Logic Của Tâm Trí

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11. Quy luật hoàn tác

❊ ❊ ❊

Cuối những năm 1970, không lâu sau khi trở thành quản lý Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Massachusett, Miles Shore nhận ra mình gặp phải một vấn đề. Trung tâm là một bệnh viện đào tạo cho trường Đại học Y Harvard, nơi Shore là Giảng viên Bullard của ngành tâm thần học. Khi vừa nhận công việc quản lý, ông phải đối mặt với một quyết định: liệu có nên thăng chức cho nhà nghiên cứu y học J. Allan Hobson hay không. Chuyện đó lẽ ra cũng không quá khó khăn. Trong một loạt nghiên cứu nổi tiếng, Hobson đã vùi dập quan điểm của Freud cho rằng các giấc mơ xuất phát từ những khao khát vô thức, bằng cách chứng minh rằng chúng thực ra bắt nguồn từ một phần của não bộ vốn không liên quan đến khao khát đó. Ông đã chứng minh thời điểm cùng thời lượng của các giấc mơ là đều đặn và có thể dự báo, điều này cho thấy giấc mơ phản ánh về trạng thái tâm lý của con người ít hơn về hệ thần kinh. Thêm nữa, nghiên cứu của Hobson cho rằng những ai từng thuê các nhà phân tâm học tìm ra ý nghĩa trong những trạng thái vô thức của mình chỉ tổ phí phạm tiền bạc.

Hobson đang thay đổi hiểu biết của con người về những điều đã xảy đến với não bộ trong giấc ngủ – nhưng ông không làm một mình. Đó là vấn đề của Miles Shore: Hobson không một mình viết ra các nghiên cứu nổi tiếng về giấc mơ mà kết hợp cùng một cộng sự tên Robert McCarley. “Rất khó để vận động thăng chức cho những người thực hiện nghiên cứu cộng tác”, Shore nói. “Vì hệ thống căn cứ vào cá nhân. Nó luôn là: Người này đã làm gì để thay đổi ngành của mình?” Shore muốn thăng chức cho Hobson nhưng ông phải tranh luận về trường hợp này trước một hội đồng đầy hoài nghi. “Họ cơ bản không muốn thăng chức cho bất kỳ ai”, Shore nói. Trước trường hợp Hobson, hội đồng hỏi liệu Shore có thể chứng minh chính xác Hobson đã đóng góp bao nhiêu cho công trình chung với McCarley. “Họ hỏi tôi từng người đã làm gì”, Shore nhớ lại. “Và tôi đến gặp họ [Hobson và McCarley] để hỏi: “Mỗi người trong hai anh đã làm những gì?”. Họ đáp: “Mỗi người trong chúng tôi làm gì ư? Chúng tôi không biết. Đó là sản phẩm chung”. Shore ép họ một chút cho tới khi ông nhận ra ý họ muốn nói thật sự là gì: Họ không biết ai xứng đáng được nhận công về ý tưởng nào. “Thật sự rất thú vị”, Shore nói.

Nó quá thú vị đến độ Shore quyết định nên có một cuốn sách về chuyện đó. Ông bắt đầu tìm kiếm các cặp đôi nhiều ý tưởng – những con người từng ở bên nhau trong ít nhất 5 năm và tạo ra những công trình lý thú. Trong cuốn sách, ông đã phỏng vấn một cặp diễn viên hài; 2 nghệ sĩ piano hòa tấu bắt đầu trình diễn cùng nhau bởi một trong hai mắc chứng sợ sân khấu; 2 người phụ nữ viết truyện trinh thám dưới cái tên “Emma Lathen” và bộ đôi nhà dinh dưỡng học nổi tiếng người Anh, McCance và Widdowson, những người gắn bó khăng khít đến mức đã bỏ cả tên mình khỏi các bìa sách. “Họ rất dễ cáu kỉnh về quan niệm bánh mì đen giàu dinh dưỡng hơn bánh mì trắng”, Shore nhớ lại. “Họ đã thực hiện nghiên cứu mà đến tận năm 1934 mới hoàn thành – vậy tại sao mọi người không ngừng phí phạm thời gian với quan niệm đó? Hầu như mọi cặp đôi hợp tác làm việc mà Shore liên hệ đều tò mò về mối quan hệ của mình đủ để mong muốn nói về nó. Chỉ trừ “một bộ đôi nhà vật lý học tầm thường” cùng cặp vũ công khiêu vũ trên băng Torvill và Dean, sau khi họ đã đùa cợt về việc tham gia. Trong số những người đồng ý gặp Miles Shore có Amos Tversky và Daniel Kahneman.

Shore gặp Danny và Amos đi cùng nhau vào tháng 8 năm 1983 tại thành phố Anaheim, California, nơi họ tham dự cuộc họp của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ. Danny giờ đã 49 tuổi và Amos 46. Họ cùng nhau nói chuyện với Shore trong nhiều giờ đồng hồ, sau đó từng người gặp riêng thêm nhiều giờ nữa. Họ kể cho Miles Shore từ đầu đến cuối về lịch sử hợp tác, bắt đầu với niềm hứng khởi thuở ban đầu của mình. “Lúc đầu, chúng tôi đã có thể trả lời một câu hỏi vốn chưa hề được hỏi”, Amos bảo với Shore. “Chúng tôi có thể đưa tâm lý học ra ngoài phạm vi phòng thí nghiệm giả lập và giải quyết chủ đề từ những kinh nghiệm xung quanh mình”. Cố gắng buộc họ đưa ra quyết định về câu hỏi họ nghĩ mình đang trả lời, Shore hỏi liệu công trình của họ có gây ảnh hưởng tới lĩnh vực trí tuệ nhân tạo mới mẻ và đang phát triển hay không. “Anh biết đấy, không hẳn đâu”, Amos nói. “Chúng tôi nghiên cứu sự ngu ngốc tự nhiên thay vì trí tuệ nhân tạo”.

Nhà tâm thần học của Harvard nghĩ Danny và Amos có nhiều điểm tương đồng với các cặp đôi thành công khác. Chẳng hạn như cách họ tạo ra thứ giống như một câu lạc bộ riêng tư độc quyền chỉ gồm hai người. “Họ phát điên vì nhau, chẳng hề nghĩ suy trước sau”, Shore nói. “Họ không phát điên vì những người khác. Họ ghét đám biên tập viên”. Giống như một số cặp đôi giàu ý tưởng khác, sự cộng tác đã gây căng thẳng cho các mối quan hệ thân thiết khác của họ. “Việc cộng tác tạo ra áp lực lớn cho cuộc hôn nhân của tôi”, Danny thú nhận. Giống như các cặp đôi khác, họ không biết từng cá nhân đóng góp bao nhiêu. “Anh hỏi ai làm cái gì à?”, Danny nói. “Hồi đó chúng tôi không biết rõ. Điều đó thật tuyệt”. Shore nghĩ cả Amos và Danny đều nhận ra hay có vẻ nhận ra họ cần nhau nhiều thế nào. “Có những thiên tài làm việc độc lập”, Danny nói. “Tôi không phải là một thiên tài. Tversky cũng thế. Cùng nhau, chúng tôi trở nên nổi bật”.

