ thuộc vào cách thể hiện của vấn đề và bối cảnh nó nảy sinh”, bản thảo đầu tiên của “Lý thuyết Giá trị” giải thích. “Chúng tôi cho rằng lý thuyết hiện tại đúng với các lợi ích và tổn thất theo nhận thức của chủ thể”.

Danny và Amos đang cố gắng cho thấy những người phải đối mặt với một lựa chọn rủi ro đều không thể đặt nó vào bối cảnh. Họ đánh giá nó một cách riêng biệt. Khi khám phá điều giờ đây họ gọi là hiệu ứng cô lập, Amos và Danny đã tình cờ khám phá ra một ý tưởng khác – và các hàm ý của nó trong thế giới thực thật khó có thể bỏ qua. Họ gọi điều này là “đóng khung”. Đơn giản bằng cách thay đổi mô tả về một tình huống và biến một lợi ích trở thành tổn thất, bạn có thể khiến mọi người hoàn toàn lật ngược thái độ đối với rủi ro và chuyển họ từ né tránh sang tìm kiếm rủi ro. “Chúng ta nghĩ ra trò đóng khung mà không hề nhận ra mình đang làm điều đó”, Danny nói. “Bạn xem xét hai thứ giống nhau – khác biệt giữa chúng không nên liên quan – và khi chỉ ra chúng không hề không liên quan, bạn cho thấy lý thuyết về độ hữu dụng kỳ vọng đã sai”. Đối với Danny, việc đóng khung giống như công trình nghiên cứu của họ về sự phán đoán. Đây, nhìn này, lại có một mánh lới lạ lùng khác được tâm trí sử dụng để lừa chính nó.

Đóng khung chỉ là một hiện tượng: Sẽ không bao giờ có một lý thuyết về đóng khung. Nhưng Amos và Danny cuối cùng cũng sẽ dành mọi thời gian và sức lực để nghĩ ra các ví dụ về hiện tượng đó, minh họa cách nó làm méo mó các quyết định trong thế giới thật. Nổi tiếng nhất trong số đó là Vấn đề Bệnh dịch châu Á.

Vấn đề Bệnh dịch châu Á thực chất là hai vấn đề họ đưa riêng cho hai nhóm đối tượng khác nhau, vốn không hề biết đến sức mạnh của việc đóng khung. Nhóm đầu tiên nhận vấn đề sau:

Vấn đề 1. Hãy tưởng tượng nước Mỹ đang chuẩn bị cho đợt bùng phát một bệnh dịch châu Á bất thường, được cho là sẽ giết chết 600 người.

Hai chương trình thay thế nhằm chống dịch đã được đề xuất. Giả sử ước đoán khoa học chính xác về hậu quả của các chương trình là:

Nếu áp dụng chương trình A, 200 người sẽ được cứu.

Nếu áp dụng chương trình B, có 1/3 xác suất là 600 người sẽ được cứu và 2/3 xác suất là không ai sống sót.

Bạn ủng hộ chương trình nào?

Đại đa số sẽ chọn chương trình A để chắc chắn cứu được 200 mạng người.

Nhóm thứ hai cũng nhận được sự xếp đặt như trên nhưng phải chọn giữa hai chương trình khác:

Nếu áp dụng chương trình C, 400 người sẽ chết.

Nếu áp dụng chương trình D, có 1/3 xác suất là không ai chết và 2/3 xác suất là 600 người sẽ chết.

Khi lựa chọn được đóng khung theo kiểu này, đại đa số sẽ chọn chương trình D. Hai vấn đề giống hệt nhau nhưng trong trường hợp thứ nhất, khi lựa chọn được đóng khung như một lợi ích thì các đối tượng chọn cách chắc chắn cứu được 200 người (nghĩa là 400 người sẽ chết chắc, dù các đối tượng không nghĩ đến chuyện đó). Ở trường hợp thứ hai, với lựa chọn được đóng khung như một tổn thất, các đối tượng sẽ chọn ngược lại và chịu rủi ro là mọi người sẽ chết hết.

Con người không lựa chọn giữa hai thứ. Họ chọn giữa những miêu tả về chúng. Các nhà kinh tế học và bất cứ ai khác muốn tin rằng con người là duy lý đều có thể hợp lý hóa, hoặc cố gắng hợp lý hóa nỗi e ngại tổn thất. Nhưng bạn hợp lý hóa chuyện này như thế nào? Các nhà kinh tế học cho rằng bạn có thể đo lường điều mọi người mong muốn từ những thứ họ chọn lựa. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn muốn các thay đổi về bối cảnh của những phương án lựa chọn bạn có? “Nói vậy thật buồn cười vì trong phạm vi tâm lý học, nói thế là rất sáo rỗng”, nhà tâm lý học Richard Nisbett sau đó nói. “Dĩ nhiên, chúng ta bị ảnh hưởng bởi cách trình bày quyết định!”

