Xem xét tình huống sau:
Jason K là một cậu bé vô gia cư 14 tuổi sống ở một thành phố lớn của Mỹ. Cậu nhút nhát và sống thu mình nhưng rất có tài xoay xở. Cha cậu đã bị sát hại khi cậu còn nhỏ; mẹ nghiện ma túy. Jason tự chăm sóc bản thân, thi thoảng ngủ trên ghế sofa ở nhà bạn nhưng chủ yếu ngủ ngoài đường. Cậu cố gắng đi học cho đến lớp 9. Cậu thường bị đói. Một hôm, vào năm 2010, cậu bé chấp nhận lời gạ gẫm bán ma túy và bỏ học. Vài tuần sau, vào đêm trước sinh nhật thứ 15, cậu bị bắn chết. Jason không có vũ khí gì trong tay khi chết.
Chúng ta tìm cách “hoàn tác” cái chết của Jason K. Xếp hạng những nội dung sau theo thứ tự xác suất xảy ra của chúng.
1. Cha của Jason không bị sát hại.
2. Jason mang theo một khẩu súng và có thể tự bảo vệ mình.
3. Chính quyền liên bang Mỹ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho trẻ em vô gia cư được nhận các bữa ăn sáng và trưa miễn phí mà chúng được quyền nhận. Jason không bao giờ phải nhịn đói và vẫn còn đi học.
4. Một luật sư say mê các bài viết của Amos Tversky và Daniel Kahneman, nhận một công việc làm cho chính quyền liên bang vào năm 2009. Sử dụng công trình của Kahneman và Tversky, anh ta ra sức thúc đẩy những thay đổi về quy định, nhờ đó các trẻ em vô gia cư không còn phải ghi danh vào chương trình bữa ăn học đường miễn phí. Thay vào đó, chúng tự động được nhận các bữa ăn sáng và trưa miễn phí. Jason không bao giờ bị đói nữa và vẫn còn đi học.
Nếu nhận thấy số 4 có nhiều khả năng xảy ra hơn số 3, bạn đã vi phạm quy luật xác suất cơ bản và đơn giản nhất. Nhưng bạn cũng đã khám phá ra điều gì đó. Tên của vị luật sư là Cass Sunstein.
Trong các hệ quả khác của nó, công trình do Amos và Danny cùng nhau thực hiện đã giúp các nhà kinh tế học và nhà làm chính sách nhận ra tầm quan trọng của tâm lý học. “Tôi trở thành một tín đồ của nó”, nhà kinh tế học thắng giải Nobel là Peter Diamond nhận xét về công trình của Danny và Amos. “Nó hết thảy đều đúng sự thật. Việc này không chỉ là chuyện trong phòng thí nghiệm. Nó nắm bắt thực tế và quan trọng đối với các nhà kinh tế học. Tôi từng bỏ ra nhiều năm trời suy nghĩ cách sử dụng nó – và đã thất bại”. Vào đầu những năm 1990, nhiều người nghĩ rằng kết nối các nhà tâm lý học với nhà kinh tế học là một ý tưởng hay, cho phép họ có cơ hội hiểu nhau rõ hơn. Nhưng rồi hóa ra họ lại chẳng biết gì về nhau. Các nhà kinh tế học tự tin và trịch thượng. Các nhà tâm lý thì đa sắc thái và ngờ vực. “Các nhà tâm lý theo lệ thường sẽ chỉ cắt ngang một bài trình bày để giải thích chi tiết hơn”, nhà tâm lý học Dan Gilbert cho biết. “Các nhà kinh tế thì ngắt lời để thể hiện họ thông minh ra sao”. “Trong kinh tế học, thô lỗ là chuyện hoàn toàn bình thường”, nhà kinh tế học George Loewenstein nói. “Chúng tôi cố gắng tạo nên một hội thảo về kinh tế và tâm lý học ở Đại học Yale. Chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ đầu tiên. Các nhà tâm lý học tỏ ra rất khó chịu. Chúng tôi không bao giờ gặp lại nhau nữa”. Đầu những năm 1990, Steven Sloman, vốn là một sinh viên của Amos, đã mời một số lượng ngang bằng các nhà kinh tế học và tâm lý học đến dự hội thảo ở Pháp. “Tôi thề với Chúa mình đã mất đến 3/4 thời gian để yêu cầu các nhà kinh tế im lặng”, Sloman phân trần. “Vấn đề”, nhà tâm lý học xã hội của Đại học Harvard, Amy Cuddy, nói, “nằm ở chỗ các nhà tâm lý học nghĩ các nhà kinh tế học vô đạo đức, còn các nhà kinh tế coi bên còn lại thật ngớ ngẩn”.