Điều khiến Amos và Danny khác hẳn so với 19 cặp đôi còn lại Shore phỏng vấn cho cuốn sách chính là họ sẵn lòng nói về các vấn đề trong mối quan hệ giữa hai người. “Khi tôi hỏi về các mâu thuẫn, hầu như ai cũng lờ đi”, Shore nói. “Một số cặp chẳng muốn thừa nhận chuyện có nảy sinh mâu thuẫn”. Amos và Danny thì không. Hay nói chính xác hơn là Danny. “Thật khó khăn kể từ lúc tôi kết hôn và chúng tôi chuyển tới lục địa này”, ông thú nhận. Amos vẫn lẩn tránh, nhưng đa số cuộc trò chuyện của Shore với Danny và Amos đều kết thúc bằng việc nói về nhiều vấn đề họ từng gặp phải kể từ thời điểm rời Israel 6 năm về trước. Có Amos trong phòng, Danny phàn nàn hồi lâu cách hiểu của công chúng về sự cộng tác giữa họ quá khác so với thực tế. “Tôi được cho là người chăm sóc cậu ấy, trong khi không phải”, ông cất lời, như nói với Amos hơn là Shore. “Thực ra tôi cộng tác không tốt bằng. Đóng góp của cậu ấy rõ ràng có chất lượng. Phân tích chính thống không phải điểm mạnh của tôi và điều đó thể hiện rất rõ trong công trình chung. Đóng góp của tôi ít đặc thù hơn”. Amos nói ngắn gọn hơn về trách nhiệm của những người khác khi quy chụp về tình trạng đóng góp không cân xứng của họ. “Đánh giá công trạng rất khó”, Amos nói. “Có nhiều tổn thương xảy đến và thế giới bên ngoài chẳng giúp ích gì cho sự cộng tác của chúng tôi. Mọi người thường xuyên soi mói và quả quyết có một người lép vế hơn. Đó là một trong các quy luật của tính cân bằng nhưng sự cộng tác chung không phải một cấu trúc cân bằng. Nó không phải một cấu trúc ổn định. Mọi người không hài lòng về nó”.

Ngồi riêng với nhà tâm thần học của Harvard, Danny nói thêm. Ông ngụ ý mình không tin rằng thế giới bên ngoài gây ra các vấn đề trong mối quan hệ của họ. “Những lợi lộc trong thành công về học thuật là chuyện một người sau này được nhận toàn bộ hoặc phần nhiều công trạng”, ông nói. “Đó là một sự độc ác cố hữu. Tversky không thể kiểm soát điều này, mặc dù tôi có thắc mắc liệu cậu ấy đã hết sức kiểm soát nó hay chưa”. Sau đó ông thẳng thắn về cảm nghĩ của bản thân khi Amos nhận phần lớn vinh quang cho công trình họ cùng nhau thực hiện. “Tôi gần như là cái bóng của cậu ấy theo cách không tiêu biểu cho sự tương tác giữa chúng tôi”, ông nói. “Điều đó tạo ra một nỗi căng thẳng nhất định. Có sự đố kỵ! Thật khó chịu. Tôi ghét cảm giác đố kỵ… Có lẽ tôi đang nói quá nhiều rồi”.

Shore rời khỏi cuộc phỏng vấn với cảm giác Amos và Danny vừa trải qua một quãng thời gian sóng gió, nhưng điều tồi tệ nhất đã qua. Sự cởi mở của bộ đôi về các vấn đề của mình được Shore coi là một tín hiệu tốt. Họ không hề cãi cự nhau trong suốt cuộc phỏng vấn; thái độ của họ đối với mâu thuẫn khác hẳn so với các cặp đôi khác ông từng trò chuyện. “Họ cư xử theo phong thái của người Israel”, Shore nói. “Chúng tôi là người Israel, vì thế chúng tôi quát vào mặt nhau”. Đặc biệt, Amos tỏ vẻ lạc quan rằng ông và Danny sẽ tiếp tục làm việc cùng nhau nhiều như trước kia. Danny và Amos đồng tình rằng sẽ tốt hơn nếu Hiệp hội Tâm lý học Mỹ trao cho cả hai người giải thưởng Cống hiến Khoa học Cao quý. “Tôi đã sống trong nỗi lo sợ là cậu ấy có thể nhận nó một mình”, Danny thú nhận với Shore. “Điều đó có thể là một thảm họa và tôi không thể chấp nhận chuyện đó một cách nhã nhặn”. Giải thưởng ấy đã xoa dịu một nỗi đau nào đó. Hoặc với Miles Shore thì có vẻ là vậy.

Thực ra, Shore không bao giờ viết cuốn sách về các cặp đôi giàu ý tưởng. Nhưng nhiều năm sau, ông gửi cho Danny một cuốn băng ghi âm cuộc trò chuyện của họ. “Tôi đã nghe nó”, Danny nói, “và nó thể hiện rất rõ rằng chúng tôi đã kết thúc”.

________________

Vào cuối năm 1977, sau khi Danny nói sẽ không quay về Israel, khắp giới học thuật đồn rằng Amos Tversky cũng có thể ra đi. Thị trường việc làm cho các giảng viên đại học vốn thường chuyển động chậm chạp và đầy miễn cưỡng, nhưng trong trường hợp này, nó bất chợt hành động mau lẹ. Giống như một gã béo cực kỳ thong thả đang nằm trên đi-văng xem tivi bỗng nhận ra nhà mình đang cháy. Đại học Harvard nhanh chóng mời Amos về làm giảng viên cơ hữu, mặc dù họ phải mất vài tuần để thu xếp thêm chức giáo sư trợ lý cho Barbara. Đại học Michigan, với lợi thế quy mô lớn, ra sức thu xếp 4 suất giáo sư cơ hữu – để dành chỗ cho Danny, Anne, Barbara và kéo cả Amos về. Đại học California ở Berkeley, nơi từng khẳng định Danny quá già khi ông thương lượng công việc, nay lại sẵn sàng mời Amos về làm. Nhưng chẳng có nơi nào hành động kịch tính như Stanford.

Nhà tâm lý học Lee Ross, một ngôi sao trẻ triển vọng tại một khoa của Stanford, đảm nhận nhiệm vụ. Ông biết các đại học công lập lớn ở Mỹ muốn có Amos đều chấp nhận mời cả Barbara, Danny và Anne. Trường Stanford nhỏ hơn và không có 4 vị trí để chào mời. “Chúng tôi tìm ra hai việc mà các trường kia không thực hiện được”, Ross nói. “Một là mời sớm, hai là thực hiện nhanh. Chúng tôi muốn thuyết phục ông ấy đến Stanford và cách tốt nhất là cho ông thấy chúng tôi hành động mau lẹ thế nào”.