Sau cuộc họp giữa các nhà kinh tế học Mỹ với các nhà tâm lý học Israel tại khu làng cộng đồng ở Jerusalem, các nhà kinh tế học trở về Mỹ và Amos gửi một lá thư cho Paul Slovic. “Mọi thứ đã trao đổi đều được hưởng ứng”, ông viết. “Bằng cách nào đó, các nhà kinh tế học vừa cảm thấy chúng ta đúng, vừa muốn chúng ta sai, bởi sự thay thế lý thuyết về độ thỏa dụng bằng mô hình chúng ta phác thảo sẽ khiến họ gặp vô vàn vấn đề”.

________________

Ít ra cũng có một nhà kinh tế học không cảm thấy thế, nhưng chẳng ai nghĩ ông ta sau này sẽ giành giải Nobel, chí ít là tại thời điểm ông gặp lý thuyết của Danny và Amos. Tên ông là Richard Thaler. Vào năm 1975, Thaler là một giáo sư trợ lý 31 tuổi, không có triển vọng rõ rệt nào ở trường Quản lý Kinh doanh của Đại học Rochester. Thậm chí việc ông có mặt ở đó cũng đã gây ngạc nhiên rồi. Ông có hai đặc điểm nổi bật khiến ông không chỉ không phù hợp với kinh tế học mà với cả đời sống học thuật. Một là ông rất dễ buồn chán và cực kỳ giàu trí tưởng tượng trong khi cố thoát khỏi sự nhàm chán. Hồi nhỏ, ông thường xuyên thay đổi luật chơi của các trò mình muốn chơi. Trong một tiếng rưỡi đầu tiên chơi cờ Tỷ phú, khi mọi người đi khắp bàn cờ, ngẫu nhiên chọn trúng các điền sản và mua chúng, ông lại thấy chán ngắt. Sau khi chơi được vài lần, ông tuyên bố: “Đây là một trò chơi ngu ngốc”. Ông nói chỉ chơi nếu tất cả các điền sản được tráo lên và chia lại cho những người chơi ở đầu ván. Trò chơi ghép từ Scrabble cũng vậy. Nhận thấy nó chán khi mình bị chia cho chữ “E” và chẳng còn phụ âm đặc biệt nào, ông liền thay đổi luật chơi để các chữ cái được sắp xếp vào 3 nhóm: nguyên âm, phụ âm thường và các phụ âm hiếm, đặc biệt. Chúng được chia đều cho mỗi người chơi; sau 7 vòng, từng người chơi được nhận một phụ âm đặc biệt. Tất cả những thay đổi Thaler tạo ra cho các trò ông từng chơi hồi nhỏ đã cắt giảm thời gian chờ đợi ngồi không cũng như tiết chế vai trò của vận may và tăng độ khó cùng tính cạnh tranh của người chơi.

Điều này thật kỳ quặc, giống như một đặc điểm rõ rệt nữa của Thaler là cảm giác lạc lõng. Khi ông 10 hay 11 tuổi gì đó, là một học sinh toàn điểm B, cha ông, một quản lý công ty bảo hiểm có tính tỉ mỉ, ngày càng thất vọng về việc học hành cẩu thả của Thaler đến nỗi ông đưa con trai cuốn truyện Những cuộc phiêu lưu của Tow Sawyer và bảo Thaler chép lại chính xác vài trang như Mark Twain viết. Thaler đã cố gắng một cách nghiêm túc: “Tôi làm đi làm lại mãi một cách đầy cáu kỉnh”. Mỗi lần chép xong, cha ông lại tìm ra lỗi – thiếu từ, thiếu dấu phẩy. Dấu ngoặc kép trong một cuộc nói chuyện giữa Tom và dì Polly làm ông lúng túng. Nhớ lại chuyện đó, ông có thể nhìn ra vấn đề của mình không chỉ là thiếu nỗ lực: có lẽ ông mắc chứng khó đọc thể nhẹ. Nhưng mọi người chỉ cho là ông cẩu thả hay lười biếng, hoặc cả hai.