Trong cuộc chiến văn hóa học thuật bị kích hoạt bởi công trình nghiên cứu của Amos và Danny, Amos có vai trò như một cố vấn chiến lược. Ít ra ông cũng dành một đôi chút cảm thông cho các nhà kinh tế. Tâm trí của Amos luôn xung đột với đa phần giới tâm lý học. Ông không thích coi cảm xúc là một đối tượng. Mối quan tâm của ông đối với suy nghĩ vô thức chỉ gói gọn trong mong muốn chứng minh nó không tồn tại. Ông giống như một người mặc đồ kẻ sọc đang lang thang trên xứ sở của những người mặc đồ kẻ ca-rô và chấm bi. Giống như các nhà kinh tế, ông ưa thích mô hình chính thống chặt chẽ hơn những hộp sô-cô-la tổng hợp của các hiện tượng tâm lý. Giống như họ, ông thấy thô lỗ là chuyện hoàn toàn bình thường. Và giống như họ, ông có những tham vọng trần tục cho các ý tưởng của mình. Các nhà kinh tế tìm kiếm sự ảnh hưởng trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh và chính sách công. Các nhà tâm lý không bao giờ có thể tiến vào những địa hạt đó. Điều đó sắp thay đổi.
Cả Danny và Amos đều thấy đưa tâm lý học thâm nhập kinh tế học là vô ích. Các nhà kinh tế học sẽ phớt lờ những kẻ xâm phạm. Họ chỉ cần đến các nhà kinh tế trẻ có niềm đam mê tâm lý học. Thật kỳ diệu, sau khi Amos và Danny đến Bắc Mỹ, họ bắt đầu xuất hiện. George Loewenstein là một ví dụ điển hình. Là một nhà kinh tế học được đào tạo đã bị sự nhạt nhẽo về mặt tâm lý của các mô hình kinh tế làm cho vỡ mộng, Loewenstein đọc công trình của Amos và Danny rồi nghĩ: Chờ đã, có lẽ tôi muốn trở thành một nhà tâm lý học! Vì ông tình cờ là chắt của Sigmund Freud, điều này thậm chí còn phức tạp hơn suy nghĩ thông thường. “Tôi từng cố gắng thoát khỏi quá khứ của gia đình”, Loewenstein nói. “Tôi nhận ra mình chưa bao giờ tham gia một lớp học nào thật sự làm tôi thích thú”. Ông tiếp cận Amos và xin lời khuyên: Có nên chuyển từ kinh tế học sang tâm lý học không? “Amos nói: ‘Anh nên ở lại kinh tế học – chúng tôi cần anh ở đó’. Vào năm 1982, ông đã biết mình đang khởi động một trào lưu. Và ông cần những con người trong kinh tế học”.
Cuộc tranh luận do Danny và Amos khởi xướng sẽ lan rộng vào ngành luật và chính sách công. Tâm lý học sẽ sử dụng kinh tế học để thâm nhập các lĩnh vực này cũng như những nơi khác. Richard Thaler – nhà kinh tế học chán nản đầu tiên đã tình cờ gặp công trình nghiên cứu của Danny cùng Amos và quyết tâm theo đuổi các hệ quả của nó đối với kinh tế học – sẵn sàng góp phần kiến tạo nên một lĩnh vực mới và đặt cho nó cái tên “kinh tế học hành vi”. “Lý thuyết Triển vọng”, hầu như không được trích dẫn trong thập kỷ đầu tiên sau khi được xuất bản, đến năm 2010, lại được trích dẫn nhiều thứ hai trong tất cả các lĩnh vực của kinh tế học. “Mọi người đã cố phớt lờ nó”, Thaler nói. “Các nhà kinh tế học lớn tuổi không bao giờ đổi ý”. Đến năm 2016, cứ 10 nghiên cứu được công bố trong kinh tế học lại có 1 nghiên cứu mang góc độ hành vi, chí ít cũng mang một dấu vết của công trình nghiên cứu do Danny và Amos thực hiện. Richard Thaler có lẽ chỉ cần xin rút khỏi chức Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế học Mỹ.