Chuyện xảy ra tiếp theo, Ross tin tưởng, là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử trường đại học Mỹ này. Vào buổi sáng biết tin Amos đang tìm việc, Ross đã triệu tập khoa Tâm lý của Stanford. “Tôi trình bày trường hợp của Amos”, Ross nói. “Tôi kể cho họ nghe một câu chuyện kinh điển của người Do Thái. Có một nhân vật, một anh chàng độc thân đủ tư cách cưới vợ. Một chàng độc thân hạnh phúc. Người mai mối tới gặp anh ta và nói: ‘Nghe đây, tôi có một người phù hợp với anh’. ‘À, tôi không chắc lắm,’ chàng độc thân nói. ‘Cô ấy thật sự đặc biệt,’ người mai mối nói. ‘Sao, cô ấy xinh đẹp à?’, chàng độc thân hỏi. ‘Xinh đẹp ư? Trông cô ấy giống như Sophia Loren phiên bản trẻ vậy’. ‘Sao, nhà cô ấy nhiều tiền không?’, chàng độc thân lại hỏi. ‘Tiền ư? Cô ấy là người thừa kế tài sản của gia tộc Rothschild’. ‘Thế thì chắc hẳn cô ấy đần độn,’ người độc thân nói. ‘Đần ư? Cô ấy được đề cử giải Nobel cả vật lý và hóa học’. ‘Tôi đồng ý!’, chàng độc thân nói. Được thể, người mai mối liền đáp: ‘Tốt, chúng ta đã có một nửa mối duyên!’”. Ross nói với cả khoa của trường Stanford: “Sau khi tôi kể cho các bạn nghe về Amos, các bạn sẽ nói: ‘Tôi đồng ý!’ và tôi sẽ bảo: ‘Tôi lấy làm tiếc phải nói với các bạn là chúng ta mới có một nửa mối duyên’”.

Ngay cả đối với Ross, ông cũng không rõ việc đưa ra lời chào mời có cần thiết hay không. “Bất cứ ai tình cờ tìm được việc đều sẽ chúc mừng bản thân về sự phán đoán đúng đắn và thấu hiểu sâu sắc việc đánh giá cao công việc”, Ross nói. “Nhưng ai cũng hiểu điều đó”. Cùng ngày, khoa Tâm lý trường Stanford tới gặp Hiệu trưởng và nói: Chúng tôi không có giấy tờ như thông thường. Không có khuyến nghị hay gì khác. Chỉ cần tin chúng tôi là đủ. Stanford gửi tới Amos một lời mời làm việc trọn đời vào ngay chiều hôm đó.

Sau này Amos kể cho mọi người nghe về việc chọn lựa giữa trường Harvard với Stanford, ông đã mường tượng ra nỗi hối tiếc mình sẽ nếm trải nếu chọn nơi này, bỏ nơi kia. Tại Harvard, ông sẽ nuối tiếc thời tiết cùng điều kiện sống ở Palo Alto và bực bội vì phải đi làm xa; ở Stanford, ông sẽ nuối tiếc, và chỉ thoáng qua thôi, rằng không thể giới thiệu mình là một giảng viên Harvard. Nếu chính Amos hay ai khác thấy Amos cần có Danny ở bên thì ông cũng chẳng thể hiện ra. Stanford không hề quan tâm đến Danny. “Có một vấn đề thực tế”, Ross nói. “Bạn muốn có hai người cùng làm một việc không? Và thực tế phũ phàng là chúng tôi thu được đầy đủ lợi ích từ cả Danny và Amos chỉ bằng việc thuê mỗi Amos”. Danny có lẽ mong muốn cả hai đều tới Michigan, nhưng rõ ràng Amos không muốn đến bất cứ nơi nào khác ngoại trừ Harvard hay Stanford. Sau khi bị Harvard và Stanford ngó lơ, còn Berkeley thông báo sẽ không mời mình, Danny đành chấp nhận một vị trí bên cạnh Anne tại Đại học British Columbia ở Vancouver. Ông và Amos nhất trí sẽ thay phiên bay đến thăm nhau 2 tuần một lần vào cuối tuần.

Danny vẫn đang bay bổng. “Chúng tôi cảm thấy hài lòng và vui vẻ vì đã hoàn thành lý thuyết triển vọng, bắt đầu hiểu rõ rằng chắc chắn cả hai không cảm thấy bị tổn thương”, ông nói. “Chẳng còn bóng hình nào xen giữa chúng tôi vào thời điểm đó”. Danny quan sát Amos trình bày bài nói chuyện về việc nộp hồ sơ xin việc kiểu truyền thống vào Stanford sau khi trường này mời ông về làm nhanh chưa từng thấy trong lịch sử trường. “Tôi nhận ra mình chỉ thấy tự hào vì cậu ấy”, Danny nói. “Tôi nhận ra điều đó vì đố kỵ là lẽ tự nhiên”. Khi Danny rời Palo Alto đến Vancouver để bắt đầu năm học mới 1978-1979, ông thậm chí còn nhận thức nhiều hơn về vận may thông thường của cuộc đời. Hai đứa con giờ đây đang ở đầu bên kia của thế giới, cùng với căn phòng thí nghiệm cũ của ông, một khoa đầy đồng nghiệp cũ và một xã hội Danny từng cho rằng mình thuộc về. Ông đã bỏ lại Israel một bóng ma của chính mình. “Tôi nghĩ đến bối cảnh vừa mới thay đổi cuộc đời mình”, ông nói. “Tôi đã thay vợ. Những gì trái ngược với sự thật lúc nào cũng vây bủa lấy tôi. Tôi liên tục so sánh đời mình với những chuyện có thể xảy đến”.

Trong trạng thái tâm trí kỳ lạ ấy, ông bỗng nhớ đến người cháu trai Ilan. Anh từng là một hoa tiêu 21 tuổi ngồi ghế sau trên máy bay chiến đấu Israel trong trận Yom Kippur. Sau chiến tranh, Ilan tìm gặp Danny và yêu cầu ông nghe một cuộn băng ghi âm thời chiến mà anh giữ. Trong đó, anh ngồi ở ghế sau của máy bay chiến đấu vào lúc một chiếc MiG của Ai Cập bám theo họ, sẵn sàng tấn công đối thủ. Trong băng, ta có thể nghe thấy Ilan hét lên với phi công: “Bẻ lái! Bẻ lái! Bẻ lái! Hắn đang bám đuôi chúng ta!”. Khi Ilan bật cuốn băng, Danny nhận thấy chàng thanh niên đang run lên; vì lý do nào đó, anh ta muốn người chú nghe chuyện từng xảy đến với mình. Ilan đã sống sót qua cuộc chiến, nhưng một năm rưỡi sau, vào tháng 3 năm 1975, 5 ngày trước khi xuất ngũ, Ilan hy sinh. Lóa mắt vì pháo sáng, phi công đã bay lộn ngược và đâm thẳng xuống đất.