Và thế là ông cũng bắt đầu nghĩ về bản thân theo chiều hướng này. Kinh tế học khi đó có lẽ không phải là nơi lý tưởng cho những ai dễ chán nản và gặp vấn đề với chi tiết. Sau đại học, Thaler học thẳng lên chủ yếu vì cuộc đời của cha khiến ông cho rằng nghề kinh doanh thật nhàm chán, căng thẳng đầu óc và ông không có khả năng làm thuê cho ai. Ông chẳng thể nghĩ ra việc gì khác ngoài đi học sau đại học và ông chọn kinh tế học bởi “nó có vẻ thiết thực”. Khi đó ông mới biết lĩnh vực này cực kỳ chú trọng cả sự chính xác lẫn toán học – đến mức dường như chỉ những ai được phép pha trò trên các bài đăng tạp chí của họ mới là những người giỏi toán nhất. Vào thời điểm Thaler đến Khoa Sau đại học về Quản lý của Đại học Rochester, ông xa rời lĩnh vực của mình và xa cách với các bạn học. “Tôi thú vị hơn họ nhưng không giỏi toán bằng”, ông nói. “Thế tôi giỏi cái gì? Đó là tìm ra những thứ thú vị”.

Ông viết luận văn về lý do tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh tại Mỹ của người da đen cao gấp đôi người da trắng. Xét tất cả các biến rõ ràng – học vấn và thu nhập của bố mẹ, đứa trẻ có sinh ra ở bệnh viện hay không… – ông chỉ giải thích được sự khác biệt nửa vời. Ông vẫn còn lấn cấn về điều gì đó dường như là một vấn đề hóc búa không thể giải quyết. “Tôi đã cố nhưng không giải thích được”, ông nói. “Tôi lẽ ra đã có thể làm cho nó thú vị nếu tự tin hơn”. Giới kinh tế học phản ứng bằng cách hễ ông nộp đơn xin việc ở trường đại học thì đều từ chối. Thaler đành làm việc cho một công ty tư vấn.

Thế rồi, ngay khi ông bắt đầu một con đường mới trong cuộc đời, công ty đóng cửa một văn phòng và sa thải ông. 27 tuổi, khánh kiệt và thất nghiệp, đã có vợ và hai con nhỏ, Thaler cầu xin Trưởng khoa sau đại học về Quản lý ở Rochester cho mình một công việc và được ký hợp đồng tạm thời 1 năm, giảng dạy về phân tích chi phí-lợi ích cho sinh viên trường kinh doanh. Trở lại trường, ông bắt đầu viết một nghiên cứu khác. Ông phát hiện thêm một câu hỏi thú vị: Một mạng người đáng giá bao nhiêu? Ông cũng tìm được một cách thông minh để tiếp cận vấn đề. Ông so sánh mức lương của các công việc rủi ro – công nhân khai thác mỏ than, thợ đốn gỗ, người lau kính cửa sổ cao ốc – với tuổi thọ của những người làm các công việc đó. Từ dữ liệu, ông rút ra mức lương người Mỹ cần nhận để chấp nhận giảm tuổi thọ dự tính. Nếu bạn có thể tính toán mức lương người ta cần được trả để chấp nhận xác suất 1% tử vong khi đang làm việc thì bạn có thể, về lý thuyết, tính ra mức lương cần phải chi trả để họ đồng ý xác suất 100% sinh nghề tử nghiệp (Con số ông tính ra là 1,4 triệu đô-la, tính theo thời giá đô-la năm 2016). Sau đó ông lại nghĩ các phương pháp của mình hơi ngớ ngẩn (“Chúng ta có thật sự nghĩ rằng người ta ra quyết định một cách duy lý?”). Nhưng các nhà kinh tế lão làng và thành công hơn sẵn sàng kết luận rằng các công nhân khai thác mỏ than của Mỹ đã tự tính toán trong đầu về giá trị mạng sống của mình và đòi mức lương tương ứng.

Nghiên cứu đó giúp Thaler được nhận vào làm toàn thời gian, không có hợp đồng vô thời hạn, tại Khoa Sau đại học về Quản lý của trường Rochester. Nhưng trong lúc cố gắng tính toán giá trị của một mạng người, ông bắt đầu cảm thấy băn khoăn về lý thuyết kinh tế. Ông đưa bảng câu hỏi cho các đối tượng để hỏi họ một giả định: Nếu họ nhiễm một loại virus gây bệnh chết người có xác suất 1/1.000, họ sẽ chi bao nhiêu cho thuốc chữa bệnh? Vì là một nhà kinh tế học nên ông biết có nhiều cách để hỏi câu đó, vì thế ông cũng hỏi: Bạn sẽ cần được trả bao nhiêu tiền để chấp nhận xác suất 1/1.000 nhiễm phải cùng căn bệnh chết người ấy? Lý thuyết kinh tế nói rằng hai con số phải bằng nhau. Dù bạn sẵn lòng chi bao nhiêu để thoát xác suất tử vong là 1/1.000, con số ấy cũng phải bằng số tiền bạn cần được trả để bản thân chấp nhận xác suất tử vong là 1/1.000: Con số đó là giá trị bạn gán cho xác suất tử vong 1/1.000. Những ai có mạng sống bấp bênh theo giả định lại không cảm nhận theo kiểu đó. “Các câu trả lời được mọi người đưa ra theo thứ tự về quy mô”, Thaler nói. “Họ nói sẵn sàng chi 10.000 cho việc chữa trị nhưng cần được trả 1 triệu đô-la để chấp nhận nhiễm virus”.