Cass Sunstein khi còn là một giảng viên luật trẻ tuổi tại Đại học Chicago đã tình cờ nghe tiếng hô xung trận đầu tiên của Thaler đại diện cho giới tâm lý học. Một nghiên cứu được Thaler đặt tiêu đề trong đầu là “Trò ngớ ngẩn mà con người làm”, cuối cùng đã được xuất bản với tên “Hướng tới một Lý thuyết tích cực về Lựa chọn của Khách hàng”. Chuyên đề của Thaler đã trực tiếp dẫn dắt Sunstein đến bài báo của Danny và Amos trên tạp chí Science về sự phán đoán, cũng như tiếp cận “Lý thuyết Triển vọng”. “Đối với một luật sư, cả hai thứ đó đều khó nhằn”, Sunstein nói. “Tôi phải đọc chúng nhiều hơn một lần. Nhưng tôi nhớ cảm giác ấy: Nó như một vụ nổ bóng đèn. Bạn có những suy nghĩ trong đầu và bạn đọc được điều ngay lập tức sắp xếp lại mọi thứ theo trật tự và bừng tỉnh”. Năm 2009, theo lời mời của Tổng thống Obama, Sunstein tới làm việc tại Nhà Trắng. Ở đó, ông giám sát Văn phòng Thông tin và Điều tiết, thực hiện nhiều thay đổi nhỏ mang lại những ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hằng ngày của tất cả người dân Mỹ.
Những thay đổi Sunstein tạo ra có một chủ đề thống nhất: Chúng nảy sinh trực tiếp hay gián tiếp từ công trình của Danny và Amos. Bạn không thể nói công trình của Danny và Amos đã dẫn tới việc Tổng thống Obama ra lệnh cấm các nhân viên liên bang nhắn tin trong lúc lái xe, nhưng không khó để liên hệ từ công trình của họ tới đạo luật đó. Chính quyền liên bang giờ đây trở nên nhạy cảm với cả ám ảnh tổn thất lẫn hiệu ứng đóng khung: Con người không lựa chọn giữa các sự vật, họ chọn lựa giữa những mô tả về chúng. Thông số về tiêu hao nhiên liệu trên xe hơi đời mới trước kia chỉ ghi mỗi gallon đi được bao nhiêu dặm, thì nay ghi cả số gallon nhiên liệu tiêu thụ trên mỗi 100 dặm. Thứ từng được gọi là kim tự tháp thực phẩm đã trở thành mô hình MyPlate, một hình ảnh đồ họa mô tả chiếc đĩa ăn với từng phần dành cho 5 nhóm thực phẩm, và bỗng nhiên người Mỹ dễ dàng nhìn ra những thứ tạo nên một chế độ ăn lành mạnh. Và còn nhiều thứ khác. Sunstein lập luận, bên cạnh Hội đồng Cố vấn Kinh tế, chính phủ cần đến một Hội đồng Cố vấn Tâm lý học. Ông không đơn độc. Thời điểm Sunstein rời Nhà Trắng vào năm 2015, những cuộc kêu gọi dành một vai trò lớn lao hơn cho các nhà tâm lý học, hay nói chính xác hơn là cho những tư duy sâu sắc của tâm lý học, đang trỗi dậy từ chính bên trong các chính phủ khắp thế giới.
Sunstein quan tâm cụ thể đến điều hiện nay được gọi là “cấu trúc lựa chọn”. Các quyết định con người thực hiện bị điều hướng theo cách chúng được thể hiện. Mọi người không biết bản thân muốn gì; họ lấy các tín hiệu từ môi trường xung quanh. Họ xây dựng các thị hiếu của bản thân. Và họ đi theo những con đường ít bị phản kháng nhất, ngay cả khi phải trả giá đắt cho điều đó. Vào những năm 2000, hàng triệu doanh nghiệp và nhân viên chính phủ của Mỹ một ngày thức dậy và nhận ra mình không còn cần ghi danh đăng ký các chương trình hưu trí, thay vào đó họ được ghi danh tự động. Có lẽ họ không bao giờ nhận ra sự thay đổi. Nhưng chỉ riêng điều đó đã khiến tỷ lệ tham gia các chương trình hưu trí tăng gần 30%. Đó chính là sức mạnh của cấu trúc lựa chọn. Một điều chỉnh cho cấu trúc lựa chọn của xã hội được Sunstein thực hiện khi làm việc trong chính quyền Mỹ là tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em vô gia cư có được những bữa ăn miễn phí ở trường học. Vào năm học sau khi ông rời khỏi Nhà Trắng, số lượng trẻ em nghèo được ăn trưa miễn phí tại trường tăng khoảng 40% so với trước đây, khi chúng hoặc một người trưởng thành nào đó phải tự mình hành động và đưa ra những lựa chọn để được ăn miễn phí.