Họ tưởng mình đang bay lên trong khi thực tế đang rơi xuống. Đó không phải là lỗi mới. Các phi công khi bay thường dễ mất phương hướng. Tai trong không được thiết kế để chịu đựng tình trạng không trọng lượng trong buồng lái khi máy bay chúc ngóc và liệng ở tốc độ 650 dặmgiờ bên trên bề mặt trái đất, cũng như tâm trí không được thiết kế để tính toán xác suất của những tình huống phức tạp. Nó tiến hóa để giúp con người giữ thăng bằng khi đứng. Những người lái máy bay rất dễ mắc ảo giác giác quan – vì thế một phi công không có công cụ để đánh giá khi bay trong mây chỉ sống sót được trong 178 giây.1

1. Thông tin kỳ lạ đó lấy từ một bài báo xuất sắc về chủ đề ảo giác của phi công do Tom LeCompte viết, đăng trên tạp chí Hàng không & Vũ trụ của viện Smithsonian. (TG)

Sau cái chết của Ilan, Danny không thể không nhận thấy sự thôi thúc muốn xóa bỏ vụ đâm máy bay trong tâm trí những người yêu quý Ilan. Nhiều câu nói của họ có lẽ đều bắt đầu bằng từ “giá như”. Giá như Ilan xuất ngũ 1 tuần trước đó. Giá như anh phụ trách lái máy bay sau khi phi công bị lóa mắt vì pháo sáng. Tâm trí con người đối mặt với tổn thất bằng cách trôi dạt vào những lối mòn tưởng tượng, nơi tổn thất không bao giờ xảy ra. Nhưng Danny nhận thấy sự trôi dạt này không hề ngẫu nhiên. Tâm trí có vẻ miễn cưỡng khi tạo ra các khả năng thay thế đối với hiện thực. Nếu Ilan vẫn còn một năm phục vụ trong Không quân khi máy bay của anh rơi thì sẽ chẳng ai nói: “Giá như anh ấy ra quân trước đó một năm”, “Giá như viên phi công bị cúm vào ngày hôm đó” hay “Giá như máy bay của Ilan không thể cất cánh do các vấn đề kỹ thuật”. Tương tự, cũng chẳng ai nói: “Giá như Israel không có Không quân”. Bất cứ điều nào trong số các phản sự thật đó cũng có thể cứu được mạng sống của anh ấy, nhưng không thứ nào trong đó xuất hiện trong tâm trí những người yêu quý anh.

Dĩ nhiên có đến cả triệu cách để tránh bất kỳ vụ đâm máy bay nào, nhưng con người dường như chỉ cân nhắc đến một vài trong số đó. Có những khuôn mẫu trong tưởng tượng do người ta tạo ra để xóa bỏ bi kịch của chàng trai trẻ kia, chúng cũng giống với những mẫu hình trong các phiên bản thay thế về cuộc đời anh diễn ra trong tâm trí Danny.

Không lâu sau khi ông tới Vancouver, Danny yêu cầu Amos gửi cho mình mọi ghi chép từ những cuộc thảo luận của họ về sự hối tiếc. Ở Jerusalem, họ dành hơn một năm để nói về các quy luật của sự hối tiếc. Họ quan tâm chủ yếu đến dự đoán của con người về cảm xúc khó chịu và dự đoán này có thể thay đổi các lựa chọn đã đưa ra như thế nào. Giờ đây Danny muốn khám phá sự hối tiếc và các cảm xúc khác từ hướng ngược lại. Ông muốn nghiên cứu cách con người xóa bỏ các sự kiện đã xảy ra. Cả ông và Amos đều nhìn ra một nghiên cứu có thể cung cấp cho công trình của họ những nội dung về cả cách phán đoán lẫn ra quyết định. “Chẳng có gì trong khuôn khổ của lý thuyết ra quyết định có thể ngăn cản việc gán độ thỏa dụng cho các tình trạng hy vọng, nhẹ nhõm hay hối tiếc, nếu chúng được xác định như những khía cạnh quan trọng của trải nghiệm hậu quả”, họ viết trong một bản ghi nhớ. “Tuy nhiên, có lý do để nghi ngờ một thiên kiến chính yếu phản bác lại sự thừa nhận ảnh hưởng thực sự của các tình trạng như vậy lên trải nghiệm… Người ta cho rằng những cá nhân trưởng thành sẽ cảm nhận được nỗi đau hay niềm vui phù hợp hoàn cảnh mà không bị ảnh hưởng tiêu cực quá mức bởi các khả năng không có thực”.

Lúc này đây, Danny có một ý tưởng rằng có thể tồn tại một kinh nghiệm cảm tính thứ tư – để bổ sung vào tính hiện hữu, tính tiêu biểu và neo giữ. Sau này ông gọi nó là “kinh nghiệm cảm tính mô phỏng” và nó là tất cả sức mạnh của các khả năng không có thực gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm trí con người. Trong cuộc sống, con người dựng lên các mô phỏng về tương lai. Chuyện gì sẽ xảy đến nếu tôi nói ra những điều mình nghĩ thay vì giả vờ đồng ý? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ chuyền bóng cho tôi và nó nảy qua giữa hai chân? Sẽ thế nào nếu tôi từ chối đề nghị của họ thay vì đồng ý? Họ dựa vào phán đoán và quyết định như một phần của các kịch bản tưởng tượng này. Nhưng không phải kịch bản nào cũng dễ tưởng tượng như nhau; chúng miễn cưỡng, rất giống cách tâm trí con người tỏ vẻ miễn cưỡng khi phải “xóa bỏ” một bi kịch nào đó. Hãy khám phá các quy luật tinh thần mà tâm trí tuân thủ vào lúc nó xóa bỏ các sự kiện đã rồi, bạn sẽ có thể nhận biết cách nó mô phỏng thực tế trước lúc xuất hiện.

Một mình ở Vancouver, Danny bị thu hút bởi mối quan tâm mới về khoảng cách giữa các thế giới – một thế giới đã tồn tại và các thế giới tưởng như hiện hữu mà lại không. Đa phần công việc ông và Amos thực hiện là tìm kiếm cấu trúc mà ở đó chưa có ai từng nghĩ đến. Đây là một cơ hội nữa để làm điều đó. Ông muốn điều tra cách con người tạo ra các thay thế cho thực tế bằng cách hoàn tác hiện thực. Tóm lại, ông muốn khám phá các quy luật của sự tưởng tượng.

Chú ý tới một đồng nghiệp hay cáu gắt trong khoa mới của mình tên là Richard Tees, Danny ngồi xuống và tạo ra một minh họa cho thí nghiệm mới:

Ông Crane và ông Tees dự định rời sân bay trong 2 chuyến bay khác nhau, vào cùng một giờ. Họ đi từ thành phố trên cùng một chiếc xe limousine, cùng bị tắc đường và đến sân bay muộn 30 phút sau giờ cất cánh dự kiến.

Ông Crane được thông báo là chuyến bay của ông đã cất cánh đúng giờ.

Ông Tees được thông báo là chuyến bay của mình đã bị hoãn và vừa cất cánh 5 phút trước.

Ai là người buồn hơn?

Tình huống của hai người đàn ông giống nhau. Cả hai đều dự đoán lỡ chuyến bay và đều bị như vậy. Nhưng 96% đối tượng được Danny đặt câu hỏi lại nói rằng ông Tees buồn hơn. Mọi người dường như hiểu ra thực tế không phải là nguồn gốc thất vọng duy nhất. Cảm xúc cũng được tạo ra bởi nó sát với một thực tế khác – ông Tees đã «suýt» đến kịp giờ bay như thế nào. “Lý do duy nhất khiến ông Tees buồn hơn là ông đã có ‘khả năng’ kịp bắt chuyến bay”, Danny viết, trong các ghi chú cho một buổi nói chuyện về chủ đề này. “Các ví dụ như vậy mang phẩm chất kiểu Alice-ở-Wonderland, với sự pha trộn kỳ lạ giữa tưởng tượng và thực tế. Nếu ông Crane có khả năng tưởng tượng ra những hy vọng – và chúng ta dự đoán ông ấy như vậy – thì tại sao ông lại thấy khó hình dung ra cảnh bản thân tránh được 30 phút hoãn bay, như chúng ta nghĩ? Rõ ràng có những ràng buộc đối với việc tự do tưởng tượng”.