Thaler nghĩ điều đó thật sự thú vị. Ông kể cho thầy hướng dẫn luận án nghe về các phát hiện của mình. “Đừng phí phạm thời gian vào các bảng câu hỏi nữa, hãy bắt đầu nghiên cứu kinh tế học thực sự”, thầy của ông nói.

Thay vào đó, Thaler bắt đầu lập một danh sách. Trên danh sách này có nhiều điều bất hợp lý mà con người làm nhưng các nhà kinh tế học lại khẳng định là không, bởi họ cho rằng mọi người đều duy lý. Đứng đầu danh sách là việc con người sẵn sàng chi gấp 100 lần để tránh xác suất 1/1.000 nhiễm một căn bệnh nan y so với việc được điều trị cùng căn bệnh đó, sau khi họ đã có xác suất 1/1.000 mắc phải nó.

Thaler có lẽ không cảm nhận chắc chắn hoàn toàn về bản thân nhưng ông nhanh chóng nhận ra những người khác cũng chẳng chắc chắn về chính họ. Ông để ý thấy khi mời các nhà kinh tế học đồng nghiệp đến ăn tối, họ ăn toàn hạt điều, nghĩa là họ chẳng thích bữa ăn cho lắm. Quan trọng hơn, ông nhận thấy họ có xu hướng nhẹ nhõm khi ông cất hạt điều đi để nó không làm hỏng bữa tối của họ. “Ý tưởng ở đây là nên giảm bớt các lựa chọn – ý tưởng đó thật xa lạ đối với kinh tế học”, ông nói. Sau khi ông và một người bạn được tặng vé xem trận bóng rổ ở Buffalo, nhưng sau đó họ quyết định thật không đáng để lái xe xuyên bão tuyết tới xem nó, bạn ông đã nói: “Nhưng nếu tự bỏ tiền mua cặp vé đó thì có lẽ chúng ta sẽ đi”. Một nhà kinh tế học sẽ coi cặp vé như là “chi phí chìm”. Bạn không tới xem một trận đấu mà bạn không muốn chỉ vì bạn bỏ tiền mua vé. Tại sao lại tự làm mình khổ sở thêm? “Tôi nói: ‘Thôi nào, cậu không biết về chi phí chìm à?’”, Thaler nhớ lại. Bạn ông là một nhà khoa học máy tính nên không biết đến chi phí chìm. Sau khi Thaler giải thích khái niệm này, người bạn chỉ nhìn ông và nói: “Ồ, đó chỉ là thứ nhảm nhí”.

Danh sách của Thaler dài ra nhanh chóng. Nhiều thứ trong đó rơi vào mục mà cuối cùng ông sẽ gọi là “Hiệu ứng Sở hữu”. Hiệu ứng này là một ý tưởng tâm lý với các hậu quả kinh tế. Con người gắn một giá trị tăng thêm kỳ lạ nào đó với bất cứ thứ gì họ tình cờ sở hữu, đơn giản vì họ sở hữu nó, rồi tỏ ra miễn cưỡng đáng ngạc nhiên khi phải từ bỏ vật sở hữu hay quyền sở hữu của mình, ngay cả khi việc trao đổi chúng hợp lý về kinh tế. Nhưng ban đầu, Thaler không tư duy theo các phạm trù. “Thời điểm đó, tôi chỉ đang thu thập một danh sách những điều ngu ngốc con người làm”, ông nói. Tại sao người ta không muốn bán những ngôi nhà nghỉ dưỡng họ sẽ không bao giờ mua, nếu từ đầu họ không mua và bây giờ lại đang được chào mời? Tại sao các đội bóng ở giải NFL không muốn trao đổi quyền chọn cầu thủ khi rõ ràng họ có thể thu về số tiền cao hơn giá trị của các cầu thủ đó? Vì sao các nhà đầu tư không muốn bán những cổ phiếu đã rớt giá, ngay cả khi họ thừa nhận mình sẽ không bao giờ mua các cổ phiếu đó với giá thị trường hiện hành? Có vô vàn những điều con người làm mà lý thuyết kinh tế học khó giải thích. “Khi bạn bắt đầu tìm kiếm hiệu ứng sở hữu”, Thaler nói, “bạn nhìn thấy nó ở khắp nơi”. Cảm nhận của Thaler về lĩnh vực của mình không khác nhiều so với cảm nhận về trò Cờ Tỷ phú hồi bé: Nhàm chán và không cần thiết phải thế. Kinh tế học phải là nghiên cứu về một khía cạnh trong bản chất con người, nhưng nó đã thôi không còn quan tâm đến bản chất con người. “Nghĩ về chuyện này thì thú vị hơn nhiều so với nghiên cứu kinh tế học”, ông nói.