________________
Ngay cả ở Canada, Don Redelmeier vẫn còn nghe thấy tiếng Amos vang lên trong đầu. Ông đã từ Stanford về nhiều năm nhưng giọng nói của Amos vẫn còn rõ ràng và quá áp đảo đến nỗi Redelmeier khó mà nghe thấy giọng của chính mình. Redelmeier không xác định được thời điểm chính xác ông cảm thấy công trình của mình cùng với Amos không phải do Amos làm hết – mà cũng có phần của Redelmeier trong đó. Cảm nhận của ông về giá trị riêng của bản thân bắt đầu bằng một câu hỏi đơn giản – về những người vô gia cư. Họ là một trở ngại có tiếng xấu đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe địa phương. Họ đến các phòng cấp cứu thường xuyên hơn cần thiết. Họ làm cạn kiệt các nguồn lực. Mọi y tá ở Toronto đều biết điều này: Nếu bạn thấy một người vô gia cư đi vào, hãy đuổi họ ra khỏi cửa nhanh nhất có thể. Redelmeier băn khoăn về sự khôn ngoan của chiến lược đó.
Và thế là vào năm 1991, ông tạo ra một thí nghiệm. Ông sắp xếp một lượng lớn sinh viên đại học muốn trở thành bác sĩ được cấp các mã xanh1 của bệnh viện cùng một chỗ ngủ gần phòng cấp cứu. Công việc của họ là hỗ trợ ở tiền sảnh cho dân vô gia cư. Khi một người không nhà cửa vào phòng cấp cứu, họ sẽ chăm lo mọi nhu cầu của anh ta. Cho anh ta uống nước trái cây và ăn bánh sandwich, ngồi xuống và nói chuyện cùng, giúp đỡ sắp xếp để anh ta được chăm sóc y tế. Các sinh viên làm việc miễn phí. Họ rất thích điều đó: Họ được giả vờ làm bác sĩ. Nhưng họ chỉ phục vụ một nửa số người vô gia cư đi vào bệnh viện. Nửa còn lại thường xuyên bị cung cấp dịch vụ qua loa và tùy tiện bởi đội ngũ điều dưỡng. Rồi sau đó, Redelmeier theo dõi việc sử dụng hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Toronto của tất cả những người vô gia cư từng đến bệnh viện của ông. Không ngạc nhiên, nhóm người nhận được dịch vụ hỗ trợ tiền sảnh chu đáo sẽ có xu hướng quay lại bệnh viện đó thường xuyên hơn một chút so với nhóm người thiếu may mắn. Điều bất ngờ là việc họ sử dụng hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Toronto đã giảm xuống. Khi những người vô gia cư cảm nhận mình được một bệnh viện chăm sóc, họ sẽ không tìm kiếm các bệnh viện khác. Họ nói: “Thế là tốt nhất với tôi rồi”. Toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe của Toronto đã phải trả giá vì thái độ đối với người vô gia cư.
1. Các bệnh viện thường sử dụng tên mã để thông báo cho nhân viên về trường hợp khẩn cấp hoặc sự kiện khác. Mã xanh nghĩa là có một trường hợp khẩn cấp y tế xảy ra trong bệnh viện. (ND)
Một phần của khoa học tốt là nhìn thấy những gì người khác có thể thấy nhưng suy nghĩ về những điều chưa ai nói ra. Amos từng nói như vậy với Redelmeier và điều này đã đánh động tâm trí ông. Đến giữa thập niên 1990, bằng nhiều cách thức gây sửng sốt, Redelmeier đón nhận những thứ mọi người có thể nhìn nhận và suy nghĩ để nói ra chuyện chưa ai đề cập. Chẳng hạn, một ngày nọ, ông nhận được cuộc gọi từ một bệnh nhân AIDS đang phải chịu những tác dụng phụ của thuốc. Giữa chừng cuộc điện thoại, bệnh nhân ngắt lời ông và nói: “Xin lỗi, bác sĩ Redelmeier, tôi phải cúp máy đây. Tôi vừa bị tai nạn”. Người này nói chuyện điện thoại với ông trong lúc lái xe. Redelmeier thắc mắc: Liệu nói chuyện qua điện thoại di động trong lúc lái xe có làm gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn không?
Năm 1993, ông cùng nhà thống kê Robert Tibshirani của Đại học Toronto tạo ra một nghiên cứu phức tạp nhằm trả lời câu hỏi trên. Nghiên cứu do họ viết ra, vào năm 1997, đã chứng minh rằng nói chuyện qua điện thoại di động trong khi lái xe cũng nguy hiểm như khi lái xe mà nồng độ cồn trong ngưỡng cho phép. Một tài xế nói chuyện điện thoại có nguy cơ va chạm xe cao gấp 4 lần một người không làm thế, dù anh ta có cầm điện thoại bằng tay hay không. Nghiên cứu đó – là nghiên cứu đầu tiên thiết lập một cách sát sao mối liên hệ giữa điện thoại di động với tai nạn xe – đã thúc đẩy những lời kêu gọi về ban hành quy định trên toàn thế giới. Sẽ cần một nghiên cứu nữa, thậm chí còn phức tạp hơn nhằm xác định nó cứu được bao nhiêu nghìn mạng người.