Đó chính là những ràng buộc mà Danny bắt đầu điều tra. Ông muốn hiểu rõ hơn về điều giờ đây ông gọi là “các cảm xúc phản thực tế”, hay các cảm giác kích thích tâm trí hình dung các thực tế thay thế nhằm né tránh nỗi đau cảm xúc. Sự hối tiếc là cảm xúc phản thực tế rõ ràng nhất nhưng nỗi thất vọng và lòng đố kỵ đều thể hiện các đặc tính bản chất của hối tiếc. “Các cảm xúc về khả năng không có thực”, Danny gọi chúng như thế trong một lá thư gửi Amos. Những cảm xúc này có thể được mô tả bằng phép tính đơn giản. Cường độ của chúng, Danny viết, là tích số của hai biến: “mong muốn thay thế” và “khả năng thay thế”. Những trải nghiệm dẫn tới sự hối tiếc và thất vọng không phải lúc nào cũng dễ dàng xóa bỏ. Những người thất vọng cần hoàn tác một đặc tính nào đó trong môi trường của mình, trong khi những kẻ hối tiếc cần xóa bỏ các hành động của bản thân. “Dù vậy, các quy tắc cơ bản của việc hoàn tác được áp dụng tương tự cho sự thất vọng và nỗi hối tiếc”, ông viết. “Chúng đòi hỏi một con đường mòn ít nhiều hợp lý để dẫn tới tình trạng thay thế”.

Lòng đố kỵ thì khác. Nó không đòi hỏi một người phải dùng chút nỗ lực nào để tưởng tượng ra một con đường mòn dẫn tới trạng thái thay thế. “Sự hiện hữu của thay thế có vẻ bị kiểm soát bởi mối quan hệ tương đồng giữa một người với mục tiêu đố kỵ. Để nếm trải lòng đố kỵ, chỉ cần có một hình ảnh sống động về một người trong vị trí của người khác mà không cần đến kịch bản hợp lý về cách một người chiếm lĩnh vị trí ấy”. Lòng đố kỵ, theo một cách thức lạ lùng nào đó, lại không đòi hỏi sự tưởng tượng.

Danny trải qua nhiều tháng đầu tiên xa Amos với những suy nghĩ kỳ lạ và hấp dẫn. Vào đầu tháng 1 năm 1979, ông gửi cho Amos một bản ghi chú có tiêu đề “Tình trạng của dự án ‘hoàn tác’”. “Tôi đã dành thời gian để bù đắp các thảm họa và hoàn tác chúng theo nhiều cách khác nhau”, ông viết, “nhằm nỗ lực sắp xếp các phương thức thay thế cho việc hoàn tác”.

Một nhân viên bán hàng bị cướp vào ban đêm. Anh kháng cự. Bị đánh vào đầu. Bị bỏ lại một mình. Cuối cùng chết trước khi vụ cướp bị phát hiện.

Hai ô tô đâm nhau khi đối đầu, chiếc nào cũng cố gắng vượt lên trong điều kiện tầm nhìn hạn chế.

Một người đàn ông bị đau tim, cố gắng vô vọng để với lấy điện thoại.

Một người bị giết bởi phát đạn lạc trong một tai nạn săn bắn.

“Làm sao để hoàn tác những chuyện đó?”, ông viết. “Rồi vụ ám sát Kennedy. Thế Chiến II?”. Ông tiếp tục viết kín 8 trang giấy. Sự tưởng tượng không phải là một chuyến bay với những điểm đến vô hạn. Nó là một công cụ để tạo ra nhận thức về một thế giới của những khả năng vô bờ bến. Sự tưởng tượng tuân theo các quy luật: quy luật hoàn tác. Quy luật ở đây là càng có nhiều thứ để hủy bỏ nhằm tạo ra một hiện thực thay thế, tâm trí càng có ít khả năng hoàn tác chúng. Dường như con người khó có thể cứu vãn một người bị giết bởi một trận động đất dữ dội hơn so với một người chết do sét đánh, vì xóa bỏ một trận động đất đòi hỏi họ phải xóa bỏ tất cả những gì trận động đất đó đã gây ra. “Một sự kiện càng có nhiều hậu quả thì càng cần nhiều thay đổi liên quan để loại trừ nó”, Danny viết thư cho Amos. Một quy luật khác có liên quan là “một sự kiện dần trở nên khó thay đổi hơn khi nó lùi dần vào quá khứ”. Thời gian trôi qua, các hậu quả của bất kỳ sự kiện nào sẽ tích tụ và để lại nhiều thứ cần hoàn tác hơn. Và càng có nhiều thứ phải hoàn tác thì tâm trí càng ít cố gắng hơn. Đây có lẽ là một cách để thời gian hàn gắn vết thương, bằng cách làm cho chúng đem lại cảm giác khó tránh né hơn.

Một quy luật tổng quan hơn được Danny gán nhãn là “Quy luật tập trung”. “Chúng ta có khuynh hướng tạo ra một người hùng hay diễn viên hành động trong một tình huống”, ông viết. “Ở bất cứ nơi đâu khả thi, chúng ta đều sẽ giữ cố định tình huống và để cho diễn viên chuyển động… Chúng ta không sáng tạo ra một cơn gió mạnh để làm chệch hướng viên đạn của Oswald1“. Một ngoại lệ của quy luật này là khi người tham gia vào việc hoàn tác lại là diễn viên chính trong trí tưởng tượng của bản thân. Anh ta ít có khả năng hoàn tác các hành động của mình hơn là xóa bỏ tình huống trong đó anh tìm thấy bản thân. “Việc tự thay đổi hay thay thế bản thân ít có khả năng xảy ra hơn so với thay đổi hoặc thay thế một diễn viên khác”, Danny viết. “Thế giới mà ở đó tôi có một bộ các đặc điểm mới chắc chắn sẽ rất xa vời thế giới tôi đang sống. Tôi có thể hưởng tự do nào đó nhưng không tự do để trở thành người khác”.

1. Kẻ ám sát Tổng thổng John F. Kennedy vào ngày 22 tháng 11 năm 1963. (ND)

Quy luật tổng quát quan trọng nhất của việc hoàn tác có liên quan đến những điều ngạc nhiên hoặc bất ngờ. Một chủ ngân hàng trung niên đi làm theo cùng một lộ trình hằng ngày. Ngày kia, ông đi lối khác và bị đâm chết khi một thanh niên say xỉn lái chiếc xe bán tải chạy vượt đèn đỏ rồi tạt ngang xe ông. Khi yêu cầu mọi người hủy bỏ thảm kịch này, tâm trí họ sẽ trôi theo lộ trình người chủ ngân hàng đi hôm đó. Giá như ông vẫn đi lối thường ngày! Nhưng hãy đặt người đàn ông ấy trở lại lộ trình thông thường và để ông bị giết bởi chính thanh niên say xỉn ấy với cùng chiếc xe chạy vượt một cái đèn đỏ khác, sẽ chẳng còn ai nghĩ: Giá như ông ấy đi lối khác vào ngày đó! Quãng đường tâm trí cần để di chuyển từ cách thức thực hiện mọi việc thông thường sang một cách ít quen thuộc hơn có vẻ xa hơn quãng đường ngược lại.