Khi ông thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế học đồng nghiệp bằng những quan sát của mình, họ chẳng hề hứng thú. “Điều đầu tiên họ luôn nói là: ‘Đương nhiên chúng tôi biết đôi lúc con người phạm sai lầm, nhưng sai lầm là ngẫu nhiên và chúng sẽ biến mất trên thị trường’”, Thaler nhớ lại. Ông không còn tin vào điều đó nữa. Danh sách của ông, cùng với nỗi thôi thúc tạo ra nó, không giúp ông có được bạn bè trong khoa Kinh tế học của Đại học Rochester, hay ở trường kinh doanh trong đó. “Thaler có nhiều kẻ thù và ông ấy không giỏi xoa dịu kẻ thù”, Tom Russell, một đồng nghiệp là giảng viên kinh tế học tại Rochester nói. “Nếu bạn nói thẳng vào mặt một giảng viên đại học: ‘Anh vừa nói một điều thật ngu ngốc’ – được thôi, những nhân vật tên tuổi có thể nói: ‘Ngu ngốc như thế nào?’, nhưng kẻ ít tên tuổi không nên nói thế”.

Tương lai của Thaler thật mờ mịt vào năm 1976, khi ông tham dự một hội thảo về cách thức xác định giá trị mạng người. Khi biết đến những mối quan tâm lạ lùng của Thaler, một thành viên tham dự hội thảo khuyên ông đọc bài báo của Kahneman và Tversky trên tạp chí Science, nội dung trong đó là tìm cách lý giải tại sao con người lại làm những điều ngu ngốc. Thaler về nhà và tìm thấy bài báo “Phán đoán trong điều kiện không chắc chắn” trong một tờ Science cũ. Ông không thể tin nổi mình đã phấn khích thế nào khi đọc nó. Ông tiếp tục đọc tất cả những bài báo khác đăng trên các số báo khác do Kahneman và Tversky viết. “Tôi còn nhớ rõ đã đọc hết bài báo này sang bài báo khác”, Thaler nói. “Như thể tôi tìm ra một hũ vàng bí mật. Trong một lúc, tôi không rõ tại sao mình lại quá phấn khích như vậy. Thế rồi tôi nhận ra: Họ có một ý tưởng. Đó là thiên kiến hệ thống”. Nếu mọi người có thể sai một cách có hệ thống thì sai lầm của họ không thể nào bị bỏ qua. Hành vi phi lý của số ít sẽ không thể được bù đắp bởi hành vi duy lý của số đông. Mọi người có thể sai một cách có hệ thống và vì thế các thị trường cũng sai một cách hệ thống.

Thaler nhờ người gửi cho mình một bản thảo của “Lý thuyết Giá trị”. Ông lập tức nhận ra ý nghĩa của nó, một chiếc xe tải chất đầy tâm lý học có thể đi vào nơi linh thiêng của kinh tế học và phát nổ. Logic trong nghiên cứu thật tuyệt vời, không thể cưỡng lại. Thứ mà không lâu sau được biết đến là một lý thuyết về triển vọng đã giải thích hầu hết các mục trong danh sách của Thaler, bằng một ngôn ngữ mà các nhà kinh tế học có thể hiểu. Có những mục trong danh sách mà lý thuyết về triển vọng đó không đề cập – sự tự chủ là một nội dung lớn như thế – nhưng không hề gì. Nghiên cứu đã tạo ra một lỗ hổng trong lý thuyết kinh tế để tâm lý học tiến vào. “Đó là phép màu của nghiên cứu”, Thaler nói, “cho bạn thấy mình có thể làm được. Toán học kết hợp tâm lý học. Nghiên cứu đó là thứ mà một nhà kinh tế học gọi là bằng chứng của sự tồn tại. Nó thâu tóm rất nhiều thứ trong bản chất con người”.

Cho đến thời điểm đó, Thaler đã cảm thấy vị trí của mình trong kinh tế học thật bấp bênh giống như khả năng chép truyện Tow Sawyer của ông ngày xưa. “Nếu họ không tồn tại, tôi chẳng biết liệu mình có ở lại lĩnh vực này hay không”, ông nói. Sau khi hoàn tất việc tổng hợp công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học người Israel, ông có một cảm nhận mới mẻ. “Tôi có cảm giác”, ông nói, “có những quan niệm chắc chắn rằng tôi được sinh ra trên đời là để tư duy. Và bây giờ tôi có thể tư duy về chúng”. Ông quyết định sẽ bắt đầu bằng cách chuyển danh sách của mình thành một bài báo. Nhưng trước cả khi thực hiện điều đó, ông đã tìm ra địa chỉ thư của khoa Tâm lý học, Đại học Hebrew và viết một lá thư cho Amos Tversky.