Nghiên cứu cũng kích thích sự quan tâm của Redelmeier đến những gì xảy ra bên trong tâm trí của một người ngồi sau tay lái. Các bác sĩ ở Trung tâm điều trị chấn thương Sunnybrook cho rằng công việc của họ bắt đầu khi những người bị thương trên Cao tốc 401 cạnh đó đến phòng cấp cứu. Redelmeier nghĩ rằng y học thật điên rồ nếu không tấn công vấn đề ngay tại nguồn gốc của nó. 1,2 triệu người trên hành tinh chết mỗi năm vì tai nạn xe cộ và gấp nhiều lần số đó tàn tật cả đời. “Có 1,2 triệu người chết một năm trên toàn thế giới”, Redelmeier nói. “Mỗi ngày ở Nhật Bản có một cơn sóng thần. Khá cao đối với một nguyên nhân tử vong mà 100 năm trước chưa ai biết đến”. Khi thực hành sau tay lái, phán đoán của con người tạo ra những hậu quả không thể bù đắp: ý tưởng đó giờ đây đang thu hút Redelmeier. Não bộ có giới hạn. Có những khoảng trống trong sự chú ý của chúng ta. Tâm trí xoay xở để ta không thấy được những khoảng trống ấy. Chúng ta nghĩ mình biết những thứ mà mình thực ra không biết. Chúng ta nghĩ mình an toàn khi đang gặp nguy hiểm. “Đối với Amos, đây là một trong các bài học cốt lõi”, Redelmeier nói. “Đó không phải là do con người nghĩ họ hoàn hảo. Không, không: họ có thể mắc lỗi. Đó là vì họ không đánh giá cao mức độ dễ mắc lỗi của bản thân. ‘Tôi đã uống 3-4 ly. Chắc tôi giảm 5% minh mẫn’. Không! Thật ra bạn giảm minh mẫn đến 30%. Đây là nhầm lẫn dẫn tới 10.000 tai nạn chết người ở Mỹ mỗi năm”.
Đôi lúc việc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn còn dễ hơn chứng minh bạn đã thực hiện điều đó.
Amos cũng nói như vậy. “Amos cho phép mọi người chấp nhận lỗi con người”, Redelmeier nói. Đó là cách Amos làm cho thế giới này tốt đẹp hơn mặc dù đó là điều không thể chứng minh. Tinh thần ấy của Amos giờ đây hiện diện trong mọi việc Redelmeier làm. Nó xuất hiện trong bài báo của ông viết về những nguy hiểm của việc vừa lái xe vừa nói chuyện điện thoại mà Amos đã đọc và bình luận. Đó là bài báo Redelmeier viết khi nhận tin Amos qua đời.
________________
Amos nói cho rất ít người biết ông sắp chết, còn với những người được báo tin, ông bảo họ đừng nói nhiều với ông về điều đó. Ông nhận được thông tin vào tháng 2 năm 1996. Kể từ đó, ông nói về cuộc đời mình ở thì quá khứ. “Ông ấy gọi cho tôi khi bác sĩ nói đời ông sắp hết”, Avishai Margalit nói. “Tôi đến gặp ông. Và Amos đón tôi từ sân bay. Chúng tôi tới Palo Alto. Rồi chúng tôi dừng lại trên đường, ngắm cảnh và trò chuyện về sự sống và cái chết. Kiểm soát được cái chết của mình là điều quan trọng đối với Amos. Cảm giác như không phải ông đang nói về mình. Không phải về cái chết của mình. Có một sự xa cách khắc kỷ đáng kinh ngạc. Ông nói: ‘Cuộc đời là một cuốn sách. Cuốn sách ngắn không có nghĩa nó không hay. Nó là một cuốn sách rất hay’”. Amos dường như hiểu rằng cái chết sớm là cái giá của việc làm một chiến binh Sparta.
Tháng 5, Amos giảng bài lần cuối cùng tại Đại học Stanford về những ngụy biện thống kê trong bóng rổ chuyên nghiệp. Vốn là sinh viên sau đại học của Amos, cũng là người cộng tác với ông, Craig Fox hỏi ông có muốn ghi hình bài giảng không. “Thầy suy nghĩ rồi nói: ‘Không, tôi nghĩ là không’”, Fox nhớ lại. Amos vẫn không thay đổi lề thói làm việc thường ngày, hay thậm chí là các tương tác với những người xung quanh ông theo mọi nhẽ, trừ một việc. Đó là lần đầu tiên ông nói về trải nghiệm chiến tranh của mình. Chẳng hạn, ông kể cho Varda Liberman nghe chuyện ông cứu mạng một người lính đã ngất xỉu trên đầu bọc phá gậy. “Ông ấy nói về sự kiện này theo kiểu nó đã định hình cả cuộc đời ông”, Liberman nói. “Amos bảo: ‘Một khi đã làm như vậy, tôi cảm thấy phải giữ hình ảnh của một anh hùng. Tôi đã làm như thế, và giờ tôi phải sống cho xứng’”.