Khi hoàn tác một sự kiện nào đó, tâm trí có khuynh hướng rũ bỏ bất cứ thứ gì đem lại cảm giác ngạc nhiên hay bất ngờ – khác với việc nói rằng nó đang tuân theo các quy luật về xác suất. Một cách khác nhiều khả năng hơn để cứu mạng người đàn ông là thay đổi cách chọn thời điểm của ông ta. Nếu ông hay cậu thanh niên chỉ cần nhanh hoặc chậm hơn vài giây vào bất cứ thời điểm nào trong hành trình bi kịch đó, họ sẽ không bao giờ đụng phải nhau. Khi hoàn tác tai nạn, mọi người không nghĩ đến điều đó. Hủy bỏ phần bất thường của câu chuyện thường dễ hơn. “Cậu có thể khiến bản thân vui vẻ bằng cách hủy bỏ Hitler trong tưởng tượng”, Danny viết, sau đó đề cập với Amos về một giai đoạn lịch sử gần đây khi tưởng tượng ra Hitler đã thành công với tham vọng ban đầu của hắn, trở thành một họa sĩ ở Vienna. “Bây giờ hãy tưởng tượng ra chuyện khác [phản sự thật]”, Danny viết. “Chỉ cần nhớ rằng ngay trước khi thụ thai, rất có thể Adolf Hitler là phái nữ. Xác suất cho hắn trở thành một họa sĩ thành công có lẽ không bao giờ quá cao [như xác suất 50-50 hắn sinh ra đã là con gái]. Tại sao khi đó chúng ta lại chấp nhận một trong các cách tiếp cận nhằm xóa bỏ Hitler này rồi coi cách còn lại là gây sốc và hầu như trái quy tắc?”

Các hoạt động của trí tưởng tượng đã nhắc Danny nhớ tới việc trượt tuyết băng đồng, thứ ông đã cố gắng mà không thể tham gia ở Vancouver. Ông đã học 2 lần khóa học dành cho người bắt đầu để rồi nhận ra việc leo lên một ngọn đồi tốn sức nhiều hơn trượt xuống. Tâm trí cũng thích đi xuống dốc hơn khi nó hoàn tác. “Quy luật xuống dốc”, Danny gọi nó như vậy.

Khi tìm hiểu ý tưởng mới này, ông có một cảm giác mới mẻ – mình đã đi quá nhanh và quá xa mà không hề có Amos. Ở cuối lá thư, ông viết: “Sẽ giúp ích rất nhiều nếu cậu có thể dành ra 2 giờ đồng hồ viết thư cho tôi về chuyện này, trước khi chúng ta gặp nhau vào Chủ nhật tuần tới”. Danny không nhớ Amos có viết lá thư đó không – rất có thể là không. Amos có vẻ quan tâm đến các ý tưởng mới của Danny, nhưng vì một lý do nào đó, ông không đóng góp công sức cho chúng. “Cậu ấy nói ít, điều khá hiếm hoi đối với Amos”, Danny nói. Ông ngờ rằng Amos đang phải vật lộn với cuộc sống không hạnh phúc, điều này cũng không giống Amos. Sau khi rời khỏi Israel, về sau Amos giãi bày tâm sự với một người bạn thân, ông ngạc nhiên vì mình thấy day dứt rất ít và nhớ nhà rất nhiều. Có lẽ đó là vấn đề; có thể Amos, vốn từng chính thức di cư đến nước Mỹ, không còn là chính mình. Hoặc có thể vấn đề nằm ở chỗ những ý tưởng mới này lại quá khác biệt so với các công trình nghiên cứu còn lại của họ. Công trình nghiên cứu của họ đến lúc đó luôn bắt đầu như một thách thức đối với một lý thuyết nào đó đã tồn tại và được chấp nhận rộng rãi. Họ vạch ra các thiếu sót trong những lý thuyết về hành vi con người và tạo ra các lý thuyết khác thuyết phục hơn. Không có lý thuyết tổng quát nào về sự tưởng tượng của con người để bác bỏ. Chẳng có thứ gì để phá hủy hay thậm chí gây ra áp lực cả.

Có một vấn đề khác – khác biệt mới mẻ đầy kịch tính trong tình trạng mối quan hệ giữa hai người. Khi Amos đến thăm Đại học British Columbia, ông có vẻ hạ thấp mình. Danny lên Palo Alto còn Amos xuống Vancouver. “Amos là một con người cao ngạo và tôi có thể thấy cậu ấy coi nơi này quê mùa thế nào”, Danny nói. Một tối khi họ đang nói chuyện, Amos buột miệng nói ra sự khác biệt ông cảm nhận tại Stanford chính là sự khác biệt của việc sống ở một nơi mọi người đều là dân thượng lưu. “Đó là chuyện đầu tiên”, Danny hồi tưởng lại. “Tôi biết cậu ấy thật sự không có ý gì về chuyện đó và Amos có lẽ đã hối tiếc vì nói như vậy – nhưng tôi vẫn nhớ cái suy nghĩ rằng Amos hẳn sẽ cảm thấy tiếc nuối vì dáng vẻ trịch thượng của mình, còn tôi bị tổn thương vì điều đó”.

Thế nhưng cảm giác lấn át trong tâm trí Danny là sự thất vọng. Ông đã trải qua phần lớn thập kỷ sáng tạo ý tưởng với sự góp mặt ít nhiều của Amos. Có ý tưởng mới là họ chia sẻ với nhau ngay. Điều kỳ diệu là những gì xảy ra tiếp đó: sự chấp nhận dễ dàng, sự hòa trộn hai tâm trí với nhau. “Tôi có cảm giác mình khởi xướng rất nhiều nhưng sản phẩm luôn nằm ngoài tầm với của tôi”, đến một ngày Danny đã nói như vậy với Miles Shore. Bây giờ, Danny quay lại làm việc một mình, cảm nhận sự vắng mặt của những tư duy sẽ giúp ông hoàn thiện. “Tôi có rất nhiều ý tưởng nhưng cậu ấy không ở đó”, Danny nói. “Và thế là các ý tưởng đó bị bỏ phí bởi chúng không hấp thu được lợi ích từ lối tư duy mà Amos có khả năng đặt vào mọi thứ”.

Vài tháng sau khi Danny viết bản ghi nhớ gửi cho Amos, đến tháng 4 năm 1979, ông và Amos thực hiện vài buổi nói chuyện tại đại học Michigan. Dịp này nằm trong đợt Giảng dạy Katz-Newcomb uy tín hằng năm, và điểm nổi bật của nó, đối với Danny, là cả hai người đều được mời. Danny nhận ra Amos có vẻ khan hiếm các ý tưởng mới khi chọn chủ đề cho bài nói chuyện của mình là công trình chung về đóng khung của họ. Danny thì chọn công bố những gì ông đã sáng tạo trong 9 tháng hai người xa nhau. “Tâm lý học của các thế giới khả thi”, ông gọi nó như vậy. “Bởi vì chúng tôi cảm thấy chỉ còn là bạn bè bình thường”, ông bắt đầu, “Amos và tôi đã quyết định về thứ mà xét ở mặt nào đó là một lựa chọn rủi ro cho bài thuyết trình này. Một chủ đề chúng tôi chỉ mới bắt đầu nghiên cứu gần đây, về điều mà cả hai có sự nhiệt tình lớn lao hơn kiến thức về nó… Chúng tôi sẽ khám phá vai trò của các khả năng không có thực trong phản ứng cảm xúc của bản thân đối với hiện thực cũng như trong sự thấu hiểu về nó”.