________________

Amos thấy gần như các nhà kinh tế học đều viết thư cho ông. Họ hiểu ông. Đầu óc logic bền bỉ của Amos rất giống họ nhưng thông tuệ hơn theo một cách nào đó. Họ có thể nhận ra tài năng của ông. Đối với hầu hết các nhà kinh tế học, trí tuệ của Danny là một điều bí ẩn. Richard Zeckhauser, một nhà kinh tế tại Harvard đã trở thành bạn của Amos, từng tuyên bố với toàn thể ngành của mình: “Ấn tượng của tôi về cách họ tiến hành một nghiên cứu là họ cứ đi vòng quanh và để Amos làm nhiều việc. ‘Đoán xem nào, Amos, tôi đi mua một chiếc xe hơi, tôi trả giá 38.000 đô-la và người bán hàng nói 38.900 và tôi đồng ý! Tôi đã làm tốt chứ?’. Và Amos sẽ nói: ‘Hãy viết chúng ra giấy’”. Quan điểm của các nhà kinh tế về sự cộng tác là thứ Amos Tversky đã bắt đầu, giống như một nhà nhân loại học, nghiên cứu về một bộ lạc xa lạ ít duy lý hơn ông, bộ lạc đó chính là Danny. “Tôi cũng cho rằng hành vi như vậy, theo nghĩa nào đó, là không khôn ngoan hoặc sai lầm, nhưng chuyện này không có nghĩa là nó không xảy ra”, Amos viết thư cho một nhà kinh tế học Mỹ, người đã phàn nàn về mô tả bản chất con người được hàm ý trong “Lý thuyết Giá trị”. “Một lý thuyết về tầm nhìn không thể sai lầm do dự báo ảo ảnh thị giác. Tương tự, một lý thuyết mô tả về lựa chọn không thể bị bác bỏ vì nó dự báo ‘hành vi vô lý’ nếu như hành vi đang nói đến được quan sát”.

Về phần mình, Danny cho rằng đến tận năm 1976 ông mới bắt đầu hiểu lý thuyết của họ có thể thuộc về một lĩnh vực ông không có kiến thức. Sự tỉnh ngộ ấy xảy ra khi Amos trao cho ông một nghiên cứu được viết bởi một nhà kinh tế học. Nghiên cứu mở đầu bằng câu: “Vị đại diện cho lý thuyết kinh tế thật duy lý, ích kỷ và thị hiếu của ông ta không hề thay đổi”. Dù các nhà kinh tế học của Đại học Hebrew ở tòa nhà kế bên, Danny vẫn chẳng đoái hoài gì đến các giả thuyết của họ về bản chất con người. “Đối với tôi, ý tưởng họ thật sự tin vào điều ấy – rằng đó thật sự là thế giới quan của họ – thật khó tin”, ông nói. “Một thế giới quan trong đó mọi người cho tiền boa ở một nhà hàng họ sẽ không bao giờ quay lại được coi là một vấn đề hóc búa”. Nó là một thế giới quan chấp nhận rằng cách duy nhất để thay đổi hành vi con người là thay đổi các khuyến khích tài chính. Ý tưởng về nó đã đánh động tâm thức ông kỳ lạ đến nỗi ông hiếm khi đối đầu trực tiếp với nó. Đối với Danny, ý tưởng tổng thể của việc chứng minh con người không hề duy lý có cảm giác hơi giống như chứng minh con người không có lông mao. Rõ ràng con người không duy lý, dù theo bất kỳ nghĩa nào của thuật ngữ này.