Hầu hết những người Amos tương tác thậm chí chẳng bao giờ nghi ngờ ông đau ốm. Khi một sinh viên sau đại học nhờ ông hướng dẫn luận văn, Amos chỉ nói: “Tôi sẽ rất bận trong vài năm tới” và bảo anh ta về. Một vài tuần trước khi qua đời, ông gọi cho người bạn cũ Yeshu Kolodny ở Israel. “Ông ấy rất nôn nóng, điều chưa từng thấy”, Kolodny nhớ lại. “Amos nói: ‘Nghe này, Yeshu, tôi sắp chết rồi. Tôi không coi đó là bi kịch. Nhưng tôi không muốn nói chuyện với ai. Tôi cần anh gọi điện cho bạn bè của chúng ta và báo cho họ biết – và bảo họ đừng gọi điện hay đến thăm nhé’”. Về nguyên tắc không thích người đến thăm, Amos chừa một ngoại lệ cho Varda Liberman, người đang cùng ông hoàn thành cuốn giáo trình. Thêm một ngoại lệ khác là Chủ tịch trường Stanford, Gerhard Casper – nhưng chỉ vì ông đã nghe đồn về kế hoạch của Stanford để tưởng niệm ông, với một loạt bài giảng hoặc một hội thảo mang tên ông. “Amos nói với Casper: ‘Ngài có thể làm bất cứ thứ gì ngài muốn’”, Liberman nhớ lại. “’Nhưng tôi xin ngài, đừng tổ chức một hội thảo mang tên tôi để rồi những kẻ tầm thường sẽ toàn nói về công trình của họ và việc nó ‘liên quan’ thế nào đến công trình của tôi. Chỉ cần gắn tên tôi lên một tòa nhà. Hay một căn phòng. Hoặc một băng ghế. Ngài có thể gắn tên tôi lên bất cứ thứ gì đứng im’”.
Ông nhận nghe rất ít cuộc gọi. Một cuộc đến từ nhà kinh tế học Peter Diamond. “Tôi biết tin ông ấy sắp qua đời”, Diamond nói. “Và tôi biết ông ấy sẽ không nghe điện thoại. Nhưng tôi vừa hoàn thành báo cáo cho Hội đồng Giải thưởng Nobel”. Diamond muốn Amos biết tên ông có trong một danh sách ngắn cho giải Nobel kinh tế học, sẽ được trao vào mùa thu. Nhưng Giải thưởng Nobel chỉ được trao cho người còn sống. Không nhớ Amos đã nói gì về chuyện đó, nhưng Varda Liberman có mặt trong phòng khi Amos nhận cuộc gọi. “Tôi cảm ơn anh rất nhiều vì đã cho tôi biết”, bà nghe Amos nói. “Tôi có thể đảm bảo với anh rằng Giải thưởng Nobel không nằm trong danh sách những điều tôi sẽ bỏ lỡ”.
Ông trải qua tuần lễ cuối cùng trong đời tại nhà cùng vợ và các con. Ông dùng những thứ thuốc ông cần để chấm dứt cuộc đời, khi ông cảm thấy chẳng còn đáng sống nữa, và đã tìm ra cách để các con biết cha chúng định làm gì mà không cần nói ra. (“Con nghĩ sao về cái chết không đau đớn?”, ông bình thản hỏi con trai Tal). Đến giai đoạn cuối, miệng ông chuyển màu xanh, cơ thể phù nề. Ông không bao giờ dùng thuốc giảm đau. Ngày 29 tháng 5, Israel tổ chức cuộc bầu cử Thủ tướng và nhà quân phiệt Benjamin Netanyahu đã đánh bại Shimon Peres. “Vậy là đời tôi sẽ không được thấy hòa bình”, Amos nói lúc nghe tin. “Nhưng tôi sắp chẳng thể nhìn thấy hòa bình trong cuộc đời”. Đến khuya ngày 1 tháng 6, các con ông nghe thấy từ phòng ngủ cha mình vọng ra tiếng bước chân và giọng ông nói. Nói chuyện, có lẽ ông độc thoại. Sáng ngày 2 tháng 6 năm 1996, con trai của Amos là Oren bước vào phòng cha và thấy ông đã qua đời.