Sau đó ông giải thích các quy luật hoàn tác. Ông tạo thêm các hình ảnh minh họa để kiểm tra trên các đối tượng – ngoài một chủ ngân hàng thiệt mạng trong vụ tông xe bởi gã say xỉn, còn có một người đàn ông thiếu may mắn khác, là người đã chết do lên cơn đau tim và không thể đạp phanh xe. Hầu hết chúng được ông nghĩ ra vào lúc đêm khuya ở Vancouver. Ông rất hay bị đánh thức bởi những suy nghĩ về các đối tượng ông đã ghi chép trong một tập giấy để cạnh giường. Amos có thể có trí tuệ ưu việt nhưng Danny lại là người giỏi nói chuyện. Amos có thể đang được hưởng phần lợi lộc lớn hơn của việc họ chuyển tới sống ở Bắc Mỹ nhưng điều đó không kéo dài mãi: Mọi người sẽ nhìn nhận đóng góp của ông. Khán giả bị mê hoặc – ông có thể nhìn thấy điều đó. Và khi ông kết thúc, không ai vội vã ra về. Họ đứng nán lại, và thầy hướng dẫn cũ của Amos là Clyde Coombs tiến đến gần họ với ánh mắt thực sự ngạc nhiên. “Các ý tưởng, quá nhiều ý tưởng, chúng ở đâu ra vậy?”, ông hỏi. Và Amos nói: “Danny và tôi không nói về những điều này”.

Danny và tôi không nói về những điều này.

Đó là khoảnh khắc câu chuyện đang hiện diện trong đầu Danny bắt đầu thay đổi. Về sau ông đề cập nó và nói: Đây là khởi đầu cho kết thúc của chúng tôi. Sau đó ông tìm cách hủy bỏ khoảnh khắc ấy, nhưng khi đó, ông không nói: “Giá như Clyde Coombs đừng hỏi câu ấy”. Hoặc: “Giá mà tôi vững vàng như Amos”. Hoặc: “Giá như tôi không rời khỏi Israel”. Ông nói: “Giá như Amos có thể nhún nhường hơn”. Amos là diễn viên trong trí tưởng tượng của Danny. Amos là tâm điểm. Amos được trao một cơ hội để ghi công Danny vì những gì ông đã làm, nhưng Amos lại không tận dụng. Rồi họ cũng quên đi, nhưng cái khoảnh khắc ấy đã in vào đầu Danny và không chịu rời đi. “Có gì đó xảy ra khi ta ở bên người phụ nữ mình yêu”, Danny nói. “Ta biết đã có chuyện xảy ra. Ta biết nó chẳng hay ho. Nhưng ta cứ tiếp tục”. Ta đang yêu nhưng lại cảm nhận một thế lực mới kéo ta rời bỏ nó. Tâm trí ta lóe lên khả năng của một câu chuyện khác. Ta mong manh hy vọng có thứ gì đó xuất hiện để ổn định hoặc tiếp lại năng lượng cho cái cũ. Trong trường hợp này, chẳng có thứ gì đến cả. “Tôi muốn Amos chú ý đến những gì đang xảy ra nhưng cậu ấy không làm thế, cũng không chấp nhận mình phải làm thế”, Danny nói.

Sau Michigan, Danny có các buổi nói chuyện về dự án hoàn tác và không đề cập đến Amos. Ông chưa bao giờ làm thế. Suốt một thập kỷ, họ đã có một quy tắc bất di bất dịch là không mời mọi người tham gia những lĩnh vực hai người cùng quan tâm. Cuối năm 1979, có lẽ là đầu năm 1980, Danny bắt đầu nói chuyện với một giáo sư trợ lý trẻ ở Đại học British Columbia tên là Dale Miller, cùng chia sẻ các ý tưởng của ông về cách thức con người so sánh thực tế với những thay thế của nó. Khi Miller hỏi về Amos, Danny bảo rằng họ không còn làm việc chung với nhau. “Ông ấy từng là cái bóng của Amos và ông rất lo lắng về điều đó, tôi nghĩ vậy”, Miller nói. Vài năm sau, Danny và Miller cùng thực hiện một nghiên cứu cũng có thể được gọi là “Dự án Hoàn tác”. “Tôi nghĩ họ đã đồng ý gặp những người khác”, Miller nói. “Ông ấy cứ khăng khăng cho rằng những ngày mình cộng tác với Amos đã qua. Tôi nhớ có rất nhiều cuộc trò chuyện đầy ắp nội dung. Có lúc, ông ấy nói hãy dịu dàng với ông bởi đây là mối quan hệ đầu tiên của ông sau Amos”.

________________

Nếu đợt Giảng dạy Katz-Newcomb ít có nghĩa đối với Amos hơn Danny thì đó là vì cuộc sống của Amos giờ đây là chặng chạy nước rút giữa các đợt Giảng dạy Katz-Newcomb. Ông khiến ít nhất một trong các sinh viên sau đại học của mình ở trường Stanford nhớ tới một nghệ sĩ hài độc thoại đi vòng quanh thế giới và làm việc cho các hộp đêm nhỏ để kiểm chứng phần biểu diễn của mình. “Ông ấy suy nghĩ bằng cách nói”, vợ ông, Barbara nhớ lại. “Bạn có thể nghe thấy tiếng ông ấy nói trong nhà tắm. Vọng qua cửa”. Các con ông dần quen với việc nghe thấy tiếng bố nói một mình trong phòng. “Có gì đó hơi giống một người điên tự nói chuyện với bản thân”, con trai ông, Tal, nói. Họ nhìn thấy ông trở về nhà trên chiếc Honda màu nâu, dừng lại và bắt đầu đứng trên con phố trước nhà nói một mình. “Bố phóng xe 300 dặm một giờ, rồi đùng một cái bố lại tăng tốc”, con gái của Amos, Dona, nói. “Bố đang khai triển ý tưởng”.

Trong những tuần trước Đợt Giảng dạy Katz-Newcomb, đầu tháng 4 năm 1979, Amos bận rộn thực hiện các buổi nói chuyện với Liên Xô. Ông gia nhập phái đoàn gồm 10 nhà tâm lý học phương Tây nổi tiếng thực hiện một nhiệm vụ ngoại giao trí tuệ kỳ lạ. Các nhà tâm lý Liên Xô khi đó đang cố gắng thuyết phục chính phủ chấp nhận đưa tâm lý toán học vào Viện Hàn lâm Khoa học Nga và đã nhờ các đối tác người Mỹ hỗ trợ. Hai nhà tâm lý toán học lỗi lạc, William Estes và Duncan Luce, đồng ý giúp họ. Các nhân vật lão làng lựa ra một danh sách ngắn các nhà tâm lý toán học hàng đầu của Mỹ. Hầu hết họ đều lớn tuổi. Amos được tính là một trong những người trẻ tuổi hơn, cùng với đồng nghiệp ở Stanford là Brian Wandell. “Các nhân vật lão làng cho rằng họ sắp sửa cứu hình ảnh của tâm lý học ở Liên Xô”, Wandell nhớ lại. “Tâm lý học hoàn toàn chống lại chủ nghĩa Mác. Nó nằm trong danh sách những thứ không cần thiết phải tồn tại”.