Ông và Amos muốn tránh tham gia một cuộc tranh luận về tính duy lý của con người. Tranh luận kiểu đó sẽ chỉ làm xao nhãng con người khỏi hiện tượng họ đang khám phá. Họ ưa thích tiết lộ bản chất con người và để con người quyết định mình là ai. Nhiệm vụ tiếp theo của họ, hai người nhìn nhận, là chăm chút và tinh chỉnh “Lý thuyết Giá trị” để xuất bản. Cả hai lo lắng có ai đó sẽ tìm ra một mâu thuẫn rõ ràng – một kiểu nghịch lý Allais nào đó – giống như quan sát sẽ làm cho lý thuyết của họ chết yểu trên đường về đích. Họ đã dành 3 năm gần như chẳng làm gì khác ngoài tìm kiếm lý thuyết về các mâu thuẫn nội tại. “Trong suốt 3 năm đó, chúng tôi không thảo luận gì về những mối quan tâm đích thực của mình”, Danny nói. Đam mê của Danny đã ngừng lại với những thấu hiểu sâu sắc về tâm lý; còn Amos say mê với việc sử dụng những thấu hiểu đó để tạo ra một cấu trúc. Điều Amos nhìn ra, có lẽ rõ hơn Danny, là cách duy nhất buộc thế giới phải ra sức nghiền ngẫm những điều họ thấu hiểu về bản chất con người là đưa chúng vào một lý thuyết. Lý thuyết đó cần giải thích và dự báo hành vi tốt hơn lý thuyết đang có, nhưng nó cũng cần được diễn giải bằng logic toán học. “Điều làm cho lý thuyết quan trọng khác với điều khiến nó tồn tại”, Danny nói nhiều năm sau đó. “Khoa học là một cuộc đàm luận và bạn phải cạnh tranh để giành quyền lắng nghe. Sự cạnh tranh có những quy luật của nó. Và thật kỳ lạ, các quy luật đó là bạn được kiểm chứng trên một lý thuyết chính thống”. Sau khi họ cuối cùng cũng gửi một bản thảo nghiên cứu tới tạp chí kinh tế học Econometrica, Danny bối rối trước phản hồi của biên tập viên. “Tôi hy vọng anh ta sẽ nói: ‘E ngại tổn thất thật sự là một ý tưởng hay’. Nhưng anh ta bảo: ‘Không, tôi thích toán học’. Tôi cảm thấy đau khổ”.

Đến năm 1976, đơn thuần vì mục tiêu marketing, họ thay đổi tiêu đề thành “Lý thuyết triển vọng”. “Ý tưởng là cho lý thuyết một cái tên hoàn toàn khác biệt không tạo ra bất kỳ liên tưởng nào”, Danny nói. “Khi bạn nói ‘lý thuyết triển vọng’, không ai biết bạn đang nói gì. Chúng tôi nghĩ: Ai biết chứ? Nó hóa ra lại có ảnh hưởng. Và nếu thế, chúng tôi không muốn nó bị nhầm lẫn với cái gì khác”.

Bỗng một ngày họ bị giảm tốc một cách đầy kịch tính bởi xáo trộn trong cuộc đời của Danny. Thời điểm năm 1974, ông chuyển ra khỏi nhà, sống xa vợ và các con. Một năm sau, ông li dị và bay đến London gặp nhà tâm lý học Anne Treisman để chính thức “tỏ tình”. Bà đáp lại. Đến mùa thu năm 1975, Amos rõ ràng đã mệt vì những ảnh hưởng chẳng dễ chịu tất yếu xảy ra. “Khó mà ước lượng hết thời gian, năng lượng cảm xúc và tinh thần bị tiêu tốn vì những chuyện tình kiểu đó”, ông viết thư cho bạn mình là Paul Slovic.

Tháng 10 năm 1975, Danny lại bay sang Anh lần nữa, lần này là để gặp Anne ở Cambridge và cùng bà đến Paris. Ngay lập tức ông rơi vào trạng thái hân hoan lẫn lo lắng khác lạ về ảnh hưởng của mối quan hệ mới với Anne tới tình cảm cũ với Amos. Ở Paris, ông chờ đợi thứ trông có vẻ là một lá thư của Amos – nhưng khi mở nó ra, ban đầu ông chỉ thấy một bản thảo của nội dung sau này sẽ trở thành “Lý thuyết Triển vọng”. Danny hiểu việc không có thư cá nhân kèm theo là một thông điệp tinh tế của Amos. Ngồi bên tình mới ở kinh đô lãng mạn của thế giới, Danny ngồi xuống và viết ra những lời giống như một lá thư tình gửi Amos. “Amos yêu quý”, lá thư bắt đầu. “Khi đến Paris, tôi nhận được một phong bì từ cậu. Tôi rút ra bản viết tay của cậu nhưng chẳng có chữ nào trong đó. Tôi tự nhủ rằng Amos đang giận mình mà chẳng có lý do. Sau bữa tối, tôi tìm một chiếc phong bì cũ để gửi lá thư này cho cậu, rồi tôi thấy cái phong bì của cậu và lá thư bên trong. Vì muộn giờ ăn tối nên tôi chỉ kịp liếc nhìn qua xem cuối thư cậu viết gì. Tôi nhìn thấy dòng chữ ‘Thân mến, như xưa’ và nổi da gà vì xúc động”. Ông tiếp tục viết rằng mình từng giải thích với Anne là ông có thể chẳng bao giờ tự mình đạt được những thành quả đã gặt hái cùng Amos và nghiên cứu mới họ đang tiến hành là một bước đi nữa. “Đây là khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong một mối quan hệ mà tôi nhận ra là một trong những gì thăng hoa nhất đời mình”, ông viết. Sau đó ông viết thêm: “Hôm qua tôi đến Cambridge. Và tôi đã nói với họ công trình của chúng ta về Lý thuyết Giá trị. Họ nhiệt tình đến phát ngại. Tôi tổng kết lại bằng một thảo luận về các giai đoạn ban đầu của hiệu ứng cô lập. Và họ hưởng ứng thật đặc biệt. Nhìn chung, họ đã cho tôi cảm giác mình là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thế giới. Họ đã rất cố gắng gây ấn tượng với tôi đến mức tôi kết luận có lẽ đã đến lúc mình không cần phải gây ấn tượng với người khác”.