Đám tang của ông thật mờ nhạt. Nó có vẻ gì đó hư ảo. Những người tham dự có thể mường tượng ra nhiều thứ, nhưng họ khó hình dung Amos Tversky đã chết. “Cái chết không tiêu biểu cho Amos”, bạn ông là Paul Slovic nói. Các đồng nghiệp tại trường Stanford, vốn nghĩ Danny là cố nhân, đã sốc khi ông xuất hiện và tiến lại phía trước giáo đường (“Cứ như nhìn thấy ma vậy”, một người nói). “Ông ấy có vẻ như mất phương hướng, gần như bàng hoàng”, Avishai Margalit nhớ lại. “Có cảm giác về một sự dở dang”. Trong căn phòng toàn người mặc lễ phục đen, Danny mặc áo sơmi dài tay, giống như dự tang lễ của người Israel. Điều đó khiến mọi người thấy kỳ quặc: Ông dường như không biết mình đang ở đâu. Nhưng rồi ai cũng thấy hợp lý khi Danny là người đọc bài điếu văn chính. “Rõ ràng ông ấy là người phù hợp để phát biểu”, Margalit kể lại.
________________
Các cuộc trò chuyện cuối cùng của họ hầu như chỉ nói về công việc. Nhưng không phải tất cả. Amos có những điều muốn nói với Danny. Ông muốn bảo với bạn mình rằng không có ai khiến ông đau khổ nhiều hơn trong cuộc đời. Để ngăn bản thân không xúc động theo, Danny đã cố cắn răng không nói gì. Ông cũng nói rằng Danny, là người ông muốn trò chuyện nhiều nhất ngay cả bây giờ vẫn thế. “Cậu ấy nói tôi là người mà cậu nói chuyện thoải mái nhất, vì tôi không sợ cái chết”, Danny hồi tưởng. “Cậu ấy biết tôi sẵn sàng chết bất cứ lúc nào”.
Khi Amos sắp qua đời, Danny nói chuyện với ông gần như mỗi ngày. Danny bày tỏ nỗi băn khoăn về mong muốn được sống như xưa của Amos và việc ông không thích những trải nghiệm tươi mới. “Tôi sẽ làm gì đây, đi tới Bora-Bora ư?”, Amos đáp. Từ khoảnh khắc đó, Danny không còn mong muốn đến Bora-Bora nữa. Việc nhắc đến cái tên này sẽ mãi khiến ông nhớ đến một nỗi lo lắng. Sau khi Amos nói với Danny rằng mình sắp chết, Danny đã đề nghị họ viết gì đó cùng nhau – một lời giới thiệu cho tập hợp các nghiên cứu cũ của họ. Amos qua đời trước khi kịp hoàn thành. Trong cuộc trò chuyện cuối cùng của họ, Danny nói với Amos rằng ông sợ nghĩ đến việc viết thứ gì đó dưới tên Amos mà Amos có thể sẽ không đồng ý. “Tôi nói: ‘Tôi không tin tưởng những gì mình sắp làm’”, Danny lên tiếng. “Và ông ấy nói: ‘Cậu chỉ cần tin tưởng mô hình tôi trong tâm trí cậu’”.
Danny vẫn ở lại Princeton, nơi ông đã tới để thoát khỏi Amos. Sau khi Amos mất, điện thoại của Danny đổ chuông nhiều hơn bao giờ hết. Amos có thể đã ra đi, nhưng công trình của họ còn sống mãi và nó đang ngày càng thu hút sự chú ý. Khi nói về nó, người ta không còn gọi là “Tversky và Kahneman”. Mọi người bắt đầu gọi nó là “Kahneman và Tversky”. Thế rồi, vào mùa thu năm 2001, Danny nhận lời mời đến thăm Stockholm và phát biểu tại một hội nghị. Các thành viên của Ủy ban Nobel sẽ tham dự cùng với các nhà kinh tế học hàng đầu. Giống như Danny, tất cả diễn giả đều đang được xét trao giải Nobel. “Đó là một buổi diễn thử”, Danny nói. Ông làm việc cật lực để chuẩn bị bài nói chuyện, thứ mà ông biết nếu chỉ tập trung vào công trình ông đã thực hiện cùng Amos thì chưa đủ. Một số người bạn của ông thấy điều đó thật kỳ cục, vì chính công trình chung của ông với Amos đã thu hút sự quan tâm của Ủy ban Nobel. “Tôi được mời tới vì công trình nghiên cứu chung”, Danny nói, “nhưng tôi cần thể hiện rằng một mình tôi cũng đủ giỏi. Vấn đề không phải là công trình có xứng đáng không? Mà là tôi có xứng đáng không?”