Mất khoảng một ngày để nhận ra tại sao chủ nghĩa Mác có thể đem tới cảm nhận như vậy. Mỗi nhà tâm lý học Liên Xô đều ra vẻ ta đây nhưng chẳng biết gì. “Chúng tôi nghĩ sẽ có những nhà khoa học thật sự ở phía Liên Xô”, Wandell nói. “Chẳng có ai hết”. Hai bên Liên Xô và Mỹ thay phiên nhau thuyết trình. Một người Mỹ sẽ trình bày bài nói chuyện học thuật về lý thuyết quyết định. Đối tác Liên Xô của ông sẽ đứng dậy và nói về một chuyện nghe hoàn toàn ngớ ngẩn – nhân vật này dành thời gian dự kiến để trình bày lý thuyết của mình về việc sóng điện não gây ra bởi bia có thể hủy bỏ sóng điện não tạo ra bởi vodka. “Chúng tôi đứng lên trình bày một nghiên cứu, và bạn biết đấy, nó cũng ổn”, Wandell nói. “Rồi một tay người Nga nào đó đứng lên phát biểu và chúng tôi nói: ‘Ôi, thật kỳ lạ’. Một người nói về cách đưa ý nghĩa cuộc sống vào một công thức và công thức có thể có một biến E nào đấy trong đó”.

Người Nga chẳng biết gì về lý thuyết quyết định, thậm chí họ dường như cũng chẳng quan tâm lắm đến chủ đề này, ngoại trừ một người. “Có một nhân vật”, Wandell nói, “là người đã trình bày một bài nói chuyện tuyệt vời, ít nhất là so với những người khác”. Anh chàng đó hóa ra là một điệp viên KGB, nội dung anh ta được đào tạo về tâm lý học bao gồm cả bài nói chuyện của anh ta. “Chúng tôi phát hiện anh ta là người của KGB vì anh ta đến sau trong một hội nghị về vật lý và trình bày bài nói chuyện tuyệt vời”, Wandell nói. “Đó là người duy nhất Amos thích”.

Họ ở một khách sạn mà toilet không xả nước được và lò sưởi không hoạt động. Phòng họ bị cài máy ghi âm và đi đâu cũng bị lính canh bám theo. “Mọi người khá hoảng sợ trong một hai ngày đầu”, Wandell nói. “Chúng tôi đã lún quá sâu”. Amos thấy mọi chuyện thật điên loạn. “Họ tập trung vào Amos, có lẽ vì ông ấy là người Israel”, Wandell cho là vậy. “Theo kiểu đặc trưng của Amos, ông ấy đi quanh Quảng trường Đỏ rồi nhìn tôi và ra ám hiệu: ‘Mau lên, cắt đuôi họ thôi!’”. Sau đó ông chuồn mất, đám lính canh đuổi theo phía sau. Cuối cùng khi họ bắt kịp, ông ấy đang trốn trong một cửa hàng tạp hóa – những người Liên Xô giận điên lên. “Họ quát nạt thậm tệ chúng tôi”, Wandell nói.

Ít ra Amos cũng dành đôi chút thời gian ở trong căn phòng khách sạn gắn đầy máy nghe trộm và không có lò sưởi để bổ sung vào một hồ sơ ông ghi tiêu đề là “Dự án hoàn tác”. Hồ sơ cuối cùng lên đến khoảng 40 trang gồm các ghi chú viết tay. Giữa các dòng chữ, ta có thể nghe thấy tiếng hắng giọng nhã nhặn của một thợ mài cắt kim cương đang chờ những viên đá thô. Amos rõ ràng đã hy vọng có thể biến các ý tưởng của Danny thành một lý thuyết hoàn thiện. Danny không biết điều đó, cũng không biết Amos đang bận nghĩ ra các hình ảnh minh họa của mình:

David P thiệt mạng trong một vụ rơi máy bay. Điều nào sau đây dễ tưởng tượng hơn:

_máy bay không rơi

_David P đã đi máy bay khác

Thay vì hồi đáp lá thư dài của Danny, Amos tự ghi chú, cố gắng sắp xếp những thứ do Danny tiết lộ. “Chẳng hạn, thế giới hiện tại thường gây ngạc nhiên, kém hợp lý hơn một số thay thế của nó”, ông viết. “Chúng ta có thể xếp đặt các thế giới khả thi theo i) sự hợp lý ban đầu và ii) sự tương đồng đối với thế giới hiện tại”. Ông tiếp tục điều này một vài ngày sau đó với 8 trang kín chữ, cố gắng tạo ra một lý thuyết logic nhất quán nội tại về trí tưởng tượng. “Ông ấy yêu những ý tưởng này”, Barbara nói. “Thứ gì đó rất cơ bản trong việc ra quyết định đã hấp dẫn ông ấy. Nó là lựa chọn mà bạn không chọn”. Ông dò dẫm tìm các tiêu đề để có thể biết bản thân đang viết về cái gì. Trong những ghi chú đầu tiên của hồ sơ, ông viết nguệch ngoạc cụm từ “Lý thuyết Khả năng”. Sau đó ông đổi nó thành “Lý thuyết Tình huống” rồi thành “Lý thuyết các Tình trạng Thay thế”. Trong các ghi chú cuối cùng làm về chủ đề này, ông gọi nó là “Lý thuyết Hình bóng”. “Quan điểm chính yếu của lý thuyết hình bóng”, Amos tự viết cho mình, “là bối cảnh của các thay thế hoặc bộ khả năng sẽ xác định các kỳ vọng, diễn giải, hồi ức và quy kết của chúng ta về thực tế, cũng như các trạng thái ảnh hưởng nó gây ra”. Đến cuối suy nghĩ về chủ đề này, ông tổng kết nhiều thứ chỉ trong duy nhất một câu: “Thực tế là một đám mây của khả năng, không phải là một điểm”.

Không phải Amos không quan tâm đến những tư duy của Danny. Mà do họ không còn nói chuyện với nhau trong căn phòng đóng cửa. Cuộc trò chuyện lẽ ra họ phải nói với nhau, thì giờ mỗi người đều ít nhiều làm một mình. Do khoảng cách mới giữa hai người, họ đều thấy rõ hơn về nguồn gốc của các ý tưởng. “Chúng tôi biết ai là người nghĩ ra ý tưởng, vì sự chia cắt địa lý và ý tưởng nằm trong một lá thư”, Amos phàn nàn với Miles Shore. “Trước kia, chúng tôi hay nhấc điện thoại lên khi bắt đầu một ý tưởng. Bây giờ, chúng tôi tự khai triển và dồn tâm trí cho các ý tưởng, chúng trở nên cá nhân hơn và tôi ghi nhớ đó là ý tưởng của mình. Ban đầu chúng tôi chưa từng có được điều đó”.

Dồn sức cho ý tưởng mới của mình, Danny đã giữ lại chúng thay vì để Amos chia nhỏ ra và xào xáo thành thứ của riêng mình. Amos tiếp tục bay đến Vancouver 2 cuối tuần một lần, nhưng giờ giữa họ có sự căng thẳng mới. Amos rõ ràng muốn tin rằng họ có thể cộng tác như trước đây. Danny thì không. Ông lường trước lòng đố kỵ của mình và gắn nó vào một quyết định về Amos.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.