Theo một cách thức lạ lùng nào đó, khi họ đến khoảnh khắc vinh quang vĩ đại nhất trước công chúng, sự cộng tác của hai người vẫn là chuyện riêng tư, một canh bạc bất ưng không bối cảnh. “Chừng nào còn ở Israel, chúng tôi còn chưa nghĩ đến việc thế giới nghĩ gì về mình”, Danny nói. “Chúng tôi hưởng lợi từ sự cô lập của mình”. Sự cô lập đó phụ thuộc vào việc họ ở bên cạnh nhau, trong cùng một căn phòng, đằng sau cánh cửa đóng kín.

Cánh cửa đó giờ đây đã bị mở toang. Anne là người Anh. Cô cũng không tin ở Chúa và là bà mẹ 4 con, một đứa mắc hội chứng Down. Có khoảng 16 lý do khác nhau khiến cô không thể hay không muốn sang Israel sống. Và nếu Anne không sang Israel thì Danny sẽ phải ra đi. Danny và Amos tranh cãi với nhau và tìm ra được một giải pháp tạm thời là vào năm 1977, cả hai đều rời Đại học Hebrew vào kỳ nghỉ phép của giảng viên để tới Đại học Stanford, là nơi Anne sẽ đến cùng. Nhưng vài tháng sau khi họ đến Mỹ, Danny thông báo ông định cưới Anne và ở lại. Ông buộc Amos phải quyết định sẽ làm thế nào với mối quan hệ của họ.

Bây giờ đến lượt Amos ngồi xuống và viết một lá thư đầy xúc động. Danny thật bừa bãi, theo cách Amos có thể chẳng bao giờ mắc phải dù có muốn. Hồi nhỏ, Amos từng mong muốn trở thành một nhà thơ. Rốt cuộc ông lại là một nhà khoa học. Danny vốn là một nhà thơ, không biết bằng cách nào lại tình cờ trở thành nhà khoa học. Danny cảm nhận nỗi khao khát rõ ràng nào đó muốn được như Amos; Amos cũng thế, nung nấu khao khát thầm kín muốn được như Danny. Amos là một thiên tài. Nhưng ông cần Danny, và ông biết điều đó. Amos viết thư gửi bạn thân là Gidon Czapski, Hiệu trưởng của Đại học Hebrew. “Gidi thân mến”, thư bắt đầu. “Quyết định vẫn lưu lại nơi đây, trên đất Mỹ, là quyết định khó khăn nhất tôi từng đưa ra. Tôi không thể phớt lờ mong muốn hoàn thành, chí ít là một phần, công trình tôi làm chung với Danny. Tôi không thể chấp nhận ý nghĩ rằng công trình chung bao năm trời lại có thể trở thành con số 0 và chúng tôi sẽ không thể hoàn thiện những ý tưởng mình có”. Amos tiếp tục giải thích rằng mình định nhận lời mời làm giáo sư của Đại học Stanford. Ông thừa biết mọi người ở Israel sẽ sốc và giận dữ. “Nếu Danny rời Israel thì đó sẽ là một bi kịch cá nhân”, một viên chức ở Đại học Hebrew nói với ông trước đó không lâu. “Nếu ông đi, đó sẽ là một thảm kịch quốc gia”.

Cho đến khi Amos thật sự ra đi, bạn bè của ông vẫn không thể hình dung ông lại có thể sống ở nơi nào khác ngoài Israel. Amos là Israel và Israel là Amos. Ngay cả người vợ Mỹ của ông cũng buồn. Barbara đã đem lòng yêu mến Israel – tính dữ dội, ý thức cộng đồng, sự thờ ơ trước những chuyện tầm phào của nó. Giờ đây bà thấy mình giống người Israel hơn người Mỹ. “Tôi đã rất cố gắng để trở thành người Israel”, bà nói. “Tôi không muốn sống ở Mỹ. Tôi đã nói với Amos: ‘Làm sao em có thể bắt đầu lại từ đầu?’. Ông ấy nói, ‘Em sẽ xoay xở được’”.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.