Thường thì Danny không chuẩn bị các bài nói chuyện. Có lần ông phát biểu tại lễ phát bằng của trường đại học mà hoàn toàn nói vo và dường như không ai nhận ra điều đó cho đến khi ông đứng trên bục chờ được xướng tên. Bài nói chuyện của ông ở Stockholm đã được chuẩn bị thực sự kỹ. “Tôi cảm thấy lo lắng đến mức bản thân phải mất nhiều thời gian mới chọn đúng màu nền cho các slide thuyết trình”, ông nói. Chủ đề của ông là niềm hạnh phúc. Ông nói về những ý tưởng mình hối tiếc nhất vì đã không cùng Amos khám phá. Dự đoán của con người về hạnh phúc khác biệt ra sao với hạnh phúc họ trải nghiệm, với hạnh phúc họ ghi nhớ. Bạn có thể đo lường những thứ này bằng cách nào – chẳng hạn bằng cách hỏi mọi người trước, trong và sau các cuộc nội soi đại tràng đau đớn. Nếu hạnh phúc quá dễ thay đổi hình hài, nó sẽ nhạo báng các mô hình kinh tế vốn dựa vào ý tưởng con người muốn tối đa hóa “độ thỏa dụng” của mình. Chính xác thì điều gì đã được tối đa hóa?
Sau buổi nói chuyện, Danny về Princeton. Ông nghĩ nếu mình có được trao Giải Nobel thì cũng sẽ là năm sau. Họ đã nhìn thấy và lắng nghe ông nói trực tiếp. Họ đã đánh giá ông có xứng đáng hay không.
Tất cả những người có tiềm năng thắng giải đều chờ đợi đến ngày họ sẽ nhận được một cuộc điện thoại từ Stockholm vào buổi sáng sớm, nếu họ được chọn. Ngày 9 tháng 10 năm 2002, Danny và Anne ngồi trong nhà ở Princeton, nửa chờ đợi nửa không. Danny thực ra đang viết thư giới thiệu cho một trong các sinh viên sau đại học xuất sắc của mình, Terry Odean. Ông thực lòng chẳng nghĩ nhiều về những gì mình sẽ làm nếu giành Giải Nobel. Hay nói đúng hơn là ông cho phép bản thân nghĩ quá nhiều về chuyện đó. Là một đứa trẻ sống qua thời chiến tranh, ông đã nuôi dưỡng một đời sống giả tưởng tích cực. Ông hình dung ra các cảnh tượng tỉ mỉ mà ông là trung tâm. Chẳng hạn, ông tưởng tượng mình đơn thương độc mã thắng cuộc và đặt dấu chấm hết cho nó. Nhưng bởi ông là Danny, nên ông đã đặt ra một quy tắc cho đời sống giả tưởng của mình: ông không bao giờ mơ tưởng chuyện có thể xảy ra. Ông thiết lập nguyên tắc cá nhân này cho sự tưởng tượng của mình vào lúc nhận ra rằng, sau khi tưởng tượng về thứ gì đó có thể thực sự xảy ra, ông sẽ đánh mất động lực hiện thực hóa nó. Những tưởng tượng của ông sống động đến nỗi “cứ như thể trải qua thật” và nếu bạn đã thật sự được như thế thì tại sao phải nhọc công để có nó? Ông sẽ không bao giờ chấm dứt cuộc chiến tranh đã giết chết cha mình, vậy có sao đâu nếu ông tạo ra một tình huống giả tưởng trong đó ông đã một mình chiến thắng?
Danny đã không cho phép bản thân hình dung ra những gì ông sẽ làm nếu được trao Giải Nobel. Cũng may, vì điện thoại không reo. Có lúc Anne đứng dậy và nói, giọng hơi buồn: “Ôi chà”. Năm nào cũng có người thất vọng. Mỗi năm đều có những người lớn tuổi chờ đợi bên điện thoại. Anne đi ra ngoài tập thể dục và để Danny ở lại một mình. Ông luôn giỏi trong việc chuẩn bị đón nhận việc chẳng có được điều mình mong muốn, và xét một cách tổng thể, đây cũng không phải một thất bại lớn. Ông hài lòng về mình trước kia và về những gì đã làm. Giờ đây, ông có thể yên chí tưởng tượng mình sẽ làm gì nếu giành Giải Nobel. Ông sẽ đưa vợ con Amos đi cùng. Ông sẽ ca tụng Amos trong bài diễn thuyết nhận Giải Nobel. Ông sẽ đưa Amos tới Stockholm cùng mình. Ông sẽ làm cho Amos những điều Amos sẽ không bao giờ làm cho ông. Có nhiều điều Danny có lẽ sẽ làm, nhưng bây giờ ông còn nhiều việc khác. Ông tiếp tục viết thư giới thiệu rất nhiệt tình cho Terry Odean.
Rồi chuông điện thoại reo.